1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tang thức của người việt công giáo ở thành phố hồ chí minh sau công đồng vatican II nghiên cứu trường hợp giáo xứ tân lập và giáo xứ tân định

256 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 9,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam đã có rất nhiều đề tài được tiếp cận nghiên cứu bởi các chuyên ngành như: tôn giáo học, lịch học, xã hội học, nhân học, dân tộc học… Nhìn chung, các đề

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TẠ DUY LINH

TANG THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SAU CÔNG ĐỒNG VATICAN II (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ TÂN LẬP VÀ GIÁO XỨ TÂN ĐỊNH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

TRÀ VINH, NĂM 2020

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TẠ DUY LINH

TANG THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SAU CÔNG ĐỒNG VATICAN II (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ TÂN LẬP VÀ GIÁO XỨ TÂN ĐỊNH)

Ngành: Văn hóa học

Mã ngành: 9229040

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Phan An

2 TS Nguyễn Đệ

TRÀ VINH, NĂM 2020

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trà Vinh, tháng 12 năm 2020

Tác giả luận án

Tạ Duy Linh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án, ngoài những nỗ lực của bản thân và sự giúp

đỡ của gia đình, tôi xin hết lòng biết ơn đến Quý Thầy Cô giảng dạy chương trình đào tạo Tiến sĩ ngành Văn hóa học đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho bản thân tôi

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể người hướng dẫn khoa học, Quý Thầy đã tận tâm, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Trà Vinh, Quý vị Chức sắc Công giáo ở Việt Nam và ở tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu thực tế tại địa bàn nghiên cứu

Trân trọng

NCS Tạ Duy Linh

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các sơ đồ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Lý do chọn đề tài 1

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6

Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8

Điểm mới của luận án 13

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 13

Bố cục của luận án 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 15

1.1.1 Nghi lễ và biểu tượng nghi lễ được đề cập trong các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 15

1.1.2 Tang thức của người Việt được đề cập trong các công trình bàn về tang ma truyền thống 16

1.1.3 Tang thức của tín đồ Công giáo trước và sau Công đồng Vatican II ở Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh 24

1.1.4 Những nghiên cứu liên quan đến Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và điểm nghiên cứu (giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định) 33

Trang 7

1.2 Cơ sở lý luận 39

1.2.1 Một số khái niệm 39

1.2.1.1 Khái niệm phong tục 39

1.2.1.2 Khái niệm cộng sinh văn hóa 40

1.2.1.3 Khái niệm tiếp biến văn hóa 44

1.2.1.4 Khái niệm hội nhập văn hóa 46

1.2.1.5 Khái niệm tang thức 49

1.2.2 Hướng tiếp cận lý thuyết nghiên cứu 52

1.2.2.1 Lý thuyết hậu cấu trúc (poststructuralism) 52

1.2.2.2 Lý thuyết tương đối văn hóa (cultural relativism) 56

Tiểu kết chương 1 60

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II 61

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 61

2.1.1 Lược sử tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh 61

2.1.2 Khái quát hai điểm nghiên cứu 64

2.1.2.1 Cộng đồng giáo xứ Tân Lập 64

2.1.2.2 Cộng đồng giáo xứ Tân Định 66

2.1.2.3 Mô tả đặc điểm cộng đồng giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định 69

2.2 Khái quát Công đồng Vatican II 74

2.2.1 Tìm hiểu thuật ngữ Công đồng 74

2.2.2 Những tiền đề ra đời của Công đồng Vatican II 77

2.2.3 Nội dung của Công đồng Vatican II 82

2.3 Tang thức Công giáo trước Công đồng Vatican II ở Việt Nam 86

Tiểu kết chương 2 90

CHƯƠNG 3 DIỄN TRÌNH TANG THỨC TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TỪ TẬP QUÁN ĐẾN TÍN LÝ 91

Trang 8

3.1 Từ tập quán người Việt đến tín lý Công giáo 91

3.1.1 Quan niệm của người Việt về cái chết 91

3.1.2 Quan niệm của Công giáo về cái chết 94

3.1.3 Quan niệm của người Việt về linh hồn 97

3.1.4 Quan niệm của Công giáo về linh hồn và chiêu hồn (nhập hồn) 99

3.2 Tang thức của người Việt Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh 102

3.2.1 Vài nét về tập quán mai táng của người Việt trong lịch sử 102

3.2.1.1 Tục lệ và ứng xử trước tang lễ 104

3.2.1.2 Tục lệ và ứng xử trong tang lễ 105

3.2.1.3 Tục lệ và lễ thức sau chôn cất 105

3.2.2 Những nghi lễ trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh 108

3.2.2.1 Những nghi lễ diễn ra trong không gian gia đình 108

3.2.2.2 Những nghi lễ diễn ra trong không gian nhà thờ 118

3.2.2.3 Những nghi lễ diễn ra ở không gian nghĩa trang (đất thánh) 125

Tiểu kết chương 3 130

CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TANG THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT CÔNG GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 131

4.1 Đặc điểm văn hóa trong tang thức Công giáo 131

4.1.1 Tang thức thể hiện tính dung hợp 131

4.1.2 Tang thức thể hiện tính chuẩn mực 138

4.1.3 Tang thức thể hiện tính linh hoạt 143

4.2 Giá trị văn hóa hóa trong tang thức Công giáo 149

4.2.1 Tang thức thể hiện sự gắn kết cộng đồng 149

4.2.2 Tang thức thể hiện nhu cầu tâm linh 158

4.2.3 Tang thức thể hiện nếp sống đạo 164

Tiểu kết chương 4 170

Trang 9

PHẦN KẾT LUẬN 171

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 176

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1

PHỤ LỤC 1 KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ AN TỬ VÀ TRỢ TỬ THEO THẦN HỌC CÔNG GIÁO 1

PHỤ LỤC 2 DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN 7

PHỤ LỤC 3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 10

PHỤ LỤC 4 NHẬT KÝ ĐIỀN DÃ 21

PHỤ LỤC 5 CÁC CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU 27

PHỤ LỤC 6 BẢN ĐỒ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM 32

PHỤ LỤC 7 BẢN ĐỒ GIÁO PHẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34

PHỤ LỤC 8 DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH MINH HỌA 35

Trang 10

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số liệu tín đồ tại tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh 63 Bảng 3.1: Quy định lễ thức trong tang chế người Việt qua một số mốc thời gian 105

Trang 11

vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức giáo xứ Tân Lập 72

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức giáo xứ Tân Định 74

Trang 12

viii

Trang 13

hệ giá trị chân lý, luân lý thuộc về hệ tư tưởng, Công giáo còn là một tôn giáo có những hoạt động mang tính nhập thế qua các hình thức tổ chức và con người rất cụ thể

Công giáo khi đến Việt Nam2, đã mang theo tư tưởng sẽ giữ được những đặc điểm văn hóa tôn giáo nguyên thủy của giáo hội Vì vậy, ngay từ những ngày đầu truyền vào Việt Nam, nghi lễ thờ cúng tổ tiên được đặt ra gay gắt và mang tính loại bỏ bởi tín lý nhất thần giáo Việc này đã gây ra sự xung đột nghiêm trọng giữa Công giáo với văn hóa Việt Nam

Thực vậy, sự xung đột giữa Công giáo với văn hóa truyền thống người Việt không chỉ trên bình diện văn hóa phương Tây với phương Đông, mà còn là sự xung đột giữa niềm tin tôn giáo độc thần với niềm tin tín ngưỡng đa thần qua việc thực hành nghi lễ

Trải qua bao tháng năm thăng trầm, cuối cùng giáo hội Công giáo Rôma đã nhận

ra rằng, muốn công cuộc truyền bá niềm tin Công giáo đến được với các vùng đất Á Đông, phải tháp nhập vào nền văn hóa của các cư dân địa phương

Trước hết phải kể đến Công đồng Vatican II, một Công đồng của “canh tân và hội nhập” Với Công đồng này, giáo hội tự nhìn nhận về mình, đó là Công đồng đối

thoại với xã hội trần thế, tôn trọng và hợp tác với các cộng đồng chính trị, tôn trọng những giá trị của các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo, đối thoại với các nền văn minh nhân loại, cổ vũ sự hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa các dân tộc Trong số đó

1

Căn cứ khoản 12, điều 2 Giải thích từ ngữ của Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 của Quốc hội nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành

của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo” Số liệu được cập nhật từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 và đối chiếu với số liệu

của Ban Tôn giáo Chính phủ

2 Dựa vào ghi chép, nhiều công trình nghiên cứu lịch sử Công giáo đã lấy năm 1533 dưới đời vua Lê Anh Tông, là cột mốc đánh dấu việc truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam

Trang 14

2

có nền văn hóa của Việt Nam Hiệp định Genève3 chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử, tinh thần “canh tân và hội nhập” của Công đồng Vatican

II chỉ đến được với giáo hội Công giáo ở miền Nam Việt Nam

Thực vậy, kết quả lớn nhất từ Công đồng Vatican II đối với giáo hội Công giáo ở Việt Nam, là vấn đề hội nhập văn hóa trong đời sống lễ nghi đối với phong tục thờ cúng tổ tiên mà Công giáo gọi là “tôn kính tổ tiên”

Việc thực hành tôn kính tổ tiên, tín đồ ở Thành phố Hồ Chí Minh được xem là một trong những cộng đồng Công giáo đi đầu trong cả nước Cụ thể là nghi lễ tang, ở

đó tín đồ thực hành một cách linh hoạt giữa nghi thức tôn giáo kết hợp với lễ thức truyền thống người Việt Qua đó, cho thấy Công giáo đã thể hiện tinh thần hội nhập với văn hóa Việt Nam một cách rõ nét

Quá trình hội nhập văn hóa được thể hiện trong đời sống lễ nghi của tín đồ Công

giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra theo hướng: vừa bồi đắp thêm các giá trị mới văn hóa mới cho văn hóa dân tộc; vừa vay mượn lồng ghép các hình thức văn hóa dân tộc trong việc thực hành đời sống đạo

Nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam đã có rất nhiều đề tài được tiếp cận nghiên cứu bởi các chuyên ngành như: tôn giáo học, lịch học, xã hội học, nhân học, dân tộc học… Nhìn chung, các đề tài đều tập trung vào một số vấn đề như cấu trúc cộng đồng Công giáo; các giai đoạn lịch sử hình thành, phát triển và tổ chức giáo hội; các vấn đề liên quan đến chính trị; các hoạt động mang tính đạo - đời; giải thích hệ thống giáo lý

và giáo luật; nghi lễ Công giáo Rô ma; Công giáo với phong tục thờ cúng tổ tiên,…Tuy vậy, hiện có rất ít công trình nghiên cứu về tang thức của tín đồ Công giáo người Việt, thực tế cho tới nay chỉ có một vài luận văn cao học hoặc bài báo khoa học

đề cập đến vấn đề thờ cúng (tôn kính) tổ tiên của tín đồ Công giáo Các đề tài này cũng chỉ bước đầu trình bày vấn đề tôn kính tổ tiên theo giáo lý Công giáo hay một vài biểu hiện gọi là đem “tin mừng vào các thực tại trần thế” Sở dĩ như vậy, bởi nhiều tác giả ngần ngại nghiên cứu các vấn đề liên quan đến một tôn giáo khá “nhạy cảm”, mặt khác nghiên cứu Công giáo đòi hỏi người nghiên cứu phải có những hiểu biết nhất định về đạo Công giáo

3 Sau khi bại trận ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký Hiệp định vào năm 1954, dành quyền tự do cư trú cho đồng bào hai miền Người miền Nam ra miền Bắc gọi là “tập kết”, miền Bắc vào Nam gọi là “di cư”

Trang 15

3

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Tang thức của người Việt Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh sau Công đồng Vatican II - Nghiên cứu trường hợp giáo xứ Tân Lập

và giáo xứ Tân Định” với mong muốn đem lại sự hiểu biết tương đối đầy đủ về tang

thức Công giáo: tiếp cận từ việc thực hành văn hóa, dựa trên cơ sở của khoa học Qua

đó, thấy được những đặc điểm cũng như giá trị văn hóa tạo lên tính bản sắc trong nghi

lễ tang của tín đồ Công giáo người Việt

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mang lại sự hiểu biết tương đối toàn diện, có hệ thống về tang thức Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau Công đồng Vatican II đến nay Đồng thời, thông qua việc thực hành tang thức thấy được nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt giữa hệ giá trị Công giáo với hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã xác định, chúng tôi sẽ tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu đã có, đề tài đã cố gắng kế thừa các bài học kinh nghiệm, nhất là phát hiện các khoảng trống để làm rõ trong nghiên cứu mới của mình

- Xây dựng cơ sở lý thuyết, trong đó xác định rõ các lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu; cùng với việc thao tác hóa các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Khái quát về Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và điểm nghiên cứu để thấy được một số đặc điểm văn hóa của cộng đồng giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định

- Điều tra khảo sát và điền dã dân tộc học để nhận diện mức độ của việc thực thi tinh thần “canh tân và hội nhập” mà Công giáo đã chủ trương bởi Công đồng Vatican

II Đồng thời, chỉ ra một số đặc điểm cũng như giá trị văn hóa trong việc thực hành tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là việc thực hành tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Trong đó, bao gồm cả việc mô tả diễn trình

Trang 16

4

nghi lễ, cũng như mối quan hệ giữa nghi lễ Công giáo với lễ thức truyền thống Việt Nam trong tang thức Công giáo

3.2 Khách thể nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu đã được khu biệt, chúng tôi xác định khách thể

nghiên cứu là: (i) nhóm các chức sắc Công giáo; (ii) nhóm các chuyên gia văn hóa tôn giáo; (iii) nhóm các tín đồ trong và ngoài Công giáo; (iv) nhóm cán bộ quản lý nhà nước tại địa bàn nghiên cứu

-Đây là những nhóm khách thể được xác định trong mẫu khảo sát với các thuộc tính như: tôn giáo, phẩm trật chức sắc, giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và khả năng hiểu biết liên quan đến vấn đề nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Về không gian nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại tổng giáo phận4 Thành phố Hồ Chí Minh, một cộng đồng Công giáo với thành phần tín đồ có nguồn gốc đa dạng, đã được hình thành trong quá trình lịch sử, cùng với những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa

và xã hội

Do vậy, chúng tôi xác định và lựa chọn địa điểm nghiên cứu mang tính đại diện cho cộng đồng Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh ở hai khu vực với những đặc trưng như sau:

a) Điểm nghiên cứu nội thành: giáo xứ Tân Định (được gọi là giáo xứ Nam);

được hình thành năm 1861; là một trong những giáo xứ đầu tiên của giáo phận Tây Đàng Trong nay là tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh; địa bàn của giáo xứ rộng (quận 1, 3 và Phú Nhuận); số lượng tín đồ đông và thành phần tín đồ có nguồn gốc đa dạng và thể hiện tính hiện đại rõ nét của đô thị phát triển

b) Điểm nghiên cứu ngoại thành: giáo xứ Tân Lập (được gọi là giáo xứ Bắc di

cư); được hình thành năm 1955 gắn liền với Hiệp định Genève, cùng với sự kiện 1954 của cộng đồng tín đồ Công giáo miền Bắc di cư vào miền Nam Địa bàn giáo xứ hẹp

4 Trong giáo hội Công giáo Rôma, tổng giáo phận, còn gọi là giáo tỉnh: là một cấp bậc quản trị trong giáo hội bao gồm các giáo phận liền kề có mối quan hệ gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hóa dưới quyền một tổng giám mục Vì vậy, tổng giáo phận (giáo tỉnh) Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 09 giáo phận Công giáo, đó là các giáo phận: Bà Rịa (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Cần Thơ (thành phố Cần Thơ, tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau), Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Long Xuyên (tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và quận Thốt Nốt thành phố Cần Thơ), Mỹ Tho (tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp), Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận), Phú Cường (tỉnh Bình Dương và Bình Phước và huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh), Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai và một phần của huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương), Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Bến Tre và tỉnh Trà Vinh)

Trang 17

5

(phường Bình Trưng Đông, quận 2); số lượng tín đồ đông và thành phần tín đồ là Công giáo toàn tòng; đang chịu sự tác động mạnh mẽ bởi quá trình đô thị hóa tại bán đảo Thủ Thiêm, khu Đông Sài Gòn

3.1.2 Về thời gian nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sâu trên cả hai chiều kích Đó là, “chiều kích lịch đại và chiều kích đồng đại”

a) Chiều kích lịch đại

Giai đoạn trước khi tinh thần “canh tân và hội nhập” của Công đồng Vatican II (1962-19 5) được áp dụng, thông qua việc tiếp cận nguồn tư liệu bao gồm các thư tịch, văn bản, cụ thể là qua các thư chung Công giáo ở Việt Nam, các chỉ thị của giáo hội phải tuân thủ các quy tắc trong việc thực hành các nghi lễ an táng theo tín lý, giáo

lý Công giáo Thư: văn bản; Công: phổ quát; Giáo: đạo

Như vậy, thư chung Công giáo là một loại văn bản mang tính phổ quát của hàng giáo phẩm (giáo hoàng, hồng y, giám mục) gửi cho cộng đồng tín đồ Thư chung Công giáo đã xuất hiện từ thời giáo hội Công giáo sơ khai Cụm từ “thư Công giáo” được sử dụng lần đầu tiên bởi thánh Eusebius5 Sau này trở thành văn kiện chính của các giám mục và từ Công đồng Vatican II, là thư của hội đồng giám mục các quốc gia (hội đồng giám mục Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ,…)

Thư chung Công giáo bao gồm: các thư luân lưu, thư chung, thư mục vụ6

Nội dung các lá thư đề cập đến một hay nhiều vấn đề nói lên lập trường, đường hướng, hoặc những công việc tôn giáo hoặc liên quan đến giáo hội Công giáo ở các quốc gia, trong đó có giáo hội Công giáo Việt Nam

Những thư Công giáo trước Công đồng Vatican II mà luận án đã tiếp cận được

có nội dung đề cập đến việc cấm tín đồ thực hành các niềm tin tôn giáo tín ngưỡng, các lễ thức trong phong tục, tập quán văn hóa người Việt Trong đó, có lễ thức tang

ma như việc cấm lạy xác kẻ chết, cấm dâng hương - đốt đèn cho kẻ chết, cấm đọc văn

tế trước xác kẻ chết, cấm đánh trống, cờ phướn, động lệnh khi chôn xác kẻ chết, cấm cúng giỗ và các hình thức khác liên quan đến người chết Trong số đó, nổi bật là thư

chung của các thừa sai dòng Đa Minh về “sự rối nước Annam” làm tại Trà Lũ (Nam

5 Ông sinh năm 283 ở đảo Sardinia, là một thành viên của đoàn giáo sĩ Vatican và là giám mục đầu tiên của tổng giáo phận Vercelli thuộc nước Ý Ông mất năm 371 tại miền Bắc Italia Theo giáo sử, thánh Eusebius là một trong những người bảo vệ giáo hội trong thời kỳ gặp nhiều thử thách bởi các thuyết chống đối

6 Mục vụ được dịch từ “pastoralis” (pastoral) nghĩa là hoạt động thường xuyên của các chức sắc phục vụ con người, thuật ngữ này được sử dụng thịnh hành từ sau Công đồng Vatican II, cụ thể là từ năm 19 5

Trang 18

chúng tôi đã tiếp cận được ở chiều kích lịch đại (trước Công đồng Vatican II) đều yêu

cầu chức sắc (giám mục, linh mục) và tín đồ phải thực hành nghi lễ tang theo đúng quy tắc đã ấn định của Công giáo Rôma và tuyệt đối trung thành với các giáo huấn của giáo hội

b) Chiều kích đồng đại

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sâu theo lát cắt đồng đại giai đoạn từ tháng

6/2016 - tháng 4/2020 để tìm hiểu việc vận dụng các hình thức lễ nghi trong văn hóa truyền thống dân tộc vào việc diễn tả niềm tin Công giáo thông qua việc thực hành tang thức tín đồ Qua đó, thấy được tính chân thực những biểu hiện, cũng như đặc điểm văn hóa truyền thống người Việt trong việc thực hành nghi lễ vòng đời (tang ma) của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đây là nghiên cứu trường hợp cộng đồng Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh,

cụ thể hai điểm nghiên cứu ở khu vực nội thành (giáo xứ Tân Định) và khu vực ngoại thành (giáo xứ Tân Lập) Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này có giá trị tham chiếu cho

26 cộng đồng Công giáo khác tại Việt Nam, là các giáo phận Công giáo7 có tín đồ

người Việt về “tính bản địa” trong việc thực hành tôn giáo qua tinh thần “canh tân và hội nhập” mà Công đồng Vatican II đã chủ trương đối với các lễ thức theo phong tục

của cư dân tại chỗ Trong đó, có nghi lễ tang ma của người Việt

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Có thể nói, Công giáo là tôn giáo có nguồn cội văn hóa rất xa lạ với những truyền thống cổ Á Đông, vốn được xem là tôn giáo có một nền thần học hoàn chỉnh, với hệ thống và cơ cấu tổ chức giáo hội mang tính toàn cầu Tuy nhiên, từ sau Công đồng Vatican II, vấn đề thờ cúng tổ tiên mới được thực hiện công khai và sâu rộng trong các cộng đồng Công giáo ở vùng Á Đông Theo đó, cộng đồng tín đồ Công giáo

7 Theo số liệu thống kê năm 2019 của hội đồng giám mục Việt Nam, giáo hội Công giáo tại Việt Nam

có 3 giáo tỉnh (Hà Nội - Huế - Thành phố Hồ Chí Minh) Trong đó, có 27 giáo phận, với khoảng 07 triệu tín đồ,

và 4.000 linh mục đang làm việc tại 4.500 giáo xứ và tu viện, với 22.000 tu sĩ nam nữ đang sống trong 240 dòng

tu - tu viện

Trang 19

7

ở Việt Nam đã được phép vận dụng văn hóa địa phương (văn hóa bản địa) vào đời sống nghi lễ, nhằm để diễn tả niềm tin Công giáo sao cho phù hợp với văn hóa truyền

thống của dân tộc Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất được đặt ra là:

- Việc thực hành nghi lễ tang của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt Nam diễn ra như thế nào từ sau Công đồng Vatican II?

Giáo hội Công giáo ở Việt Nam đã nhận thấy, muốn sứ vụ truyền giáo đạt hiệu quả, muốn thực hiện tính truyền thống dân tộc và hội nhập văn hóa, tất yếu phải tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam Qua đó có thể nhận thấy, quá trình hội nhập không chỉ giúp các tín đồ giữ vững niềm tin, cũng như bảo vệ căn tính Công giáo và hội nhập cũng không làm tổn thương đến các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Thực vậy, từ chiều

kích phi quan phương, văn hóa Công giáo từng bước hội nhập với văn hóa truyền

thống Việt Nam, nhìn ở góc độ văn hóa những sắc thái mới nảy nở đã góp phần làm

phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam Vì vậy, câu hỏi nghiên cứu thứ hai đã được đặt

ra là:

- Văn hóa truyền thống dân tộc trong tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có những biểu hiện và đặc điểm cụ thể nào?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: trước sự chuyển biến lớn lao của

thế giới, giáo hội Công giáo Rôma8 đã sa sút và khủng hoảng trên tất cả các phương diện mà trước kia tưởng chừng khó có thể thay đổi Trước bối cảnh đó, giáo hội không thể bàng quan, giáo hoàng (người đứng đầu Công giáo toàn cầu) quyết định triệu tập thượng hội đồng giám mục trên toàn thế giới (có sự tham dự của các giám mục miền Nam, Việt Nam)9 để khai mở Công đồng thứ XXI, công nghị được tổ chức tại thành Vatican lần thứ II10 từ năm 19 2-1965 để quyết định các vấn đề của giáo hội

8 Giáo hội Công giáo (cụ thể hơn gọi là giáo hội Công giáo Rôma) là vì các giáo hội Công giáo tại mỗi quốc gia trên khắp thế giới phải tuân phục vô điều kiện quyền lãnh đạo của giám mục giáo phận Rôma Vì là giám mục giáo phận Rôma nên được gọi là giáo hoàng

9 Do điều kiện lịch sử, cũng như bối cảnh xã hội tại Việt Nam vào thời điểm 1954 và sau hiệp định Genève Vì vậy, Công đồng Vatican II chỉ đến được với Công giáo miền Nam Việt Nam

10 Công đồng Vatican I được triệu tập và hội họp trong hai năm (18 9 -1870), dưới thời giáo hoàng Piô

IX Công đồng kết thúc với việc minh định “tính bất khả ngộ” (không sai lầm) của người đứng đầu giáo hội (giáo hoàng) khi nhân danh giáo hội tuyên bố tín điều về giáo lý và mạnh mẽ lên án chủ thuyết duy lý Có gần

800 chức sắc (hồng y, tổng giảm mục, giám mục và một số linh mục cao cấp) tham dự kỳ họp.

Trang 20

8

Đó là Công đồng đối thoại với xã hội trần thế, tôn trọng và hòa hợp với các tôn giáo, đối thoại với các nền văn minh nhân loại và hội nhập Công giáo với nền văn hóa của các dân tộc trong đời sống tôn giáo qua việc thực hiện tinh thần “canh tân và hội nhập” Từ cách tiếp cận phân tích diễn ngôn qua các văn kiện của Công đồng Vatican

II, chúng tôi đưa ra giả thuyết thứ nhất cho rằng:

- Do áp lực từ chính đặc thù văn hóa, buộc Công giáo phải tiếp nhận những yếu tố văn hóa truyền thống Việt Nam vào đời sống tôn giáo Tuy nhiên, phải từ sau Công đồng Vatican II, việc thực hành nghi lễ Công giáo cho phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc mới thực sự có chuyển biến về chất

Liên quan đến câu hỏi thứ hai: dưới góc nhìn văn hóa học, chúng tôi cho rằng

tinh thần hội nhập của Công giáo vào các nền văn hóa khác nhau được xem là hoạt

động mang tính hai chiều, theo hướng: vừa bồi đắp thêm các giá trị văn hóa mới cho văn hóa dân tộc; vừa vay mượn, lồng ghép các hình thức văn hóa dân tộc vào trong thực hành lối sống đạo Qua đó cho thấy, Công giáo truyền thông cho các dân tộc

những giá trị riêng có của mình; đồng thời Công giáo cũng tiếp nhận những gì tốt đẹp

trong các nền văn hóa các dân tộc vào hệ thống các nghi lễ của mình Vì vậy, chúng tôi đưa ra giả thuyết thứ hai cho rằng:

- Đặc điểm văn hóa truyền thống được biểu hiện trong tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh được thực hành dưới dạng nghi lễ kép: có sự đan xen nghi lễ Công giáo với lễ thức văn hóa truyền thống của người Việt Vì là, nếp sống đạo và lối diễn tả niềm tin gắn với truyền thống dân tộc theo hai con đường: quan phương và phi quan phương, được thể hiện qua việc tích hợp giữa hệ thống giáo l - giáo luật và việc dung hợp văn hóa của mỗi cộng đồng Công giáo trong việc thực hành nghi lễ tang

5 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm tiếp cận

Khởi đi từ cuối thế kỷ XX, một ngành khoa học mới xuất hiện trong khối khoa học xã hội, đó là nghiên cứu văn hóa học Hướng nghiên cứu này cho rằng: văn hóa được xem là “cái tổng thể” và cũng là xu thế của thời đại, xu thế “khoa học mới” trong thế kỷ XXI, là một khoa học đòi hỏi một hướng tiếp cận mới, đó là nghiên cứu liên ngành Bởi lẽ, văn hóa học là một khoa học “liên ngành” vì nó được tổ hợp từ những

Trang 21

Từ đó, cho thấy những đặc điểm được biểu hiện qua tính “dung hợp - chuẩn mực - linh hoạt” giữa nghi lễ Công giáo với lễ thức truyền thống dân tộc Bên cạnh đó, là những giá trị văn hóa trong việc thực hành tang thức Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ

Chí Minh sau Công đồng Vatican II dựa trên quan điểm tiếp cận liên ngành hay còn gọi là quan điểm phức hợp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu đề ra, cùng với quan điểm tiếp cận liên ngành để giải quyết nội dung của luận án Chúng tôi xác định

phương pháp nghiên cứu chính trong luận án này là “phương pháp nghiên cứu định

tính” thông qua các cuộc “quan sát tham dự và phỏng vấn sâu” để thu thập dữ liệu sơ

cấp ở giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định cụ thể như sau:

- Phỏng vấn sâu (In-dept interviewing)

Chúng tôi vận dụng phương pháp vấn sâu trong việc thu thập thông tin liên quan đến một số chủ đề cụ thể, đòi hỏi phải có độ tin cậy tối đa để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu Đây là phương pháp rất quan trọng đối với nội dung luận án; đồng thời phương pháp này đem lại nhiều thông tin có giá trị hơn so với các phương pháp khác

trong việc tìm hiểu vấn đề liên quan “nhận thức, thái độ và hành vi” của tín đồ Bên cạnh đó, đối với kỹ thuật chọn mẫu, chúng tôi áp dụng hình thức chọn mẫu phi xác xuất

Nội dung của mẫu phi xác xuất bao gồm: mẫu có chủ đích; mẫu thuận tiện và mẫu phát triển mầm Vì vậy, số mẫu đã được phỏng vấn sâu trong nghiên cứu này là

48 mẫu tại Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm cả hai điểm nghiên cứu với các nhóm mẫu như sau:

+ Nhóm các chức sắc Công giáo: thông tin thu được từ nhóm chức sắc Công

giáo ở Việt Nam nói chung và Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, đã

được chúng tôi tiếp cận từ việc phân tích diễn ngôn (giải cấu trúc) (deconstruction) nhìn từ chiều kích “quan phương” theo tinh thần “canh tân và hội nhập” mà Công

Trang 22

10

đồng Vatican II đã chủ trương Hay nói cách khác, lối sống đạo và lối diễn tả niềm tin

có bản sắc dân tộc theo chiều kích từ trên xuống, nghĩa là có đường hướng của giáo hội

+ Nhóm các chuyên gia thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và Công

giáo nói riêng: thông tin thu thập được từ nhóm các chuyên gia, giúp chúng tôi thấy

rằng trong quá trình truyền đạo và phát triển đạo ở Việt Nam buộc Công giáo phải chấp nhận nền văn hóa Việt Nam, phải gắn bó đồng hành cùng dân tộc, hội nhập với văn hóa bản địa, tìm cách thích ứng với những đặc thù của văn hóa truyền thống Việt Nam Chính vì vậy, đòi hỏi giáo hội Công giáo phải có những sự điều chỉnh cụ thể qua một số phương diện như: giáo lý, nếp sống, sinh hoạt đạo, cách diễn tả niềm tin, …

+ Nhóm tín đồ tại hai điểm nghiên cứu gồm: tu sĩ nam nữ11

; hội đồng mục vụ giáo xứ12; tín đồ của giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định Nguồn thông tin thu thập

từ nhóm đối tượng khảo sát này giúp chúng tôi nhận diện vấn đề một cách chính xác đối với việc tổ chức và thực hành các nghi lễ trong tang thức Công giáo kết hợp với các lễ thức theo phong tục truyền thống dân tộc thông qua nhận thức, thái độ và hành

vi của các tín đồ

+ Nhóm tín đồ Công giáo là người ngoại quốc đang sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh: nguồn thông tin thu thập được có giá trị trong việc chứng minh cộng đồng tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh đã biết vận dụng những cái hay trong kho tàng văn hóa Việt Nam để diễn tả niềm tin, diễn tả tương quan của con người với Thiên Chúa; nhờ vào những yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc mình, giúp cho các tín đồ Công giáo thuộc các nền văn hóa khác trên thế giới hiểu rõ hơn về “đạo hiếu” của tín đồ Công giáo ở Việt Nam

+ Nhóm người ngoài Công giáo: chúng tôi tiếp cận phỏng vấn một số trường hợp là người ngoài Công giáo đến viếng tang tại nhà tang nhằm mục đích tìm hiểu suy

11 Theo phẩm trật của giáo hội Công giáo, tu sĩ nam - nữ chỉ là bậc giáo dân, không được coi là chức sắc

có chức thánh để cử hành các bí tích (nghi lễ) Công giáo Những người này được quy tụ lại thành cộng đoàn (gọi

là dòng tu - tu viện) và họ tự nguyện cam kết sống độc thân để trở thành tu sĩ theo lý tưởng (gọi là linh đạo) mà người sáng lập đã truyền bá dựa trên nền tảng kinh thánh và giáo lý Công giáo Tuy nhiên, một số ít tu sĩ nam sẽ được tuyển chọn để giáo hội tấn phong lên bậc chức sắc (giáo sĩ), nhằm mục đích cử hành các bí tích trong phạm

vi dòng tu của mình Tính đến ngày 31/12/2019, giáo hội Công giáo có 143 tổ chức dòng tu đang hoạt động tại Việt Nam (Liên hiệp Bề trên thượng cấp Công giáo Việt Nam, 2019, trang 15)

12 Từ sau Công đồng Vatican II, còn được gọi là hội đồng mục vụ giáo xứ, những người tham gia vào tổ chức này phải là những người có úy tín, nhiệt thành trong việc đạo, được cộng đồng tín đồ tiến cử lên cha xứ và tập thể tín đồ của giáo xứ bỏ phiếu bầu cử rất có trách nhiệm để chọn ra những người được coi là xứng đáng Sau khi trúng cử, những người này phải được giám mục giáo phận và cha xứ chuẩn nhận bằng việc trao ủy nhiệm thư

Trang 23

Bên cạnh đó, một số nội dung phỏng vấn đối với nhóm chức sắc Công giáo và quản lý nhà nước hạn chế ghi âm, cho nên tất cả nội dung thông tin của quá trình thu thập dữ liệu chúng tôi xem như những cuộc trao đổi, đối thoại và được ghi chép lại

bằng nhật ký điền dã dân tộc học

- Quan sát tham dự (Participant observation)

Đây là phương pháp thu thập thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu nghi lễ vòng đời người Việt nói chung và tín đồ Công giáo nói riêng Đối với đề tài này, là nghiên cứu trường hợp nghi lễ tang của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh

Theo quy định của giáo hội Công giáo, tang thức phải được thực hành tại nhà tang (gia đình), nhà thờ và ở đất thánh13

Cụ thể, ở nhà tang có các nghi thức như: xức

dầu bệnh nhân; phó linh hồn; làm phép khăn tang, tẩm liệm; canh thức và cầu nguyện

bên thi hài tín đồ…; ở nhà thờ có các nghi thức: thánh lễ an táng; từ biệt của cộng đồng giáo xứ với tín đồ lần cuối; ở đất thánh có các nghi thức: phó dâng tín đồ; cầu

nguyện; làm phép và thánh hóa huyệt mộ; hạ quan Vì vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát tham dự để kiểm chứng, tìm hiểu sâu, cũng như khơi gợi vấn đề cho các cuộc phỏng vấn phục vụ nội dung nghiên cứu đề ra

Cụ thể, chúng tôi đã quan sát tham dự 30 “đám hiếu”14 bắt đầu từ giai đoạn tín

đồ lâm chung (hấp hối)15 cho đến khi hoàn tất việc chôn cất hoặc hỏa táng và những

13

Đất thánh là nơi dành chôn chất tín đồ Công giáo, tại điều 1180 khoản 1 và 2 của Bộ giáo luật năm

1983 của giáo hội Công giáo quy định: Mỗi giáo xứ phải có khu đất dành riêng cho việc chôn cất thi hài người quá cố Bên cạnh đó, theo truyền thống Công giáo, nơi chôn cất phải được gọi là “đất thánh” bởi vì không chỉ cầu nguyện cho người đã khuất, mà còn là nơi kết nối tình cảm liên đới của những người còn sống Các thành viên trong gia đình, cộng đồng giáo xứ cùng nhau hiện diện nơi đất thánh để bày tỏ niềm hy vọng ngày Phục sinh Thần học Công giáo xác quyết rằng nơi chôn cất thi hài tín đồ không phải là mảnh đất lạnh lùng âm u, mà

là nơi thể hiệp màu nhiệm “thông công” giữa người sống và chết Ngoài ra, ở một số cộng đồng giáo phận Công giáo miền Bắc còn gọi nghĩa trang, đất thánh, nghĩa địa là “vườn thánh”

14

Tương sánh với đến tham dự việc thành hôn gọi là “đảm hỉ” trong một tương quan “hiếu - hỉ”

15 Đặc trưng của giáo xứ Tân Lập và giáo xứ Tân Định, mỗi ngày trước khi linh mục cử hành thánh lễ,

sẽ thông báo cho cộng đồng tín đồ biết những người trong giáo xứ đang trong tình trạng đau nặng (hấp hối), trừ

Trang 24

12

nghi thức sau tang theo nghi lễ Công giáo tại điểm nghiên cứu Chúng tôi nhập thân

với vai trò là đồng đạo và cũng là người nghiên cứu về văn hóa Như vậy, với việc sử

dụng phương pháp quan sát tham dự, giúp chúng tôi thu thập thông tin định tính một

cách đầy đủ (chiều sâu và chiều rộng) của dữ liệu nhằm đạt được mục đích nghiên

cứu

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thiết lập mạng lưới “thông tín

viên” tại điểm nghiên cứu, nhằm hỗ trợ việc thu thập và xử lý dữ liệu dưới sự hướng

dẫn trực tiếp của chúng tôi

- Tổng hợp, phân tích, so sánh và đối chiếu

Tích hợp các phương pháp này trong xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài luận

án Trên cơ sở đó, chọn lọc, đối chiếu với các nguồn tư liệu bao gồm: tư liệu lịch đại,

cũng như đồng đại Qua đó, giúp chúng tôi rút ra các nhận định, các điểm chung và

điểm riêng nhằm hoàn thành mục tiêu nghiên cứu mà nội dung luận án đã đề ra; đồng

thời, thấy được các biểu hiện trong việc thực hành tang thức Công giáo giữa hai cộng

đồng tín đồ: vùng ven ngoại thành (giáo xứ Tân Lập); trung tâm đô thị (giáo xứ Tân

Định) tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguồn dữ liệu thu thập thực tế tại điểm nghiên cứu

Nguồn tư liệu điền dã được chúng tôi tổng hợp thông tiến trình khảo sát tại điểm

nghiên cứu dựa trên đặc điểm địa lý - hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh như đã

đề cập ở trên: khu vực ngoại thành là giáo xứ Tân Lập và khu vực nội thành là giáo xứ

Tân Định thuộc tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh được chọn làm đại diện cho

việc nghiên cứu

- Tư liệu phỏng vấn sâu: đây là nguồn tư liệu được tiến hành thu thập trong tiến

trình phỏng vấn trực tiếp (face to face) đối với các nhóm: chức sắc Công giáo; chuyên

gia; các tín đồ trong và ngoài Công giáo; cán bộ quản lý nhà nước tại địa bàn là những

mẫu nghiên cứu đã được xác định

Chúng tôi sử dụng tư liệu phỏng vấn sâu để làm rõ một số nội dung trong

phương pháp nghiên cứu định tính về một số khía cạnh khác liên quan đến vấn đề hội

nhập văn hóa của Công giáo ở Việt Nam thông qua nhận thức, thái độ và hành vi của

những trường hợp chết đột ngột Mục đích là thông tin các vấn đề của cộng đồng giáo xứ Bên cạnh đó, cộng

đồng tín đồ có bổn phận cầu nguyện và thăm viếng, giúp đỡ gia đình người bệnh

Trang 25

tang lễ truyền thống

6 Điểm mới của luận án

Qua việc nghiên cứu tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh sau Công đồng Vatican II (Trường hợp nghiên cứu giáo xứ Tân Lập và giáo

xứ Tân Định), luận án muốn cung cấp những tư liệu mới cho ngành văn hóa học; đồng thời góp phần làm rõ sự chuyển biến về chất của Công giáo với văn hóa Việt Nam - những biểu hiện của sự hội nhập vắn hóa: tiếp cận từ thực hành nghi lễ

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

7.1 Ý nghĩa khoa học

Đưa ra luận điểm mới về yếu tố bản địa trong việc nghiên cứu nghi lễ Công giáo với sự dung hợp với lễ thức truyền thống dân tộc trong tang thức tín đồ Công giáo ở Việt Nam từ tinh thần “canh tân và hội nhập” mà Công đồng Vatican II đã chủ trương Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học trong việc kiểm chứng và củng cố thêm đối với lý thuyết hậu cấu trúc của Michel Foucault và lý thuyết tương đối văn hóa của Franz Boas từ các nguồn dữ liệu thực nghiệm của luận án; góp phần khẳng định tính đúng đắn, mức độ chính xác của lý thuyết trong bối cảnh nghiên cứu cụ thể tại Việt

Nam hiện nay

Trang 26

14

8 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương Trong đó, Chương 1 dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu; Chương 2 trình bày cơ

sở thực tiễn của đề tài, cũng như khái quát Công đồng Vatican II và điểm qua tang thức Công giáo ở Việt Nam thời kỳ trước Công đồng Vatican II; Chương 3 và 4 tập trung khảo tả, phân tích, giải thích và bình luận nội dung để thấy những nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong việc thực hành tang thức của tín đồ Công giáo người Việt

ở Thành phố Hồ Chí Minh

Qua đó, phản ánh sự tồn tại hai yếu tố song hành giữa hệ giá trị Công giáo và hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam được thực hiện linh hoạt với những chuẩn mực riêng của chúng

Ngoài ra, do khuôn khổ có hạn, ở Chương 3 và 4 trong phần chính văn, chúng tôi chỉ trình bày một số nội dung nổi bật nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, còn hình ảnh và một số nội dung ít quan trọng hơn (an tử và trợ tử dưới nhãn quan Công giáo) sẽ đặt trong phần phụ lục để người đọc có thể tham khảo hoặc phối kiểm những kết quả được phân tích

Trang 27

15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghi lễ và biểu tượng nghi lễ được đề cập trong các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu về nghi lễ thế giới bắt đầu từ ngành dân tộc học, nhân học văn hóa, lịch sử và triết học vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xây dựng nền tảng cơ bản cho nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ Một số tác giả tiêu biểu có thể kể đến như Emily Durkheim (1858-1917); Max Weber (1864-1902); Arnold van Gennep (1873-1957); Radcliffe-Brown (1881-1955); Bronislaw Malinowski (1884-1942); Clifford Geertz (1926-200 ),… được xem là những người tiên phong đặt nền tảng cho phong trào tìm hiểu và nghiên cứu nghi lễ và văn hóa tộc người ngoài thế giới Âu Mỹ và cũng là những người đặt nền tảng lý luận đầu tiên cho việc nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng thông qua các quan điểm, trường phái lý thuyết khác nhau như: thuyết chức năng, thuyết cấu trúc luận và thuyết đặc thù lịch sử,…Những luận thuyết và quan điểm của các tác giả ít nhiều đã làm sáng tỏ các bình diện cơ bản của nghi lễ, cũng như biểu tượng trong nghi lễ, song cũng gợi mở nhiều nghi vấn và khúc mắc khác, chẳng hạn như tính tương tác hai chiều giữa nghi lễ do các Saman và công chúng tham dự; giữa biểu tượng cốt lõi được sử dụng trong nghi lễ với bối cảnh tâm lý - xã hội thực tiễn thực tiễn cụ thể; vai trò của thần thoại - truyền thuyết với nghi lễ và khả năng sáng tạo sau nghi lễ; cũng như các lớp diễn ngôn qua nghi lễ,…để các nhà nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ giai đoạn sau này phát triển đến hoàn thiện dưới phong trào hậu cấu trúc - phân tích diễn ngôn tiêu biểu như:

Nhóm các công trình The Forest of symbols: aspects of Ndembu Ritual của

Victor Turner (1967), nội dung đề cập đến khía cạnh nghi lễ của tộc người Ndembu và

The Ritual process: structure and anti-structure (1969), nội dung cho thấy quá trình

nghi lễ bao gồm cấu trúc và phản cấu trúc trong việc thực hành Bên cạnh đó, tác giả

Catherine Bell có hai công trình liên quan đến nghi lễ như Ritual theory ritual practice

(1992), trình bày hai nội dung chính đó là lý thuyết nghi lễ và thực hành nghi lễ và

Ritual perspectives and dimensions (2009), đề cập các quan điểm và chiều kích của

Trang 28

16

nghi lễ Ngoài ra, Ronald Grimes có hai công trình liên quan đến nghi lễ đó là

Beginnings in ritual studies (1995), đề cập đến bước các khởi đầu trong việc nghiên cứu nghi lễ; quyển sách The craft of ritual studies (2013), trình bày các kỹ xảo cần có trong việc nghiên cứu nghi lễ; song song đó, có quyển Discourse in ritual studies của

tác giả Hans Schilderman (2007), nội dung cho thấy tầm quan trọng của diễn ngôn trong nghiên cứu nghi lễ

Đặc biệt, Trường đại học Pittsburg ở bang Pensylvania (Hoa Kỳ) xuất bản đều

đặn các bài báo nghiên cứu về nghi lễ đăng trên Journal of Ritual Studies từ năm 1987

đến nay đã ra một diễn đàn học thuật có ý nghĩa, giúp các nhà khoa học trong lĩnh vực này công bố và trao đổi thành quả nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu

lý luận và thực tiễn về nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ

Bước sang phạm vi nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ ở Việt Nam, cho đến nay nếu nhìn một cách phổ quát có thể thấy những thành tựu nghiên cứu của một số tác giả có tên tuổi như Ngô Đức Thịnh (1996) với nhiều công trình liên quan

đến nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu; bài viết Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993); quyển sách Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion

in Vietnam của Philip Taylor (2004), nội dung đề cập đến quá trình hình thành và phát

triển tập tục thờ bà Chúa xứ, các động thái hành hương và sinh hoạt nghi lễ cộng đồng

cùng với các diễn ngôn văn hóa ở Nam Bộ Ngoài ra, có bài nghiên cứu Thương thảo tái lập và sáng tạo “truyền thống”: Tiến trình tái cấu trúc lễ hội cộng đồng tại một làng Bắc Bộ của nhóm tác giả Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi (2012) đề cập đến

việc nghiên cứu diễn ngôn trong lễ hội cộng đồng làng Hoài Thị Bên cạnh đó, một số tác giả khác như Lê Trung Vũ (1992), Mạc Đường (1995), Đặng Nghiêm Vạn (2003),

Vũ Ngọc Khánh (2004), Trần Hồng Liên (2004), Phan An (2005), Nguyễn Hồng Dương (2008), Nguyễn Chí Bền (2009), Trần Thị An (2009), Phan Thị Yến Tuyết (2014), Đinh Hồng Hải (2014), Nguyễn Ngọc Thơ (2017), Huỳnh Ngọc Thu (2017)…đã đóng góp nhiều ý tưởng rất quan trọng trong cả vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu về nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ ở Việt Nam

1.1.2 Tang thức của người Việt được đề cập trong các công trình bàn về tang ma truyền thống

Trang 29

17

Quyển sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1973), nội dung là hệ thống

và trình bày các phong tục của người Việt Nam như: phong tục trong gia tộc, phong tục hương đảng, phong tục xã hội Trong phần phong tục gia tộc, tác giả luận bàn về phong tục tang ma và cải táng Ở mục tang ma, tác giả phát biểu rằng:

Sự báo hiếu cho cha mẹ ai không muốn hết lòng hết sức Nhưng cứ như tục

ta thì phiền hà quá thể, ăn uống lôi thôi làm cho nhiều người khổ sở vì tục

Vả lại nhiều người khi cha mẹ còn thì bạc thị chẳng ra gì, đến lúc chết lại cúng tế linh đình, kẻ có đã vậy, kẻ không có cũng cố đi vay mượn cầm nhà bán ruộng để trả nợ miệng và lấy thể diện với đời, thực sự là một sự vô ích quá (Phan Kế Bính, 1973, trang 72)

Quyển sách Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (1992) nội dung

mang tính tổng hợp đề cập đến tương đối đầy đủ các sinh hoạt theo phong tục truyền thống của người Việt Nam thông qua: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt tri thức Có thể thấy, quyển sách như cẩm nang tra cứu về văn hóa Việt Nam Ngoài ra, trong phần sinh hoạt kinh tế - xã hội tác giả có bàn đến phong tục tang ma của người Việt mặc dù chỉ trình bày một số nét cơ bản, song nó cũng giúp luận án có cái nhìn xuyên suốt về tiến trình biến đổi tập quán tang ma người Việt trong lịch sử và hiện nay

Quyển hạ của bộ sách Nếp cũ - tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (1992),

trong phần nội dung có đề cập đến quy cách đặt bàn thờ, cách cúng bái tổ tiên của người Việt Đây cũng là một vấn đề liên quan đến đề tài luận án sẽ được chúng tôi đối chiếu trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt để thấy được sự hồi sinh văn hóa truyền thống trong việc thực hành tang thức Công giáo trong tiến trình hội nhập từ sau Công đồng Vatican II

Quyển sách Thuần phong mỹ tục Việt Nam của Sơn Nam (1994), nội dung là tập

hợp các phong tục Việt Nam có sự liên hệ mật thiết đến đời người đã được tác giả hệ thống thành “quan, hôn, tang, tế” Trong phần tập tục tang ma, tác giả đã trình bày khái lược một số nghi lễ và những công việc cần thiết cho một đám tang theo truyền thống người Việt Nam Đặc biệt, ý nghĩa của các lễ thức trong tang ma sức mạnh của văn hóa truyền thống của người Việt Nam hết sức mạnh mẽ Thông qua nội dung, có thể thấy rằng nhân sinh quan của người Việt mang màu sắc tôn giáo rõ nét, đặc biệt là

Trang 30

18

ảnh hưởng của “tam giáo đồng nguyên” sẽ được luận án tiếp thu và kế thừa trong nghiên cứu tang thức tín đồ Công giáo người Việt

Quyển sách Thọ mai gia lễ của Hồ Gia Tân (1995), nội dung sách là tổng hợp

các tập tục, lễ thức tang ma truyền thống nói chung của người Việt Cụ thể, tác giả đã cho thấy diễn trình và các lễ thức cơ bản trong việc tổ chức lễ tang truyền thống của cộng đồng người Việt Ngoài ra, công trình này không đề cập đến nội dung tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Việt Nam Tuy nhiên, nội dung sách được chúng tôi việc kế thừa trong việc đối chiếu từ tập quán đến tín lý Công giáo trong tang ma người Việt là nội dung trọng tâm mà luận án hướng đến

Quyển sách Gia lễ xưa và nay của Phạm Côn Sơn (199 ), cung cấp cứ liệu làm

rõ những khía cạnh ngôn ngữ, lịch sử dân tộc học và văn hóa học giúp hiểu tường tận nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa của các tập tục để phân biệt các tập tục có nguồn gốc xuất xứ khác nhau về vùng miền Tác giả đã trình bày chi tiết về những tập tục cụ thể của người Việt trong hôn nhân, tang lễ, thờ phụng tổ tiên và xu hướng gia lễ thời hiện đại Ở mục tập tục tang ma, tác giả đã hệ thống quy trình bốn bước của một tang lễ

truyền thống đầy đủ các lễ nghi bao gồm: (i) lúc lâm chung; (ii) tiến hành tang lễ; (iii) các thủ tục lễ thức an táng và (vi) các lễ thức trong thời kỳ tang chế Nhìn chung, nội

dung sách không có tính cách biện luận, chỉ là tập hợp những vấn đề cần thiết trong tập quán xưa và nay của người Việt

Quyển sách Nghi lễ vòng đời người của Lê Trung Vũ (1999), tác giả cho rằng

tính cách và tâm hồn người Việt được hình thành từ rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò quan trọng thuộc về thuần phong mỹ tục Những yếu tố tạo nên môi trường văn hóa cuộc sống cho chúng ta từ khi còn trong bụng mẹ cho đến khi tiễn đưa Tác giả phát biểu rằng:

Từ lúc phôi thai chúng ta đã được bao bọc bởi các tập tục, nghi lễ đầy ý nghĩa nhân văn Khi bước vào tuổi trưởng thành, ta bắt đầu học và dần dần thay thế ông bà cha mẹ tiến hành nhiều tập tục khác như thờ cúng tổ tiên, tiến hành lễ tiết, việc hiếu, việc hỉ… tùy theo tín ngưỡng của mỗi người, việc tổ chức, tiến hành, noi theo các tập tục có khác nhau, song có lẽ không ngoài một ý thức dân tộc, một môi trường dân gian truyền thống hun đúc lên tâm hồn người Việt, tạo nên một cộng đồng thuần khiết Việt Nam dù

Trang 31

số vấn đề liên quan đến tang thức của tín đồ Công giáo người Việt

Quyển sách Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (1999), nội dung xác

định hệ tọa độ văn hóa Việt Nam qua công thức CKT đó là: chủ thể văn hóa, không gian văn hóa và thời gian văn hóa để trình bày văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Có thể nói, sách Cơ sở văn hoá của người Việt chính là sự quy tụ của hệ thống văn hóa giao tiếp cần thiết cho chúng ta

Bên cạnh đó, trong phần văn hóa tổ chức có đề cập đến phong tục tang ma của người Việt Theo tác giả, việc tang ma truyền thống của người Việt luôn bị chi phối và giằng kéo bởi hai thái cực: Một bên coi việc tang ma như một cuộc tiễn đưa vì qua chết là bước cõi sống ở một thế giới khác Và một bên theo quan niệm trần tục, coi chết là chấm hết nên việc tang ma là việc xót thương Ngoài ra, tác giả cho rằng phong tục tang lễ người Việt thấm nhuần sâu sắc tinh thần triết lý âm dương ngũ hành Qua

đó, Trần Ngọc Thêm cho thấy sau khi chết, linh hồn sẽ về nơi “thế giới bên kia” và với thói quen sống bằng tương lai (sản phẩm của lối tư duy theo triết lý âm dương), cho nên người Việt rất bình tĩnh, yên tâm chờ đón cái chết Vì vậy, chết già được xem là một sự mừng: trẻ làm ma, già làm hội Ở một vài địa phương khi có người chết già còn

nổ pháo; để tang khăn vàng, khăn đỏ theo triết lý âm dương ngũ hành đối với hàng chắt - chút bởi những màu sắc đó chỉ sự vui mừng Chúng tôi kế thừa quan điểm của Trần Ngọc Thêm về phong tục tang ma để làm sáng tỏ tinh thần “canh tân và hội nhập” của Công giáo trong việc thực hành tang thức của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh

Quyển sách Lễ tục vòng đời của Phạm Minh Thảo (2000), nội dung đề cập

những vấn đề liên quan đến phong tục nghi lễ của một số tộc người tiêu biểu trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam Tác giả cho rằng các nghi lễ đó sẽ xoay quanh trong một chu kỳ đời người, bắt đầu từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm

Trang 32

20

mắt xuôi tay trở về với cát bụi Ngoài ra, tác giả cũng khái quát tập tục tang ma được thực hành theo tập quán truyền thống của người Việt, cũng như tập quán của một vài dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Quyển sách Tục thờ cúng của người Việt của Bùi Xuân Mỹ (2001) đề cập đến

các nghi lễ liên quan đến đời người và các nghi lễ liên quan đến thờ cúng tổ tiên Nghi

lễ tang là nội dung chính của sách, tác giả trình bày chi tiết và hướng dẫn cách thức

thực hành các giai đoạn sau: (i) nghi lễ lâm chung; (ii) nghi lễ sơ khởi; (iii) chuẩn bị tang lễ; (iv) tang lễ tại nhà; (v) lễ an táng; (vi) các nghi lễ sau tang; (vii) các nghi lễ trong thời kỳ tang chế và (viii) các nghi lễ giỗ chạp Qua đó, có thể thấy đây là tài liệu

có giá trị đối với hướng nghiên cứu của luận án trong việc kế thừa các lễ nghi - tập tục tang ma của người Việt Nhìn chung, nội dung sách đã có những đóng góp tích cực cho việc xây dựng đạo đức xã hội, vừa hợp với thời thế vừa loại bỏ được những yếu tố

mê tín dị đoan mà không mất đi ý nghĩa truyền thống

Quyển sách Lễ tang Việt Nam: Truyền thống và kế thừa của Trương Thìn

(2003), tác giả cho rằng trong đời sống tâm linh của người Việt, quan niệm về cái chết rất thiêng liêng Nội dung sách được kế thừa từ Thọ Mai gia lễ của Hồ Gia Tân cùng với tìm hiểu các tập tục về tang chế còn tồn tại trong dân gian để cho thấy sự biến đổi trong việc tổ chức nghi lễ tang ma Qua đó, có thể hiểu việc tang được đặt trong lĩnh vực tư tưởng và tình cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sống đối với người chết trong giờ phút vĩnh biệt Tác giả kết luận rằng: “Cái gì là hủ tục phải bỏ, cái gì là tập quán truyền thống phải giữ” (Trương Thìn, 2003, trang 3)

Bài viết Phong tục tang lễ của người Việt Nam của Cục Văn hóa cơ sở - Bộ Văn

hóa, Thể thao và Du lịch (2003), nội dung đề cập hai loại hình nghi thức tổ chức tang

lễ chính ở Việt Nam dưới góc nhìn tôn giáo học: Phật giáo và Công giáo Tuy nhiên, bài viết chỉ trình bày khái quát một số vấn đề thuộc về nghi lễ tôn giáo, chủ yếu nhấn mạnh đến vai trò của người thân khi quan sát và nhận diện các dấu hiệu lâm chung của người chết, từ đó có những chuẩn bị kịp thời hiệu quả Ngoài ra, bài viết chỉ mang tính

mô tả, chưa nêu lên được những điểm khác nhau và nguyên nhân của những điểm khác nhau giữa hai hình thức này, nhất là tang lễ của cộng đồng Công giáo ở Việt Nam

Quyển sách Phong tục và lễ nghi cổ truyền Việt Nam của Thẩm Định và cộng sự

(2004), nhóm tác giả cho thấy trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam đã tồn tại các phong tục và lễ thức truyền thống của người Việt Nội dung trình bày tương đối đầy đủ

Trang 33

21

có hệ thống các lễ tiết trong một năm, bao gồm nghi lễ vòng đời người Trong phần lễ thức tang ma người Việt, tác giả trình bày quy trình của một đám tang truyền thống khởi đầu là lễ thức lâm chung đến các lễ sau tang như: cúng giỗ, việc xây cất mồ mả, Nhìn chung, nhóm tác giả đã có công trong việc diễn giải rất chi tiết các lễ nghi trong một đám tang truyền thống của người Việt trong quá khứ và hiện nay Có thể nói, đây là công trình rất có giá trị trong việc kế thừa, cũng như đối chiếu với các lễ thức truyền thống trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh mà luận án sẽ giải quyết

Bài viết Nghi thức tang ma của người Việt ở một làng thuộc châu thổ Bắc Bộ

của Phan Hoa Lý (2004) theo tác giả, tang ma là một lễ nghi lớn trong nghi lễ vòng đời người Mỗi dân tộc, mỗi vùng - miền sẽ có cách thức riêng trong việc thực hành văn hóa tang ma Từ cách lập luận đó, bằng nghiên cứu trường hợp người Việt ở một làng châu thổ Bắc Bộ đó là làng Ngọc Quế, tác giả cho biết hầu hết lễ thức theo tập quán tang ma truyền thống trong Thọ Mai gia lễ vẫn được thực hành rộng rãi trong cộng đồng người Việt Ngoài ra, tác giả có sự so sánh giữa tang ma người lớn và trẻ nhỏ để thấy sự khác biệt song vẫn nhận ra quan niệm của người Việt về sự sống và cái chết, lối sống đậm đà tình làng nghĩa xóm Tác giả kết luận như sau: “Trong làng có người mất thì nhà nào cũng có người đi đưa ma, đám tang nào cũng kéo thành đoàn dài, đông nghịt cả cánh đồng Đó là thuần phong mỹ tục, là lối sống ân tình, là đạo lý dân tộc, xứng đáng được trân trọng và gìn giữ” (Phan Hoa Lý, 2004, trang 29) Nhìn chung, nội dung bài viết chỉ dừng lại ở việc khảo tả là chính, chưa chỉ ra được một số vấn đề liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi của các cá nhân khi tham gia vào việc thực hành văn hóa

Quyển sách Phong tục lễ nghi của người Việt của Võ Thanh Bằng (2005), nội

dung cho thấy trải qua quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt, xuất hiện những quy ước trong đối nhân xử thế, trong giao tiếp xã hội giữa cá nhân với cộng đồng, với ông bà tổ tiên và với thần linh Những quy ước đó đã trở thành quy tắc chuẩn mực đối với với nghi lễ vòng đời người Việt Nam Ở mục lễ tục trong tang ma, tác giả đã giải thích ý nghĩa các lễ thức sẽ thực hành cho người chết Tác giả đã phát biểu về lễ mộc dục như sau: “Lễ mộc dục phải được thực hiện bởi những người con, trai thì vào tắm cha, gái thì vào tắm mẹ Khi tắm cần vây màn cho kín, tang chủ quỳ xuống khóc, người hộ việc cũng quỳ rồi cáo từ rằng: nay xin tắm gội để sạch bụi trần,

Trang 34

22

xong phục xuống, đứng dậy”16 Thông qua nội dung sách, có thể thấy rằng trong xã hội hiện đại, những phong tục lễ nghi truyền thống vẫn luôn được các thế hệ người Việt trân trọng và gìn giữ, nó đã vượt qua mọi khoảng cách về không gian, thời gian để trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt Có thể nói, đây là công trình đề cập đến rõ nét những quy ước trong việc đối nhân xử thế trong mối quan hệ cá nhân với cộng đồng, với ông bà tổ tiên và với thần thánh đã trở thành phong tục, lễ thức (lễ nghi) truyền thống đối với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Việt

Quyển sách Nghi lễ mộ phần người Việt của Trương Thìn (2010), tác giả cho

rằng trong văn hóa của người Việt Nam, tang thức là một nghi lễ rất được coi trọng Các vấn đề khác liên quan đến thôi nôi, cưới hỏi, chúc thọ và các lễ kỷ niệm phải dừng lại chờ sau tang Theo tác giả khi gia đình có tang, con cháu phải quy tụ đầy đủ để chịu tang Có thể nói, quyển sách chỉ đơn thuần là bàn đến tang lễ của người Việt nói chung

mà chưa nhắc đến tang lễ của tín đồ Công giáo người Việt

Công trình Văn hóa tang ma của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh của

Nguyễn Thành Đạo (2010), tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa học, tác giả cho thấy tiến trình tổ chức nghi lễ tang ma của người Việt được đặt trong bối cảnh không gian văn hóa Nam Bộ và xu hướng hiện đại đã làm xuất hiện những đặc trưng văn hóa tang lễ tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả có sự so sánh để chỉ ra nét tương đồng

và khác biệt trong việc tổ chức và thực hành nghi lễ tang của cộng đồng người Việt tại Trung bộ Tuy tiếp cận văn hóa học nhưng công trình này mới chỉ mô tả những biến đổi trong việc tổ chức tang ma tại một đô thị, tác giả chưa có sự phân tích để làm nổi bật sắc thái văn hóa tang ma người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh

Quyển sách Tang sự xưa và nay của Đức Quang (2012), tác giả đã đề cập đến

tập tục ma chay của người Việt trong lịch sử cùng với các bước tiến hành một đám tang theo quan niệm dân gian và văn hóa truyền thống người Việt Đồng thời, nội dung

có đối chiếu với tập tục tang ma của một số dân tộc thiểu số đang sinh sống tại Việt Nam như Khmer, Chăm, J’rai để làm sáng tỏ quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và cái chết dẫn đến sự khác biệt trong việc thực hành tang thức Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một vài nhận xét về tục lệ tang ma của người Việt hiện nay và một số biến đổi trên tinh thần thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang ma trong bối cảnh xã hội hiện đại Nhìn chung, công trình chỉ dừng lại ở nội dung hướng dẫn tổ chức đám tang

16 Võ Thanh Bằng (2005), Phong tục lễ nghi của người Việt, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 79

Trang 35

23

theo lễ thức truyền thống, tuy tác giả có đề cập đến tang ma của một số dân tộc nhưng cũng mang tính khảo tả sơ nét, chưa đi sâu vào việc trình bày nét tương đồng và khác biệt trong việc thực hành văn hóa

Công trình Tang ma của người Việt ở miền Tây Nam Bộ của Huỳnh Thị Yến

Thanh (2014), tác giả trình bày diễn trình nghi lễ tang ma truyền thống của người Việt trong bối cảnh văn hóa mở Nam Bộ, có sự so sánh để chỉ ra nét tương đồng và sự khác biệt so với nghi lễ tang ma của cộng đồng các dân tộc thiểu số khác trong khu vực là người Khmer và người Hoa Tuy đề cập đến tang ma của người Việt có sự so sánh với một số dân tộc khác trong vùng, nhưng cũng chỉ ở mức độ khảo tả mang tính tổng hợp, ngoài ra không đề cập người Việt là tín đồ các tôn giáo nói chung, trong đó có người Việt Công giáo Công trình chủ yếu mang tính tham khảo trong nghiên cứu việc nghiên cứu của chúng tôi

Quyển sách Nghi lễ thờ cúng cổ truyền của người Việt của Nguyễn Quốc Thái

(2016), xuất phát từ các nghi lễ trong phong tục thờ cúng tổ tiên Đối với nghi lễ tang

ma, tác giả đã trình bày khái lược các nghi lễ cần thiết cần phải thực hiện trong một đám tang cổ truyền của người Việt Nội dung chưa đi sâu vào việc phân tích bản chất

và ý nghĩa của việc thực hành các nghi lễ trong tang ma truyền thống, chủ yếu trình bày hình thức lễ thức của người Việt đối với việc thờ cúng tổ tiên mà chưa đề cập đến tôn kính tổ tiên của tín đồ Công giáo người Việt Chúng tôi kế thừa chọn lọc một số vấn đề trong việc đối chiếu với lễ nghi tôn kính tổ tiên của tín đồ Công giáo người Việt, trong đó có việc thực hành tang thức Công giáo

Nhìn chung, nội dung nguồn tư liệu đã tổng hợp và hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản của trong nghi lễ tang, từ quy trình tổ chức tang thức bắt đầu khi con người chết đến cách cúng giỗ, tưởng nhớ và hoài niệm về sau Có thể nói, nguồn tài liệu trên là sách tham khảo, công trình nghiên cứu và bài báo khoa học đều bàn luận đến phong tục tập quán tang ma của người Việt tương đối phong phú trong mỗi giai đoạn, quá trình thực hành cụ thể Bên cạnh đó, nội dung các tài liệu không chỉ trình bày việc thực hiện các nghi lễ, mà còn còn cho thấy trình tự các nghi lễ, cũng như việc thực hành các lễ thức trong phong tục, tập quán và các quan niệm kiêng kỵ đi kèm đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt Chúng tôi kế thừa có chọn lọc nguồn

tư liệu để thấy được tính tích cực đối với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Trang 36

1.1.2.1.Tang thức trước Công đồng Vatican II

Tác giả Nguyễn Đình Ái (2007) với công trình Nhìn lại tang lễ trước Công đồng Vatican II ở Việt Nam, đã cho thấy việc thực hành các nghi lễ liên quan đến tang

thức tín đồ là một bầu không khí u buồn và ảm đạm bao quanh đám tang Tác giả kết luận rằng: “Đây là hệ quả của một viễn tượng thần học quá nhấn mạnh đến lỗi lầm của con người và sự xét xử của Thiên Chúa hơn là sự thiện hảo nơi con người và lòng thương xót của Thiên Chúa” (Nguyễn Đình Ái, 2007, trang 47) Qua đó, có thể nhận ra rằng: tang thức Công giáo trước Công đồng Vatican II ở Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc áp đặt (quan phương) tư tưởng thần học Kitô giáo, đó là một tín điều

“bất di dịch”, từ đó làm tâm trí của tín đồ đi kèm nỗi sợ hãi bởi sự trừng phạt của Thiên Chúa sau cái chết Nhìn chung, nội dung không đề cập đến việc thực hành nghi

lễ tang của tín đồ người Việt Nam, mà chỉ tập trung vào tư tưởng thần học Công giáo

về bản chất của cái chết từ chiều kích cánh chung luận

Quyển sách Việc ma chay, giỗ chạp với người Công giáo Việt Nam của Đỗ Đình

Ánh (2008), tác giả cho rằng đại đa số người Việt Nam đều tin rằng con người có linh hồn bất tử và khi con người người tắt thở là bước vào một thế giới khác Vì vậy, chết được xem là bước qua ngưỡng cửa của cõi nhân sinh sang cõi khác, nên phải có cuộc tiễn đưa cho thật trang trọng Trong phần nghi lễ tang, tác giả đã cho thấy trước Công đồng Vatican II, tín đồ Công giáo ở Việt Nam đã không được thực hành nghi lễ tang

ma theo tập quán truyền thống như: nghiêm cấm việc bái lạy trước thi hài người chết, không được thắp nhang (hương), cấm các hình thức mang màu sắc mê tín dị đoan bên thi hài người chết như: bày biện mâm quả, hoa nến màu đỏ, màu sắc tang phục và ăn uống liên quan đến việc chôn cất người chết…Có thể nói, đây là một tài liệu rất có giá trị trong việc kế thừa mà luận án nghiên cứu để chứng minh sự hồi sinh văn hóa truyền thống trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt sau Công đồng Vatican II ở Thành phố Hồ Chí Minh

Quyển sách Thánh nhạc Công giáo ở Việt Nam trước Công đồng Vatican II của

Kim Long (2009), trong phần thánh nhạc dành cho nghi thức lễ tang ở Việt Nam, tác

Trang 37

25

giả cho thấy trước Công đồng Vatican II, lời nhạc được hát xướng bằng ngôn ngữ Latinh, là ngôn ngữ phần lớn tín đồ và ngay những người trong ca đoàn cũng không hiểu ý nghĩa của nó Tác giả kết luận rằng: “Nghi thức thánh lễ an táng giáo dân ở Việt Nam trước Công đồng Vatican II được cử hành rập khuôn theo khuôn mẫu của văn hóa Châu Âu, loại trừ tất cả những gì liên hệ đến ngôn ngữ dân ca Việt Nam” (Kim Long, 2009, trang 48) Sách không bàn đến việc thực hành nghi lễ tang, nhưng cũng cho thấy đời sống lễ nghi của tín đồ Công giáo hoàn toàn bị động và lệ thuộc vào hệ quy chiếu của văn hóa Châu Âu

Quyển sách Phụng tự tại Việt Nam trong 50 năm qua: 1960 - 2010 của Hội

đồng giám mục Việt Nam (2010), đề cập đến sự kiện thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam năm 19 0 Qua đó, nhìn lại việc thực thi văn kiện của Công đồng Vatican II, trong đó có việc cử hành và sống phụng vụ (lễ nghi) tại Việt Nam, nhất là từ sau khi ban hành hiến chế về phụng vụ17 Sách trình bày lại đời sống lễ nghi của Công giáo ở Việt Nam trước và sau Công đồng Vatican II nhằm chỉ ra tinh thần “canh tân và hội nhập” mà Công đồng chủ trương trong là hoàn toàn đúng đắn

Đối với việc nghi lễ tang trước Công đồng có đoạn như sau:

Giáo dân Việt Nam đi xem lễ, và cha (linh mục) thì làm lễ Đó là những kiểu nói rất thông thường Giáo dân đọc những phần kinh được soạn theo các lời giải thích theo nghĩa bóng về các nghi lễ vị linh mục làm hay đọc trên bàn thờ, như trước đây, khi linh mục làm 5 dấu thánh giá trong thánh

lễ, thì được hiểu là 5 dấu thương khó của Chúa Giáo dân không đối đáp với chủ tế Họ được đưa vào trong mầu nhiệm cử hành qua đức tin, qua bài giảng và các bài giáo lý về thánh lễ, các bí tích và phải hát những bài thánh

ca trong phụng vụ bằng tiếng Latinh Lời Chúa cũng được công bố bằng tiếng La tinh (Hội đồng giám mục Việt Nam, 2010, trang 3)

Nhìn một cách toát yếu, lễ thức tang ma theo tập quán cư dân tại chỗ (bản địa)

đã bị loại bỏ hoàn toàn trong việc thực hành tang thức của tín đồ Công giáo ở Việt Nam, từ đó dẫn đến sự xung đột văn hóa được biểu hiện qua việc ứng xử với phong tục, tập quán truyền thống trong một thời gian dài Luận án kế thừa nội dung này để

17 Được dịch từ tiếng Anh - Sacrosanctum Concilium, hiến pháp về phụng vụ thiêng liêng, là một trong những hiến pháp của Công đồng Vatican II đề cập đến nghi lễ Công giáo với văn hóa bản địa các dân tộc

Trang 38

26

làm sáng tỏ sự hồi sinh các tập quán truyền thống trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt từ sau Công đồng Vatican II

Quyển sách Những nẻo đường Phúc âm hóa Công giáo ở Việt Nam của Nguyễn

Hồng Dương (201 ), đề cập đến công cuộc truyền giáo của Công giáo ở Việt Nam ngay từ buổi đầu cho đến Công đồng Vatican II, ở đó nổi lên hai vấn đề nan giải đó là: Công giáo với dân tộc Việt Nam và Công giáo với văn hóa Việt Nam luôn được đặt ra, nhiều khi mang tính cực đoan gay gắt và loại trừ Trong phần những nẻo đường hội nhập văn hóa Công giáo với nền văn hóa Việt Nam, tác giả cho biết thời kỳ trước Công đồng Vatican II, theo chiều kích quan phương giáo hội Công giáo không chấp nhận các lễ thức trong văn hóa truyền thống dân tộc dành cho người chết (thờ cúng tổ tiên) Tuy nhiên, đối với con đường phi quan phương, tín đồ người Việt đã vượt ra khỏi sự cấm đoán ngặt nghèo của giáo hội để thực hành nghi lễ dành cho người chết theo tập quán truyền thống Tác giả đã minh chứng như sau: “Tín đồ đã bí mật giữ bài

vị, bát hương, hằng năm giỗ chạp vẫn lén lút thờ cúng Có người theo đạo đã được bầu lên chức trùm họ vẫn thắp hương thờ cúng tổ tiên trong chum” (Nguyễn Hồng Dương,

2016, trang 517)

Tựu trung lại, các công trình cho thấy giai đoạn trước Công đồng Vatican II vấn

đề nghi lễ tang của tín đồ Công giáo ở Việt Nam đối với giáo hội Công giáo Rôma là mang tính bảo thủ, cứng nhắc, độc đoán và mang tính loại trừ các nghi lễ liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên của người Việt, không chấp nhận việc thực hành các lễ thức theo tập quán truyền thống dành cho người chết Qua đó, có thể tóm tắt ngắn gọn như sau: Công giáo với văn hóa Việt Nam (phong tục, tập quán…) trước Công đồng Vatican II

là biểu hiện của những xung đột gay gắt mang tính loại trừ

1.1.2.2.Tang thức sau Công đồng Vatican II

Bài viết Phong tục tang ma của người Việt xã Yên Phương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc của Hoàng Hữu Bình, Nguyễn Xuân Nam (2003), đề cập đến tang ma của

tín đồ Công giáo người Việt tại giáo xứ Dân Trù và giáo xứ Phương Trù thuộc giáo phận Bắc Ninh Từ kết quả khảo sát thực địa, nhóm tác giả kết luận rằng từ sau Công đồng Vatican II, tín đồ Công giáo ở Việt Nam mới thật sự được thực hành nghi lễ tang kết hợp với tập tục truyền thống dân tộc như “cỗ hậu sự” còn được gọi là áo quan, lễ mộc dục, lễ thành phục, lễ hạ huyệt, lễ giỗ,…ngoài ra, nhóm tác giả cũng so sánh đối chiếu với tang thức Phật giáo để thấy được sự khác biệt trong việc thực hành tang thức

Trang 39

27

của người Việt theo tôn giáo Bài viết này chỉ dừng lại ở mức độ khảo tả, chưa đi sâu vào việc phân tích lễ thức truyền thống và nghi lễ Công giáo được vận hành như thế nào tang thức Công giáo ở Việt Nam Chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp tục làm sáng tỏ trong nghiên cứu tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết Tang thức người Việt theo Công giáo, Phật giáo và theo phong tục, tín ngưỡng truyền thống ở vùng đồng bằng Bắc bộ của Nguyễn Tấn Đạt (2008), tác giả

cho rằng tùy theo quan niệm về cái chết mà người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ theo tôn giáo nào đó hay theo phong tục, tín ngưỡng truyền thống có cách thức tổ chức lễ tang Tuy nhiên, quan điểm nhân sinh của Công giáo, Phật giáo và người Việt có điểm chung là chết không phải là hết mà nó sẽ được chuyển tiếp vào một thế giới khác (Niết bàn, thiên đường,… Ngoài ra, điểm nổi bật của bài viết đã được tác giả chỉ ra đó là,

“thực tế hiện nay việc tổ chức tang thức phụ thuộc rất lớn vào địa vị xã hội, địa vị tôn giáo của người chết” (Nguyễn Tấn Đạt, 2008, trang 42) Khi đề cập đến tang thức Công giáo, tác giả cho rằng tang thức của tín đồ Công giáo người Việt tại Bắc Bộ chuyển biến mạnh từ sau Công đồng Vatican II, trước đó tín đồ Công giáo Việt Nam

bị cấm tổ chức theo phong tập tập quán địa phương liên quan đến phong tục thờ cúng

tổ tiên, trong đó có nghi lễ tang ma Nhìn chung, bài viết đã nêu lên được tính mới trong việc nghiên cứu đó là “mô quy” tang lễ lớn hay nhỏ đều do địa vị xã hội của người chết hay thân nhân người chết mang tính quyết định Chúng tôi kế thừa tính mới này để làm sáng tỏ trong tang thức của tín đồ Công giáo có liên quan đến người chết như chức sắc, cha mẹ chức sắc, nhà tu hành và những người có ảnh hưởng khác tại một cộng đồng Công giáo

Bài viết Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai - Đồng Nai của Nguyễn Đức Lộc (2008), tác giả đã trình bày đời sống

nghi lễ của tín đồ liên quan đến việc “hiếu - hỉ” (tang lễ và hôn lễ) tại một địa phương

cụ thể Thông qua nghiên cứu điền dã, kết quả cho thấy cộng đồng tín đồ Công giáo tại đây thực hành đời sống lễ nghi dưới dạng “nghi lễ kép” giữa tinh thần Công giáo (giáo lý) và quan niệm tín ngưỡng dân gian (lễ thức) người Việt đã được vận hành một cách nhuần nhuyễn Tính mới trong bài viết này chính là việc “thương thảo” giữa các bên liên quan phía hậu cảnh để “thỏa thuận, bàn bạc đi đến thống nhất” sao cho phù hợp với bối cảnh hiện tại của cộng đồng Công giáo trong việc tổ chức nghi lễ Chúng tôi kế

Trang 40

28

thừa tinh thần của nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ tác động qua lại giữa

hệ giá trị Công giáo với hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam mà nội dung luận án hướng đến

Nguyễn Thị Thúy (2012), với công trình nghiên cứu Tìm hiểu nghi lễ tang ma của người Việt Công giáo đô thị hiện nay, tác giả chứng minh nghi lễ tang ma của

người Việt nói chung và người Việt Công giáo tại các đô thị nói riêng, đang có một số

xu hướng biến đổi như hình thức mai táng (từ thổ táng sang hình thức hỏa táng), không gian tổ chức tang lễ,…là do tác động của quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa Nhìn chung, công trình này chưa đề cập đến việc thực hành văn hóa trong tang thức Công giáo có yếu tố bản địa, mà chỉ đề cập đến xã hội học để chỉ ra những biến đổi trong việc tổ chức tang lễ của một cộng đồng Công giáo đã bị tác động bởi bối cảnh xã hội nhất định trong tiến trình toàn cầu hóa Tuy nhiên, chúng tôi cũng không đồng ý với quan điểm của tác giả khi cho rằng việc thổ táng sang hỏa táng là do tác động của quá trình đô thị hóa, bởi lẽ nếu không có tinh thần cởi mở của Công đồng Vatican II thì chắc chắn việc này sẽ không được thực hiện Vì, Công giáo đã định tín rằng “tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại, tôi tin hằng sống vậy”

Lê Thị Cúc (2014), với nghiên cứu Tang thức của người Việt Bắc Bộ là tín đồ Công giáo và Phật giáo, đề cập đến tang thức của tín đồ Phật giáo và Công giáo của

người Việt ở khu vực Bắc Bộ Tác giả tiếp cận theo quan điểm tôn giáo học để chỉ ra điểm tương đồng và điểm khác biệt trong việc thực hành tang thức của tín đồ người Việt theo nghi lễ Phật giáo với nghi lễ Công giáo dưới chiều kích quan niệm trong nghi lễ tôn giáo hơn là thích nghi với văn hóa địa phương Một số khuyến nghị được gợi ý cho việc tổ chức tang thức hiện nay được tác giả đề xuất nhằm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và khu vực Bắc Bộ nói riêng, cũng như cần thiết loại bỏ những hủ tục cho phù hợp với xu thế phát triển xã hội hiện đại Kết quả nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc tiếp cận từ thực hành nghi lễ tang theo quan điểm của tôn giáo, tác giả chưa làm rõ những biến đổi trong việc thực hành tang thức của tín đồ tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng bởi tinh thần canh tân của Công đồng Vatican II dưới chiều kích hội nhập văn hóa mà Công giáo đã chủ trương

Quyển sách Cấu hình xã hội Cộng đồng Công giáo Bắc di cư tại Nam Bộ của

Nguyễn Đức Lộc (2015), nội dung sách là kết quả của quá trình nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm của tác giả về vấn đề người Công giáo Bắc di cư 1954 Công

Ngày đăng: 23/12/2020, 07:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w