1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp giáo dục về biển đảo qua hoạt động làmquen với môi trường xung quanh cho trẻ 5 6 tuổi ở các trường mầm non tại thành phố cao lãnh, đồng tháp

151 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 5,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 - 2019 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VỀ BIỂN - ĐẢO QUA HOẠT ĐỘNG LÀMQUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 5 - 6

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 - 2019

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VỀ BIỂN - ĐẢO QUA

HOẠT ĐỘNG LÀMQUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

SPD2018.02.35

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thoại Mỹ

Lớp: ĐHGDMN15G Người tham gia thực hiện: Lưu Thị Kim Ngân

Nguyễn Hải Yến Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Nguyễn Thị Như Mai

Đồng Tháp, 08/2019

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NCKH CỦA SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 - 2019

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VỀ BIỂN - ĐẢO QUA

HOẠT ĐỘNG LÀMQUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

SPD2018.02.35

(ký, ghi rõ họ tên) (ký, họ tên)

Xác nhận của Chủ tịch hội đồng

(ký, ghi rõ họ tên)

Đồng Tháp, 08/2019

Trang 3

liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong đề cương này là trung thực, chính xác, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả đề tài Nguyễn Thị Thoại Mỹ Lưu Thị Kim Ngân Nguyễn Hải Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Đồng Tháp và quý thầy cô Khoa Giáo dục đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua tại trường

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Trần Nguyễn Thị Như Mai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô các trường Thực hành sư phạm Mầm non Hoa Hồng, trường Mầm non Hoa Sữa, trường Mầm non Sao Mai đã nhiệt tình trao đổi thông tin, kinh nghiệm công tác trong ngành trong suốt quá trình chúng tôi nghiên cứu đề tài

Tuy có nhiều cố gắng trong nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những sự nhận xét và góp ý của các thầy cô, để đề tài được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Đồng Tháp, tháng 07 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Thoại Mỹ Lưu Thị Kim Ngân Nguyễn Hải Yến

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Thông tin kết quả nghiên cứu vi

Danh mục các cụm từ viết tắt vii

Danh mục các bảng, biểu đồ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Các vấn đề nghiên cứu về việc giáo dục biển - đảo qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh 4

3 Kết quả nghiên cứu việc nâng cao nhận thức về biển – đảo theo đề án, văn bản chỉ đạo; theo Chương trình Giáo dục mầm non liên quan về giáo dục biển - đảo 9

4 Mục tiêu nghiên cứu 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 17

6 Các phương pháp nghiên cứu 17

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 18

8 Giả thuyết khoa học 19

9 Giới hạn phạm vi và thời gian nghiên cứu 19

10 Những đóng góp mới của đề tài 19

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VỀ BIỂN - ĐẢO QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Những khái niệm cơ bản 20

1.2 Nội dung giáo dục biển - đảo trong hoạt động làm quen môi trường xungquanh 22

1.2.1 Tìm hiểu khái quát về bãi biển, các đảo và quần đảo lớn của nước ta 22

1.2.2 Đặc điểm của các ngành kinh tế biển 22

1.2.3.Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi 22

Trang 6

1.3 Ý nghĩa của việc giáo dục biển - đảo qua hoạt động làm quen môi trường

xung quanh cho trẻ 5 - 6 tuổi 23

1.4 Cơ sở tâm, sinh lý của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ 24

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ 25

1.5.1 Yếu tố thứ 1: Bản thân trẻ 25

1.5.2 Yếu tố thứ 2: Môi trường 25

1.5.3 Yếu tố thứ 3: Tác động của người lớn 26

1.6 Mục đích của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non 26

1.7 Các hình thức và phương pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non 1.7.1 Các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 27

1.7.2 Phương pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC VỀ BIỂN - ĐẢO QUAHOẠT ĐỘNG LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 2.1 Vài nét về cơ sở nghiên cứu 33

2.2 Mục đích nghiên cứu thực trạng 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 33

2.4 Đối tượng nghiên cứu thực trạng 34

2.5 Nội dung nghiên cứu thực trạng 34

2.6 Tiêu chí đánh giá biểu hiện mức độ hiểu về biển - đảo của trẻ 34

2.7 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50

Trang 7

CHƯƠNG 3

ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

VỀ BIỂN - ĐẢO QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG

XUNG QUANH CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 3.1 Một số quan điểm giáo dục _ cơ sở định hướng xây dựng biện pháp giáo

dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen môi trường xung

quanh 51

3.2 Xây dựng biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh 52

3.2.1 Biện pháp 1: Giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức giáo dục biển - đảo cho giáo viên mầm non 52

3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan trong tổ chức hoạt động làm quen MTXQ về biển - đảo cho trẻ 53

3.2.3 Biện pháp 3: Trò chuyện gợi mở để kích thích trẻ quan sát, so sánh, phân loại, suy luận, biểu đạt, về biển - đảo 54

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động để trẻ sáng tạo làm những món đồ chơi từ những nguyên vật liệu có sẵn ở biển - đảo (như vỏ ốc, vỏ sò, sỏi, đá, rong, san hô…) 57

3.2.5 Biện pháp 5: Giáo dục về biển - đảo cho trẻ thông qua trò chơi trong hoạt động làm quen MTXQ 58

3.2.6 Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh trong giáo dục trẻ để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên biển - đảo ở trẻ 59

3.3 Thực nghiệm sư phạm 60

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 60

3.3.2 Nội dung và cách thực nghiệm 60

3.3.3 Phân tích kết quả qua trao đổi, quan sát hoạt động học của trẻ 65

TIỂU KẾTCHƯƠNG 3 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC P1

Trang 8

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

Tên đề tài: “Biện pháp giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ với cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp”

Mã số: SPD2018.02.35

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thoại Mỹ

Thời gian thực hiện: 04/2018 - 07/2019

2 Mục tiêu

Đề tài này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: Đề xuất được các biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nhận thức của trẻ về biển - đảo, góp phần hình thành ý thức, thái độ và hành vi tích cực về biển - đảo, tình yêu quê hương đất nước cho trẻ

- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

4 Kết quả nghiên cứu

Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ Đến đây chúng tôi có thể khẳng định rằng: Mỗi giáo viên đều có tiềm năng xây dựng hoạt động nhằm giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ đạt hiệu quả khi có kiến thức và kỹ năng cần thiết, môi trường thích hợp để tổ chức hoạt động làm quen MTXQ nhằm giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi

Chủ nhiệm đề tài

Trang 10

Biểu đồ 2.1 Mức độ hiểu biết của nhóm trước thực nghiệm và nhóm

đối chứng về tên, vị trí địa lý, đặc điểm nổi bật của một số bãi biển,

hòn đảo nổi tiếng ở nước ta

47

Trang 11

15 Biểu đồ 2.2 So sánh mức độ hiểu biết về phương tiện giao thông

16

Biểu đồ 2.3 So sánh mức độ hiểu biết về tên, đặc trưng của một số ngành nghề trên biển của nhóm trước thực nghiệm và nhóm đối chứng

48

18

Biểu đồ 2.5 So sánh mức độ phân biệt hành động đúng - sai của con người đối với môi trường biển thông qua hình ảnh của nhóm trước thực nghiệm và nhóm đối chứng

49

19

Biểu đồ 2.6 So sánh mức độ nhận ra một số nguyên nhân gây ô nhiễm và tác hại của việc môi trường biển bị ô nhiễm của nhóm trước thực nghiệm và nhóm đối chứng

49

môi trường của nhóm trước thực nghiệm và nhóm đối chứng

50

21

Biểu đồ 3.1 Mức độ hiểu biết của nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm về tên, vị trí địa lý, đặc điểm nổi bật của một số bãi biển, hòn đảo nổi tiếng ở nước ta (dựa theo tiêu chí 1)

75

22

Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ hiểu biết về phương tiện giao thông trên biển của nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 2)

75

23

Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ hiểu biết về tên, đặc trưng của một số ngành nghề trên biểncủa nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 3)

76

24

Biểu đồ 3.4 So sánh mức độ hiểu biết về lợi ích từ biển - đảo của nhóm trướcthực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 4)

76

25

Biểu đồ 3.5 So sánh mức độ phân biệt hành động đúng - sai của con người đối với môi trường biển thông qua hình ảnhcủa nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 5)

77

Trang 12

26

Biểu đồ 3.6 So sánh mức độ nhận ra một số nguyên nhân gây ô nhiễm và tác hại của việc môi trường biển bị ô nhiễm của nhóm trước thực nghiệm vànhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 6)

77

27

Biểu đồ 3.7 So sánh mức độ ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của nhóm trước thực nghiệm và nhóm sau thực nghiệm (dựa theo tiêu chí 7)

78

28

Biểu đồ 3.8 Mức độ hiểu biết của nhóm sau thực nghiệm và nhóm đối chứng về tên, vị trí địa lý, đặc điểm nổi bật của một số bãi biển, đảo nổi tiếng ở nước ta (dựa theo tiêu chí 1)

81

29

Biểu đồ 3.9 So sánh mức độ hiểu biết về phương tiện giao thông trên biển của nhóm sau thực nghiệm và nhóm đốichứng (dựa theo tiêu chí 2)

81

30

Biểu đồ 3.10 So sánh mức độ hiểu biết về tên, đặc trưng của một số ngành nghề trên biểncủa nhóm sau thực nghiệm và nhóm đối chứng (dựa theo tiêu chí 3)

82

32

Biểu đồ 3.12 So sánh mức độ phân biệt hành động đúng - sai của con người đối với môi trường biển thông qua hình ảnhcủa nhóm sau thực nghiệm và nhóm đối chứng (dựa theo tiêu chí 5)

83

33

Biểu đồ 3.13 So sánh mức độ nhận ra một số nguyên nhân gây ô nhiễm và tác hại của việc môi trường biển bị ô nhiễm của nhóm sau thực nghiệm và nhóm đối chứng (dựa theo tiêu chí 6)

83

34

Biểu đồ 3.14 So sánh mức độ ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của nhóm sau thực nghiệm và nhóm đối chứng (dựa theo tiêu chí 7)

84

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biển - đảo Việt Nam là phần lãnh thổ của nước Việt Nam, qua nghìn đời nó luôn gắn chặt với người dân nước Việt cả về vật chất lẫn tinh thần Vì thế, biển - đảo trong tâm thức của người Việt Nam luôn là Đất nước, là cuộc sống

“Biển trời của chúng ta, đảo gọi ngàn tiếng ca Từng ngày con sóng vỗ, một màu xanh bao la Biển trời biết mấy yêu thương, đảo là gấm vóc quê hương Ngàn năm cha ông mở cõi, giờ đây ta quyết giữ gìn”

Đây chính là những lời ca trong bài hát “Biển đảo quê hương”, đúng như lời bài hát nói, biển trời, đảo chính là gấm vóc quê hương Cha ông ta đã dựng xây, mở mang

bờ cõivà nhiệm vụ của thế hệ chúng ta chính là giữ gìn, bảo vệ chủ quyền biển đảo cho dân tộc

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam,vươn trải ra hướng đông, ta có trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Từ lâu biển Đông đã gắn bó với đất nước Việt Nam như một hữu thể không thể tách rời Biển Đông là quê mẹ của những cháu con dòng dõi Tiên - Rồng từ thuở lập quốc Vì thế, cuộc sống của bao thế hệ người dân Việt gắn liền với biển, gắn liền với những con thuyền lênh đênh sóng nước để từ đó đánh dấu chủ quyền thiêng liêng của mình lên những “bãi cát vàng” lịch sử Chủ quyền

ấy đã được lịch sử chứng minh với những luận cứ không thể chối cãi qua nhiều chứng

cứ xác thật

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển - đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam Việt Nam có một không gian biển rộng lớn, không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống cho các thế hệ người Việt mà còn là nơi hình thành nên các cơ tầng văn hóa Việt và cũng là nơi lưu giữ các trầm tích văn hóa Việt tự bao đời nay Biển - đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại Qua hàng

Trang 14

ngàn năm lịch sử đã chứng minh, người Việt đã ra sức khai phá xây dựng, sẵn sàng đổ

cả máu xương cho chủ quyền biển - đảo

Biển - đảo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển dân tộc Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, biển - đảo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập không gian sinh tồn, hình thành nền văn hóa biển, thiết lập quan hệ giao thương với lân bang

và xác lập chủ quyền và an ninh biển quốc gia Biển - đảo là nhà của rất nhiều ngư dân, những người phải đi mây về gió, chống chọi với bão tố Đây cũng là nguồn lợi du lịch của những thành phố như Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu… Với một hệ sinh thái biển đặc sắc, Việt Nam tự hào là một điểm đến kỳ thú đối với bạn bè năm châu

Thế nhưng, hiện nay biển - đảo đang bị đe dọa nghiêm trọng Trước tiên là từ vấn

đề ô nhiễm môi trường biển Các số liệu thống kê cho thấy, hàng năm có khoảng 70% chất thải đổ ra biển có nguồn gốc từ đất liền khi các nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, thuốc bảo vệ thực vật,… Mà lượng lớn chất thải này chưa được xử lý, thông qua hệ thống thoát nước xả thẳng ra các sông, trăm sông đổ về biển hoặc xả trực tiếp ra biển, mang theo một lượng lớn các chất bồi lắng, nhựa, hóa chất, kim loại, cặn dầu, thậm chí cả những chất phóng xạ Tiếp theo là do ý thức của người dân khi đi tắm biển,

đi tham quan, họ vô tư vứt rác, vứt chai nhựa xuống biển mà không quan tâm đến hệ sinh thái Ngoài ra, vấn đề nghiêm trọng hơn cả đó là sự mất an ninh của biển - đảo, sự

đe dọa của các nước đến vấn đề chủ quyền Tình hình biển - đảo Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến phức tạp, khi Trung Quốc đã liên tiếp có những hành động đe dọa đến chủ quyền biển - đảo của nước ta Bên cạnh đó, tài nguyên, khoáng sản, môi trường biển cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những tác động xấu của thiên nhiên và con người Biển nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ và phát triển đất nước Vì vậy, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, môi trường biển - đảo trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Trách nhiệm ấy, không là trách nhiệm của riêng

ai, mà là nghĩa vụ của cả dân tộc, của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ[25]

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc

Trang 15

và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển - đảo thiêng liêng của Tổ quốc Vì vậy, trong suốt tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay nói riêng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế của đất nước về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền biển - đảo Việt Nam, coi đó là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước Ngày nay, dù chiến tranh đã đi qua, đất nước đã hòa bình và phát triển, nhưng biển xa vẫn canh cánh mối lo hiểm họa xâm lăng của các thế lực thù địch Nên nhiệm

vụ của tuổi trẻ, nhiệm vụ của mỗi công dân lại được đặt lên trên hết

Đất nước Việt Nam với đường bờ biển trải dài khắp miền của đất nước cùng nhiều quần đảo lớn nhỏ rải rác trên biển mang lại giá trị kinh tế và tiềm năng du lịch to lớn cho đất nước nên được ví “Rừng vàng, biển bạc” Biển - hải đảo của Tổ quốc Việt Nam

là những vấn đề lớn được cả xã hội quan tâm Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển - đảo có vai trò, vị trí quan trọng, gắn bó mật thiết ảnh hưởng to lớn và đã có những đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.Biển - đảo là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ và phát triển đất nước Do vậy bảo vệ chủ quyền và phát huy tiềm năng biển - đảo là mệnh lệnh của Tổ quốc cho mỗi người Việt Nam

Để mỗi người dân Việt Nam có ý thức về chủ quyền biển - đảo của chúng ta, không có cách nào tốt hơn là đưanội dung chương trình giáo dục về biển - đảo vào chương trình họclà rất cần thiết, và đặc biệt là ở ngay bậc học mầm non Đồng thời, trẻ

5 tuổi rất tò mò, khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh để mở rộng nhận thức Vì vậy, việc đưa giáo dục về biển - đảo vào cấp học mầm non là tạo cơ hội cho trẻ được làm quen, nhận biết và hiểu thêm về biển - đảo Việt Nam Trên cơ sở đótrang bị kiến thức, nâng cao nhận thức, ý thức về biển - đảo, hình thành cho trẻ thói quen, hành vi bảo

vệ tài nguyên, môi trường biển - hải đảo cho những người chủ tương lai của đất nước.Trẻ mầm non là thế hệ tương lai của đất nước, song song với nhiệm vụ phát triển nhận thức cho trẻ là mục tiêu hình thành các biểu tượng về cuộc sống xung quanh gần gũi Chúng ta cần lựa chọn nội dung phù hợp để GD cho trẻ về biển - đảo, giúp trẻ biết những giá trị thiêng liêng của biển - đảo đã mang lại cho con người Để từ đó hình

Trang 16

thành cho trẻ ý thức về bảo vệ môi trường biển - đảo, ý thức về chủ quyền biển - đảo, hình thành tình yêu biển - đảo là nền tảng của tình yêu quê hương đất nước

Hoạt động làm quen MTXQ là một hoạt động đưa vào chương trình giáo dục mầm non Nhằm phát triển nhận thức cho trẻ qua các hoạt động tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh Hoạt động làm quen MTXQ của trẻ ở trường mầm non là điều kiện thuận lợi để GD về biển - đảo cho trẻ

Qua tìm hiểu thực tế ở trường mầm non hiện nay, việc tổ chức hoạt động làm quen MTXQ còn biểu lộ nhiều hạn chế, giáo viên thường tổ chức theo kiểu trẻ làm quen, mà chưa tạo điều kiện cho trẻ khám phá, nên kết quả đạt được chưa cao, giáo viên chưa thật

sự khai thác được hết tiềm năng của hoạt động làm quen MTXQ để giúp trẻ khám phá

về biển - đảo cho trẻ

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ với cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp”

2 Các vấn đề nghiên cứu về việc giáo dục biển - đảo qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh

Có thể thấy vấn đề giáo dục về biển - đảo cho trẻ đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, giáo dục biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi là một vấn đề hết sức cần thiết trong trường mầm non

2.1 Các vấn đề nghiên cứu về khả năng nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Skinner B.F,1953 và Albert Bandura, 1963 - hai người xây dựng nên thuyết hành

vi Thuyết này cho rằng việc học ở trẻ nhỏ là biến các hành vi quan sát được thành của mình và tái tạo lại các hành vi đó Vì thế chúng ta có thể thấy rằng việc cho trẻ tiếp xúc cũng như quan sát các hành vi về bảo vệ môi trường biển - đảo từ đó trẻ có thể tự điều chỉnh được hành vi của mình[16]

Nhà giáo dục người Tiệp Khắc (trước đây) là J.A.Comenxki (1952 - 1670) đã đưa ra những biện pháp bắt học sinh phải tự tìm tòi, suy nghĩ để tìm hiểu, khám phá lĩnh hội tri thức về sự vật, hiện tượng[5]

Các nhà giáo dục học Macxit đã khẳng định: Sự phát triển trí tuệ của trẻ là phụ thuộc vào tính chất mà tri thức trẻ đã lĩnh hội Như vậy việc lựa chọn đối tượng cho trẻ

Trang 17

khám phá sẽ rất quan trọng, qua đối tượng trẻ sẽ lĩnh hội được tri thức gì và điều này ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ[18]

Theo thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, 1963 Trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển nhận thức của mình thông qua sự tương tác qua lại tích cực với

cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ông nhấn mạnh chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển sự khẳng định mình trong suy nghĩ, vai trò của GV là khai thác các tình huống và các vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi, qua đó kích thích

sự suy nghĩ và sự giao tiếp tích cực ở trẻ [12] Qua đây có thể thấy rằng việc cho trẻ tham gia các trò chơi về biển - đảo hay xử lý tình huống, trẻ tiếp xúc với các mô hình biển - đảo trong khuôn viên trường mầm non sẽ góp phần tích cực trong nhận thức của trẻ về biển - đảo, góp phần giáo dục biển - đảo cho trẻ đạt hiệu quả nhất

Nhà tâm lý học L.X.Vưgốtky cho rằng những thay đổi cơ bản trong phát triển tri giác xuất hiện trong cấu trúc tâm lý mới Điều này được nhà tâm lý học giải thích ban đầu tri giác của con người gắn liền với vận động và xúc cảm.Trẻ tri giác đối tượng xung quanh dựa trên những kinh nghiệm cũ và những hình ảnh đã được hình thành trước đó[23] Do vậy khi cho trẻ tri giác với những hình ảnh, kiến thức liên quan đến biển - đảo sẽ giúp trẻ phát triển tri thức về biển - đảo

Quá trình nhận thức về MTXQ ở trẻ diễn ra trên cơ sở thống nhất giữa nhận thức cảm tính và lý tính Trong đó, nhận thức cảm tính là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức về môi trường Nhận thức bắt nguồn từ cảm giác, xuất hiện khi sự vật, hiện tượng tác động lên cơ quan cảm giác Cơ sở sinh lý của nhận thức cảm tính là hoạt động cùng nhau của các cơ quan phân tích (thị giác, thính giác, xúc giác,…) Do vậy, càng nhiều giác quan tham gia vào quá trình nhận thức thì biểu tượng càng chính xác, phong phú[20]

Trẻ luôn sử dụng các giác quan để tìm hiểu MTXQ, nó làm cho việc tìm hiểu thế giới xung quanh của trẻ sâu sắc hơn, giúp cho trẻ tiếp cận và giải quyết các vấn đề gặp phải trong cuộc sống dễ dàng hơn Ở trẻ có nhu cầu cao trong việc nhận thức thế giới xung quanh Nó xuất hiện ngay từ sau khi sinh và phát triển mạnh ở lưới tuổi mẫu giáo[11]

Trang 18

2.2 Các vấn đề nghiên cứu về giáo dục biển – đảo

Biển - đảo là rất thiêng liêng và có ý nghĩa to lớn về lịch sử chính trị và giá trị kinh tế.Bảo vệ giá trị biển - đảo của mỗi dân tộc là thể hiện niềm tự tôn của dân tộc đó

Vì thế, giáo dục Việt Nam cũng đã có rất nhiều tài liệu giáo dục tuyên truyền về biển đảo

-Bộ sách “Chủ quyền biển đảo Việt Nam” của NXB Thanh niên xuất bản năm

2012 do tác giả Song Lam và Thái Quỳnh biên soạn:Bộ sách xoáy vào những kiến thức

cơ bản về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển - đảo của Nhà nước ta Những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông, khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp Tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển -đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan luôn được tác giả nhấn mạnh và nêu rõ[7]

Tác giả Đậu Thị Hải Vân, Luận văn Thạc sĩ “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển

- đảo Tổ Quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10, trung học phổ thông” năm 2012 tác giả đã đề xuất những nguyên tắc đưa giáo dục biển - đảo vào chương trình dạy học: Xác định đúng những kiến thức cơ bản cần giáo dục đảm bảo tính khoa học, chính xác, tính tư tưởng, đảm bảo tính cụ thể, hình ảnh, giàu biểu tượng lịch sử phát huy tính tích cực của học sinh[21]

Đề tài nghiên cứu “Vấn đề giáo dục về chủ quyền biển - đảo cho thế hệ trẻ hiện nay” vào năm 2012- Cao Huy Hiệp, Nguyễn Bá Phúc, đoạt giải đặc biệt của chương trình

hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức Cho biết họ chọn đề tài nghiên cứu này vì tình yêu với biển - đảo quê hương.Hai tác giả cho biết họ chọn đề tài nghiên cứu này vì tác giả luôn có một tình yêu với biển - đảo quê hương Thế hệ trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước, hơn ai hết họ phải biết, phải hiểu về lịch sử của dân tộc nói chung và lịch sử khẳng định chủ quyền biển - đảo nói riêng để từ đó khơi dậy, củng cố tình yêu Tổ quốc, nâng cao ý thức học tập, phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc[6]

Bộ sách “Giáo dục chủ quyền biển - đảo cho thế hệ trẻ Việt Nam”, PGS.TS Trần Viết Lưu biên soạn, do nhà xuất bản Văn hóa - thông tin xuất bản năm 2014 với 206 trang sách, khổ 16 x 24 cm, người đọc sẽ được cung cấp những kiến thức giáo dục và

Trang 19

tìm hiểu lịch sử biển, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ Góp phần tuyên truyền, giáo dục thế

hệ trẻ lòng yêu nước, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển - đảo đất nước [8]

Tài liệu “100 câu hỏi - đáp về biển - đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam”xuất bản vào tháng 8 năm 2013là cuốn sách đoạt giải Đồng Sách Hay năm 2014 Sách do Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông ấn hành Cuốn sách trang bị cho tuổi trẻ Việt Nam những nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về biển - đảo quê hương, về tài nguyên và môi trường biển, về không gian biển - đảo của đất nước, về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển - đảo, về chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đối với những vấn đề biển - đảo nói chung và Biển Đông nói riêng [1] Qua tài liệu này, mọi người sẽcó thêm nhiều kiến thức bổ ích liên quan đến các vấn đề về biển - đảo, là phương tiện giúp chúng ta trang bị cho mình những kiến thức quan trọng và bổ ích về biển - đảo quê hương

Bộ sách “Giáo dục về biển - đảo Việt Nam”xuất bản vào tháng 10 năm 2014 nằm trong tủ sách biển - đảo Việt Nam gồm ba cuốn do PGS Nguyễn Đức Vũ chủ biên [22] Đây là bộ sách mang tính khoa học sư phạm được tổ chức biên soạn với nội dung rất chặt chẽ, tác giả cung cấp cho người đọc những tư liệu, thông tin có hệ thống, chính xác

và hàm súc về biển - đảo Việt Nam, vừa đáp ứng được yêu cầu giáo dục về biển - đảo trong nhà trường vừa phục vụ công tác tuyên truyền về biển - đảo trong xã hội Đồng thời, bộ sách còn bổ sung những kiến thức chung về giáo dục biển - đảo, các phương pháp giáo dục trong giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp phù hợp với công tác dạy - học về biển - đảo Việt Nam ở từng cấp lớp

Tài liệu “Bảo vệ chủ quyền Biển và hải đảo Việt Nam” đã cho thấy rằng việc bảo

vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc giữ gìn toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế [15]

Tác giả Trần Nguyễn Thị Như Mai, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục vào tháng 6 năm 2017 đề cập và làm rõ đề tài “Biện pháp hình thành biểu tượng về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học”[9] Tác giả đã đề xuất

Trang 20

và thực nghiệm thành công một số biện pháp hình thành biểu tượng biển - đảo cho trẻ tại một số trường mầm non và mang lại kết quả thiết thực.

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài viết trong các tạp chí như tạp chí nghiên cứu giáo dục, các tạp chí nghiên cứu lịch sử đã đề cập đến các vấn đề nàyđã đề cập đến nội dung giáo dục biển - đảo Tiêu biểu như:

Sáng kiến kinh nghiệm “Kinh nghiệm lồng ghép giáo dục biển - đảo cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi” vào năm 2013 - 2014 của tập thể giáo viên trường mầm non thị trấn Đức Phổ, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi phổ biến cách giáo dục giúp khơi dậy, nuôi dưỡng tình yêu quê hương, tình yêu biển - đảo cho các em, đồng thời đề xuất góc tuyên truyền biển - đảo của nhà trường[13] Sáng kiến kinh nghiệm “Các biện pháp chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển - hải đảo vào chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi ở trường mầm non Vĩnh Quỳnh” vào ngày 26 tháng 2 năm 2016[14]

Tài liệu “Hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển - hải đảo vào chương trình giáo dục mầm non” do tác giả La Bích Thủy chủ biên- Trường cao đẳng sư phạm Sóc Trăng Tài liệu này, đã bổ sung được những nội dung giáo dục về tài nguyên, biển - đảo mà chương trình GDMN đã chưa đề cập đến, cho ta biết những nội dung, phương pháp, hình thức tích hợp giáo dục biển - đảo cho trẻ trong các hoạt động trong trường mầm non mang tính thiết thực và hiệu quả cao[17]

Đã có nhiều trường mầm non nghiên cứu và xây dựng mô hình giáo dục “Chủ quyền biển - đảo Việt Nam”, bằng các phế liệu giáo viên đã tạo nên mô hình quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa để giáo dục trẻ mầm non ý thức bảo vệ môi trường và tình yêu biển - đảo Với những mô hình sinh động, cùng cách giải thích gần gũi, dễ hiểu và những bài hát về biển - đảo, về người lính hải quân, các cô giáo đã làm cho giờ học về chủ quyền biển - đảo của các bé mầm non trở nên nhẹ nhàng, thú vị và hào hứng

Giáo viên ở một số địa phương sáng tạo trong việc tích hợp giáo dục chủ quyền biển - đảo cho trẻ mầm non trong giáo dục môi trường, trong tiết học làm quen với MTXQ hay trong những sự kiện “Tuần lễ biển - đảo quê hương”, góp phần đổi mới hình thức giáo dục biển - đảo ở trường mầm non Tuy đã có những công trình nghiên cứu về giáo dục biển - đảo cho trẻ nhưng đây vẫn là một đề tài rộng và mang tính thời sự

Trang 21

3 Kết quả nghiên cứu việc nâng cao nhận thức về biển – đảo theo đề án, văn bản chỉ đạo; theo Chương trình Giáo dục mầm non liên quan về giáo dục biển - đảo 3.1 Một số đề án, văn bản chỉ đạo liên quan về việc nâng cao nhận thức về biển

- đảo theo đề án, văn bản chỉ đạo

Căn cứ Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 09- NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về

“Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Nghị quyết đề cập những vấn đề như sau: Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng -

an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môitrường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Căn cứ Quyết định số 1570/QĐ-TTg ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Mục tiêu của chiến lược nhằm hiểu

rõ hơn về biển, về tiềm năng, lợi thế, các tác động bất lợi từ biển, thúc đẩy khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển theo hướng bền vững, gìn giữ chất lượng môi trường nước biển, duy trì chức năng sinh thái và năng suất sinh học của các hệ sinh thái biển góp phần thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Căn cứ Chỉ thị số 41/CT-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Thủ tướng

Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án tổng thể tuyên truyền bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông Mục tiêu của chỉ thị nhằm tiếp tục củng cố, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất, tin tưởng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong

Trang 22

huyện về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển – đảo, vai trò, vị trí chiến lược của biển – đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội biển – đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán Quốc gia và các lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Đấu tranh có hiệu quả với hoạt động tuyên truyền của các thế lực cơ hội, thủ địch ở trong và ngoài nước âm mưu lợi dụng vấn đề chủ quyền trên biển làm tổn hại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ đối ngoại truyền thống, tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng Xác định rõ công tác tuyên truyền biển – đảo là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị, có ý nghĩa của đất nước, của tỉnh, của huyện trong bối cảnh hiện nay Công tác tuyên truyền biển – đảo cần tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, coi trọng chất lượng, nội dung và sự phù hợp đặc điểm đối tượng, địa bàn cũng như thời lượng tuyên truyền Tạo sự đồng thuận, thống nhất, tin tưởng trong nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển - đảo, tạo môi trường thuận lợi để thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Về văn bản chỉ đạo điều hành, Căn cứ quyết định số 354/QĐ – TTg ngày 29 tháng 03 năm 2018 của Thủ Tướng Chính phủ về đổi tên “Quỹ Trường Sa thân yêu” thành “Quỹ vì biển – đảo Việt Nam”

Quyết định 930/QĐ – TTg ngày 27 tháng 07 năm 2018 của Thủ Tướng Chính phủ “Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 - 2020” Với nội dung tuyên truyền trọng tâm là đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về biển - đảo Việt Nam, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận lòng dân, giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh liên quan đến biển - đảo Việt Nam Các văn bản pháp luật quốc tế, thỏa thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan đến biển đảo, quan điểm, lập trường, căn cứ pháp lý của nước

ta trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông Những chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, vị trí, vai trò, tiềm năng, các hoạt động phát triển kinh tế của biển, đảo Việt Nam Những

Trang 23

hoạt động, đóng góp của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Thọ, tấm lòng của nhân dân Đất Tổ hướng về biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc thông qua các phong trào

“Hướng về biển đảo quê hương”, “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”, “Chung sức vì biển, đảo”, giáo dục lòng yêu nước, sẵn sàng xung kích xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo

và Tổ quốc Nêu gương, biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển - đảo Việt Nam

Thực hiện QĐ số 373/QĐ-TTg ngày 23/03/2010 của Thủ tưởng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý bảo vệ phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam” với mục đích là đến năm 2015 nâng cao nhận thức về biển - đảo của đội ngũ cán bộ công chức và các tầng lớp nhân dân trong xã hội Trên thực tế, sự hiểu biết của của nhiều người về biển - đảo còn chưa nhiều, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người chủ tương lai của đất nước thì cần phải hoàn thiện ngay những hạn chế này, không thể để tình trạng nhiều người trẻ không biết nhiều về biển - đảo quê hương, về chủ quyền của dân tộc Để mỗi người dân Việt Nam có ý thức về chủ quyền biển - đảo của chúng ta, không có cách nào tốt hơn là đẩy mạnh tuyên truyền GD về biển – đảo, đưa nội dung GD về biển - đảo vào chương trình giáo dục ở các cấp học 3.2 Nghiên cứu về giáo dục các nội dung về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non

Hiện nay chương trình giáo dục mầm non của nước ta đang thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non mới (Ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo [3]

Mục tiêu của chương trình mới bao gồm:

- Trẻ khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi

- Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

- Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay

- Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với sức khoẻ

Trang 24

- Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo

sự an toàn của bản thân

Ví dụ: Trò chơi “Nhanh tay chọn đúng”

Mục đích: Giúp trẻ nhận biết được tên gọi, vị trí địa lý của một số bãi biển, đảo ở một số tỉnh, thành Thực hiện được động tác của vận động cơ bản bật liên tục qua 5 vòng, phối hợp tốt các giác quan và vận động

Chuẩn bị: 2 bản đồ Việt Nam; 10 chiếc vòng thể dục hoặc chạy tiếp sức; một số mảnh giấy màu xanh nước biển (tượng trưng cho biển), màu nâu (tượng trưng cho đảo, quần đảo), hồ dán,…

Cách chơi: Các đội chơi lần lượt đứng trước những chiếc vòng đã được xếp nối tiếp nhau trước bản đồ Cô giáo bật nhạc, trẻ bắt đầu chơi Từng trẻ ở hai đội lần lượt bật nhảy liên tiếp qua 5 chiếc vòng, nên chọn những mảnh giấy màu xanh nước biển dán vào vị trí tỉnh có biển, mảnh giấy màu nâu vào vị trí tỉnh có đảo hoặc quần đảo Dán xong để trẻ về vị trí để các bạn khác trong đội tiếp tục lên chơi Lần lượt cho đến hết bản nhạc (VD: Bài hát Cùng ra khơi, Bé yêu biển lắm) cả hai đội đều dừng lại

Sau đó, cô và trẻ cũng kiểm tra kết quả bằng cách: Cô chỉ vào tỉnh/thành phố trẻ dán trên bản đồ, trẻ nói được tên biển hoặc tên đảo/quần đảo của tỉnh đó Ví dụ: Cô chỉ vào thành phố Đà Nẵng, trẻ đọc Đà Nẵng có bãi biển Đà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa

- Trẻ có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày

- Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)

- Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày

- Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện

- Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi

- Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết

Ví dụ như khi dạy trẻ đọc thơ « Chú Hải quân » Qua đó trẻ hiểu nội dung bài thơ, biết đọc thơ diễn cảm, biết ngắt giọng đúng; có tình cảm quý trọng kính yêu với các chú hải quân canh giữ biển – đảo

Trang 25

* Mục tiêu phát triển tình cảm kỹ năng – xã hội

- Trẻ có ý thức về bản thân

- Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh

- Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực

- Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ

- Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi

Từ những mục tiêu trên, ta có thể giúp trẻ phân biệt hành động đúng - sai của con người đối với việc giữ gìn môi trường biển - đảo; trẻ có ý thức bảo vệ môi trường biển - đảo nói chung và môi trường sống nói riêng Chúng ta có thể tiến hành thông qua tình huống giả định, đóng kịch hoặc thông qua trò chơi…

*Mục tiêu phát triển thẩm mỹ

- Trẻ có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật

- Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình

- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật

Giúp trẻ hiểu thêm về biển – đảo thông qua những mô hình biển – đảo, quần đảo

do giáo viên cùng trẻ tạo ra và cùng tìm hiểu về mô hình đó Hay thông qua Hát, múa những bài hát về biển - đảo sẽ giúp trẻ có thêm kiến thức về biển – đảo Trẻ có thể sáng tạo làm những món đồ chơi từ những nguyên vật liệu có sẵn ở biển - đảo (như vỏ ốc, vỏ sò, sỏi, đá, rong, san hô…) Trẻ vẽ, cắt, dán tranh về thuyền buồm, biển - đảo giúp trẻ sáng tạo trong hoạt động tạo hình

*Mục tiêu phát triển nhận thức

- Trẻ ham hiểu biết, khám phá tìm tòi các sự vật hiện tượng xung quanh

- Có khảnăng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định

- Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo cách khác nhau

- Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng nhiều cách khác nhau (hành động, hình ảnh và lời nói…), ngôn ngữ là chủyếu

- Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật hiện tượng xung quanh…

Trang 26

- Chương trình GD Mầm non mớicó rất nhiều ưu điểm, sử dụng chương trình này GVMN có nhiều cơ hội để sáng tạo, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn cũng như tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ tùy theo khả năng của bản thân, khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở địa phương

Việc giáo viên được tự do lựa chọn tên đề tài phù hợp với khả năng, nhu cầu và hứng thú của trẻ rất thuận lợi để hình thành các kiến thức về biển - đảo cho trẻ mầm non Tuy nhiên, để giáo dục về biển - đảo cho trẻ đạt hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên phải tích cực, kiến thức vững vàng, có sự lựa chọn nội dung giáo dục biển - đảo phù hợpvới đặc điểm nhận thức, thể chất, ngôn ngữ,… của trẻ

Tuy nhiên qua nghiên cứu chương trình giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo thôngtư số 17/2009/ TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục

và đào tạo) [3] trên chúng tôi nhận ra nội dung chưa đề cập rõ ràng, cụ thể đến giáo dục biển - đảo cho trẻ mầm non chưa đề ranội dung phương pháp, hình thức giáo dục biển - đảo để định hướng cho giáo viên tiến hành giáo dục biển - đảo cho trẻ Những nội dung đưa ra trong chương trình mang tình mở, cốt lỗi có tính định hướng cho giáo viên Điều này có nghĩa việc giáo dục các nội dung về biển - đảo cho trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào

sự lựa chọn của giáoviên Dẫn đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục về biển - đảo cho trẻ mầm non của giáo viên gặp rất nhiều lúng túng, khó khăn Bên cạnh đó biểu tượng về biển - đảo của trẻ thì còn khá mờ nhạt Giáo viên còn ngại ngùng khi giáo dục về biển - đảo cho trẻ, một số giáo viên thiếu kiến thức về địa lý, triển khai các hoạt động giáo dục biển - đảo chưa đồng loạt, chưa hiệu quả

*Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi

- Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là những gì mong đợi trẻ nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục

- Mục đích của bộ chuẩn là hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi gồm 4 lĩnh vực (lĩnh vực thể chất, nhận thức, tình cảm kĩ năng xã hội, ngôn ngữ, lĩnh vực phát triển thẫm mĩ lồng ghép vào các lĩnh vực còn lại); 28 chuẩn và

120 chỉ số Đây chính là mục tiêu giáo dục cụ thể đầu ra của trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong

và sau quá trình học [2]

- 120 chỉ số trong bộ chuẩn được thực hiện trong các chủ đề của năm học Vào

Trang 27

đầu năm giáo viên sẽ căn cứ vào các chủ đề mà phân bổ các mục tiêu phù hợp nhất vào các chủ đề

*Các chỉ số giáo viên có thể gắn vào chủ đề trong năm để hình thành các biểu tượng về sự vật hiện tưọng xung quanh cho trẻ

- Chỉ số 56: Nhận xét một số hành vi đúng sai của con người đối với môi trường

- Chỉ số 63: Hiểu nghĩa các từ khái quát chỉ sự vật, hiện tượng đơn giản gần gũi

- Chỉ số 113: Trẻ thích khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh

- Khi xây dựng các đề tài giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi giáo viên dạy lớp thường căn cứ vào các chỉ số phát triển để xây dựng kế hoạch giáo dục, lựa chọn đề tài và tổ chức các hoạt động giáo dục Nhưng khi tìm hiểu về bộ chuẩn, chúng tôi nhận ra trong 120 chỉ số phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi chưa có chỉ số đề cập đến hình thành các biểu tượng về biển

- đảo cho trẻ, có chăng nội dung giáo dục về biển - đảo chỉ được đề cập đến một cách chung chung, không rõ ràng cụ thể Điều này dẫn đến thực trạng giáo viên không bắt buộc phải hình thành các biểu tượng về biển - đảo cho trẻ Dẫn đến việc lựa chọn những nội dung giáo dục vể biển - đảo rất khó khăn, lúngtúng

- Thực hiện đề án “Tăng cường công tác giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo vào các cấp học và các trình độ đào tạo giáo viên trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đọan 2010 – 2015 Năm 2012, Bộ giáo dụcvà Đào tạo - Vụ giáo dục mầm non biên soạn cuốn “ Hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục về môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục mẫu giáo 5 tuổi”[4] Qua tài liệu này, cung cấp cho giáo viên những kiến thức cơ bản về tài nguyên và môi trường biển - đảo, định hướng mộtsố nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, hướng dẫn giáo viên cách tích hợp các nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình mẫu giáo 5 tuổi, tích hợp các hoạt động có nội dung giáo dục về môi trường biển - đảo vào các thời điểm trong ngày của trẻ

- Tài liệu này đã khắc phục những hạn chế, thiếu sót và bổ sung những nội dung giáo dục về biển - đảo mà trong chương trình giáo dục mầm non mới và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi chưa đề cập rõ ràng, làm cơ sở pháp lý và tài liệu quan trọng để giáo viên thực hiện giáo dục về biển - đảo cho trẻ mầm non một cách đồng loạt và rầm rộ trên phạm vi toàn quốc

Trang 28

Qua nghiên cứu thực tế ở địa phương tổ chức thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các trường mầm non đều tiếp cận với tài liệu tíchhợp được chỉ đạo để bổ sung vào chương trình giáo dục mầm non này, tuy nhiên trên thực tế chỉcó một số trường áp dụng thường xuyên, thực tế này do rất nhiều nguyên nhân như là: điều kiện

cơ sở vật chất của trường còn hạn chế, khả năng vận dụng linh hoạt nội dung tích hợp biển - đảo của giáo viên vào các hoạt động…Theo tìm hiểu tất cả các trường điều thực hiện theo chương trình đổi mới tích hợp theo chủ đề, các trường MN đều có tiếp cận với tài liệu hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục tài nguyên, môi trường biển, hải đảo Sở, phòng giáo dục mầm non có tổ chức các chuyên đề cho cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán tham gia các lớp tập huấn về nội dung phương pháp tích hợp vào các hoạt động giáo dục về tài nguyên, biển - đảo cho trẻ ở trường mầm non

Theo tìm hiểu, các trường mầm non trọng điểm như Mầm non Hoa Sữa, Mầm non Sao Mai, giáo viên đã bắt đầu tiếp cận và tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục về biển - đảo cho trẻ thông qua chương trình mới theo quan điểm tích hợp theo chủ đề Giáo viên tiến hành các hoạt động giáo dục theo các lĩnh vực nhưng một số trường vẫn chưa thể hiện sự linh hoạt,tự do lựa chọn và dạy theo đề tài

Theo chương trình giáo dục mầm non mới, giáo viên được tự do lựa chọn đề tài

tổ chức các hoạt động tùy theo khả năng của bản thân, hứng thú của trẻ và điều kiện thực tế của địa phương Điều đó có nghĩa là, giáo viên được tự do lựa chọn các nội dung giáo dục về tài nguyên biển - đảo vào các chủ đề, lĩnh vực, hoạt động bất kỳ trong ngày

mà bản thân cảm thấy phù hợp Điều này tạo thuận lợi cho những giáo viên có năng lực, sáng tạo và linh hoạt Tuy nhiên thực tế cũng không ít giáo viên gặp khó khăn, lúng túng khi thực hiện tích hợp nội dung giáo dục biển - đảo vào chương trình, việc thực hiện còn gượng ép, máy móc Việc lựa chọn các chủ điểm còn chung chung và áp dụng tên chủ điểm giống nhau cho tất các khối lớp

Khi thực hiện chương trình này nội dung giáo dục về biển - đảo vẫn chỉ được giáo viên lồng ghépvào một số hoạt động học hoặc qua các sự kiện một cách thoáng qua

và nội dung tích hợp rất ít, bên cạnh đó, chỉ có thể tích hợp ở một số chủ đề

4 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được các biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nhận thức của trẻ về biển - đảo, góp

Trang 29

phần hình thành ý thức, thái độ và hành vi tích cực về biển - đảo, tình yêu quê hương đất nước cho trẻ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

5.2 Nghiên cứu thực trạng của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết : Tổng hợp, phân tích các lý luận về giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non

- Phương pháp thu thập tài liệu: Tìm kiếm tài liệu liên quan giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

- Phương pháp phân tích: Phân tích lý thuyết về nội dung giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non

- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp lý thuyết nội dung về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát:Quan sát môi trường và các đồ dùng trực quan, quá trình

tổ chức hoạt động làm quen MTXQ để giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

- Phương pháp phỏng vấn:Tiến hành phỏng vấn với giáo viên mầm non về những vấn đề liên quan đến các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng trong quá trình giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi nhằm thu thập các thông tin cần thiết cho việc triển khai của đề tài

Trang 30

- Phương pháp điều tra:Dùng phiếu câu hỏi lấy thông tin từ phía giáo viên để tìm hiểu về nhận thức, kinh nghiệm, thuận lợi và khó khăn của giáo viên về việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ

- Phương pháp đàm thoại với trẻ: Giao tiếp với trẻ bằng những câu hỏi về biển - đảo nhằm kích thích họat động nhận thức của trẻ theo hướng cần thiết

- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Căn cứ vào nội dung và mục đích nghiên cứu của đề tài em xin ý kiến của giáo viên hướng dẫn đồng thời tham khảo ý kiến từ hội đồng Khoa Giáo dục để hoàn thiện đề tài

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của trẻ thông qua sản phẩm hoạt động của trẻ

- Phương pháp phân tích nội dung: Nghiên cứu thực tiễn giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trong những năm gần đây

- Phương pháp thực nghiệm giáo dục

+ Chúng tôi tiến hành phương pháp này nhằm kiểm định lại các biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

+ Chúng tôi sẽ tiến hành thực nghiệm trên đối tượng là trẻ MG 5 - 6 tuổi của Trường Mầm non Sao Mai (Phường 3, Thành phố Cao Lãnh) trong khoảng thời gian

2 tháng

+ Lớp Lá 1 gồm 30 trẻ được chọn làm lớp thực nghiệm và lớp Lá 2 gồm 30 trẻ được chọn làm lớp đối chứng

6.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng thống kê toán học qua bảng khảo sát thực trạng

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Trang 31

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

8 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp dựa vào việc tổ chức có hiệu quả hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non hấp dẫn, thu hút được sự tham gia tích cực của trẻ thì mức độ nhận thức về biển - đảo của trẻ 5 - 6 tuổi sẽ được nâng cao hơn

9 Giới hạn phạm vi và thời gian nghiên cứu

9.1 Giới hạn phạm vi

9.1.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu các biện pháp giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen MTXQ với cho trẻ 5 - 6 tuổi ở cáctrường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

9.1.2 Địa bàn khảo sát và nghiên cứu

Đề tài khảo sát 60 trẻ 5 - 6 tuổi, 30 giáo viên đang trực tiếp phụ trách lớp 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp: Trường Thực hành sư phạm Mầm non Hoa Hồng, Trường Mầm non Hoa Sữa, Trường Mầm non Sao Mai

9.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 04/2018 đến tháng 07/2019

10 Những đóng góp mới của đề tài

- Xác định và hệ thống hóa được cơ sở lý luận của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

- Ghi nhận và làm rõ được thực trạng của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ ở trường mầm non

Trang 32

1.1.1 Khái niệm biển - đảo

* Khái niệm biển

Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc

là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay Biển Hồ ở Campuchia[19]

*Khái niệm đảo

Đảo hay hòn đảo là phần đất được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là lục địa Tuy vậy, không có kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo và lục địa[19]

Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đưa ra định nghĩa "đảo" cụ thể hơn, theo đó đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước

Có thể phân loại đảo tự nhiên thành hai nhóm chính là đảo lục địa và đảo đại dương Ngoài ra, còn có đảo nhân tạo

Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau

- Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam”

Tóm lại, biển - đảo Việt Nam là phần lãnh thổ của nước Việt Nam, qua nghìn đời

nó luôn gắn chặt với người dân nước Việt cả về vật chất lẫn tinh thần Vì thế, biển - đảo trong tâm thức của người Việt Nam luôn là đất nước, là cuộc sống

Trang 33

1.1.2 Khái niệm hoạt động làm quen môi trường xung quanh

Làm quen môi trường xung quanh là quá trình phát triển trẻ em như nhân cách bắt đầu từ thích ứng đến lĩnh hội vá cải tạo môi trường

Hoạt động làm quen về môi trường xung quanh là một hoạt động đưa vào chương trình giáo dục mầm non Nhằm phát triển nhận thức cho trẻ qua các hoạt động tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh, nhằm tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với MTXQ để trẻ thích ứng với môi trường, hiểu biết về môi trường, tích cực tham gia cải tạo môi trường, thỏa mãn nhu cầu phát triển bản thân trẻ Và hoạt động làm quen MTXQ của trẻ ở trường mầm non là điều kiện thuận lợi để giáo dục về biển - đảo cho trẻ [11]

1.1.3 Khái niệm về biện pháp

Biện pháp là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học giáo dục: + Theo từ điển Tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách hành động, đối phó để đi đến một mục đích nhất định

+ Trong đại từ điển Tiếng Việt thì biện pháp là cách làm, cách thức giải quyết một vấn đề

Vậy, chúng ta có thể hiểu biện pháp là cách giải quyết một vấn đề nhằm đạt được mục đích đã định trước

1.1.4 Khái niệm về biện pháp giáo dục

Biện pháp giáo dục là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học[25] 1.1.5 Khái niệm về biện pháp giáo dục về biển – đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi

Biện pháp giáo dục về biển – đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất có liên quan về biển – đảo để giáo dục và hình thành ở trẻ nền tảng kiến thức về biển - đảo, từ đó góp phần giúp trẻ có ý thức bảo vệ môi trường biển – đảo và tình yêu biển – đảo

1.1.6 Khái niệm về thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng, chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra

Trang 34

1.2 Nội dung giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh

1.2.1 Tìm hiểu khái quát về bãi biển, các đảo và quần đảo lớn của nước ta

- Trẻ biết được tên gọi của các bãi biển lớn (Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên), đảo (Phú Quốc, Lý Sơn, Côn Đảo) và quần đảo lớn (Trường Sa, Hoàng Sa)

- Trẻ biết xác định vị trí các bãi biển, các đảo và quần đảo lớn trên bản đồ

1.2.2 Đặc điểm của các ngành kinh tế biển

Trẻ biết tên các ngành kinh tế biển như: Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, khai thác và chế biến khoáng sản, du lịch biển - đảo, giao thông vận tải biển

- Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản: Giáo viên cung cấp vùng biển nước ta giàu

có với hơn 2000 loài cá, trong đó khoảng 110 loài có giá trị kinh tế (cá nục, cá trích, cá thu, cá ngừ, cá hồng, ), 100 loài tôm có giá trị xuất khẩu cao (tôm he, tôm hùm, ) Trẻ biết các loại hình đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản gồm đánh bắt gần bờ và đánh bắt

xa bờ Dọc bờ biển có nhiều vụng, vịnh, đầm phá, cửa sông, vùng ngập mặn, thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy hải sản Điều này mang lại nguồn lợi kinh tế cho nước ta

- Khai thác và chế biến khoáng sản: Trẻ biết được các mỏ dầu khí có trữ lượng lớn, nhất là thềm lục địa phía Nam.Trẻ biết biển mặn, nhiều nắng thuận lợi cho nghề làm muối

- Du lịch biển - đảo: Trẻ biết được tiềm năng du lịch biển Có Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới

- Giao thông vận tải biển: Giáo viên cung cấp cho trẻ một số thông tin về đặc điểm lãnh thổ nước ta có liên quan đến giao thông đường biển Có nhiều cảng biển lớn thuận lợi cho việc vận chuyển trao đổi hàng hóa bằng đường biển

1.2.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển - đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Trẻ phân biệt được hành động đúng - sai thông qua tranh ảnh, video và biết xử

lý những tình huống về những hành động đó

- Trẻ hiểu được việc BVMT biển - đảo là trách nhiệm của mọi người

- Trẻ hiểu được cuộc sống của người dân vùng biển - đảo Từ đó, trẻ biết quan tâm, chia sẻ với cuộc sống của họ, đồng thời thêm trân trọng cuộc sống của bản thân

Trang 35

1.3 Ý nghĩa của việc giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh cho trẻ 5 – 6 tuổi

-Nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nhận thức của trẻ về biển - đảo, góp phần hình thành tình yêu biển - đảo, tình yêu quê hương đất nước cho trẻ

-Trang bị cho trẻ một số hiểu biết về các yếu tố của môi trường biển - đảo (tài nguyên biển, thủy sản, khoáng sản…) để từ đó cung cấp cho trẻ một số khái niệm mới (khái niệm môi trường biển - đảo)và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường biển - đảo

- Khơi gợi tình yêu biển đảo cho trẻ góp phần hình thành ý thức bảo vệ môi trường biển - đảo Đó là:

+ Biết yêu quí môi trường biển - đảo thể hiện bằng việc biết bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển - đảo, không vứt rác bừa bãi xuống biển…

+ Biết phân biệt được những hành vi đúng - sai góp phần bảo vệ môi trường biển - đảo

- Kích thích trí tò mò, ham hiểu biết muốn khám phá và tìm hiểu môi trường biển

- đảo thông qua trò chơi

Trẻ mầm non 5 - 6 tuổi rất nhạy cảm với những đề xung quanh, các hiện tượng

sự kiện xung quanh trẻ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thiên nhiên càng có sức hút

kỳ lạ thúc đẩy đứa trẻ thích thú tìm hiểu khám phá Chính yếu tố này là điều kiện thuận lợi để chúng ta tổ chức các hoạt động cho trẻ tìm hiểu về biển - đảo

Qua quá trình tham gia hoạt động làm quen môi trường xung quanh trẻ lĩnh hội các tri thức về biển - đảo, trẻ tìm hiểu khám phá để phát hiện thêm những vùng biển - đảo đẹp mà bản thân chưa biết, qua khám phá trẻ nắm được biển - đảo có những đặc điểm, đặc trưng như thế nào, trẻ khám phá để nhận ra những tác động qua lại giữa con người với biển, trẻ hiểu được lợi ích của biển - đảo, nhận ra những nguyên nhân ảnh hưởng xấu đến biển - đảo, và vì sao cần phải bảo vệ chủ quyền biển -đảo

Thông qua hoạt động này trẻ được trực tiếp thao tác, hành động, hoạt động với đối tượng, nhờ đó mà các đối tượng về biển - đảo như tranh ảnh, mô hình về biển - đảo, các đoạn phim về biển - đảo được trẻ trực tiếp tri giác, quan sát, suy luận và ghi nhớ, các quá trình tâm lí nhận thức: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ, tưởng tượng, được rèn luyện, phát triển này giúp trẻ hình thành các biểu tượng về biển - đảo một cách sâu sắc, không gò bó, ép buộc

Trang 36

Khi cho trẻ tham gia vào hoạt động làm quen môi trường xung quanh để hình thành các kiến thức về biển - đảo, nhà giáo dục cần lựa chọn nội dung giáo dục biển - đảo phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, đưa ra hình thức hoạt động đa dạng hấp dẫn để trẻ tham gia lĩnh hội tri thức hình thành kiến thức, thái độ và hành vi tích cực về biển - đảo

Như vậy, chúng ta thấy rằng các hoạt động khám phá khoa học của trẻ mầm non

là một hoạt động hấp dẫn và mang lại nhiều hiệu quả giúp đứa trẻ phát triển tốt Tuy nhiên, dưới góc nhìn của nhà giáo dục thì để hoạt động này phát huy tốt hiệu quả thì phụ thuộc rất nhiều vào cách khai thác của giáo viên

Cách khai thác và lồng ghép các nội dung giáo dục biển - đảo của giáo viên từ các hoạt động khám phá khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của trẻ Khi khai thác nội dung tri thức giáo viên nên xuất phát từ nhu cầu, khả năng, hứng thú của trẻ “Lấy trẻ làm trung tâm” cho mọi hoạt động

1.4 Cơ sở tâm, sinh lý của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ

- Trẻ lứa tuổi mầm non rất thích hoạt động, khám phá; thích tiếp xúc với thiên nhiên; dễ hình thành nề nếp, thói quen, thái độ ứng xử đúng đắn, có văn hóa đó là những yếu tố thuận lợi cho việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi[20]

- Lứa tuổi mầm non là thời kì phát triển và hoàn thiện về tất cả các cơ quan trong

cơ thể Đây chính là tiền đề cho việc giáo dục về biển - đảo qua hoạt động làm quenvới MTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non Cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng rõ rệt hệ cơ quan (hệ vận động, hệ hô hấp…) phát triển một cách vượt bậc giúp cơ thể trở nên linh hoạt, tạo điều kiện cho trẻ yêu và thích tìm hiểu về biển - đảo

- Cơ quan thính giác của trẻ cũng được củng cố và hoàn thiện, kinh nghiệm về biển - đảo của trẻ tích lũy được nhiều hơn, tạo tiền đề giúp trẻ biết và hiểu về biển - đảo một cách sâu sắc hơn

- Tính chủ động của trẻ phát triển Ghi nhớ của trẻ ngày càng có tính chủ định,

sự chú ý đã tập trung hơn, bền vững hơn, trẻ biết điều khiển chú ý của mình, tự giác hướng chú ý của mình vào một chủ thể nhất định

Trang 37

- Tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy lôgic dần thay thế tư duy trực quan, hành động Đây là điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ tìm hiểu về biển - đảo qua hoạt động làm quenvớiMTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ

Việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen MTXQ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tuy nhiên nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có 3 yếu tố cơ bản và ảnh hưởng lớn nhất Đó là bản thân trẻ, môi trường giáo dục

và người lớn[20]

1.5.1 Yếu tố thứ nhất: Bản thân trẻ

Với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức, bản thân trẻ em quyết định sự phát triển của chính mình Theo J.Piaget, trẻ em ở các lứa tuổi khám phá thế giới bằng những cách khác nhau Trẻ từ 2 - 7 tuổi sử dụng ngôn ngữ để diễn tả các khái niệm, biết

sử dụng các hành động biểu trưng từ các hoạt động làm quen MTXQ và đó chính là cơ

sở giúp trẻ nắm được các kiến thức về biển - đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thể hiện tính tích cực của chúng

1.5.2 Yếu tố thứ hai: Môi trường

Trẻ tiếp thu tri thức thông qua việc tác động với môi trường J.Piaget cho rằng có

3 loại tri thức mà trẻ có thể học được trong môi trường Đó là tri thức và đặc điểm về đối tượng, tri thức về mối quan hệ mà cá nhân tự xây dựng để tố chức thông tin, tri thức

có liên quan đến các quy tắc xã hội do con người xây dựng Vưgốtki cho rằng khi trẻ học cách sử dụng các đồ dùng, đồ chơi hay công cụ lao động về chủ đề, lĩnh vực mà GV hướng tới trẻ, thì đồng thời kiến thức về chủ đề, lĩnh vực đó cũng phát triển

Do vậy, đối với trẻ thì môi trường chi phối rất nhiều đến hoạt động, hành vi của chúng Để giúp trẻ hoạt động tích cực, chủ động các nhà giáo dục nên sử dụng môi trường với tư cách là yếu tố để điều chỉnh các hành vi cá nhân bằng cách quan tâm đến việc tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ, điều chỉnh hành vi, hoạt động của trẻ thông qua môi trường

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, để có thể phát huy tính tích cực cho trẻ khi giáo dục về biển - đảo cho trẻ, giáo viên cần tạo môi trường hoạt động, đồ dùng, đồ chơi

Trang 38

vềbiển - đảo cho trẻ Từ đó trẻ sẽ có kiến thức và hành vi đúng đắn khi được vui chơi, học tập trong môi trường đó

1.5.3 Yếu tố thứ ba: Tác động của người lớn

L.X.Vưgốtki đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người lớn đối với sự phát triển nhận thức trẻ em Ông cho rằng: Sự phát triển nhận thức của trẻ là do tương tác bên trong và bên ngoài, người lớn và bạn cùng chơi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí tuệ của trẻ Do vậy, giáo viên phải đưa ra những học liệu cao hơn mức độ phát triển của trẻ và người lớn không được áp đặt mà thay vào đó là phải trợ giúp cho quá trình này phát triển, là người tạo môi trường và trợ giúp cho quá trình phát triển của trẻ tiến về phía trước nhanh hơn Như vậy, người lớn sẽ góp phần tạo môi trường và trợ giúp cho trẻ có hành vi đúng đắn khi giáo dục biển - đảo cho trẻ

1.6 Mục đích của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường mầm non

Giáo dục cho trẻ nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền biển - đảo quốc gia và nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đảo Việt Nam; bổ sung thêm thông tin và nâng cao hiểu biết cho trẻ về tiềm năng, mức độ khai thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Từ đó, khơi gợi lòng yêu nước của trẻ, giúp trẻ nhận thức đúng về vai trò của biển đảo, chủ quyền của

Tổ quốc, trách nhiệm của công dân Từ đó, trẻ sẽ có động cơ học tập tốt và có suy nghĩ, hành động đúng đắn để góp phần bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển - đảo thiêng liêng của đất nước

Mục đích của việc giáo dục về biển - đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi là mở rộng cho trẻ tri thức về biển - đảo, hình thành thái độ tích cực của trẻ đối với biển - đảo quê hương Vì vậy cần xây dựng môi trường giáo dục lựa chọn các phương tiện phù hợp kích thích trẻ tham gia hoạt động khám phá các vấn đề về biển - đảo

Tóm lại, trẻ có ý thức bảo vệ môi trường nơi trẻ sống là góp phần nhỏ bé bảo vệ môi trường biển và hải đảo Là một người giáo viên mầm non tương lai sẽ là người đặt những viên gạch đầu tiên cho những thế hệ tương lai của đất nước, chúng tôi nhận ra một điều thật quan trọng trong công việc của mình là cần phải giáo dục cho trẻ ngay từ bậc học mầm non ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường biển và hải

Trang 39

đảo Điều này vô cùng quan trọng trong đời sống của trẻ sau này, đó là nền móng cho

sự hiểu biết về đất nước, kích thích ý thức bảo vệ biển - đảo quê hương của trẻ

1.7 Các hình thức và phương pháp giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường mầm non

1.7.1 Các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục về biển - đảo cho trẻ MG

5 - 6 tuổi

1.7.1.1 Theo mục đích và nội dung giáo dục, có các hình thức:

- Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của trẻ

- Tổ chức lễ, hội: Lễ hội là một hoạt động văn hóa thu hút đông đảo quần chúng tham gia với tư cách vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người hưởng thụ những thành quả

do hoạt động văn hóa đó mang lại Lễ hội xuất hiện khắp mọi nơi trên cả nước nhưng lễ hội ở các địa phương vùng biển Việt Nam vừa độc đáo, đặc sắc vừa mang đậm hơi thở cuộc sống của người dân vùng biển

Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục biển - đảo và mang lại niềm vui cho trẻ như Lễ hộiNghinh Ông (Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp Hồ Chí Minh, Bạc Liêu), (Lễ hội cầu ngư hoặc lễ hội Nghinh Ông là loại hình lễ hội cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho ngư dân làm ăn trên biển thuận lợi, an toàn), tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam(từ ngày 01/06 đến ngày 08/06 hằng năm), ngày môi trường thế giới (05/06), ngày Đại dương thế giới (08/06), Ngày Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12),…

Ví dụ như nhân tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam(từ ngày 01/06 đến ngày 08/06 hằng năm) kết hợp ngày môi trường thế giới (05/06) đồng thời hưởng ứng ngày Đại dương thế giới (08/06) giáo viên kết hợp cho trẻ tham gia các hoạt động như vẽ tranh về biển – đảo, tham gia văn nghệ “Bé yêu biển – đảo Việt Nam”, bé tham gia nhặt rác quanh sân trường để hưởng ứng ngày môi trường thế giới,…

1.7.1.2 Theo vị trí không gian, có các hình thức:

Trang 40

xếp bố trí ở tầm mắt của trẻ, thuận lợi cho việc mở rộng nội dung chơi gắn với nội dung giáo dục về biển – đảo

Trang trí môi trường trong nhóm, lớp, bố trí tranh, ảnh ở các khu vực hoạt động cần đảm bảo tính thẩm mỹ, mang tính chất mở, các sản phẩm tranh, ảnh của cô và trẻ trong quá trình triển khai nội dung giáo dục về biển – đảo, tạo sự mới mẻ, hấp dẫn, kích thích trẻ hoạt động

- Tổ chức hoạt động ngoài trời

Hoạt động ngoài trời là một trong các hình thức tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ mầm non phát huy được những ưu điểm qua các hoạt động như: giúp trẻ phát triển

về các mặt đức, trí, thể, mỹ và lao động Hoạt động ngoài trời là một trong những hoạt động vui chơi mà trẻ hứng thú nhất, mang lại cho trẻ nhiều niềm vui và kiến thức cần thiết về thế giới xung quanh trẻ Trẻ nhận thức được thế giới xung quanh bằng cách tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá và quan tâm đến những gì xảy ra ở cuộc sống xung quanh mình Qua hoạt động ngoài trời trẻ thỏa mãn nhu cầu hoạt động, nhu cầu tìm hiểu, khám phá của bản thân Hoạt động vui chơi ngoài trời tạo cho trẻ sự nhanh nhẹn và hứng thú với môi trường tự nhiên đồng thời trẻ tự tin, mạnh dạn trong cuộc sống

Với trẻ, vạn vật đang diễn ra trong thế giới này đều mới mẻ, sống động, cuốn hút

và luôn luôn kích thích trí tò mò Khi trẻ đùa nghịch, chơi đùa ngoài thiên nhiên, lựa chọn các nhóm chơi theo ý thích của mình một cách thoải mái, không gò bó Qua đó trẻ

có thể khám phá, học hỏi và có điều kiện phát triển tốt nhất những cảm xúc tích cực của mình

Nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã chứng minh: Không gì khiến trẻ thấy thoải mái, tự tin và vui vẻ hơn khi trẻ được chạm tay vào mọi thứ xung quanh và tự khám phá sự việc bằng các giác quan, cảm xúc của mình Và khi trẻ khám phá về biển – đảo qua hoạt động ngoài trời cũng như vậy, qua những mô hình, những tranh ảnh,… về biển – đảo sẽ giúp cho trẻ có cái nhìn thực tế hơn về biển – đảo, từ đó hình thành cho trẻ có thêm kiến thức về biển – đảo cho bản thân trẻ

Với những lợi ích trên, GV nên thường xuyên tổ chức cho các bé tham gia các hoạt động ngoài trời liên quan tới giáo dục về biển – đảo cho trẻ Và những hoạt động này đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực, giúp các bé vui vẻ, hạnh phúc và học tập tốt hơn

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w