1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thái ở tây bắc việt nam hiện nay

240 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 318,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sau khi có Chỉ thị số 32-CT/TƯ ngày 09/12/2003 vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấphành pháp luật của cán bộ, nhân dân, và Luật PBGDPL năm 201

Trang 2

LÒ CHÂU THỎA

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO

DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Trần Đình Thắng

2 TS Đỗ Xuân Lân

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lò Châu Thỏa

Trang 4

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề cần

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho

2.2 Mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ

THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội vùng Tây Bắc 643.2 Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái

Trang 5

BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 1124.2 Quan điểm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái

4.3 Giải pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

PHỤ LỤC

Trang 6

: Hội đồng nhân dân

: Phổ biến, giáo dục pháp luật: Quy phạm pháp luật

: Tuyên truyền viên pháp luật: Ủy ban nhân dân

: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - một Nhà nước đề cao vaitrò của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Phổ biến, giáo dục phápluật (PBGDPL) được xác định là khâu đầu tiên của quá trình tổ chức thực hiện phápluật, là một trong những điều kiện căn bản để xây dựng xã hội pháp quyền dân chủ

và tăng cường pháp chế XHCN PBGDPL cho nhân dân, trong đó có các đối tượngđặc thù là người dân tộc thiểu số (DTTS) ở vùng núi, biên giới, vùng kinh tế đặcbiệt khó khăn… là chủ trương lớn của Đảng, đã được các cấp chính quyền đặc biệtquan tâm tổ chức thực hiện trên thực tiễn

Đồng bào dân tộc (ĐBDT) Thái là dân tộc đứng thứ ba về số lượng trong cộngđồng 54 dân tộc anh em ở Việt Nam với trên 1,8 triệu người, có mặt trên khắp 63 tỉnh,thành phố trên cả nước, nhưng cư trú tập trung hầu hết ở vùng Tây Bắc Người Thái cólịch sử cư trú lâu dài ở Tây Bắc trên một ngàn năm, có tiếng nói và chữ viết riêng, cónhững đặc điểm rất riêng về văn hóa, tín ngưỡng, tập quán có ảnh hưởng lớn đến vănhóa của các nhóm cư dân trong khu vực Đặc biệt, trước năm 1945, ở Tây Bắc, vớichính sách "nhu viễn" của triều đình phong kiến, người Thái đã có hệ thống luật tụcriêng được thể hiện bằng văn bản, và có hệ thống chức dịch địa phương tổ chức thựchiện Luật tục với lịch sử tồn tại và duy trì hàng mấy trăm năm đã ăn sâu vào nếp sống,nếp nghĩ của đồng bào dân tộc Thái, rất cần có những nghiên cứu khoa học từ góc độLuật học để phát triển những giá trị tốt đẹp, phù hợp pháp luật của luật tục, góp phầngiải quyết hài hòa mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục, phong tục, tập quán và bàitrừ, xóa bỏ những hủ tục, quy định trái pháp luật

Tây Bắc Việt Nam là địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninhquốc phòng, là vị trí chiến lược, phên dậu quốc gia; vùng Tây Bắc có sự hiện diện của

42 dân tộc anh em, trong đó có 20 dân tộc có trên 500 người Xét ở góc độ ngôn ngữ,

20 dân tộc này thuộc 7 nhóm ngôn ngữ khác nhau Mỗi dân tộc ở Tây Bắc có nguồn

Trang 9

gốc, lịch sử khác nhau, có bản sắc văn hóa, các đặc điểm tâm lý riêng Sự đa dạngnày của các dân tộc đã tạo nên một Tây Bắc với những sắc thái văn hóa độc đáo, đadạng, song nổi trội là không gian văn hóa Thái Công tác PBGDPL ở Tây Bắc thờigian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, tuy nhiên, tình trạng vi phạmpháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật, số lượng người mắc tệ nạn xã hội và tội phạm

về ma túy còn cao đòi hỏi việc PBGDPL ở Tây Bắc cần có những mục tiêu, giảipháp cụ thể phù hợp với đặc trưng riêng có của Tây Bắc và đối tượng là ĐBDT Thái

để PBGDPL, góp phần tích cực vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

Phổ biến, GDPL là đề tài được rất nhiều học giả quan tâm trên các diễn đànkhoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàndiện, có hệ thống về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài "Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay" làm

đề tài luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và phápluật với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận án

Mục đích của luận án là nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận

và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay, đề xuất mụctiêu, quan điểm và giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ:

- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài PBGDPL nói chung vàcho ĐBDT Thái ở Tây Bắc nói riêng; chỉ ra những kết quả đã đạt được và dự kiến những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về PBGDPL cho ĐBDT Thái, baogồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến PBGDPL cho ĐBDTThái ở Tây Bắc

- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn PBGDPL cho ĐBDT Thái ở TâyBắc bám sát các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ở Tây Bắc, nhất là sự tácđộng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến thực trạng PBGDPL ở Tây Bắc

Trang 10

- Dựa trên các vấn đề lý luận và thực tiễn, luận án xác định mục tiêu, xâydựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp PBGDPL cho ĐBDT thái ở Tây Bắc thời gian tới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về

PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam dưới góc độ Lý luận và lịch sử nhànước và pháp luật

Phạm vi nghiên cứu của luận án: PBGDPL cho người dân nói chung là vấn

đề rất rộng Do vậy, luận án chỉ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về PBGDPLcho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam (gồm 06 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên,Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái)

Về thời gian, luận án nghiên cứu về hoạt động PBGDPL từ năm 2012 (thờiđiểm triển khai thực hiện Luật PBGDPL) đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật,

về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) ở nước ta

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp logic - lịch sử đểnghiên cứu chương 1, 2 và 3 để nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài,

cơ sở lý luận, thực trạng PBGDPL ở Tây Bắc thời gian qua; phương pháp hệ thống cấu trúc, quy nạp, diễn dịch để nghiên cứu chương 2, 3 và 4; phương pháp phân tíchtổng hợp tại tất cả các chương; khái quát hóa, trừu tượng hóa tại chương 2, 3; luậthọc so sánh tại chương 1 và 2, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích thực tiễn

-và các phương pháp của xã hội học pháp luật được sử dụng tại chương 1, 2 -và 3 củaluận án

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là tài liệu chuyên khảo đầu tiên ở nước ta nghiên cứu về PBGDPLcho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam một cách toàn diện, có hệ thống và có cácđiểm mới sau:

Trang 11

Một là, đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu đề tài, chỉ ra những kết quả

đã được nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Hai là, xây dựng cơ sở lý luận về PBGDPL cho ĐBDT Thái như: Khái

niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến PBGDPL cho ĐBDT Thái

Ba là, lần đầu tiên thực trạng PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt

Nam hiện nay được phân tích, đánh giá một cách khoa học dưới tác động của nhân

tố khách quan, chủ quan (kết quả đã đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân) làmtiền đề thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp khắc phục

Bốn là, luận án đưa ra quan điểm và đề xuất giải pháp PBGDPL cho ĐBDT

Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở nước ta nghiên cứu tương đốitoàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở TâyBắc Việt Nam hiện nay Vì vậy, luận án góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận về GDPLnói chung, cho nhóm đối tượng, địa bàn đặc thù nói riêng Đây là tài liệu có ý nghĩa thamkhảo về phương diện lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng và hoàn thiện chínhsách, pháp luật cũng như cơ chế tổ chức, triển khai thực hiện công tác PBGDPL chongười dân ở Tây Bắc và các địa phương có đối tượng, điều kiện kinh tế - xã hội tươngđồng

- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn

đề lý luận và thực tiễn về PBGDPL; PBGDPL đối với các địa bàn, đối tượng đặc thù.Luận án có thể là tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy môn học Nghiệp vụPBGDPL, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, GDPL trong các cơ sở giáo dục, đàotạo, cơ sở nghiên cứu; trong các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án

Vấn đề PBGDPL nói chung, PBGDPL cho những đối tượng xã hội cụ thểtrong những năm qua đã được nhiều nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài, tácgiả của những cuốn sách chuyên khảo, bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học

đề cập, luận giải, phân tích ở những cấp độ, phương diện khác nhau và đã đạt đượcnhiều kết quả quan trọng Liên quan đến đề tài luận án, có ba nhóm công trìnhnghiên cứu sau đây: a) Nhóm 1: các công trình nghiên cứu về PBGDPL nói chung

và PBGDPL cho các nhóm đối tượng xã hội nói riêng; b) Nhóm 2: các công trìnhnghiên cứu về dân tộc Thái nói chung, ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói riêng;c) Nhóm 3: các công trình nghiên cứu về Tây Bắc, PBGDPL cho ĐBDT Thái ở TâyBắc Việt Nam

1.1.1 Nhóm các công trình về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

Phổ biến, GDPL là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu.Dưới góc độ lý luận, từ trước năm 1980 các tác giả trong và ngoài nước chủ yếu đềcập đến GDPL và GDPL cho các nhóm đối tượng cụ thể, còn phổ biến pháp luậtchưa được đề cập nhiều Từ sau khi có Chỉ thị số 32-CT/TƯ ngày 09/12/2003 vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấphành pháp luật của cán bộ, nhân dân, và Luật PBGDPL năm 2011 được ban hành,cụm từ "phổ biến, giáo dục pháp luật" được đề cập nhiều hơn; đã có một số côngtrình nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành về GDPL,PBGDPL, cụ thể là:

Các luận án Phó tiến sĩ: "Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt

Nam" của Nguyễn Đình Lộc thực hiện năm 1978 tại Trường Đại học Tổng hợp

Matxcơva" [70]; "Ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" của Vũ

Đức Khiển thực hiện năm 1982 tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội thuộc Ban

Trang 13

Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô [65]; Đề tài cấp Nhà nước, mã số KX

07-17 "Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật" do GS.TSKH Đào Trí Úc làm

chủ nhiệm (1995) có thể được coi là những công trình nghiên cứu sớm nhất về ý thứcpháp luật, mở ra một hướng nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý Việt Nam Kế

đó là các công trình nghiên cứu nhiều mặt về ý thức pháp luật của tác giả Hoàng Thị

Kim Quế "Bàn về ý thức pháp luật", Tạp chí Luật học, số 1/2003, Vũ Minh Giang "Xây dựng lối sống theo pháp luật - nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống", Tạp chí Nhà nước

và pháp luật, số 1/1993 Với cách tiếp cận đó, hầu hết các nghiên cứu về GDPL, phổbiến pháp luật đều bắt đầu từ việc nghiên cứu, đánh giá về thực trạng

ý thức pháp luật, cấu trúc của ý thức pháp luật và ảnh hưởng của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng chương trình và xác định hình thức, phương thức GDPL

GS.TSKH Đào Trí Úc với hai chuyên khảo rất có giá trị, cả về mặt lý luận

và thực tiễn: "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật" [120] và "Nhà nước và pháp

luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới" [122] Trong các chuyên khảo này, tác

giả đã làm rõ các kênh phổ biến pháp luật, đặt phổ biến pháp luật trong quan hệ vớixây dựng ý thức, lối sống tuân theo pháp luật và nhấn mạnh sự hiểu biết pháp luậtcủa nhân dân là yếu tố đầu tiên để hình thành ý thức pháp luật; pháp luật phải quanhiều hình thức khác nhau mới đến được với người dân và trở thành sự hiểu biết vềpháp luật, tri thức pháp luật [122, tr 633] Một trong những nội dung quan trọng về

ý thức pháp luật được các tác giả đề cập đến trong các công trình của mình là hiệntượng coi thường pháp luật và nguồn gốc, nguyên nhân của nó trong xã hội nước ta.Theo các tác giả, hiện tượng đó bắt nguồn từ nhiều phía: do các yếu tố lịch sử: sự ápbức của thực dân - phong kiến đã tạo nên sự phủ nhận những gì đi liền với sự ápbức đó, là công cụ cho sự áp bức đó, trong đó có pháp luật; tâm lý của những ngườidân "sống sau lũy tre xanh" coi trọng lệ làng hơn phép nước; sự tồn tại quá lâu của

cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp trong đời sống xã hội, trong quản lý kinh tếv.v [54], [63], [70], [122]

Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề lý luận về PBGDPL có đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ do Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý và Vụ

Trang 14

PBGDPL, Bộ Tư pháp phối hợp thực hiện: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

phổ biến, giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới [136] Từ kết quả nghiên cứu

của đề tài trên, Bộ Tư pháp đã xuất bản số chuyên đề rất có giá trị: "Tuyên truyềngiáo dục pháp luật" [134] Theo ấn phẩm này, các vấn đề lý luận cơ bản về GDPL

đã được nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống như bản chất, mục đích, vaitrò, chủ thể, khách thể, đối tượng của GDPL Nhận diện và làm rõ nội dung, hìnhthức, phương tiện, phương pháp và hiệu quả của GDPL

Tác giả Trần Ngọc Dũng nghiên cứu về GDPL gắn với quá trình thi hànhhiến chương ASEAN để làm rõ các vấn đề như vai trò của GDPL trong sự nghiệpxây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường hội nhậptoàn diện của Việt Nam trong phạm vi ASEAN và quốc tế; phân tích, đánh giáchính sách của Nhà nước Việt Nam về GDPL; làm rõ hệ thống và chương trìnhGDPL của Việt Nam; chỉ ra những thành tựu, những khiếm khuyết, bất cập của sựnghiệp GDPL Việt Nam trong những năm qua [36, tr 19-22]

Trong khuôn khổ một bài viết, tác giả Hoàng Thị Kim Quế nhận diện vàlàm rõ hơn về hiệu quả của PBGDPL ở nước ta hiện nay [85, tr 39-45] Tác giảNguyễn Thu Thủy phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến chất lượng GDPL vàcác tiêu chí đánh giá [101, tr 28-33] Có thể khẳng định các nghiên cứu này đã gópphần bổ sung những thiếu hụt trong các nghiên cứu lý luận trước đây về GDPL

Số chuyên đề Thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật [94], Tạp chí Dân

chủ và pháp luật phản ánh những thành tựu sau 3 năm đưa Luật PBGDPL vào đời sống

xã hội, phân tích những hạn chế, bất cập và nguyên nhân, để từ đó đưa ra những giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL ở nước ta trong thời gian tới

Tài liệu tham khảo nội bộ của Vụ PBGDPL - Bộ Tư pháp Hoạt động phổ

biến, giáo dục pháp luật tại một số nước trên thế giới [139], (2013) giới thiệu công

tác PBGDPL cho các tầng lớp xã hội tại một số nước trên thế giới, như Cộng hòaPháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Đan Mạch, Liên bang Nga,Cộng hòa Liên bang Australia, Vương quốc Thái Lan, Singapor trên các phươngdiện khác nhau, từ thể chế, chính sách, cơ cấu tổ chức, phương thức tổ chức thực

Trang 15

hiện và những hình thức PBGDPL của các quốc gia đó Đây là tài liệu tham khảohữu ích đối với tác giả luận án trong việc khảo sát, đánh giá công tác PBGDPL củacác nước, đề xuất giải pháp có thể áp dụng cho Việt Nam…

Cẩm nang lý luận về GDPL và PBGDPL cần kể đến hệ thống giáo trình của

các cơ sở đào tạo Luật như: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật [115], của

Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2016, Nhà xuất bản Công an nhân dân;

Trong Chương IX - Ý thức pháp luật, đưa ra khái niệm GDPL, mục đích của GDPL, nội dung và hình thức GDPL Giáo trình Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và

hòa giải ở cơ sở [116], của Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên là học liệu dành

cho học viên học Trung cấp Luật tại các cơ sở đào tạo Trung cấp Luật thuộc Bộ Tưpháp, cuốn sách đề cập hai nội dung cơ bản là PBGDPL và hòa giải ở cơ sở, các tácgiả đề cập đến các nội dung: Khái niệm, vai trò, nguyên tắc của PBGDPL, nội dung,hình thức PBGDPL; xây dựng và thực hiện kế hoạch PBGDPL; nghiệp vụ thực hiệnmột số hình thức PBGDPL; một số vấn đề chung về hòa giải ở cơ sở; nghiệp vụ hòagiải ở cơ sở, đây là tài liệu cho học viên học nghề Luật, cách đề cập vấn đề ngắngọn, cụ thể theo hướng cầm tay, chỉ việc, là nguồn tư liệu để tác giả luận án sử dụng

để đề xuất các giải pháp mang tính chất nghiệp vụ PBGDPL cho đối tượng trực tiếpthực hiện tham gia PBGDPL ở cơ sở

1.1.2 Nhóm các công trình về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các nhóm đối tượng xã hội cụ thể, địa bàn cụ thể

Từ những công trình nghiên cứu về PBGDPL nói chung, vấn đề PBGDPLcho từng đối tượng xã hội cụ thể và tại các địa bàn cụ thể cũng bắt đầu được triểnkhai nghiên cứu Có thể kể đến một số sách, đề tài khoa học, công trình nghiên cứunhư sau:

Luận án tiến sĩ Luật học của Vũ Thị Hoài Phương thực hiện năm 2009:

Giáo dục pháp luật trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam [83]; qua nghiên

cứu GDPL cho các đối tượng trong doanh nghiệp nhà nước bao gồm người laođộng, cán bộ công đoàn, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ quản lý trong doanhnghiệp Qua việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật, luận án chứng

Trang 16

minh khá toàn diện thực trạng hoạt động GDPL cho người lao động và cán bộ côngđoàn, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước Tác giả đề xuất các nhómgiải pháp gồm giải pháp về nâng cao vai trò và chất lượng của chủ thể GDPL.

Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Quốc Sửu thực hiện năm 2010: Giáo

dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ngay trong phần Mở đầu luận án,

tác giả trích dẫn một đoạn trong bài văn bia do Thân Nhân Trung soạn và đề tại VănMiếu - Quốc Tử Giám: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đấtnước mạnh và càng lớn mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp.Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôidưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp thêm nguyên khí" Tác giả nhận định: ngày nay,một trong những nhiệm vụ "bồi đắp nguyên khí quốc gia" là Nhà nước phải chăm logiáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) nói chung, CBCC hànhchính nói riêng, trong đó có GDPL cho họ [92]

- Luận án tiến sĩ Luật học của Trần Thị Sáu thực hiện năm 2012: Giáo dục

pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam [88]; luận án bổ sung cơ sở lý

luận về GDPL trong điều kiện mới trên cơ sở mở rộng quan niệm GDPL theo hướng pháthuy năng lực của đối tượng GDPL, đồng thời đưa ra quan niệm về GDPL cho học sinhtrong trường trung học phổ thông; làm sáng tỏ mục đích, vai trò và đặc điểm của GDPLcho học sinh trong trường trung học phổ thông; xây dựng quan niệm về hiệu quả GDPL

và những điều kiện bảo đảm hiệu quả GDPL cho học

sinh trong các trường trung học phổ thông Tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích,đánh giá thực trạng GDPL cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ởnước ta, qua đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc xây dựng các biện phápnâng cao hiệu quả GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông và đề xuấtnhững giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDPL cho học sinh trongcác trường trung học phổ thông ở nước ta trong điều kiện đổi mới toàn diện nềngiáo dục và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 17

Luận án tiến sĩ Luật học của Phan Hồng Dương thực hiện năm 2014 Giáo

dục pháp luật cho sinh viên các trường Đại học không chuyên luật ở Việt Nam [38];

Luận án tập trung nghiên cứu về GDPL cho sinh viên các trường không chuyên luật

ở Việt Nam với các nội dung: cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải phápnhằm tăng cường GDPL cho sinh viên các Trường không chuyên luật ở Việt Nam Đặcbiệt, tác giả đã có sự khảo sát, tìm hiểu việc GDPL cho sinh viên các trường khôngchuyên luật ở một số nước tiêu biểu trên thế giới như: Mĩ, Australia, Thụy Điển, Pháp,Liên bang Nga, Cộng hòa Séc, Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam

trong hoạt động GDPL cho sinh viên các trường không chuyên luật - Một trongnhững đối tượng PBGDPL được xác định trong luận án

Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tĩnh thực hiện năm 2015: Giáo dục pháp luật cho người dân ở tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay [102], trên cơ sở

đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu đề tài, chỉ ra những kết quả đã được nghiêncứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu tác giả xây dựng mô hình lý luận khoahọc đặc thù về GDPL cho người dân tỉnh Đắk Lắk như: Khái niệm, vai trò, đặc trưng

và các yếu tố ảnh hưởng đến GDPL cho người dân tỉnh Đắk Lắk Đặc biệt, với luận ánnày, lần đầu tiên thực trạng GDPL cho người dân tỉnh Đắk Lắk được phân tích, đánhgiá một cách khoa học dưới tác động của nhân tố khách quan, chủ quan (kết quả đã đạtđược, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân) làm tiền đề thực tiễn để xác định mục tiêu, quanđiểm, giải pháp đổi mới Luận án xác định rõ mục tiêu, quan điểm và đề xuất một sốgiải pháp đổi mới GDPL cho người dân tỉnh Đắk Lắk hiện nay

Luận án tiến sĩ Luật học của Ngô Văn Trù thực hiện năm 2016: Giáo dục

pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam [109]; trên cơ sở nghiên

cứu lý luận về GDPL cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam, khảo sát tìnhhình phạm nhân, điều tra xã hội học về thực trạng công tác GDPL cho phạm nhântại các trại giam trong những năm qua (đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ranhững hạn chế, bất cập của công tác này, tìm hiểu nguyên nhân của nó); từ đó, đềxuất quan điểm và các giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácGDPL cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam hiện nay

Trang 18

Luận án tiến sĩ Luật học của Dương Thành Trung thực hiện năm 2015:

Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam [110] Trên cơ sở khái quát về mặt lý luận, phân tích và làm rõ về

mặt thực tiễn công tác GDPL, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác GDPL cho

ĐBDT Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam; chỉ ra những thànhtựu, kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng để trên cơ

sở đó, đề xuất quan điểm các chỉ đạo và những giải pháp bảo đảm nâng cao chấtlượng, hiệu quả GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ViệtNam trong các giai đoạn tiếp theo Những đóng góp mới của luận án là: Góp phầnkhái quát, hệ thống hóa lý luận về hoạt động GDPL cho ĐBDT Khmer ở vùng đồngbằng sông Cửu Long, Việt Nam; làm rõ nội hàm những khái niệm có liên quan, nhưmục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL cho ĐBDTKhmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; những nét đặc trưng về kinh tế, chính trị,văn hóa - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long có ảnh hưởng đến hoạt độngnày; Luận án trên là nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu về PBGDPL cho ĐBDTThái ở Tây Bắc vì ĐBDT Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và ĐBDT Thái

ở Tây Bắc (đối tượng nghiên cứu) đều là những nhóm cư dân chiếm đa số của khuvực, có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, lối sống của các dân tộc khác trong vùng, vềmặt lý luận, hai luận án có nhiều điểm tương đồng, là tài liệu làm cơ sở để so sánh,phân biệt sự khác nhau của PBGDPL ở đồng bằng sông Cửu Long và ở Tây Bắc

Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu trong nước, như:

Luận án tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo (1996): Giáo dục pháp luật trong các

trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước

ta hiện nay [96]; Nguyễn Duy Lãm (Chủ biên, 1997): Một số vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay [66]; Đề tài khoa học cấp bộ của Khoa

Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 1999: Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường Chính trị ở nước ta

hiện nay [64] Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Tiến Thịnh (2014): Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử hình sự của Tòa án - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

[99]

Trang 19

1.1.3 Nhóm nghiên cứu về dân tộc Thái, Tây Bắc và phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và tính phong phú, đa dạng, độc đáo,dân tộc Thái và vùng Tây Bắc đã được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâmnghiên cứu có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:

Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam [107] của tác giả Cầm Trọng Tác giả cuốn

sách nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội, tập quán người Thái Tây Bắc Việt Nam.Nội dung cuốn sách gồm có: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam; các loại hình kinh tế.Ruộng đất và xã hội; Bản Mường; Một số nét khái quát về tôn giáo, nghệ thuật, vănhọc.. Đây là công trình của tác giả Việt Nam đầu tiên giới thiệu khá sâu sắc về vănhóa, phong tục tập quán của người Thái Tây Bắc nước ta, đồng thời là "cẩm nang"quan trọng cho những người quan tâm tìm hiểu văn hóa các DTTS Tây Bắc ViệtNam, trong đó có người Thái

Luật tục Thái ở Việt Nam [100], của nhóm tác giả Ngô Đức Thịnh và Cầm

Trọng được trình bày bằng hai ngôn ngữ: chữ Thái và bản dịch tiếng Việt Nội dungchủ yếu của cuốn sách trình bày khái quát một số khái niệm về luật tục, luật tụcngười Thái; những nội dung cơ bản của luật tục người Thái Đen ở Thuận Châu, Sơn

La và một số nội dung luật tục người Thái ở Tây Bắc do đồng tác giả Cầm Trọngsưu tầm Đây là cuốn sách rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu đề tài, vì nội dungluật tục thấm đẫm hơi thở cuộc sống, nó bao gồm các quy tắc xử sự chung của cộngđồng người Thái, chứa đựng thế giới quan, nhân sinh quan, chi phối ứng xử của rấtnhiều thế hệ người Thái mà ngày nay vẫn ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện phápluật của người dân tộc Thái và công tác PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc

Văn hóa Thái Việt Nam [108], của nhóm tác giả Cầm Trọng, Phan Hữu Dật.

Công trình này giới thiệu tổng quát về người Thái và Thái học, về văn hóa Tháitrong cội nguồn chung của Việt Nam và Đông Nam Á và mối quan hệ giữa vănhóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me ở Tây Bắc và một sốdân tộc ở miền Bắc Việt Nam

Trang 20

Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam [89], Luận án tiến sĩ Luật học

của Vì Văn Sơn Trong luận án này, tác giả tiếp cận khái niệm, đặc điểm luật tụcngười Thái và mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật; đánh giá vaitrò của luật tục người Thái trong lịch sử đời sống cộng đồng người Thái; tìm hiểukinh nghiệm vận dụng luật tục trên thế giới và Việt Nam Từ những luật tục đã đượcvăn bản hóa và kết quả sưu tầm trong nhân dân, tác giả đã chọn lựa, phân loại, phântích những giá trị xã hội của luật tục người Thái tương tác với một số nội dung quản

lý nhà nước hiện hành, nhất là quản lý hành chính nhà nước đối với cộng đồngngười Thái; Khảo sát, đánh giá thực trạng, kết quả vận dụng luật tục của một số xã

có người Thái cư trú tập trung ở hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An; đề xuất quan điểm,giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước, chủ yếu là quản lýhành chính nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộViệt Nam Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong việc tìm hiểu vềđặc điểm luật tục người Thái nói chung, mối tương quan của luật tục người Thái vớipháp luật và vận dụng trong việc nhận định các yếu tố tác động, sự khác nhau trongcông tác PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam

Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay [112], của Trung tâm

Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian Trong

công trình này có một số bài viết đáng chú ý như: "Luật tục và chiến lược phát triển

nông thôn ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Duy Quí [112, tr 13]; "Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên", của tác giả Hoàng Xuân Tý [112, tr 310]; "Vai trò của phong tục tập quán

và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật" [112, tr 863];

"Phong tục trong hôn nhân và gia đình của người Thái Mường Tấc (Phù Yên - Sơn

La)" của tác giả Hoàng Lương [112, tr 582] Tuy nhiên, trong công trình này chưa

đề cập đến việc vận dụng những nội dung nào luật tục của người Thái trong áp dụngpháp luật và thực hiện pháp luật, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để áp dụngtrong công tác PBGDPL tới cộng đồng người Thái Tây Bắc Việt Nam

Trang 21

Những đặc điểm tâm lý cơ bản của các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc

và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này [37] Đây

là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do GS.TS Vũ Dũng chủ nhiệm Đề tài

đề cập đến nhận thức của các DTTS khu vực Tây Bắc; Năng lực tổ chức sản xuấtcủa các DTTS Tây Bắc; Giao tiếp và tri giác giữa các DTTS; Tính cách của cácDTTS; Tiếp biến văn hóa và đồng nhất dân tộc ở khu vực Tây Bắc; Thủy điện Sơn

La và một số vấn đề tâm lý nảy sinh ở các DTTS Tây Bắc; Khía cạnh tâm lý củamột số vấn đề xã hội nhạy cảm ở Tây Bắc hiện nay; Một số nguyện vọng và kiếnnghị của các DTTS Tây Bắc với Đảng và Nhà nước; Dự báo về sự biến đổi tâm lýcủa các DTTS Tây Bắc trong thời gian tới Đề tài cung cấp nhiều các thông tin cácDTTS ở Tây Bắc, trong đó có dân tộc Thái

Ý thức xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam và sự tác động của nó đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng này hiện nay [57], Luận án tiến sĩ Triết học của

tác giả Hà Dũng Hải Trên cơ sở tìm ra những "nét khu biệt để phân biệt ý thức xã hộicủa cộng đồng cư dân vùng Tây Bắc với ý thức các vùng, miền khác trong cả nước nhưTây Nguyên, vùng Tây Bắc Bộ, vùng Tây Nam bộ", sự tác động tích cực và tiêu cực của

ý thức xã hội với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng này hiện nay, tác giả rút

ra những "phương cách" thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng này

Dự án điều tra cơ bản các tập quán điển hình điều chỉnh quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan

có thẩm quyền [34], của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp do TS.

Nguyễn Văn Cương chủ nhiệm, đề tài tổng hợp các tập quán điển hình điều chỉnh

quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụngcủa các cơ quan có thẩm quyền, tạo lập cơ sở tham chiếu cho các cơ quan có thẩmquyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Dân tộc Thái tỉnh Sơn La, Lai Châu làmột trong các dân tộc cơ bản được điều tra, khảo sát trong dự án

Tổng quan thực trạng kinh tế, xã hội của 53 dân tộc thiểu số dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số

Trang 22

năm 2016, Tiểu dự án hỗ trợ giảm nghèo PRPP - Ủy ban Dân tộc do UNDP và Aid

tài trợ, hỗ trợ thực hiện nghiên cứu do nhóm tác giả Phùng Đức Tùng, Nguyễn ViệtCường, Nguyễn Cao Thịnh, Nguyễn Thị Nhung, Tạ Thị Khánh Vân thực hiện năm

2017 Báo cáo nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của 53dân tộc thiểu số dựa trên số liệu Điều tra về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộcthiểu số năm 2015 nhằm xây dựng một bức tranh tổng thể về các dân tộc thiểu sốViệt Nam với đầy đủ các đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục,… Báocáo cũng phân tích chi tiết các vấn đề nổi bật của các DTTS, dựa trên các phân tíchnày, báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị chính sách để giải quyết các vấn đề

mà người dân tộc đang gặp phải

Hôn nhân truyền thống dân tộc Thái ở Điện Biên [39], của nhóm tác giả

Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh xuất bản năm 2010; Hôn nhân và gia đình các dân

tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam [6], của Đỗ Thúy Bình thực hiện năm 1999 đây

là nguồn tài liệu tham khảo trong việc nắm bắt tâm lý, văn hóa, quan niệm về hônnhân gia đình, về thế giới quan, nhân sinh quan của đối tượng PBGDPL là ngườidân tộc Thái ở Tây Bắc

Liên quan trực tiếp đến công tác PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc, chođến nay, có một số ít công trình sau:

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc thực trạng và giải pháp [93], Luận văn thạc sĩ Luật học của Đinh Công Sỹ, năm 2006 Tác

-giả luận văn đã phân tích trên phương diện lý luận về PBGDPL, ý thức pháp luật, mối liên

hệ giữa phương pháp, nội dung, cách thức phổ biến với đặc điểm đặc thù của thanh thiếuniên DTTS và thực trạng PBGDPL cho đối tượng này, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả của PBGDPL trong thanh thiếu niên DTTS vùng Tây Bắc Về mặtthực tiễn, ngoài các giải pháp chung, tác giả đã đưa ra được các giải pháp đặc thù, khả thinhằm nâng cao hiệu quả PBGDPL cho thanh thiếu niên DTTS Tây Bắc, giúp cho các cơquan trực tiếp thực hiện chức năng PBGDPL lựa chọn những giải pháp phù hợp trong việcPBGDPL ở địa phương Về phạm vi đối tượng nghiên cứu, tác giả nghiên cứu việcPBGDPL cho thanh thiếu niên DTTS ở Tây Bắc Trên cơ

Trang 23

sở nghiên cứu thực trạng về ý thức pháp luật và thực trạng PBGDPL ở Sơn La, tác giả luậnvăn đưa ra khái quát chung cho các tỉnh Tây Bắc (Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên).

Giáo dục pháp luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La, là luận văn thạc sĩ của tác giả luận án thực hiện năm 2009 Trên cơ sở phân

tích một số vấn đề lý luận chung về GDPL, đánh giá thực trạng, phân tích nguyênnhân thực trạng của công tác GDPL cho ĐBDT Thái ở tỉnh Sơn La, luận văn phântích rõ đặc điểm và vai trò GDPL cho ĐBDT Thái, đề xuất những giải pháp nhằmtăng cường công tác GDPLvề hôn nhân và gia đình cho ĐBDT Thái ở tỉnh Sơn Lahiện nay; tuy nhiên, luận văn mới chỉ đề cập đến GDPL hôn nhân và gia đình chomột nhóm đối tượng là ĐBDT Thái trên địa bàn tỉnh Sơn La Luận án này là sự tiếptục phát triển, mở rộng các nội dung của luận văn năm 2009

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về những vấn đề có liên quan đến đề tài

Chủ đề GDPL là một trong những chủ đề được quan tâm giới thiệu, phântích, nghiên cứu trong sách báo pháp lý các nước, là đối tượng nghiên cứu của nhiềucông trình, đề tài khoa học, nhiều giáo trình, sách chuyên khảo nước ngoài, đặc biệt

là các nhà khoa học pháp lý Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây

Ở Liên bang Nga, GDPL được nghiên cứu gắn với ý thức pháp luật và văn hóa

pháp luật Có thể kể đến một số Luận án Tiến sĩ: "Tình hình được thông tin về pháp luật với việc hình thành văn hóa pháp luật của cá nhân" của V.M Bô-erơ [143];

"Ý thức pháp luật với tính cách là một yếu tố của văn hóa pháp luật - Văn hóa pháp luật và các vấn đề giáo dục pháp luật" của V.I.Kaminskaja, A.P.Rachinov [146]; "Ý thức pháp luật và tiềm thức pháp luật ở nước Nga" của R.C.Bainiazov [148]; "Đào tạo pháp luật trong bối cảnh văn hóa pháp luật Nga" của V.N.Siniukov [145] v.v Đặc

biệt, trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội, ở nước Nga có xu hướng nghiên cứu vềchủ nghĩa hư vô pháp luật như một vấn đề đặc thù để xem xét, rút ra các bài học bổ íchcho việc xây dựng ý thức pháp luật và GDPL trong một bộ phận dân cư và công chức

nhà nước ở nước ta Có thể nêu một số công trình đáng chú ý như: "Chủ nghĩa hư vô pháp luật với tính cách là một hiện tượng xã hội" (Lý luận Nhà nước và pháp luật,

Trang 24

Nxb Zerkalo, 1998, tr 400-415); S.Frank: "Đạo lý của chủ nghĩa hư vô pháp luật"

(Matxcơva, 1991) v.v… Theo đó, các nhà nghiên cứu ở Nga đã phác họa bức tranh vềtính phổ biến của hiện tượng coi thường pháp luật ở Nga với nguồn gốc không chỉ có từtrong tiềm thức xa xưa mà còn nằm ngay trong những điều kiện phát triển của chủnghĩa tư bản hoang dã hiện nay, nhất là khi nước Nga đang trong quá trình thay đổi về

cơ chế, các đảo lộn về giá trị xã hội Vì vậy, việc giáo dục và đào tạo pháp luật, phổbiến pháp luật cần được đặt trong hệ thống các giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội vàluôn phải tính đến những khía cạnh tâm lý và tiềm thức của người Nga

Các nhà nghiên cứu ở Mỹ, Anh, Châu Âu, Nhật Bản với góc nhìn luật học

so sánh, đều coi GDPL và đào tạo pháp luật là đề tài không thể thiếu trong các côngtrình giới thiệu về hệ thống pháp luật của nước họ Vì vậy, trong quá trình nghiêncứu, theo họ, việc tìm hiểu các công trình tiêu biểu về hệ thống pháp luật của cácnước trên thế giới sẽ cung cấp cho người đọc nhiều thông tin bổ ích cho việc nghiêncứu về GDPL Theo hướng tiếp cận này, có thể kể đến nghiên cứu của René David:

"Các hệ thống pháp luật lớn của thời đại" (Lê Grand Sistêmes de Droit Contemporains), Nxb Dalos, Paris, 1978); E.Allan Farnsworth: "Giới thiệu; về hệ

thống pháp luật Hoa Kỳ" (Introduction to the Legal System of the United States),

Nxb Oceana, London-Rome-NewYork, 1991; Pond R: "Tinh thần của Thông luật"

(The Spirit of Common Law), Boston, 2001; Glendon M., Gordon M., Osakwe C:

"Các truyền thống so sánh pháp luật" (Comparative Legal Traditions), Washington

Univ, Press, 1994 v.v…[Dẫn theo 102]

Đặc biệt, trong các nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu luật học sosánh của Nhật Bản cũng đặc biệt quan tâm đến GDPL và mối liên hệ của nó với đặcđiểm của ý thức pháp luật và truyền thống tư duy pháp lý của người Nhật Trong

cuốn: "Tìm hiểu pháp luật Nhật Bản" (đã được dịch ra tiếng Việt) của Nxb Khoa

học xã hội, 1993, GS Tsuneo Inako đã phác họa về khái niệm "tâm thế pháp lý" củangười Nhật vừa hết sức coi trọng pháp luật, vừa không thích cứng nhắc trong hành

xử, từ đó, tác giả đã phân tích sâu về phương pháp đào tạo pháp luật cho các chuyêngia pháp luật, cách GDPL cho các nhà kinh doanh Nhật Bản

Trang 25

Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu làm rõ một số yếu tố ảnh hưởng đến

GDPL, gắn với thực thi pháp luật như bài viết: "Những yếu tố tâm lý xã hội trong

thực thi pháp luật" [55, tr 27-31] của PGS.TS Gorshunov D.N Bài viết đã làm rõ

những yếu tố tâm lý xã hội trong thực thi pháp luật như: i) Tâm lý và lợi ích cánhân; ii) Nhận thức cá nhân và sự trợ giúp; iii) Mục tiêu đồng thuận với mục đích cánhân; iv) Nền tảng và truyền thống

Từ góc độ thực tiễn chính trị - pháp lý quốc tế, GDPL cũng là đề tài được

đề cập nhiều trên các diễn đàn pháp lý quốc tế và khu vực, cả song phương, đaphương và ngày càng có ý nghĩa toàn cầu, hướng đến những chuẩn mực, nhận thứcchung Tháng 6 năm 2006 tại Paris đã diễn ra Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Hộiluật gia dân chủ quốc tế và trong khuôn khổ Hội nghị đó đã có 01 cuộc Hội thảo với

chủ đề: "Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa" (Legal Education in the

Age of Globalization) thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức luật gia từ nhiềunước trên thế giới [61, tr 39-44] Trong khuôn khổ Đại hội lần thứ X được tổ chức

từ 14-18 tháng 10 năm 2009 tại Hà Nội, Hội Luật gia ASEAN (ALA), một cuộc Hội

thảo lớn với chủ đề: "Hiến chương ASEAN - đưa ASEAN lên những tầm cao mới" cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề về GDPL [62, tr 45-51] Trong hợp phần đầu tiên của Hội thảo: "Tác động của Hiến chương ASEAN tới hệ thống giáo dục pháp luật

các nước ASEAN" đã có một loạt các báo cáo nghiên cứu về tình hình GDPL và đào

tạo pháp luật ở các nước ASEAN Các học giả đều có nhất trí cho rằng, các trườngluật, khoa luật không chỉ phải đào tạo ra các luật gia giỏi mà còn phải làm cho họtrở thành các nhà chuyên môn có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội và conngười bằng con đường pháp luật và họ phải là tác nhân của sự thay đổi một cáchhòa bình: Mọi người phải cảm nhận được nguyên tắc pháp quyền bắt đầu từ việcđào tạo sinh viên luật về các vấn đề cơ bản nhằm tạo các hình thức thích hợp đểbênh vực quyền lợi của người dân, bảo đảm khả năng tiếp cận công lý cho họ vớichi phí thấp nhất Nội dung "trợ giúp pháp lý cho người nghèo" có thể được đưa vàochương trình đào tạo cho những khóa học nhằm tạo cho người học hiểu biết thấuđáo về ý nghĩa của việc giúp đỡ pháp lý cho những ai đang ở bên lề xã hội của đất

Trang 26

nước mình Tương tự, các vấn đề khác như quyền của những người lao động di trú tự

do, vấn đề về nạn buôn bán người v.v cũng cần đưa vào nội dung GDPL ở các nướcASEAN Các nhà luật học thế giới cũng như khu vực ASEAN đều có một nhận địnhchung về sứ mệnh của GDPLlà "nhằm thúc đẩy xây dựng một thị trường ổn định, thịnhvượng, có năng lực cạnh tranh và liên kết kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thương mại vàđầu tư, bao gồm dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và dòng đầu tư, di chuyển thuận lợicủa các doanh nhân, của những người có chuyên môn cao, có tài năng và của lực lượnglao động, sự tự do chu chuyển của các dòng vốn", "góp phần nâng cao phúc lợi và đờisống nhân dân thông qua việc tạo cơ sở pháp lý cho sự tiếp cận bình đẳng các cơ hội vềphát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội" Ngoài các Hội thảo trên đây, một

số hội thảo quốc tế khác cũng đã diễn ra về đề tài GDPL theo hướng quan tâm đến việcgắn mục đích và nội dung GDPL với cải cách kinh tế và cải cách tư pháp trong bối

cảnh toàn cầu hóa Chẳng hạn, Hội thảo quốc tế "Giáo dục pháp luật ở các nước châu

Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền" đã được tổ chức trong các ngày 25-27 tháng 10 năm 2012 tại Seoul, Hàn Quốc Nghiên cứu nội dung các hội thảo

quốc tế nêu trên có thể thấy rõ chức năng và nghĩa quan trọng của GDPL đối với nhữngquá trình chính trị, kinh tế, xã hội đang diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới Bốicảnh đó đã đặt ra hàng loạt các vấn đề về nội dung giáo dục và đào tạo pháp luật nhưđối với việc cải cách phương pháp và hình thức đào tạo, GDPL, với những định hướng

ưu tiên mới, với nhu cầu hợp tác giữa giáo dục với hoạt động thực tiễn nhằm khắc phục

sự cứng nhắc và bảo thủ, lạc hậu của các chương trình và phương pháp GDPL [102, tr.17-21]

Hiện nay, nghiên cứu về GDPL, các học giả nước ngoài còn có một số xuhướng nghiên cứu mới, nhất là khi nói về sự giao thoa giữa pháp luật và tục lệ pháp

lý, nhiều học giả nước ngoài, đặc biệt là các học giả châu Âu và Nga, đều cho thấymột xu hướng tiếp cận khá rõ nét của các hệ thống pháp luật đối với loại nguồnpháp luật quan trọng này Từ đó, họ đặt ra vấn đề về nhu cầu tăng cường giảng dạy,phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm về sử dụng luật tục cũng như các tập quánpháp lý trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý nảy sinh trong đời sống xã

Trang 27

hội, trong hoạt động kinh doanh và giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay Đó

là cách nhìn khá phổ biến hiện nay, thể hiện trong các công trình nghiên của các tác

giả như Bederman D.J trong cuốn sách: "Sự phục hồi kỳ lạ của các tập quán: một

bến bờ mong đợi và sự thu hoạch của ngành tư pháp" (The Curious resurrection of

Custom Beach access and Judicial takings// Columbia Law Review, 1996 No10);

R.M.Zumbuligze: "Luật tục với tính cách là một nguồn của Dân luật" (Customary

Law as a source of Civil law) Với cách nhìn nhận của trào lưu tư duy pháp lý mới ởphương Tây về nhận thức pháp luật và nhận thức về GDPL trong mối liên hệ giaothoa giữa pháp luật với tập quán pháp lý rất gần gũi với yêu cầu về nhận thức phápluật, phổ biến và giáo dục cho người dân ở Việt Nam [102]

Một hướng nghiên cứu mới cần quan tâm gần đây là hướng nghiên cứu về

vị trí, vai trò của các thể chế hiện đại trong mối quan hệ với sự giàu có hay thất bạicủa các quốc gia dân tộc cũng như trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, theohướng nghiên cứu này có thể kể đến chuyên khảo: "Tại sao các quốc gia thất bại"của hai tác giả người Mỹ Daron Acemoglu và James A Robinson [35] Hai tác giảlập luận rằng những quốc gia thất bại là những đất nước bị cai trị bởi một nhómquyền thế tập trung và những nhóm này đã tổ chức xã hội để phục vụ cho quyền lợiriêng của họ trong khi đại đa số quần chúng nhân dân phải trả giá Thế lực chính trị

bị tập trung trong một nhóm nhỏ, được sử dụng để tạo ra tài sản khổng lồ cho nhữngngười nắm giữ quyền lực, trong khi đó, những nước trở nên giàu có là vì người dânnước đó lật đổ giới quyền thế, những người kiểm soát quyền lực và tạo ra một xãhội trong đó các quyền chính trị được phân phối rộng rãi, trong đó chính phủ cótrách nhiệm giải trình và phải đáp ứng trước công dân, đại đa số quần chúng có thểtranh thủ các cơ hội kinh tế Điều các tác giả muốn hướng đến đến là thể chế nào cónhững điều chỉnh, cải cách để dung hợp được các lợi ích kinh tế - chính trị và tạođiều kiện cho người dân làm ăn sinh sống được tốt nhất sẽ thành công Tác giả chỉ

ra ví dụ của Trung Quốc, khi họ giải quyết được phần nào đó sự dung hợp này, họ

đã có sự tăng trưởng thần kỳ Và giờ đây họ vẫn tiếp tục giải quyết bài toán thể chếdung hợp của họ

Trang 28

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài

Từ kết quả của các công trình nghiên cứu đã khảo sát trên đây, có thể rút ramột số nhận xét, đánh giá có giá trị tham khảo cho đề tài luận án như sau:

Các luận án, bài viết trên nghiên cứu về GDPL, PBGDPL ở các góc độ luậthọc, xã hội học, tâm lý học, dân tộc học trong quan hệ với xây dựng và bảo vệ phápluật, nâng cao ý thức pháp luật, gắn với tăng cường pháp chế hoặc đặt trong quan hệgiữa xây dựng với tổ chức thực hiện pháp luật Qua đó đã làm rõ nhiều luận cứkhoa học và thực tiễn về PBGDPL, vận dụng sáng tạo lý luận để xử lý, đánh giáthực tiễn gắn với tổ chức thực hiện pháp luật trên từng lĩnh vực, địa bàn, đối tượng

cụ thể và đề ra một số giải pháp bảo đảm; khẳng định vị trí, vai trò cũng như hiệuquả của PBGDPL, cụ thể là:

Thứ nhất, về mặt lý luận, đóng góp quan trọng nhất của các nghiên cứu là góp

phần hình thành cấu trúc lý luận cho việc tiếp cận, phân tích và đánh giá hiệu quả củaPBGDPL Cấu trúc đó bao gồm các vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, mục đích,chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp và các yếu tố bảo đảm

Thứ hai, về mặt thực tiễn, các nghiên cứu đã gắn với công tác xây dựng,

hoàn thiện hệ thống pháp luật trong mối liên hệ với công tác tổ chức thực hiện pháp

luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Phân tích, đánh giá thực trạng nhu cầu vềPBGDPL của nhân dân; thực trạng thực thi chính sách, pháp luật về PBGDPL vàcác văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các Đề án, Chương trình về PBGDPL tạicác Bộ, ngành, địa phương

Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã vận dụng khá nhuần nhuyễn các vấn

đề lý luận chung về PBGDPL vào nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cụ thể, gắnvới đặc điểm của từng địa bàn, khu vực (trong cả nước hoặc từng khu vực, từngtỉnh, địa bàn cấp huyện, cấp xã…), nhóm đối tượng (đồng bào DTTS, học sinh, sinhviên, người chưa thành niên, người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ, phạm nhân,công chức, viên chức…), lĩnh vực hoạt động cụ thể với những phạm vi thang bậc,cấp độ khác nhau, cả về lý luận và thực tiễn

Trang 29

Nghiên cứu tổng quan về PBGDPL tác giả nhận thấy, mặc dù mô hình lýluận về GDPL đã được các nhà khoa học xây dựng gần như hoàn thiện và đã đượckiểm nghiệm trong thực tiễn với những kết quả đáng trân trọng Tuy nhiên, từ trướcđến nay chưa có công trình nào nghiên cứu và xây dựng mô hình lý luận vềPBGDPL cho ĐBDT Thái Thực tiễn PBGDPL cho thấy đối với đối tượng đặc thùnhư dân tộc Thái, ở địa bàn đặc thù như khu vực Tây Bắc, việc áp dụng mô hình lýluận chung về PBGDPL trong cả nước là chưa đáp ứng được nhu cầu của ngườidân, nên cần có một mô hình lý luận đặc thù về PBGDPL cho ĐBDT Thái như làmột bộ phận của hệ thống lý luận về PBGDPL chung trong cả nước, làm phong phúthêm hệ thống lý luận về PBGDPL nói chung và lý luận PBGDPL cho đối tượng cụthể và địa bàn cụ thể.

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu trên đây, luận án nghiên cứuPBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc một cách sâu sắc, đầy đủ và toàn diện bảođảm tính khoa học và tính hệ thống, với những vấn đề sau:

Một là, về lý luận, luận án phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ:

Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng, cả yếu tố khách quan

và chủ quan, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả PBGDPL choĐBDT Thái ở Tây Bắc Đây là những vấn đề hoàn toàn mới, chưa có công trìnhnào trong nước và ngoài nước ngoài nghiên cứu

Hai là, về thực tiễn, luận án cần tập trung phân tích, đánh giá khách quan,

toàn diện và có hệ thống về thực trạng PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc, bámsát các vấn đề lý luận được làm rõ trong luận án và rút ra bài học kinh nghiệm

Ba là, từ lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc, xác định

các quan điểm và đề xuất giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam

1.3.3 Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1.1 Giả thuyết khoa học

Đồng bào dân tộc Thái là nhóm cư dân chiếm đa số ở Tây Bắc Việt Namhiện nay, việc PBGDPL cho ĐBDT Thái để họ hiểu, thực hiện và vận dụng vào

Trang 30

cuộc sống giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kếttrong xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, hiện nay hoạt động PBGDPL choĐBDTTS nói chung, ĐBDT Thái ở Tây Bắc nói riêng vẫn còn tồn tại, hạn chế, chưađáp ứng được với mục tiêu, yêu cầu do Đảng và Nhà nước đã đặt ra Do đó, cầnphải nhận thức rõ tầm quan trọng của PBGDPL trong điều kiện xây dựng, hoànthiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, từ đó có những giải pháptoàn diện về nhận thức, tổ chức thực hiện và điều kiện bảo đảm, phù hợp, chuẩn hóanội dung, đổi mới hình thức, phương pháp PBGDPL cho phù hợp với đặc thù củađối tượng là ĐBDT Thái, với tổ chức, hoạt động của các cấp chính quyền, đoàn thể

ở địa phương Giải quyết tốt các vấn đề đó thì việc PBGDPL cho ĐBDT Thái ở TâyBắc sẽ có sự chuyển biến tích cực trong thời gian tới

1.3.1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDTThái ở Việt Nam và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả xácđịnh một số câu hỏi như sau:

- Vì sao phải PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay?

- Phổ biến, GDPL cho ĐBDT Thái là gì? có những đặc thù gì so với

PBGDPL cho các đối tượng khác?

- Thực trạng PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay đòi hỏi cần phải thực hiện như thế nào là phù hợp?

trong thời gian tới?

Kết luận Chương 1

1 Phổ biến, GDPL nói chung và GDPL trên một số lĩnh vực, địa bàn, đốitượng nói riêng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Đến nay đã cónhiều công trình nghiên cứu, cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, cả ở trong

nước và nước ngoài với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nội dung, hình thức nghiêncứu khá đa dạng Những điểm đặc thù về cơ cấu xã hội, dân tộc, chính trị, xã hội -văn hóa của khu vực Tây Bắc cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà

Trang 31

khoa học Đến nay, hầu hết các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủthể, đối tượng, nội dung, hình thức của PBGDPL đã được làm rõ trên nhiềuphương diện; một số nghiên cứu đã đề xuất được các giải pháp tối ưu để nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động PBGDPL.

Qua nghiên cứu tổng quan, đánh giá kết quả nghiên cứu lý luận vềPBGDPL trong và ngoài nước cho thấy ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống, cả về lý luận và thựctiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc, đặc biệt là lý luận về GDPL được đặttrong mối quan hệ hài hòa với giáo dục tri thức tiến bộ của luật tục Thái Vì thế,việc nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng để kế thừa nhữngthành tựu, kết quả đã đạt được; khắc phục tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân; đềxuất quan điểm và giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc là thực sự cầnthiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực

2 Kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu, tác giả xác định những vấn đềcần phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ về lý luận gồm: Các luận cứ khoa học và thựctiễn nhằm hoàn thiện thêm hệ thống lý luận về PBGDPL nói chung và về PBGDPL choĐBDT Thái nói riêng Về thực tiễn, kết quả của luận án được sử dụng làm tài liệu thamkhảo trong nghiên cứu khoa học pháp lý và trong giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Luật;đóng góp cho quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về

PBGDPL và góp phần tích cực vào hoạt PBGDPL cho ĐBDTTS, nhất là ĐBDTThái Kết quả nghiên cứu luận án có thể áp dụng cho các địa bàn đặc thù tương tựnhư Tây Bắc, đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm quyền được thông tin pháp luậtcủa người dân

3 Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu là: cần phải nhận thức rõ tầmquan trọng của PBGDPL trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện Nhà nước XHCN ViệtNam hiện nay, cần có những giải pháp toàn diện về nhận thức, tổ chức thực hiện và điềukiện bảo đảm, phù hợp, chuẩn hóa nội dung, đổi mới hình thức, phương pháp PBGDPLcho phù hợp với đặc thù của đối tượng là ĐBDT Thái ở Tây

Trang 32

Bắc, phù hợp với tổ chức, hoạt động của các cấp chính quyền, đoàn thể ở địaphương Giải quyết tốt các vấn đề đó thì hoạt động PBGDPL cho ĐBDT Thái ở TâyBắc sẽ có chuyển biến tích cực trong thời gian tới Tác giả xác định 04 câu hỏinghiên cứu gồm: Tại sao phải PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiệnnay?; PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc có những đặc thù gì so với PBGDPLcho các đối tượng khác?; Thực trạng PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc ViệtNam hiện nay được thực hiện như thế nào? Những giải pháp PBGDPL nào choĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam trong thời gian tới?

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI

2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái

2.1.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái

Để làm rõ khái niệm PBGDPL cho đồng bào dân tộc Thái, trước hết cầnlàm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề này

* Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến, GDPL là một từ ghép giữa "phổ biến pháp luật" và "giáo dụcpháp luật" Phổ biến pháp luật: Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997)hay Từ và ngữ Hán - Việt (NXB Từ điển Bách Khoa - 2002) thì "Phổ biến là làmcho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trựctiếp hay thông quan hình thức nào đó" hoặc làm cho mọi người đều biết đến"

Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội vànhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng khôngđược phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trịdân Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dungpháp luật cho các đối tượng cụ thể Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luậtcòn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật đểthực hiện pháp luật trên thực tế Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thôngqua các hội nghị, các cuộc tập huấn

Giáo dục pháp luật: Từ góc độ thuật ngữ, Từ điển Bách khoa Việt Nam địnhnghĩa: "Giáo dục pháp luật là sự tác động định hướng của tổ hợp các quá trình xâydựng pháp luật, áp dụng pháp luật, tuyên truyền, giải thích pháp luật nhằm nâng cao

ý thức pháp luật" [60, tr 124] Theo Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luậtcủa một số cơ sở đào tạo pháp luật, "giáo dục pháp luật" được định nghĩa là: "Quátrình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường

Trang 34

xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiếnthức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác

xử sự theo yêu cầu của pháp luật" [113, tr 177], hoặc "là hoạt động có định hướng,

có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ở đối tượng được giáodục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật" [84, tr.452]

Trong tiếng Anh, từ "giáo dục" được biết đến với từ "education" - một từgốc Latin được ghép bởi hai từ là "Ex" và "Ducere" - "Ex-Ducere" Thuật ngữ này

có nghĩa là dẫn ("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ để vươntới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn Theo Từ điển Bách khoa,giáo dục là "quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị chocon người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiệnbằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hộicủa loài người" [60, tr 120] Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa: Giáo dục là tácđộng có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần

có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [141, tr 734] Như vậy,giáo dục là một "quá trình", thể hiện ở tính mục đích, tính thường xuyên và có hệthống để "dần dần" có được những phẩm chất và năng lực cần thiết Quá trình đóđược diễn đạt trong hai phạm trù cơ bản là "tổ chức truyền thụ" và "lĩnh hội"; hoạtđộng "tổ chức truyền thụ" là quá trình không chỉ đơn thuần chuyển tải các kiến thức,các thông tin cần thiết cho ai đó mà là cả một quy trình tác động có chủ đích, cóphương pháp để những thông tin đó, kiến thức đó đến được với người được truyềnthụ và điều quan trọng nhất là để những kiến thức và thông tin đó tác động đến hiểubiết và nhận thức của đối tượng, làm thay đổi, từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ biết

ít hơn đến chỗ biết nhiều hơn và khác hơn so với hiểu biết trước đây trong kiến thức

và nhận thức, trong lối sống văn hóa pháp lý của người được truyền thụ Do vậy,giáo dục là hoạt động kiên trì, bền bỉ, có hệ thống Nó khác với hoạt động tuyêntruyền, phổ biến kiến thức ở mức độ của những tính chất này, mặc dù các hoạt động

đó có mối quan hệ gần gũi với nhau về mục đích

Trang 35

Theo kết quả nghiên cứu trong một số chuyên khảo ở Liên bang Nga, GDPLđược hiểu là hoạt động có mục đích, có hệ thống của Nhà nước, của các cơ quan vàcông chức nhà nước, của các tổ chức xã hội, các tập thể lao động nhằm xây dựng,củng cố và nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật của người dân Theohướng tiếp cận này, xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật làmục tiêu của GDPL, còn chủ thể của GDPL là Nhà nước, xã hội và những người cótrách nhiệm trong các tập thể, cộng đồng [68], [143], [146], [148].

Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã kháthống nhất với khái niệm GDPL: "giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có

hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị chomỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn vềpháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật" [113, tr 177]

So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm songnội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn,mục đích lớn hơn Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thứcgiáo dục cụ thể [59]

Lý thuyết về thực hiện pháp luật cho thấy, PBGDPL là cầu nối quan trọnggiữa hoạt động xây dựng pháp luật và cuộc sống, là phương thức đưa pháp luật vàocuộc sống PBGDPL với quan niệm chung nhất là một quá trình tác động có địnhhướng của chủ PBGDPL đến ý thức của con người Quá trình này chịu ảnh hưởngcủa những điều kiện khách quan như chế độ xã hội, trình độ phát triển của kinh tế -

xã hội, môi trường sống và của những nhân tố chủ quan như sự tác động tự giác,định hướng của nhân tố con người Sự hình thành ý thức của con người là quá trìnhảnh hưởng, tác động thống nhất của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố chủquan Quá trình nhận thức của con người không tách rời những điều kiện tồn tại của

xã hội Sự thay đổi các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội sẽ tạo ra khả năng pháttriển đời sống tinh thần của con người và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nóichung và PBGDPL nói riêng PBGDPL không chỉ đơn thuần là đưa các thông điệppháp luật đến với mọi người, mà còn là một "nghệ thuật" chuyển tải thông điệp

Trang 36

đó, cần thực hiện trên cơ sở cách tiếp cận đa ngành, hệ thống, toàn diện và hiệu quả.Cùng với việc thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối vớiviệc hình thành ý thức của cá nhân con người (trong đó có ý thức pháp luật), cầnnhấn mạnh tác động cực kỳ quan trọng của nhân tố chủ quan mà hoạt độngPBGDPL hướng tới Sự hình thành ý thức pháp luật của con người là sản phẩm củamột quá trình phức tạp, trong đó có nhiều yếu tố cùng ảnh hưởng và tác động biệnchứng với nhau, quy định và chi phối lẫn nhau Trong số các công trình nghiên cứuchuyên sâu về PBGDPL phải kể đến cuốn sách "Bàn về giáo dục pháp luật" của cáctác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thị Thanh Mai Trong cuốn sách này đã nêumột số nguyên lý cơ bản về GDPL Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu khácdưới dạng các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp

bộ đã bổ sung, làm phong phú thêm lý thuyết về PBGDPL

Hiện nay, trong giới nghiên cứu và trong thực tiễn, vẫn chưa có sự thống nhấtcao về các khái niệm: tuyên truyền, PBGDPL Qua thực tiễn PBGDPL, chúng tôi chorằng trước hết cần thống nhất nội hàm của khái niệm PBGDPL theo hướng sau đây:

Thứ nhất: PBGDPL là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng

cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho con người, từ đó nâng cao ý thức tôntrọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

Thứ hai: PBGDPLlà lĩnh vực hoạt động bao gồm tất cả các công đoạn như

định hướng công tác PBGDPL, lập chương trình, kế hoạch PBGDPL, áp dụng cáchình thức PBGDPL; triển khai chương trình PBGDPL; kiểm tra, sơ kết, tổng kết,đúc rút kinh nghiệm về PBGDPL [133, tr 9]

Tuy nhiên, đối với khái niệm PBGDPL, hiện nay, trong khoa học pháp lý cónhiều ý kiến đồng nhất hai khái niệm "phổ biến pháp luật" và "giáo dục pháp luật" vìcho rằng chúng có mục đích chung là giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao ý thức chấphành pháp luật cho mọi người Hai khái niệm này có khi được dùng tách rời nhau nhưhai khái niệm riêng biệt, nhưng có khi lại được sử dụng liền nhau Mục tiêu củaPBGDPL bao gồm: mục tiêu về nhận thức (trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật), mụctiêu về thái độ, tình cảm (làm hình thành tình cảm, xúc cảm pháp luật và niềm tin đối

Trang 37

với pháp luật); mục tiêu về kỹ năng (hình thành, củng cố thói quen, nếp sống, hành

vi xử sự tích cực theo các chuẩn mực pháp luật) Mục đích của PBGDPL là cái cuốicùng phải đạt được của hoạt động GDPL Nó chính là những thông tin, kiến thức,hiểu biết về pháp luật; thái độ, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật; và thói quen, lốisống, hành vi xử sự tích cực theo pháp luật Như vậy, suy cho cùng, mục đích củaPBGDPL là làm hình thành, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượngtiếp nhận PBGDPL

Quan niệm PBGDPL còn được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo nghĩa rộng, PBGDPL là lĩnh vực công tác bao gồm tất cả những gìphục vụ cho việc đưa pháp luật đến với các đối tượng nhằm mục đích hiện thực hóacác quy định của pháp luật trong đời sống, đó là: Quan điểm, chủ trương vềPBGDPL; Chính sách, pháp luật về PBGDPL; Tổ chức, nhân lực PBGDPL; Cơ chếvận hành PBGDPL; Điều kiện bảo đảm PBGDPL; Định hướng công tác PBGDPL;Lập chương trình, kế hoạch PBGDPL; Lựa chọn nội dung pháp luật cần phổ biến,giáo dục; Áp dụng các hình thức PBGDPL; Triển khai chương trình, kế hoạchPBGDPL; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác PBGDPL, đúc rút kinhnghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận về PBGDPL

Theo nghĩa hẹp, PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tưtưởng, một công đoạn của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động địnhhướng có tổ chức, có chủ định nhằm mục đích cung cấp cho đối tượng được tác độngkiến thức pháp luật cần thiết, góp phần hình thành, bồi dưỡng, củng cố và phát triển ởđối tượng thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn, phù hợp với các đòi hỏi của hệ thốngpháp luật hiện hành; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăngcường pháp chế, phát huy dân chủ, hình thành, củng cố và nâng cao văn hóa pháp lý,phục vụ công cuộc phát triển đất nước, phát triển xã hội [116, tr 11-12]

Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa: Phổ biến, giáo dục pháp luật là quá

trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể thực hiện hoạt động PBGDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận PBGDPL nhằm làm hình thành và phát

Trang 38

triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật.

* Đồng bào dân tộc Thái trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm ĐBDT Thái dùng để chỉ tộc ngườiThái trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam Xét về góc độ lịch sử tộc người, các nhàkhoa học xác định người Thái ở Việt Nam có chung nguồn gốc với người Thái trênthế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung Biểu hiện rõnhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tộc người Ngôn ngữ Thái trên thế giớinói chung và ngôn ngữ của người Thái ở Việt Nam là tương đồng Thông quanghiên cứu của Giáo sư Phan Đăng Nhật về bộ ba các anh hùng ca Thái: KhủnChưởng (sưu tầm ở miền Tây Nghệ An), Chương Han (lưu truyền ở Tây Bắc ViệtNam) và Thạo Hùng hay Chương (lưu truyền ở Thái Lan và Lào), nhiều nội dung,nhân vật, cốt truyện cơ bản giống nhau [58, tr 419-432]

Khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Thái hoặc các côngtrình nghiên cứu về Thái học (Thai Studies) đều chưa có công trình nào đủ cứ liệukhẳng định chắc chắn nguồn gốc của người Thái bắt đầu từ đâu Theo Hoàng HoaToàn trong bài viết có tựa đề: Đôi nét về lịch sử cổ đại của người Thái ở TrungQuốc [138, tr 69-78], ông cho rằng tổ tiên của người Tày - Thái phía Tây đã sớm vàliên tục có mặt ở Tây Nam Trung Quốc từ vài thế kỷ trước công nguyên Vùng TâyNam hoặc chính xác hơn là Vân Nam của Trung Quốc là đất khởi thủy của ngườiThái và cho đến ngày nay vẫn là nơi tụ cư chính của người Thái ở Trung Quốc Căn

cứ vào một số tài liệu và một số truyền thuyết dân gian thì bắt đầu từ thế kỷ thứ VIIIsau công nguyên trở về sau, dân tộc Thái ở Tây Nam Trung Quốc bắt đầu diễn ranhững đợt thiên di lớn, nhỏ khác nhau, những đợt thiên di này đều liên quan đếnmột số sự kiện lịch sử Vào thế kỷ thứ VIII, tộc người Thái ở vùng biên giới VânNam bị Nam Chiếu (728 - 902) chinh phục, người Nam Chiếu nhiều lần dùng vũ lựcchuyển dời một bộ phận người Thái vào sâu trong nội địa Vân Nam Từ thế kỷ X trở

đi, do sự phát triển lớn mạnh của kinh tế - xã hội của bản tộc và sự bành trướng củacác vương triều Trung Hoa, nhất là thời Nguyên (thế kỷ XIII) đẩy

Trang 39

mạnh chính sách dùng vũ lực chinh phục các tộc người phương Nam dẫn đến sự di

cư lớn của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc xuống phương Nam Về sau,

có bộ phận gặp được những điều kiện địa lý và lịch sử thuận lợi đã thành lập đượccác vương quốc trên lưu vực sông Mê Kông, Tây Lào, Bắc Băng Gan, Thái Lan.Cũng có bộ phận gặp điều kiện ít thuận lợi hơn, chỉ thành lập được các tiểu nhómcát cứ, do những lãnh chúa phong kiến đứng đầu

Trong cuốn "Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái" do Đặng Nghiêm Vạnchủ biên và một số cộng sự thực hiện [131, tr 21-22], các tác giả đã cho chúng ta hìnhdung những nét cơ bản về lịch sử tộc người Thái Cuốn Truyện kể bản mường củangười Thái Đen, ghi các sự kiện xảy ra trong từng mường do một chúa đất cai quản, đờinày ghi tiếp đời kia từ lúc hai nhân vật nửa huyền thoại, nửa có thực là tạo Ngần, tạoXuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng (nặm Tao) đến khai phá đất Mường Lò(Nghĩa Lộ ngày nay) và người con là Lạng Chượng đi chinh phục các dân tộc cư trú

ở Tây Bắc trước đó bắt đầu từ Mường Lò, qua Sơn La đến Điện Biên cho đến thời

kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Như vậy, thông qua nhiều tài liệu cho thấy, ngườiThái đến Việt Nam vào khoảng thời kỳ trước, sau thế kỷ X; di cư vào Bắc Trung Bộ(vùng Thanh Hóa, Nghệ An) thuộc nhánh từ sông Mê Kông Thái Lan tới, nhánh này di

cư sang Việt Nam rồi tiến về phía Mộc Châu, Yên Châu sau đó theo sông Mã di cư vềmiền Tây Nghệ An Thời điểm người Thái di cư đến vùng đất này cũng chưa có ý kiếnthống nhất, có thể sớm hơn thế kỷ XI hoặc không thể sớm hơn thế kỷ XII; theo cácnguồn tài liệu thông sử cho rằng người Thái có mặt tại đây rõ nét nhất là thời Trần vàthời thuộc Minh, từ thế kỷ XIII - XV [131, tr 25-26]

Người Thái ở Việt Nam bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành lại chia thànhnhiều nhóm với những tên gọi khác nhau tùy theo từng địa phương Ở Tây Bắc cónhững nhóm: Thái Đen, cư trú chủ yếu ở Sơn La, Yên Bái, Điện Biên; Thái Trắng

cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, có một nhóm Thái Trắng đã chịu ảnh hưởng lớn củavăn hóa Tày, như ở Sa Pa, Bắc Hà - Lào Cai Sự phân chia cộng đồng người Tháithành hai ngành Thái Trắng (Tay Lón, Tay Khao), Thái Đen (Tay Đăm) rất phổ biến

ở vùng Tây Bắc

Trang 40

Cách gọi theo địa danh cũng phổ biến ở Tây Bắc, cách gọi tên người Tháitheo mường (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm1945) như: Tay Mường Vạt (Bạt), Mường La, Mường Then (Thanh)…, nhữngnhóm người Thái này có thể thuộc ngành Thái Đen hoặc Thái Trắng song có đặcđiểm là cùng cư trú trong một vùng (mường).

Đối với người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An lại có sự khác biệt: Sự phân biệtgiữa ngành Thái Trắng và Thái Đen như ở Tây Bắc lại không rõ Đặc điểm chung nổibật về cách gọi tên của người Thái ở vùng này là gọi theo các mường, nơi họ đang sinhsống (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm 1945) [5, tr.17] Người Thái hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An cũng tự xếp mình vào các nhóm địaphương (local groups) mỗi khi họ cần phải làm như vậy, như trường hợp khi đi ra khỏiđịa bàn của mình Cụ thể, ở tỉnh Thanh Hóa có các nhóm Tày Do, Tày, Tày Mường.Trong ba nhóm này, nhóm Tày và nhóm Tày Do có số lượng đông hơn, Tày Do thuộcngành Thái Trắng, các nhóm Tày, Tày Mường thuộc ngành Thái Đen Từ Do ở đây cóthể hiểu người Thái có chung nguồn gốc với các từ Do để chỉ Mường Do ở Vân Nam -Trung Quốc, Mường Do ở Nghĩa Lộ - Yên Bái, Mường Do ở huyện Phong Thổ, tỉnhLai Châu của Việt Nam Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười

và vấn đề tên gọi của các nhóm này phức tạp hơn Các nhóm Tày Mường còn có têngọi là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh Hàng Tổng là một từthuần Việt dùng để chỉ dân gốc của địa phương, còn Man Thanh cũng có ý nghĩa gầnnhư Tày Thanh, cách gọi tên như vậy đã trở thành thói quen được duy trì đến ngày nay

Dù sự phân biệt thành các ngành Thái Trắng, Thái Đen ở miền núi của các tỉnh ThanhHóa, Nghệ An không rõ ràng, nhưng nếu được hỏi thì người dân vẫn có thể tự xác địnhmình thuộc ngành nào Bộ phận tự gọi là Tày Do ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ

An chỉ là một và họ tự nhận mình là người Thái Trắng Các nhóm Tày, Tày Mường ởThanh Hóa gần gũi với nhóm Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An và tự coi là người TháiĐen [5, tr 18-19]

Về địa bàn cư trú, người Thái cư trú tại khắp 63 tỉnh, thành phố trên toànquốc Tuy nhiên, người Thái cư trú tập trung và hầu hết tại các tỉnh Sơn La, ĐiệnBiên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Đắk Lắk, Đắk Nông

Ngày đăng: 23/12/2020, 07:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w