1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế các hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh lớp 4,5 ở thành phố cao lãnh, đồng tháp

97 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công trình“Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Nguyễn Nhã cũng là một trong số các công trình có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu và khẳng định g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 - 2019

THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH LỚP 4,5 Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

Mã số: SPD 2018.02.21

Chủ nhiệm đề tài: Tạ Thanh Trúc Người tham gia thực hiện: Phạm Thị Huyền Trang Lớp: ĐHGDTHCLC16A

Giảng viên hướng dẫn: Trương Công Vĩnh Khanh

Đồng Tháp, 08/2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 - 2019

THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH LỚP 4,5 Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

MÃ SỐ: SPD2018.02.21

Giảng viên hướng dẫn Chủ nhiệm đề tài

Trương Công Vĩnh Khanh Tạ Thanh Trúc

Xác nhận của Chủ tịch hội đồng

(ký, ghi rõ họ tên)

Đồng Tháp, 08/2019

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, SƠ ĐỒ

1 Bảng 2.1 So sánh mức độ nhận thức của học sinh tiểu học trên địa

bàn thành phố Cao Lãnh về vị trí địa lí các đảo, quần đảo của nước

ta

34

2 Bảng 2.2 Nhận thức của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố

Cao Lãnh về tên gọi của quần đảo Trường Sa

35

3 Bảng 2.3 Nhận thức của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố

Cao Lãnh về tên gọi của đảo Lý Sơn

36

4 Bảng 2.4 Nhận thức của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố

Cao Lãnh về tên gọi của đảo Phú Quốc

37

5 Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố

Cao Lãnh về tên gọi của quần đảo Côn Đảo

8 Bảng 2.8 Mức độ nhận thức của học sinh tiểu học trên địa bàn

thành phố Cao Lãnh về vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo

42

9 Bảng 2.9 Khảo sát về vai trò của biển đảo đối với việc nhận thức

của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Cao Lãnh

44

10 Bảng 2.10 Khảo sát về mức độ hứng thú của học sinh tiểu học trên

địa bàn thành phố Cao Lãnh trong việc tìm hiểu chủ quyền biển đảo

Việt Nam

45

11 Bảng 2.11 Khảo sát về mức độ quan tâm của gia đình đối với nhận

thức của học sinh tiểu học về việc tìm hiểu chủ quyền biển đảo Việt

Nam

47

12 Hình 3 1 Sơ đồ biển đảo Việt Nam 60

13 Hình 3 2 Sơ đồ vai trò của Biển Đông 61

14 Hình 3 3 Sơ đồ phát triển tổng hợp kinh tế biển 61

Trang 4

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

TT Cụm từ viết tắt Cụm từ viết đầy đủ

1 GDCQBĐ Giáo dục chủ quyền biển đảo

Trang 5

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC

- Tên đề tài: “Thiết kế các hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh lớp 4,5 ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp”

- Mã số: SPD 2018.02.21

- Chủ nhiệm đề tài: Tạ Thanh Trúc

- Điện thoại: 0765 315 299 Email: tathanhtruc32@gmail.com

- Người tham gia thực hiện: Phạm Thị Huyền Trang

- Điện thoại: 0832 019 369 Email: trangbaby281@gmail.com

- Cán bộ - giảng viên hướng dẫn: ThS Trương Công Vĩnh Khanh

- Điện thoại: 0901 216 339 Email: vinhkhanhdhdt@gmail.com

- Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Đồng Tháp

- Thời gian thực hiện: từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019

- Từ cơ sở này chúng tôi khảo sát thực trạng và lí giải nguyên nhân vì sao học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp chưa được tiếp cận các nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo thông qua kiến thức trong sách giáo khoa môn Địa lí lớp 4,5

- Chúng tôi liên hệ thực tiễn các bài học trong sách giáo khoa để thiết

kế 3 hoạt động: trò chơi, thảo luận và chuyên đề nhằm đánh giá một cách khách quan và thành công của đề tài thông qua kết quả khảo sát thực nghiệm các hoạt động này ở các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp

3 Kết quả đạt được

- Bài báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu

- 1 bài báo đăng trên tạp chí có chỉ số ISSN

Trang 6

- Sản phẩm ứng dụng: Ứng dung trong dạy học môn Địa lí lớp 4,5 đối với giáo viên tiểu học

Chủ nhiệm đề tài

Tạ Thanh Trúc

Trang 7

SUMMARY OF RESEARCH RESULTS OF SCIENCE THESIS

- Title of the project: "Designing the islands' sovereignty education activities for grade 4.5 students in Cao Lanh cities, Dong Thap provience"

- Code: SPD 2018.02.21

- Project manager: Ta Thanh Truc

- Phone: 0765 315 299 Email: tathanhtruc32@gmail.com

- Participants: Pham Thi Huyen Trang

- Phone: 0832 019 369 Email: trangbaby281@gmail.com

- Staff - instructor: MSc Truong Cong Vinh Khanh

- Phone: 0901 216 339 Email: vinhkhanhdhdt@gmail.com

- The agency in charge of the project: Dong Thap University

- Implementation time: from 6/2018 to 6/2019

- From this base, we investigate the situation and explain the reasons why primary students in Cao Lanh and Dong Thap cities have not yet access to the contents of education of islands and sovereignty through knowledge in textbook

of Grade 4.5 Geography subject

- We relate practical lessons in textbooks to design 3 activities: games, discussions and seminars to objectively and successfully evaluate the topic through empirical survey results These activities are in primary schools in Cao Lanh cities, Dong Thap provience

3 Achievements:

- The report summarizes the research results

- 1 article published in a magazine with an ISSN index

Trang 8

- Applied products: Applied in teaching Grade 4.5 Geography for primary teachers

Author

Ta Thanh Truc

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học 10

7 Bố cục đề tài 10

Chương 1 11

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 11

1.1 Khái niệm biển đảo và các vấn đề chủ quyền biển đảo của 11

Việt Nam 11

1.2 Nội dung, chương trình giáo dục biển đảo qua môn Địa lí 24

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 28

1.4 Các nhân tố tác động đến nhận thức của học sinh tiểu học về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

Chương 2 33

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC LỚP 4,5 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP 33

2.1 Tổ chức khảo sát 33

2.2 Kết quả khảo sát 33

2.3 Nguyên nhân dẫn đến nhận thức chủ quyền biển đảo còn hạn chế của học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Cao Lãnh 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 49

Chương 3 51

THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH 51

Trang 10

3.1 Nguyên tắc thiết kế các hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh

tiểu học 51

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và đảm bảo tính sáng tạo của học sinh 51 3.1.3 Nguyên tắc dạy học lấy học sinh làm trung tâm 51

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 51

3.2 Thiết kế một số hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của học sinh tiểu học về chủ quyền biển đảo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh 52

3.3 Tổ chức thực nghiệm 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Khuyến nghị 73

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời cho dân tộc Việt Nam Trong khi thế giới đang bước vào kỷ nguyên đại dương thì chiến lược “hướng biển” đã trở thành xu thế chủ đạo của nhiều quốc gia tiếp giáp với biển Đối với Việt Nam, biển đảo vừa là không gian sinh tồn, vừa là không gian thể nghiệm năng lực và quyết tâm mở cửa để hội nhập quốc tế Từ bao đời nay, ông cha ta đã đổ bao công sức và máu xương để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Ngày nay, những thế hệ tiếp nối cần vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

để tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể chối cải của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay, ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp Ta phải biết giữ gìn lấy nó”

Tuy nhiên, hiện nay chủ quyền biển đảo của Việt Nam đang bị xâm phạm một cách nghiêm trọng cả về phương diện thực tại lẫn khía cạnh học thuật Đặc biệt là các tài liệu tuyên truyền theo cách xuyên tạc sự thật lịch sử đang ngày một chiếm số lượng nhiều Thực tế đó đòi hỏi các biện pháp giáo dục về chủ quyền biển đảo cho thế thệ trẻ Việt Nam phải được triển khai một cách mạnh

mẽ, sâu rộng và hiệu quả Về phương diện ở trường phổ thông, từ năm học 2011 – 2012, Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam cho GV và HS trong cả nước Đồng thời, công tác lồng ghép các nội dung tuyên truyền và giáo dục về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam từ cấp TH đến cấp trung học phổ thông cũng được ưu tiên thực hiện Những nỗ lực mang tính thiết thực và giàu ý nghĩa nêu trên không những giúp bồi đắp tinh thần yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,

mà còn giúp ngành giáo dục bình tĩnh, cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn kích động tư tưởng dân tộc cực đoan cũng như tích cực đấu tranh phản bác thông tin, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; nâng cao vị trí, tầm quan trọng và ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Trang 12

Trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp, ở các cấp học đã và đang xây dựng các chuyên đề ngoại khóa cũng như lồng ghép việc giáo dục nhận thức cho HS về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Cũng xuất phát từ bối cảnh này, việc giáo dục HS có những kiến thức toàn diện và sâu sắc về chủ quyền biển đảo trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục tỉnh Đồng Tháp Tuy nhiên, để thực sự hiểu rõ về biển đảo Việt Nam cũng như những kiến thức liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo thì SGK vẫn chưa có điều kiện đề cập tới một cách đầy đủ, hệ thống Có một thực tế hiện nay là khi hỏi các bạn trẻ

về biển đảo của nước ta, đặc biệt là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, ai cũng

có thể trả lời đó là “một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc” Nhưng để lý giải nguồn gốc của nó như thế nào, có tiềm năng, thế mạnh, nguồn lợi kinh tế ra sao, thì không phải ai cũng trả lời được Nhìn chung, kiến thức về biển đảo của phần lớn HS hiện nay còn rất yếu Công bằng mà nói, lỗi này hoàn toàn không phải do các em, bởi suốt khoảng thời gian dài trước đây, nội dung về biển đảo không được đưa vào chương trình giáo dục các cấp Gần đây, khi những vấn đề

về năng lượng, tài nguyên, tranh chấp chủ quyền biển đảo trở thành vấn đề nổi cộm thì việc giáo dục kiến thức biển đảo trong nhà trường mới được chú ý tới

Và để “sửa sai” ngành giáo dục nước ta đã kịp thời đưa ra nhiều chương trình,

đề án để phục vụ cho nhiệm vụ “đưa chương trình biển đảo vào giáo dục ở các cấp học” Sau khi triển khai được một thời gian, ta đã thu được một số thành công đáng kể, tri thức về biển đảo trong HS đã được nâng cao Song những thành công đó, chủ yếu chỉ đến từ các cấp học như trung học cơ sở, trung học phổ thông hoặc đại học, trong khi việc GDCQBĐ cho HS cấp TH vẫn còn nhiều hạn chế Cũng có nhiều bài nghiên cứu, khảo sát về việc GDCQBĐ cho HS nhưng chỉ là nghiên cứu giáo dục cho HS ởcác cấp trung học là chủ yếu, còn ở

TH thì chưa có bài nghiên cứu hoặc luận văn nào nói về vấn đề này Trong khi

đó, việc GDCQBĐ cho các cấp học đều quan trọng như nhau và việcgiáo dục ở

TH lại giữ vai trò làm nền tảng, làm cơ sở cho việc giáo dục ở các cấp học cao hơn

Với những lý do trên, chúng tôi cho rằng, “Thiết kế hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh lớp 4,5 ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp” là một đề tài cấp thiết cần được nghiên cứu

Trang 13

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong thực tế, nghiên cứu biển đảođã đón nhận rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị học thuật lẫn giáo dục Các công trình nghiên cứu đó thường đi vào hướng nghiên cứu các chính sách, biện pháp, kiến thức cơ bản về lịch sử chủ quyền biển đảo của Việt Nam và cho ra đời khá nhiều sách, báo, tạp chí có giá trị liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảocủa nước ta Trong thời gian qua,

do tính chất thời sự của nhiều vấn đề, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời rất nhiều công trình khoa học liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo Có thể kể đến như: Nhiều tác giả (2012), Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh; Trần Công Trục (Chủ biên, 2013), Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông,

Hà Nội; Trần Đức Anh Sơn (Chủ biên, 2014), Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Nxb Văn hóa, văn nghệ, TP Hồ Chí Minh; Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (2013), Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội; Trần Nam Tiến (2011), Hoàng Sa – Trường Sa: hỏi và đáp, Nxb Trẻ, TP

Hồ Chí Minh; Trần Nam Tiến (2014), Đội Hoàng Sa trong lịch sử xác lập và bảo vệ hủ quyền biển đảo của Việt Nam, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh;…Còn chưa kể đến hàng chục cuộc hội thảo quốc tế và trong nước, hàng ngàn các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Trong hướng nghiên cứu và thiết kế GDCQBĐ ở cấp độ cho HSTH, chúng tôi lưu ý đến một số công trình có giá trị khoa học, được khai thác ở nhiều góc

độ như:

- Công trình chủ biên của Phó giáo sư Nguyễn Đức Vũ giới thiệu về Bộ sách “Giáo dục về biển – đảo Việt Nam” nằm trong Tủ sách biển đảo Việt Nam gồm ba cuốn dành cho GV và HS Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Bộ sách cung cấp những kiến thức chung về giáo dục biển đảo, các phương pháp giáo dục trong giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp phù hợp với công tác dạy - học về biển đảo Việt Nam ở từng cấp lớp Công trình Giáo dục về biển – đảo Việt Nam dành cho giáo viên và học sinh tiểu học gồm ba phần: (i) Phần thứ nhất, những vấn đề chung của giáo dục biển đảo: Giới thiệu khái quát về

Trang 14

tắc, chiến lược, hình thức, phương pháp giáo dục biển đảo trong giờ chính khóa

và hoạt động ngoại khóa ở nhà trường phổ thông Phương pháp giáo dục biển đảo mà các tác giả trình bày ở đây là các phương pháp sư phạm tích cực và tương tác: Phương pháp đàm thoại gợi mở, Phương pháp giải quyết vấn đề, Phương pháp thảo luận nhóm, Phương pháp đóng vai; (ii) Phần thứ hai, giáo dục biển đảo trong giờ lên lớp Trong phần này, các tác giả giới thiệu các bài giáo dục về biển đảo có trong SGK Địa lí 4 và Địa lí 5 Mỗi bài đều có cấu trúc đảm bảo cơ bản về mục tiêu, kĩ năng, kiến thức về biển đảo; (iii) Phần thứ ba, giáo dục biển đảo ngoài giờ lên lớp Trong phần này, công trình đi vào giới thiệu một

số mẫu hoạt động giáo dục biển đảo ngoài giờ lên lớp thông qua hình thức các câu lạc bộ và hoạt động vui chơi, dã ngoại cho HSTH

- Công trình“Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Nguyễn Nhã cũng là một trong số các công trình có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu và khẳng định giá trị vững chắc của chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Trong những năm gần đây, những chính sách của Trung Quốc cho thấy vấn đềchủ quyền biển đảo cần được quan tâm sâu sắc hơn, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ Chúng ta cần phải lưu trữ, giữ gìn những hình ảnh,

tư liệu, bản đồ và hiện vật khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông Đây chính là cơ sở pháp lý và những bằng chứng lịch sử có tính thuyết phục thể hiện vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời nhằm kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc lịch sử, những yêu sách chủ quyền phi lí của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển khác trên Biển Đông của Việt Nam Thông qua những tư liệu được giới thiệu, cuốn sách đã cho bạn đọc thấy rõ: Việt Nam đã xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất sớm, được các triều đại phong kiến, các nhà nước Việt Nam thời cận đại và hiện đại liên tục thực thi

và bảo vệ chủ quyền một cách liên tục và hòa bình Nhà nước và nhân dân Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài đều luôn có ý thức về chủ quyền thiêng liêng của đất nước và sẵn sàng hành động vì cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia

- Công trình “Cùng em tìm hiểu Hoàng Sa – Trường Sa” do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành năm 2014 Đọc tác phẩm, bạn đọc nhỏ tuổi như được đi

Trang 15

trên con tàu cánh ngầm và cỗ máy thời gian đến thăm hai quần đảo tiền tiêu của

Tổ quốc Độc giả cũng được lần về những trang sử cha ông để biết được hàng trăm năm trước, những thế hệ người Việt đã chinh phục biển và xác lập chủ quyền như thế nào Đây là một cuốn sách viết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có đầy đủ kiến thức: vị trí địa lý, sản vật tự nhiên, quá trình lịch sử hình thànhchủ quyền biển đảo của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn đến nay Tư liệu trong cuốn sách phong phú, cụ thể, hệ thống; được trình bày bằng văn phong vừa khoa học vừa tình cảm, giàu sức thuyết phục phù hợp với trình độ các em, lại có thêm tranh ảnh bản đồ thuyết minh đẹp mắt

Có thể nói, nhóm tác giả đầy tâm huyết như Nguyễn Như Mai, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín đã dày công nghiên cứu những tư liệu, thông qua thư tịch và hiện vật lịch sử Hoàng Sa, Trường Sa Không chỉ cung cấp kiến thức, sách còn giáo dục các em lòng yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước

- Công trình “100 câu hỏi đáp về biển - đảo Việt Nam” của Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông Đây được xem là cẩm nang cần thiết, giúp cho thế

hệ trẻ Việt Nam nói chung, HS và sinh viên Việt Nam nói riêng có cái nhìn tổng quan về biển đảo Việt Nam, từng bước nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cuốn sách gồm 3 phần: Hỏi - Đáp về vị trí, vai trò và tiềm năng của biển đảo Việt Nam; Hỏi - Đáp về các vấn đề liên quan đến các quyền và bảo vệ các quyền của Việt Nam trong Biển Đông và Hỏi - Đáp về xây dựng và phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển đảo Việt Nam

- Tập hợp các công trình “Chủ quyền biển đảo Việt Nam” của Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành cũng là công trình cung cấp những kiến thức cơ bản về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển đảo của Nhà nước ta; Những cơ

sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên Biển Đông, khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp; Tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các văn bản pháp

lý về biển đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan Ngoài ra,công trình cũng tuyên truyền, giáo dục cho toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, góp phần gìn giữ hoà bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa các quốc gia vùng Biển Đông;

Trang 16

ngành và cả nước Bên cạnh đó, bộ sách cũng đề cập tới vai trò của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, biển đảo; Chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phát triển kinh tế, an sinh – xã hội, đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển đảo của Tổ quốc; Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sỹ, các lực lượng đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc

- Công trình “Tìm hiểu về biển đảo Việt Nam”của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành giúp người nghiên cứu thuận lợi khi nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản về biển, luật biển của quốc tế và Việt Nam; nhận rõ vai trò quan trọng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo, quần đảo, vũng, vịnh, các bãi biển ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Công trình “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” của Nguyễn Nhã được xem là tài liệu tham khảo hữu ích về biển đảo, đặc biệt là trong việc bồi đắp giá trị nhận thức cho thế

hệ trẻ về tính pháp lý và giá trị khoa học về các nguồn tư liệu mà các tác giả đã cung cấp đến cho người nghiên cứu

Công trình này dựa trên nguồn tư liệu phong phú, đa dạng được thu thập ở

cả trong và ngoài nước; trong đó có tư liệu từ các văn bản mang tính lịch sử, tính pháp lí cao như châu bản triều Nguyễn, văn bản thực thi chủ quyền của chính quyền Tây Sơn, thư tịch và bản đồ cổ của nhà nước phong kiến Việt Nam, tư liệu và bản đồ cổ của phương Tây và của chính người Trung Quốc liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa

Nghiên cứu một cách hệ thống các nguồn tài liệu trên, nhất là các tư liệu trước năm 1909 (năm bắt đầu nảy sinh vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa), tác giả cung cấp thông tin về quá trình phát hiện, chiếm hữu thật sự, thực thi chủ quyền ngay từ thế kỷ XVII của Nhà nước phong kiến Việt Nam qua sự quản lí, điều hành, hàng năm tổ chức các đội thuyền Hoàng Sa và Bắc Hải khảo sát đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, khai thác tài nguyên, xây dựng chùa miếu, dựng bia, trồng cây, kiến tạo cơ sở hạ tầng,… xem đó là biểu tượng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trang 17

Có thể nói, tư liệu về chủ quyền biển đảo của Việt Nam rất phong phú và

đa dạng, với hướng nghiên cứu như trên sẽ là nguồn tư liệu có giá trị khoa học lẫn thực tiễn cho chúng tôi thực hiện đề tài “Thiết kế các hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh lớp 4,5 ở Thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp”

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế được cáchoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo cho HS lớp 4,5 ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Giáo dục chủ quyền biển đảo thông qua môn địa lí lớp 4,5

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 4,5 của 05 trường TH trên địa bàn thành phố Cao Lãnh: TH Mỹ Phú, TH Lê Quý Đôn, TH Lê Văn Tám, TH Phan Chu Trinh, TH Thực hành Sư phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Thu thập tài liệu từ việc tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 365 HS thông qua các câu hỏi về vấn đề chủ quyền biển đảo làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài

- Phân tích các tài liệu lý luận, từ đó hệ thống hóa một số vấn đề có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp khảo sát: tiến hành khảo sát 356 HS của 05 trường TH trên địa bàn thành phố Cao Lãnh qua 17 câu hỏi về việc vận dụng thực tiễn kiến thức trong việc GDCQBĐ qua các môn địa lí lớp 4,5 nhằm tìm hiểu khả năng nhận thức của HS là cơ sở để xây dựng hệ thống kiến thức thực tiễn và đề xuất biện pháp mang tính thiết thực khi sử dụng trong dạy học

- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn 3-5 HS/trường để nắm được tình hình thực tế việc GDCQBĐ trong các trường TH

- Phương pháp thực nghiệm:tổ chức các hoạt động đã thiết kế cho 05 nhóm

HS tại trường TH Mỹ Phú tham gia, từ đó rút ra nhận xét, kiểm chứng kết quả nghiên cứu

Trang 18

Thống kê các câu trả lời của 356 HS thành các bảng số liệu để rút ra cơ sở cho việc thiết kế các hoạt động

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề tài được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ở tiểu học thì HS sẽ được nâng cao hiểu biết về chủ quyền biển đảo của nước ta

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO

HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Khái niệm biển đảo và các vấn đề chủ quyền biển đảo của

Việt Nam

1.1.1 Khái niệm biển đảo và chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Có nhiều khái niệm khác nhau về biển đảo, theo Bách khoa toàn thư “biển” được định nghĩa như sau: “Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên” Vùng biển Việt Nam là một phần của Biển Đông, nó là một biển nửa kín - là một vịnh, một vũng hay một vùng biển

do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay đại dương qua một cửa hẹp hoặc là hoàn toàn do chủ yếu hay các lãnh hải hay các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành (Điều 122 Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982); được bao bọc bởi lục địa châu Á và bờ biển phía Đông bán đảo Malacca về phía Tây, đảo Đài Loan, Philippines và đảo Kalimantan về phía Đông Bao xung quanh biển Đông là 9 nước: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Singapore và 1 lãnh thổ là Đài Loan

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km và có 28/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giáp biển, đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển

và giao lưu với các nước Có Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc của Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển miền Bắc Việt Nam ở phía tây, bờ biển Nam Trung Hoa ở phía Bắc và phía Đông Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía tây nam của Biển Đông có bờ biển chung dài khoảng 2300 km với 4 quốc gia là: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia [20]

Vùng biển nước ta gồm các bộ phận: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với đất liền, ở phía trong đường cơ sở Vùng Nội thủy được xem như một bộ phận lãnh thổ trên đất liền Lãnh hải là

Trang 20

1.852 mét) Ranh giới của lãnh hải (Được xác định bởi các đường song song cách đều đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên các vịnh với các nước hữu quan) chính là đường biên giới quốc gia trên biển

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhầm bảo đảm cho việc thực hiện chủ quyền của quốc gia ven biển Trong vùng này, nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư,…

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng tiếp liền với lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Ở vùng này, Nhà nước

ta có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt đường ống dẫn dầu, giây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hoạt động hàng hải và hàng không theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm

1892

Thềm lục địa nước ta là phần ngầm dưới biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần thuộc địa kéo dài, mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu 200 mét hoặc hơn nữa Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam

Còn “đảo” được định nghĩa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 như sau: “Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước biển bao bọc, khi thủy triều lên cao nhất vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” (Khoản 1, Điều 121 Công ước)

Quần đảo là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước biển giữa các đảo và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau về mặt địa lí, kinh tế và chính trị (Điều 46 điểm b Công ước)

Thuộc vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ Có những đảo đông dân như: Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc; có những đảo cụm lại thành quần đảo như: Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu,…Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển

và đại dương, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có

Trang 21

ý nghĩa là cơ sở khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo

Hệ thống đảo của Việt Nam gồm các đảo và quần đảo như sau:

Quần đảo Hoàng Sa: Quần đảo Hoàng Sa hay còn gọi là bãi cát vàng nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi Quần đảo Hoàng Sa nằm gằn với đất liền của Việt Nam nhất: từ đảo Tri Tôn đến Mũi Ba Làng An 135 hải lý và cách đất liền của Trung Quốc tối thiểu là

235 hải lý Hoàng Sa đã được người Việt biết tới từ rất lâu và xác lập thực thi chủ quyền một cách liên tục vì đoạn bờ biển Quảng Trị chạy dài xuống Quảng Ngãi đối mặt với đảo Hoàng Sa là nơi hứng gió mùa Đông Nam hay Đông Bắc, nên các thuyền gặp bão bị hư hại thường dạt vào đó và được cứu giúp

Vùng đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm chính: nhóm đảo phía Đông gồm nhóm An Vĩnh khoảng 12 đảo, một số cồn san hô, trong đó có 2 đảo lớn nhất là Phú Lâm và Linh Côn Nhóm đảo phía Tây gồm những đảo xếp thành vòng cung nên được gọi là nhóm đảo Lưỡi Liềm hay còn gọi là nhóm Trăng Khuyết gồm 8 đảo chính là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng,

Đá Bắc, Bạch Quy và Tri Tôn

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối um tùm nhưng có đảo chỉ có các cây nhỏ và cỏ dại Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam Hải sản ở quần đảo Hoàng Sa có nhiều loài quý như: tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi và loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế

Quần đảo Trường Sa: Quần đảo Trường Sa cách vùng đảo Hoàng Sa gần

200 hải lý về phía Nam, bao gồm hàng trăm đảo, đá, bãi ngầm trải dài trên vùng biển rộng gấp 10 lần vùng biển của vùng đảo Hoàng Sa Là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ, khí đốt thuộc Biển Đông Quần đảo Trường Sa là một tập hợp gồm nhiều đảo san hô, cồn cát, rạn đá, san hô nói chung và các bãi ngầm trải dài trong khoảng

vĩ độ 6030’ đến 120 Bắc, từ kinh độ 111030’ đến 117020’ Đông Đảo lớn nhất trong vùng đảo này là Ba Bình rộng khoảng 0,65 Quần đảo Trường Sa chia thành 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên Trong đó cụm đảo rộng nhất là cụm Nam Yết gồm nhiều

Trang 22

đảo đá, bãi ngầm xếp liền nhau thành một vành đai bao quanh vùng biển nông trên dưới 10m

Do sở hữu rất nhiều thực thể địa lý nên quần đảo Trường Sa được các nhà hàng hải quốc tế cũng như một số quốc gia phân chia thành nhiều cụm riêng biệt dựa trên sự gần gũi hoặc tương đồng về mặt địa lý hay đơn thuần chỉ là phân chia tương đối “Biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta” [22] Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam từ nhiều thế kỉ nay, nhân dân Việt Nam luôn luôn ý thức được điều đó và kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Biển Việt Nam là một bộ phận không tách rời và chiếm vị trí trọng yếu trong Biển Đông - một khu vực địa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển đảo phức tạp và kéo dài trong lịch sử

“Rừng vàng, biển bạc” là câu nói cho thấy tài nguyên rừng và biển vô cùng phong phú và đa dạng; nhưng ở đây nhóm tác giả chỉ đề cập đến biển đảo của nước Việt Nam, đặc biệt là Biển Đông Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với các nước trong khu vực về địa - chiến lược, về an ninh quốc phòng, giao thông vận tải và kinh tế, bởi lẽ Biển Đông nằm trên tuyến giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông

- châu Á; gắn bó với bao thế hệ, là chỗ dựa sinh kế của người dân Cụ thể:

Về kinh tế - xã hội: Với những điều kiện thuận lợi về vị trí, địa lý, khí hậu

ôn hòa làm cho nguồn tài nguyên sinh vật biển, hệ sinh thái biển ở Biển Đông trở nên vô cùng phong phú và đa dạng với 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn

20 kiểu hệ sinh thái điển hình (có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển,…) Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đấy góp phần ổn định đời sống của dân cư vùng ven biển và trên các đảo ven bờ, cũng như là nguồn xuất khẩu thủy hải sản thu ngoại tệ chủ yếu của các nước xung quanh Biển Đông và nước Việt Nam nói riêng, giúp phát triển kinh tế của một quốc gia Trữ lượng

Trang 23

hải sản đánh bắt được khoảng 3-3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế rất cao

Không chỉ có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, Biển Đông còn là một trong năm bồn trũng chứa đựng dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang

Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng Khu vực Nam Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ khoảng từ 23,5 tỷ đến 30

tỷ tấn, khí thiên nhiên khoảng 8.300 tỷ, quặng hiếm 250.000 tấn [11] Theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng- băng cháy, trữ lượng nguồn tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí, than, khí thiên nhiên, trở thành loại năng lượng mới của thế kỉ

21

Bên cạnh đó Biển Đông còn có khả năng phát triển ngành du lịch biển với những rạn san hô sặc sỡ, phong phú đặc biệt là ở quần đảo Trường Sa tạo điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch lặn biển Ngoài ra loại hình du lịch biển còn phong phú với nhiều bãi đá, đảo đá, bãi biển đẹp cùng nhiều vũng vịnh, hang động,… thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, tắm biển,…

Về giao thông vận tải: Việt Nam ta có Biển Đông là biển duy nhất nối liền

Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, châu Âu- châu Á, Trung Đông- châu Á Biển Đông được nối với Thái Bình Dương thông qua eo biển Basi (nằm giữa Philippines và Đài Loan) và eo biển Đài Loan Về phía Tây, Biển Đông thông với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca.Trải qua nhiều thập kỷ trong lịch sử, Biển Đông luôn được coi là con đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, trong đó có eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế

Trang 24

giới, con đường ngắn nhất để dầu thô chuyển từ Châu Phi, Trung Đông và Australia tới các khách hàng châu Á là đi qua khu vực Biển Đông

Về an ninh - quốc phòng:Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có 2 điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca, nằm giữa đảo Sumatra của Indonesia và Malaysia; thứ hai là vùng Biển Đông có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới [12, tr.24]

Ngoài bề mặt rộng lớn của Biển Đông, các đảo, quần đảo nhất là Hoàng Sa

và Trường Sa nằm trong vùng biển rộng lớn này cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng về chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc của mỗi quốc gia, thuận lợi cho việc đặt các trạm ra đa, trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè, phục vụ cho tuyến đường hàng hải Các chuyên gia chiến lược trên thế giới đều cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường

Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông

1.1.2 Các vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Khi nghiên cứu về vấn đề biển đảo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu và trình bày ở nhiều khía cạnh khác nhau, giải quyết những vấn đề xoay quanh biển đảo như vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo, quản lý và khai thác tài nguyên biển, tuyên truyền và giáo dục

về biển đảo

1.1.2.1 Vấn đề xác lập chủ quyền biển đảo

Các nước trên thế giới đều có mong muốn hướng ra biển, xác lập chủ quyền, mở rộng lãnh thổ vì hiện nay diện tích trên đất liền ngày càng bị thu hẹp, nguồn tài nguyên trên cạn đang bị cạn kiệt dần không đáp ứng đủ các nhu cầu sinh sống của con người, trong khi đó nguồn tài nguyên khoáng sản, sinh vật trên biển, dưới lòng biển lại vô cùng phong phú và đa dạng Các nước luôn đấu tranh, xác lập chủ quyền của mình trên các vùng biển như Hàn Quốc, Nhật Bản tại đảoTo-ki-do; Vùng biển Hoàng Hải là nơi cả Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đều tuyên bố chủ quyền Khu vực Biển Đông là nơi có các cuộc tranh chấp phức tạp nhất hiện nay, bởi liên quan đến lợi ích của nhiều nước Trường Sa hiện nay đang xảy ra tranh chấp giữa 5 nước: Việt Nam; Trung Quốc; Đài Loan; Philippin; Malaysia và Brunei, mỗi quốc gia hiểu rất rõ vai trò to lớn của biển

Trang 25

đảo về chính trị, quân sự, kinh tế như đã nêu ở trên nên ra sức chiếm lấn và đòi yêu sách với các vùng biển

Việc phân định biên giới trên biển rất khó khăn và phức tạp, vì có nhiều vùng chồng lấn và những vấn đề do lịch sử để lại, trong khi các nước lại có những quan điểm rất khác nhau về phân định các vùng biển Nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản nhất là do tham vọng các nước, nhất là các nước lớn muốn

sử dụng ưu thế về kinh tế và quân sự để chiếm phần lợi về mình Ngoài ra hiện nay trên thế giới chưa có một tổ chức đủ mạnh và vô tư để giải quyết công việc này, kể cả Liên hợp quốc vẫn bị các nước lớn chi phối

Hiện nay, Hoàng Sa, Trường Sa đang bị Trung Quốc xâm chiếm, tấn công

và đưa ra những luận điệu, chứng cứ vô giá trị, việc xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này chỉ là “biết” mà không phải “phát hiện”,

mà không phát hiện cũng không “chiếm hữu” thì những yếu tố đầu tiên của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ rõ ràng là không có Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam cộng hòa (Việt Nam) đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1956 sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương và đã tổ chức về mặt hành chính tại hai quần đảo này, tổ chức và khai thác tài nguyên về biển; đồng thời kiên quyết bảo vệ chống lại những hành động và ý đồ xâm chiếm của các nước khác, bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình tại các hội nghị và tổ chức quốc tế, tuyên

bố chủ quyền với hai quần đảo Khi Việt Nam phát hiện Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) và khẳng định chủ quyền của mình thì chủ quyền đó ngày càng được củng

cố bằng việc thực hiện thật sự, liên tục và hòa bình quyền làm chủ ấy, như Bác

Hồ có câu: “Biển là của ta do nhân dân ta làm chủ”

Ở Việt Nam, trong cuốn “Bảo vệ chủ quyền và quản lý - khai thác biển đảo Việt Nam 1975-2014” của Tiến sĩ Phạm Ngọc Trâm đã trình bày về vấn đề xác lập chủ quyền: “Căn cứ vào tư liệu lịch sử có thể khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trên các phương diện lịch sử, địa lí, pháp lý (Cả công pháp quốc tế) điều đó thêm một minh chứng cho mấy ngàn năm lịch sử ông cha chúng ta đã tốn biết bao nhiêu công sức, xương máu để mở rộng từng tấc đất, mở rộng lãnh thổ từ ba mặt: Nam tiến, tây tiến và đông tiến [15, tr.52]

Trang 26

Và khi bị các nước xâm chiếm tới chủ quyền thiêng liêng ấy, Việt Nam luôn khẳng định, nước Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử về chủ quyền biển đảo, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các chứng cứ lịch sử: Qua các tư liệu cổ, thư tịch cổ do chính các sử giả Việt Nam viết vào thế kỉ XVIII- XIX dưới thời nhà Lê và nhà Nguyễn cho thấy quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu

Đại Nam nhất thống chí: đã viết: “Ở phía đông Cù lao Ré, từ bờ biển Sa Kỳ chạy ghe ra khơi, thuận gió thì ba bốn ngày sẽ đến nơi Trên đảo có các núi la liệt hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc trong vài trống canh Trên đảo có bãi Hoàng Sa (Cát Vàng) kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục danh là Vạn Lý Trường Sa,…Phía Đông đảo này gần Quỳnh Châu thuộc phủ Hải Nam, nước Trung Hoa”

Trong Phủ biên tạp lục (1777) Lê Quý Đôn đã trình bày khá rõ ràng rằng, trong thời gian nhà Lê cầm quyền, các vùng biển và hải đảo là của dân tộc ta Dựa trên đặc điểm về phong tục tập quán, văn hóa người Việt ông cho rằng từ rất lâu đã có dấu ấn người Việt sinh sống trên các vùng đảo ấy

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cùng học giả Nguyễn Nhã trong quyển Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam (2009) đã cung cấp tương đối toàn diện

và đầy đủ về các luận cứ, cơ sở pháp lý cũng như giá trị lịch sử của Việt Nam trong việc đưa ra các cơ sở khoa học lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa Ngoài ra, trong Châu bản triều Nguyễn cũng có nhiều văn bản của triều đình nhà Nguyễn viết có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa

Qua những sách sử cổ từ thời nhà Lê, nhà Nguyễn đã minh chứng rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam đã thể hiện chủ quyền của mình trên quần đảo ấy như dựng miếu Thần Hoàng Sa, thành lập Đội Hoàng Sa để kiểm soát, lập hải trình, vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, khai thác tài nguyên, thu tiền của tàu thuyền nước ngoài vận chuyển hàng hóa qua, giúp

đỡ những tàu thuyền gặp nạn ở Hoàng Sa

Qua một số sách và tư liệu cổ của các nước phương Tây cho thấy quần đảo Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn như quyển Vũ trụ, lịch sử, thiên văn và vật lý của tác giả Bagio Soria in năm 1828 tại Napoli,

có viết: “Thuộc về đế chế này là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) bao gồm các đảo

Trang 27

và các đá ngầm ở phía đông bờ biển nước này”; Quyển Lịch sử Đông Ấn của Itali Felica Ripamonti viết về vùng Đông Ấn, trong đó có Việt Nam, được in năm 1825 tại Milan có viết trong phần Libro XXII, từ trang 124-143 dành riêng cho Đàng Trong, trang 127 đã viết: “Thuyền trưởng các tàu buôn phải thường xuyên qua lại vùng này thì thích nhập cảng Hội An hơn, cảng này không xa thủ

đô Huế Những người đi biển ở ba cảng này ( tức Huế, Hội An, Đà Nẵng) là những người lão luyện nhất của quốc gia này và hằng năm có chuyến đi biển đến chuỗi đảo ra bãi đá nhỏ có tên là Hoàng Sa” Tác giả muốn nhắc đến Đội Hoàng Sa thời Nguyễn được cử ra đảo để quản lý, cắm mốc chủ quyền cũng như khai thác tài nguyên

Các chứng cứ địa lý: Các bản đồ địa lý của nước ta dưới thời nhà Lê, nhà Nguyễn tuy không nhiều, nhưng đều khẳng định rằng bãi Cát Vàng – quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam như:

Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỉ XVII) do Đỗ Bá tự là Công Đạo vẽ đã ghi giữa biển có một dải cát dài, tên gọi là Bãi Cát Vàng dài độ bốn trăm dặm, rộng hai mươi dặm đứng dựng giữa biển Hằng năm cuối mùa đông, chúa Nguyễn đưa mười tám chiếc thuyền đến đây để lấy hàng hóa, vật sản, được nhiều vàng bạc, tiền tệ, súng đạn và các vật liệu khác Trong quyển Đại Nam nhất thống toàn đồ do các sử quan triều Nguyễn vẽ vào năm 1839-1840 dưới thời của Minh Mạng (1820-1841), bản đồ ghi rõ Hoàng Sa là một chùm đảo kéo dài, đối diện với cửa Đại, cửa Đà Nẵng trong đất liền, còn quần đảo Trường Sa với nhiều đảo nằm đối diện với đia phận các tỉnh Phú Yên- Khánh Hòa ghi là

“Vạn lý Trường Sa”

Nhiều sách địa lý và bản đồ của các tác giả, nhà thám hiểm, nhà hàng hải

và giáo sĩ phương Tây đã vẽ về Bãi Cát Vàng - quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa thuộc về vương quốc An Nam như: Quyển Địa lý học hình thể và chính trị do tác giả người Italia Luiji Galant biên soạn và xuất bản năm 1834 tại Napoli; Quyển Địa lý hiện đại thế giới của tác giả Italia G.R Pagnozzi xuất bản năm

1823 tại Florence, nói đến Hoàng Sa (Paracel), Cù lao Chàm (Callas), Côn Đảo (Polo Condor), Đảo Nghi Sơn (Bientson) của vương quốc An Nam

Ngoài ra trong cuốn A Balbi’s Allegemeine des geographischen Wissens và trong Bản đồ Ngoại Ấn và các đảo Đông Ấn cũng có đề cập đến nội dung tương

Trang 28

tự Qua đó cho thấy các nước phương Tây cũng đã công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam từ lâu

Thông qua các chứng cứ lịch sử, địa lý cũng như các chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, các giáo sĩ phương tây đã khẳng định từ lâu và liên tục Việt Nam

ta đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thể hiện bằng nhiều hoạt động như tham vãng bảo vệ hàng năm (thành lập Đội Hoàng Sa để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và Đội Bắc Hải để bảo vệ quần đảo Trường Sa), xây dựng cơ sở vật chất, trạm cứu nạn các tàu bị đắm ở Hoàng Sa, cắm mốc chủ quyền, xây miếu thờ, khai thác tài nguyên,… Việc chiếm hữu và khai thác của Việt Nam không có một quốc gia nào phản đối kể cả Trung Quốc

Như vậy, trên cơ sở các chứng cứ lịch sử, địa lý và pháp lý có thể khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách rõ ràng, cụ thể và xác thực không thể chối cãi được

1.1.2.2 Vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo

Biển đảo có vai trò hết sức quan trọng đối với các nước trong khu vực về địa - chiến lược, về an ninh - quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế, đặc biệt là Biển Đông, bởi lẽ Biển Đông nằm trên tuyến giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á Cụ thể, về an ninh - quốc phòng thì Biển Đông chính là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước; các đảo và quần đảo (tiêu biểu là quần đảo Hoàng Sa

và quần đảo Trường Sa) không chỉ kiểm soát các tuyến giao thông biển mà còn

là nơi phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nước ta Về kinh tế, Biển Đông

là cửa ngõ quan hệ trực tiếp, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi, giao lưu và hội nhập các nền văn hóa giữa các nước Không những thế, Biển Đông còn chứa đựng nguồn thủy hải sản, dầu khí, các quặng sa khoáng như titan, thiếc, vàng, đất hiếm… đặc biệt là cát nặng và cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước; cùng với các dịch vụ như đóng tàu, du lịch, góp phần làm cho nền kinh tế nước Việt Nam phát triển, đồng thời cũng là lý do các nước khác “luôn dòm ngó” vào Biển Đông Đối với các nước trên thế giới, Biển Đông đóng vai trò cũng không nhỏ, vì nằm trên ngã tư đường hàng hải nên giúp cho các nước vận chuyển hàng hóa thuận tiện và dễ dàng hơn, ngắn hơn tiết kiệm được thời gian và chi phí

Trang 29

Biển Đông đang phải đối mặt với vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo, cụ thể là 2 quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trương Sa thuộc chủ quyền Việt Nam và tranh chấp trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa giữa các nước có bờ biển liền kề hay đối diệnnhau ở xung quanh Biển Đông

Và “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC) đã được ký kết giữa các nước ASEAN là một bước tiến quan trọng tìm kiếm các phương pháp hòa bình giải quyết tranh chấp liên tục và lâu dài; mở ra hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác, hình thành cơ sở chính trị pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định Biển Đông

Năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực để xâm lược, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đã và đang được Nhà nước Việt Nam thực thi chủ quyền một cách liên tục và hòa bình từ hàng trăm năm qua Tháng 3/1988 và năm 1992 Trung Quốc một lần nữa dùng đến vũ lực để chiếm đóng một số đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa và một số bãi ngầm nằm trên thềm lục địa của Việt Nam Trung Quốc đã gửi công hàm lên Tổng thư kí Liên hợp quốc phản đối Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc theo qui định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 vào ngày 7/5/2009 với nội dung là “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) và các vùng nước kế cận và có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ở đó Lập trường trên đây đã được Chính phủ Trung Quốc đưa ra một cách nhất quán

và được cộng đồng quốc tế đều biết đến rộng rãi”, kèm theo đó là bản đồ công

bố chính thức “đường lưỡi bò” “chiếm” gần 80% diện tích Biển Đông với toàn thế giới Đây là yêu sách phi lí của Trung Quốc, không có cơ sở lịch sử, pháp lí

để khẳng định chủ quyền lãnh thổ và đến nay Chính phủ Trung Quốc vẫn chưa đưa ra tọa độ chính xác của các đường 9 đoạn hay 10 đoạn, 11 đoạn trong yêu sách, không có sự đồng bộ về các quan điểm ra đời cũng như “đường lưỡi bò”

có chính xác bao nhiêu đoạn, làm cho yêu sách trở nên mập mờ, mơ hồ Yêu sách này “chưa hề có tiền lệ trong thực tiễn quan hệ quốc tế, không có cơ sở pháp lí quốc tế và đi ngược lại các chuẩn tắc của UNCLOS 1982” [10]

Để yêu sách “đường lưỡi bò” được hiện thực hóa và muốn vươn lên làm bá

Trang 30

lý, họ ra sức tuyên truyền khẩu hiệu “trỗi dậy hòa bình”, khẳng định sự phát triển của Trung Quốc như “con sư tử văn minh, hòa bình” thể hiện trên các lĩnh vực sau:

Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Trung Quốc không chỉ dùng vũ lực để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa; các đảo, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa

mà còn không ngừng nâng cao trình độ, kĩ năng của lực lượng quân đội đặc biệt

là hải quân, không quân và lực lượng quân sự trên biển, đầu tư mua sắm, chế tạo các trang thiết bị quân sự như tàu chiến, máy bay chiến đấu, vũ khí hạt nhân; kết hợp với chiến lược đe dọa và sẵn sàng sử dụng vũ lực để xâm chiếm các vùng đảo khác của Việt Nam và các nước Dần dần Trung Quốc đã trở thành một siêu cường với lực lượng quân sự thứ hai thế giới nên họ không ngại “trỗi dậy bằng bạo lực”

Trung Quốc đã có hành động cụ thể gây phẫn nộ trong thời gian gần đây là ngày 01/05/2014, Trung Quốc đã cho Công ty Dầu khí Hải Dương hạ đặt trái phép giàn khoan HảiDương-981 tại vị trí cách đảo Tri Tôn khoảng 17 hải lý về phía Tây - Nam Vị trí này nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh

tế của Việt Nam trên 80 hải lý, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế Không chỉ vậy, Trung Quốc còn huy động một đội tàu khoảng 100 chiếc (có cả tàu chiến) và máy bay quân

sự hộ tống ngăn chặn và uy hiếp thậm chí là tấn công các tàu làm nhiệm vụ bảo

vệ chủ quyền của Việt Nam, cản phá, truy đuổi và đắm chìm nhiều tàu cá của ngư dân Việt Nam

Trung Quốc cho rằng hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981 là hoạt động dầu khí bình thường của một doanh nghiệp Trung Quốc ở khu vực phía nam đảo Trung Kiến của Tây Sa (đảo Tri Tôn của Hoàng Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc Trung Quốc cho rằng hành động của Việt Nam là quấy nhiễu, khiến “Trung Quốc buộc phải tăng cường lực lượng bảo vệ an ninh tại hiện trường, ngăn chặn hành động quấy nhiễu của Việt Nam, để duy trì trật tự sản xuất và tác nghiệp trên biển cũng như đảm bảo an toàn hàng hải” [11] Hành động này của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền tài phán

và lợi ích quốc gia hợp pháp của Việt Nam cũng như Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc là một quốc gia thành viên đang thực hiện quy định đó

Trang 31

Hành động ngang ngược ấy không chỉ dừng lại ở đấy, Trung Quốc còn ra sức nạo vét đáy biển, cắt phá các rạn san hô (đặc biệt ở Trường Sa) để xây đảo nhân tạo với quy mô lớn và xây đường băng dài, ảnh hưởng đến cân bằng hệ sinh thái của môi trường biển Hành vi này đã bị các quốc gia, tổ chức, nhiều học giả trong khu vực và trên thế giới phản đối và lên án, vi phạm Tuyên bố ứng

xử của các bên ở Biển Đông (DOC) kí năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc Trên lĩnh vực kinh tế:Trung Quốc đã trắng trợn mời thầu quốc tế thăm dò

và khai thác dầu khí tại các vùng biển của Việt Nam (tháng 3/2010, 5/2011, 8/2012, 4/2014), không ngừng đẩy mạnh các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trái phép trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tại Biển Đông như hạ đặt trái phép giàn khoan Hải dương-981

Ngoài ra Trung Quốc còn can thiệp thô bạo vào ngành đánh bắt cá hợp pháp của công dân Việt Nam và các quốc gia khác thông qua việc ban hành các lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm với mục đích là “nhằm bảo vệ nguồn cá, ngăn chặn đánh bắt cá trái phép và bảo vệ ngư dân Trung Quốc”; uy hiếp, cản trở các hoạt động đánh bắt cá hợp pháp của Việt Nam gây thiệt hại cho tài sản, cướp đi nguồn kiếm sống của dân biển, làm cho cuộc sống không được đảm bảo, tính mạng của người dân Việt Nam

Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao: Với chủ trương hiện thực hóa tham vọng bành trướng Trung Quốc biết chắc rằng không thể dùng uy tín của một cường quốc hay chính sách ngoại giao để lôi kéo, khuất phục các nước ASEAN đang có tranh chấp lãnh thổ đi theo định hướng của mìnhnên Trung Quốc thực hiện chính sách mềm dẻo với các nước ASEAN để hạn chế đi sự phản đối của các nước khu vực Đông Nam Á đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước khác, và không ngừng tăng cường “sức mạnh” của lực lượng quân sự, vũ khí chiến đấu.Khi trở thành một cường quốc “lắm tiền lắm đạn” Trung Quốc đã hành động một cách ngang ngược theo kiểu “bá quyền nước lớn”, cậy mạnh hiếp yếu, bất chấp sự thật lịch sử và pháp luật quốc tế; khẳng định đơn phương yêu sách chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông mặc cho các nước nhỏ phản đối, lên án quyết liệt Trung Quốc luôn “vỗ ngực” mình là yêu chuộng hòa bình thế nhưng nói một đằng làm một nẻo, luôn cố tình trì hoãn, gây khó khăn đối với việc tranh chấp Biển Đông, thường xuyên vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các

Trang 32

các bên ở Biển Đông (COC) Đối với các cuộc đàm phán Trung Quốc sử dụng chính sách ngoại giao câu giờ hoặc chỉ đàm phán song phương, không đưa ra bất

kỳ thiết chế quốc tế nào với nhiều chiêu trò, vừa đẩy mạnh tuyên truyền đặc biệt với nhân dân trong nước về “Chủ quyền không thể tranh nghị của Trung Quốc” , vừa bịa đặt, vu khống cho Việt Nam và các nước trong khu vực chiếm đoạt và khai thác tài nguyên biển không hợp pháp trên biển của Trung Quốc nhằm độc chiếm toàn bộ Biển Đông

1.2 Nội dung, chương trình giáo dục biển đảo qua môn Địa lí

1.2.1 Mục tiêu

Giáo dục tài nguyên, môi trường biển đảo ở cấp TH nhằm giúp HS: Hiểu biết ban đầu về biển, hải đảo; tài nguyên, môi trường, chủ quyền biển, hải đảo và vai trò của biển, hải đảo đối với đời sống và sản xuất; Biết sơ lược về tình hình

và khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên, môi trường biển, hải đảo ở Việt Nam; Biết được một số biện pháp sử dụng tài nguyên, môi trường biển, hải đảo để phát triển bền vững; Hình thành và phát triển một số kỷ năng tài nguyên, môi trường biển đảo trong đời sống hàng ngày; Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng

tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo của Tổ quốc

1.2.2 Hình thức đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo qua môn Địa lí

- Tích hợp nội dung chủ quyền biển đảo ở môn địa lí có 3 mức: Mức độ toàn phần; Mức độ bộ phận; Mức độ liên hệ

- Đưa giáo dục về chủ quyền biển đảo trở thành nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

+ Lồng ghép vào các hoạt động văn nghệ, câu lạc bộ, sinh hoạt tập thể trong nhà trường

+ Tham quan thực tế, đặc biệt đối với HS của 28 tỉnh ven biển

+ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về biển, hải đảo, đặc biệt là vấn đề chủ quyền quốc gia biển, hải đảo

1.2.3 Nội dung dạy tích hợp giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa Địa lí lớp 4,5

Trang 33

1.2.3.1 Nội dung dạy tích hợp giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa Địa lí 4

Tên bài Nội dung tích hợp

Mức độ tích hợp Nơi có biển

đảo có biển đảo Nơi không Hoạt động sản xuất

người dân Hoàng

Liên Sơn

Vùng biển nước ta có khoáng sản như mỏ dầu và từ đó giáo dục cho học sinh biết sử dụng tiết kiệm

- Giáo dục tình yêu, ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo

Bổ sung: Qua cách sử dụng bản

đồ khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của chúng ta

- HS biết các nguồn tài nguyên

từ biển (qua khu vực đồng bằng ven biển miền Trung)

- Những hoạt động sản xuất gắn với việc khai thác nguồn tài nguyên biển: làm muối, đánh bắt, nuôi trồng và chế biển hải sản, đóng tàu, phát triển du lịch

- Các hoạt động khai thác biển, hải đảo như trên cùng là một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường biển

- Ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo

Bộ phận Toàn phần

Bài 28: Thành phố - Phát triển cảng biển, đẩy mạnh giao thông đường biển và Bộ phận Toàn phần

Trang 34

của các thành phố ven biển

- Phát triển, khai thác các thế mạnh của biển vào phát triển kinh tế cần gắn chặt với giáo dục bảo vệ chủ quyền biển đảo

Bài 29: Biển đảo và

quần đảo

- Biết những đặc điểm chính của biển, hải đảo Việt Nam

- Biết những nguồn lợi to lớn từ biển, đảo: không khí trong lành, khoảng sản, hải sản, an ninh quốc phòng, phong cảnh đẹp

- Biết một ngành nghề khai thác tài nguyên biển: nuôi trồng, đánh bắt hải sản, du lịch

- Biết Hoàng Sa và Trường Sa

là hai quần đảo lớn thuộc chủ quyền Việt Nam

- Giáo dục tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biểnđảo

- Những hoạt động kinh tế được thực hiện để khai thác các thế mạnh đó: khai thác dầu, khí, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải

- Các hoạt động khai thác biển, hải đảo như trên cùng là một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường biển

- Ý thức bảo vệ môi trừơng, bảo

vệ tài nguyên biển phát triển bền vững

Toàn phần Toàn phần

Trang 35

1.2.3.2 Nội dung dạy tích hợp giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa Địa lí 5

Tên bài Nội dung tích hợp

Mức độ tích hợp Nơi có biển

đảo

Nơi không có biển đảo

Bài 1: Địa lí Việt

Nam

- Biết đặc điểm về vị trí địa lí nước ta; có biển bao bọc; vùng biển nước ta thông với đại dương, thuận lợi cho việc giao lưu

- Biết tên một số quần đảo, đảo của nước ta; biết biển có diện tích rộng hơn phần đất liền của nước ta

- Giáo dục ý thức về chủ quyền lãnh hải

Bộ phận Bộ phận

Bài 2: Địa hình và

khoáng sản

- Dầu mỏ, khí tự nhiên – là những nguồn tài nguyên năng lượng của đất nước

- Sơ lược về một số nét về tình hình khai thác dầu mỏ, khí tự nhiên của nước ta hiện nay

- Các hoạt động khai thác biển, hải đảo như trên cũng là một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường

- Giáo dục tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo

Trang 36

du lịch biển Nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành này

Liên hệ Bộ phận

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

Bước vào TH là một trong những bước ngoặt quan trọng của cuộc đời con người Từ đây, trẻ thực sự bắt tay vào lĩnh hội nhưng tinh hoa văn hóa của loài người, vượt ra khỏi phạm vi kinh nghiệm cảm tính, trực tiếp của mình

HSTH dễ cảm xúc trước thế giới Các em thường biểu hiện cảm xúc trong khi tri giác trực tiếp các sự vật, hiện tượng cụ thể cường độ cảm xúc mạnh mẽ,

dễ xúc động, khó kìm hãm và khó làm chủ tình cảm của mình

Tình cảm của HSTH chưa bền vững Các em thường hay thay đổi tâm trạng, thiên về xúc động, biểu hiện khá mạnh và trong chốc lát sự vui mừng, tự hào, lo sợ, hờn giận

Tóm lại, các em ở tuổi này giàu cảm xúc, nhiều tình cảm mới được hình thành nhưng chưa bền vững

1.3.2 Đặc điểm ý chí

Trang 37

HSTH chưa có khả năng tự lập chương trình hành động, do ý chí chưa được phát triển đầy đủ

Các phẩm chất ý chí như: Tính độc lập, tính kìm chế và tự chủ còn thấp Trẻ dễ bắt chước hành động của người khác, kể cả những hành động vượt quá sức trẻ, đôi lúc tính bột phát, ngẫu nhiên được thể hiện trong hành động của trẻ

1.3.3 Đặc điểm chú ý

Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở HSTH Trẻ

TH không thể tập trung chú ý vào những gì không rõ ràng, không hiểu hoặc quá quen thuộc, buồn chán

Ở cuối tuổi TH trẻ dần hình thành những kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển và chiếm ưu thế Ở trẻ đã có sự nỗ lực về

ý chí trong hoạt động học tập trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một công việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Sự chú ý của HSTH còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý

1.3.4 Đặc điểm hoạt động nhận thức

Trẻ em ở lứa tuổi này rất hồn nhiên, ham tìm tòi, khám phá cái mới, điều này nói lên trí tuệ của các em đang phát triển, đang mong muốn nhận thức của học sinh cấp 1 thiên nặng về nhận thức cảm tính, tức là nhìn nhận sự việc, hiện tượng ngay trước mắt mình chứ chưa nhìn nhận được mọi sự vật, hiện tượng bên trong

Ở tuổi này học tập cũng đã trở thành hoạt động chủ đạo, nhưng các em say

mê học tập chưa phải vì nó nhận thức được trách nhiệm đối với xã hội mà chủ yếu vì những động cơ mang ý nghĩa tình cảm như: trẻ học được nhiều điểm tốt, được thầy cô, bố mẹ khen, bạn mến,

Về mặt hành động các em rất hiếu động, ở độ tuổi này bắt đầu phát triển nhận thức lý tính tức là phát triển những tư duy mới

1.3.5 Đặc điểm tư duy

Trang 38

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi HS lớp 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, Tổng hợp kiến thức còn ở mức sơ đẳng ở phần đông HSTH

1.3.6 Đặc điểm trí nhớ

Trí nhớ của các em được xây dựng trên cơ sở mới của quá trình học tập, được điều khiển một cách có ý thức Trí nhớ được thay đổi phù hợp với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo Trí nhớ trở thành điều kiện, đồng thời là kết quả của quá trình học tập

Do ảnh hưởng học tập, trí nhớ của HSTH được phát triển theo hai hướng: Tăng cường vai trò của ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ logic so với ghi nhớ trực quan hình tượng

Trẻ có khả năng điều khiển một cách có ý thức trí nhớ của mình cũng như điều chỉnh sự nhận lại và nhớ lại một cách có chủ định

Lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển nhưng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em…Nắm được điều này, chúng ta phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, nội dung cần phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thuộc 1.4 Các nhân tố tác động đến nhận thức của học sinh tiểu học về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam

1.4.1 Cá nhân

HSTH dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới nhưng cũng thiếu sự tập trung cao

độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh Hầu hết HSTH tiếp xúc việc GDCQBĐ chủ yếu là qua sách vở và sự giới thiệu của GV, các phương tiện như tranh ảnh, băng hình sẽ giúp các em có sự ghi nhớ sâu sắc hơn là thông qua các bài giảng Ngoài ra, bản thân HS cũng có nhận thức, phân tích về sự đúng-sai của các vấn đề đang xảy ra từ đó hình thành hứng thú thúc đẩy các em học tập

1.4.2 Gia đình

Trang 39

Có thể nói một phần kiến thức, phẩm chất, nhân cách, động thái của con người nói chung và sinh viên nói riêng đều bị ảnh hưởng khá lớn từ gia đình họ,

từ ông bà, cha mẹ, anh chị em,…Đặc biệt là ông bà, cha mẹ những người kì cựu,

có kiến thức sâu rộng có thể truyền lại cho con cháu Thế nhưng, hiện nay thời gian mà các bạn trẻ dành cho gia đình thường rất ít hoặc cha mẹ mải mê làm việc mà thiếu đi sự quan tâm sâu sắc đến con cái nên việc truyền đạt lại kiến thức quý báu ấy bị hạn hẹp và mai một dần Đối với HSTH các em chưa có thời gian cho việc tra cứu nguồn tư liệu qua internet, kiến thức suy luận từ các sách báo, phương tiện truyền thông mà chủ yếu là việc các em nhặt lấy các mẫu chuyện, các sự kiện và thông tin đơn giản từ đó làm cơ sở cho việc tích lũy kiến thức biển đảo, đồng thời nâng cao ý thức về trách nhiệm của HSTH trong tương lai là hành trang cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.4.3 Nhà trường

Đối với HSTH thì trường học, thầy cô là một trong những nhân tố tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất Thông qua các môn học cụ thể liên quan đến GDCQBĐ Việt Nam, thông qua các hoạt động dạy và học các môn học như địa lí và lịch sử, đạo đức, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HSTH Bên cạnh đó nhà trường cũng có tổ chức một số hoạt động với mục đích tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết của sinh viên về vấn đề biển đảo như

“Chung tay hành động vì biển đảo thân thương”,…để khơi dậy khát vọng bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc

1.4.4 Xã hội

Xã hội đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành nhận thức của HS Cùng với nhà trường và gia đình, xã hội tạo mọi điều kiện tốt nhất để HS tìm hiểu thông tin về chủ quyền biển đảo Đối với HSTH, xã hội là môi trường tốt

để các em có thề rèn luyện, trau dồi thông tin Thông qua các hoạt động xã hội,

HS có thể tiếp nhận thông tin về biển đảo, một cách không tự giác, từ đó lượng kiến thức hình thành trong các em được ghi nhớ lâu và bền vững hơn Bên cạnh

đó, qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, nguồn Internet HS có thêm nhiều nguồn thông tin để tìm hiểu về kiến thức biển đảo, cập nhật được tình hình mới nhất của Biển Đông Những kiến thức HS được học ở nhà trường được củng cố và phát triển thêm qua sự học hỏi từ cộng đồng - xã hội

Trang 40

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Giáo dục về chủ quyền biển đảo cho HS là một trong những vấn đề cấp thiết tại các trường TH Thông qua chương 1, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các cơ

sở và những nội dung quan trọng về vấn đề chủ quyền biển đảo cần truyền tải đến các em HS; Phân tích các nhân tố đã tác động đến quá trình nhận thức của HSTH về vấn chủ quyền biển đảo; đồng thời chỉ ra các đặc điểm tâm sinh lí của

HS để thiết kế các hoạt động GDCQBĐ phù hợp

Ở chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thực trạng GDCQBĐ cho HS lớp 4,5 tại một số trường TH trên địa bàn thành phố Cao Lãnh

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w