Phát huy tư duy độc lập, năng lực sáng tạo của người học được đề cập ở rất nhiều cấp độ, hình thức khác nhau như: Tổ chức các cuộc thi “Trải nghiệm hoạt động sáng tạo” cho học sinh các c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2018 – 2019
MỨC ĐỘ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN KHOA GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Chủ nhiệm đề tài
Đinh Ngọc Thắng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ……… v
CHÚ GIẢI CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI……….vii
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU viii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SÁNG TẠO 5
1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Khái niệm sáng tạo 5
1.1.3 Năng lực sáng tạo 8
1.1.4 Hoạt động sáng tạo 8
1.2 Năng lực sáng tạo trong Tâm lý học hiện đại 8
1.3 Cấu trúc của năng lực sáng tạo 16
1.3.1 Cấu trúc năng lực sáng tạo theo J Guilford (1897-1987) 16
1.3.2 Cấu trúc năng lực sáng tạo của Viktor Lowenfeld (1903–1960) 19
1.3.3 Cấu trúc năng lực sáng tạo của Klaus K Urban 20
1.4 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo 24
1.5 Đặc điểm sáng tạo của lứa tuổi SV 26
1.5.1 Đặc điểm hoạt động học tập của SV 26
1.5.2 Đặc điểm hoạt động nhận thức của SV 28
1.5.3 Đặc điểm năng lực sáng tạo của SV 29
1.5.4 Môi trường đại học và sự phát triển sáng tạo của SV 32
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 MỨC ĐỘ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN KHOA GIÁO DỤC - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP 35
2.1 Một số đặc điểm của sinh SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 35
2.1.1 Giới thiệu khái quát về Trường ĐH Đồng Tháp 35
2.1.2 Lược sử về khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp 37
2.1.3 Số lượng SV và cơ cấu các CNĐT năm học 2018-2019 39
2.2 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường Đại học Đồng Tháp 41
Trang 52.2.1 Mức độ sáng tạo chung của SV khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp
qua kết quả trắc nghiệm “TSD-Z” (K K Urban) 41
2.2.2 Mức độ sáng tạo chung của SV khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp qua kết quả trắc nghiệm “Các thành phần sáng tạo” (E Tunic) 42
2.2.3 So sánh kết quả về mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp qua kết quả trắc nghiệm “TSD-Z” (K K Urban) và “Các thành phần sáng tạo” (E Tunic) 43
2.2.4 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp qua kết quả trắc nghiệm “Các thành phần sáng tạo” của E Tunic theo CNĐT 44
2.2.5 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp qua kết quả trắc nghiệm “Các thành phần sáng tạo” (E Tunic) theo năm học 44
2.2.6 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp theo CNĐT và năm học 46
2.3 Mức độ các thành phần sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 47
2.3.1 Mức độ các thành phần sáng tạo (chung) của SV khoa Giáo dục 47
2.3.2 Mức độ trí tưởng tượng của SV khoa Giáo dục theo CNĐT và năm học 49
2.3.3 Mức độ mạo hiểm của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 51
2.3.4 Mức độ đa chiều SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 53
2.3.5 Mức độ hiếu kỳ và tò mò của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 55
2.4 Đặc điểm trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 57
2.4.1 Đặc điểm trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp biểu hiện trong các thành phần sáng tạo 57
2.4.2 Đặc điểm trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp biểu hiện trong sản phẩm (tranh vẽ) trắc nghiệm “TSD-Z” (K K Urban) qua các tiêu chí đánh giá 58
2.4.3 Đặc điểm trí sáng tạo đặc trưng của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp biểu hiện trong phiếu khảo sát 60
2.5 Các biện pháp nâng cao trí sáng tạo cho SV khoa Giáo dục - trường ĐH Đồng Tháp 62
Tiểu kết chương 2 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 67
Trang 62.1 Đối với SV 67
2.2 Đối với GV 69
2.3 Đối với khoa Giáo dục 70
2.4 Đối với Trường Đại học Đồng Tháp 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ
Các bảng số liệu:
Bảng 1.1 Tương quan của các năng lực sáng tạo với các yếu tố của trí tuệ
theo J Guilford (Erika Landau – 1984) 18
Bảng 1.2 Các năng lực cần thiết trong các pha của quá trình sáng tạo (Erika Landau – 1984) 19
Bảng 2.1 Số lượng SV khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp năm học 2018 – 2019 39
Bảng 2.2 Mức độ sáng tạo chung của SV khoa Giáo dục thể hiện qua kết quả trắc nghiệm “TSD-Z” (K K Urban) 41
Bảng 2.3 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục bằng kết quả trắc nghiệm “Các thành phần sáng tạo” của E Tunic 42
Bảng 2.4 Mức độ sáng tạo của SV qua kết quả trắc nghiệm của K K Urban và E E Tunic 43
Bảng 2.5 So sánh giá trị trung bình giữa điểm đạt được của SV trong kết quả trắc nghiệm “Các thành phần sáng tạo” (E Tunic) của SVGDMN, SVGDTH và SVGDTH-CLC 44
Bảng 2.6 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục theo ngành đào tạo 44
Bảng 2.7 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục theo năm học 46
Bảng 2.8 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục theo CNĐT và năm học 47
Bảng 2.9 Mức độ các thành phần sáng tạo (chung) của SV khoa Giáo dục 47
Bảng 2.10 Mức độ trí tưởng tượng của SV khoa Giáo dục theo CNĐT và năm học 49
Bảng 2.11 Mức độ mạo hiểm của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 51
Bảng 2.12 Mức độ đa chiều của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp 53
Bảng 2.13 Mức độ hiếu kỳ và tò mò của SV khoa Giáo dục 55
Bảng 2.14 Điểm số SV đạt được trong 14 tiêu chí của trắc nghiệm “TSD-Z” 58
Trang 8Bảng 2.15 Kết quả phiếu khảo sát (SV và GV) về đặc điểm trí sáng tạo của
SV có trí sáng tạo cao 60
Bảng 2.16 Kết quả phiếu trưng cầu ý kiến (SV và GV) về các biện pháp nâng cao trí sáng tạo cho SV 62
Các hình ảnh: Hình 1 Mô hình cấu trúc trí tuệ của J Guilford 17
Hình 2 Mô hình cấu trúc thành tố của năng lực sáng tạo 20
Các biểu đồ: Biểu đồ 1 Quy luật diễn biến của hoạt động sáng tạo theo tuổi đời 29
Biểu đồ 2 Mức độ sáng tạo chung của SV khoa Giáo dục (K K Urban) 41
Biểu đồ 3 Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục (trắc nghiệm E Tunis) 42
Biểu đồ 4 So sánh kết quả về mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục 43
Biểu đồ 5 So sánh mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục theo CNĐT 45
Biểu đồ 6 So sánh mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục theo năm học 46
Biểu đồ 7 So sánh mức độ các thành phần sáng tạo (chung) của SV 48
Biểu đồ 8 Mức độ trí tưởng tượng của SV khoa Giáo dục theo CNĐT 50
Biểu đồ 9 Mức độ tưởng tượng của SV (GDMN và GDTH) khoa Giáo dục theo năm học 50
Biểu đồ 10 Mức độ mạo hiểm của SV khoa Giáo dục theo CNĐT 52
Biểu đồ 11 Mức độ mạo hiểm của SV khoa Giáo dục theo năm học 52
Biểu đồ 12 Mức độ đa chiều SV khoa Giáo dục theo CNĐT 54
Biểu đồ 13 Mức độ đa chiều SV khoa Giáo dục theo năm học 54
Biểu đồ 14 Mức độ hiều kỳ và tò mò của SV khoa Giáo dục theo CNĐT 56
Biểu đồ 15 Mức độ hiếu kỳ và tò mò của SV khoa Giáo dục năm học 56
Trang 9CHÚ GIẢI CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT TỪ VIẾT TẮT KÝ HIỆU STT TỪ VIẾT TẮT KÝ HIỆU
Trang 10THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
Tên đề tài: Nghiên cứu mức độ sáng tạo của sinh viên khoa Giáo dục –
Trường Đại học Đồng Tháp
Mã số: SPD2018.01.07
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sĩ Tâm lý học Đinh Ngọc Thắng
Thời gian thực hiện: Năm học 2018 - 2019
Đề xuất các biện pháp phù hợp, hiệu quả để phát triển sáng tạo của sinh viên khoa Giáo dục - Trường Đại học Đồng Tháp
4 Kết quả nghiên cứu
Hệ thống lý luận tổng quan và hiện đại về sáng tạo
Thực trạng về mức độ, đặc điểm sáng tạo của sinh viên khoa Giáo dục – Trường Đại học Đồng Tháp
Hệ thống các biện pháp phù hợp, hiệu quả để phát triển trí sáng tạo của sinh viên khoa Giáo dục - Trường Đại học Đồng Tháp
5 Sản phẩm
Bài báo khoa học đăng Tạp chí Giáo dục (0,75 điểm)
Báo cáo tổng kết và tóm tắt của đề tài nghiên cứu
6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ được nộp cho Phòng Khoa học – Công nghệ và chuyển
Trang 11giao cho Thư viện, Khoa Giáo dục; Tổ Tâm lý học - Giáo dục học ứng dụng triển khai
để phát triển sáng tạo cho sinh viên khoa giáo dục - Trường Đại học Đồng Tháp
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu quan trọng để giảng viên nói chung và giảng viên Tổ Tâm lý và Giáo dục học Trường Đại học Đồng Tháp ứng dụng vào thực tiễn nhằm phát triển trí sáng tạo cho sinh viên
Là nguồn tài liệu và cơ sở khoa học quan trọng để sinh viên tự đánh giá năng lực của họ, qua đó tiến hành những biện pháp để nâng cao mức độ sáng tạo của bản thân
Là nguồn tài liệu khoa học để giảng viên và sinh viên nghiên cứu, tham khảo trong quá trình nghiên cứu và học tập
Trang 12INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Study on the creativity level of Faculty of Education’s students at Dong Thap University
Code number: SPD2018.01.07
Author: Ngoc Thang Dinh, Master of Psychology
Duration: academic year 2018 - 2019
2 Objective(s):
The project aims to develop a reliable system of practical and scientific theories as well as effective impact measures to develop creativity for Faculty of Education’s students at Dong Thap University
3 Creativeness and innovativeness:
Systematize knowledge and research results on creativity through sources of material and results of new creative research works
Use new research methods (that have not been used in Vietnam) to study student’s creativity Also, the research clearly identifies the level and creative characteristics at the student age through practical research results
Propose suitable and effective measures to develop creativity of Faculty of Education’s students at Dong Thap University
4 Research results:
The general and modern theoretical system of creation
The reality on the extent and creative characteristics of students of Faculty of Education at Dong Thap University
The system of appropriate and effective measures to develop the creativity of students of Faculty of Education at Dong Thap University
5 Products:
An scientific article published on The Education Journal, (0,75 pts)
A summary and report on the project completion
6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results:
The completed research project will be submitted to the Office of Science and
Trang 13Technology Management and be forwarded to the Le Vu Hung Library and Information Center, Faculty of Education, Group of Psychology and Pedagogics in order to promote and develop creativity for Faculty of Education’s students at Dong Thap University
The findings from the project will be used as an important reference material for lecturers in general and lecturers in the Group of Psychology and Pedagogics who then apply it into their teaching process to develop creativity for students of Faculty of Education at Dong Thap University
It is an important resource and scientific basis for students to assess their abilities by themselves, thereby taking measures to improve their creativity Also, this is a scientific material for lecturers and students to research and make references in research and learning process
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sáng tạo đang là đối tượng của rất nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu, bởi nó là một nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển mọi mặt nền văn minh nhân loại, nhất là trong quản lý kinh tế và trong nền khoa học – kỹ thuật – công nghệ Tuy vậy, lịch sử tiếp cận vấn đề sáng tạo lại diễn ra không mấy thuận lợi như các đối tượng nghiên cứu khác Sáng tạo được các nhà triết học và toán học lớn quan tâm từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên, nhưng sau đó, nó lại bị lãng quên trong hơn 16 thế kỷ sau đó Vào khoảng thập niên 50 – 60 của thế kỷ XX, sáng tạo mới được quan tâm nghiên cứu trở lại Từ đó, có thể khẳng định rằng Sáng tạo đang là một vấn đề mới mẻ đối với các nhà khoa học nghiên cứu nó
Tâm lý học sáng tạo là một mảng của Khoa học tâm lý có đóng góp nhiều thành tựu cho hệ thống khoa học khám phá về sáng tạo Nhưng hiện tại vẫn tồn tại nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong kết quả nghiên cứu được công bố giữa các nhà khoa học Những bất đồng, mâu thuẫn ấy cần được khỏa lấp và làm sáng tỏ bằng các nghiên cứu tiếp theo khi tiếp cận vấn đề sáng tạo với những góc độ mới, trên những đối tượng và phạm vi nghiên cứu mới
Hơn 20 năm trở lại đây, vấn đề sáng tạo mới được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu diễn ra nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống, không được đầu tư đồng bộ, không được quan tâm đúng mức Kết quả nghiên cứu của các công trình này chỉ dừng lại ở phương diện tiếp cận về lý luận của sáng tạo, Việt hóa các bộ trắc nghiệm sáng tạo, tập trung vào đo lường mức độ trí sáng tạo và chú trọng vào vấn đề sáng tạo ở lứa tuổi trẻ em Có rất ít các công trình nghiên cứu sáng tạo tiếp cận các lứa tuổi khác, cũng như đối với các lĩnh vực hoạt động ngành nghề
cụ thể Chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu các thành tố cấu thành của sáng tạo, bóc tách các đặc điểm biểu hiện của trí sáng tạo và xem xét các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển của năng lực sáng tạo
Hệ thống các phương pháp nghiên cứu sáng tạo ở Việt Nam chưa phong phú,
đa dạng, chưa đón bắt được những phương pháp nghiên cứu sáng tạo mới của thế giới Điều này đặt ra yêu cầu bức thiết là cần đầu tư, đẩy mạnh các nghiên cứu về sáng tạo có kế thừa, sử dụng các phương pháp nghiên cứu sáng tạo mới ở Việt Nam
Trang 15Thời gian gần đây, nền giáo dục Việt Nam đã xem việc phát triển trí sáng tạo cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu cần thực hiện Phát huy tư duy độc lập, năng lực sáng tạo của người học được đề cập ở rất nhiều cấp độ, hình thức khác nhau như: Tổ chức các cuộc thi “Trải nghiệm hoạt động sáng tạo” cho học sinh các cấp; “Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14” (theo Quyết định số 289/QĐ-LHHVN ngày 19 tháng 4 năm 2016 của Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam); Qũy hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)… Tuy vậy, xét trên bình diện tổng thể thì sáng tạo vẫn
là một vấn đề còn quá xa lạ với những nhà quản lý Giáo dục, với đội ngũ giáo viên
ở bậc giáo dục Phổ thông và đội ngũ GV của các trường ĐH
Trong những năm gần đây, Trường ĐH Đồng Tháp đang đẩy mạnh việc phát triển năng lực sáng tạo cho SV Trường ĐH Đồng Tháp đã tổ chức phòng trào
“Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở SV”, tiếp cận sáng tạo ở nhiều góc độ khác nhau
từ cơ sở lí luận đến hoạt động thực tiễn cụ thể Năm 2008, Đinh Ngọc Thắng đã thực hiện đề tài “Trí sáng tạo của SV năm thứ nhất trường ĐHSP Đồng Tháp”, kết luận của đề tài này chỉ ra rằng mức độ trí sáng tạo của SV năm thứ nhất thấp do một
số tiêu chí quan trọng của trí sáng tạo không thể hiện tốt ở SV Đến nay, vẫn chưa
có một công trình nghiên cứu toàn diện nào về mức độ, đặc điểm, sự khác biệt năng lực sáng tạo giữa SV các khóa học khác nhau và cách ngành đào tạo khác nhau để làm cơ sở về lí luận và thực tiễn cho những công trình nghiên cứu ứng dụng khác về sáng tạo, hoặc có những căn cứ khoa học nhằm định hướng cho quá trình phát triển trí sáng tạo ở SV
SV khoa Giáo dục được đào tạo ở hai ngành Sư phạm mầm non và Sư phạm Tiểu học, họ sẽ trở thành giáo viên ở hai bậc giáo dục quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam Họ cần năng lực sáng tạo trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ sau này như: Thiết kế, tổ chức và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học và giáo dục (thiết kế, sử dụng đồ dùng dạy học và giáo dục; thiết kế, thử nghiệm, ứng dụng phương pháp dạy học và giáo dục mới, tích cực; thiết kế, đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập và giáo dục của học sinh…) Hơn nữa, lứa tuổi trẻ em mầm non và học sinh tiểu học là hai lứa tuổi quan trọng để hình thành và phát triển trí sáng tạo Việc đặt nền móng để phát triển năng lực sáng tạo cho cả cuộc đời con
Trang 16người đã được khoa học khẳng định nằm cốt yếu ở hai lứa tuổi này, muốn vậy, các giáo viên ở hai bậc giáo dục nay phải là những người am tường về sáng tạo và có trí sáng tạo phát triển ở mức độ cần thiết
Trên đây là những lí do để chúng tôi chọn đề tài: “Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên 287 SV các năm học (năm I; II; III và IV) và 17 GV của ngành GDMN và GDTH học thuộc khoa Giáo dục – Trường ĐH Đồng Tháp
3 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng được khung lý luận về sáng tạo của SV
- Xác định được mức độ sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp
- Đề xuất biện pháp phát triển sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận về sáng tạo để xây dựng được hệ thống cơ sở lý
luận của đề tài, làm cơ sở định hướng cho toàn bộ hoạt động nghiên cứu thực tiễn tiếp theo
4.2 Sưu tầm, lựa chọn và xây dựng hệ thống các phương pháp, công cụ nghiên cứu phù hợp, hiệu quả để tác động vào đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập
thông tin cần thiết và các kết quả nghiên cứu
4.3 Làm sáng tỏ thực trạng về mức độ, đặc điểm sáng tạo của SV khoa
Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp
4.4 Đề xuất các giải pháp tác động cụ thể, phù hợp, khả thi và hiệu quả trong
việc phát triển năng lực sáng tạo cho SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, phân loại, đọc – tra cứu, phân tích – tổng hợp, bổ sung các tài liệu
có liên quan đến trí sáng tạo, trí sáng tạo của SV để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Trang 175.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Quan sát: Thu thập thông tin cần thiết để cung cấp, bổ trợ cho kết quả của các phương pháp nghiên cứu khác
b) Đàm thoại: Thu thập các thông tin, quan điểm về trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục (mức độ, biểu hiện) từ khách thể nghiên cứu (SV, GV, nhà quản lý…)
c) Điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng bảng hỏi để thu thập thông tin từ SV và
GV về các biểu hiện, đặc điểm trí sáng tạo của SV Thu thập các ý kiến của họ về các biện pháp đề xuất để phát triển trí sáng tạo cho SV
d) Trắc nghiệm: Sử dụng các trắc nghiệm sáng tạo của E E Tunic (Liên bang Nga) và của K K Urban (Liên bang Đức) để đo lường mức độ, đặc điểm, các thành phần cơ bản trí sáng tạo của SV
e) Nghiên cứu sản phẩm của hoạt động: Xem xét, phân tích sản phẩm của hoạt động sáng tạo (tranh vẽ) của SV nhằm thu thập thêm các thông tin cần thiết về trí sáng tạo của họ
5.3 Thống kê toán học
Sử dụng xác suất thống kê để xử lí số liệu, so sánh tỉ lệ tương quan của nhóm, tổng thể và kiểm định các giá trị độ lệch chuẩn, giá trị điểm trung bình của tổng thể Qua đó, xác định mức độ tin cậy của các kết luận rút ra về mức độ trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp
6 Giả thuyết khoa học
Nếu làm sáng tỏ được mức độ và các đặc điểm cơ bản trí sáng tạo của SV khoa Giáo dục - Trường ĐH Đồng Tháp sẽ là cơ sở khoa học vững chắc để xác định các yếu tố tác động (thuận lợi và bất lợi) đến trí sáng tạo của họ, từ đó, có thể đề xuất những giải pháp tác động phù hợp, khả thi, hiệu quả để phát triển trí sáng tạo cho họ
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SÁNG TẠO
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm sáng tạo
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sáng tạo, sau đây là một số cách tiếp cận cụ thể:
Từ điển Tâm lý học (Liên Bang Nga) coi "sáng tạo là đặc điểm, phẩm chất con người giúp đem đến sự thành công của việc thực hiện các hoạt động sáng tạo" [12]
Theo từ điển Tiếng Việt thì sáng tạo được hiểu là "tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có" [2]
Từ điển Triết học: "Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp, như khoa học kĩ thuật, tổ chức quân sự Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần" [2]
S Freud cho rằng: “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự thay thế trò chơi trẻ con cũ”[8]
Smith (1964), Parnes (1964) và Guilford (1967) quả quyết rằng, “Mọi sự sáng tạo, dù ở đó đề cập đến nhạc giao hưởng, thơ tình, chế tạo máy bay mới, kỹ thuật bán hàng mới, loại dược phẩm mới hay công thức nấu món súp mới… đều dựa trên một thuộc tính chung của nhân cách, đó là năng lực tìm ra những mối quan
hệ giữa các kinh nghiệm vốn tồn tại đơn lẻ, rời rạc… những kinh nghiệm này dưới
tư duy mới sẽ tạo ra ý tưởng mới, hành động mới hay sản phẩm mới, độc đáo, phù hợp và có giá trị tối lợi” [7, 7]
Trường phái Gestal thì lại cho rằng sáng tạo là sự thấu hiểu xuất hiện khi người tư duy nắm bắt được những nét chính yếu của vấn đề và mối quan hệ của chúng với giải pháp cuối cùng Sáng tạo được coi là hoạt động giải quyết vấn đề đặc trưng bởi tính thới mẻ, tinh phi truyền thống, sự bền bỉ và khó khăn trong hình thành vấn đề (Newell và đồng nghiệp, 1962) [13]
В.Н Дружинин (1955-2001) định nghĩa các hành động của sự sáng tạo như
là một sự chuyển biến thực sự của hành vi có đối tượng, có văn hoá và chuyển biến bản thân [9]
Trang 19E.P.Tonance (Mĩ) đã khẳng định: "Sáng tạo là quá trình xác định các ý tưởng, giả thuyết nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả Kết quả này có ít nhiều mới
mẻ, có chút ít cái gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức
về nó" [8; 9]
Theo Chu Quang Thiềm (Trung Quốc) thì “"Sáng tạo là căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, gạt bỏ, chọn lọc tổng hợp lại để tạo thành một hình tượng mới" [3]
J.H.Lavsa (Tiệp Khắc cũ) cho rằng sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới, cách giải quyết mới [3]
Trần Hiệp - Đỗ Long có viết: "Sáng tạo là hoạt động tạo lập, phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải
có động cơ tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” [3]
Nguyễn Huy Tú viết: “Sáng tạo là một thuộc tính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó, con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [8]
Nguyễn Đức Uy cho rằng “sáng tạo đó là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân - một đằng là những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy - đằng khác”[1]
Như vậy, trong điều kiện chung có thể định nghĩa về sự sáng tạo như sau: sáng tạo là một hành phần của trí tuệ, cũng là một dạng năng lực của con người để tạo ra những cái mới mẻ, khác lạ, độc đáo về mặt bản chất (chưa bao giờ xuất hiện trước đó), thứ mà hướng tới để tạo ra lợi ích cho cá nhân, cộng đồng và nhân loại
1.1.2 Tư duy sáng tạo
Phan Dũng đã viết rằng: “ ý tưởng giải pháp đúng của bạn có đồng thời tính mới (ý tưởng đó do bạn tự tìm ra, trước đây bạn hoàn toàn không biết hoặc không biết nó là tối ưu) và tính ích lợi (đạt được mục đích đề ra), được gọi là ý
Trang 20tưởng sáng tạo Hoạt động tư duy của bạn đưa ra ý tưởng sáng tạo gọi là tư duy sáng tạo” [10; 61]
Nhiều nhà tâm lý học coi sự có mặt của tư duy phân kỳ là dấu hiệu của sáng tạo
Tư duy phân kỳ, theo Guilford (1970), là khả năng đưa ra những ý tưởng độc đáo với nhiều phương án, giải pháp cho vấn đề Torrance (1974) cho rằng các thành tố của tư duy sáng tạo nằm ở sự thành thục (khả năng tạo ra nhiều ý tưởng hay giải pháp cho vấn đề); tính mềm dẻo (khả năng xem xét hàng loạt cách tiếp cận tới vấn đề cùng một lúc); tính độc đáo (xu thế tạo ra nhiều ý tưởng khác với ý tưởng của những người khác) và tính chi tiết (khả năng đưa ra ý tưởng một cách chi tiết) [13; 213]
Tư duy sáng tạo là sự thống nhất của yếu tố trực giác và yếu tố lôgíc Sự hợp thành giữa chúng tạo nên mắt xích trung tâm trong cơ chế tâm lý học của hoạt động sáng tạo (Ponomarev, 1976) [13; 218]
Leontiev (2003), chúng tôi cho rằng tư duy sáng tạo cần được xem như một hoạt động giải quyết vấn đề mới bao gồm các thành tố động cơ, hành động lôgíc và hành động trực giác chứ không thể xem xét đơn giản như một thao tác hay một kỹ năng [13]
Tư duy sáng tạo được hiểu là một kiểu tư duy đặc trưng bởi sự sản sinh ra sản phẩm mới và xác lập các thành phần mới của hoạt động nhận thức nhằm tạo ra
nó Các thành phần này có liên quan đến động cơ, mục đích, đánh giá và các ý tưởng của chủ thể sáng tạo [3; 30]
Nguyễn Huy Tú khẳng định rằng: “Quá trình tư duy độc lập cho phép phát hiện ra những quan hệ “phi khái niệm” - từ những quan hệ chưa có trong kinh nghệm của chủ thể tư duy – và giải quyết được những vấn đề không thể giải quyết bằng vốn kinh nghiệm ấy gọi là tư duy sáng tạo” [8; 31]
Tư duy sáng tạo không đơn thuần dùng những biểu tượng, khái niệm và thao tác đã biết mà là sự tạo ra các hình ảnh mới, ý tưởng mới và phương thức mới, giải pháp mới để cải tạo hay đổi mới hiện thực Tư duy sáng tạo được bổ sung của tưởng tượng sáng tạo trong việc tìm cái mới Thiếu tưởng tượng sáng tạo thì cũng không
có tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo không đồng nhất với tư duy vấn đề, tư duy vấn
đề cũng giải quyết vấn đề mới nhưng dựa trên cơ sở những khái niệm - phương thức
đã biết [3; 31]
Trang 21độ nhanh [8; 29]
1.1.4 Hoạt động sáng tạo
Hoạt động sáng tạo được tiếp cận dưới cấu trúc vĩ mô của hoạt động thì đó là một hoạt động đặc biệt của con người bao gồm nhiều thành tố khác nhau để hướng đến kết quả cuối cùng là tạo ra “cái mới” [3; 33]
Hoạt động sáng tạo hướng đến để hiện thực hóa mục đích không phải bằng con đường trực tiếp nhờ kinh nghiệm, không bằng những phương tiện, công cụ quen thuộc, đã biết mà bằng những giải pháp mới mẻ, độc đáo - chưa có trong vốn kinh nghiệm của chủ thể thực hiện
Hoạt động sáng tạo luôn diễn ra hai pha liên tiếp xen kẽ lẫn nhau, tạo điều kiện tiền đề thúc đẩy lẫn nhau là: Pha sáng tạo và Pha tái tạo
1.2 Năng lực sáng tạo trong Tâm lý học hiện đại
Lịch sử nghiên cứu sáng tạo được tiến hành bằng ba xu hướng tiếp cận chính sau:
- Hướng thứ nhất: Xem xét sáng tạo trong kết quả đạt được của các nhà khoa học nổi tiếng trong quá trình tiến hành công việc của chính họ Quan điểm này bắt đầu từ C Darwin (1809-1882), tiếp sau là H Helmholtz (1821-1892), H Poincaré (1854-1912), V Steklov (1864-1926), W Cannon (1895-1962) và H Selye (1907-1982) Hướng nghiên cứu này đã đưa ra được một số kết luận thú vị về sáng tạo, tuy nhiên nhiều kết luận không thoát khỏi những nhận định mang tính chủ quan Những phân tích của các nhà khoa học khác sau đó đã khẳng định rằng các kết luận của các học giả thuộc xu hướng này chưa phản ánh đầy đủ về cơ chế của quá trình sáng tạo
và không thể xem xét được cấu trúc tâm lý của nó [32]
Trang 22- Hướng thứ hai – chú trọng vào phương pháp thực nghiệm, trắc nghiệm trên những mẫu cụ thể Đưa con người vào các tình huống thực nghiệm để qua đó làm bộc phát các tố chất của sáng tạo
- Hướng thứ ba nghiên cứu các tính năng của tính cách sáng tạo thông qua việc sử dụng thực nghiệm tâm lý, bảng hỏi và thống kê Các nhà nghiên cứu theo xu hướng này đang cố gắng khám phá những tính năng cơ bản của sáng tạo Đặc biệt nhận dạng chúng ở phương diện tiềm năng trong giai đoạn trẻ em, học sinh nhằm xây dựng các cơ sở cho quá trình tiếp nhận họ vào các trường đại học
Hướng tiếp cận nghiên cứu thứ hai và thứ ba đang được các nhà khoa học hiện thời tiến hành mở rộng và phát huy mạnh mẽ
Nhiều nhà tâm lý học đã liên kết năng lực với hoạt động sáng tạo theo những cách suy nghĩ khác nhau Đặc biệt, các nhà tâm lý học nổi tiếng của Mỹ J Guilford (1897-1987) trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người sáng tạo thường thể hiện thông qua những suy nghĩ khác nhau Những người này không tập trung suy nghĩ của mình để tìm kiếm một câu trả lời đúng cho một vấn đề, mà họ thường bắt đầu tìm kiếm các giải pháp theo mọi hướng có thể để đưa ra càng nhiều
ý tưởng cho vấn đề ấy càng tốt Những người như vậy có xu hướng tạo ra sự kết hợp mới của các yếu tố mà hầu hết mọi người không biết, hoặc tạo thành một mối liên hệ giữa hai hay nhiều yếu tố mà không có vẻ gì chung (chẳng liên quan đến nhau: độc đáo, khác, lạ) Các cách suy nghĩ khác nhau là cơ sở của tư duy sáng tạo (Tư duy phân kỳ), được đặc trưng bởi các tính năng điển hình sau:
1) Tốc độ - khả năng để diễn tả số lượng tối đa ý tưởng (trong trường hợp này điều quan trọng không phải ở chất lượng mà là số lượng các ý tưởng của họ)
2) Tính linh hoạt - khả năng dễ dàng thể hiện một loạt các ý tưởng cho một vấn đề
3) Tính độc đáo - Khả năng để tạo ra những ý tưởng mới mẻ, khác lạ, độc đáo
4) Đầy đủ - khả năng để cải thiện "sản phẩm" của họ hoặc để cung cấp cho
nó một cái nhìn hoàn chỉnh [15; 14]
Лук А.Н (1928-1982) dựa trên tiểu sử của các nhà khoa học nổi tiếng, nhà phát minh, nghệ sĩ và nhạc sĩ xác định năng lực sáng tạo như sau:
Trang 231) Năng lực nhìn thấy những vấn đề mà nó không được xem xét bởi những người khác
2) Năng lực dập tắt các thao tác trí óc, thay thế một vài thuật ngữ để sử dụng một cách thuận tiện hơn, dễ dàng lĩnh hội thông tin trong các mối quan hệ biểu tượng
3) Năng lực áp dụng các kỹ năng, kinh nghiệm đã có vào việc giải quyết một vấn đề khác, mới
4) Năng lực nhận thức hoàn cảnh thực tế như một khối toàn thể, không nghiền nát, xé vụn nó thành từng mảnh tách rời và không có mối quan hệ lẫn nhau
5) Có khả năng dễ dàng kết hợp, liên tưởng tới một khái niệm xa xôi
6) Khả năng của bộ nhớ để cung cấp các thông tin cần thiết tại thời điểm thích hợp
7) Tính linh hoạt của tư duy
8) Năng lực lựa chọn một giải pháp trong những giải pháp thay thế để giải quyết vấn đề trước khi kiểm tra nó
9) Năng lực sát nhập, hệ thống hóa thông tin mới nhận vào hệ thống kiến thức đã có
10) Khả năng nhìn thấy sự vật như những gì chúng có và làm nổi bật những đặc điểm ấy trong những lý giải cụ thể
11) Sự dễ dàng tạo ra những ý tưởng mới
12) Năng lực tưởng tượng sáng tạo
13) Năng lực sắp xếp lại các bộ phận để cải thiện thiết kế ban đầu và cấu trúc lại trật tự các thành phần của đối tượng đang xem xét [32]
V T Kudryavtsev và V Sinelnikov, dựa trên nguồn nguyên liệu rộng về lịch
sử và văn hóa (lịch sử triết học, khoa học xã hội, nghệ thuật, văn học) đã xác định
sự sáng tạo của nhân loại như sau (được phát triển trong tiến trình trình lịch sử nhân loại):
1) Sáng tạo là một tiến trình tưởng tượng để nắm bắt xu hướng và mô hình phát triển toàn bộ của đối tượng trước khi người đó đưa ra một khái niệm rõ ràng về
nó và có thể nhập nó vào hệ thống phân loại theo lôgic nghiêm ngặt
2) Khả năng nhìn thấy toàn thể trước khi xem xét các bộ phận
Trang 243) Năng lực biến đổi bản chất của giải pháp sáng tạo - khả năng trong việc giải quyết vấn đề không chỉ là lựa chọn thay thế những dự kiện áp đặt bên ngoài và tạo ra sự thay thế của riêng mình
4) Thí nghiệm – năng lực có ý thức và chủ đích để tạo ra các điều kiện mà trong đó đối tượng biểu lộ một cách sống động nhất những thứ ẩn dấu trước đây của mình (trong điều kiện bình thường), cũng như năng lực theo dõi và phân tích các đặc điểm vận động của đối tượng trong những điều kiện này [32]
Các nhà khoa học và các nhà giáo dục học có liên quan đến sự phát triển của các chương trình và kỹ thuật giáo dục sáng tạo “TRIZ” (Thuyết sáng tạo giải quyết vấn đề) và “ARIZ” (Thuật toán của sáng tạo giải quyết vấn đề) cho rằng tiềm năng sáng tạo của con người bao gồm các khả năng sau: khả năng chấp nhận rủi ro, tư duy phân kỳ, linh hoạt trong suy nghĩ và hành động, tốc độ của tư duy, khả năng thể hiện
ý tưởng độc đáo, khả năng thể hiện hình ảnh mới, trí tưởng tượng phong phú, sự phức tạp trong nhận thức về sự vật và hiện tượng, tính thẩm mỹ cao và trực giác [3]
Như vậy, từ sự phân tích các quan điểm ở trên về vấn đề của các thành phần của sự sáng tạo, có thể kết luận rằng trí tưởng tượng sáng tạo và chất lượng của tư duy sáng tạo là những thành phần bắt buộc của sự sáng tạo Do đó, các điều kiện để năng lực sáng tạo biểu hiện tối đa liên quan đến việc kích hoạt các yếu tố: tình cảm,
ý chí, trí tưởng tượng, trực giác và tư duy
Một cách tiếp cận sáng tạo khác là xem xét vai trò của di truyền đối vợi sự hình thành và phát triển của sáng tạo Đại diện của xu hướng này cho rằng cơ sở của năng lực chung của con người là sản phẩm hoạt động của hệ thần kinh Trong đó, sự
“mềm dẻo” được xem là một thành tố chủ yếu được tạo ra bởi đặc trưng của hệ thần kinh Trái ngược với độ “mềm dẻo” là “cứng nhắc” “Mềm dẻo” như là một chất phụ gia quan trọng của quá trình sáng tạo Tuy nhiên, câu hỏi về mối quan hệ của
“tính mềm dẻo” với sự sáng tạo vẫn đang cần được đầu tư nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ
Гиппенрейтер Б С nêu bật các sự kiện sau đây:
- Về khả năng bẩm sinh để kết luận trên cơ sở của sự lặp lại của cha mẹ trên con cái của những người nổi tiếng Tuy nhiên, những nghiên cứu này đã vấp phải những hạn chế, bởi không có sự cách ly biệt lập tuyệt đối giữa di truyền và môi
Trang 25trường nên khó xác định được những năng lực được hình thành ở trẻ em là do tác động chủ yếu từ môi trường hay được thừa hưởng từ “gel” của cha mẹ chúng
- Nghiên cứu cung cấp dữ kiện chặt chẽ hơn bằng cách sử dụng phương pháp sinh đôi Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ tương quan giữa di truyền là thấp, từ đó có thể kết luận rằng sự đóng góp của di truyền trong việc xác định những khác biệt về mức
độ phát triển tư duy khác nhau là rất nhỏ Do đó, có thể xác nhận vai trò tác động của di truyền với sáng tạo là không đáng kể Thường những khả năng thuận lợi mà con cái thừa hưởng từ cha mẹ là những trường hợp hiếm hoi hoặc duy nhất [32]
Mặt khác sự ảnh hưởng của môi trường được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học Đặc biệt các nhà khoa học đang chú tâm vào vấn đề giao thoa văn hóa với năng lực sáng tạo
- Bản chất của nền văn hóa ảnh hưởng đến tính chất, đặc điểm của sự sáng tạo và quá trình phát triển của nó
- Sự phát triển của sự sáng tạo không xác định về mặt di truyền, nhưng phụ thuộc vào nền văn hóa, trong đó đứa trẻ được lớn lên
- Không có tính liên tục trong sự phát triển của sự sáng tạo Sự suy giảm trong việc phát triển sự sáng tạo, có thể được giải thích trong thực tế, được thể hiện bởi các yêu cầu mới trong tình huống gây căng thẳng tâm lý mà đứa trẻ gặp phải và cần đối phó với chúng
- Sự suy giảm trong việc phát triển sự sáng tạo có thể được gỡ bỏ tại bất kỳ
độ tuổi nào qua đào tạo đặc biệt
Các nhà nghiên cứu đã xem xét vai trò quyết định của mối quan hệ gia đình ảnh hưởng tới sáng tạo Trong các nghiên cứu D Manfilda, liên kết với R Albert và
M Rudenko đã khám phá ra sự ảnh hưởng giữa các mối quan hệ không hòa hợp trong gia đình, đời sống tinh thần của các bậc cha mẹ và sự sáng tạo cao của trẻ em Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác cho thấy sự cần thiết của mối quan hệ hòa hợp của gia đình để phát triển sáng tạo E.V Alpheus cho rằng: Giáo dục gia đình không hòa hợp có tác dụng ức chế sự phát triển các đặc tính sáng tạo của cá nhân Phân tích các điều kiện của các mối quan hệ gia đình cho phép Druzhinin kết luận rằng một mặt của môi trường gia đình luôn quan tâm đến ý kiến của trẻ, mặt còn lại thì kiểm soát hành vi của trẻ Ở những gia đình có các thành viên sáng tạo thì họ
Trang 26khuyến khích việc thực hiện những hành vi không theo khuôn mẫu của các thành viên, đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển của sự sáng tạo ở trẻ [32]
Trên cơ sở phân tích các điều kiện về giáo dục và di truyền Гиппенрейтер Б
С đã rút ra nhận định rằng các yếu tố môi trường có tác động tương đương so với yếu tố di truyền, đôi khi có thể thay thế hoàn toàn tầm ảnh hưởng của yếu tố di truyền hoặc ngược lại nó có thể làm cân bằng (trung hòa) cho hành động sau này
Theo hầu hết các nhà nghiên cứu thì sáng tạo là một cấu trúc tự phát triển Nên việc tác động hiệu quả đến sự hình thành của sáng tạo thường vào các thời kỳ nhạy cảm Trẻ mầm non và các giai đoạn lứa tuổi tiếp theo cho đến lứa tuổi thanh niên là những thời kỳ thuận lợi nhất để tác động nhằm phát triển sáng tạo (В.Н Дружинин (1955-2001), Е.Л Солдатова) [32]
S Freud (1856-1939) cho rằng công việc sáng tác của nhà văn và nghệ sĩ là một tiếng vang từ những ham muốn bản năng của họ Theo giải thích phân tâm học
về bản chất của sự sáng tạo là khả năng diễn đạt ý tưởng đến từ vô thức, đây là chìa khóa dẫn đến quá trình sáng tạo Tiếp sau S Freud, các nhà phân tâm học đã xây dựng nhiều khái niệm để khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động vô thức với quá trình sáng tạo A Adler (1870-1937) đã khẳng định sáng tạo là kết quả khỏa lấp của tổ hợp những mặc cảm tự ti R Assagioli (1888-1974) xem xét sáng tạo như một cách khám phá - biểu lộ bản thân của cá nhân, là quá trình vươn lên để “hoàn thiện cái Tôi” K G Jung (1875-1961) chia nó thành hai loại: những thành phần tâm lý gắn liền công việc của ý thức và của liên tưởng xa, cả hai đều thể hiện biểu tượng nguyên mẫu của vô thức Các nhà khoa học thuộc các trường phái cấu trúc, chức năng và hành vi đều cho rằng sáng tạo là cơ chế của trực giác "Sáng tạo" được
J Guilford đề cập tới vào năm 1950, ông lưu ý đến những người có năng lực sáng tạo vượt bậc, xem đây là vấn đề nghiên cứu cần thiết của tâm lý học và đưa vấn đề nghiên cứu này vào quá trình thực nghiệm thông qua các trắc nghiệm tâm lý F Galton (1822-1911) đề xuất ý tưởng về tính tương đương và sự liên kết của các năng lực trí tuệ với năng lực sáng tạo (Ярошевский М Г (1915-2001), 1985) [32]
C R Rogers (1902-1987) và A Maslow (1908-1970) đã đi sâu tiếp cận phương diện cá nhận với sáng tạo, các công trình của họ xem xét và phân tích mối quan hệ của quá trình sáng tạo và tính "tự khẳng định" của cá nhân [18]
Trang 27Torrance Е P (1915-2003) xem sáng tạo như là một quá trình tự nhiên Sáng tạo là nhu cầu mạnh mẽ của con người để loại bỏ những căng thẳng của họ trong tình huống khó chịu Những tình huống này gây ra sự bất an hoặc để bù đắp với sự thiếu hoàn chỉnh của hoạt động (Torrance E.P 1964)
Cấu trúc sáng tạo của Torrance Е P đã được Е.Е.Туник cụ thể hóa như sau: 1) Sự nhạy cảm về vấn đề
2) Năng lực khái quát hóa
3) Năng lực phân tách những điểm tương đồng và khác biệt
4) Năng lực tái tạo lại những thành phần khuyết thiếu
5) Khả năng phỏng đoán
6) Tư duy phân kỳ
Những kết luận của Torrance E P đã được xác nhận trong các công trình nghiên cứu của F Baron (1969), A Groshli (1966), J Freeman và X Butcher (1968) Qua đó, cuộc tranh luận khoa học về mối liên hệ phổ biến giữa trí tuệ với năng lực sáng tạo đã đạt được những điểm thống nhất [13, 19, 20, 32]
Vào cuối thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu (phương Tây và Mĩ) đã xem xét sáng tạo theo hai phương diện:
1) Phương diện nghiên cứu thứ nhất: coi sáng tạo là năng lực trí tuệ và năng lực nhận thức chung (J Guilford, E P Torrance, S Coppersmith, M Wallach )
2) Phương diện nghiên cứu thứ hai: kết hợp sáng tạo với những đặc điểm nhân cách điển hình của cá nhân (A H Maslow, E Fromm, G Allport, W Frank,
S Freud, A Adler )
Sau đó, các nhà khoa học J Renzulli, J Feldhyuzena A Tannen-Baum, R Sternberg, S Kaplan, D Sisk, K Heller cố gắng tổng hợp hai xu hướng nghiên cứu trên trong các công trình nghiên cứu về sáng tạo Sáng tạo theo các nhà nghiên cứu này được xác định là sự kết hợp của các yếu tố trí tuệ và nhân cách
Nghiên cứu về sáng tạo là tìm ra yếu tố quyết định để xác định mức độ sáng tạo Dựa trên các nghiên cứu của nhà tâm lý học P Jackson và G Gettsels (1963)
đã cho thấy không thể đo lường tiềm năng sáng tạo của người bằng các trắc nghiệm trí thông minh Sáng tạo cần phải được hiểu như quá trình giải quyết liên tiếp nhiệm
vụ bên ngoài, trong những tình huống không cần sự kích thích Vì thế cần có những phương pháp, công cụ khác, mới để nghiên cứu sáng tạo
Trang 28Ở cùng thời gian này, các nhà tâm lý học Nga cũng hình thành hai xu hướng nghiên cứu về sáng tạo và có nhiều điểm tương đồng với các hướng nghiên cứu của thế giới:
1) Nghiên cứu sự sáng tạo trong khuôn khổ tiếp cận lý thuyết hoạt động (Б
М Теплов, С Л Рубинштейн, А Н Леонтьев, А Н Лук, Я А Пономарев, А
М Матюшкин, Д Б Богоявленская…)
2) Tiếp cận phân tích cá nhân ở các khía cạnh cụ thể, điển hình của sáng tạo (К А Торшина, Е Григоренко, Р М Грановская, Ю С Крижанская, И С Кон, Е Л Яковлева)
Hai hướng tiếp cận này nhắm tới 7 nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhiệm vụ 1: So sánh cách giải quyết vấn đề của con người và máy móc để nhận ra được khả năng sáng tạo của con người Khả năng sáng tạo của con người nằm ngoài những gì có sẵn đã được lập trình Các nhà nghiên cứu theo hướng này tập trung so sánh về khả năng và cách thức giải quyết vấn đề của con người và người máy (robot)
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu vấn đề của hoạt động khoa học, tư duy khoa học và tìm ra những đặc thù của hoạt động phát hiện (khám phá) của các nhà khoa học trong đó có hoạt động sáng tạo
Nhiệm vụ 3: Tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất của hoạt động sáng tạo
Nhiệm vụ 4: Nghiên cứu và phân tích tầm quan trọng của sáng tạo và quan
hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức của con người
Nhiệm vụ 5: Tập trung nghiên cứu và nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo của con người
Nhiệm vụ 6: Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thực hành cũng như lí luận của tư duy sáng tạo và tìm hiểu mối quan hệ của sáng tạo và hoạt động vô thức
Nhiệm vụ 7: Tập trung nghiên cứu về hoạt động sáng tạo của học sinh trong nhà trường, biện pháp phát triển sáng tạo cho học sinh
Các nhà nghiên cứu ở Đức như Han G.Jellen, Klaus Urban, Schoppe, Kratzmeier, nghiên cứu sâu về vai trò của tư duy phân kỳ đổi với năng lực sáng tạo, từ đó, họ đã đưa ra khá nhiều công cụ nghiên cứu về khả năng sáng tạo, tiềm năng sáng tạo của con người theo độ tuổi, dạng hoạt động [3]
Trang 29Tiếp cận nhận thức sử dụng để nghiên cứu cả chủ thể con người lẫn mô phỏng tư duy sáng tạo trên máy tính Các nghiên cứu chủ thể con người mà các đại diện là Finke, Ward và Smith (1992); Stemberg & Davidson, (1982); Weisberg (1993); Johnson-Laird (1993) Finke và các đồng nghiệp (1992) đã đề xuất mô hình Geneplore (tạo ra ý tưởng và khai thác ý tưởng), theo đó tư duy sáng tạo có hai giai đoạn: giai đoạn tạo ý tưởng và giai đoạn khai thác ý tưởng Ở giai đoạn tạo ý tưởng,
cá nhân xây dựng dạng thức tâm lý được gọi là cấu trúc tiền sáng tạo, nó có các thuộc tính được sử dụng để xúc tiến phát kiến sáng tạo Trong giai đoạn xây dựng ý tưởng các thuộc tính này được dùng để đi đến ý tưởng sáng tạo
Các nhà nghiên cứu như Amabil (1983) và Csikszentmihalyi (1996) đã điểm
ra những đặc điểm nhân cách của người sáng tạo Thông qua những nghiên cứu tương quan và nghiên cứu đối lập ở những người sáng tạo cao và sáng tạo thấp (cả mức độ sáng tạo kiệt xuất và sáng tạo hàng ngày), hàng loạt phẩm chất nhân cách được kể đến Những phẩm chất đó có thể là phê phán độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi tính phức tạp, định hướng mỹ học và ưa mạo hiểm… [13]
Tại thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ XX và thế kỷ XXI (khoảng gần 30 năm trở lại đây), các nhà tâm lý học: A Tannenbaum, J Renzulli, K A Heller, R Sternberg và D Laverty, K K Urban… nghiên cứu về năng lực sáng tạo ở việc xem xét năng lực này là sự hình thành phức tạp của nhân cách Họ đã mô hình hóa năng lực sáng tạo như một cấu trúc đa diện (tiếp cận tổng thể trong tâm lý học, trong đó năng lực sáng tạo được liên kết với trí thông minh, động cơ, nhu cầu và các thành tố khác
1.3 Cấu trúc của năng lực sáng tạo
1.3.1 Cấu trúc năng lực sáng tạo theo J Guilford (1897-1987)
J Guilford (1959) đã xây dựng một lý thuyết thống nhất về trí tuệ con người gồm những năng lực chuyên biệt đã biết hoặc những năng lực trí tuệ cơ sở vào một
hệ thống duy nhất Ông đặt tên là: “Cấu trúc trí tuệ”
Trong cấu trúc này cho phép tách ra những cấu trúc khác nhau nhờ phép phân tích yếu tố:
- Nhóm các yếu tố tích cực của trí tuệ (các thao tác – Operation) bao gồm: Nhận thức, trí nhớ, tư duy phân kỳ, tư duy hội tự và năng lực đánh giá
Trang 30- Nhóm yếu tố nội dung (Content): Hình, ký hiệu, ngữ nghĩa, thái độ
- Nhóm các yếu tố sản phẩm (Product): Đơn vị (của thông tin), loại, quan hệ,
hệ thống, biến đổi, liên kết [8; 14]
Mô hình “Cấu trúc trí tuệ” của J Guilford được thể hiện ở hình sau:
Hình 1 Mô hình cấu trúc trí tuệ của J Guilford
Từ mô hình trên, phân tích cấu trúc của năng lực sáng tạo tương ứng với những năng lực nhất định được đo bằng trắc nghiệm “tổng nghiệm phân kỳ” (Divergence Prodution – Testbatterie = DPT) như sau:
1) Tính lưu loát, trôi chảy (Fluency) là năng lực nhớ lại những tình tiết, sự kiện một cách chính xác dưới dạng:
- Từ
- Ý tưởng
- Liên tưởng
- Câu hay lời nói
2) Tính mềm dẻo (Flexibility) là năng lực lưu chuyển của các thông tin ghi nhớ được:
- Di chuyển tự phát các thông tin
- Thích ứng các năng lực tiếp cận phù hợp để giải quyết vấn đề
Trang 313) Tính độc đáo (Originality) là năng lực sẵn sàng nhìn sự vật với một góc nhìn khác:
Bảng 1.1 Tương quan của các năng lực sáng tạo với các yếu tố của trí tuệ theo
J Guilford (Erika Landau – 1984)
Yếu tố trí tuệ Năng lực Thao tác Nội dung Sản phẩm
Ký hiệu tượng trưng Ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa Ngữ nghĩa
Đơn vị Đơn vị Quan hệ
Ngữ nghĩa và hình Hình
Hình Ngữ nghĩa
Loại Biến đổi Biến đổi Biến đổi
Từ “Bảng 1.1”, Erika Landau đã tổng hợp để xác định các năng lực cụ thể tương ứng với các pha của quá trình sáng tạo ở bảng sau:
Trang 32Bảng 1.2 Các năng lực cần thiết trong các pha của quá trình sáng tạo (Erika Landau – 1984)
Pha sáng tạo Năng lực cần thiết
- Lưu loát, trôi chảy
- Mềm dẻo biến đổi
có vai trò quan trong đến việc thúc đẩy, vận hành năng lực sáng tạo của con người
1.3.2 Cấu trúc năng lực sáng tạo của Viktor Lowenfeld (1903–1960)
Viktor Lowenfeld nghiên cứu về năng lực sáng tạo, ông đã cho rằng năng lực này được cấu tạo bởi 4 yếu tố và 4 năng lực cơ bản
- 4 yếu tố của năng lực sáng tạo bao gồm:
+ Tính nhạy cảm
+ Tính lưu loát trôi chảy
+ Tính linh hoạt, mềm dẻo
+ Tính độc đáo
- 4 năng lực sáng tạo cụ thể là:
+ Năng lực định nghĩa mới (Newdefinition): Năng lực này thể hiện sự kết hợp một cách có ý nghĩa nhiều sự vật, đối tượng khác nhau thành một cấu trúc mới
Trang 33Trên cơ sở này, kích thích con người nẩy sinh những ý tưởng mới.Người sáng tạo
có khuynh hướng luôn thay đổi chức năng của vật liệu mà anh ta đang sử dụng
+ Năng lực phân tích (Analyse): Là năng lực tìm ra những cái riêng theo sự xem xét toàn thể, thống nhất Người sáng tạo tìm ra sự khác biệt giữa các sự vật, hiện tượng của môi trường sống xung quanh, họ tập trung vào những đặc điểm, bộ phận, thành phần chi tiết, cụ thể để mở rộng vốn kinh nghiệm của bản thân, đồng thời mở rộng ý nghĩa của sự vật, hiện tượng ấy trong nhận thức về chúng
+ Năng lực tổng hợp (Synthese)
+ Năng lực cố kết các tổ chức (Cohessen of organic)
1.3.3 Cấu trúc năng lực sáng tạo của Klaus K Urban
Klaus K Urban (Đức) đã mô hình hóa năng lực sáng tạo như một cấu trúc
đa diện (tiếp cận tổng thể trong tâm lý học, trong đó năng lực sáng tạo được liên kết với trí thông minh, động cơ, nhu cầu và các thành tố khác) trên cơ sở thảo luận và trao đổi ý kiến rộng rãi với các nhà nghiên cứu về sáng tạo khác (trình bày trong các công trình, ấn phẩm từ năm 1990 đến năm 1995) Nội dung của mô hình này được thể hiện trong hình sau:
Hình 2 Mô hình cấu trúc thành tố của năng lực sáng tạo
Trang 34- Vòng tròn nhỏ: Bình diện cá nhân
- Vòng tròn giữa: Bình diện nhóm hoặc môi trường gần
- Vòng tròn lớn (ngoài): Bình diện xã hội, lịch sử hoặc toàn cầu
Các thành tố năng lực sáng tạo bao gồm:
1) Tư duy phân kỳ và hành động phân kỳ:
- Soạn thảo tỉ mỉ, chi tiết (Elaboration): sự thể hiện chi tiết, hoàn thiện của các ý tưởng, tình huống, giải pháp Chỉ báo để đánh giá mức độ chi tiết, hoàn thiện
là số lượng các ý tưởng chi tiết, cụ thể được ghi nhận
- Tính độc đáo (Originality): khả năng phát hiện những nét độc đáo, những mối liên hệ mới hay những giải pháp mới, hiếm, lạ trên cơ sở những mối liên tưởng và những kết hợp mới với những kiến thức, kinh nghiệm đã có hay những giải pháp đã được xác định Nhận ra vấn đề mới, những bất cập, những cơ hội mới trong điều kiện quen thuộc, phát hiện ra những chức năng mới của đồ vật là nền tảng cho tính độc đáo của tư duy Chỉ báo quan trọng để đánh giá tính độc đáo trong trắc đạc tâm lý hay quan sát, phát hiện tính độc đáo thể hiện sự hiếm lạ của những câu trả lời, giải pháp, tính chất được phát hiện so với tổng số câu trả lời, giải pháp, tính chất được đưa ra
- Mối liên kết xa (Entfernte Assoziation):Có thể nắm được ý nghĩa của sự liên tưởng xa qua việc nghiên cứu các minh hoạ Đơn cử như “Test consecuence” (Trắc nghiệm hậu quả - kết quả xảy ra sau khi quan sát tình huống) trong đó yêu cầu đưa ra các liên tưởng mới lạ về một vấn đề nào đó, cụ thể như: trong trường hợp nào thì ăn uống là thừa? Trong khoảng thời gian cho trước, cần đưa ra các giải thích, các tình huống Người nào đưa ra được nhiều giải thích hoặc giải thích càng xa với tình huống ban đầu (nhưng vẫn có tính giải thích) thì chứng tỏ có tính độc đáo càng cao "Xa" có thể được hiểu ở khía cạnh thời gian, không gian, nội dung, hình thức, hoặc những thứ thường không ai nghĩ đến, đáng chú ý là ở đây những giải thích thông thường, phổ biến sẽ phản ánh tính linh hoạt trong ý nghĩ, còn những giải thích hiếm, lạ và xa
sẽ phản ánh tính độc đáo Tính độc đáo của sáng tạo bộc lộ chủ yếu ở các giải pháp mới lạ, hiếm, không quen thuộc và duy nhất có ở đây cần lưu ý đến tính hợp lí, kinh
tế của giải pháp và cách thực thi giải pháp
Trang 35- Cấu trúc và định nghĩa lại sự vật (Recontruction and Redefinition):Tìm ra các công dụng khác, mới, lạ của sự vật để bổ sung thêm ý nghĩa hoặc làm mới lại định nghĩa đã có của đối tượng
- Tính mềm dẻo (Flexibility): năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của tri thức, thay đổi quan niệm, góc nhìn, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, thay đổi phương pháp tư duy, phát hiện, tạo ra những mối liên hệ mới, đa dạng của sự vật hiện tượng Tính mềm dẻo của tư duy thể hiện sự thay đổi thái độ, nhiều khi đã
là cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người, dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, điều chỉnh suy nghĩ khi gặp lại vấn đề tương tự Tính mềm dẻo thể hiện ở tính đa dạng trong phương án giải quyết vấn đề theo nhiều cách tiếp cận, xem xét sự vật theo nhiều góc độ, cách nhìn nhận Chỉ báo để đánh giá tính mềm dẻo của tư duy là số lượng các nhóm câu trả lời, các thuộc tính, giải pháp được phát hiện, tạo dựng
- Tính lưu loát (Fluency): khả năng sử dụng các thao tác tư duy, các kiến thức, thông tin một cách dễ dàng để tổ hợp nhanh chóng, tạo ý tường mới nhanh chóng để kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật và hiện tượng Chỉ báo để đánh giá tính thành thục của tư duy là số lượng các ý tưởng, các giải pháp được đưa ra hay các thuộc tính được phát hiện năng lực Đôi khi năng lực này là sự nhớ được nhanh, tái hiện nhanh các từ, các câu thành ngữ hoặc các liên tưởng về các ý tưởng đã biết được lưu giữ trong bộ nhớ Từ đó, nhanh chóng hình thành giả thuyết mới và nhanh chóng sản sinh ra ý tưởng mới
- Tính nhạy cảm vấn đề (Problemsensivity): luôn không thỏa mãn với những
gì nhìn thấy, nghe thấy, sờ mó thấy Người sáng tạo có ngưỡng cảm giác thấp, nhạy cảm với những bất ổn, những bất hợp lý, có sự tinh tế của các cơ quan cảm giác, có năng lực trực giác Tính nhạy cảm vấn đề còn phản ánh ở sự phong phú về xúc cảm, tình cảm của nhân cách, có những rung cảm, đồng cảm với người khác, với đồng loại Người nhạy cảm hành động nhẹ nhàng, họ cảm nhận được ý nghĩ của người khác Tính nhạy cảm còn chịu tác động của các yếu tố môi trường xã hội như văn hóa, tôn giáo, dân tộc… Chỉ báo về tính nhạy cảm vấn đề có thể là số lượng vấn đề, tình huống, bất ổn được phát hiện hay nghi ngờ
2) Cơ sở tri thức chung và cơ sở khả năng tư duy:
Trang 36- Chiều sâu tri thức
- Tư duy phê phán và tư duy định giá
- Tư duy lôgic và tư duy định giá
- Mạng trí nhớ phân tích và tổng hợp
- Tri giác rộng
3) Cơ sở tri thức chuyên biệt và những kỹ năng chuyên biệt:
Tiếp nhận ngày càng nhiều và làm chủ những bộ phận tri thức, kỹ năng chuyên biệt trong những lĩnh vực chuyên biệt của tư duy và hành động sáng tạo
4) Tính sẵn sàng tập trung cao độ và căng thẳng:
- Duy trì sức tập trung cao vào đối tượng, hoàn cảnh, sản phẩm
- Tính lựa chọn nhạy bén
- Khả năng dừng sự chú ý
- Tâm thế sẵn sàng hành động
5) Động cơ và động cơ hóa:
- Nhu cầu về tính mới mẻ
6) Tính cởi mở, ngay thẳng và khoan dung đối với sự chưa rõ ràng:
- Tính cởi mở trao đổi kinh nghiệm
Trang 37Mô hình cấu trúc năng lực sáng tạo của Klaus K Urban là quá trình nghiên cứu và tổng hợp lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn của các nhà khoa học khác
về sáng tạo Ngày nay, mô hình này được rất nhiều các nhà nghiên cứu, học giả, nhà giáo dục quan tâm về năng lực sáng tạo trên thế giới đón nhận nồng nhiệt
1.4 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo
Lewis Terman nghiên cứu 300 người (nam giới) và chia họ ra làm 2 nhóm (150 người mỗi nhóm) Nhóm 1 có sản phẩm hoạt động cao, nhóm 2 có sản phẩm hoạt động thấp Sau một thời gian dài quan sát và nghiên cứu, Terman đã kết luận rằng: Hai nhóm không có sự khác biệt gì về năng lực khi họ ở tiểu học Nhóm 1 đạt được những thành tựu tốt hơn nhóm 2 ở giai đoạn trung học Và sự khác biệt giữ hai nhóm biểu hiện rõ ràng nhất sau họ bước qua tuổi 25 Những người ở nhóm 1 luôn
là những người kiên trì, thực hiện cho đến cùng công việc và đạt kết quả mong muốn, luôn tự tin, khả năng thích ứng tốt với sự thay đổi và ít căng thẳng khi đối diện với những sự việc bất thường
J P Guilford nhận định về người có năng lực sáng tạo cao như sau: Họ có nhiều sáng kiến, luôn thao tác thuần thục đối với những vấn đề khác nhau, luôn nhạy cảm với vấn đề và có cách giải quyết chúng độc đáo
Ia A Ponomariov cho rằng người sáng tạo cao có cường độ chú ý khác thường, dễ nhạy cảm, dễ xúc động và năng lực nhận thức cao
Tardif và Stemberg (1988) khẳng định rằng những người sáng tạo cao thường có những biểu hiện sau:
- Nhận lấy thử thách cho bản thân và thường xuyên đặt mình trước câu hỏi
“Tại sao?”
- Tìm kiếm cái mới, làm sáng tỏ những chỗ hổng tri thức
- Rút ra những ý tưởng mới từ những kiến thức, kinh nghiệm cũ
- Thích sử dụng hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ
- Có năng lực cao khi sử dụng các phạm trù rộng, trừu tượng
- Có năng lực phán xét độc lập
- Có năng lực sử dụng các hình tượng, biểu tượng trí tuệ
- Thích đối đầu với những sự vật – hiện tượng khác thường
- Có khả năng suy luận tốt
Trang 38- Thích phá vỡ một chiều hướng trí tuệ
- Có năng lực phát hiện các quy luật, mối liên hệ, trật tự thống nhất trong trạng thái hỗn độn
- Tò mò, ham hiểu biết, thích tri thức mới, ưa mạo hiểm
- Khó chịu với những nguyên tắc và giới hạn do người khác áp đặt
- Thích đưa mình vào thử thách, khó khăn
- Hài hước
- Hiểu được nghĩa nước đôi
- Trực giác tốt
- Kiên trì, say mê với những công việc, nhiệm vụ đã nhận
A W Muzert (Mỹ) thông qua kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: những người có năng lực sáng tạo đặc biệt thường có chỉ số IQ = 120-139 theo thang trắc nghiệm chuẩn
Các nhà tâm lý học Xô Viết đưa ra những biểu hiện đặc trưng của những người có năng lực sáng tạo cao như sau:
- Luôn có tính mục đích trong hoạt động và tính kiên trì cao
- Có năng lực bám đuổi công việc từ đầu đến khi kết thúc
- Say mê với công việc
- Tôn trọng ý kiến của đồng nghiệp
- Thận trọng trong mọi tình huống, có lập trường rõ ràng
- Độc đáo trong cảm xúc và trí tuệ
cụ thể như:
- Vicent Van Gogh (1853 – 1890) tự cắt tai mình khi vẽ tranh và Pablo Luiz Picasso (1881 – 1973) bị xem là kẻ có lối sống phóng túng, hư hỏng
Trang 39- Honoré de Balzac (1799-1850) khóa kín cửa, ngồi trong phòng viết bên ngọn nến từ 1 – 2 tháng
- Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1788) luôn để đầu trần dưới nắng chang chang khi làm việc…
Mc Kinnon nghiên cứu 40 kiến trúc sư (được đánh giá sáng tạo nhất nước Mỹ) đã kết luận rằng những người sáng tạo cao tỏ ra dễ dàng trong việc tiếp thu kinh nghiệm, luôn thoát ra khỏi những hạn chế nhỏ nhặt, rất nhạy cảm với cái đẹp,
có khả năng nhận thức linh hoạt ở mức độ cao, độc lập trong tư duy và hành động thực tiễn, tự cam kết nỗ lực sáng tạo và yêu cầu rất cao ở bản thân
Nhiều nghiên cứu cho thấy có thể bổ sung thêm nhiều phẩm chất khác của nhân cách sáng tạo vào danh sách các phẩm chất nhân cách của người sáng tạo:
- Nhạy cảm với sự tồn tại của vấn đề;
- Có khả năng tư duy phân tích và trực giác;
- Có khả năng tư duy phân kỳ (năng lực giải quyết vấn đề dùng đến nhiều lời giải) và hội tụ (năng lực giải quyết vấn đề chỉ cần một lời giải đúng);
- Cởi mở với kinh nghiệm và ít bảo thủ trong việc chấp nhận thông tin mới;
- Hứng thú với những điều vui vẻ và tươi trẻ;
- Có khả năng làm việc độc lập;
- Luôn nghi ngờ những gì đang tồn tại;
- Luôn độc lập trong đánh giá;
- Tự lập kế hoạch, tự ra quyết định;
- Rất lạc quan với những nhiệm vụ khó khăn;
- Thường có quan điểm riêng khi bị phê phán;
- Thường rất tháo vát khi sự cố bất thường xảy ra;
- Không nhất thiết phải là "người học" giỏi nhất;
- Ý tưởng rất độc đáo, khác biệt về định tính với ý tưởng của người khác [13; 257]
1.5 Đặc điểm sáng tạo của lứa tuổi sinh viên
1.5.1 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
- Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động
- Hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phuqơng thức và thời hạn đào tạo
Trang 40- Phương tiện hoạt động là các thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm với các thiết bị bộ môn…
- Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của SV với nhịp độ căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải chịu một áp lực cao thể hiện rất rõ trong các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao
- Cốt lõi của hoạt động học tập của SV là sự tự ý thức về học tập của họ Tự
ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập, hiểu sâu sắc rằng chính mình là chủ thể của hoạt động nên bản thân phải là người tổ chức, định hướng, cụ thể hoá quá trình học tập
- Nhiệm vụ cơ bản của SV là giải thích các nhiệm vụ học tập do cán bộ giảng dạy và do chính mình đề ra; phải hoàn thiện các hành động học tập để biết cách học
và học có hiệu quả; có nhiệm vụ tự kiểm tra và tự đánh giá kết qủa học tập
- Hoạt động học tập của SV bao gồm cả hoạt động ở trên lớp và ở ngoài lớp Hoạt động ở trên lớp theo một thời gian biểu nhất định nên sinh viên được thông báo trước để có kế hoạch học tập, còn hoạt động ngoài lớp là sự hoàn thành một cách lôgic các giờ học trên lớp Các hoạt động ngoài lớp trong thời gian tự do của
SV bộc lộ rõ nét các sở trường, năng lực tổ chức và sự sáng tạo ở SV
- Hoạt động học tập của SV có thể có xu hướng hẹp, nghĩa là SV chỉ tập trung nghiên cứu các tài liệu cơ bản, muốn được đánh giá tốt…có thể là một hoạt động tích cực rộng rãi như: muốn trao đổi với GV, muốn tham gia vào hoạt động nhóm…và có thể là một hoạt động sáng tạo hiểu sâu sắc mục đích học tập ở ĐH, độc lập nghiên cứu tài liệu học tập, có óc phê phán, lập luận lôgic chặt chẽ nên có nhữn ý kiến phát biểu độc đáo, sắc nét trong các buổi thảo luận…
- Hoạt động học tập của SV thực sự là loại lao động trí óc căng thẳng và là hoạt động quan trọng nhất trong quãng đời SV Tính chất của hoạt động không mang tính phổ thông mà mang tính chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn, nhằm đào tạo những chuyên gia, những tri thức cho đất nước Cường độ hoạt động phụ thuộc vào nội dung và tính chất phức tạp của các nhiệm vụ, vào trình độ tri thức, vào các kỹ năng và kỹ xảo trí óc, vào động cơ và tâm thế chung của nhân cách
SV Vì vậy cần có sự động viên một cách có mục đích đối với SV trong quá trình giảng dạy và phải có sự chỉ dẫn cần thiết nhưng không áp đặt đối với họ [13]