Đặc điểm tạo hình trong thiết kế logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ.... Chương 3: LOGO VÀ SLOGAN TRONG HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU Ở CÁC DOANH NGHIỆP THUỶ
Trang 6MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.1 Mục đích nghiên cứu 8
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 9
- Phương pháp khảo sát 9
- Phương pháp so sánh 9
- Phương pháp nghiên cứu mỹ thuật và văn hoá 9
- Phương pháp phân tích – tổng hợp 9
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Kết cấu của đề tài 10
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LOGO VÀ SLOGAN 11
1.1 Khái quát về logo 11
1.1.1 Khái niệm logo 11
1.1.2 Đặc điểm của logo 14
1.1.3 Nguyên tắc cấu tạo của logo 15
1.2 Khái quát về slogan 17
Trang 71.2.1 Khái niệm slogan 17
1.2.2 Nội dung slogan 20
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: LOGO VÀ SLOGAN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỶ SẢN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC 28
2.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực Tây Nam Bộ 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
2.1.2 Điều kiện về kinh tế 30
2.1.3 Đặc điểm văn hoá – xã hội 34
2.2 Vai trò của các doanh nghiệp thuỷ sản trong sự phát triển kinh tế khu vực Tây Nam Bộ 38
2.3 Đặc điểm tạo hình trong thiết kế logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ 41
2.3.1 Phân loại logo của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ 43
2.3.1.1 Hình dáng bố cục logo 44
2.3.1.2 Logo sử dụng dạng chữ 48
2.3.1.3 Logo sử dụng kết hợp giữa chữ và hình biểu tượng 51
2.3.2 Cấu trúc – ngữ nghĩa và đặc điểm của các slogan 59
2.3.2.1 Cấu trúc của các slogan 60
2.3.2.2 Ngữ nghĩa của các slogan 64
2.3.2.3 Đặc điểm của các slogan 68
2.3.3 Yếu tố vùng miền đặc trưng trong tạo hình và thiết kế logo, slogan 69
Tiểu kết chương 2 74
Trang 8Chương 3: LOGO VÀ SLOGAN TRONG HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU Ở CÁC DOANH NGHIỆP THUỶ SẢN MIỀN TÂY
NAM BỘ 76
3.1 Khái niệm về thương hiệu và hệ thống nhận diện thương hiệu 76
3.2 Vai trò, tính thẩm mỹ và ảnh hưởng của logo, slogan trong hệ thống nhận diện thương hiệu 78
3.2.1 Vai trò thông tin thương hiệu của logo và slogan 78
3.2.2 Tính biểu tượng thẩm mỹ của logo và slogan 80
3.2.3 Ảnh hưởng của logo và slogan đối với hệ thống nhận diện thương hiệu 83
3.3 Những ưu điểm và hạn chế trong logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ 86
3.3.1 Ưu điểm của logo và slogan 86
3.3.2 Hạn chế của logo và slogan 87
Tiểu kết chương 3 91
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Miền Tây Nam Bộ không chỉ là vựa lúa lớn của cả nước, mà còn làvùng đất có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất nước ta Ngành côngnghiệp thuỷ sản ở đây đã đóng góp phần lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam về thuỷ sản Tuy nhiên, cho đến nay, ngành công nghiệp nàyvẫn chưa phát triển xứng tầm với tiềm lực cũng như các điều kiện vốn cócủa nó Một trong những nguyên nhân quan trọng của vấn đề trên là dochiến lược phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miềnTây Nam Bộ chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức
Như chúng ta đã biết khi nghĩ đến một thương hiệu nào đó, hình ảnhđầu tiên thường chính là logo (biểu trưng) và đi kèm với nó là một câukhẩu hiệu (slogan) nhằm giới thiệu về sản phẩm hay chính sách hoạt độngcủa công ty Chúng là đòn bẩy hữu hiệu trong việc giới thiệu các sản phẩm,dịch vụ của công ty đến với khách hàng qua các phương tiện thông tin đạichúng Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triểnthương hiệu
Xây dựng thương hiệu là một quá trình bao gồm nhiều hoạt độngnhằm hướng đến mục tiêu chung là tạo ra một vị trí xác định cho doanhnghiệp trên thị trường Một hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm nhiềuyếu tố như phong cách, màu sắc, bố cục và các thông điệp chính trong đó,gây được sự chú ý nhiều nhất và tạo ra ấn tượng sâu nhất cho khách hàng
là logo bên cạnh đó là slogan Trong hệ thống nhận diện thương hiệu củamột doanh nghiệp, thì logo vẫn là một dấu hiệu làm nổi bật thương hiệuhơn cả, là yếu tố tạo dấu ấn riêng của doanh nghiệp
Trang 10Logo và slogan có vai trò rất lớn trong hệ thống nhận diện thươnghiệu của mỗi công ty, tập đoàn Để một thương hiệu vượt ra khỏi quy mônhỏ lẻ; phạm vi trong nước thì doanh nghiệp, tập đoàn đó phải có mộtchiến lược xây dựng thương hiệu dài hơn Việc chuyển tải chiến lượcthương hiệu vào logo cũng như chiến lược, tầm nhìn và triết lý kinh doanhvào slogan là cả một vấn đề hết sức quan trọng, cần có những kế sách,chiến lược cũng như các kế hoạch kinh doanh đi kèm.
Cho đến nay, chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu vềlogo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ cũngnhư vai trò của nó đối với hệ thống nhận diện thương hiệu của các doanhnghiệp nói riêng Tìm hiểu về logo và slogan nhằm chỉ ra những đặc điểm
về yếu tố tạo hình, về ngôn ngữ biểu trưng và văn hoá của các logo, slogan
Từ đó góp phần tạo nên cái nhìn chiều sâu và toàn diện hơn về những yếu
tố quan trọng trong hệ thống nhận diện thương hiệu của các doanh nghiệpthuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ
Từ những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ làm đề tài nghiên
cứu của luận văn
kế logo đăng trên http://congbotieuchuanchatluong.vn; Ý nghĩa của màu
Trang 11sắc và tác động của nó trong thiết kế logo đăng trên
http://thietkemythuat.com.vn
Bên cạnh đó cũng có các bài viết về slogan như: Slogan: nhấn mạnh đặc điểm hay lợi ích của thương hiệu? đăng trên http://www.aitech.edu.vn; Slogan - ngọn cờ của doanh nghiệp đăng trên http://www.onboom.com; Văn hoá trong slogan đăng trên http://www.doko.vn; Slogan – thông điệp gửi tới khách hàng đăng trên http://bansacthuonghieu.com; Những slogan hay nhất mọi thời đại đăng trên http://vnexpress.net v…v.
Nhìn chung, các bài viết này có quy mô không lớn, đa phần là nhữngbài viết rời rạc, chưa có tính nghiên cứu cao, chủ yếu đề cập đến các tiêuchí cần phải xác định trước khi thiết kế logo hay mục đích của logo là thểhiện được giá trị mục tiêu của doanh nghiệp và cách thức để chuyển tảichiến lược thương hiệu vào logo cũng như vai trò của logo trong xây dựngthương hiệu Hoặc là bàn về ý nghĩa của các màu sắc, tính cô đọng súc tích,mang một hàm ý nào đó, đơn giản không cầu kỳ phức tạp, dễ bắt mắt, nổibật, sắc màu trên logo còn thể hiện tính đa nghĩa của màu sắc v…v Song
đã bước đầu đề cập đến các vấn đề quan trọng về logo, yếu tố màu sắc,
thông điệp văn hoá của logo… như Vai trò của logo trong hệ thống nhận diện thương hiệu, màu sắc trong thiết kế logo, slogan - ngọn cờ của doanh nghiệp v…v.
Có những bài viết đi vào các logo hay slogan cụ thể của một doanhnghiệp nào đó nhưng chủ yếu là để PR (tên viết tắt của Public Relations cónghĩa là quan hệ công chúng) cho doanh nghiệp đó hơn là nghiên cứu mộtcách bài bản, mang tính khoa học Hầu hết các bài viết chỉ đề cập đếnnhững khía cạnh riêng lẻ của logo hay slogan chứ chưa có một cái nhìnphối hợp tổng thể trong mối quan hệ giữa chúng
Trang 12Nghiên cứu chung về logo và slogan cũng như mối quan hệ của nó
trong hệ thống một ngành nghề cụ thể, đáng chú ý có bài viết Nhận diện
“thương hiệu Đại học” ở Việt Nam qua logo và slogan của tác giả Trần
Minh Hường, Hội thảo Quốc tế VNH 4, (Tiểu ban số 09) Trong bài viếtnày sau khi khảo sát khá công phu về hệ thống logo và slogan của cáctrường Đại học ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ của chúng vàphân tích có hệ thống các logo từ nhiều góc độ khác nhau và qua đó chỉ ranhững điểm mạnh, điểm yếu của các logo và slogan
Hiện nay, chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu mộtcách hệ thống về logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền TâyNam Bộ Trên cơ sở kế thừa các ý tưởng, thành tựu của các tác giả đi trước,luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống đặc điểm logo vàslogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chọn logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ làm đối tượng nghiên cứu.
Về phạm vi không gian: Luận văn chọn các doanh nghiệp đóng trên
địa bàn miền Tây Nam Bộ (cụ thể là các tỉnh: Long An, Tiền Giang, BếnTre, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ)
Trang 13Về phạm vi tính chất: Luận văn chỉ khảo sát những doanh nghiệp
trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản có tên trong
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam (Vasep)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, luận văn hướng tới những mục đích sau:
- Chỉ ra và phân tích được thực trạng và đặc điểm logo, slogan củacác doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ
- Chỉ ra những điểm mạnh và điểm hạn chế về màu sắc, bố cục, hìnhtượng của logo cũng như các đặc điểm ngữ nghĩa của các slogan
- Góp phần tham mưu, định hướng cho các doanh nghiệp trong việcxây dựng thương hiệu, đặc biệt là qua hai yếu tố: logo và slogan
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận văn cần giải quyết nhữngvấn đề sau:
- Khảo sát tất cả các logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ởmiền Tây Nam Bộ có tên trong Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sảncủa Việt Nam (Vasep)
- Vận dụng kiến thức mỹ thuật để để phân tích vai trò, hiệu quả thẩm
mỹ, thông tin thương hiệu của chúng
- Vận dụng các kiến thức liên ngành như ngôn ngữ, văn hoá để đánhgiá, phân tích về logo và slogan
- Tìm hiểu vấn đề logo và slogan trong mối liên hệ với chiến lượckinh doanh và hiệu quả thương mại
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sửdụng chủ yếu các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc tài liệu phân tích lý luận, so sánh, đối chiếu dựa trên cơ sởnhững kiến thức về ngôn ngữ và mỹ thuật nói chung, cụ thể là đặc điểmlogo và slogan làm cơ sở để định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát
Chúng tôi khảo sát logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sảnđóng trên địa bàn của miền Tây Nam Bộ và có tên trong Hiệp hội chếbiến và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam (Vasep)
- Phương pháp so sánh
So sánh phân loại logo cũng như slogan theo những hình thức và nộidung khác nhau
- Phương pháp nghiên cứu mỹ thuật và văn hoá
Logo và slogan có những đặc trưng riêng về xây dựng và thiết kế,nên chúng tôi vận dụng phương pháp này nhằm phân tích, đánh giá ngữnghĩa cũng như yếu tố tạo hình và tính thẩm mỹ liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trên cơ sở dữ liệu chúng tôi tiến hành hệ thống hoá, phân tích vàtổng hợp Từ đó có những nhận định, có cái nhìn toàn vẹn về đặc điểm,mối liên hệ giữa logo và slogan với chiến lược thương hiệu
Trang 156 Đóng góp của đề tài
Nếu nghiên cứu thành công, đề tài sẽ là công trình bao quát về logo
và slogan của các doanh nghiệp ngành thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ; là tàiliệu tham khảo hữu ích cho các nhà phát triển chiến lược thương hiệu vàchiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.Nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về logo và slogan
Chương 2: Logo và slogan của các doanh nghiệp thuỷ sản ở miền Tây Nam Bộ nhìn từ nội dung và hình thức
Chương 3: Logo và slogan trong hệ thống nhận diện thương hiệu ở các doanh nghiệp thuỷ sản miền Tây Nam Bộ
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LOGO VÀ SLOGAN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LOGO
1.1.1 Khái niệm logo
Hiện nay, rất nhiều người vẫn đồng nhất các khái niệm: Brand (quan niệm, cái nhìn, cảm nhận chung về doanh nghiệp); Identity (các đặc điểm
về hình ảnh, góp phần tạo nên Brand nói chung); Image (hình ảnh) và logo.
Logo không phải là một cái gì quá xa lạ đối với giới mỹ thuật nói riêng vàgiới kinh doanh nói chung, song để có một khái niệm hoàn chỉnh về nó thìthật không đơn giản
Theo từ điển tiếng Anh thì logo có các nghĩa là: biểu trưng; biểu tượng; huy hiệu Từ điển Wikipedia cũng định nghĩa: “Biểu
tượng hay logo là một yếu tố đồ hoạ (ký hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng,hình tượng ) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành: một nhãn hiệuhay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phithương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong tràohay một cá nhân nào đó Thông thường, biểu trưng được chủ thể công nhậnngay sau khi nó được thiết kế xong và mặc nhiên có bản quyền, ít xảy ratrường hợp một biểu trưng tồn tại một thời gian dài mà không hoặc chưa
có bản quyền Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không phải là thươnghiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu” Nhưvậy, logo và biểu tượng được đồng nhất với nhau
Theo từ điển tiếng Việt, Biểu tượng (Symbole) có hai nghĩa như sau:
(1) “Hình ảnh tượng trưng Chim bồ câu là biểu tượng hoà bình” (2)
“Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật
Trang 17còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào trong giác quan đãchấm dứt” [Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên tr.67,68] Như vậy, xét
về nội hàm, biểu tượng có nội hàm rộng hơn nhiều so với biểu trưng)
Biểu tượng là một thuật ngữ có tên tiếng Anh là symbol có nguồn
gốc từ một từ Hy Lạp Symbol có nghĩa là ký hiệu (Sign), dấu hiệu, lời nói,
tín hiệu, triệu chứng, hợp đồng v.v
Hiểu theo lối chiết tự, trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: “bày ra”,
“trình bày”, “dấu hiệu” để người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có
nghĩa là “hình tượng” Như vậy, biểu tượng là một hình tượng nào đó đượcphô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt
về một ý nghĩa mang tính trừu tượng
Tuy nhiên, xét trên góc độ văn hoá thì biểu trưng và biểu tượng là hai khái niệm không hoàn toàn giống nhau Trong Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “Tự bản chất
của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cựclại trong cùng một ý niệm Nó giống như mũi tên bay mà không bay chỉđứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được Ta sẽ cần phảidùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng” [Từ điểnbiểu tượng văn hoá thế giới (1997) NXB Đà Nẵng trang XIV] Còn C G.Jung, lại cho rằng: “Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳngphải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ
ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh” [Dẫn theo
Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới] Từ điển Larousse cho rằng : “Biểu
tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật, biểu hiệnmột điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gìđó” [Dẫn theo sách “Petit Larousse”, 1993, trang 978.]
Trang 18Nhìn chung, bản chất của biểu tượng là khó xác định, sự hiểu biết về
nó đương nhiên còn tuỳ thuộc vào sự từng trải và kinh nghiệm vốn có củamỗi cá nhân cũng như trình độ nhận thức của từng người Ngày nay, biểutượng còn được tiếp cận từ nhiều góc độ như: Văn hoá học, ký hiệu học,dân tộc học… Ở đây, luận văn không đi sâu vào khái niệm vốn rất phứctạp này, mà chỉ bước đầu nêu ra vấn đề như vậy để đi đến một khái niệm
về logo làm căn cứ cho việc triển khai phân tích các đặc điểm của nó vềsau Trên thực tế, logo có cả những hình ảnh, tính biểu trưng, ký hiệu và cảvăn hoá Tất nhiên, trên cơ sở góc nhìn tạo hình là chủ yếu, chúng tôi sẽtiếp cận các đặc điểm của logo của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Miền TâyNam Bộ
Qua những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm về logo như sau:
Logo là một thiết kế đặc biệt của đồ hoạ, được cách điệu từ chữ viết hoặc hình vẽ mang tính tượng trưng của chủ thể có tác dụng liên tưởng, gợi nhắc đến mục đích sử dụng của chủ thể Đôi khi logo không chỉ đơn
giản là những chữ cái hoặc hình vẽ mà chúng còn là một thực thể khôngthể tách rời trong việc liên tưởng đến thương hiệu
Cũng cần nói thêm rằng, biểu tượng mà logo đại diện được gói gọntrong hai thành phần quan trọng: biểu tượng hình và biểu tượng chữ Vàhiệu quả của logo là có thể truyền đạt mục đích kinh doanh đến côngchúng bằng cách đơn giản nhất mà nó có thể Tương tự như vậy là trườnghợp với các tín hiệu nhận dạng của doanh nghiệp mà ở đó logo tạo nên sựnhắc nhớ nhiều hơn trong lòng người xem
Trang 191.1.2 Đặc điểm của logo
Như đã nói ở trên, vì là một thiết kế đồ hoạ đặc biệt nên logo cónhững nguyên tắc và đặc điểm cơ bản sau:
Yếu tố tối giản: tính khái quát cực cao bằng tượng trưng qua sự tinh
giản, gạn lọc đến cùng các yếu tố tạo hình chỉ để lại những gì đơn giảnnhất, tinh tuý nhất Cô đọng, súc tích về ý nghĩa để người xem dễ nhận biết,
dễ phân biệt, và có tác dụng gây ấn tượng sâu, mạnh, tiện lợi cho việc sửdụng
Yếu tố cân bằng: mỗi thành phần của mẫu vẽ trên các logo đều phải
đạt được trạng thái cân bằng, đồng nhất theo quy luật đối xứng hay bất đốixứng, nhưng đồng thời phải đảm bảo hai khía cạnh đó là các hình khối,đường nét, khoảng cách được ghép nối với nhau một cách tinh tế cân bằng
và yếu tố tĩnh – âm, động – dương tạo được sự hài hoà
Tính tỷ lệ: sử dụng thích ứng các hình khối, khuôn khổ liên quan với
nhau Với mọi kích thước diện tích thiết kế trên logo được chia ra theonhiều tỷ lệ nhằm gây chú ý, sức hút khác biệt nhau Các đường nét, bóngchìm, hình khối, chất liệu, màu sắc tạo nên tiêu điểm nhằm giúp chúng tacảm nhận được sự khác nhau giữa các logo với nhau
Tính trang nhã: đây là yếu tố mang truyền thống, văn hoá, xã hội và
tính chân phương, đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của mỹ thuật
Sự hài hoà: sự hài hoà của logo được thể hiện ở tính đồng nhất trong
các motif, các thành phần thiết kế, tính cân bằng các thành phần thiết kế đóphải luôn tạo ra sự hài hoà về hình dáng và màu sắc
Tính nhịp điệu: nhìn chung logo phải có “tính đồng nhất trong đa
dạng”: chữ, nét vẽ, hình khối đa dạng nhưng có thể thay thế cho nhau,mạnh mẽ, sinh động Khuôn dáng, tỷ lệ đưa ra hình thành một cách cóchọn lọc, tính toán
Trang 20Ngoài ra, một logo cần phải đảm bảo tính tư tưởng và có sự độc đáo
về hình thức cấu tạo Có như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu về tính ấntượng, sự liên tưởng, gợi nhắc của nó thì mới mang lại hiệu quả và pháthuy được giá trị hình ảnh của nó cũng như của công ty
1.1.3 Nguyên tắc cấu tạo của logo
Logo thông thường, được cấu tạo bằng các nguyên tắc sau:
Đường nét: các đường nét tạo nên các kiểu trang trí, biểu tượng,
hình ảnh Chúng được sử dụng, sắp xếp một cách khôn khéo, truyền đạtthông điệp minh bạch, mỗi đường nét sử dụng được bố trí hoàn hảo tạo nênmẫu vẻ hiệu quả nhất
Các đường gợn sóng gợi nên chuyển động dùng mô tả các hoạt độnghay các sản phẩm liên quan đến ngành nghề Các đường lan toả ám chỉ tiasáng mặt trời hoặc các chức năng tích cực, các chuyển động trực tiếp haybánh xe liên tưởng đến sự phát triển
Các đường nét trên mẫu logo được sáng tạo để đem lại sự đối xứng,tương phản, tiêu điểm, sự xoay, phản chiếu, chuyển động… Nhưng với sựtrau chuốt cùng với các nét đặc, nét gãy, chiều ngang, chiều dọc, chiềuchéo hay tự do gợi cảm giác uốn lượn, tiến triển, phối cảnh hoặc nhịp điệuthông thường luôn mang lại hiệu quả thẩm mỹ cao Đường nét phải đượctạo ra theo một phong cách chặt chẽ để tạo nên các hình khối và hoạ tiếtcân xứng, đảm bảo kết nối các yếu tố giữa chúng trong logo một cách dunghoà, cân xứng thành một thực thể thống nhất
Không gian: đóng một vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng đến toàn
bộ mẫu thiết kế Logo phải được giới hạn về hình thức: kích thước vàkhông gian, các thành phần của mẫu vẽ nằm trong một không gian giới hạnnhất định nhưng vẫn phát huy tối đa tính thẩm mỹ, ngụ ý, tính biểu trưng
Trang 21cho hình ảnh của công ty Khi thiết kế logo có thể sử dụng các hình tượnghoặc khối hình học với nhau nhưng phải làm nổi bật được so với khônggian xung quanh và chúng phải kết hợp thành một chỉnh thể rõ ràng, gâyđược ấn tượng mạnh Bên cạnh đó thì trong logo luôn tạo được nhữngkhoảng tối – âm, sáng – dương hài hoà.
Bố cục: bố cục của logo có thể được sắp xếp theo nhiều kiểu cách
khác nhau (đối xứng, bất đối xứng), nhưng phải được gạn lọc, gọn gàng,hình thể đơn giản Khúc chiết và đường nét, diện mảng, màu sắc cô đọng,không rối rắm và phải tạo được điểm nhìn chính
Hình thức: logo có thể sử dụng logo hình, không có chữ; dạng chữ
không có hình, hoặc dạng logo vừa có hình có chữ Bên cạnh đó với cáchình dáng như hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình tamgiác hay một đường thẳng, một nét nhấn trong một dòng chữ, một đườngcong hay một hình thể tự do v…v Nhìn chung về logo có thể được thiết kế
và sử dụng với nhiều hình thức khác nhau, chúng rất đa dạng Tuỳ vàoquan điểm và sở thích của mỗi cá nhân hay với những mục tiêu riêng màmỗi công ty sẽ chọn cho mình một hình thức logo thích hợp
Màu sắc: trong logo màu sắc thông thường được sử dụng rất ít (từ 2
đến 3 màu), chúng cũng được sử dụng tuỳ theo từng tính chất và ngànhnghề kinh doanh riêng của các công ty, doanh nghiệp mà sử dụng nhữngdạng màu sắc khác nhau Nhưng dù là như thế nào thì màu sắc phải tạo ấntượng mạnh, có thể bằng yếu tố tương phản, các màu cực mạnh (tạo tôngmàu mạnh) hay yếu tố tương đồng, hoặc các màu trung gian (tao nhã), màupha trộn dẫn đến nhẹ nhàng…nhưng phải tạo ra được sự liên tưởng mạnh,đồng thời phải mang lại sự hài hoà Màu sắc được tiết giản đến mức tối đatrong sử dụng nhưng vẫn tạo ra được màu sắc cố định, tạo thành một dấu
Trang 22hiệu nhận biết, mang được đặc trưng riêng của công ty cũng như lĩnh vựckinh doanh.
Chữ viết: hiện nay chúng ta vẫn thường thấy trên mỗi logo có nhiều
kiểu chữ, dáng chữ khác nhau, được đặt ở nhiều vị trí khác nhau (có thểtrên, dưới hoặc giữa của logo thậm chí có khi là nằm ngoài hình ảnh logo).Những kiểu chữ, dáng chữ này nó biến thể tuỳ theo mong muốn và sởthích của mỗi cá nhân hay của mỗi doanh nghiệp sở hữu logo Mục tiêuchính là phải đọc được và làm cho người xem có một ấn tượng về nó Chữđược sử dụng có thể là tên viết tắt hay tên đầy đủ của doanh nghiệp, có thể
có dấu (tiếng Việt) hoặc không có dấu (tiếng Anh), nhưng phải đảm bảo
tính chân phương, đơn giản, dễ đọc Bên cạnh đó, đôi khi chữ cũng được
sử dụng mang tính cách điệu để tạo thành một hình ảnh tượng trưng
Nói chung, dù chữ có được sử dụng theo kiểu cách hay cách thứcnhư thế nào trên hình ảnh của logo thì đó còn phụ thuộc vào sở thích củanhững người tạo ra nó và người sở hữu nó Nhưng nó phải thể hiện đượcđầy đủ thông tin, nội dung mong muốn truyền đạt của một doanh nghiệphay tổ chức v…v, đảm bảo dễ đọc và cảm nhận, tạo được ấn tượng mạnhnơi khách hàng
1.2 KHÁI QUÁT VỀ SLOGAN
1.2.1 Khái niệm slogan
Slogan hay còn gọi là khẩu hiệu thương mại, nó được coi là mộttrong những công cụ hữu hiệu góp phần nhấn mạnh ấn tượng về thươnghiệu của công ty trong tâm trí khách hàng
Slogan thường đóng vai trò tóm tắt sứ mệnh của sản phẩm trong vài
từ cô đọng và khắc sâu vào tâm trí khách hàng bằng một ý niệm đơn giản
về sản phẩm Chính vì thế, những slogan tốt thường dễ được thuộc lòng,
Trang 23nghĩa là nó phải ngắn gọn, dễ nhớ và ấn tượng được gửi đến người tiêudùng, giúp người tiêu dùng hình dung thương hiệu và sản phẩm nhanhchóng hơn, dễ dàng hơn.
Slogan là một lời văn ngắn gọn, diễn tả cô đọng về một vấn đề nào
đó mà một tổ chức hay một doanh nghiệp muốn thông báo đến cho mọingười Trong lĩnh vực quảng bá thương hiệu, slogan thường là những câugợi nhớ tới lợi ích của sản phẩm Trong kinh doanh slogan được hiểu làmột thông điệp truyền tải ngắn gọn nhất đến khách hàng bằng từ ngữ dểnhớ, dể hiểu, có sức thu hút cao về ý nghĩa, âm thanh
Slogan là sự cam kết về giá trị, chất lượng sản phẩm của thươnghiệu với khách hàng, nó được coi như là một tài sản vô hình dù rằng nó chỉ
là một câu nói Đồng thời slogan cũng là một câu tuyên ngôn của doanhnghiệp, chứa đựng nội dung mang tính biểu hiện ngắn gọn về hoạt động,sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường Một slogan có thể tồntại và đứng vững trong tâm trí khách hàng thì slogan đó phải mang trongmình thông điệp ấn tượng và khơi gợi được trí tưởng tượng của kháchhàng về sản phẩm Có thể nói slogan chính là một tài sản vô giá được vunđắp và khẳng định bằng thời gian, tiền bạc và cả uy tín cũng như trí tuệ củacông ty
Có thể nói slogan (khẩu hiệu) giống như lời tuyên thệ của doanhnghiệp, tất cả mục đích, ý nghĩa, sứ mạng, tầm nhìn của doanh nghiệp đềuhàm chứa trong một câu nói ngắn gọn, súc tích, đa nghĩa đó Nhưng khôngchỉ có vậy, slogan còn phải đạt một yếu tố không thể thiếu đó là thu hútđược sự chú ý và gây ấn tượng mạnh đối với mọi người, đồng thời nó còn
chứa đựng, truyền tải những thông tin mang tính mô tả, thuyết phục vềthương hiệu và được xem như một cách thức quảng bá thương hiệu tốt nhất.Bởi giống như tên thương hiệu, nó là một công cụ ngắn gọn, súc tích và
Trang 24cực kỳ hiệu quả trong việc tạo dựng giá trị thương hiệu, nó có thể giúpkhách hàng hiểu một cách nhanh chóng thương hiệu đó là gì và nó khácbiệt với các thương hiệu khác như thế nào?
Slogan là một thông điệp của thương hiệu nên nó thường đi kèm vớilogo và xuất hiện trên các mục quảng cáo, có thể trên truyền hình, đài phátthanh, pa-nô, áp-phích (xem hình 1 và 2), nó cũng đóng một vị trí quantrọng trên các bao bì và các công cụ marketing khác Đồng thời nó gópphần làm tăng khả năng nhận biết và lưu lại tên thương hiệu trong trí nhớkhách hàng bằng cách nhấn mạnh và lặp lại nhiều lần tên thương hiệu,slogan có thể làm tăng nhận thức về thương hiệu bằng cách liên hệ trựctiếp và mạnh mẽ tới các lợi ích khi tiêu dùng sản phẩm Từ đó, gợi mở sự
kỳ vọng và thúc đẩy động cơ mua sắm của khách hàng
Ví dụ: slogan "Suzuki là sành điệu"; "Lavie, một phần tất yếu của
cuộc sống"; "Vòng quanh thế giới, Ajinomoto"; "Như Tide mới là trắng"
hoặc "Giữ hơi thở thơm tho một cách tự nhiên" v…v.
Nhìn chung, ngôn từ của slogan là ngắn gọn, súc tích, chứa đựng côđọng nội dung thông điệp cụ thể, thường được các công ty, doanh nghiệp
và các tổ chức sử dụng khá sang trọng, chăm chút mà thông qua các lĩnhvực tiếp thị hay các nhà quảng cáo muốn gửi đến người tiêu dùng Mụcđích xuất hiện và tồn tại của slogan chính là để người tiêu dùng nhớ đếnbản thân nó, nghĩa là nhớ đến mẫu quảng cáo và sản phẩm được quảng cáotheo phản ứng tâm lý dây chuyền, sau khi có thể quên hết nội dung ngônngữ khác trong mẫu quảng cáo
Trang 251.2.2 Nội dung slogan
Thông thường, nội dung của slogan phải ấn tượng và nhấn mạnh vàolợi ích sản phẩm, tính năng và lợi ích khi khách hàng sử dụng sản phẩm
Có hàng triệu doanh nghiệp có slogan nhưng chỉ có một số ít đượcđông đảo người tiêu dùng nhớ đến Còn đại đa số đã bị chìm nghỉm, rơirụng trong cả rừng khẩu hiệu quảng cáo Slogan là một sự tự giới thiệu, tựquảng cáo, là một thông điệp gửi đến đối tượng khách hàng đã xác định,dưới hình thức cổ động Cùng lúc nó phải nói cho người tiêu dùng biết đặcđiểm, ưu điểm của sản phẩm, doanh nghiệp, về những lợi ích và sự hàilòng mà nó mang đến cho khách hàng… (hẳn nhiên, không khỏi cườngđiệu ít nhiều do yêu cầu quảng cáo tiếp thị) Và tất cả những nội dung ấylại chỉ được phép gói ghém trong vài từ ngắn ngủi, dễ đọc và dễ nhớ Nóicách khác, slogan là một hình thức diễn đạt cô đọng, giàu ý nghĩa và tạo ấntượng tốt, mạnh mẽ, dùng rất ít từ để nói được thật nhiều điều
Mang mục tiêu định hướng rõ ràng tập trung nhấn mạnh các phẩmchất của một sản phẩm, thương hiệu hoặc tìm cách vượt ra khỏi nhữngnhững khía cạnh cụ thể của một sản phẩm để nói đến ý nghĩa và các giá trịngoài vật chất do nó mang lại: niềm thích thú, nỗi ước vọng, say mê, mộtphong cách sống… Với trường hợp đầu, người ta thường dùng các cụm từmang tính khái quát về phẩm chất của một sản phẩm, thương hiệu, kiểunhư “chất lượng cao” “chất lượng tuyệt hảo”, “uy tín hàng đầu”, “ngườibạn đáng tin cậy”, “sản phẩm của thời đại” (thế kỷ), “bền - đẹp - rẻ”,nhưng khi sử dụng cách diễn đạt này người ta sẽ gặp phải nguy cơ trùnglặp, sáo mòn vì những cụm từ có nghĩa chung chung đó có thể dùng chohầu hết các sản phẩm, thương hiệu và trên thực tế đã có rất nhiều doanhnghiệp sử dụng, nhiều đến độ nhàm chán Không có cá tính, không thểhiện bản sắc riêng và không có dấu ấn sáng tạo
Trang 26Xét về mặt nội dung của các câu slogan thì nó cũng có thể đượcphân ra các loại gồm: ẩn dụ, đa nghĩa, trừu tượng, bỏ lửng, biểu cảm haykhẳng định Nhưng dù là dạng nào đi nữa thì một trong các phương phápchính ở đây là “gợi” thay vì “tả”… “gợi” bằng cách sử dụng hình ảnh ẩn
dụ, biểu cảm, các cấu trúc từ ngữ đa nghĩa, các cách bỏ lửng… Tất nhiênslogan không thể là sự đánh đố, do đó dù lửng lơ, trừu tượng đến đâu nóvẫn phải gợi nhớ, làm liên tưởng đến nét đặc trưng nào đó của sản phẩmhoặc doanh nghiệp
Ví dụ: slogan “Thách thức mọi vết bẩn”, rồi “Đánh bay các vết bẩn cứng đầu” của nhãn hàng Omo đã tạo hiệu ứng mạnh; slogan “Không lo bị nóng” của trà Dr Thanh xuất hiện liên tục trên truyền hình đã mang về
doanh thu lớn cho công ty Tân Hiệp Phát, đặc biệt là vào mùa hè; hoặc
slogan “Nghĩ tới cá Thưởng thức cá Panga” của công ty cổ phần thuỷ sản
Hùng Vương
Bên cạnh đó cũng có những câu slogan mang tính chung chung mà
ít có sự khác biệt nào so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như "Simply the Best" (Đơn giản là tốt nhất), “Uy tín, hợp pháp, chất lượng” của công
ty cổ phần thuỷ sản NTACO; hay “Hợp tác vì sự phát triển” của công ty
cổ phần thuỷ sản Hiệp Phát Những câu slogan dạng này thì chúng ta cóthể đưa vào đó bất cứ tên thương hiệu nào và khẩu hiệu đó cũng sẽ trở nên
có nghĩa Điều này đã được chứng minh khi rất nhiều công ty sử dụng
chung một dạng kiểu khẩu hiệu “na ná” như: “Thành công của khách hàng
là thành công của chúng tôi” của công ty TNHH thuỷ hải sản Việt Hải, hay“Chất lượng là yếu tố đầu tiên cho sự thành công của chúng tôi” của công ty cổ phần thuỷ sản XNK Minh Cường; “Ưu tiên cho chất lượng” của công ty cổ phần thuỷ sản Cà Mau, hoặc “Chất lượng đầu tiên” của
công ty cổ phần chế biến thực phẩm thuỷ sản Phương Nam v…v
Trang 27Cũng có nhiều trường hợp slogan có dạng cấu trúc khẳng định.Nhưng thật ra xem xét kỹ về ý nghĩa nội dung thì nó vẫn là một cấu trúc
mở, dẫn dắt trí tưởng tượng của người tiếp nhận Âm thanh được truyền đi
rõ mồn một và nét đến độ làm cho người nghe có cảm giác hình dung rangay từng cử chỉ, trạng thái của người nói Chất lượng dịch vụ được thểhiện qua slogan một cách cực kỳ khéo léo và gợi mở mà lại như một khẳngđịnh chắc nịch nhờ cấu trúc câu ngắn đến mức tối thiểu, nhịp dằn mạnh
như: “Hãy nói theo cách của bạn” của tập đoàn điện thoại Viettel.
Quả thực, trong sáng tạo slogan, nghệ thuật của ngôn từ và hình ảnhgiữ vai trò vô cùng quan trọng Nhưng suy cho cùng, đấy không chỉ đơnthuần là vấn đề kỹ thuật mà thực ra nó còn tuỳ thuộc rất nhiều vào mụctiêu, tầm nhìn và triết lý của doanh nghiệp Quan trọng nhất, câu slogan cóthể giúp công ty củng cố định vị thương hiệu và thể hiện rõ sự khác biệt
như: "Anlene - Mọi lúc mọi nơi giúp ngừa bệnh loãng xương" Như vậy,
bằng câu khẩu hiệu ngắn gọn, thương hiệu đã tuyên bố một cách ngắn gọn
về phân đoạn thị trường và đối tượng khách hàng mục tiêu của mình, đó lànhững khách hàng lo lắng về bệnh loãng xương
Mặt khác, câu khẩu hiệu còn cho phép liên hệ mạnh tới chủng loại
các sản phẩm như "Anlene trắng cho con, còn Anlene vàng cho mẹ"; hay
"Dầu nhớt gì mà hàng triệu xe tải, xe hoả, phi cơ và xe gắn máy đều cần dùng đến như vậy?" ; hoặc như "Chỉ có thể là Heineken".
Vì câu slogan thường đi liền với các poster, chương trình quảng cáo
và luôn có một vị trí nhất định trên các bao bì, nhãn mác Do đó nó thường
là câu khoá kết thúc với những thông tin mang tính mô tả và thuyết phục
Vì vậy, slogan phải thể hiện được tính năng và lợi ích cũng như mangtrong mình thông điệp ấn tượng và khơi gợi được trí tưởng tượng củakhách hàng về sản phẩm
Trang 28Ví dụ như: "Connecting People" (Kết nối mọi người) của hãng điện thoại di động Nokia, hay "Luôn luôn lắng nghe Luôn luôn thấu hiểu" của
hãng bảo hiểm quốc tế Prudential Sản phẩm đồ thể thao của tập đoàn Nikecũng được cất cánh cùng với một slogan được đánh giá là thành công nhất
mọi thời đại: "Just Do It!" (Hãy làm điều đó!).
Một câu slogan (khẩu hiệu) hoàn hảo phải đáp ứng được một vài yếu
tố nhất định như phải dễ nhớ, nghĩa là nó có thể được gợi lên trong tâm trímọi người bất cứ lúc nào Điều này phần lớn dựa vào việc bản sắc thươnghiệu và khẩu hiệu được sử dụng bao nhiêu lần trong năm Tuy nhiên, nếukhẩu hiệu kinh doanh là hoàn toàn mới, điều gì sẽ khiến nó được khắc sâutrong tâm trí mọi người? Đó chính là nó cần được nhắc đi nhắc lại trongcác chương trình quảng cáo Khẩu hiệu càng tạo ra tiếng vang bao nhiêuthì nó càng dễ nhớ bấy nhiêu Đồng thời nó phải thể hiện rõ những ích lợi
chủ yếu, như: "Engineered like no other car in the world" (Động cơ không
có ở bất cứ xe hơi nào khác trên thế giới) là khẩu hiệu thành công của hãng
Mercedes-Benz; "'Second-largest international scheduled airline" (Hãng
hàng không quốc tế lớn thứ hai tại Anh) cũng là một khẩu hiệu tốt củahãng Air Europe
Thêm vào đó, một khẩu hiệu tốt thì nó làm cho thương hiệu củacông ty trở nên khác biệt, tức là phác hoạ thành công một số đặc tính nổibật nào đó của thương hiệu so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như
những khẩu hiệu sau: British Rail "We're getting there" (Chúng tôi đang tới đó); Metropolitan Home "Mode for your abode" (Giải pháp cho sự an
cư của bạn)
Tương phản với điều này là những khẩu hiệu kiểu như: Newport:
"After all, if smoking isn't a pleasure, why bother?" (Cuối cùng, nếu hút
thuốc không là một cảm giác thoải mái, thì có gì phải băn khoăn?);
Trang 29Bacardi Spice (Rum): "Distilled in hell" (Nhỏ giọt trong chốn tối tăm); Hungry Joes: "Bad news for baked potatoes" (Tin tức tệ hại cho khoai tây nướng); Lea & Perrins: "Steak sauce only a cow could hate" (Nước sốt bò
chỉ bò mới ghét được) Những quảng cáo tiêu cực kiểu này khó có thể pháthuy hiệu quả và mang lại được những giá trị kinh doanh cho công ty
Mọi lời ca tụng đều giống nhau và người ta xây dựng ra một sloganchuyên nghiệp phải là độc đáo Nguyên tắc của một slogan phải sáng sủa,
rõ ràng, có sức thuyết phục tiềm ẩn, có nhịp điệu và hiệu quả của nó, phảitạo tiếng vang Tất cả những tiêu chí trên phải là độc nhất và có hiệu quảtrong marketing Slogan phải có sức hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc, phải là thứngôn ngữ kết nối tất cả mọi người, mục đích của người sáng tạo ra nó làmuốn xây dựng những thông điệp ngắn gọn gắn liền với định hướng vànhững ý tưởng trong kinh doanh của công ty
Chắc hẳn, chúng ta đều hiểu rằng, lợi thế kinh doanh của công ty sẽmất đi nếu tên thương hiệu và khẩu hiệu không hài hoà, ăn khớp với nhau.Vậy nên, trong xây dựng slogan cũng phải gợi nhớ đến tên thương hiệu,một trong những cách thức hiệu quả nhất để đưa tên nhãn hiệu vào trong
khẩu hiệu là làm cho khẩu hiệu hài hoà với tên thương hiệu Ví dụ: "See the in your Chevrolet" (Ngắm nhìn nước Mỹ với chiếc xe Chevrolet của bạn); "You'll wonder where the yellow went when you brush your teeth with Pepsodent" (Bạn sẽ băn khoăn hỏi xem màu ố vàng biến đi đâu khi
bạn đánh răng bằng kem Pepsodent)
Trước khi thiết kế một logo biểu trưng cho công ty, người ta phải bắtđầu sáng tạo ra một slogan chuyên nghiệp Nó phải gắn liền với mục tiêu,quá trình hình thành và phát triển của công ty nên tính kiên định là điều bắtbuộc phải phù hợp và thể hiện nghệ thuật quảng cáo Để có thể tạo ra
Trang 30những hiệu quả bất ngờ, nội dung của slogan sẽ dựa trên đặc thù của mỗicông ty cụ thể, dựa vào khách hàng mục tiêu và hướng đi của công ty.
Slogan dựa trên những kế hoạch, dựa vào những hoạt động lắngnghe, thông qua cả một quá trình thiết kế logo Khi cặp đôi slogan và logokết hợp với nhau một cách hài hoà, mang nét đặc thù riêng thì sự kết hợpsáng tạo này sẽ hết sức thuyết phục để mang lại thành công trong quảngcáo tiếp thị cũng như hiệu quả trong kinh doanh
Rõ ràng, việc xây dựng và phát triển slogan của một thương hiệukhông dễ Nó đòi hỏi phải hiểu rõ cặn kẽ sản phẩm với các lợi thế khácbiệt cũng như người tiêu dùng thực sự mong muốn gì ở sản phẩm đấy, đốithủ trên thương trường đang nhắm đến yếu tố, phân khúc nào, có đủ ngânsách để đưa thông điệp slogan liên tục đến nỗi chỉ cần nghe là thấy ngaythương hiệu hay không? Quả thực, trong sáng tạo slogan, nghệ thuật củangôn từ và hình ảnh giữ một vai trò cực kỳ quan trọng Slogan được xâydựng bằng những từ ngữ chứ không phải bằng hình ảnh như ở logo, nhưng
nó lại có thể đem đến cho khách hàng cảm nhận và tạo ra sự liên tưởng
hình ảnh, như “Nâng niu bàn chân Việt” slogan của Biti’s khiến sự liên tưởng rất thật; hoặc “Còn chút gì để nhớ” của cà phê Thu Hà lại đưa ký ức
bạn về với những chấm phá của phố Núi, của Tây Nguyên v…v Nhưngsuy cho cùng thì nó còn tuỳ thuộc rất nhiều vào mục tiêu, tầm nhìn và cảtriết lý hoạt động của doanh nghiệp
Trang 31Tiểu kết chương 1
Trong thời đại bùng nổ thông tin, người tiêu dùng không đủ thờigian để tìm kiếm thông tin mình cần Để nhanh chóng và hiệu quả nhất khitìm thông tin, thực tế đa phần người ta chỉ đọc lướt qua các trang web đểtìm các kết quả có sẵn Trong bối cảnh đó một logo hay một slogan có thểđược xem là "con đường tắt" làm cho khách hàng nhớ đến những thôngđiệp mà doanh nghiệp muốn chuyển tải đến họ
Nền kinh tế thị trường ngày nay, xây dựng thương hiệu là quá trìnhbao gồm nhiều hoạt động nhằm hướng đến mục tiêu chung là tạo ra một vịtrí xác định cho doanh nghiệp trên thị trường Một hệ thống nhận diệnthương hiệu bao gồm nhiều yếu tố như phong cách, màu sắc, bốcục nhưng trong đó gây được sự chú ý nhiều nhất và tạo ra ấn tượng nhấtcho khách hàng chính là logo và slogan So với slogan thì logo là một dấuhiệu làm nổi bật thương hiệu hơn cả, là yếu tố tạo dấu ấn riêng của doanhnghiệp, mang tính khái quát cao và nó cũng trở thành dấu hiệu dễ nhớ, dễnhận biết nhất
Một logo tốt kết hợp với một câu slogan có nội dung súc tích, ngắngọn và ý nghĩa sẽ đưa công ty vượt ra khỏi sự im lặng, nó phô trương sứcmạnh và giá trị của công ty Để có được một logo đẹp, gây ấn tượng vàphát huy được hiệu quả thì nó cũng phải có sự kết hợp giữa tính đơn giản
và tính độc đáo, phải bảo đảm được các yếu tố về tạo hình trong thiết kếnhư sự tối giản, yếu tố cân bằng, tính tỷ lệ, tính nhịp điệu v…v
Thông thường một logo ấn tượng khi nó có khả năng đứng độc lập.Nghĩa là chỉ cần nhìn vào logo, khách hàng cũng có thể đọc được tên củacông ty, có nghĩa là nó phải diễn tả được một số đặc trưng của công ty như:hình ảnh đại bản doanh, sản phẩm, màu sắc, và những chữ cái xuất phát từtên của công ty
Trang 32Bên cạnh đó, trong thời buổi hội nhập quốc tế cái lợi thế của logo tốt
sẽ giúp các công ty đến gần với khách hàng mà không phải mất quá nhiềuthời gian giải quyết trở ngại bất đồng ngôn ngữ Người ta có thể không biết
"Shell" có nghĩa là gì, nhưng logo hình vỏ sò nổi tiếng của công ty nàyđược biết tới ở khắp nơi trên thế giới, hay khi thấy một chiếc xe ôtô trênmũi xe có biểu tượng hình ngôi sao 3 cánh đó là dòng xe sang trọngMercedes-Benz, nếu chiếc xe có biểu tượng hình cánh quạt trắng xanh đó
là chiếc BMW Tại sao lại có thể phân biệt được như vậy? có rất nhiềuyếu tố để nhận biết một thương hiệu sản phẩm trong đó có logo Bởi vìhình ảnh của chúng luôn là hình ảnh đầu tiên nhắc đến thương hiệu doanhnghiệp, thương hiệu sản phẩm
Logo được coi là hình ảnh hữu hiệu trong việc giới thiệu các sảnphẩm thì slogan chính là khẩu hiệu kinh doanh tới khách hàng và nó đóngvai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu Một logotốt kết hợp với một câu slogan hay không chỉ về mặt hình thức mà nó cònbộc lộ được bản chất bên trong của sản phẩm
Ngày nay logo và slogan luôn được các nhà kinh doanh quan tâmđầu tư, bởi vì nó là phương tiện hữu hiệu nhất để chuyển tải hình ảnh công
ty và sản phẩm tới khách hàng Hơn nữa bởi ở nó còn có khả năng phiênbản in ấn dễ dàng và gọn nhẹ và giá trị thẩm mỹ của nó luôn gắn liền vớigiá trị kinh doanh, đồng thời đó là tín hiệu của nhà sản xuất và tạo dựng uytín nơi khách hàng
Trang 33Chương 2: LOGO VÀ SLOGAN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
THUỶ SẢN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ
NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC TÂY NAM BỘ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tây Nam Bộ hay còn gọi là vùng Đồng bằng sông CửuLong của Việt Nam, hoặc theo cách gọi của người dân miền Nam ViệtNam ngắn gọn là Miền Tây, có 13 đơn vị hành chính trực thuộc Trungương, trong đó có 12 tỉnh và một thành phố (Long An, Tiền Giang, BếnTre, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ) Nét nổi bật của TâyNam Bộ như một không gian địa lý liền kề liên tục, nằm ở chổ đây là mộtđồng bằng phù sa lớn nhất cả nước, do hệ thống sông Cửu Long bồi đắpnên Với diện tích 39.734 km², Tây Nam Bộ được hình thành từ nhữngtrầm tích phù sa và được bồi đắp dần qua những kỷ nguyên thay đổi củamực nước biển, kéo theo sự hình thành những giồng cát chạy dọc theo ven
bờ biển Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long ) nằm ở cực nam của Tổquốc có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía đông bắc giápthành phố Hồ Chí Minh, bắc giáp Campuchia, phía tây nam là vịnh TháiLan, phía Đông Nam là Biển Đông [27]
Đây là một trong những đồng bằng châu thổ rộng lớn và phì nhiêu,
là vùng sản xuất lương thực, thực phẩm trọng điểm có tính quyết định đốivới đất nước và của vùng, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chănnuôi theo quy mô lớn, nhất là nuôi trồng thuỷ hải sản ven biển, trên sông,các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao Vùng có bờ biển dài
Trang 34700km, với khoảng 360.000km2là vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông
và vịnh Thái Lan có điều kiện thuận lợi phát triển vận tải và kinh tế biển(đặc biệt là phát triển khai thác thuỷ sản)
Tây Nam Bộ có độ cao trung bình thấp nhất nước, phần lớn đất đai ởđây có độ cao trung bình từ 0,7 – 1,2 mét Dọc theo biên giới Campuchia
có địa hình cao hơn cả, cao trình từ 2,0 – 4,0 mét, sau đó thấp dần vào đếntrung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0 – 1,5 mét và chỉ còn 0,3 – 0,7 mét ởkhu vực giáp triều, ven biển [20] Chính vì độ cao trung bình thấp như thếnên Tây Nam Bộ đối diện trước nguy cơ sẽ phải chịu những hậu quả củahiện tượng biến đổi khí hậu khiến nhiệt độ tăng và nước biển dâng ngập lụt,nhiễm mặn và nguồn nước đã ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế, văn hoá và
xã hội
Vùng Tây Nam Bộ có nền khí hậu nhiệt độ ẩm, nhiệt độ trung bìnhnăm từ 24 – 270C, ít có bão và nhiễu loạn của thời tiết Mùa mưa phân bổtheo mùa và tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm99% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4năm sau
Mưa theo mùa đã và đang gây ra những trở ngại đáng kể cho sảnxuất nông nghiệp và đời sống cư dân, mùa mưa thường đi kèm với ngập lũcho khoảng 50% diện tích toàn đồng bằng Còn mùa khô thường đi kèmvới việc thiếu nước, gây khó khăn cho sản xuất nhất là khu vực bị ảnhhưởng của mặn, phèn Vì mưa, nắng theo mùa như vậy nên đã làm tăngthêm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng như nuôi trồng, đánhbắt, khai thác thuỷ hải sản của vùng
Nhưng ở miền Tây Nam Bộ có 8/13 tỉnh thành giáp biển, lại có haicon sông lớn là sông Tiền và sông Hậu song song nối các tỉnh với biểnĐông, đó là điều kiện rất thuận lợi để nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước
Trang 35lợ cũng như nước ngọt để các doanh nghiệp thuỷ sản phát triển và đó cũng
là lý do mà các doanh nghiệp thuỷ sản chiếm số lượng rất lớn so với cácvùng khác
Tây Nam Bộ có tính sông nước đậm đặc là nhờ một hệ thống thuỷđạo với các sông ngòi, kênh rạch dày đặc hình thành chủ yếu trên cơ sởcủa hệ thống sông Cửu Long Các sông ngòi, kênh rạch trong toàn vùnghợp lại tạo thành một hệ thống mở, biến nhịp với chế độ thuỷ văn cùng với
sự hoạt động hỗn hợp của sông ngòi, kênh rạch và biển cả đã hình thànhnên những vùng đất phù sa ngọt phì nhiêu
Chính điều này đã làm cho đặc điểm tự nhiên của Tây Nam Bộ làvùng có gần một nữa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, nên đãtạo nhiều thuận lợi cho khai thác và đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản TâyNam Bộ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế cả nước nói chung vàcủa vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Thế mạnh của vùng này làsản xuất nông nghiệp và khai thác chế biến thuỷ sản
2.1.2 Điều kiện về kinh tế
Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long ) là một trong những đồngbằng lớn, phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất và xuấtkhẩu lương thực, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam Tây Nam
Bộ còn là trung tâm sản xuất và chế biến nông, thuỷ sản, lương thực, thựcphẩm rất lớn, hiện đóng góp 50% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuấtkhẩu, 70% lượng trái cây của cả nước Sản xuất thuỷ sản chiếm hơn 70%sản lượng của cả nước và đóng góp khoảng 80% lượng xuất khẩu, hằngnăm cung cấp khoảng 52% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và gần 67% sảnlượng thuỷ sản nuôi trồng, chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
Trang 36cả nước Có thể khẳng định Tây Nam Bộ là vùng kinh tế quan trọng nhấttại Việt Nam, là nơi bảo đảm an ninh lương thực cho quốc gia [26].
Như chúng ta biết Tây Nam Bộ là vùng có vị trí kinh tế đặc quantrọng đối với cả nước nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng Thế mạnhkinh tế của Tây Nam Bộ là sản xuất nông nghiệp và khai thác chế biếnthuỷ sản Nơi đây còn là vùng lương thực trọng điểm, với diện tích gieotrồng hàng nghìn ha Tây Nam Bộ là khu vực thích hợp cho việc trồng lúanước, sản lượng lúa tăng 22,0%, từ 16,70 triệu tấn năm 2000 lên trên 20.48triệu tấn năm 2009, và hiện chiếm 52,0% tổng sản lượng lúa toàn quốc sảnlượng lúa của cả nước [26]
Ngoài trồng lúa nước thì ở miền Tây Nam Bộ còn trồng các loại câycông nghiệp, cây ăn quả chiếm khoảng 25% giá trị gia tăng của ngànhtrồng trọt sản lượng cây ăn trái đạt gần 18,6 triệu tấn [26] Cây ăn quả ởđây rất, phong phú, trong đó các loại cây trồng chiếm diện tích lớn gồm:cam, quýt, xoài, ổi, nhãn, sầu riêng…
Tây Nam Bộ cũng là vùng sản xuất thực phẩm lớn, là vùng có nhiềuđiều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò, lợn, gà, vịt…Bêncạnh đó thì ngành thuỷ sản luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống vàkinh tế của nhân dân trong vùng và cả nước
Diện tích nuôi thuỷ sản ở Tây Nam Bộ khoảng 685 nghìn ha (năm2005) và chiếm hơn 70% diện tích nuôi trồng của cả nước, sản lượng thuỷsản đạt 2.8 triệu tấn và chiếm trên 53% của vùng [26]
Riêng tỷ lệ đất lâm nghiệp của miền Tây Nam Bộ chỉ bằng 8,8%diện tích tự nhiên Tổng trữ lượng rừng hiện có khoảng trên 6,7 triệu m3,trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 47%, rừng trồng chiếm 53% [20,tr.20] Tây Nam Bộ là một vùng nông nghiệp nên ngành công nghiệp chế
Trang 37biến lương thực, thực phẩm giữ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, chiếmtrên 60% giá trị sản xuất công nghiệp của vùng (năm 2005) [20, tr.20].
Sản lượng chủ yếu của công nghiệp chế biến ở đây gồm: xay xát gạo,thuỷ sản đông lạnh, đặc biệt là công nghiệp chế biến thuỷ sản và xuất khẩuđược phát triển mạnh, đóng góp rất lớn vào giá trị xuất khẩu của vùngcũng như của cả nước Công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu chủ yếu làcác công nghiệp làm lạnh bằng các tủ đông, các loại sản phẩm đông lạnhnhư tôm, cá, mực…
Bên cạnh những thuận lợi như thế thì đời sống của nông dân nơi đâyluôn bị đe doạ bởi điệp khúc “được mùa rớt giá”, “được giá, hết hàng”.Nông dân hiện vẫn nghèo và còn gặp nhiều khó khăn Sản lượng nôngnghiệp và xuất khẩu tăng nhanh, thu nhập hộ nông dân không tăng theotương xứng, thậm chí còn bị giảm ở những vùng sản xuất khó khăn vìnhiễm phèn và ngập mặn Trong sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản ngườinông dân trực tiếp sản xuất ra nông, thuỷ sản có lợi nhuận rất thấp Chonên để nâng cao lợi nhuận cho nông dân, ngành nông nghiệp khó có thểphát triển bền vững
Thu nhập bình quân đầu người tháng của vùng đã tăng từ 371,3 ngànđồng năm 2002 tăng lên 939,9 ngàn đồng năm 2008 Trong cơ cấu thunhập bình quân đầu người tháng tiền lương, tiền công chiếm 26,0%, nôngnghiệp-29,9%, thuỷ sản 8,8%, thương nghiệp 10,1%, dịch vụ 6,7% [26]
Có thể nói nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở tây Nam Bộ đã cónhững bước tiến rõ nét và có đóng góp gần 20% GDP của đất nước nhưngvẫn còn khá nhiều thách thức Thực tế cho thấy sự phát triển vùng TâyNam Bộ kém bền vững mặc dù sản lượng nông nghiệp và xuất khẩu tăngnhanh
Trang 38Kết quả đạt được trong những năm qua của ngành nông nghiệp, thuỷsản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có Sản xuất nông nghiệp quy
mô còn nhỏ, manh mún; chất lượng thấp, bảo quản sau thu hoạch cònnhiều bất cập, gây hao hụt lớn và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản,hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô chưa có những thươnghiệu mạnh
Chính sự phát triển nông nghiệp, thuỷ sản của vùng đã kéo theo sựphát triển công nghiệp chế biến nông sản và các ngành công nghiệp liênquan (công nghiệp cơ khí, công nghiệp sửa chữa và đóng tàu thuyền, côngnghiệp hoá chất phân bón, công nghiệp vật liệu xây dựng…) cùng sự pháttriển các ngành dịch vụ (thương mại, ngân hàng tín dụng, vận tải, kho bãi,viễn thông, khoa học công nghệ…)
Không những thế mà ở miền Tây Nam Bộ còn là cửa ngõ đi ra biểnĐông và đi đến các nước láng giềng trong khu vực, thuận tiện cho việcgiao lưu trao đổi kinh nghiệm, hàng hoá nông sản, thu hút đầu tư đã tạo đàcho sự phát triển nhanh và bền vững nhất là về kinh tế, bảo vệ môi trườngsinh thái Hơn nữa, ở Tây Nam Bộ còn có quan hệ mật thiết với các vùngkhác như vùng Đông Nam Bộ mà trực tiếp là thành phố Hồ Chí Minh vềtrao đổi, phát triển kinh tế hàng hoá
Chúng ta cũng có thể nói rằng, miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sôngCửu Long) là vùng đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho không chỉcủa khu vực mà còn cho cả nước, đây cũng là vùng nông sản xuất khẩu rấtlớn và đầy tiềm năng Đồng thời cũng là vùng có đóng góp to lớn vào sự
ổn định kinh tế và tạo tích luỹ cho tăng trưởng kinh tế của đất nước
Để Tây Nam Bộ phát triển kinh tế bền vững trong bối cảnh hiện nay,cần phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và chú trọng tăngcường liên kết, hợp tác Mặc dù có những thuận lợi và những kết quả kinh
Trang 39tế khả quan, nhưng cho đến nay thì phát triển kinh tế vùng chưa khai tháchết những lợi thế cạnh tranh thông qua việc khai thác chuỗi giá trị trongsản xuất sản phẩm.
2.1.3 Đặc điểm văn hoá – xã hội
Trên con đường khai phá và xây dựng Tây Nam Bộ hơn 300 năm vềtrước, người Việt đã mang theo một nền văn hoá người Việt ở Trung Bộ vàBắc Bộ Trước điều kiện sống khắc nghiệt, con người đã có những cáchứng xử thích ứng với môi trường và hoàn cảnh sống mới, nhanh chóngnắm bắt được quy luật của tự nhiên, thích nghi với nó và bắt nó phải phục
vụ con người
Trong quá trình sinh sống, người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Longnói chung vừa thích ứng với tự nhiên vừa cải tạo tự nhiên để có một đồngbằng trù phú như hôm nay Từ đặc tính này, văn hoá được người Việt ởTây Nam Bộ đã hình thành nên một vùng văn hoá đặc sắc và cũng mangtính động hơn
Tây Nam Bộ với mênh mông sông nước, các cư dân Việt, Chăm,Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hoà nhập với thiên nhiên và cuộc sốngcủa cư dân bản địa Khmer Đây là vùng văn hoá phong phú, dân tộc và tôngiáo cùng tồn tại và phát triển đan xen nhau trong suốt quá trình lịch sử.Với các dân tộc hiện đang sinh sống như: Việt, Hoa, Khmer, Chăm…thì cưdân người Việt và văn hoá của người Việt đã thật sự trở thành nền tảng cănbản của toàn vùng Sự chung sống hoà bình cùng đoàn kết chiến đấu vớithiên nhiên, với kẻ thù xâm lược bảo vệ quê hương đã hình thành nên mộtvùng văn hoá riêng bên cạnh bản sắc văn hoá chung của dân tộc Việt Nam
Trang 40Mặt khác, quá trình giao lưu tiếp biến giữa các dân tộc với nhau trên
cơ sở kinh tế hàng hoá đã tạo nên những sự biến đổi, giao thoa về văn hoá,những nhân tố mới bên cạnh truyền thống văn hoá của mỗi dân tộc
Chính sự giao thoa và cùng với những biến đổi, những yếu tố mới đãhình thành nên cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, từ công cụ sảnxuất, ăn, mặc, ở, đi lại…đến sự ra đời và phát triển tới ngày nay của cáctôn giáo địa phương
Trong quá trình di dân mỗi dân tộc đã đem đến vùng đất này nhữngdấu ấn văn hoá và sự tín ngưỡng riêng Song, với sự chung sống, lao độnggiữa các tộc người, đã diễn ra sự giao lưu văn hoá làm phong thêm về đờisống của cộng đồng dân cư nơi đây Tuy nhiên những nét văn hoá đặc sắccủa từng tộc người ở Tây Nam Bộ cho đến bây giờ vẫn được gìn giữ vàbảo tồn
Về lĩnh vực tôn giáo và tín ngưỡng thì mỗi tộc người lại có nhu cầu
về tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau Người Việt theo nhiều tôn giáo (một bộphận là Phật tử, một số thì là Công giáo, một số theo Phật giáo Hoà Hảo,Tin Lành hoặc Cao Đài hay Tứ Ân hiếu nghĩa…), người Khmer theo Phậtgiáo Nam Tông, người Chăm theo Hồi Giáo, còn người Hoa thì lại thamgia các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống
Nói chung trong mối quan hệ cái chung và cái riêng, môi trường vàđiều kiện tự nhiên của miền Tây Nam Bộ đã bổ sung vào nền văn hoá ViệtNam một nét đặc trưng văn hoá của mình đó là yếu tố sông nước Truyềnthống văn hoá lúa nước ở Tây Nam Bộ được hoàn chỉnh cũng bởi chínhyếu tố sông nước
Cư dân ở Tây Nam Bộ được phân bổ phổ biến dọc theo các con sông,con kênh, rạch Giao thông đường thuỷ là phương tiện khá phổ biến, nó đãtạo điều kiện cho phát triển thương mại, chợ nổi được hình thành trên các