1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIEP CAN DIEU TRI VA BO TRI CUA NGUOI NGHIEN CHICH MA TUY TAI CO SO DIEU TRI METHADONE

117 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,19 MB
File đính kèm DIEU TRI METHADONE.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone đang được xem là một trong những biện pháp ưu tiên nhằm giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy và lây nhiễm HIVAIDS trong cộng đồng. Theo báo cáo, người nghiện chích ma túy (NCMT) tiếp cận ĐT ngày càng ít, tỷ lệ BN bỏ trị ngày càng nhiều. Vì vậy, nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: 1 Mô tả một số rào cản của người nghiện chích ma túy trong việc tiếp cận điều trị; 2 Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị và 3 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều năm 2018.

Trang 1

TIẾP CẬN ỀU TRỊ VÀ BỎ TRỊ CỦA N ƢỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY T Ơ SỞ ỀU TRỊ METHADONE QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2018

LUẬN VĂN TH SĨ Y TẾ CÔNG C NG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội, 2018

Trang 2

TRƯỜN I HỌC Y TẾ CÔNG C NG

TIẾP CẬN ỀU TRỊ VÀ BỎ TRỊ CỦA N ƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY T Ơ SỞ ỀU TRỊ METHADONE QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2018

LUẬN VĂN TH SĨ Y TẾ CÔNG C NG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội, 2018

Trang 3

M C L C

DANH M C CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH M C CÁC BẢNG v

TÓM TẮT LUẬN VĂN vi

ẶT VẤN Ề 1

M C TIÊU NGHIÊN CỨU 3

hương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tình hình tiêm chích ma túy và HIV/AIDS 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 4

1.2 Các khái niệm dùng trong nghiên cứu: 5

1.3 Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone 8

1.3.1 Khái niệm Methadone 8

1.3.2 Dược động học 8

1.3.3 Liều điều trị 9

1.3.4 Mục đích của điều trị Methadone 9

1.3.5 Tái sử dụng chất dạng thuốc phiện 10

1.4 Tổng quan các nghiên cứu điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone 10

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

1.6 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 19

hương 2: PHƯƠN PH P N H ÊN ỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Định lượng 20

2.1.2 Định tính 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.2.1 Thời gian: 21

2.2.2 Địa điểm 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21

Trang 4

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 21

2.4.2 Nghiên cứu định tính 22

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 23

2.5.2 Điều tra viên (ĐTV) 23

2.5.3 Kỹ thuật thu thập 23

2.5.4 Tổ chức thu thập số liệu 24

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 25

2.6.1 Số liệu định lượng 25

2.6.2 Thông tin định tính 25

2.7 Biến số dùng trong nghiên cứu 25

2.8 Nội dung/chủ đề định tính 28

2.9 Hạn chế của nghiên cứu 29

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 29

hương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Một số rào cản người NCMT tiếp cận điều trị chương trình Methadone 31

3.2 Một số đặc điểm của BN bỏ trị Methadone 41

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ điều trị Methadone 52

hương 4: N LUẬN 68

4.1 Rào cản người NCMT trong việc tiếp cận điều trị Methadone 68

4.2 Một số đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone 71

4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PH L C 92

Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án 92

Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 97

Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu BN bỏ trị 98

Phụ lục 4: Hướng dẫn PVS người N MT chưa điều trị bằng Methadone 100

Phụ lục 5: Hướng dẫn PVS người nhà của người N MT chưa điều trị bằng Methadone 101

Trang 5

Phụ lục 6: Hướng dẫn PVS nhân viên y tế 103

Phụ lục 7: Hướng dẫn TLN bệnh nhân điều trị lại 105

Phụ lục 8: Hướng dẫn TLN người N MT chưa điều trị bằng Methadone 107

Phụ lục 9: Dự trù kinh phí triển khai nghiên cứu 109

Trang 6

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

FHI 360 : Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế

(Family Health International 360) HIV : Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

(Human Immunodeficiency Virus)

UNODC : Cơ quan phòng, chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc

(United National Organization of Drug and Crime)

Trang 7

DANH M C CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mô tả đối tượng tham gia định tính 22

Bảng 2.2: Biến số dùng trong nghiên cứu 25

Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 42

Bảng 3 2: Đặc điểm nghề nghiệp, việc làm và thu nhập của ĐTNC 43

Bảng 3 3: Đặc điểm yếu tố gia đình của ĐTNC 44

Bảng 3 4: Đặc điểm sử dụng ma túy trước điều trị của ĐTNC 45

Bảng 3 5: Đặc điểm tiền sử cai nghiện và vi phạm pháp luật của ĐTNC 46

Bảng 3.6: Đặc điểm tác dụng phụ do thuốc Methadone của ĐTNC 47

Bảng 3 7: Đặc điểm mắc các bệnh lý kèm theo của ĐTNC 47

Bảng 3 8: Đặc điểm sử dụng ma túy trong điều trị của ĐTNC 48

Bảng 3 9: Đặc điểm về liều điều trị Methadone của ĐTNC 50

Bảng 3 10: Đặc điểm bỏ trị của ĐTNC 51

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone đang được xem là một trong những biện pháp ưu tiên nhằm giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy và lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Theo báo cáo, người nghiện chích ma túy (NCMT) tiếp cận ĐT ngày càng ít, tỷ lệ BN bỏ trị ngày càng nhiều Vì vậy, nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: 1/ Mô tả một số rào cản của người nghiện chích ma túy trong việc tiếp cận điều trị; 2/ Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị và 3/ Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều năm 2018

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định tính với định lượng, thực hiện từ tháng 11/2017 đến tháng 11/2018 Nghiên cứu định lượng có cỡ mẫu là 134 hồ sơ bệnh án (HSBA) bỏ trị, nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu (PVS) có chủ đích 20 đối tượng gồm 06 BN bỏ trị, 02 người nhà của người NCMT) 08 người NCMT chưa ĐT, 04 nhân viên y tế và tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm (TLN) gồm 16 BN điều trị lại và 08 người NCMT chưa điều trị

Kết quả nghiên cứu chỉ ra các rào cản người NCMT tiếp cận ĐT Methadone gồm: Sợ bị tiết lộ thông tin, kỳ thị, thiếu niềm tin vào ĐT, thiếu quan tâm và sợ ảnh hưởng đến vị thế gia đình, công tác tuyên truyền, thủ tục của CSĐT và ảnh hưởng

từ bạn bè Trong khi các yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ ĐT của BN là: nghề nghiệp, không sẵn sàng điều trị, ngộ nhận đã thành công, thèm nhớ ma túy, thiếu hỗ trợ gia đình, kỳ thị và phân biệt đối xử, tiến trình ĐT không rõ ràng, thái độ của nhân viên

y tế và các yếu tố liên quan đến qui định, đặc thù của cơ sở điều trị

Để tăng số người NCMT tiếp cận điều trị và giảm bỏ trị, cần phải:

1/ Gia đình luôn luôn động viên, thông cảm và hỗ trợ kịp thời và lâu dài Phối hợp với cơ sở điều trị để cùng hỗ trợ cho BN trong quá trình điều trị

2/ Nhân viên y tế cần ý thức trách nhiệm, lịch khám bệnh được thông báo rõ ràng tránh làm ảnh hưởng đến BN Tập trung tư vấn cho những trường hợp bỏ liều 3/ Khảo sát nhu cầu và có kế hoạch điều chỉnh thời gian mở cửa cơ sở

4/ Tăng cường công tác quảng bá dịch vụ điều trị Methadone và có kế hoạch hỗ trợ việc làm cho BN

Trang 9

Người tiêm chích ma túy, khi tham gia chương trình điều trị thay thế bằng Methadone sẽ theo dõi được thường xuyên tình trạng sức khỏe của mình, điều trị kịp thời các bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng như các bệnh khác có liên quan đến việc

sử dụng các CDTP giúp tăng cường sức khỏe, từ đó có tác động giảm bớt gánh nặng chi phí cho gia đình bệnh nhân và xã hội, tạo điều kiện cho họ quay trở về với cuộc sống bình thường, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng Bên cạnh đó, các hành vi phạm tội có liên quan tới ma túy sẽ giảm bớt do người bệnh không quá bức xúc về vấn đề kinh tế để có tiền mua ma túy, từ đó tình hình trật tự, an toàn xã hội phần nào được cải thiện tốt hơn [8]

Chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone tại thành phố Cần Thơ được triển khai từ tháng 6 năm 2010 ở hai quận Ninh Kiều và Cái Răng Đến cuối năm 2017, toàn thành phố đã có 05 cơ sở điều trị và 05 cơ sở cấp phát thuốc Methadone nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho việc tiếp cận điều trị Số người NCMT được xét duyệt đưa vào điều trị 1.183 người, số BN bỏ trị là 714 người (chiếm 60%), hiện chỉ còn 469 người duy trì điều trị và còn 666 người NCMT chưa được điều trị[33]

Tại quận Ninh Kiều, số người NCMT hiện nay là 564 người, đã xét duyệt đưa vào điều trị 455 người, số chưa được điều trị là 109 người Số bệnh nhân bỏ trị

là 315 người chiếm 44,1% số người bỏ trị toàn thành phố và chiếm 69,2% tổng số người được đưa vào điều trị (đang duy trì 140 người) [33]

Trang 10

Sau thời gian triển khai điều trị, hiện nay các số liệu liên quan đến bệnh nhân

bỏ trị Methadone tại địa phương chưa nhiều Khó khăn hiện nay là nguồn bệnh nhân mới đưa vào điều trị không còn nhiều, số bệnh nhân duy trì điều trị ngày càng thấp, phần lớn bệnh nhân điều trị Methadone chuyển sang sử dụng ma túy đá, vừa điều trị Methadone vừa sử dụng ma túy tổng hợp nên dẫn đến tình trạng bệnh nhân không tuân thủ điều trị dần dần tiến tới bỏ trị, một số tham gia điều trị bằng Methadone là

để đối phó, để không bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc [15][28] Việc thu thập

số liệu và công bố những bằng chứng thực tiễn về đặc điểm và các yếu tố liên quan đến bệnh nhân gắn kết với điều trị bằng Methadone là cần thiết

Một số câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Tại sao bệnh nhân không tiếp cận điều trị bằng Methadone? Tại sao khi tiếp cận điều trị bằng Methadone bệnh nhân lại không tuân thủ điều trị, đặc biệt là bỏ trị? Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng không tiếp cận điều trị và không tuân thủ điều trị là gì? Ma túy tổng hợp, đặc biệt là các chất kích thích dạng amphetamine trong đó có ma túy đá ảnh hưởng đến tiếp cận điều trị bằng Methadone như thế nào?

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Tiếp cận điều trị và bỏ trị của người nghiện chích ma túy tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều, thành phố Cần thơ năm 2018” Kết quả từ nghiên

cứu này nhằm giúp địa phương rút ra được những vấn đề thực tiễn và tìm ra các giải pháp phù hợp để tăng sự tiếp cận với chương trình điều trị bằng Methadone, giảm

số người bỏ trị nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình điều trị Methadone tại thành phố Cần Thơ

Trang 11

M C TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả một số rào cản của người nghiện chích ma túy trong việc tiếp cận điều trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2018;

2 Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều, giai đoạn 2015 - 2017;

3 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều năm 2018

Trang 12

hương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình tiêm chích ma túy và HIV/AIDS

1.1.1 Trên thế giới

Theo báo cáo của Cơ quan phòng, chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), trong năm 2014 thế giới có gần 250 triệu người trong độ tuổi từ

15 - 64 sử dụng ít nhất là một loại ma túy Tuy con số này không tăng nếu xét theo

tỷ lệ dân số thế giới, song số người nghiện ma túy đã lên đến con số kỷ lục 29 triệu người, so với con số 27 triệu người trong báo cáo trước đó 4 năm của Liên Hợp Quốc [36]

Những vùng tập trung lớn như: Tam giác vàng (Mianma, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Việt Nam), Lưỡi liềm vàng (Iran, Pakistan, Tazekistan) và ở các nước Châu Mỹ La tinh, Pêru, Colombia, Bôlivia Việc sử dụng ma túy đang lan rộng làm tăng gánh nặng chủ yếu là các nước đang phát triển, đặc biệt là Đông Nam Á và khu vực Tây Á Liên quan đến nghiện ma túy là sự lây nhiễm HIV ở nhóm này qua đường tiêm chích trong nhóm người nghiện chích và cho cộng đồng [57]

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma túy chủ yếu phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng mạnh xuống vùng Đồng bằng sông Hồng và Khu vực miền Đông Nam bộ Năm 1994 có tới hơn 61% người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộc khu vực của các tỉnh Trung du

và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là gần 30% [3]

Loại ma túy được sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi Tỷ lệ sử dụng Heroine năm 2013 là 75%; 10% sử dụng ma túy tổng hợp; thuốc phiện 7%; cần sa chiếm 1,7%, các loại khác chiếm 6,3% Theo đánh giá của UNODC, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hướng gia tăng trong người nghiện ma túy tại Việt Nam; việc gia tăng lạm dụng các loại ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn [2]

Trang 13

Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện nay cả nước có hơn 210.000 người nghiện ma túy ở mọi thành phần xã hội và lứa tuổi Trong đó, hơn 70% người dưới 35 tuổi, 35% người nghiện có tiền án, tiền sự liên quan đến tội phạm Hiện tình hình buôn bán, sản xuất, vận chuyển ma túy với quy mô ngày càng lớn, đặc biệt là việc mua bán và sử dụng ma túy tổng hợp tăng nhanh trong thanh thiếu niên [15]

1.2 Các khái niệm dùng trong nghiên cứu:

1 Ma túy: Theo Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật phòng, chống ma túy: Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng; Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [30]

2 Nghiện ma túy: Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma túy được định

nghĩa là “tình trạng bệnh mạn tính, tái diễn của não bộ, biểu hiện bằng việc người bệnh bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma tuý, bất chấp hậu quả về sức khỏe và xã hội liên quan đến việc sử dụng” [30]

3 Heroin: Heroin có tên hóa học là Diacetylmorphine là một loại chất gây

nghiện bán tổng hợp được chiết xuất từ quả cây thuốc phiện Nó được xếp cùng nhóm với các chất giảm đau mạnh

Heroin thường ở dạng bột, có màu sắc khác nhau tùy thuộc vào độ tinh khiết Heroin được biết đến với những tên như: hàng trắng, bạch phiến … Heroin có tác dụng làm ức chế, làm giảm hoạt động của não bộ và hệ thống thần kinh trung ương [10]

4 Thuốc lắc (Ecstasy): thuốc lắc, gọi đầy đủ là thuốc lắc MDMA, được

chiết xuất từ nhiều hóa chất khác nhau Đây là loại ma túy tổng hợp bao gồm cả các chất dạng Amphetamine và một số các chất gây ảo giác Amphetamine là các chất kích thích hoạt động của não bộ và hệ thần kinh trung ương Các chất gây ảo giác, làm cho người sử dụng nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy hoặc ngửi thấy những gì không tồn tại trên thực tế Ngoài tên thuốc lắc còn được gọi là bướm đêm, bay,

Trang 14

bánh, kẹo, nốt nhạc, vương miện, tim hồng hay chó dại tùy thuộc vào hình ảnh trên viên thuốc [10]

5 Methamphetamine: là một loại chất gây nghiện tổng hợp được tổng hợp

lần đầu tiên vào năm 1993 tại Nhật Bản bởi nhà khoa học tên là Nagai Nagayoshi Methamphetamine là chất gây nghiện thuộc nhóm kích thích dạng Amphetamine Methamphetamine tác động lên hệ thần kinh trung ương và kích thích giải phóng Dopamine hàng loạt Methamphetamine có màu trắng, không mùi và có nhiều dạng khác nhau:

+ Dạng thô thường với dạng bột trắng hoặc vàng nâu đỏ đỏ;

+ Dạng muối Hydrochlorit dưới dạng bột vị đắng, dễ hào tan trong nước và

có thể dùng để tiêm được;

+ Dạng tinh thể có độ tinh khiết cao: Methamphetamine dạng tinh thể hay còn gọi là hàng đá, pha lê được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1919 [10]

6 Chất dạng thuốc phiện nhƣ thuốc phiện (opiat, opioid): là tên gọi chung

cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, Methadone, puprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [6]

7 iều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là

kết hợp sử dụng thuốc Methadone để thay thế cho nghiện các chất dạng thuốc phiện cùng với các giải pháp tâm lý, xã hội làm cho người nghiện giảm dần tiến tới có thể ngừng sử dụng các chất dạng thuốc phiện mà không gây nhiễm độc tâm thần, không gây tăng liều và các tác động khác [6]

- iai đoạn Khởi liều: là liều khởi đầu từ 15 - 30mg tùy thuộc vào kết quả

đánh giá độ dung nạp các CDTP của người bệnh

- iai đoạn điều chỉnh liều: là giai đoạn liều điều trị sẽ được tiếp tục điều

chỉnh đến khi người bệnh đạt được liều có hiệu quả (làm hết hội chứng cai, giảm thèm nhớ, ngăn tác dụng của việc sử dụng heroin và không gây ngộ độc)

- iai đoạn điều trị duy trì: là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng

gây khoái cảm của heroin (liều trung bình từ 60 - 80mg)

8 Tiếp cận điều trị

Trang 15

Tiếp cận” là từ tiếng Việt tương ứng với từ “accessibility” trong tiếng Anh

Nó được dùng để mô tả mức độ số lượng nhiều người nhất có thể tiếp cận được của một sản phẩm nào đó (như các loại thiết bị, dịch vụ, môi trường không gian…) Tiếp cận chính là quá trình tương tác giữa chủ thể này với một chủ thể khác nhằm đạt được một mục tiêu xác định [38]

Tiếp cận điều trị: Là quá trình người NCMT tiếp cận với dịch vụ điều trị

bằng Methadone với mục đích là để được điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone

Phạm vi: Trong nghiên cứu này, chỉ đề cập đến việc người NCMT đến đăng

ký điều trị bằng Methadone tại các cơ sở điều trị Methadone

Hồ sơ đăng ký điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện, gồm [14]:

Người nghiện CDTP tự nguyện tham gia điều trị nghiện CDTP và cam kết tuân thủ điều trị nghiện CDTP Đối với người nghiện CDTP từ đủ 6 tuổi đến chưa

đủ 15 tuổi, chỉ được điều trị nghiện CDTP sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó

1 Đơn đăng ký điều trị nghiện CDTP bằng thuốc thay thế theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này

2 Bản sao của một trong những giấy tờ sau (chỉ áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này): Chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy khai sinh hoặc hộ khẩu, giấy phép lái xe

- Tổ chức khám đánh giá cho người đăng ký điều trị nghiện CDTP;

- Tiếp nhận trường hợp đủ điều kiện tham gia điều trị nghiện CDTP Trường hợp không đồng ý tiếp nhận, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

c) Giấy tiếp nhận trường hợp đủ điều kiện tham gia điều trị nghiện CDTP được lập thành 02 bản: 01 bản gửi người được điều trị nghiện CDTP hoặc người đại

Trang 16

diện theo pháp luật của người được điều trị nghiện CDTP trong trường hợp người

đó từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi; 01 bản lưu hồ sơ điều trị của người được điều trị nghiện CDTP tại CSĐT[14]

9 Bỏ trị: là bỏ liều (không đến uống thuốc) liên tục từ 30 ngày trở lên và có

quyết định ra khỏi chương trình (do Trưởng cơ sở điều trị ký và đóng dấu)[6]

10 iều trị lại: Là số bệnh nhân đã từng điều trị tại cơ sở, nhưng đã bỏ điều trị sau đó quay lại điều trị[6]

1.3 iều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone

1.3.1 Khái niệm Methadone

Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên các thụ thể muy (µ) ở nảo Tương tự như các CDTP khác, Methadone có tác dụng giảm đau, giảm ho, yên dịu, giảm hô hấp và gây nghiện, nhưng gây khoái cảm yếu

Methadone là một loại thuốc phiện nhưng không giống như các loại thuốc phiện khác, nó không ảnh hưởng đến hệ thần kinh của người sử dụng Sự phân hủy Methadone mất 24 giờ Do đó, người dùng Methadone chỉ cần dùng một liều mỗi ngày để tránh sự thèm muốn như những người nghiện heroin khác [6]

1.3.2 ƣợc động học

* Hấp thu

Methadone được hấp thu hoàn toàn và nhanh chóng qua đường uống

Tác dụng khoảng 30 phút sau khi uống và đạt nồng độ tối đa trong máu sau khoảng 3-4 giờ

Thời gian đạt nồng độ ổn định khoảng 3-10 ngày

* Phân bố

Methadone liên kết với albumin, protein huyết tương khác và các mô Do vậy, Methadone có hiệu quả tích lũy và độ thải trừ chậm (tỷ lệ gắn kết protein huyết tương từ 60-90%) Methadone tập trung chủ yếu ở các mô (phổi, gan, thận) cao hơn

ở huyết tương Methadone đi qua hàng rào rau thai và bài tiết qua sữa

Thời gian bán hủy trung bình 24 giờ khi sử dụng lặp lại nhiều lần

Đặc tính dược động học của Methadone thay đổi theo từng người nghiện

Trang 17

* Chuyển hóa

Chuyển hóa chủ yếu ở gan thông qua men Cytochrome P450

Chất chuyển hóa của Methadone không có tác dụng

* Thải trừ

Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, ngoài ra còn qua phân, mồ hôi và nước bọt

Độ thanh thải ở thận giảm khi pH nước tiểu tăng [6]

1.3.3 Liều điều trị

Liều khởi đầu

Liều khởi đầu 20mg/ngày

Điều chỉnh lều Methadone: 3 – 10 ngày đầu điều trị

Tăng liều từ 5 – 10 mg sau 4 ngày theo dõi, tổng liều tăng không được vượt quá 20 mg/tuần [6]

Liều điều trị duy trì

Liều điều trị duy trì tùy thuộc từng người bệnh, tùy thuộc mức độ nghiện và các thuốc điều trị kết hợp khác

Liều điều trị thấp nhất: 20 mg/ngày

Liều thông thường: 40 - 60mg/ngày

Đối với những người bệnh có độ dung nạp cao, liều duy trì có thể từ 100mg/ngày

60-Cá biệt có những người bệnh cần liều cao hơn 100mg/ngày (cần phải được hội chẩn) [6]

1.3.4 Mục đích của điều trị Methadone

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau [6]:

- Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy

- Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra (hoạt động tội phạm, lây nhiễm HIV/AIDS, viêm gam B, C do sử dụng chung bơm kim tiêm, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP, …)

Trang 18

- Cải thiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng, giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội

1.3.5 Tái sử dụng chất dạng thuốc phiện

Là tình trạng tái sử dụng chất dạng thuốc phiện khi đang điều trị bằng Methadone Để đánh giá tình trạng tái sử dụng chất dạng thuốc phiện bằng xét nghiệm nước tiểu tìm chất dạng thuốc phiện Xét nghiệm nước tiểu bằng kỹ thuật sắc ký miễn dịch, âm tính: xuất hiện hai vạch đỏ rõ rệt: vạch chứng (C vạch kết quả (T), dương tính: chỉ xuất hiện một vạch chứng (C), kết quả không có giá trị: không thấy xuất hiện vạch chứng (C) [13]

1.3.6 Tác dụng không mong muốn, chỉ định, chống chỉ định và thận trọng

Tác dụng không mong muốn: gồm táo bón, khô miệng và tăng tiết mồ hôi;

Hầu hết những người nghiện CDTP có ít tác dụng không mong muốn, tuy nhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi, có thể vẫn tồn tại trong quá trình điều trị [9]

Chỉ định: Điều trị thay thế nghiện các CDTP bất hợp pháp

Chống chỉ định: 1) Dị ứng với Methadone và các tá dược của thuốc; Các

bệnh gan nặng, bệnh gan mất bù; Suy hô hấp nặng, hen cấp tính, chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ, viêm loét đại tràng, co thắt đường tiết niệu và đường mật 2) Các rối loạn tâm thần nặng mà chưa được điều trị ổn định: tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát; 3) Đang điều trị bằng thuốc đồng vận, đối vận, hoặc vừa đồng vận vừa đối vận với CDTP (naltrexone, buprenorphine…)

Thận trọng khi chỉ định cho các đối tượng sau: Người bệnh nghiện nhiều

loại ma túy; Người bệnh nghiện rượu; Người bệnh sử dụng đồng thời các thuốc gây tương tác thuốc; Người bệnh có tiền sử sử dụng naltrexone; Người bệnh tâm thần đang sử dụng các thuốc hướng thần; Người bệnh đau mạn tính, hen phế quản, suy thượng thận, suy giáp, phì đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường [9]

1.4 Tổng quan các nghiên cứu điều trị nghiện các TP bằng Methadone 1.4.1 Nghiên cứu liên quan đến tiếp cận điều trị bằng Methadone

Trang 19

- Nghiên cứu của Chungqing Lin và cộng sự năm 2008 tại Trung Quốc cho thấy, để được điều trị, người tham gia phải chứng minh là đã thất bại trong việc điều trị cai nghiện trước đó và phải được sự chấp nhận của cảnh sát địa phương, đồng thời việc điều tra của cảnh sát là một trở ngại cho việc tiếp cận điều trị Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự kỳ thị của xã hội đối với người sử dụng CDTP đã được ghi nhận là một trong những lý do tại sao họ không tham gia điều trị Việc bị phát hiện đến cơ sở điều trị Methadone có nghĩa họ là một con nghiện và điều đó dẫn đến họ

bị mất việc làm [40]

- Nghiên cứu của Peterson James A và cộng sự tại Baltimore, Maryland năm

2010, với 26 người ra khỏi chương trình điều trị nghiện các CDTP tham gia nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều người nghiện Heroin đang cố gắng tiếp cận với chương trình, nhưng họ không thể tiếp cận được Có nhiều rào cản cản trở

họ đến với chương trình

Khó khăn liên quan đến sổ ghi danh người tham gia điều trị Để tham gia chương trình điều trị từ sổ ghi danh, người tham gia phải báo cáo bằng cách gọi điện thoại đến cơ sở thường xuyên Điều đó là rào cản với người không muốn tiến cận với cơ sở qua điện thoại Hơn nữa, những người tham gia thiếu bảo hiểm để trả cho cơ sở một khoảng lệ phí (khoảng 5USD một tuần) Do đó, nếu cung cấp điều trị miễn phí có thể làm tăng và duy trì điều trị Một yếu tố khác là, có một số người không muốn tham gia điều trị lâu dài vì họ cho rằng Methadone làm tổn hại đến sức khỏe của họ Có người cho rằng Methadone tồi tệ hơn Heroin vì Methadone dễ làm gẫy xương hoặc hỏng răng Khi cơ sở giảm liều thì họ xuất hiện hội chứng cai của Methadone sẽ khó khăn hơn hội chứng cai của Heroin Có người không muốn tham gia chương trình vì hàng ngày họ phải đến cơ sở uống thuốc và đó là trở ngại đối với họ, hoặc họ không muốn lệ thuộc vào cơ sở [48]

1.4.2 Nghiên cứu liên quan các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ trị Methadone

Việc BN không tuân thủ điều trị cũng như bỏ trị đã được một số nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã phân tích các yếu tố liên quan Các nghiên cứu đã chỉ

ra có 4 nhóm yếu tố chính liên quan đến tuân thủ điều trị và bỏ trị Methadone đó là:

Trang 20

nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân; nhóm yếu tố từ phác đồ điều trị; nhóm yếu tố từ gia đình và nhóm yếu tố từ dịch vụ điều trị [1][18]

1.4.2.1 Nhóm yếu tố liên quan từ đặc điểm cá nhân

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến bỏ trị bao gồm: đặc trưng về nhân khẩu học và đặc điểm về sức khỏe như tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thời gian sử dụng ma túy trước điều trị … và các yếu tố khó khăn từ bản thân [1][53]

Bệnh nhân ở nhóm tuổi càng trẻ thì thì khả năng bỏ trị càng cao, BN có tình trạng độc thân, góa, ly dị và ly hôn thì nguy cơ bỏ trị cao hơn Bệnh nhân hiện còn

sử dụng ma túy thì khả năng bỏ trị thấp hơn những bệnh nhân không còn sử dụng

ma túy, tuy nhiên người có thời gian sử dụng ma túy dưới 7 năm có nguy cơ bỏ trị cao hơn so với những người có thời gian sử dụng ma túy trên 7 năm Một nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy những bệnh nhân sủ dụng chất gây nghiện sớm hơn, thường xuyên hơn và thời gian sử dụng chất gây nghiện trước khi điều trị nhiều hơn thì có nguy cơ bỏ trị cao hơn [47] [53]

Nghiên cứu của Steven Alex và cộng sự năm 2008 tại Anh về ước tính và giải thích khách hàng sớm ra khỏi chương trình (bỏ trị) điều trị nghiện ma túy, số liệu được thu thập từ hồ sơ từ 3 khu vực điều trị nghiện các chất ma túy với cỡ mẫu

2624 khách hàng, nghiên cứu định tính với 53 khách hàng, 16 nhân viên của 10 cơ

sở kết quả cho thấy 16,7% khách hàng rời khỏi chương trình trước khi điều trị, 7,8% khách hàng bỏ trị trong vòng 30 ngày đầu Những người bỏ trị là những người trẻ tuổi, người không có nhà, người hiện tại không TCMT Tuổi và tình trạng TCMT là 2 yếu tố liên quan nhiều điến bỏ trị của bệnh nhân Phân tích định tính cho thấy những vấn đề ảnh hưởng đến bệnh nhân bỏ trị đó là giờ mở của của dịch vụ, kỹ năng nâng cao động cơ điều trị, thiếu rõ ràng về kỳ vọng điều trị, dài dòng, lập đi lập lại các thủ tục đánh giá, liều điều trị ban đầu thấp, và yêu cầu thường xuyên giám sát sử dụng Methadone [55]

Theo Stark MJ, lý do bỏ trị của các bệnh nhân điều trị Methadone được biết đến là yếu tố từ liều Methadone, thời gian điều trị, sự khác biệt giới tính và tiền sử

lệ thuộc vào may túy Các yếu tố như tuổi tác, tiền sử sử dụng rượu, điều kiện về

Trang 21

kinh tế, các yếu tố về xã hội cũng ảnh hưởng đến việc bỏ trị của bệnh nhân điều trị MMT [54]

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế (FHI) năm 2014 cho thấy ở những BN có tiền sử sử dụng ma túy lâu năm, trung bình khoảng 10 năm trở lên thì tỉ lệ sử dụng ma túy trong điều trị thấp và giảm dần theo thời gian điều trị Có thể những người tiêm chích ma túy có thời gian sử dụng ma túy lâu năm là những người thực sự muốn cai, như vậy cam kết tuân thủ của họ cao hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những BN có công việc xa nhà thì khả năng bỏ trị cao hơn 4 lần những BN không có công việc xa nhà Các nghiên cứu tại Mỹ, ý và Trung Quốc cho thấy những BN có công việc và công việc và có công việc ổn định thường có kế hoạch điều trị và thành công trong duy trì điều trị hơn những BN thất nghiệp hoặc có công việc không ổn định, phải xa nhà [8]

Nghiên cứu của Liang H và cộng sự năm 2005 – 2013 tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc cho thấy trong 480 bệnh nhân thì tỷ lệ tuân thủ là 58.1% ở những bệnh nhân có được việc làm ổn định, có tiền sử cai nghiện bắt buộc tuân thủ tốt hơn, ở những bệnh nhân có test nước tiểu lần cuối cùng dương tính với morphin cso tỷ lệ tuân thủ thấp hơn [47]

Những BN có khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị trên 6 km thì khả năng

bỏ trị gấp 1.7 lần so với những BN có khoảng cách từ nhà ngắn hơn Điều này cho thấy việc thuận tiện trong đi lại của BN trong 1 lần đi đến CSĐT là yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng bỏ trị Nghiên cứu năm 2010 tại Trung Quốc và tại Pháp năm

2014 cho thấy CSĐT không nằm ở trung tâm thành phố, khoảng cách từ nhà đến cơ

sở quá xa, mất thời gian đi lại đến phòng khám làm tăng nguy cơ bỏ trị của BN [22] [42] Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc năm 2009 chỉ ra rằng BN mất thời gian

đi tới CSĐT trên 30 phút có nguy cơ bỏ trị cao gấp 1,63 lần sau 12 tháng điều trị [34]

Những BN càng gặp nhiều khó khăn từ bản thân thì nguy cơ bỏ trị càng cao Nghiên cứu tại Thái Nguyên phân tích đơn biến chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng bỏ trị ở những lý do như bận công việc phải đi xa, không sắp xếp được thời gian, sợ bị bắt đi tù và có vấn đề sức khỏe, những phân tích đa biến

Trang 22

chỉ cho thấy mối liên quan có ý nghĩa với việc sợ bị bắ đi tù Những BN sợ bị bắt đi

tù tỉ lệ bỏ trị cao gấp 5 lần so với những BN khác không sợ [1]

Nghiên cứu của tác giả Vũ Việt Hưng “Thực trạng hoạt động, sự tiếp cận và

sử dụng dịch vụ điều trị thay thế Methadone tại huyện Từ Liêm, Hà Nội năm 2010” cho thấy điều trị MMT mang lại những tác động tốt đến bệnh nhân, tăng cường sức khỏe, thay đổi cuộc sống, kinh tế gia đình không bị ảnh hưởng, bệnh nhân quan tâm đến bản thân, gia đình, giảm tỷ lệ tội phạm Tuy nhiên bệnh nhân còn gặp một số khó khăn, một số bệnh nhân sợ nghiện Methadone, chưa tin tưởng vào điều trị, sợ phụ thuộc vào chương trình, thời gian điều trị dài ảnh hưởng đến công việc và học tập, tỷ lệ bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi tác dụng phụ của thuốc cao Những tác động này đã ảnh hưởng đến việc duy trì điều trị cho bệnh nhân và bệnh nhân có thể bỏ trị

vì những tác động này [22]

1.4.2.2 Nhóm yếu tố liên quan đến gia đình

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ gia đình có ý nghĩa đối với việc duy trì của BN trong quá trình điều trị Bệnh nhân có sự hỗ trợ, quan tâm của gia dình càng nhiều thì khả năng duy trì trong chương trình cao hơn những BN không hoặc ít được quan tâm hơn, ngược lại những biến cố lơn trong gia đình cũng

là một trong nhũng yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ và duy trì điều trị của BN Trong nghiên cứu của FHI cho thấy việc tuân thủ điều trị Methadone mang lại những lợi ích như tăng cường chất lượng cuộc sống ở mức tốt hoặc rất tốt; tăng tỉ ệ BN hài lòng với tình trạng sức khỏe; tăng tỉ lệ có việc làm giúp các BN tái hòa nhập với gia đình và cộng đồng tốt hơn; giảm các vấn đề quan hệ gia đình và bạn bè [8][31][22]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và các cộng sự về đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone tại Hải Phòng

và Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2011 Nghiên cứu được tiến hành trên 965 bệnh nhân tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cho thấy: Giảm đáng kể việc dùng ma túy bất hợp pháp trong các bệnh nhân đang điều trị và trong số những người vẫn tiếp tục sử dụng heroin, tần suất tiêm chích cũng giảm Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân không làm việc toàn thời gian duy trì ở mức 40% sau 2 năm điều trị Tỷ

lệ bệnh nhân báo cáo có tham gia vào các hoạt động phạm tội giảm từ 40% tại thời

Trang 23

điểm bắt đầu xuống 1,3% khi điều trị 24 tháng Xung đột với gia đình và xã hội cũng thể hiện xu hướng giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sau 12 tháng điều trị là 11,7% và sau 24 tháng điều trị là 22,2%, trong tổng số 965 người tham gia vào chương trình, 171 bỏ trị tương đương với tỷ lệ bỏ trị 17,7%, điều này đã ảnh hưởng tới hiệu quả lâu dài của chương trình điều trị MMT [22]

Nghiên cứu hồi cứu thống kê của M.Hartel và cộng sự tại Mỹ năm 1995 sử dụng các dữ liệu thu được trong một mẫu cắt ngang của 652 bệnh nhân điều trị bằng

Methadone, kết quả cho thấy duy trì Methadone liều cao là quan trọng để giảm sử

dụng heroin [41] Nghiên cứu của Howard M Rhoades và cộng sự cho thấy mối quan hệ giữa liều điều trị Methadone và tỷ lệ sử dụng ma túy; theo đó với liều điều trị 80mg/ngày, tỷ lệ bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy là 20%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 45% ở những bệnh nhân có liều dùng 45mg/ngày [44]

Nghiên cứu của Andrews Siara và cộng sự tại 4 cơ sở điều trị MMT tại Fransico, California, Mỹ năm 2005, với 87 cán bộ y tế về kiến thức và thái độ, duy trì điều trị MMT tại các cơ sở điều trị MMT Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi tự điền thiết kế sẵn Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức và thái độ của nhân viên Y tế liên quan đến thành công của điều trị Những cán bộ đã từng làm công tác về điều trị nghiện rượu, nghiện ma túy có kiến thức cao hơn những cán bộ chưa từng làm trong lĩnh vực này Những cán bộ đã qua tập huấn về Methadone có kiến thức cao hơn những cán bộ chưa từng tham gia

Trang 24

tập huấn Tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa ra được những nội dung tập huấn cần thiết và những khó khăn trong quá trình điều trị cho bệnh nhân của cán bộ Y tế [39]

Nghiên cứu của Herman Joseph và cộng sự tại Mỹ tháng 11 năm 2000 cho thấy duy trì điều trị Methadone sẽ làm giảm hội chứng cai và sự thèm muốn với heroin Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng liều 80-120 mg/ngày hoặc cao hơn với thời gian điều trị kéo dài sẽ đạt được hiệu quả cao hơn so với liều điều trị thấp [39]

Liều điều trị Methadone cũng có vai trò quan trọng trong việc dự phòng lây nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu của Hartel DM và Schoenbaum EE cho thấy bệnh nhân được điều trị với liều cao hơn 80 mg/ngày có tỷ lệ lây nhiễm HIV thấp hơn hẳn so với bệnh nhân dùng liều thấp hơn [46]

Nghiên cứu của Schwartz Robert P và cộng sự tại Baltimore, Maryland năm 2009, với 1000 bệnh nhân sau 18 tháng điều trị, tại 6 cơ sở điều trị MMT Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ xét nghiệm dương tính với CDTP trong nước tiểu giảm từ 89,6% trước điều trị xuống 38,4% Nghiên cứu chưa đưa ra lý do bệnh nhân điều trị MMT vẫn sử dụng CDTP trong thời gian điều trị [52] Một nghiên cứu của

Guohong Chen và Takeo Fujiwara ở Trung Quốc (2009) cho thấy liệu pháp điều trị

Methadone giúp trong việc giảm tỷ lệ tiêm heroin và cũng được cải thiện mối quan

hệ xã hội và gia đình Hành vi chống đối xã hội, bao gồm cả hành vi trộm cắp, mại dâm, và kinh doanh heroin, giảm sau 1 năm điều trị Methadone [43]

Nghiên cứu của Shwartz Robert P và cộng sự tại Balltimore, Maryland năm

2008, với 46 bệnh nhân (18 đang điều trị, 28 ra khỏi chương trình) được phỏng vấn sâu Kết quả cho thấy, những nhận xét không đồng tình là ảnh hưởng đến sức khỏe, điều trị Methadone là điều trị lâu dài, hội chứng cai khi ngừng điều trị, những ảnh hưởng đến sức khỏe “ ảnh hưởng đến xương và răng của họ”, “phụ nữ tăng cân”,

“ảnh hưởng đến tình dục” Những người tham gia “không muốn mãi phụ thuộc vào chương trình” Một số ý kiến cho rằng “Hội chứng cai của Methadone là tồi tệ hơn Heroin” Một số ý kiến tin tưởng rằng Methadone là nguyên nhân “buồn ngủ” ở người tham gia điều trị, ảnh hưởng tới công việc của họ Những ý kiến ủng hộ cho rằng Methadone giúp “giảm hoặc ngừng hành vi phạm tội, tăng cường sức khỏe cho người điều trị” [51]

Trang 25

Một nghiên cứu khác tại Thái Nguyên cho thấy những BN còn cảm giác thèm ma túy trong điều trị thì khả năng bỏ trị cao gấp 2 lần so với những BN không còn cảm giác thèm ma túy Bên cạnh đó những BN còn cảm giác thèm ma túy thì họ

có khả năng sử dụng thêm Heroin trong quá trình điều trị, một chỉ số đo lường việc

sử dụng Heroin là xét nghiệm nước tiểu ngẫu nhiên hàng tháng Những BN có tần suất dương tính với Heroin càng nhiều thì thì nghĩa là họ thường xuyên sử dụng thêm Heroin trong điều trị thì khả năng duy trì điều trị Methadone lại cao hơn nhóm

BN ít sử dụng, nghiên cứu này chỉ ra rằng những BN có số lần xét nghiệm dương tính với Heroin từ 2 lần trở lên thì khả năng bỏ trị thấp hơn so với những BN có số lần xét nghiệm nước tiểu dương tính với heroin dưới 2 lần [1]

Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2010, kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng cho thấy với liều duy trì từ 35mg đến 45mg/ngày, kết quả xét nghiệm nước tiểu cho thấy tỷ lệ dương tính với CDTP thấp, chỉ chiếm khoảng 5% trên tổng số hơn 1.000 mẫu nước tiểu Tại Viện Sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai, khi bắt đầu điều trị thì 100% bệnh nhân có mẫu xét nghiệm nước tiểu dương tính với CDTP, sau 24 tuần theo dõi tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 9,26% [8].Nghiên cứu của Soyka tại Đức năm 2008 và Zang tại Trung Quốc năm 2015 cho thấy mối liên quan giữa tần suất xét nghiệm nước tiểu dương tính với tình trạng bỏ trị [53][56]

Tại Việt Nam, nghiên cứu tại phòng khám quận 4 thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ xét nghiệm nước tiểu dương tính ít nhất 1 lần trong 12 tháng qua là 14% [10] Một nghiên cứu khác của Phạm Văn Hán và cộng sự tiến hành nghiên cứu

về thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị Methadone trên 394 bệnh nhân tại cơ sở điều trị Methadone quận Lê Chân- Hải Phòng năm 2011 cũng chỉ ra rằng tỷ

lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 22,1% Và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ của bệnh nhân bao gồm các yếu tố như tình trạng duy trì sử dụng ma túy, yếu tố từ gia đình, bạn bè và thời gian nhận dịch vụ[19]

Trang 26

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào các tài liệu, hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình ĐT bằng Methadone do

Bộ Y tế ban hành và các nghiên cứu có liên quan

BỆNH NHÂN BỎ TRỊ

TIẾP CẬN ỀU TRỊ

- Yếu tố cá nhân: Sợ bị tiết lộ thông tin; Kỳ thị

và tự kỳ thị; Niềm tin vào kết quả điều trị và

tiền sử sử dụng và cai nghiện ma túy

- Yếu tố gia đình: Mức độ quan tâm và thái độ

của gia đình đối với người NCMT; Sợ bị ảnh

hưởng vị thế của gia đình

- Yếu tố môi trường: Dịch vụ tại cơ sở, ảnh

hưởng bạn bè, Chính sách của chương trình

BỆNH NHÂN DUY TRÌ

ỀU TRỊ

YẾU TỐ MÔ TRƯỜNG

- Yếu tố dịch vụ điều trị: Vị trí của cơ sở;

Thời gian mở cửa; Thái độ nhân viên y tế;

Giám sát của đơn vị quản lý; Tác dụng phụ

của thuốc, tiến trình điều trị …

- Yếu tố cộng đồng: Ảnh hưởng bạn bè,

người bán ma túy, kỳ thị phân biệt đối xử

- Yếu tố chính sách: Thuốc không được

mang về, chuyển gửi, chỉ tiêu điều trị

- Gia đình không tiếp tục hỗ trợ

- Tự nhận thức vai trò trong gia đình

- Biến cố từ gia đình

Trang 27

1.6 ặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 2004, là trung tâm kinh

tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền Tây Nam Bộ, là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, có vai trò là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Quận Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ, với diện tích: 29,2 Km2, dân số: 260.838 người, gồm 13 phường, 71 khu vực Ninh Kiều là nơi giao điểm của nhiều đầu mối giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không, nơi tập trung đông các trường học, bệnh viện, các cơ quan, xí nghiệp, khu vui chơi, mua sắm,… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, song song với các vấn đề hệ lụy cấp bách cần được giải quyết, nhất là tình hình trật tự an toàn xã hội, dịch bệnh tại địa phương mà nổi cộm là tệ nạn về ma túy gắn liền với dịch HIV/AIDS Mặc dù đã làm giảm được tốc độ lây lan của HIV, nhưng dịch HIV/AIDS vẫn diễn biến khó lường và tiềm ẩn các yếu tố có thể gây bùng nổ dịch nếu chúng ta không có những biện pháp ứng phó toàn diện và quyết liệt hơn [32]

Chính quyền địa phương nhận thấy sự ảnh hưởng lớn của dịch HIV/AIDS và

tệ nạn ma túy đến sự phát triển kinh tế xã hội nên quan tâm và đầu tư, đặc biệt là chương trình can thiệp giảm hại trên nhóm nghiện chích ma túy được chú trọng

Theo số liệu của Công an cung cấp, tính đến 31/12/2016 thành phố có 2.059 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý và có chiều hướng gia tăng hàng năm (năm 2013: 1.824 người; năm 2014: 2.022 người; năm 2015: 1.999 người; năm 2016: 2.059 người)

Về thành phần người nghiện ma túy: Chủ yếu trong độ tuổi thanh thiếu niên (dưới 30 tuổi) chiếm 49,68%, chưa vị thành niên (dưới 18 tuổi) 1,67%

Về đặc điểm nhân thân người nghiện ma túy: Người không có nghề nghiệp

ổn định chiếm tỷ lệ cao (85%), đa số có hoàn cảnh gia đình là lao động phổ thông, cha mẹ ly hôn, làm ăn xa không quản lý được con cái hoặc trong diện hộ nghèo Một số đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp có điều kiện kinh tế khá giả nhưng thiếu

sự quản lý của gia đình [15]

Trang 28

hương 2: PHƯƠN PH P N H ÊN ỨU

2.1 ối tượng nghiên cứu

+ HSBA của những BN đã bỏ trị và đang điều trị lại

+ HSBA không đủ thông tin theo yêu cầu, khó đọc

2.1.2 ịnh tính

2.1.2.1 BN bỏ trị

- Tiêu chí lựa chọn:

+ Là những bệnh nhân đã bỏ trị hẳn, hiện không tham gia điều trị tại bất kỳ

cơ sở điều trị Methadone nào khác

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ:

+ Bệnh nhân bỏ trị với lý do tử vong, chuyển chỗ ở hoặc địa bàn sinh sống

và chuyển cơ sở khác tiếp tục điều trị bằng Methadone

+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.2 Bệnh nhân điều trị lại

- Tiêu chí lựa chọn:

+ Là những BN đã bỏ trị và đang tham gia ĐT lại bằng Methadone tại cơ sở + Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ: Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.3 Người N MT chưa tham gia điều trị bằng Methadone

- Tiêu chí lựa chọn:

+ Chưa từng tham gia ĐT bằng Methadone

Trang 29

+ Từ 18 tuổi trở lên, có khả năng giao tiếp và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ: Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.4 Người nhà của người N MT chưa tham gia điều trị bằng Methadone

- Tiêu chí lựa chọn:

+ Là những người có quan hệ gần gũi, biết được tình trạng tiêm chích ma túy

và đang sống cùng với người NCMT nhưng chưa tham gia ĐT bằng Methadone

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ: Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.5 Nhân viên y tế

- Tiêu chí lựa chọn:

+ Là những người đang trực tiếp làm việc tại CSĐT Methadone, hiểu rõ mục đích nghiên cứu và sẵn sàng cung cấp thông tin

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chí loại trừ: Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian:

Từ 11/2017 đến 11/2018; trong đó thời gian thu thập số liệu từ tháng 02/2018 – tháng 5/2018

2.2.2 ịa điểm

Cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Số 145 Nguyễn Thị Minh Khai, P An Lạc, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

2.4 ỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

- 134 HSBA của BN bỏ trị các năm 2015, 2016 và 2017

- Chọn mẫu toàn bộ HSBA đáp ứng tiêu chí lựa chọn

- Nhân viên hành chính tại cơ sở điều trị Methadone tổng hợp tất cả các hồ sơ bệnh án đã bỏ trị, để lập thành danh sách những HSBA bỏ trị đưa vào nghiên cứu

Trang 30

2.4.2 Nghiên cứu định tính

2.4.2.1 Cỡ mẫu

ảng 2.1: Mô tả đối tượng tham gia định tính

TT ối tượng nghiên cứu Số người Số cuộc Ghi chú

2 Người nhà của người NCMT

chưa điều trị bằng Methadone 2 2

- Nhân viên y tế: Là những người đang trực tiếp làm việc tại cơ sở điều trị

Methadone, hiểu rõ mục đích nghiên cứu và sẵn sàng cung cấp thông tin

Trang 31

- Bệnh nhân điều trị lại: Nhân viên hành chính tại cơ sở điều trị Methadone xem

các hồ sơ bệnh án, sổ đăng ký điều trị để lập thành danh sách những bệnh nhân điều trị lại đưa vào nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 ông cụ thu thập số liệu

- Phiếu thu thập thông tin từ HSBA (Phụ lục 1)

- Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 2)

- Hướng dẫn PVS bệnh nhân bỏ trị (Phụ lục 3)

- Hướng dẫn PVS người NCMT chưa điều trị bằng Methadone (Phụ lục 4)

- Hướng dẫn PVS người nhà của người NCMT chưa điều trị bằng Methadone (Phụ lục 5)

- Hướng dẫn PVS nhân viên y tế (Phụ lục 6)

- Hướng dẫn TLN bệnh nhân điều trị lại (Phụ lục 7)

- Hướng dẫn TLN người NCMT chưa điều trị bằng Methadone (Phụ lục 8)

2.5.2 iều tra viên ( TV)

- ĐTV gồm có 3 người, đang công tác tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Cần Thơ, có nhiều kinh nghiệm trong việc thu thập thông tin qua phỏng vấn cũng như các cuộc điều tra tại cộng đồng

- Nghiên cứu viên trực tiếp tổ chức, điều hành các cuộc PVS và TLN

2.5.3 Kỹ thuật thu thập

- Số liệu thứ cấp: ĐTV ghi chép vào phiếu thu thập thông tin từ HSBA

- Số liệu định tính:

Phỏng vấn sâu:

Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc để phỏng vấn BN bỏ trị, nhân viên

y tế, người NCMT và người nhà của người NCMT chưa điều trị bằng Methadone Phỏng vấn viên ghi chép lại nội dung đồng thời ghi âm các cuộc phỏng vấn

Thảo luận nhóm:

Sử dụng phương pháp TLN trọng tâm với nhóm ĐTNC là những BN điều trị lại và người NCMT chưa điều trị bằng Methadone Nghiên cứu viên tiến hành ghi chép đồng thời ghi âm lại nội dung của buổi thảo luận

Trang 32

2.5.4 Tổ chức thu thập số liệu

2.5.4.1 Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu

Bộ công cụ (Phiếu thu thập thông tin, hướng dẫn PVS, TLN) được thiết kế dựa vào các tài liệu, hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình ĐT bằng Methadone do Bộ Y tế ban hành và các nghiên cứu có liên quan; Khi bộ công cụ được xây dựng xong, tiến hành điều tra thử, sau đó chỉnh sửa nội dung cho phù hợp với thực tế

2.5.4.2 Tập huấn trước nghiên cứu

- Tất cả thành viên trong nhóm nghiên cứu được tập huấn trước khi tiến hành thu thập thông tin

- Nội dung tập huấn bao gồm: giới thiệu mục đích, qui trình thu thập, các loại biểu mẫu/bộ công cụ thu thập thông tin, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thu thập Sau khi tập huấn xong, tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm cho điều tra thật

2.5.4.3 Sàng lọc và liên hệ mời ĐTNC

- Chuẩn bị: Nghiên cứu viên có buổi làm việc với Trưởng cơ sở điều trị Methadone để trao đổi kế hoạch triển khai nghiên cứu, xin ý kiến về việc phân công công việc cho nhân viên của cơ sở tham gia nghiên cứu

- Nhân viên hành chính tại cơ sở ĐT lập danh sách hồ sơ bệnh án bỏ trị và ĐTNC phù hợp với tiêu chí lựa chọn

2.5.4.4 Tiến hành điều tra phỏng vấn

- Điều tra viên thực hiện thu thập số liệu theo kế hoạch

- Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát quá trình thu thập số liệu để hỗ trợ khi cần thiết

- Kết thúc mỗi ngày thu thập mẫu điều tra, nghiên cứu viên kiểm tra phiếu điều tra về số lượng cũng như chất lượng thông tin, nếu không đạt yêu cầu thì tiến hành thu thập lại

Trang 33

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

2.6.1 Số liệu định lƣợng

- Sau khi thu thập, các phiếu điều tra được kiểm tra lại thông tin, nếu đầy đủ

sẽ giao lại cho nghiên cứu viên để được kiểm tra lại lần nữa

- Sử dụng phần mềm Epidata để nhập và quản lý số liệu

2.7 Biến số dùng trong nghiên cứu

Các biến số được xây dựng dựa trên tham khảo các nghiên cứu tương tự và các tài liệu hướng dẫn triển khai chương trình Methadone do Bộ Y tế ban hành

ảng 2.2: iến số dùng trong nghiên cứu

thu thập

I Biến số mô tả về các đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị

1 ặc điểm nhân khẩu học

1.1 Giới tính Là giới tính của ĐTNC Nhị phân HSBA

1.2 Tuổi

Nhóm tuổi dương lịch của ĐTNC, lấy năm 2018 trừ năm sinh

Trang 34

TT Biến số ịnh nghĩa Phân loại Công cụ

thu thập

nhân tại thời điểm nghiên cứu

2 ặc điểm về tình trạng việc làm và thu nhập

2.1 Nghề nghiệp Nghề nghiệp có thể mang lại thu

nhập cao nhất cho ĐTNC Danh mục HSBA

Thời gian ĐTNC bắt đầu sử dụng

ma túy đến khi tham gia điều trị (tính bằng năm)

Rời rạc HSBA

4 ặc điểm về tiền sử cai nghiện và vi phạm pháp luật

4.1 Cai nghiện

ĐTNC đã từng cai nghiện tại các

cơ sở cai nghiện ma túy trước khi tham gia điều trị

Nhị phân HSBA

4.2 Số lần cai nghiện Là số lần ĐTNC đi cai nghiện tại

các cơ sở cai nghiện ma túy Rời rạc HSBA

4.3 Tiền án/tiền sự Là quá trình mà ĐTNC đã từng bị

bắt vì vi phạm pháp luật Nhị phân HSBA

Trang 35

TT Biến số ịnh nghĩa Phân loại Công cụ

thu thập

5 ặc điểm điều trị và mắc các bệnh lý kèm theo

5.1 Liều điều trị Là liều điều trị gần nhất của

5.4 Các bệnh lý Là các bệnh mà ĐTNC mắc phải Danh mục HSBA

6 ặc điểm sử dụng ma túy trong quá trình điều trị

Rời rạc HSBA

7 ặc điểm về yếu tố gia đình

7.1 Người hỗ trợ ĐT Là người thường xuyên hỗ trợ

ĐTNC trong quá trình điều trị Định danh HSBA

Trang 36

TT Biến số ịnh nghĩa Phân loại Công cụ

thu thập

ĐT

8 ặc điểm về bỏ trị

8.1 Giai đoạn điều trị Là giai đoạn của quá trình điều trị Phân loại HSBA

8.2 Thời gian điều trị

(tính bằng năm)

Là thời gian ĐTNC đã tham gia điều trị tính đến thời điểm bỏ trị Rời rạc HSBA 8.3 Lý do bỏ trị Lý do chính dẫn đến việc bỏ trị Danh mục HSBA

2.8 Nội dung/chủ đề định tính

1 Tìm hiểu những rào cản trong việc tiếp cận chương trình điều trị bằng Methadone của người NCMT

− Yếu tố cá nhân: Sợ bị tiết lộ thông tin; Kỳ thị và tự kỳ thị; Mong muốn từ

bỏ ma túy; Niềm tin vào kết quả điều trị và tiền sử sử dụng và cai nghiện

2 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ điều trị của bệnh nhân

− Các yếu tố cá nhân: Nghề nghiệp và thu nhập; Sự sẵn sàng điều trị; Sự ngộ nhận đã điều trị thành công; Mắc các bệnh lý kèm theo trong điều trị; Thèm nhớ và sử dụng ma túy

− Các yếu tố gia đình: Áp lực từ gia đình buộc bệnh nhân phải điều trị; Gia đình không tiếp tục hỗ trợ; Tự nhận thức vai trò trong gia đình và biến cố

từ gia đình

− Các yếu tố môi trường:

o Nhóm yếu tố dịch vụ điều trị: Vị trí của cơ sở; Thời gian mở cửa; Thái độ nhân viên y tế; Giám sát của đơn vị quản lý; Tác dụng phụ của thuốc, tiến trình điều trị …

Trang 37

o Nhóm yếu tố cộng đồng: Ảnh hưởng bạn bè, người bán ma túy, kỳ thị phân biệt đối xử

o Nhóm yếu tố chính sách: Thuốc không được mang về, chuyển gửi, chỉ tiêu điều trị

3 Tìm hiểu những lý do bỏ trị của bệnh nhân: Ghi nhận lại những lý do thực sự dẫn đến quyết định bỏ trị ĐTNC hoặc những lý do bỏ trị của những BN khác mà ĐTNC biết được

4 Những khuyến nghị của đối tượng nghiên cứu đối với chương trình

2.9 Hạn chế của nghiên cứu

Do thời gian và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu thực hiện tại 1 cơ sở trong khi thành phố Cần Thơ có 5 cơ sở điều trị nên kết quả của nghiên cứu chưa đại diện cho toàn thành phố

Nghiên cứu định lượng sử dụng số liệu thứ cấp từ hồi cứu HSBA của BN nên nguồn số liệu này phụ thuộc vào quá trình ghi chép của nhân viên y tế

Nghiên cứu định tính ĐTNC là những đối tượng thường biến động và ẩn nên không có một khung mẫu rõ ràng phù hợp với tất cả đối tượng

Đến nay, tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu đánh giá về tình trạng bỏ điều trị của bệnh nhân cũng như nghiên cứu xác định các rào cản của người nghiện chích ma túy tiếp cận chương trình điều trị nên việc so sánh kết quả với các nghiên cứu khác còn nhiều hạn chế Do đó, nhóm nghiên cứu đưa những phân tích, đánh giá và dự báo dựa trên thực tế triển triển khai chương trình trong thời gian đã qua cũng như trong tương lai

2.10 ạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dưới sự cho phép của Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội (Quyết định số: 329/2018/YTCC-HD3, ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Trường Đại học Y tế Công cộng về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH) và được sự chấp thuận của Lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Cần Thơ và Trưởng cơ sở điều trị Methadone quận Ninh Kiều

Trang 38

ĐTNC được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và được sự đồng ý của ĐTNC trước khi tiến hành thu thập thông tin

ĐTNC có quyền từ chối trả lời những câu hỏi mà họ không muốn trả lời Tất

cả các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật hoàn toàn

Cán bộ nghiên cứu tôn trọng sự lựa chọn của người cung cấp thông tin và quan điểm của họ

Toàn bộ thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và học tập không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác

Trang 39

hương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu được trình bày gồm 3 phần:

1 Mô tả một số rào cản của người nghiện chích ma túy trong việc tiếp

cận điều trị tại cơ sở điều trị Methadone;

2 Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở điều trị

Methadone;

3 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bệnh nhân bỏ trị tại cơ sở

điều trị Methadone quận Ninh Kiều năm 2018

3.1 Một số rào cản người N MT tiếp cận điều trị chương trình Methadone

Phần lớn những người sử dụng ma túy đều mong muốn từ bỏ được ma túy, bằng chứng là trong nghiên cứu của chúng tôi cũng như các nghiên cứu khác ở Việt Nam và trên thế giới thì tỉ lệ người sử dụng ma túy tái nghiện rất cao, thậm chí có người đã cai nghiện rất nhiều lần nhưng vẫn tái nghiện, trong khi chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone đã được chứng minh tính hiệu quả[9] Tuy nhiên để người NCMT tiếp cận được với chương trình điều trị thay thế bằng Methadone thì bản thân họ gặp phải rất nhiều rào cản

3.1.1 Yếu tố cá nhân

Sợ bị tiết lộ thông tin

Phần lớn những người nghiện ma túy là những người thuộc những thành phần khác biệt: Con cái của những gia đình thiếu sự quan tâm, chia sẻ, những người gặp thất bại, bi quan trong cuộc sống, những người bị bạn bè rủ rê lôi kéo Bên cạnh

đó, khi đã phụ thuộc vào ma túy, mọi suy nghĩ của họ đều tập trung vào một vấn đề duy nhất đó chính là làm cách nào để có ma túy sử dụng Thời gian lâu dài chìm đắm trong ma túy ảnh hưởng đến suy nghĩ, tính cách, hành vi của họ dẫn đến tình trạng người nghiện khó kiểm soát được tâm tư, tình cảm, họ trở nên dễ bị kích động, giận dữ, gây hấn, mất ý chí, công thêm việc cơn thèm muốn sử dụng ma túy thôi thúc, họ dễ sa chân vào con đường phạm pháp, bất chấp làm mọi điều để có tiền mua thuốc Những điều đó khiến họ trở thành nỗi khiếp sợ trong cộng đồng,

Trang 40

tách biệt bộ phận người nghiện ra khỏi cộng đồng trở thành những thành phần khác biệt mà xã hội xa lánh, ruồng bỏ

Vì nhiều lý do nên người nghiện ma túy thường lẩn trốn, che giấu, phần lớn không tự khai báo tình trạng nghiện của họ Trong khi, chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là chương trình mở, công tác truyền thông vận động người NCMT đến cơ sở điều trị được thực hiện rộng rãi thông qua nhiều kênh thông tin điều này làm cho một nhóm người TCMT sợ khi đến đăng ký điều trị thì thông tin cá nhân của họ bị tiết lộ từ đó họ sẽ bị sự quản lý của công an, của chính quyền địa phương

“Tui chưa muốn đăng ký điều trị vì khi làm thủ tục thì ở phường sẽ biết tui là con nghiện vì phải xác nhận thủ tục này kia và như vậy phải chịu sự quản lý của địa phương nữa” (PVS người NCMT chưa điều trị - nam)

Thực tế triển khai chương trình, để tuyên truyền vận động người NCMT đến đăng ký điều trị bằng Methadone thì CSĐT cần đến sự hỗ trợ của Công an phòng, chống ma túy và ngược lại, trong công tác quản lý người nghiện tại địa phương thì công an phòng, chống ma túy cũng cần những thông tin từ phía CSĐT cung cấp Do

đó, bất kỳ một thông tin hay sự việc nào diễn ra tại CSĐT mà có liên quan đến người NCMT đều được truyền ra cộng đồng của họ từ đó làm cho họ càng sợ bị lộ thông tin hơn nữa cũng như mất lòng tin vào chương trình nên họ không muốn đăng ký điều trị

“Là con nghiện, lúc nào mà không bị công an dòm ngó, bạn tui ra đó đăng

ký điều trị, khi làm thủ tục xét chọn thì bị tóm luôn, nên tui đâu ngu ra đó làm gì” (PVS người NCMT chưa điều trị - nam)

Cũng chính vì họ không tiếp cận thường xuyên với thông tin bên ngoài nên thông tin mà họ tiếp nhận được qua bạn bè của họ là chủ yếu và họ gần như tin tưởng vào điều đó nên nghĩ rằng những điều xảy ra trong cộng đồng của họ thì cũng

sẽ xảy ra với chính họ

“Bạn tui đã uống thuốc hơn 1 năm rồi, thấy phiền lắm, mỗi năm 1 đến 2 lần

gì đó công an mời lên xét nghiệm nước tiểu vì nó quản lý chặt lắm đến khi

Ngày đăng: 23/12/2020, 07:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w