1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

199 876 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Tác giả Đinh Thanh Tuyến
Người hướng dẫn GS. TS Lê A
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và PPDH Văn và Tiếng Việt
Thể loại Luận án tiến sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 6,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài, báo cáo,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

ĐINH THANH TUYẾN

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ 9-18 THÁNG TUỔI

THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Văn và Tiếng Việt

Mã số: 62.14.10.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê A

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

ĐINH THANH TUYẾN

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ 9-18 THÁNG TUỔI

THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Văn và Tiếng Việt

Mã số: 62.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê A

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Đinh Thanh Tuyến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới

GS TS Lê A - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án Thầy luôn là người động viên và khích lệ tôi trong những lúc gặp khó khăn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các quý thầy, cô, anh chị và bạn bè đồng nghiệp trong Khoa Giáo dục Mầm non, Đại học Sư phạm Hà Nội đã bố trí thời gian và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể triển khai, thực hiện luận án

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi Đó là nguồn động lực chủ yếu giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án này

Hà Nội, tháng năm 2013

Tác giả

Đinh Thanh Tuyến

Trang 5

PTNN  Phát triển ngôn ngữ

Trang 6

Bảng 1a: Nhận thức của người mẹ về mục đích của tương tác mẫu tính 75

Bảng 1b: Các kiểu nhận thức của người mẹ về mục đích của tương tác mẫu tín 75

Bảng 1c: Nhận thức của người mẹ về mục đích của tương tác mẫu tính tính theo mức độ 75 Bảng 1d: Mối tương quan giữa nhận thức của bà mẹ về mục đích của TTMT với tổng điểm mức độ TTMT 77

Bảng 2: Thực trạng mức độ thường xuyên tương tác với trẻ của người mẹ 77

Bảng 3: Thực trạng thời lượng của 1 lần tương tác giữa mẹ với trẻ 9-18 tháng tuổi 78

Bảng 4:Thực trạng mẹ bắt đầu tiến hành tương tác với trẻ ở các độ tuổi 78

Bảng 5:Thực trạng về đối tượng và thời lượng trẻ 9-18 tháng tuổi được tiếp xúc trong ngày lúc trẻ thức 79

Bảng 6a: Thực trạng thói quen mẹ tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi 80

Bảng 6b: Các kiểu thói quen tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi của mẹ 80

Bảng 6c: Thói quen tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi của mẹ chia theo mức độ 81

Bảng 6d: Mối tương quan giữa nhận thức của bà mẹ về mục đích của TTMT với tổng điểm mức độ TTMT 82

Bảng 7: Thực trạng việc mẹ chuẩn bị vật trung gian gì khi trò chuyện với trẻ 82

Bảng 8 Thực trạng việc người thực hiện các hoạt động phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính 83

Bảng 9 a: Tương quan trong nhóm tuổi 25 – 30 84

Bảng 9b: Tương quan trong nhóm tuổi 30 – 35 84

Bảng 9c: Tương quan trong nhóm tuổi 35-40 84

Bảng 10a: Năng lực phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 9 đến 18 tháng tuổi 85

Bảng 10b: Năng lực phát triển ngôn ngữ trên từng lĩnh vực 87

Bảng 11: So sánh kết quả của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm 129

Bảng 12: So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN trước TN 130

Bảng 13: So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN sau TN 130

Bảng 14: So sánh kết quả của nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN 131

Bảng 15 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC1 và TN1 (trước và sau TN) 132

Bảng 16: Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC2 và TN2 (trước và sau TN) 132

Bảng 17: Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC3 và TN3 (trước và sau TN) 132

Trang 7

Bảng 19a: Kiểm định nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo các mức độ 133 Bảng 19b Kiểm định nhóm tổng nhóm ĐC và TN trước và sau TN 133 Bảng 20: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 1 và TN 1 trước và

sau TN 134 Bảng 21: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 2 và TN 2 trước và

sau TN 134 Bảng 22: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 3 và TN 3 trước và

sau TN 135 Bảng 23: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC4 và TN4 trước và

sau TN 136 Bảng 25: So sánh điểm số của nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo 4 nội dung từ vựng,

phát âm, ngữ pháp và giao tiếp 137

Trang 8

Biểu 1a: Các nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 – 18 tháng tuổi 86

Biểu 1b: Năng lực phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi theo từng nhóm tuổi 86

Biểu 2: So sánh kết quả của nhóm TN trước và sau TN 130

Biểu 3: So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN trước TN 130

Biểu 4: So sánh kết quả của nhóm ĐC và nhóm TN sau TN 131

Biểu 5: So sánh kết quả của nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN 131

Biểu 6a: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC2trước và sau TN 134

Biểu 6b: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm TN2 trước và sau TN 135

Biểu 7a: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC3 trước và sau TN 135

Biểu 7b: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm TN3 trước và sau TN 136 Biểu 8a: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC4 trước và sau TN136 Biểu 8b: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm TN4 trước và sau TN137

Trang 9

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Các phương pháp nghiên cứu 5

8 Đóng góp của luận án 8

9 Cấu trúc của luận án 8

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ MẦM NON THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH 10

1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1 Những quan điểm cơ bản về sự phát triển ngôn ngữ 10

1.1.1 Thuyết bẩm sinh (Nativist Theories) 10

1.1.2 Thuyết học tập hay thuyết hành vi (Learning/ Behaviourist Theories) 11

1.1.3 Thuyết nhận thức (Cognitive theory) 12

1.1.4 Thuyết nhận thức xã hội (hay còn gọi là quan điểm tương tác xã hội ) (Interactionist Theory) 13

1.2 Nghiên cứu tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ 14

1.2.1 Nghiên cứu về tương tác mẫu tính (TTMT) 14

1.2.2 Nghiên cứu về những ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự PTNN của trẻ mầm non 16

2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 17

2.1 Nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non 17

2.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non theo hướng cấu trúc 17 2.1.2 Nghiên cứu về biện pháp phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non 19

2.2 Nghiên cứu về PTNN cho trẻ mầm non thông qua tương tác mẫu tính 20

2.2.1 Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ theo định hướng giao tiếp nói chung 20

2.2.2 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính 21

Trang 10

MẦM NON 23

1.1 Quan niệm về sự “phát triển” và “phát triển ngôn ngữ” 23

1.2 Tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ 24

1.2.1 Quan niệm về “tương tác mẫu tính”và “phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính” 24

1.2.2 Đặc trưng của tương tác mẫu tính 28

1.2.3 Tương tác mẫu tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ đến giai đoạn đầu của giao tiếp ngôn ngữ 41

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới TTMT 52

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý và ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi và TTMT 57

1.3.1 Đặc điểm sinh lý 57

1.3.2 Đặc điểm tâm lý 58

1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ 60

1.3.4 Tương tác mẫu tính ở độ tuổi 9-18 tháng 62

Tiểu kết chương 1 64

Chương 2 THỰC TRẠNG, NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ 9-18 THÁNG TUỔI THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH 65

2.1 Thực trạng về tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi 65 2.1.1 Tổ chức điều tra 65

2.1.2 Kết quả và nhận xét 74

2.1.3 Kết luận 88

2.2 Nội dung phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính 92

2.2.1 Phát triển ngôn ngữ theo phương diện cấu trúc 92

2.2.2 Phát triển ngôn ngữ theo phương diện chức năng 97

2.3 Biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính 107 2.3.1 Một số các yêu cầu trong việc đề xuất biện pháp 107

2.3.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính 113

Tiểu kết chương 2 127

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 128

3.1 Mục đích thực nghiệm 128

Trang 11

3.3 Thời gian thực nghiệm 128

3.4 Nội dung thực nghiệm 128

3.5 Quy trình thực nghiệm 128

3.6 Phương tiện đánh giá ngôn ngữ của trẻ 9-24 tháng tuổi và tiêu chí đánh giá 129 3.7 Kết quả thực nghiệm 129

3.7.1 So sánh mức độ của các nhóm trước và sau thực nghiệm 129

3.7.2 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm theo các mức độ thấp, trung bình, khá cao và cao 132 3.7.3 Kiểm định sự thay đổi của các nhóm trong từng lĩnh vực ngôn ngữ sau thực nghiệm 134 3.7.4 Đánh giá chung 137

Tiểu kết chương 3 142

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143

KẾT LUẬN 143

KIẾN NGHỊ 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt trong xã hội loài người Nhờ có ngôn ngữ

mà con người có thể phản ánh thế giới một cách lý tính, gián tiếp và khái quát như A.R.Luria

đã so sánh: “Động vật có một thế giới - thế giới của những vật thể và hoàn cảnh được tri giác một cách cảm tính; con người có hai thế giới, trong đó có thế giới của những vật thể được tri giác một cách trực tiếp và thế giới của những hình ảnh, vật thể, những quan hệ, những tính chất mà chúng được xác định bằng các từ.” [1] Cũng nhờ có ngôn ngữ mà con

người giao tiếp được với nhau một cách thuận lợi, dễ dàng nhất, làm cơ sở để liên kết và tổ

chức xã hội loài người Vì vậy, Lê-nin cũng đã từng khẳng định “ngôn ngữ là công cụ giao tiếp trọng yếu nhất trong xã hội loài người”[trích theo 26]

Đối với trẻ em nói chung, và trẻ 9 - 18 tháng tuổi nói riêng, trước khi có ngôn ngữ, trẻ cũng đã giao tiếp với người lớn nhưng chủ yếu thông qua các phương tiện phi ngôn ngữ

và mang tính cảm xúc Khi lĩnh hội được ngôn ngữ, ngôn ngữ trở thành phương tiện giúp hoạt động giao tiếp của trẻ mang tính mục đích, tính ý hướng rõ ràng hơn, truyền tải lượng thông tin phong phú, chính xác hơn Hơn thế nữa, ngôn ngữ giúp trẻ thúc đẩy được nhanh hơn, hiệu quả hơn quá trình xã hội hóa bản thân, để hòa nhập vào xã hội loài người với tư cách là một thành viên thuộc xã hội đó Như vậy, “ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện” [26], không chỉ đối với sự phát triển trí tuệ, nhận thức mà còn đối với

sự phát triển năng lực giao tiếp, đạo đức, văn hóa, tình cảm xã hội, thẩm mỹ…

1.2 Tương tác mẫu tính là một trong những nhân tố có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ trong giai đoạn tiền ngôn ngữ và giai đoạn chuyển giao từ tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức – 9-18 tháng tuổi

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ nhưng

nó chịu sự chi phối của những yếu tố nào? Bắt đầu từ việc xem sự phát triển nói chung và sự phát triển ngôn ngữ nói riêng như là một quá trình mà trong đó trẻ đóng vai trò chủ thể tích cực, các học thuyết tập trung lí giải việc lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻ nhỏ là do yếu tố nào chi phối, bẩm sinh, di truyền hay hoàn cảnh xã hội? Trong quá trình phát triển của nhân loại nói chung,

và phát triển ngôn ngữ của con người nói riêng, yếu tố di truyền hay yếu tố hoàn cảnh đóng vai trò quyết định? Những câu hỏi này là đề tài tranh luận diễn ra trong nhiều thập kỉ nay nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy việc lĩnh hội ngôn ngữ một phần phụ thuộc vào năng lực bẩm sinh của trẻ nhưng hoàn cảnh cũng có những tác động không nhỏ thông qua các kiểu kinh nghiệm ngôn ngữ mà trẻ có thể tiếp xúc

Trang 13

Như đã nêu, hoàn cảnh tác động không nhỏ tới sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ, nếu không giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh thì việc lĩnh hội ngôn từ cũng trở nên khó khăn Trong số các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng tới sự lĩnh hội ngôn ngữ, tương tác mẫu tính được xem là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất làm xuất hiện các dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức

Tương tác mẫu tính có ảnh hưởng rất lớn như vậy, nhưng trên thực tế việc tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá vai trò của kiểu tương tác này đối với sự phát triển nói chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng ở trẻ nhỏ ở nước ta vẫn còn một số hạn chế Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở nhà trường và nhấn mạnh vai trò của giáo viên mầm non (GVMN), chưa quan tâm đúng mức tới mắt xích gia đình, đặc biệt là những người đầu tiên tiếp xúc,

trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ Thực tế là chúng ta đã vô tình quên mất rằng “lúc ở nhà

mẹ cũng là cô giáo”, cho nên mảng đề tài nghiên cứu về vai trò, kiểu tương tác mẫu tính

đối với sự phát triển nhân cách, năng lực của trẻ vẫn còn tương đối mới mẻ ở nước ta

Trong khi đó, trẻ ở giai đoạn tiền ngôn ngữ cũng nhƣ giai đoạn chuyển giao từ tiền ngôn ngữ sang ngôn ngữ chính thức – 9-18 tháng tuổi chủ yếu đƣợc chăm sóc tại gia đình Mặt khác, vì chưa nghiên cứu những cách thức nuôi dạy, tương tác với trẻ tương đối

hiệu quả của các bà mẹ trong mỗi gia đình, nên chúng ta vô tình đã bỏ qua những bài học thực tiễn quí báu, bỏ qua cơ hội vận dụng chúng trong quá trình đào tạo GVMN, để mỗi cô giáo được trau dồi thêm phẩm chất và năng lực mẫu tính trong quá trình tương tác, giao

tiếp với trẻ, để “khi đến trường cô giáo như mẹ hiền”

1.3 Giai đoạn 9-18 tháng tuổi (giai đoạn chuyển giao từ giao tiếp tiền ngôn ngữ sang giai đoạn đầu của giao tiếp ngôn ngữ) là giai đoạn chịu ảnh hưởng sâu đậm của tương tác mẫu tính

Đa số trẻ 9-18 tháng tuổi được chăm sóc, giáo dục tại gia đình, mẹ và những người thân chính là người tạo ra mối quan hệ xã hội đầu tiên, chủ yếu cho trẻ, do vậy tương tác

xã hội của trẻ chủ yếu là tương tác mẫu tính Điều đó cho thấy tương tác mẫu tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là đối với ngôn ngữ bởi đây là giai đoạn chuyển biến về chất trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, từ việc phát ra những âm thanh vô nghĩa sang phát âm có nghĩa, từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ

Vì vậy, sự tương tác ở giai đoạn này có ý nghĩa chuẩn bị quan trọng cho các bước phát triển tâm lý-ngôn ngữ ở giai đoạn sau Nói cách khác, việc quan tâm phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính chính là một lựa chọn hướng đến những nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất thuộc về môi trường có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý - ngôn ngữ của

Trang 14

trẻ ở giai đoạn 9-18 tháng Thực hiện tốt tương tác mẫu tính là cơ sở cho các hướng tác động cụ thể nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở giai đoạn này cũng như giai đoạn kế tiếp

1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng tích cực của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non góp phần phát huy giáo dục gia đình đối với sự phát triển của trẻ

Để giáo dục một con người toàn diện, cần có sự phối hợp khăng khít giữa nhà trường, gia đình và xã hội Một trong những cách để hiện thực hóa được quan điểm trên là cần tăng cường hơn nữa các công trình nghiên cứu về vai trò gia đình, vai trò của bà mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái Riêng đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ,

vì xuất phát từ thực tế là hầu như trẻ đã nói được hoặc đã được chuẩn bị để biết nói trước khi đến trường mầm non nên sự chuẩn bị đó phần lớn thuộc về gia đình, còn trường mầm non là nơi tiếp tục duy trì, phát huy các năng lực ngôn ngữ đó cho trẻ

Để quá trình đổi mới giáo dục hiệu quả hơn nữa, chúng ta cần cố gắng tham khảo và vận dụng kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để nhìn nhận lại vấn đề tương tác mẫu tính ở góc độ lí luận chứ không chỉ đánh giá nó ở góc độ kinh nghiệm, bản năng Bởi lẽ kiểu

chăm sóc giáo dục mầm non có một đặc thù rất riêng, đó là “cô giáo như mẹ hiền” Và làm thế nào để “cô giáo như mẹ hiền”, góp phần phát huy tiềm năng vốn có ở trẻ, trong đó có

tiềm năng ngôn ngữ, lại rất cần đến việc tìm hiểu một cách hệ thống và khoa học về kiểu tương tác mẫu tính cũng như vai trò của nó trong việc chuẩn bị các tiền đề giúp trẻ lĩnh hội ngôn ngữ Thực tế này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu khoa học tìm hiểu về kiểu tương tác mẫu tính trong mối liên hệ với sự phát triển chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng của trẻ

1.5 Thực tiễn nghiên cứu về ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế

Hiện nay, với những thay đổi về quan điểm giáo dục mầm non, những công trình nghiên cứu về tương tác mẫu tính đã xuất hiện Tuy nhiên, một mặt, trong số các nghiên cứu

lý luận thì một số công trình chưa được công bố rộng rãi, một số khác còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về các thuật ngữ quốc tế khiến nội hàm khái niệm chưa được thống nhất Mặt khác, các công trình nghiên cứu thực tiễn về vấn đề này còn đang rất ít Thực trạng đó cũng đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu cặn kẽ hơn về mối liên hệ giữa tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính” để nghiên cứu trong luận án của mình

Trang 15

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi dưới tác động của tương tác mẫu tính Trên cơ sở đó, bước đầu đưa ra một số nội dung và biện pháp tương tác mẫu tính cụ thể nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: khái niệm, nguồn gốc và

đặc điểm của tương tác mẫu tính

3.2 Làm rõ thực trạng phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương

tác mẫu tính

3.3 Đề xuất nội dung và biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

3.4 Làm rõ tính khả thi của nội dung, biện pháp tác động được đề xuất để phát

triển ngôn ngữ cho trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

4 Đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9 - 18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể trực tiếp: Trẻ 9-18 tháng tuổi tại một số gia đình Trong đó, số

lượng trẻ nam và trẻ nữ tương đương nhau

- Khách thể gián tiếp: Các bà mẹ có con trong độ tuổi 9 - 18 tháng tuổi

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau Trong phạm vi luận án này, chúng tôi tập trung vào giai đoạn 9-18 tháng tuổi vì đây là giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức ở trẻ mầm non

- Về địa bàn nghiên cứu: Chúng tôi mong muốn thực hiện quá trình nghiên cứu trên nhiều địa bàn khác nhau trong cả nước, nhưng do đối tượng nghiên cứu có nhiều nét đặc biệt như là các cặp mẹ -trẻ với điều kiện trẻ ở giai đoạn 9-18 tháng tuổi, một độ tuổi quá nhỏ, nên chúng tôi lựa chọn địa bàn Hà Nội để có thể kiểm soát được tính khách quan trong quá trình điều tra và thực nghiệm

6 Giả thuyết khoa học

Tương tác mẫu tính ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ sớm nhất và nhiều nhất, được thể hiện cả về phương diện cấu trúc (sự lĩnh hội các thành phần, đơn vị ngôn ngữ) và phương diện chức năng(nhận thức - ngôn ngữ - giao tiếp) Nếu đề xuất được

Trang 16

các nội dung và biện pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi nhằm hỗ trợ, tăng cường chất lượng tương tác mẫu tính giữa người lớn và trẻ ở độ tuổi này thì có thể phát triển được ngôn ngữ ở trẻ trong giai đoạn hiện thời cũng như những giai đoạn kế tiếp

7 Các phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tổng kết và nghiên cứu lý luận

7.1.1 Mục đích tổng kết và nghiên cứu lí luận

Trong tổng hợp và nghiên cứu lý luận, nền tảng và điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận (các quan điểm,các lý thuyết) Do vậy cần phải nắm vững hệ thống lý luận nền tảng của vấn đề nghiên cứu Nắm vững lý thuyết nền là cơ sở hình thành định hướng trong nghiên cứu hình thành các trường phái khoa học Phương pháp nghiên

cứu lý luận được sử dụng để nghiên cứu phương diện lý luận của đề tài tức là phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu Phương pháp này được thực hiện theo các bước phân tích,

tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa lý thuyết và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến phát triển ngôn ngữ, tương tác mẫu tính và khả năng vận dụng tương tác mẫu tính đến việc phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm lấy ý kiến của các nhà

chuyên môn có kinh nghiệm trong các lĩnh vực tâm lý - ngôn ngữ học, giáo dục học mầm non

để làm rõ thêm các quan điểm về phát triển ngôn ngữ và tương tác mẫu tính

7.1.2 Các pháp pháp tổng kết, nghiên cứu lí luận

trong sự vận động của chúng Do đó, thứ nhất, phương pháp lô-gich nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lắp lại của các sự vật, hiện tượng Muốn vậy, nó phỉ đi vào nhiều

hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng hợp…để tìm ra bản chất của những sự vật, hiện tượng

Trang 17

Thứ hai, nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgich lại có thể bỏ qua những bước đường đó, mà chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của nó, nắm lấy quy luật của

nó Thứ ba, khác với phương pháp lích sử, phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, nắm lấy không gian, thời gian, tên người…cụ thể, phương pháp logich lại chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hình và nắm qua những phạm trù, quy luật nhất định

* Phương pháp phân tích, phân loại tài liệu

Phân tích là sự chia tách đối tượng cần tìm hiểu nghiên cứu thành các phần nhỏ khác nhau, thành các phương diện, các mặt khác nhau Phương pháp này giúp chúng ta tìm hiểu đối tượng ở chiều sâu cấu trúc nội tại của nó

Phân loại là sự phân chia và sắp xếp các sự vật, hiện tượng và các khái niệm theo một thứ tự nhất định, ở những cấp độ nhất định, dựa trên những thuộc tính giống nhau và khác nhau giữa chúng để đưa chúng vào từng nhóm riêng biệt tùy thuộc vào mục đích phân loại Muốn phân loại tốt, trước hết phải có phương pháp phân tích tốt, phân tích giúp hiểu sâu đối tượng nên chính là bước cơ sở giúp chúng ta tiến hành phân loại

Như vây, phân loại tài liệu là quá trình phân tích tài liệu nhằm xác định nội dung

chủ yếu và thể hiện nội dung đó bằng những ký hiệu của khung phân loại cụ thể

*Phương pháp hệ thống hóa, tổng thuật tài liệu lí luận

Hệ thống hóa là việc tìm kiếm và sắp đặt các yếu tố và nhận ra mối liên hệ giữa chúng Đối với việc hệ thống hóa tại liệu chính là việc chúng ta tập hợp các tài liệu trên cơ

sở nhận ra sự liên hệ giữa những đơn vị tri thức mà chúng trình bày

Việc tổng thuật tài liệu chính là tìm ra các nội dung chính yếu của từng tài liệu, tóm lược những nội dung đó theo một hệ thống lô-gich nhất định nào đó, giúp vấn đề nghiên cứu được sâu chuỗi lại theo những phương diện nhất định

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Mục đích nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực trạng thói quen, nhận thức, biểu hiện và hành động thực tế của các bậc phụ huynh trong quá trình tương tác với trẻ nhỏ nói chung và tương tác nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ và giao tiếp tuổi mầm non nói riêng

- Bước đầu chỉ ra một số yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quá trình tương tác mẫu tính nhằm phát triển ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ 9 - 18 tháng tuổi tại các gia đình

- Tiến hành thực nghiệm tác động nhằm nâng cao nhận thức và khả năng tương tác mẫu tính, góp phần phát triển ngôn ngữ - giao tiếp của trẻ 9 - 18 tháng tuổi

Trang 18

7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp điều tra khảo sát

- Mục đích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thực trạng tương tác mẫu tính hiện nay và hiệu quả của nó với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ nhỏ

để nghiên cứu phần nội dung chính của luận án

* Phương pháp thực nghiệm tác động

Thực nghiệm tác động được tiến hành để so sánh kết quả phát triển ngôn ngữ ở những trẻ mà các cặp mẹ - trẻ được sử dụng các biện pháp hỗ trợ và điều chỉnh với các cặp, nhóm mẹ - trẻ không sử dụng các biện pháp này

* Phương pháp thống kê toán học

Chúng tôi thu thập và xử lý kết quả thực nghiệm bằng các công thức toán thống kê như: tính giá trị trung bình cộng, độ lệch chuẩn, so sánh sự khác biệt giữa kết quả của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm v.v Dùng kiểm nghiệm t với 2 mẫu độc lập để so sánh kết quả của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng để thấy được sự khác biệt có ý nghĩa hay không sau khi tiến hành thực nghiệm

Giả thuyết Ho: Không có sự khác biệt có ý nghĩa nào giữa năng lực ngôn ngữ và giao tiếp giữa hai nhóm trẻ ĐC và TN trước và sau TN

Giả thuyết H1: Có thể có sự khác biệt có ý nghĩa giữa năng lực ngôn ngữ và giao tiếp giữa hai nhóm trẻ ĐC và TN sau TN

Giả thuyết H1 được chấp nhận với trị số t <ta (ta = 0.05), từ đó khẳng định tác

động thực nghiệm có hiệu quả đối với nhóm TN

Trang 19

8 Đóng góp của luận án

Từ việc hệ thống hoá cơ sở lí luận về phát triển ngôn ngữ và tương tác mẫu tính trên thế giới và ở Việt Nam, khảo sát thực trạng tương tác mẫu tính và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi, luận án có những đóng góp sau đây:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tương tác mẫu tính, ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non

- Mô tả được thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi qua tương tác mẫu tính

- Đề xuất một số nội dung và biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ của trẻ giai đoạn 9 -

18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính

- Đề xuất bộ công cụ đánh giá một sốphương diện của sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ

9 - 24 tháng tuổi

Vì những đóng góp kể trên, luận án có thể làm tài liệu tham khảo giúp phụ huynh, GVMN trong việc chăm sóc giáo dục nói chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng ở trẻ mầm non

9 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 3 phần với những nội dung chính như sau:

Phần mở đầu: trình bày những vấn đề chung, bao gồm:

- Lí do chọn đề tài

- Mục đích nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Phương pháp nghiên cứu

- Đóng góp của luận án

Phần trình bày tổng quan nghiên cứu, trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề trong

và ngoài nước

Phần nội dung chính của luận án gồm 3 chương:

Chương 1 Tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

Trong chương này, luận án nghiên cứu một số vấn đề lí luận như sự tương tác mẫu tính (maternal interaction), sự gắn bó (attachment), qua đó làm rõ khái niệm công cụ của

đề tài – tương tác mẫu tính; chỉ rõ các đặc trưng và vai trò của tương tác mẫu tính đối với

sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non

Trang 20

Chương 2 Thực trạng, nội dung và biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9 -18 tháng

tuổi thông qua tương tác mẫu tính

Trong chương này, luận án thực hiện việc điều tra thực trạng phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính hiện nay; đề ra nội dung phát triển ngôn ngữ, tiêu chí đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, xây dựng hệ thống biện pháp hỗ trợ tương tác mẫu tính nhằm phát triển ngôn ngữ theo một quy trình hợp lí Cũng ở chương này, luận án phân tích việc

sử dụng các biện pháp trên để nâng cao hiệu quả lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ mầm non

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trong chương này, luận án tiến hành kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đề ra Cũng ở chương này, luận án tiến hành thực nghiệm tác động để khẳng định hiệu quả của việc sử dụng hệ thống biện pháp trên với mục đích phát triển ngôn ngữ

Phần kết luận tóm tắt những nội dung cơ bản đã thực hiện trong luận án và đề xuất

những kiến nghị để nâng cao hiệu quả tương tác mẫu tính nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói riêng và phát triển các năng lực nhận thức, xã hội khác nói chung ở trẻ nhỏ

Trang 21

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ MẦM NON THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH

1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1 Những quan điểm cơ bản về sự phát triển ngôn ngữ

Làm thế nào mà con người sáng tạo, lĩnh hội và sử dụng được ngôn ngữ là một vấn

đề đang được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Có thể kể ra một số quan điểm cơ

bản như sau:

1.1.1 Thuyết bẩm sinh (Nativist Theories)

Nội dung của thuyết này cho rằng ngôn ngữ là năng lực bẩm sinh đặc thù của loài người, thể hiện đặc biệt ở trẻ sơ sinh Trẻ sơ sinh lĩnh hội ngôn ngữ thông qua một chương trình di truyền học Do đó sự lĩnh hội ngôn ngữ khác với các quá trình nhận thức khác Noam

Chomsky, đại biểu của thuyết bẩm sinh đã chỉ ra công cụ lĩnh hội ngôn ngữ (the language acquisition device –LAD [86]) Quan điểm này nhấn mạnh trẻ em được sinh ra với sự hiểu

biết cơ bản về ngôn ngữ và với một năng lực trí tuệ sẵn có để lĩnh hội ngôn ngữ một cách thuận lợi và nhanh chóng Năng lực đó là nhờ vào sự siêu liên kết của bộ não („over- connected‟) ở thời điểm mới chào đời Các mối liên kết đó có thể bị mất đi hoặc chỉ là dạng tiềm năng, và các mối liên kết mới về cơ bản được hình thành dựa theo các dạng kinh nghiệm mới có được từ những kích thích mới Một thực tế cho thấy sự lĩnh hội ngôn ngữ chỉ diễn ra trong một thời điểm cụ thể nhất định trong đời người nên góp phần hậu thuẫn cho thuyết bẩm sinh này

Với Noam Chomsky, trẻ em từ khi sinh ra đã được trang bị sẵn một chương trình ngôn

ngữ mặc định, (đó là ngữ pháp phổ quát – univesal grammar) và chương trình này dần sẽ bị thay

thế bởi một ngôn ngữ cụ thể mà trẻ được tiếp xúc trực tiếp hàng ngày Thuyết bẩm sinh được hậu thuẫn từ rất nhiều bằng chứng khác nhau Trước hết là ví dụ về những loài động vật gần với loài người (vượn, tinh tinh, champanzee) dù được nuôi giống như con người nhưng không thể học được ngôn ngữ của loài người, mặc dù có thể đạt tới mức có thể hiểu được nghĩa từ ở mức độ đơn giản, song không thể sản sinh, tạo lập ngôn ngữ Một thực tế khác cũng cho thấy trẻ em có thể học ngôn ngữ ngay cả khi thiếu hụt các khả năng nhận thức khác hoặc khi tiếp nhận các kích thích nghèo nàn Một trong những luận điểm quan trọng hơn cả để bênh vực cho thuyết bẩm sinh

là bằng chứng về kì giới hạn trong sự lĩnh hội ngôn ngữ (critical period) [139] Lenneberg giả

định rằng sự lĩnh hội ngôn ngữ là bẩm sinh, như thể bạn được sinh ra cùng với ngôn ngữ Những

yếu tố sinh học đã hạn định bằng kì giới hạn đối với việc lĩnh hội ngôn ngữ tạo nên “cửa số cơ hội- ”window of opportunity‟ từ khoảng sơ sinh đến tuổi dậy thì Nếu trẻ không học ngôn ngữ

trước khi bước vào tuổi dậy thì, trẻ sẽ không bao giờ có thể thành thục được một thứ ngôn ngữ

Trang 22

nào Kì giới hạn và bộ não con người có một sự liên quan tới nhau Lenneberg tin rằng sau khi một quá trình tạo ra sự phát triển các chức năng đặc biệt ở hai bên não, não sẽ mất tính linh hoạt, thông thường là quá trình này theo Lenneberg sẽ được hoàn tất ở tuổi dậy thì, khiến cho quá trình lĩnh hội ngôn ngữ sau tuổi dậy thì trở nên khó khăn

Ngoài ra Lenneberg cũng chỉ ra các bộ phận não bộ phân hóa với chức năng ngôn ngữ Cụ thể là 85% phần não thực hiện chức năng ngôn ngữ là ở bán cầu não trái, với hai

bộ phận quan trọng nhất là bộ phận sản sinh ngôn ngữ (Broca) và bộ phận lí giải ngôn ngữ (Werunikey ): Hình 1:

(Tâm lý học phát triển – Nobuko Uchida, trang 104 [44])

Như vậy thuyết bẩm sinh có khá nhiều những luận điểm hậu thuẫn cho mình Thuyết này đã làm sáng tỏ các cơ sở và cơ chế sinh học của quá trình lĩnh hội ngôn ngữ ở con người Theo đó, nó góp phần giải những bài toán về trị liệu những rối loạn về ngôn ngữ có nguồn gốc từ sinh học

1.1.2 Thuyết học tập hay thuyết hành vi (Learning/ Behaviourist Theories)

Đây là lý thuyết đầu tiên về phát triển ngôn ngữ cho rằng trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ thông qua bắt chước Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em bắt chước các hành động của những người xung quanh mình trong năm đầu đời nói chung cũng là những trẻ học nói

nhanh hơn Như vậy, Thuyết học tập cho rằng năng lực ngôn ngữ là do học tập mà có được

Đại biểu của thuyết này là Skinner, Pavlov,….Các nhà khoa học theo thuyết này cho rằng ngôn ngữ được lĩnh hội thông qua một quá trình cơ bản như liên tưởng, củng cố và bắt chước (associations, reinforcement and imitation)[188] Nói cách khác, khi cha mẹ hay người chăm sóc nhiệt tình thúc đẩy để trẻ nói, điều này sẽ khuyến khích trẻ có thể lặp lại lời nói Vì thế,

thuyết này còn được gọi bởi một cái tên khác là Thuyết hành vi chủ nghĩa Nhưng một lần nữa,

• PHẦN NÃO ĐIỀU KHIỂN NGÔN NGỮ

• PHẦN BROCA: SẢN SINH NGÔN NGỮ

• ウェル二ッケ(WERUNIKEY):

LÍ GIẢI NGÔN NGỮ C.PHẦN NÃO LIÊN KẾT BỘ PHẬN A&B

2 PHẦN NÃO BỔ SUNG CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ

• VIẾT

• THỂ HIỆN SẮC THÁI

• ĐỌC HIỂU

• MỆNH DANH

Trang 23

mặc dù tăng cường có thể giúp đỡ, lý thuyết này không thể giải thích cho các “phát minh ngôn ngữ” của trẻ em Chẳng hạn như, trẻ nói tiếng Anh, đã “tự sáng tạo” theo một quy luật mà chúng đã hội được trong việc chia động từ quá khứ cho từ “go” thành “goed” trong khi đó chia động từ bất quy tắc đúng phải là “went” Có thể thấy, trẻ vẫn nói (tạo lập) những mẫu ngôn ngữ tự phát ngay cả khi trên thực tế người lớn chưa từng bao giờ nói thế ví dụ như:

No body don’t likes me (trẻ nói tiếng Anh với ý nghĩa là "không ai yêu con cả" nhưng đã bị nhầm: dùng phủ định hai lần, nên nghĩa bị thay đổi thành"không ai không yêu con cả" và chia

động từ sai, vì "No body" phải chia động từ số ít) hoặc khi nhìn thấy chú chó đốm, trẻ Việt

Nam thốt lên “chó sữa” có lẽ vì những đốm đen trắng giống lưng những chú bò sữa; hoặc "Hết ông rồi" (trẻ nói khi nhìn thấy ông đi khuất sau cánh cổng), cũng có khi trẻ nói "mẹ ơi, thịt ngã

rồi" khi thịt bị rơi ra khỏi bát cơm… Rõ ràng, giới hạn của thuyết học tập chính là chưa tính toán một cách đầy đủ đến các yếu tố liên quan tới quá trình phát triển ngôn ngữ, bởi lẽ nó quá đơn giản để giải thích sự phức tạp của bản thân ngôn ngữ Đồng thời hầu hết các bậc cha mẹ lại không thường xuyên củng cố ngôn ngữ của con trẻ một cách sát sao

1.1.3 Thuyết nhận thức (Cognitive theory)

Thuyết nhận thức cho rằng sự phát triển của ngôn ngữ được sự phát triển nhận thức chuẩn bị và hậu thuẫn Piaget, J và những nghiên cứu về phát triển nhận thức của ông có ảnh hưởng lớn nhất đến thuyết nhận thức Đối với Piaget, năng lực ngôn ngữ được xem là một phần năng lực biểu tượng phổ thông nhất, phức hợp hơn cả so với trò chơi biểu tượng, sự mô phỏng trì hoãn, vẽ v.v…[177] Sự xuất hiện của ngôn ngữ là vào cuối thời kì vận động trở đi,

nhờ vào sự hậu thuẫn của năng lực biểu tượng hay còn gọi là tư duy tượng trưng (là năng

lực dùng một sự vật khác thay thế cho một sự vật ở trong suy nghĩ, và dùng ngôn ngữ để biểu hiện, làm tái hiện được sự vật không có ở trước mắt) Vì thế, Piaget cho rằng thực chất ngôn

ngữ là một hành vi tượng trưng, nó giống với các quá trình học tập khác của con người

Trong những nghiên cứu của Piaget từ những năm 1970 trở đi, sự vận động tìm kiếm

ở thời kì câu 1 từ- khởi nguyên của thời kì ngữ pháp sơ kì, trở nên thịnh hành, trước đó, Piaget những năm 1930-1940 đã phát biểu kết quả nghiên cứu có liên quan đến trí năng liên vận động cảm giác, và đã được thước độ hóa bởi Vzgiris, I và Hunt, J McV trở thành nguồn gốc của thước đo về sự phát triển, bắt đầu có ảnh hưởng rất to lớn

Chẳng hạn như nhóm nghiên cứu Bates [59] cho rằng, trẻ từ 11-13 tháng tuổi trở đi

có thể thấy những từ đầu tiên xuất hiện có mối liên quan tới phương pháp và sự mô phỏng các kĩ năng cấp thấp của trí năng liên vận động cảm giác- liên quan tới sự phát triển quan

hệ mục đích; 18-24 tháng tuổi, những câu 2 từ có liên quan tới khả năng liên kết hai hành động Hơn nữa, 13 tháng tuổi trở đi, trong từ vựng danh từ những trẻ có ưu thế so với

Trang 24

những trẻ không có ưu thế như vậy, ngôn ngữ dần phát triển, song vì sự phát triển ngữ pháp lại có liên quan đến sự phát triển của động từ, nên ở 28 tháng tuổi, trẻ có ưu thế về danh từ so với trẻ không có ưu thê như vậy, thì sự phát triển ngôn ngữ lại chậm lại rõ rệt

Từ đó nhóm Bates những khu vực cấp thấp của ngôn ngữ (từng vựng- danh từ) thì liên quan đến khu vực cấp thấp của nhận thức (nhu cầu, mục đích), hơn nữa cách thức quan hệ

đó tùy theo các giai đoạn phát triển cũng dần biến đổi Vì thế lí thuyết của nhóm Bates

được mệnh danh là thuyết Tương đồng bộ phận

1.1.4 Thuyết nhận thức xã hội (hay còn gọi là quan điểm tương tác xã hội )(Interactionist Theory)

Thuyết nhận thức xã hội cho rằng mặc dù bẩm sinh và học tập là rất quan trọng, nhưng sự tồn tại của con người mang tính xã hội nên ngôn ngữ và tâm lí không đơn thuần

là sản phẩm của cá nhân mà còn là sản phẩm của quá trình giao tiếp với người khác Kiểu

tư duy này được gọi là chủ nghĩa cấu thành xã hội Người mở đầu cho quan điểm này

trong tâm lý học phát triển là Vygosky, L Vygosky đã nhấn mạnh ngôn ngữ được sự hậu thuẫn bởi sự phát triển của tư duy, kí ức tùy theo sự vật hay công cụ có tư cách là di sản văn hóa, mà được truyền lại từ sự tương tác và hỗ trợ của người lớn [143] Bruner, nhà lí luận phát triển ngôn ngữ sẽ tiếp tục hướng tư duy trên

Bruner cho rằng để thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ, cần có hệ thống hỗ trợ

được tiến hành bởi người mẹ, gọi là LASS (Language Acquisiton Support System: Hệ

thống hỗ trợ lĩnh hội ngôn ngữ) [76] LASS là hệ thống cung cấp những công việc cùng đề cập tới trong năng lực của trẻ Công việc đề cập tới này là hệ thống điều chỉnh một cách tinh tế cả ngôn ngữ và sự chú ý của trẻ Nhờ thế mà người mẹ có thể tạo nên những bối cảnh giao tiếp tạo nền tảng cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, có thể cố gắng tạo dựng nên

sự chia sẻ niềm đồng cảm với trẻ Ví dụ như trong bối cảnh đọc sách tranh, mẹ chỉ vào tranh mà bé đang nhìn, và nói “cún con gâu gâu nào”, bé sẽ phát âm “bừ - bừ”, và mẹ trả lời lại phản ứng của bé bằng những đối thoại như: “bừ-bừ nhanh nhỉ”“và “đây là?”v.v…, tạo ra mối liên kết giữa cái mà bé chú ý với ngôn từ Cùng với năng lực ngôn ngữ và năng lực hội thoại giao tiếp của bé, mẹ tiến hành những hội thoại như vậy, bé sẽ kiểm soát được ngôn từ và sự chú ý một cách có chủ đích, từ đó tiến tới việc phát triển ngôn ngữ

Ngoài việc tạo nền tảng như trên, người mẹ nếu sử dụng nhiều âm thanh ngôn ngữ cao, những câu văn ngắn, lặp đi lặp lại thì trẻ sẽ tiếp thu nội dung hội thoại một cách dễ dàng Đây

chính là kiểu giao tiếp độc đáo khi trò chuyện với trẻ, được gọi là child – directed speech (ngôn ngữ trực tiếp với trẻ nhỏ) hoặc motherese (ngôn ngữ mẫu tính) hay babytalk (nói theo cách trẻ em)

Trang 25

Như vậy thông qua các thuyết về sự phát triển ngôn ngữ, ta thấy rõ ngôn ngữ rõ ràng là có liên quan đến khía cạnh di truyền học Trước hết ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong thế giới loài người với một phiên bản đầy đủ nhất, tức là ở dạng tín hiệu có sự tương ứng giữa một hình thức vật chất và một nội dung ý nghĩa Nhưng để có sự phát triển ngôn ngữ một cách thuận lợi nhất cần rất nhiều đến các yếu tố có liên quan chặt chẽ với các yếu tố phát triển xã hội và nhận thức khác Trong số các yếu tố đó, tương tác mẫu tính được xem như là một nhân tố tương tác mang tính xã hội xuất hiện sớm nhất ở con người, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ lứa tuổi mầm non

1.2 Nghiên cứu tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ

1.2.1 Nghiên cứu về tương tác mẫu tính (TTMT)

1.2.1.1 TTMT như một phẩm chất có nguồn gốc bẩm sinh, có liên quan tới thuyết Gắn bó (Attacment)

Mở đầu cho xu hướng nghiên cứu này về TTMT phải kể tới các nhà tâm lý học Ainsworth, M D., Bell, S.M., & Stayton Trong thập kỉ 60 của thế kỉ XX, nhóm tác giả

Ainsworth đã tăng cường các khái niệm cơ bản, giới thiệu khái niệm "cơ sở an toàn” (“secuse base”) và phát triển một lý thuyết về một số kiểu gắn bó của trẻ sơ sinh: gắn bó

an toàn, gắn bó không an toàn- lảng tránh và gắn bó không an toàn - mâu thuẫn Sau đó, các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm kiểu gắn bó thứ tư: gắn bó vô tổ chức

Tiếp tục cho xu hướng nghiên cứu này phải kể tới tên tuổi của John Bowlby với các công trình nghiên cứu về Attachment (Sự gắn bó) Attachment được giới nghiên cứu giáo dục Âu Mĩ bắt đầu từ những năm 1977 với đại biểu tiêu biểu là John Bowlby Ông đã xuất

bản bộ ba tập sách “Attachment and Loss” (“Gắn bó và mất mát”) nhằm khẳng định vai trò

của sự gắn bó mẫu tử nói riêng và sự gắn bó mang tính loài nói chung đối với sự phát triển

của con người Theo John Bowlby, sự gắn bó có nghĩa là: “Là một hệ thống điều chỉnh sẵn

có ở con người (do quá trình tiến hóa mang lại) để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của loài người Sự gắn bó này có thể thay thế cho mọi nỗ lực khác, nó bắt đầu từ khi con người sinh ra cho đến khi chết đi Đối với trẻ, đó là trạng thái gần gũi hoặc dễ dàng trò chuyện, giao tiếp với một ai đó, và điều này giống như nền tảng có thể đảm bảo sự an toàn (đặc biệt là về tinh thần) cho trẻ một cách tốt nhất.” [123]

Nói cách khác hành vi gắn bó là hành vi đặc trưng cho tính người bắt đầu từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay (“from the cradle to the grave") mà Bowlby viết từ những năm 1977 Trong lời nói đầu, ông viết “ Sự gắn bó là hành vi được hình thành với

tư cách là kết quả của sự nỗ lực cá nhân nhằm tạo dựng hay duy trì trạng thái gần gũi, thân thiết với một ai đó khác với mình, vì họ mạnh mẽ hơn hoặc thông thái hơn mình Điều này được biểu hiện trước tiên, thường xuyên, rõ nét ở trẻ sơ sinh và trẻ mẫu giáo, được

Trang 26

duy trì trong suốt đời người, đặc biệt khi con người rơi vào trạng thái khổ đau, bệnh tật, hay hoảng sợ.”[123]

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện khi tìm hiểu về Thuyết Sự gắn bó, đã thấy rằng: “Gắn bó

có nghĩa là một mối quan hệ tình cảm hay những ràng buộc giữa một cá nhân với một ai đó (thường là một người chăm sóc) Mối quan hệ này có thể đối ứng giữa hai người lớn, nhưng giữa một đứa trẻ và người chăm sóc các mối quan hệ này được dựa trên nhu cầu của trẻ em

vể sự an toàn và bảo vệ, hết sức quan trọng trong giai đoạn phôi thai và thời thơ ấu Lý thuyết này cho rằng trẻ em gắn với người chăm sóc theo bản năng, vì mục đích của sự tồn tại, và cuối cùng là do bản sao di truyền Mục đích sinh học là sự sống còn và mục tiêu tâm

lý là an toàn Thuyết Sự gắn bó không phải là một mô tả đầy đủ các mối quan hệ của con người, cũng không phải là đồng nghĩa với tình yêu và tình cảm, mặc dù có thể chỉ ra rằng những điều đó có tồn tại trong mối quan hệ này Trong mối quan hệ trẻ em-người lớn, mối quan hệ của trẻ còn gọi là “sự gắn bó”- "attachment" và tương ứng với người chăm sóc thì gọi là " mối quan hệ với người chăm sóc” – “care-giving bond”.”

Vì thế John Bowlby tiêu biểu cho khuynh hướng nghiên cứu Sự gắn bó nói chung và tương tác mẫu tính nói riêng có nguồn gốc từ bẩm sinh của con người

1.2.1.2 TTMT mang nhiều nét đặc thù như sự nhạy cảm, tính tự nhiên

Tương tác mẫu tính giữa người mẹ với trẻ khi được xét như là một quá trình thì đòi hỏi phải mang những đặc tính nhất định phù hợp với trẻ mầm non Những đặc tính này thể hiện ở chỗ người mẹ thường xuyên kiểm soát, điều chỉnh được hướng nhìn và hành động của trẻ một cách gắn bó, thân thiết, và sau đó phản ứng lại một cách tinh tế, nhạy bén, tự nhiên và phù hợp Những đặc tính này cũng tương đồng với sự nhạy bén, nhạy cảm trong quan niệm của Ainsworth, Bell và Stayton (1974) [48] Tuy đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của sự phản ứng từ người mẹ đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non, nhưng những phản ứng này không được đo lường theo hướng phân tích chất lượng để có thể phân biệt được phản ứng thông thường với phản ứng nhạy cảm, nhạy bén Vì vậy có hiện tượng

là hai người mẹ có thể có những mục tiêu hành động, cách phản ứng khác nhau đối với trẻ nhưng tính chất nhạy bén của các phản ứng không rõ ràng Vì lẽ đó, Tamis-LeMonda, Bornstein và Baumwell (2001) [202] cho rằng những phản ứng sẽ được nghiên cứu một cách có ích hơn nếu nhìn chúng theo một tổ chức đa chiều

Có thể thấy, sự nhạy bén, nhạy cảm được coi là nét đặc trưng nhất của TTMT, nhưng đến nay quan niệm về sự nhạy bén, nhạy cảm (sensitivity) chưa được cắt nghĩa rõ ràng mặc dù các nhà nghiên cứu đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu nó sâu hơn nhằm xác định

có nhiều yếu tố cấu thành nên nó

Trang 27

1.2.2 Nghiên cứu về những ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự PTNN của trẻ mầm non

1.2.2.1 TTMT như là một cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ - trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ

Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ và phát triển khả năng giao tiếp là một quá trình phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Chomsky (1965) cho rằng vì tính phức tạp như vậy nên trẻ không thể nào học ngôn ngữ thông qua lời nói của người lớn, bởi lẽ những mẫu nói năng của người lớn thường kém chuẩn mực, rời rạc và phức tạp[87] Chính luận điểm này đã gây ra một cuộc tranh luận gay gắt về việc có hay không cấu trúc sẵn có,

tự nhiên bẩm sinh trong mỗi người để học ngôn ngữ Chẳng hạn như nghiên cứu về ngôn ngữ trực tiếp với trẻ nhỏ (Child-directed speech: CDS) hay là lời nói mẫu tính (maternal speech) của Charles A Ferguson [84] Sau lần chứng minh đầu tiên về rất nhiều điểm khác

nhau giữa cách người lớn nói với trẻ và cách người lớn nói với nhau, một câu hỏi trọng

tâm được đặt ra liên quan tới vai trò của ngôn ngữ trực tiếp với trẻ nhỏ đối với sự lĩnh hội

ngôn ngữ ở trẻ (Harris, 1986[112])

Tiếp đó là những nghiên cứu về sự điều chỉnh một cách tinh tế để giảm bớt sự phức tạp trong khái niệm và cấu trúc ngôn ngữ của người lớn cho phù hợp với trình độ phát triển của trẻ, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ lĩnh hội ngôn ngữ Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng chú ý tới tầm quan trọng của các phát ngôn mang tính ngẫu nhiên, tự phát về mặt ngữ nghĩa của người lớn tới các phát ngôn, hành động và sự chú ý của trẻ

Thêm vào đó, hầu hết những mô tả về cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ và trẻ đã đóng góp những giả thuyết quan trọng cho rằng những đoạn cảnh đáp ứng qua lại ngẫu nhiên và manh tính xã hội giữa mẹ và trẻ là một nhân tố thuận lợi cho quá trình phát triển của trẻ ở giai đoạn mầm non (Moore & Dunham, 1995[101]) Theo đó, với quan điểm thực tiễn-xã hội trong phát triển ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội ngôn ngữ như một phần toàn vẹn từ những tương tác xã hội với những người xung quanh (Bruner, 1983)[76] Bruner cũng là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi giao tiếp tiền ngôn ngữ để hiểu về quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh trẻ em đã nỗ lực để truyền đạt thông tin như thế nào ở giai đoạn tiền ngôn ngữ Bởi lẽ, trong thực tế, trước khi bắt đầu sản sinh được những từ đầu tiên, trẻ hiểu được là cần phải giao lưu trao đổi với mọi người xung quanh, qua đó sẽ học được cách nhận ra ý định của mình như thế nào, mà đầu tiên là phải học cách sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (Bates 1976[59], 1979[60], Bruner 1982, 1983) [75&76] Trong quá trình học hỏi này, hoạt động xã hội quen thuộc đầu đời mà ở đó mẹ hoặc bảo mẫu hiểu được hoặc gắn nghĩa cho những tín hiệu mà trẻ phát, dõi theo tâm điểm chú ý của trẻ là một điều kiện quan trọng để hỗ trợ trẻ học ngôn ngữ

Trang 28

1.2.2.2 TTMT là một nhân tố dự báo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Theo nhiều nghiên cứu của Barrett, Harris và Chasin, 1991[57]; D‟Odorico, Salerni, Cassibba và Jacob, 1999[96]; Menyuk, Liebergotts và Schultz,1995[164], Snow, 1977[190]

đã khẳng định những khía cạnh liên quan tới sự tương tác mang tính xã hội có thể đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình chuyển đổi từ giai đoạn tiền ngôn ngữ tới giai đoạn ngôn ngữ chính thức Hơn thế nữa, những khía cạnh cụ thể của các hành vi mang tính tương tác từ người lớn sẽ có những ảnh hưởng cụ thể đến ngôn ngữ đầu ra của trẻ nhỏ hơn là những ảnh hưởng tổng quát (Tamis – LeMonda, 2001) [202] Ở cùng một thời điểm, năng lực ngôn ngữ

và năng lực giao tiếp ở giai đoạn đầu của bản thân trẻ có thể là những tiền đề dự báo cho giai đoạn phát triển ngôn ngữ về sau (Bloom, 1998[70], McCathren, Warren & Yoder 1996 [155]

Mặc dù những khía cạnh tự nhiên, bẩm sinh cũng được phản ánh theo nhiều cách ở giai đoạn ngôn ngữ sau của trẻ (Mundy & Gomes 1997) [168] nhưng sự nỗ lực của trẻ trong quá trình tương tác với mẹ (bảo mẫu) ở giai đoạn đầu của giao tiếp có thể được tính đến bởi có thể trẻ

em lại sẽ có một sự điều chỉnh ngược lại đối với người lớn tạo nên những bước phát triển tiếp sau của bản thân mình Việc hiểu biết thấu đáo từ quá trình tương tác này, một quá trình mà thông qua đó trẻ lĩnh hội được các kĩ năng giao tiếp và ngôn ngữ, sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt là đối với việc phát hiện sớm những trường hợp trẻ gặp phải những rối loạn về phát triển và mắc phải một chuỗi những khuyết tật ngôn ngữ trên cơ sở đó

sẽ giúp tiến hành thiết kế những chương trình nhằm mục đích can thiệp sớm

Như vậy, thông qua việc tìm hiểu tổng quan nghiên cứu, ta thấy vấn đề tương tác

mẫu tính vốn là hệ quả từ sự giao thoa giữa Thuyết Sự gắn bó (Attachment Theory) với

truyền thống của nghiên cứu tâm lý-ngôn ngữ học phát triển Đầu tiên, kết quả chủ yếu mà chúng tôi muốn đề cập tới là việc phát hiện ra các khía cạnh trong sự tương tác của mẹ thì hành vi giao tiếp của mẹ có thể được xem là một yếu tố cấu thành tạo nên sự phản ứng nhạy cảm từ người mẹ Thứ hai, đồng thời, mục tiêu quan trọng nhất là xác định được mối liên hệ mang tính dự báo giữa các biểu hiện trong sự giao tiếp của mẹ đối với việc hình thành nhu cầu giao tiếp và sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ ở giai đoạn tiếp sau Tính cách cũng như những mặt phát triển khác nói chung của trẻ có thể được hình thành từ quá trình tương tác với mẹ

2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.1 Nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

2.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non theo hướng cấu trúc

Có thể thấy sự phát triển của bộ môn khoa học Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non là một bộ phận của bộ môn nghiên cứu Phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt ở các Khoa Ngữ văn Bộ môn Phương pháp dạy hoc Văn và Tiếng Việt ra đời những năm đầu thập kỉ

80 của thế kỉ 20 do nhu cầu nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt ở các cấp học phổ

Trang 29

thông Những công trình đầu tiên đánh dấu mốc phát triển của bộ môn Phương pháp dạy học Văn và tiếng Việt nói chung và bộ môn Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non nói riêng là

“Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp 1” (Phan Thiều) và “Dạy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo” (Tạ Thị Ngọc Thanh) Từ năm 1983, Bộ Giáo dục quyết định đưa Phương pháp dạy học Tiếng Việt vào chương trình đào tạo Khoa Ngữ văn các trường Sư phạm Các Khoa Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non ngay từ khi thành lập, bộ môn Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em (nay là Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non) đã có trong chương trình đào tạo

Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non không chỉ được xây dựng trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu trẻ em và ngôn ngữ trong nước mà còn đặc biệt kế thừa các thành tựu nghiên cứu giáo dục mầm non và nghiên cứu phát triển ngôn ngữ trẻ em của

Liên Xô cũ Tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông” (E.I

Chikhieva) đã được dịch và đưa vào làm tài liệu giảng dạy trong các trường sư phạm mẫu giáo Việt Nam “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” (Xôkhin, NXB Giáo dục Mátxcơva,1979), “Phương pháp phát triển tiếng nói cho trẻ em” (Barodis A M, NXB Giáo dục NXB Giáo dục Mátxcơva,1974) đã có ảnh hưởng sâu sắc tới các giáo trình đầu tiên của Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em của Giáo dục Mầm non Việt Nam

Có thể kể ra đây các giáo trình đầu tiên của bộ môn khoa học Phương pháp phát triển

ngôn ngữ trẻ em:“Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em”(Cao Đức Tiến,

Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng- Trung tâm nghiên cứu Đào tạo và Bồi dưỡng Giáo

viên, Hà Nội, 1993); cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn

Xuân Khoa, NXB ĐHQG HN, 1999) Ngoài ra còn có một số công trình khác cũng tập trung xung quanh vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Do tác giả của những công trình hầu hết có xuất phát điểm căn bản đều là những nhà ngôn ngữ học nghiên cứu sang địa hạt ngôn ngữ trẻ em, do vâỵ những giáo trình và công trình nghiên cứu này đều nặng về hướng

nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ theo phương diện cấu trúc Hướng biên soạn giáo trình và

đề tài nghiên cứu đều xoay quanh việc trẻ sẽ lĩnh hội các đơn vị ngôn ngữ như thế nào Nghiên cứu quá trình phát triển ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp là những từ khóa của hầu hết các đề mục trong giáo trình và các đề tài nghiên cứu Chẳng hạn như “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn Thị Oanh), “Biện pháp dạy trẻ 5-6 tuổi nói đúng ngữ pháp”(Võ Phan Thu Hương), “Một số biện pháp nâng cao mức độ hiểu từ của trẻ 5-6 tuổi”(Đỗ Thị Xuyến, 1998); “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-

4 tuổi thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (Lê Thị Xoa, 1998)

Trang 30

Bên cạnh phương diện cấu trúc, phát triển ngôn ngữ trẻ em còn được nhìn nhận ở phương diện chỉnh thể, tức là việc trẻ sử dụng các phương tiện giao tiếp trong đó có ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội để xã hội hóa chính bản thân mình và phát tiển các khả năng, kĩ năng khác trong đó có khả năng, kĩ năng ngôn ngữ Điều này được các học giả phương tây đặc biệt quan tâm, nhưng gần như bị bỏ ngỏ ở GDMN Việt Nam Việc nghiên cứu về giao tiếp của trẻ được nhìn nhận nhiều từ góc độ tâm lý học trẻ em, nhưng chưa trở thành một hướng nghiên cứu giao tiếp – ngôn ngữ trẻ em với những công trình nghiên cứu thuyết phục

và có sức ảnh hưởng sâu rộng có thể làm thay đổi diện mạo của bộ môn Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

2.1.2 Nghiên cứu về biện pháp phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non

Ngay từ khi xuất hiện ở Việt Nam, ngành này đã có tên gọi Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo hoặc phương pháp phát triển lời nói trẻ em Như vậy, từ trong tên gọi, đã thể hiện mối gắn kết giữa khoa học phát triển ngôn ngữ với Giáo dục học mầm non theo mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung Theo đó, các thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học non trẻ này tập trung một lượng đáng kể vào việc tìm kiếm, đề xuất nội dung, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Có thể kể ra đây các công trình tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này:

- Giáo trình:

+“Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em”(Cao Đức Tiến,

Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng- Trung tâm nghiên cứu Đào tạo và Bồi dưỡng Giáo viên, Hà Nội, 1993);

+“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn Xuân Khoa, NXB

ĐHQG HN, 1999)

+ “Phương pháp Phát triển lời nói trẻ em”, Đinh Hồng Thái, NXB ĐHSP, 2004

- Các công trình khác:

+ “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo” (Nguyễn Thị Oanh),

+ “Biện pháp dạy trẻ 5-6 tuổi nói đúng ngữ pháp”(Võ Phan Thu Hương),

+ “Một số biện pháp nâng cao mức độ hiểu từ của trẻ 5-6 tuổi”(Đỗ Thị Xuyến, 1998);

+“Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (Lê Thị Xoa, 1998)

v.v

Như vậy, nếu như ở phương Tây, PTNN được xem là một ngành khoa học gắn bó chặt chẽ với ngành tâm lý, ngôn ngữ (vì thế được gọi là tâm lý – ngôn ngữ học hoặc tâm lý học phát triển) thì ở Việt Nam, PPDH Văn và Tiếng Việt nói chung và PTTN cho trẻ mầm

Trang 31

non nói riêng lại gắn bó thực tiễn với Giáo dục học, và có mã ngành đào tạo là Giáo dục học Những năm gần đây, các nhà tâm lý học Việt Nam cũng đã chú ý hơn tới việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của con người nói chung và trẻ nhỏ nói

riêng.Tiêu biểu là công trình của Nguyễn Huy Cẩn, “Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001và một số công trình của Trần Hữu Luyến như “Cơ sở tâm lý học dạy học ngoại ngữ”, Nxb ÐHQGHN, 2008; “Các quan điểm tâm lý học dạy học ngoại ngữ”, Nxb ÐHQGHN, 2009; “Những bình diện tâm lý ngôn ngữ học”, Nxb ÐHQGHN, 2010…

2.2 Nghiên cứu về PTNN cho trẻ mầm non thông qua tương tác mẫu tính

2.2.1 Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ theo định hướng giao tiếp nói chung

2.2.1.1 Nghiên cứu về giao tiếp có ảnh hưởng tới nhân cách trẻ nói chung

Vào những năm đầu của thập kỉ 80,“Giao tiếp” là đề tài được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu Cuối năm 1981, Ban Tâm lý thuộc Viện Triết học của Ủy ban Khoa

học xã hội tổ chức một hội nghị khoa học lớn để bàn về:“ Hoạt động và giao tiếp”

Tháng 12 năm 1982, tại hội nghị tâm lý học toàn quốc lần thứ 6, Trần Trọng Thủy

đã trình bày báo cáo khoa học: “ Giao tiếp - Tâm lý – Nhân cách” Tác giả khẳng định vai

trò quan trọng của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển tâm lý – ý thức – nhân cách Sau đó, nhiều công trình về giao tiếp cũng được nghiên cứu và công bố

Tiếp theo một loạt sách viết về vấn đề giao tiếp của một số tác giả như:

-“ Giao tiếp sư phạm” của Ngô Công Hoàn – Hoàng Anh

-“ Nhập môn khoa học giao tiếp” của Trần Trọng Nư

-“ Vấn đề giao tiếp” của Nguyễn Văn Lộ

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về giao tiếp trên đối tượng là học sinh, sinh viên các trường sư phạm

-“ Nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm” của Nguyễn Thị Thanh Bình – Tạp chí

nghiên cứu giáo dục, tháng 6/ 1991

-“ Đặc điểm giao tiếp của sinh viên” của Trần Trọng Thủy – Tạp chí nghiên cứu

-“ Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” của Ngô Công Hoàn

-“ Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè” của Nguyễn Ánh Tuyết

Trang 32

- “ Giao tiếp – con đường giúp trẻ hình thành nhân cách” – Lê Xuân Hồng, Tạp

2.2.1.2 Nghiên cứu về gia đình có ảnh hưởng tới phát triển ngôn ngữ của trẻ

Mặt khác, cũng có những công trình bắt đầu nghiên cứu đến vai trò của gia đình đối với ngôn ngữ của trẻ nhỏ như:

-“ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển vốn từ ở trẻ 1-3 tuổi” của

Lưu Thị Lan – Nghiên cứu giáo dục, 1989, số 8, tr10

-“ Vai trò của gia đình trong việc sửa tật ngôn ngữ cho trẻ” – Lưu Thị Lan, Nghiên

cứu giáo dục, 1986, số 3, tr8

Những nghiên cứu trên tập trung vào nghiên cứu vấn đề giao tiếp của trẻ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, vào quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp của trẻ từ 0-6 tuổi, nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý… những vấn đề phương pháp luận

và phương pháp nghiên cứu cụ thể giao tiếp của trẻ em Mặc dù vậy, các nghiên cứu trên cũng chưa đề cập tới kiểu giao tiếp mẫu tính trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ Trong khi đó, tương tác mẫu tính lại là tương tác xã hội đầu tiên của trẻ, tạo nên nền tảng tâm lý- nhân cách- ngôn ngữ cho các giai đoạn phát triển tiếp sau của trẻ nhỏ

2.2.2 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

Tương tác là bản chất của giao tiếp do đó tương tác mẫu tính là một bộ phận của giao tiếp nói chung, mặc dù vậy vấn đề PTNN thông qua tương tác mẫu tính hầu như chưa được đặt ra ở GDMN Việt Nam

Một số giáo trình tâm lý học trẻ em như giáo trìnhTâm lý học mầm no (Nguyễn Ánh Tuyết, NXB ĐHQGHN, 2003), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (Từ lọt lòng đến

6 tuổi), In lần thứ 11, (Nguyễn Ánh Tuyết chủ biên) có đề cập tới các kiểu quan hệ mẹ -

con có ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ Những nội dung lý thuyết đã được đề cập phần lớn là được kế thừa từ tâm lý học phương Tây, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào ở Việt Nam để kiểm chứng hoặc để phát huy vào các công trình mang tính ứng dụng khác Và mối quan hệ mẹ - con được trình bày khá sơ lược về nội dung cũng

Trang 33

như nguồn gốc về các kiểu mối quan hệ mẹ - con đã được nghiên cứu như thế nào ở phương Tây

Vì thế, để tìm hiểu sâu hơn về lý thuyết về mối quan hệ đặc thù này, những ai muốn quan tâm phải tìm hiểu thêm các nguồn tài liệu từ các bệnh viện Nhi, các công trình nghiên cứu của các bác sĩ Việc đọc bài viết của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện qua đường link: http://ntfoundation.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1111&Itemid=30

3 là một minh chứng Điều này cũng phản ánh giáo trình tâm lý học trẻ em trong các trường sư phạm mầm non của Việt Nam có một sự kế thừa và hiểu biết chưa đầy đủ về những thuật ngữ nghiên cứu về trẻ đang phổ biến trong nước và thế giới

Vì lẽ đó hầu như chưa có một tường thuật đầy đủ nào về Gắn bó mẹ - con, khái

quát hơn là Gắn bó mẫu tính đối với người học về ngành mầm non Do vậy mà chưa có

công trình nghiên cứu nào có tính chất kiểm chứng lại lý thuyết của Ainsworth, Bowlby, Bruner ở Việt Nam và tiến tới vận dụng các lý thuyết này trong các công trình nghiên cứu ứng dụng khác

Tóm lại, qua việc tìm hiểu việc nghiên cứu PTTN ở trẻ mầm non nói chung và trẻ 9-18 tháng tuổi nói riêng ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy ở nước ta đã có những manh nha cho xu hướng nghiên cứu này, chẳng hạn có đặt ra việc nghiên cứu ảnh hưởng của giao tiếp đối với sự phát triển nhân cách, phát triển ngôn ngữ của trẻ, có đặt ra việc nghiên cứu vai trò của gia đình đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tuy nhiên, một cách chính thức thì vấn đề phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính vẫn chưa hề được đặt ra Vì thế chúng tôi mạnh dạn theo đuổi một hướng nghiên cứu ứng

dụng tương đối mới mẻ ở Việt Nam: “Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính”

Trang 34

Chương 1 TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TUỔI MẦM NON 1.1 Quan niệm về sự “phát triển” và “phát triển ngôn ngữ”

Hiện nay hầu hết các cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non ở nước ta đều cho rằng đối tượng nghiên cứu của mình là quá trình dạy lời nói (tiếng mẹ đẻ)

[26] cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi với các nội dung luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy nói đúng ngữ pháp, phát triển lời nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học chữ ở trường phổ thông Mặt khác nội dung của cuốn giáo trình chủ trương đề ra những phương pháp, biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non Qua đây có thể thấy các tác giả đã

gián tiếp thể hiện quan điểm về thuật ngữ “phát triển” mà mình đang sử dụng Có thể tác giả cho rằng “phát triển” ở đây chủ yếu được hiểu theo từ loại động từ Nghĩa là một loại hành

động của người lớn thể hiện các cách thức tác động sư phạm, tức là người lớn đóng vai trò là chủ thể tác động (cụ thể ở đây là cô giáo mầm non) nhằm mục đích hình thành và nâng cao khả năng ngôn ngữ của trẻ trước tuổi đến trường Điều này ở một góc độ nào đó xem trẻ là đối tượng tương đối thụ động nhận sự tác động có tổ chức giáo dục từ phía người lớn Có lẽ

vì vậy mà trọng tâm của giáo trình hướng nhiều hơn đến việc trình bày các phương pháp, biện pháp, các cách thức hành động để cô giáo mầm non vận dụng nhằm tác động tích cực tới năng lực ngôn ngữ của trẻ nhỏ

Không giống với quan điểm trên, các nhà khoa học trên thế giới lại sử dụng thuật ngữ

“phát triển” theo nghĩa của từ loại danh từ Do vậy từ gốc tiếng Anh được sử dụng là

“development” trong cụm “language development” chứ không phải là “develop” hay

“developping” hay “enhancing” Khi sử dụng theo nghĩa của từ loại danh từ, thì “phát triển”

lại không được hiểu là một loại hành động mà chủ thể tác động là người lớn mà được hiểu là một loại quá trình – quá trình phát triển ngôn ngữ- trong tiến trình phát triển nhân sinh Chủ thể của quá trình này cụ thể là trẻ mầm non tức là trẻ giữ vai trò chủ động trong chính quá

trình phát triển của mình Chính với quan điểm này mà khoa học thế giới xếp phát triển ngôn

ngữ là một bộ phận thuộc bộ môn tâm lí học phát triển Chính vì quan niệm như vậy nên lí luận phát triển ngôn ngữ của thế giới lại rất coi trọng việc nghiên cứu về các cơ chế phát triển ngôn ngữ của trẻ em Từ việc xem xét cơ chế phát triển ngôn ngữ trẻ em từ nhiều phương diện nên một cách logic đã xuất hiện nhiều hệ thống quan điểm lí luận khác nhau về

sự phát triển ngôn ngữ trẻ em (xem phần tổng quan) Và cũng từ đây làm xuất hiện một hệ

thống phong phú và mô tả chân thực quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ

Trong công trình này, “ phát triển ngôn ngữ” được hiểu theo cả hai nghĩa danh từ và

động từ, tức là quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ Việc cố

Trang 35

gắng hiểu thấu các cơ chế phát triển ngôn ngữ của con người nói chung, trẻ nhỏ nói riêng giúp chúng ta sẽ đưa ra các phương pháp, biện pháp nhằm can thiệp sớm hoặc hỗ trợ cải thiện chất lượng lĩnh hội và phát triển ngôn ngữ ở giai đoạn tuổi mầm non; đồng thời đưa ra các tiêu chí phổ quát đánh giá các mốc phát triển ngôn ngữ cần đạt của trẻ ở mỗi một độ tuổi nhất định của tất cả các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau

1.2 Tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ

1.2.1 Quan niệm về “tương tác mẫu tính”và “phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính”

1.2.1.1 Tương tác mẫu tính được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là maternal interaction

[52,61,62,70], theo nghĩa hẹp đó là hành vi phản ứng, tương tác giữa người mẹ và trẻ nhỏ Hành vi tương tác mẫu tính đặc trưng cho năng lực và kĩ năng giao tiếp của mẹ và trẻ TTMT bao gồm nhiều dạng như tương tác thể chất, tương tácngôn ngữ v.v…, được xem là những điều kiện quan trọng để phát triển nhận thức – trí tuệ, phát triển tình cảm- xã hội, phát triển ngôn ngữ của trẻ Theo nghĩa rộng, hành vi tương tác mẫu tính cũng là hành vi của người lớn trong trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non Do công việc chăm sóc trẻ trước tuổi học đường có nhiều nét đặc thù nên giáo viên mầm non cũng cần có những phẩm chất và năng lực của một người mẹ

Trong luận án này, chúng tôi hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm, tuy nhiên để tiến hành thực nghiệm sư phạm thuận lợi nhằm đạt được kết quả điển hình trong mối quan hệ điển hình nhất, chúng tôi chọn đối tượng thực nghiệm là cặp mẹ - trẻ (theo nghĩa hẹp ở trên)

1.2.1.2 Phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính

Phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính là việc thực hiện các hành vi phản ứng, tương tác kiểu của người mẹ nhằm hỗ trợ trẻ đạt được các quá trình tâm lý liên quan đến ngôn ngữ, lĩnh hội các phương tiện giao tiếp, lĩnh hội và rèn luyện các kĩ năng giao tiếp để hoạt động giao tiếp nói chung và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng, vận dụng những kĩ năng giao tiếp vào hoạt động giao tiếp để đạt được hiệu quả hơn

Nhằm vén bức màn bí mật về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ, các nhà nghiên cứu trên thế giới đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ gắn bó, đến sự tương tác giữa mẹ và trẻ Họ cho mối quan hệ này chính là một nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻ nhỏ Chomsky [87] cho rằng vì tính phức tạp của quá trình lĩnh hội ngôn ngữ nên trẻ không thể nào học ngôn ngữ thông qua lời nói của người lớn, bởi lẽ những mẫu nói năng của người lớn thường kém chuẩn mực, rời rạc và phức tạp Ông cho năng lực ngôn ngữ của trẻ nhỏ là mang tính bẩm sinh Không bao lâu sau những tuyên bố của

Chomsky, hàng loạt những nghiên cứu về ngôn ngữ trực tiếp với trẻ nhỏ (Child-directed

Trang 36

speech- CDS) hay là lời nói mẫu tính (maternal speech)[84] đã xuất hiện Sau lần chứng

minh đầu tiên về rất nhiều điểm khác nhau của CDS với cách người lớn nói với người lớn, một câu hỏi nghiên cứu được đặt ra đặc biệt liên quan tới vai trò của CDS tới sự lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻ nhỏ [112] Tiếp đó là những nghiên cứu về các khía cạnh như sự điều chỉnh tinh tế về sự phức tạp trong khái niệm và trong cấu trúc trong ngôn ngữ của người lớn cho phù hợp với các trình độ phát triển của trẻ nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội ngôn ngữ Bên cạnh đó, trong những hành vi tương tác của người lớn, việc người lớn dựa theo những phản ứng từ trẻ để phát ngôn cũng được nhấn mạnh như là những yếu tố thuận lợi giúp trẻ trau dồi ngôn từ

Theo đó, với quan điểm thực tiễn-xã hội trong phát triển ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội ngôn ngữ như một phần toàn vẹn từ những tương tác xã hội với những người xung quanh [Bruner,1983,76] Bruner cũng là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi giao tiếp tiền ngôn ngữ để hiểu về quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, một phần quan trọng trong đó là việc trẻ em nỗ lực để truyền đạt thông tin như thế nào ở giai đoạn tiền ngôn ngữ Rõ ràng là trong thực tế, trước khi trẻ bắt đầu có thể sản sinh được những

từ đầu tiên, trẻ hiểu được cần phải giao lưu trao đổi và dần dần học được cách nhận ra ý định của mình như thế nào- đầu tiên bằng cách sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Trong quá trình học hỏi này, hoạt động xã hội quen thuộc đầu đời mà ở đó mẹ hoặc bảo mẫu lí giải được những tín hiệu hoặc gắn nghĩa cho những tín hiệu đó cũng như khả năng dõi theo những tâm điểm chú ý của trẻ nhỏ là một chìa khóa quan trọng để trẻ học ngôn ngữ

Mặt khác có thể thấy rằng thông qua việc tìm hiểu nguồn gốc của khái niệm Sự tương tác mẫu tính, vấn đề tương tác giữa mẹ và trẻ nói riêng và giữa người lớn và trẻ nói chung vốn là hệ quả từ sự giao thoa giữa thuyết Sự gắn bó (Attachment Theory- John

Bowlby,1983[123]) và các nghiên cứu khác của khoa học tâm lý-ngôn ngữ học phát triển

Từ "gắn bó" là một khái niệm trong tâm lý học, trước hết là mô tả một phương thức ứng xử trong quan hệ mẹ - con, đặc biệt trong năm đầu, bao gồm quan hệ thể chất (xác thịt) cũng như về tâm lý Người mẹ ở đây không nhất thiết là mẹ đẻ, mà chính là người chăm sóc hàng ngày, tức là mẹ nuôi

Từ khái niệm về “gắn bó”, ta cũng có thể suy ra tương tác mẫu tính cũng được xem

là một hoạt động tâm lý xuất phát chính trên nền tảng của sự gắn bó mẫu tử nói riêng và sự gắn bó đồng loại nói chung Về phần mình, tương tác mẫu tính là điều kiện quyết định để hình thành sự gắn bó nói trên Đồng thời tương tác mẫu tính cũng là một biểu hiện sinh động của sự gắn bó, là căn cứ để đánh giá chất lượng của mối quan hệ gắn bó mẹ con nói riêng và mối quan hệ giữa trẻ với mọi người xung quanh

Trang 37

Thuyết sự gắn bó mô tả quá trình hình thành và biến đổi của mối quan hệ lâu dài giữa

người với người Nguyên lý quan trọng nhất của nó là một đứa trẻ cần để phát triển một mối quan hệ với ít nhất một người chăm sóc chính để cho sự phát triển xã hội và tình cảm của chính bản thân trẻ diễn ra bình thường Thuyết về sự gắn bó là một nghiên cứu liên ngành bao gồm các lĩnh vực tâm lý, tiêu hóa, và dân tộc học Sau Thế chiến II, trẻ vô gia cư và mồ côi đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, Liên Hợp Quốc đã yêu cầu bác sĩ tâm thần và tâm lý Bowlby đã viết một cuốn sách nhỏ về vấn đề này Về sau, Bowlby đã phát triển và

hoàn thiện Thuyết Gắn bó

Trẻ sơ sinh sẽ gắn bó với người lớn, những người luôn rất nhạy cảm và đáp ứng, tương tác với trẻ, thông thường là người chăm sóc trẻ trong một khoảng thời gian từ sáu tháng đến hai tuổi Khi trẻ bắt đầu biết bò và chập chững biết đi, chúng bắt đầu sử dụng các quan hệ gắn bó (người quen) như là một cơ sở an toàn để khám phá mọi điều xung quanh Phản ứng của cha mẹ dẫn đến việc hình thành các kiểu gắn bó; những kiểu gắn bó đến lượt mình lại dẫn đến hình thành một thế giới bên trong định hướng mỗi cá nhân nhận thức, cảm xúc, suy nghĩ và sự mong đợi về các mối quan hệ sau này Nỗi lo lắng về sự chia cắt hay nỗi đau buồn khi mất mát một quan hệ gắn bó được coi là một phản ứng bình thường và mang tính thích nghi đối với trẻ sơ sinh Những hành vi này có thể là một sự tiến hóa bởi vì chúng làm tăng khả năng sống sót tồn tại của trẻ em

Hành vi của trẻ sơ sinh liên quan đến Sự gắn bó chủ yếu là tìm kiếm sự gần gũi Để xây dựng một lý thuyết toàn diện về bản chất của Sự Gắn bó giai đoạn sớm, Bowlby khám

phá một loạt các lĩnh vực, bao gồm cả sinh học, tiến hóa, lý thuyết quan hệ đối tượng (một chi nhánh của phân tâm học ), lí thuyết điều khiển hệ thống, và các lĩnh vực phong tục học

và tâm lý học nhận thức Sau những bài viết sơ bộ từ năm 1958 trở đi, Bowlby xuất bản

một nghiên cứu đầy đủ trong bộ 3 tập Sự Gắn bó và Mất mát (Attachment and

Loss)(1969-1982)[123]

Nghiên cứu của nhà tâm lý học phát triển người Đức, Maria Ainsworth trong những

năm 1960 và 70 tăng cường các khái niệm cơ bản, giới thiệu khái niệm "cơ sở an toàn” (“secuse base”) [47&48] và phát triển một lý thuyết về một số kiểu gắn bó trẻ sơ sinh: gắn

bó an toàn, gắn bó không an toàn- lảng tránh và gắn bó không an toàn - mâu thuẫn Kiểu gắn bó thứ tư: gắn bó vô tổ chức, đã được bổ sung sau đó

Trong những năm 1980, lý thuyết đã được mở rộng tới Sự gắn bó ở người lớn

Những tương tác khác có thể được hiểu là bao gồm cả thành phần của hành vi gắn bó, bao gồm mối quan hệ bạn bè ở mọi lứa tuổi, là sự lãng mạn và hấp dẫn giới tính và phản ứng nhu cầu chăm sóc của trẻ sơ sinh hoặc trẻ bị bệnh và của cả người già

Trang 38

Ban đầu, các nhà tâm lý học đã chỉ trích Bowlby và thuyết của ông, và cộng đồng phân

tâm học tẩy chay ông đã đưa ra những nguyên lý tâm học Tuy nhiên, lý thuyết Sự gắn bó về sau

đã trở thành "phương pháp chi phối đến sự hiểu biết phát triển xã hội giai đoạn sớm, và đã làm tăng đột biến lớn của những nghiên cứu thực nghiệm về sự hình thành các mối quan hệ gần gũi của trẻ em” [Schaffer R (2007), 183]

Lý thuyết Sự gắn bó đã được sửa đổi đáng kể từ kết quả của nghiên cứu thực nghiệm, nhưng các khái niệm ban đầu đã phổ biến hơn và dần được chấp nhận Lý thuyết

Sự gắn bó đã hình thành cơ sở của phương pháp điều trị mới và khái niệm của nó đã được

sử dụng trong việc xây dựng chính sách xã hội và chăm sóc trẻ em nhằm hỗ trợ các mối quan hệ gắn bó ở giai đoạn sớm

Các khái niệm được lý thuyết Sự gắn bó xây dựng là các khái niệm maternal attachment, maternal responsiveness, maternal interaction, maternal sensitive…Trong số những khái niệm này chúng tôi lựa chọn khái niệm maternal interaction làm cơ sở lí luận

cho đề tài của luận án bởi lẽ bản thân nội hàm của nó có sự liên hệ trực tiếp tới các phương tiện giao tiếp nói chung và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ nói riêng Việc Việt hóa khái niệm này cần có những cân nhắc cụ thể Một số nhà nghiên cứu ở Khoa Giáo dục Đặc Biệt,

trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã từng dịch thuật ngữ “maternal responsiveness” thành

“phản ứng bà mẹ” Theo đó, cũng có thể suy ra “maternal interaction” là “tương tác bà mẹ” Tuy cách dịch theo hướng này bám sát câu chữ văn bản quốc tế và thuần Việt, nhưng

khiến cho nội hàm khái niệm bị thu hẹp đáng kể Theo như Thuyết về sự Gắn bó, cũng như các quan niệm nghiên cứu của các học giả Tây phương, sự gắn bó, tương tác của trẻ không chỉ giới hạn trong phạm vi là với mẹ mà còn được mở rộng ra là tương tác với người lớn xung quanh Và bất kì người lớn nào khi tiếp xúc với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ dưới hai tuổi, đều xuất hiện những phương cách giao tiếp giống như là kiểu giao tiếp của các bà mẹ Như vậy, cách dịch của Khoa Giáo dục Đặc biệt mới chỉ chạm tới sự phản ứng hay tương tác của một kiểu quan hệ, dù là kiểu quan hệ điển hình Quan điểm của luận án là

“maternal” không chỉ có nội hàm là một kiểu quan hệ mà hơn thế nữa còn có nội hàm gắn

với một phẩm chất Do đó, chúng tôi không dịch là phản ứng bà mẹ hay tương tác bà mẹ,

mà dịch là phản ứng mẫu tính và tương tác mẫu tính “Mẫu tính” về mặt từ loại cũng là tính từ, tức là từ loại tương ứng với từ “maternal”

Với cách dịch của luận án, chúng tôi có thể vận dụng và phát triển những thành tựu nghiên cứu trên không chỉ vào việc tư vấn cho các bà mẹ mà còn vào việc tư vấn cho những người khác tham gia vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt hơn cả vào việc

Trang 39

đào tạo đội ngũ GVMN, phát triển khả năng tương tác mẫu tính không chỉ là phẩm chất

cần thiết của một người mẹ mà còn là một phẩm chất, kĩ năng quan trọng của một GVMN

Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu được nhất quán và thể hiện rõ nét nhất, chúng tôi vẫn tiến hành chỉ quan sát và tiến hành thực nghiệm trong quá trình tương tác, giao tiếp giữa mẹ và bé, tức là quá trình tương tác của một kiểu quan hệ điển hình nhất – quan hệ mẫu tử

1.2.2 Đặc trưng của tương tác mẫu tính

1.2.2.1 Tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ tự nhiên, mang tính bẩm sinh

1.2.2.1.1 Tương tác mẫu tính thể hiện bản chất của quá trình giao tiếp với trẻ nhỏ

Giao tiếp là một phạm trù trung tâm của tâm lý học, là phạm trù chức năng thực tiễn của ngôn ngữ học Tư tưởng về giao tiếp được đề cập từ thời kì Cổ Đại qua thời kì Phục Hưng và đến giữa thế kỉ XX thì hình thành nên một chuyên ngành: Tâm lí học giao tiếp Ngay từ khi còn là tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ được thống nhất hoàn toàn

Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý phức tạp của con người Từ trước đến nay, có rất nhiều định nghĩa về giao tiếp và mỗi định nghĩa đó lại nhấn mạnh những mặt khác nhau của giao tiếp

Nhà tâm lý học người mỹ - Osgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Theo ông giao tiếp là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau [176] Bên cạnh đó, nhà tâm lý học người Anh – M.Argyle đã mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau Theo M Argyle giao tiếp thông tin mà nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt tâm lý và chuyển dịch không gian Từ góc độ hoạt động, nhà tâm lý học Mỹ - T.Sibutanhi cũng làm rõ khái niệm liên lạc như là một hoạt động mà nó chế định

sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình giao tiếp hay như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành

động: “ Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hóa sự thích ứng hành

vi lẫn nhau của con người Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành phương tiện liên lạc khi con người sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”

Vưgotxki đã đưa ra khái niệm về giao tiếp như sau: “ Giao tiếp là sự thông báo hay quan hệ qua lại thuần túy giữa người – người như là một sự trao đổi quan điểm, cảm xúc”

Để cắt nghĩa sâu sắc hơn cho khái niệm giao tiếp, Adamson, B.L đã tìm về từ

nguyên của từ “comunication” Bà cho rằng, giao tiếp được xây dựng ý nghĩa theo từ nguyên

Trang 40

là “comonness”, trong đó bao gồm một chuỗi những tương tác thể hiện nhu cầu chia sẻ thông tin [45] Hành động và tình cảm của con người vốn phong phú Giao tiếp bao gồm quá trình điều chỉnh đối nhân xử thế dựa trên tiếng nói chung – (tiếng nói chung được hiểu là sự đồng

cảm dựa trên sự chia sẻ về cảm xúc và quan niệm giữa hai hay nhiều người) Đồng tình với

quan điểm trên của Adamson, B.L., chúng tôi cũng nhận thấy tương tác là một khâu đặc trưng của quá trình giao tiếp Và tương tác mẫu tính là một bộ phận quan trọng trong hoạt

động giao tiếp của con người bởi kiểu giao tiếp này được đặc trưng bởi kiểu quan hệ đặc thù của các nhân vật giao tiếp cũng như bởi những nét đặc thù của các nhân vật giao tiếp

1.2.2.1.2 Tương tác mẫu tính mang tính bẩm sinh, nói cách khác, tương tác mẫu tính có nguồn gốc tự nhiên

Giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người mà ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp hiệu quả và trọng yếu nhất Vì vậy, nguồn gốc ra đời của ngôn ngữ đã và đang được quan tâm

Nhiều giả thuyết: thuyết tượng thanh, thuyết về tiếng kêu động vật, thuyết về tiếng kêu trong phối hợp lao động, thuyết cảm thán bộc lộ tâm lí tình cảm, thuyết quy ước xã hội…đã lần lượt xuất hiện Tuy nhiên, những thuyết này đều có mặt hạn chế, chưa thể nhìn nhận hết được nguồn gốc của giao tiếp và ngôn ngữ

Với sự ra đời của triết học biện chứng, vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ được xem xét

và phân tích một cách toàn diện hơn, khoa học và hợp lí hơn: con người là chủ thể sáng tạo

và sử dụng ngôn ngữ, vậy phải tìm hiểu sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với nghiên cứu nguồn gốc con người cả trong quá trình phát sinh giống nòi lẫn quá trình phát sinh và phát triển của mỗi cá thể

Có thể nói, tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ những đặc điểm sinh học độc đáo của con người Cụ thể là:

- Cấu tạo sinh học của con người:

Hàng triệu năm trước đây, tổ tiên của loài người vốn là loài vượn người sống trên cây trong những cánh rừng tiền sử Sau nhiều biến động, loài vượn người đã buộc phải rời khỏi ngọn cây cao để xuống sinh sống trên mặt đất Từ đó, cấu tạo của con người là đầu hướng thượng và chân bộ hành, dáng đứng thẳng cũng làm cho tầm mắt của con người rộng và xa hơn, bộ ngực nở hơn đồng thời các cơ quan của bộ máy phát âm phát triển thuận tiện đưa luồng không khí từ bụng tới phổi đến khoang mũi nên cơ quan phát âm của con người phát triển (khoang miệng, mũi lớn hơn động vật), vị trí thanh đới cao giúp cho việc phát âm trở lên dễ dàng, các hệ thống nguyên âm, âm vị phong phú hơn Các nhà khoa học xem đây là tiền đề sinh học trước tiên giúp con người có những cơ sở vật chất để sản

Ngày đăng: 25/10/2013, 15:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1b: Các kiểu nhận thức của người mẹ về mục đích của tương tác mẫu tính - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 1b Các kiểu nhận thức của người mẹ về mục đích của tương tác mẫu tính (Trang 86)
Bảng 3: Thực trạng thời lượng của 1 lần tương tác giữa  mẹ - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 3 Thực trạng thời lượng của 1 lần tương tác giữa mẹ (Trang 89)
Bảng 6a: Thực trạng thói quen mẹ tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 6a Thực trạng thói quen mẹ tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi (Trang 91)
Bảng 6c: Thói quen tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi  của mẹ chia theo mức độ - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 6c Thói quen tương tác với trẻ 9-18 tháng tuổi của mẹ chia theo mức độ (Trang 92)
Bảng đánh giá thực trạng về sự chuẩn bị của người mẹ đối với việc phát triển ngôn  ngữ thông qua tương tác mẫu tính - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
ng đánh giá thực trạng về sự chuẩn bị của người mẹ đối với việc phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính (Trang 94)
Hình ảnh minh họa cho các năng lực tâm lí đặc biệt là năng lực cùng chú ý hay còn gọi - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
nh ảnh minh họa cho các năng lực tâm lí đặc biệt là năng lực cùng chú ý hay còn gọi (Trang 116)
Bảng 13: So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN sau TN - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 13 So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN sau TN (Trang 141)
Bảng 12: So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN trước TN - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 12 So sánh kết quả của nhóm ĐC và TN trước TN (Trang 141)
Bảng 17: Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC3 và TN3 (trước và sau TN) - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 17 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC3 và TN3 (trước và sau TN) (Trang 143)
Bảng 19b. Kiểm định nhóm tổng nhóm ĐC và TN trước và sau TN - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 19b. Kiểm định nhóm tổng nhóm ĐC và TN trước và sau TN (Trang 144)
Bảng 20: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 1 và TN 1 - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 20 Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 1 và TN 1 (Trang 145)
Bảng 21: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 2 và TN 2 trước và sau TN - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 21 Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 2 và TN 2 trước và sau TN (Trang 145)
Bảng 22: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 3 và TN 3 - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 22 Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC 3 và TN 3 (Trang 146)
Bảng 23: Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC4 và TN4 trước và sau TN - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 23 Sự thay đổi về năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của nhóm ĐC4 và TN4 trước và sau TN (Trang 147)
Bảng 25: So sánh điểm số của nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo 4 nội dung từ vựng, phát âm, - Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9  18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Bảng 25 So sánh điểm số của nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo 4 nội dung từ vựng, phát âm, (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w