ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ HẰNG HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH CÁC PHÉP LIÊN KẾT VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ HẰNG
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH
CÁC PHÉP LIÊN KẾT VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ HẰNG
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH
CÁC PHÉP LIÊN KẾT VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Ngữ văn
Mã số: 8.1401.11
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRỌNG HOÀN
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn, sự kính trọng đặc biệt đến TS Nguyễn Trọng Hoàn - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn
thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo, giáo viên và học sinh tại Trường THCS Thăng Long, Ba Đình, Hà Nội
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song
có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
TÁC GIẢ
Trần Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận của hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Cơ sở lý luận về các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở 13
1.1.3 Môn Văn học trường Trung học cơ sở 31
1.2 Cơ sở thực tiễn hướngdẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 32
1.2.1 Đối với giáo viên 32
1.2.2 Đối với học sinh 32
1.2.3 Kết quả khảo sát thực tiễn 33
1.2.4 Sự cần thiết hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 38
1.2.5 Một số nhận xét về thực trạng hướngdẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 39
Kết luận chương 1 41
Chương 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH CÁC PHÉP LIÊN KẾT VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ 42
Trang 62.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành
các phép liên kết văn bản 42
2.1.1 Bảo đảm mục tiêu môn học 42
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với lứa tuổi vào đặc điểm học sinh Trung học cơ sở 42
2.1.3 Nguyên tắt đảm bảo phù hợp với đặc điểm, nội dung chương trình môn Ngữ văn Trung học cơ sở 43
2.1.4 Bảo đảm tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 43
2.1.5 Biên soạn theo tinh thần tích hợp 43
2.1.6 Bám sát đặc trưng thể loại của từng văn bản 44
2.2 Hệ thống hóa một số sai lầm phổ biến của HS khi thực hành các phép liên kết văn bản bậc Trung học cơ sở 45
2.3 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản bậc Trung học cơ sở 47
2.3.1 Giúp HS tạo động cơ và biết cách tổ chức học tập môn Ngữ Văn 47
2.3.2 Khơi gợi động cơ thành công, củng cố lòng tin của HS 48
2.3.3 Tăng cường ý thức, trách nhiệm của người học trong quá trình dạy học Ngữ văn 49
2.3.4 Chú ý phương pháp học, phương pháp thực hành các phép liên kết câu 50
2.4 Thiết kế một số tình huống hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản bậc THCS 52
2.4.1 Tăng cường bổ sung, thiết lập, hoàn thiện hệ thống kiến thức về các phép liên kết câu 52
2.4.2 Hướng dẫn học sinh đặc điểm nhận diện của các phép liên kết trong văn bản 52
2.4.3 Hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết đoạn văn thông qua một số dạng bài tập thực hành 54
Trang 72.4.4 Rèn luyện các kỹ năng thực hành phép liên kết văn bản bậc Trung
học cơ sở 60
Kết luận chương 2 62
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 63
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 63
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 63
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 64
3.3 Nội dung thực nghiệm 64
3.3.1 Quy trình thực nghiệm 64
3.3.2 Nội dung cần thực nghiệm 66
3.3.3 Điều kiện thực nghiệm 67
3.4 Phương pháp thực nghiệm 68
3.5 Kết quả thực nghiệm 69
3.5.1 Tiêu chí đánh giá thực nghiệm 69
3.5.2 Kết quả thực nghiệm 69
3.5.3 Kết luận chung về dạy học thực nghiệm 76
Kết luận chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Phụ lục 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 84
Phụ lục 2: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 88
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Về liên kết nội dung và các phương thức liên kết được sử dụng
trong hai bình diện của nó 17
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp các phương thức liên kết và khu vực sử dụng chúng 24
Bảng 1.3: Một số quan điểm riêng giữa hai quan niệm về liên kết 29
Bảng 1.4: Thực trạng phương pháp dạy học của giáo viên 34
Bảng 1.5: Ý kiến của GV hình thức hướng dẫn học sinh thực hành các phép
liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 35
Bảng 1.6: Ý kiến của GV THCS về vai trò, ý nghĩa hướng dẫn học sinh thực
hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 36
Bảng 1.7: Ý kiến của GV về những khó khăn khi Hướng dẫn học sinh thực hành
các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 37
Bảng 2.1: Đặc điểm nhận diện các phép liên kết trong văn bản 53 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp đánh giá của người học về biện pháp hướng dẫn HS
thực hành các phép liên kết văn bản của giáo viên 71
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 75
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các phép liên kết trong văn bản 15
Biểu đồ 1.1 Mức độ sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học
của giáo viên 34
Biểu đồ 1.2 Sự cần thiết hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn
bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 39
Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 75
Trang 10
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phát triển toàn diện năng lực người học vừa là định hướng vừa là mục tiêu của giáo dục được nêu trong các văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước và Quốc hội trong thời gian gần đây Môn Ngữ văn không chỉ hình thành ở người học năng lực văn học và Tiếng Việt mà quan trọng hơn là hình thành và phát triển cho học sinh năng lực thực hành, vận dụng thông qua việc tạo lập văn bản
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục Chính
vì thế những câu hỏi như: Làm thế nào để có một giờ học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho chính xác, khách quan, công bằng? luôn có tính chất thời sự và thu hút sự quan tâm của tất cả các giáo viên (GV) và cán bộ quản lí giáo dục
Hướng dẫn học sinh thực hành là phương pháp dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin ; chú trọng
cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
Ngữ văn là môn học được tích hợp từ ba phân môn là Văn, Tiếng Việt,
Trang 11Tập làm văn (trước đó ba phân môn này là ba môn độc lập, có SGK riêng) gồm hai phần ngữ và văn gắn bó với nhau, bởi “ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn học và văn học chính là nghệ thuật của ngôn ngữ” [14]
Là môn học tích hợp, nhưng về cơ bản nó vẫn là môn học nghệ thuật (Văn vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất), đồng thời nó lại là môn học thực hành (Tập làm văn được học bài bản và hệ thống) Trên đại thể, có thể xem Ngữ văn là môn học về cái đẹp với hai khâu liên hoàn: cảm thụ cái đẹp trong văn chương (Văn), ngôn ngữ (Tiếng Việt) để tạo lập ra cái đẹp trong văn bản nói và viết (Tập làm văn) Do vậy, hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết câu là biện pháp hữu hiệu giúp học sinh hiểu, cảm thụ nét đẹp văn chương, cách thức tạo lập văn bản nói và viết đồng thời hoàn chỉ bài tập làm văn đạt hiệu quả
Hiện nay, trong Chương trình môn Ngữ Văn lớp 9 bậc THCS, môn Ngữ văn có vị trí rất quan trọng Bài liên kết câu và liên kết đoạn văn là bài học quan trọng đối với học sinh lớp 9 Thông qua liên kết câu và liên kết đoạn văn giúp học sinh nâng cao nhận thức, kĩ năng sử dụng một số biện pháp liên kết câu và liên kết đoạn văn đặc biệt học sinh biết cách phâ biệt, nhận biết một số biện pháp liên kết thường dùng Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở các nhà trường THCS, kĩ năng tạo lập văn bản với cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo, diễn đạt trong sáng của học sinh chưa được chú trọng một cách đúng mức Đặc biệt với học sinh các em nhận thức về vai trò, ý nghĩa của thực hành các phép liên kết câu chưa đầy đủ, ít rèn luyện, nhiều em nhầm lẫn giữa các phép liên kết, lúng túng trong việc thực hành Do vậy, kết quả học tập còn chưa đạt
kỳ vọng Do vậy, nghiên cứu lý luận cùng thực trạng để đề xuất biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS là điều vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, đề tài “Hướng dẫn học
sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS” là thể nghiệm có giá trị và ý nghĩa đối với việc thực hiện chương trình
dạy học Làm văn ở nhà trường phổ thông sau năm 2015
Trang 12Tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí đã biên soạn giáo trình
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, tập 2 [2] có tất cả 8 chương trong đó có riêng một chương đề cập đến việc hướng dẫn học sinh cách thức thực hành
Cuốn sách “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” [1] do tác giả Lê A Nội
dung cuốn sách đã đề cập đến là thuật ngữ “Phương pháp dạy học thực hành
Ngữ văn” Trong đó, việc hướng dẫn học sinh thực hành sẽ giúp học sinh biết
cách rèn luyện các phương pháp đặc thù trong dạy học tiếng Việt như phương pháp phân tích ngôn ngữ, rèn luyện theo mẫu, thông báo giải thích là những phương pháp đặc thù trong dạy học tiếng Việt Có thể nói bài viết này là một gợi
ý rất tốt cho việc tổ chức các hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện để dạy Tiếng Việt, trong đó có môn Ngữ văn bậc THCS
Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở” [50] đã giới thiệu một số quan điểm cơ bản trong việc biên soạn hai bộ sách trên gồm: Quan điểm tích hợp; Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS Có thể thấy, đây là tiền đề quan trong định hướng để giáo viên soạn giáo án sách giáo khoa Ngữ Văn đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông mới cần chú trọng đến các năng lực thực hành cho học sinh
Tác giả bài viết “Năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương của học sinh THPT”, đã đưa ra một trong những năng lực cần hình thành cho học sinh là giúp học sinh hiểu, vận dụng kiến thức từ môn học vào thực hành giải bài tập
Để đọc hiểu, học sinh cần hiểu câu được liên kết bởi cách thức nào Đọc hiểu
Trang 13là mục đích cuối cùng và là hiệu quả mong muốn để người đọc lĩnh hội được giá trị đích thực của tác phẩm
Tác giả Trần Đình Sử đã nghiên cứu bài viết “Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong dạy học Ngữ văn hiện nay” Kết quả nghiên cứu bài viết
đã đưa ra, bản chất của dạy Văn là cần cho học sinh hiểu và đọc văn Dạy văn bên ngoài việc hình thành các kỹ năng đọc hiểu bên cạnh đó cần có cách thức giúp học sinh hiểu, cảm thụ các nét đẹp của văn học thông qua hướng dẫn học sinh thực hành Vì vậy, theo tác giả, ở nước ta hiện nay hầu như chưa có khái niệm đọc hiểu văn bản và còn coi việc đọc hiểu văn bản là một việc làm giản đơn, cứ biết chữ là có thể đọc hiểu được đặc biệt học sinh chưa hiểu các câu từ, dòng, đoạn được liên kết với nhau bằng cách nào, liên kết để làm gì? [43, tr.56]
Năm 1985 với sự ra đời cuốn "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" của Trần Ngọc Thêm, vấn đề liên kết văn bản mới chính thức được đặt ra ở Việt Nam Trần Ngọc Thêm đã nghiên cứu liên kết văn bản từ quan điểm liên kết thuộc hệ thống - cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả Diệp Quang Ban có nghiên cứu "Văn bản và liên kết trong tiếng Việt" năm 1999, đã giới thiệu về liên kết phi cấu trúc tính Có thể đây là cuốn sách đầu tiên đưa ra những lý giải, hệ thống nghiên cứu về liên kết văn bản, đoạn văn
Cũng cần nhắc rằng, dưới sự hướng dẫn của nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban, các học viên Phạm Thu Trang (2001), Dương Thị Bích Hạnh (2003), Phan Thị Thu Hà (2004) đã thực hiện thành công các luận văn thạc sĩ thuộc lĩnh vực này Chúng tôi sử dụng các tài liệu trên đây làm cơ sở cho phần lí thuyết và trong quá trình thực hiện đề tài những tài liệu này còn là những gợi ý tốt cho hướng triển khai đề tài
3 Mục đích
Đề tài góp phần phát huy tính thiết thực qua dạy học thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nhằm rèn
Trang 14luyện kĩ năng cần thiết cho lứa tuổi học sinh THCS Từ đó góp phần giáo dục, rèn luyện khả năng nói và viết một cách uyển chuyển cho học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội
Hướng dẫn học sinh hiểu và thực hành các phép liên kết nhằm trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng; trên cơ sở đó hình thành cho các em những thói quen tích cực, hạn chế những hành vi và thói quen tiêu cực trong các tình huống giao tiếp cụ thể
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực trạng liên qua tới luận văn
- Đề xuất một biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong dạy học Ngữ văn cấp THCS
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và cần thiết của một số biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong dạy học Ngữ văn cấp THCS
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động thực hành các phép liên kết để tạo lập văn bản của học sinh trong dạy học môn Làm văn ở THCS theo định hướng phát triển năng lực
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong dạy học Ngữ văn ở bậc THCS
6 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, nếu xây dựng được các giải pháp phù hợp nhằm hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong tạo lập văn bản sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn cấp Trung học cơ sở
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu lí luận: Đọc và phân tích
Trang 15một số tài liệu liên quan tới dạy học thực hành, liên kết văn bản, các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Sử dụng Ankét để đánh giá ý kiến của giáo viên và HS THCS về hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản cấp Trung học cơ sở
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đánh giá tính cần thiết và khả thi, hiệu quả của các biện pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong tạo lập văn bản sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn cấp Trung học cơ sở
8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm có 3 phần:
Mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu
Nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nguyên tắc và biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành các
phép liên kết văn bản trong dạy học Ngữ văn cấp THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Văn bản
Theo nghĩa rộng, văn bản là vật truyền tin như giấy tờ, tài liệu, sách vở đến các loại câu đối Văn bản, theo nghĩa rộng nhất, văn bản được hiểu là vật mang tin được ghi bằng kí hiệu hay bằng ngôn ngữ, nghĩa là bất cứ phương tiện nào dùng để ghi nhân và truyền đạt thông tin từ chủ thể này đến chủ thể khác
Theo nghĩa hẹp, văn bản là khái niệm dùng để chỉ các giấy tờ, các tài liệu, các hồ sơ được hình thành trong quá trình của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế,… Theo nghĩa này, các giấy tờ, công văn dùng để quản lý và điều hành các hoạt động của cơ quan, tổ chức như: chỉ thị, thông tư, thông báo, đề án, dự án, nghị quyết, quyết định, báo cáo,… đều được gọi là văn bản Ngày nay, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức
Trong phạm vi nhà trường phổ thông, theo Đỗ Ngọc Thống có thể coi quan niệm về văn bản trong Chương trình môn Tiếng Anh (2012) của Australia là quan niệm chung nhất:“Các văn bản cung cấp phương tiện cho giao tiếp Chúng có thể được viết, nói hoặc là đa phương thức; có thể với hình thức in ấn hoặc các hình thức trực tuyến / kỹ thuật số Văn bản đa phương thức có sự kết hợp ngôn ngữ với các phương tiện khác như hình ảnh thị giác,
âm thanh hoặc lời nói, như trong phim hoặc phương tiện máy tính truyền thông Nhiều nhiệm vụ mà HS phải thực hiện trong và ngoài trường có liên quan đến sự hiểu biết và tạo lập các loại văn bản như văn bản hư cấu tưởng tượng, văn bản thông tin, văn bản thuyết phục, văn bản truyền thông đại
Trang 17chúng, văn bản nhật dụng và các văn bản công vụ [116]
Xuất phát từ các tiêu chí khác nhau, người ta còn chia văn bản thành các dạng như sau: Văn bản văn học (literary text) và Văn học thông tin (informational text)
Theo Đỗ Ngọc Thống Chương trình môn Tiếng Anh (2012) của Australia định nghĩa khái niệm văn bản văn học như sau:“Thuật ngữ "văn học" dùng để chỉ những văn bản của quá khứ cũng như hiện tại qua một loạt các bối cảnh văn hóa có giá trị về hình thức và phong cách, được công nhận là
có giá trị lâu bền hoặc gía trị nghệ thuật Trong khi bản chất của những gì cấu thành văn bản văn học là năng động và phát triển, chúng được xem là có giá trị cá nhân, giá trị xã hội, giá trị văn hóa, giá trị thẩm mỹ và khả năng làm giàu kinh nghiệm của học sinh Văn học bao gồm một loạt các hình thức như: tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn và kịch; văn bản hư cấu cho thanh niên và trẻ
em, văn bản đa phương thức như phim, và một loạt các văn bản phi hư cấu
Văn bản văn học cũng bao gồm những đoạn trích từ văn bản dài hơn Điều này cho phép một loạt các văn bản văn học được học ở bất kỳ trình độ (lớp) nào với mục đích học thật kỹ hoặc để so sánh [116]
Định nghĩa trên đã trình bày khái niệm văn bản văn học theo hai cách hiểu Theo nghĩa rộng, văn bản văn học chỉ tất cả các văn bản sử dụng ngôn
từ một cách có nghệ thuật (tất cả nhữngvăn bản như thơ, truyện, kịch, hịch, cáo, chiếu, biểu đều được coi là văn bản văn học).Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (như sử thi, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ ) hoặc các văn bản phi hư cấu
Ngoài văn bản văn học, chương trình SGK nhiều nước còn bổ sung vào
hệ thống văn bản một kiểu văn bản khác: văn bản thông tin Duke đã từng đưa
ra định nghĩa về văn bản thông tin như sau: “Mục đích chính của văn bản thông tin là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, điển hình là từ
Trang 18những người được cho là biết thông tin đến những người được cho là không biết.” [143, 16]
Theo cách phân loại văn bản gắn với mục đích xã hội [150] văn bản trong nhà trường phổ thông được chia là 3 loại :
Văn bản nhằm mục đích truyền đạt thông tin (văn bản thông tin)
Văn bản để thổ lộ, giãi bày tư tưởng, tình cảm của người viết về đối tượng nào đó là mục đích của văn bản (văn bản văn học)
Văn bản nhằm mục đích thuyết phục (văn bản nghị luận);
Dù theo cách phân loại nào thì thơ nói chung và thơ trữ tình nói riêng thuộc văn bản văn học, văn bản nhằm mục đích biểu cảm
Trong ngữ pháp Văn học, ngoài sự liên kết về nội dung, giữa các câu trong đoạn văn phải được liên kết bằng những dấu hiệu hình thức nhất định
Cấu trúc của văn bản:
Cấu trúc văn bản được thể hiện qua nhiều hình thức có thể văn bản bao nhiều chương, đoạn, nhiều câu thậm trí là một câu Các hình thức văn bản trên cùng thực hiện các chức năng làm liên kết đoạn văn thành một câu hoàn chỉnh Các bộ phận hợp thành đó gọi là đơn vị liên kết câu hay liên kết đoạn văn thực hiện chức năng thông báo, thông tin của văn bản đến người đọc Xem xét các văn bản thơ sau đây:
(1) Nghe tiếng giã gạo Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời, người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công
(Hồ Chí Minh)
Với khổ thơ trên thì câu đầu là câu mở bài và cũng là câu kết bài Điều
đó, nói lên cấu trúc của văn thơ thường có phần mở đầu, thân bài và kết bài
Trang 19Trong đó, mỗi phần có chức năng riên biệt:
Phần dẫn nhập cũng là phần nêu lên chủ đề, dẫn nhập có thể bắt đầu 1 câu mang tính giới thiệu Phần tiếp theo là phần thân bài là quá trình triển khai, làm sáng tỏ các chủ đề của văn bản, câu trần thuật Thường được cấu trúc bằng nhiều đoạn/câu và mỗi đoạn câu đều thực hiện chức năng riêng
Phần cuối cùng là kết luận nhằm tóm lược, kết luận, đánh giá lại nội dung của đoạn văn và có thể gợi ý thêm các ý tứ để viết tiếp
1.1.1.2 Phép liên kết trong văn bản
Quan điểm về phép liên kết trong văn bản của Trần Ngọc Thêm được
ông trình bày chi tiết trong Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt (1985, tái
bản lần hai có sửa chữa 1999) Ở vào thời điểm ấy, cuốn sách của Trần Ngọc Thêm giới thiệu một hướng mới trong việc nghiên cứu liên kết dựa vào đơn vị
mà chúng liên kết Xét trên quan điểm phương pháp luận thì đây là hướng nghiên cứu có tính biện chứng và toàn diện Tác giả đưa ra với những cấu trúc nòng cốt của phát ngôn trong Tiếng Việt Với cách hiểu như vậy thì cấu trúc vừa nêu là cấu trúc đề-thuyết mà phần đề là trung tâm ngữ pháp, phần thuyết
là trung tâm ngữ nghĩa và cấu trúc là “chỗ giao nhau của ngữ pháp và ngữ nghĩa” Bốn cấu trúc ấy được tác giả tách bạch rất rõ: nòng cốt đặc trưng, nòng cốt quan hệ, nòng cốt tồn tại và nòng cốt qua lại Theo tác giả, phương thức liên kết gồm có: Phép tuyến tính, phéo lặp, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng
Loại thứ hai là các phương thức liên kết hợp nghĩa, gồm các phép thể đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng Loại thứ ba là các phương thức liên kết trực thuộc, gồm có phép nối chặt và phép tỉnh lược mạnh
Tuy nhiên vào những năm 1970 thì cho rằng liên kết là: là một khái niệm chuyên môn, mà không thuộc cấu trúc ngôn ngữ Tuy nhiên quan điểm này vẫn đưa ra bản thân các yếu tố cấu trúc ngôn ngữ là các thuộc tính liên kết Với quan điểm trên thì liên kết câu không giữ vai trò quan trong trong sản
Trang 20phẩm của ngôn ngữ
Tác giả Halliday và Hassan là hai nhà ngôn ngữ học Hai tác giả này đã nhận ra sự chật hẹp của câu và coi câu không phải là đơn vị cuối cùng của giao tiếp mà là văn bản, trong đó các phương tiện liên kết góp phần làm cho văn bản mạch lạc: “ Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử hay câu, mà là văn bản”
[8, tr.45] Năm 1976, Halliday và Hassan công bố lần đầu cuốn sách Liên kết
trong tiếng Anh Trong cuốn sách này, hai tác giả đã trình bày cách hiểu và
quan niệm về liên kết văn bản thuộc về hệ thống coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lí thuyết – một cách hiểu khác xa với một số nhà ngôn ngữ học coi liên kết thuộc về cấu trúc Theo hai tác giả này, hệ thống là một sự lựa chọn có sẵn trong ngữ pháp của mỗi ngôn ngữ Ngữ pháp chức năng hệ thống không phải là ngữ pháp ngữ đoạn mà là ngữ pháp hệ hình hay đối vị, do đó
mô tả một cái gì đó có quan hệ với tất cả các sự vật khác hẳn phải nằm trong đối hệ, vì mỗi bộ phận chỉ là một phần của toàn hệ thống Quan niệm về liên kết của Halliday được trình bày ở cuốn sách trên và trong “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” (ấn bản lần thứ hai, tái bản lần thứ sáu 1998) là chỉ liên quan đến các yếu tố nằm trong đối hệ và không tính đến các cấu trúc ngôn ngữ Có thể thấy, tác giả bày tỏ khá cụ thể về khái niệm liên kết được thể hiện ở phép liên kết từ vựng, phép liên kết quy chiếu, phép tỉnh lược, phép thay thế và phép nối Trong luận văn, chúng tôi cũng kế thừa nghiên cứu của tác giả để hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản
Tại nước ta, đi theo quan điểm của Halliday và Hassan là Diệp Quang Ban, ông đã có nhiều ứng dụng vào tiếng Việt Cách hiểu về liên kết trong văn bản của ông được trình bày chi tiết trên nhiều bài viết, tạp chí Ngôn ngữ
và hai cuốn sách Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998), Giao tiếp văn
bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn (2002) Ông cho rằng, liên kết giữa đoạn
văn với đoạn văn được kết nối bằng các từ ngữ có tác dụng liên kết và trong liên kết văn bản là sự nối kết ý nghĩa của câu với câu
Trang 21Như vậy, liên kết văn bản là cách kết hợp nhiều thành phần, nhiều yếu
tố để làm cho nội dung trong văn bản thống nhất chặt chẽ và mạch lạc Có hai cách liên kết đó là liên kết về nội dung và liên kết về mặt hình thức
Hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản
Hướng dẫn HS thực hành bài tập đến giai đoạn hiện nay đã nhiều nhà nghiên cứu đưa ra trong đó: Theo Pestalogy, nhà giáo dục Thụy Sĩ, từ giữa thế kỷ XVIII đã khẳng định: “Khả năng thực hiện những điều mà trái tim và khối óc đòi hỏi phần lớn là tùy thuộc vào những kỹ năng hành động của con người Đồng quan điểm với Pestalogy, các nhà tâm lý học và giáo dục học Liên Xô (cũ) như L.X Vưgotxki, G.C Koschuc, V.C, Avanhexop, I.F Khalamop… trong nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của mình cũng đã nhấn mạnh “quá trình dạy học là quá trình tổ chức cho học sinh thực hiện các thực hành”, đồng thời, đưa ra yêu cầu “để thực hành cần đưa ra các bài dạng luyện tập phải đa dạng, đòi hỏi sự suy nghĩ và đôi chút sáng tạo” Như vậy, việc hướng dẫn HS thực hành sẽ có các dạng: Thực hành trên dạng bài tiếp nhận kiến thức mới; thực hành rèn luyện các kỹ năng và thực hành để tái tạo kiến thức,
Đến nay đã có một số nghiên cứu về hướng dẫn HS thực hành của các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lê A, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Xuân Thảo, Hồ Lê, Nguyễn Minh Thuyết,… còn phải kể đến một số nghiên cứu khác như: “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh tiểu học ” của Lê Hữu Tỉnh, “Hệ thống bài tập điền từ trong môn tiếng Việt bậc tiểu học” của Nguyễn Hồng Mạc,
“Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học” của Xuân Thị Nguyệt Hà, Có thể thấy, các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò của việc thực hành cho HS bởi với việc hướng dẫn HS thực hành sẽ tạo sẽ tạo ra những tình huống nhằm kích thích người học phát triển
tư duy, phát huy năng lực tự học, mặt khác, thông qua đó để bồi dưỡng niềm
Trang 22đam mê, sáng tạo trong học tập của học sinh
Như vậy, hướng dẫn HS thực hành các phép liên kết trong văn bản là việc luyện tập, củng cố lại kiến thức đã học, vừa được thực hành bài tập từ đó hình thành những kĩ năng cần thiết củng cố kiến thức, kĩ năng của HS trong quá trình học các phép liên kết văn bản
1.1.2 Cơ sở lý luận về các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở
1.1.2.1 Các phép liên kết văn bản
Theo Nguyễn Thị Thu Hà liên kết văn bản có hai cách liên kết là liên kết về mặt nội dung và liên kết về hình thức Liên kết về nội dung thể hiện ở việc gắn kết với đề tài, chủ đề Các lời ca dao liên kết với nhau khi có cùng nội dung Liên kết về hình thức thể hiện sự gắn bó giữa các câu (dòng), các khổ thơ với nhau bởi các yếu tố hình thức Liên kết hình thức thường thể hiện qua các phương thức: lặp, thế, liên tưởng, nối, tỉnh lược, song hành và đảo ngữ Việc liên kết câu (dòng), khổ thơ trong cao dao là một trong phương thức sáng tác ca dao
Liên kết là cách kết hợp “các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng” (Nguyễn Phan Cảnh, 1987) Cách hiểu này thể hiện việc liên kết văn bản chủ yếu là liên kết ở nội dung Khái niệm liên kết còn được hiểu gần giống với khái niệm kết cấu ở chỗ là sự sắp xếp, xếp đặt, phan bố các yếu tố hình thức của tác phẩm Liên kết là sự kết hợp, gắn bó các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần với nhau Theo quan niệm này, khái niệm liên kết được hiểu là việc liên kết giữa các câu (dòng), đoạn, văn bản nói chung chủ yếu liên kết về hình thức Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm liên kết theo cả hai quan niệm trên Liên kết là phương thức phổ biến trong kết cấu của bản
Phương thức liên kết: phương thức liên kết văn bản là cách thức kết hợp nhiều thành phần, nhiều yếu tố để làm cho nội dung trình bày trong văn
Trang 23bản liền mạch, rõ ý, tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ và mạch lạc Phương thức liên kết văn bản là cách tạo mối liên hệ, sự gắn kết chặt chẽ giữa các câu này với câu khác trong một đoạn văn bản
Khái niệm phương thức liên kết khác với khái niệm cấu trúc xâu chuỗi của X.G.Lazychin Lazychin đã diễn ra khái niệm cấu trúc xâu chuỗi qua hình ảnh bức tranh như sau: Các bức tranh trong bài ca xâu chuỗi với nhau, hình ảnh cuối của bức tranh thứ nhất là hình ảnh cuối của bức tranh thứ hai là hình ảnh đầu của bức tranh thứ hai, hình ảnh bức tranh thứ hai là hình ảnh đầu của bức tranh thứ ba cứ thế đến hết bài Hình ảnh quan trọng nhất sẽ biểu hiện nội dung chính của tác phẩm (X.G Lazychin, 1989) Lazychin đã thể hiện cấu trúc xâu chuỗi trong một bài ca qua sự liên kết giữa các hình ảnh, còn phương thức liên kết câu (đoạn), đoạn văn hay thành phầ (yếu tố) của khổ thơ để tạo
ra văn bản mới
Các phương thức liên kết văn bản:
Trong đoạn văn là một đơn vị ngữ pháp có ý nghĩa tương đối trọn vẹn, nhưng ít khi đứng riêng lẻ một mình mà phải có nhiều đoạn đi kèm để thực hiện một nội dung thông báo nào đó Các câu, dòng, đoạn này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất để chuyển đạt nội dung Muốn đạt được điều đó, các đoạn, dòng phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức
Kế thừa từ các nghiên cứu trước đây, có thể thấy liên kết văn bản được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 24Sơ đồ 1.1: Các phép liên kết trong văn bản
Phương thức liên kết nội dung:
Liên kết về nội dung được thể hiện rõ hơn ở liên kết về chủ đề và liên kết logic
Liên kết chủ đề: Các đoạn văn phải phục vụ chủ để chung của văn bản
và chủ đề của đoạn văn Liên kết chủ đề được thực hiện bằng hai cách :
Duy trì chủ đề là nhắc lại cùng một vật, một việc nào đó trong các câu
có liên kết với nhau Liên kết duy trì chủ đề được thực hiện bằng 5 phương
Liên kết logic
Lặp lại ở câu đứng sau từ ngữ đã
có ơ câu trước (lặp từ ngữ)
Sử dụng câu đứng sau các từ ngữ có thể thay thế các từ ngữ đã có
ở câu trước
Sử dụng câu đứng sau các từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước
Sử dụng câu đứng sau các
từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước
Trang 25thức liên kết: Lặp từ vựng; thế đồng nghĩa; thế đại từ; tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh
Các phương thức liên kết để triển khai chủ đề gồm có: Phép liên tưởng
và phép đối (ít được dùng)
Liên kết logic là phần nêu đặc trưng của vật, việc được nói đến Ta thấy câu trên giới thiệu về người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết Ở đây, sự liên kết logic trong câu văn được thể hiện qua việc nêu lên những nét đẹp của người con gái Nam Xương về tính cách và ngoại hình
Ví dụ : Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long song sọc Lão tru tréo, bọt mép xùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết, cái chết thật dữ dội
Đoạn văn trên miêu tả cái chết của lão hạc Liên kết logic trong đoạn văn này được thể hiện ở việc mỗi câu văn đều tập trung phục vụ cho nhiệm vụ chính của đoạn văn đó là tả lại những đặc điểm trong cái chết của Lão Hạc
Từ “ lão” được lặp lại ở mỗi câu văn giúp cho mạch liên kết của các câu văn với nhau và của cả đoạn văn chặt chẽ hơn
Như vậy, liên kết nội dung trong văn bản thể hiện ở việc gắn kết đề tài, chủ đề, thống nhất chủ đề (chủ để được suy trì, triển khai, phát triển); thể hiện
ở chỗ liên kết logic, chặt chẽ về logic (các ý được sắp xếp theo một trình tự hợp lý) và hình tượng trữ tình của phát ngôn
Trang 26Bảng 1.1: Về liên kết nội dung và các phương thức liên kết được sử dụng
trong hai bình diện của nó
Triển khai chủ đề Cấp từ từ
Cấp độ câu
(i) Thể hiện được chủ đề của văn bản
(ii) Tạo được tính chặt chẽ, lôgíc của văn bản
(iii) Kết nối được các văn bản, nếu cần, trong những tình huống giao tiếp nhất định Điều này có nghĩa là liên kết nội dung văn bản quyết định tới việc, liệu văn bản có thỏa mãn được sáu đặc trưng còn lại (tức là trừ đặc trưng
về ‘tính liên kết hình thức’) của văn bản hay không Liên kết về mặt nội dung trong văn bản có các liên kết sau:
Trang 27Liên kết chủ đề: Các đoạn văn phải phục vụ chủ để chung của văn bản
và chủ đề của đoạn văn
- Lặp từ vựng
Để bảo đảm cho văn bản có tính liên kết chủ đề, nghĩa là các câu phải cùng hướng tới việc thể hiện một chủ đề cho trước, thì biện pháp đơn giản nhất là lặp từ vựng Biện pháp lặp từ vựng, nói chung, dựa trên việc sử dụng những yếu tố từ vựng (từ, tên gọi, cụm từ) trong các phát ngôn khác nhau, khiến cho chủ đề của văn bản được duy trì Tuy nhiên, ở đây có thể quan sát thấy hai hiện tượng lặp từ vựng: ‘lặp cả âm và nghĩa’ và ‘lặp nghĩa’
+ Lặp cả âm và nghĩa, tức là lặp lại trong một/ những phát ngôn mới những đơn vị từ vựng đã được sử dụng ở một phát ngôn khác Trong thực tế, cũng giống như trong lặp ngữ âm và lặp ngữ pháp, các đơn vị từ vựng có thể được lặp lại đầy đủ hoặc chỉ được lặp lại một bộ phận Vì vậy, có thể phân biệt ‘lặp hoàn toàn’ và ‘lặp bộ phận’
Trong trường hợp lặp từ, biện pháp chủ yếu là lặp hoàn toàn, mặc dù cũng có thể quan sát thấy những trường hợp lặp bộ phận Ví dụ:
Trang 28quan hay phong trào… thì không nhất thiết phải dùng đại từ chỉ định đó
Ví dụ: Nguyễn Quang Sáng là nhà văn có lối viết giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc và đậm đà chất nam bộ Lối viết đó được ông thể hiện rõ nét trong truyện ngắn “ chiếc lược ngà”
Ở ví dụ trên, ta thấy rằng ở câu thứ hai, thay vì lặp lại cả cụm từ “lối viết giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc và đậm đà chất nam bộ”, người viết đã
sử dụng phép lặp bộ phận để tránh gây cảm giác nhàm chán cho câu văn bằng cách chỉ lặp lại một phần của câu trên và sử dụng đại từ chỉ định “ đó” để làm tăng thêm sự liên kết giữa hai câu văn khi viết “ lối viết đó”
+ Lặp nghĩa: ‘Lặp nghĩa’ cũng dựa trên việc ‘lặp lại’ nhưng chỉ là lặp nội dung chứ không lặp âm thanh của của một từ, một tên gọi hay một cụm
từ Biện pháp này không chỉ có tác dụng tạo sự liên kết cho văn bản mà còn tránh được cảm giác đơn điệu hoặc bổ sung những thông tin phụ Thực chất, đây là biện pháp sử dụng một đơn vị tương đương để thay thế cho một đơn vị
đã được sử dụng trong một phát ngôn khác
Ví dụ: ngày 2-9-1969, chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần Bác ra đi để lại niềm đau xót và tiếc thương vô hạn cho đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước
Ở ví dụ này từ “ từ trần” và từ “ ra đi” đều được dung để nói về việc Bác qua đời , hai từ này đồng nghĩa và được dùng thay thế cho nhau
+ Lặp nghĩa dùng đại từ:
Ví dụ : Liên hãm nước thuốc ở cái siêu đất ra chiếc bát chiết yêu Nhĩ đoán thế, nghe tiếng nước rót ra lẫn mùi thuốc bắc bay vào nhà
( Nguyễn Minh Châu)
Ở ví dụ trên, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã sử dụng đại từ “ Thế” để thay thế cho cụm từ “Liên hãm nước thuốc ở cái siêu đất ra chiếc bát chiết yêu”
+ Lặp nghĩa dùng cách nói vòng:
Ví dụ: nhiều người bảo chùa Bà Đanh không linh, không ai đến là sai Mặt khác, làng Đanh Xá hy vọng rằng , cái tên ngôi chùa vắng sẽ được biết
Trang 29đến bằng cái tên ngôi chùa đệ nhất khách
Ở ví dụ này, “ ngôi chùa vắng” chính là cách nói vòng để chỉ “ chùa bà đanh”.Việc sử dụng cách nói vòng như vậy, nhằm không tạo cảm giác nhàm chán khi một từ/ cụm từ được nhắc lại quá nhiều lần
Những đơn vị có thể thay thế nhau phải là những đơn vị có nghĩa/ giá trị tương đương nhau nên ‘từ đồng nghĩa’ thường được dùng làm phương tiện
để lặp nghĩa Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, nói chung, thường ít xảy ra hiện tượng đồng nghĩa hoàn toàn mà chủ yếu là hiện tượng gần nghĩa, nên biện pháp này có thể thay đổi một phần ý nghĩa được lặp lại, tức là bổ sung cho nó một nội dung nào đó (xem bên dưới) Vì vậy, phương thức lặp đồng nghĩa có tác dụng làm cho văn bản trở nên đa dạng và phong phú Ngoài từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa, còn có những phương tiện khác cũng được dùng để lặp nghĩa như: đại từ, cách nói vòng hay hoán dụ…
+ Lặp nghĩa dùng yếu tố đồng nghĩa:
Trang 30Trong tiếng Việt, đối nghĩa được sử dụng như là biện pháp liên kết quan trọng nhất trong những văn bản đặc biệt gọi là ‘câu đối’
Trong các văn bản bình thường, sự đối lập nghĩa thường gần với hiện tượng trái nghĩa hơn, trong đó có cả hiện tượng đối phủ định
Ví dụ: những người yếu đuối thường hay hiền lành, muốn ác phải là kẻ mạnh
( Nam Cao)
- Liên tưởng: Liên tưởng là hoạt động tâm lý của con người, từ việc này nghĩ đến việc kia, từ đối tượng này đên việc kia, từ đối tượng này đến nghĩ đến đối tượng khác Cơ sở của liên tưởng là do trong thực tế, các sự vật, hiện tượng tồn tại không tách rời mà có quan hệ mật thiết với nhau Thế giới tự nhiên, xã hội và con người có những hoạt động, tính chất, đặc điểm gần gũi nhau Vì thế, khi đã nắm bắt những gần gũi nhau Vì thế, khi đã nắm bắt những đặc tính, trạng thái của đối tượng thì dễ gợi sự liên tưởng và chỉ càn thể hiện trong vài từ cô đọng Liên tưởng trong các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ ) khác với liên tưởng trong các biện pháp tu từ, còn liên tưởng trong phương thức liên tưởng là cách để nối kết các câu, dòng, đoạn với nhau
Liên tưởng trong cuộc sống khác với liên tưởng trong sáng tác văn học Liên tưởng trong cuộc sống là liên tưởng tự phát, tản mạn Còn liên tưởng trong sáng tác văn học là liên tưởng có mục đích nhằm làm nổi bật nội dung,
ý nghĩa mà tác giả muốn thể hiện Khi liên tưởng, từ sau phải có mối quan hệ với từ đứng trước Mối quan hệ đó có thể là: hai từ đồng nghĩa, hai từ trái nghĩa, hai từ có nét tương đồng về tính biểu tượng
Phương thức liên tưởng là cách thức thể hiện mối quan hệ giữa các từ (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất và trạng thái ) mà khi từ này xuất hiện, người ta nghĩ đến từ khác; từ đối tượng (sự việc) này mà nghĩ đến đối tượng (sự việc) liên quan Phương thức liên tưởng để kết nối các câu (dòng), đoạn, khổ thơ trong văn bản là cách thức sử dụng các từ, cụm từ, có liên quan về
Trang 31nghĩa với nhau, thông qua một số nét nghĩa chung Nói cách khác, phương thức liên tưởng là cách sử dụng những từ có quan hệ liên tưởng, cùng trường nghĩa để tạo ra tính liên kết
Sự liên tưởng luôn luôn dựa trên hai loại quan hệ: nội ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ, do đó ở đây có thể có hai kiểu liên tưởng:
+ Liên tưởng dựa trên quan hệ nội ngôn ngữ (trong phạm vi của cái gọi
+ Liên tưởng dựa trên quan hệ nội ngôn ngữ (trong phạm vi của cái gọi
là trường nghĩa)
Ví dụ: ở đây tuyệt nhiên không có một nhà thờ nào Mà em thì muốn
cầu nguyện biết bao.Dù sao thì em vẫn muốn cầu nguyện Em mang theo cây
thánh giá bằng gỗ của mẹ
Ở đây, nói đến nhà thờ là người ta liên tưởng đến việc cầu nguyện , nghĩ đến cây thánh giá ở đây , cây thánh giá và hành động cầu nguyện và nhà thờ đều nằm cùng một trường nghĩa chỉ một hoạt động tôn giáo
+ Liên tưởng dựa trên quan hệ ngoài ngôn ngữ (liên quan đến kiến thức ngoài ngôn ngữ)
Ở đây, nói đến mùa xuân là tác giả nghĩ đến tết, nghĩ đến hoa đào, đến ngày rằm tháng giêng Như thế , chính việc nhắc đến mùa xuân đã khiến cho tác giarb liên tưởng ngay tới tết, tới hoa đào, là những nét đặc trưng riêng có của mùa xuân miền bắc Ở đây, tác giả đã sử dụng phép liên kết ngoài ngôn ngữ( liên hệ với kiến thức thực tế) để kết nối hai câu văn, tạo thành mạch cảm xúc nhẹ nhàng, thư thái cho người đọc khi nghĩ về những ngày đầu xuân
Trang 32- Tỉnh lược: Tỉnh lược là cách lược bớt một thành phần câu, vế câu được giả định là có mặt ở một câu khác để kết nối câu, dòng, đoạn trong văn bản Câu tỉnh lước khác với câu đơn đặc biệt Câu đơn đặc biệt là câu được tạo nên từ một từ, một cụm từ từ chính phụ hay đẳng lập (có thể là từ ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ); là câu chỉ có một thành phần, không thể xác định được chủ ngữ, vị ngữ Còn câu tỉnh lược là câu có thể dựa vào ngữ cảnh để biết được thành phần tỉnh lwocj là chủ ngữ, vị ngữ hay thành phần phụ Câu tỉnh lược có nội dung thông báo trong một ngữ cảnh nhất định còn câu đơn đặc biệt diễn tả sự tồn tại của sự vật và hiện tượng trong bất cứ hoàn cảnh nào Câu tỉnh lược có thể dựa vào ngữ cảnh để thêm vào thành phần bị rút gọn, tạo thành câu hoàn chỉnh, câu đơn đặc biệt thì không thể tiếp nhậ thêm thành phần nào vì nếu tiếp nhận thêm thì sẽ mất đi cái hay và ý nghĩa của câu
Liên kết logic: Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo một
trình tự hợp lý
Liên kết hình thức
Liên kết hình thức thể hiện sự gắn bó giữa các câu, dòng, đoạn trong văn bản với nhau bởi các yếu tố hình thức Các phương thức liên kết hình thức chỉ có gái trị khi chúng đồng thời là những liên kết về nội dung Các phương thức liên kết này thể hiện ở tất cả các đoạn, dòng, thể thơ kể cả thể thơ tự do Về hình thức, liên kết hình thức được tuân theo quy luật của cấu trúc văn bản về cấu trúc, nhịp điệu Các câu (dòng), đoạn khi gắn kết với nhau thì phải đúng cấu trúc, hợp vần, phù hợp nội dung của văn bản
Liên kết hình thức bao gồm các phép liên kết như lặp tuyến tính, lặp cấu trúc, đối nghịch, thế đại từ, thế đồng nghĩa, lặp âm, lặp vần, tỉnh lược cấu trúc,
Trang 33Bảng 1.2: Bảng tổng hợp các phương thức liên kết và khu vực sử dụng chúng Câu tự nghĩa và phương
thức liên kết được sử
dụng
Câu hợp nghĩa và phương tiện liên kết được sử dụng
Ngữ trực thuộc và phương tiện liên kết được sử dụng
Thế đồng nghĩa Thế đồng nghĩa Thế đồng nghĩa
Thế đại từ Thế đại từ Tỉnh lược yếu Tỉnh lược yếu
Tỉnh lược mạnh Nối chặt
Kết quả bảng trên cho thấy, phương thức liên kết tăng dần về số lượng khi hoàn chỉnh về cấu trúc câu (ngữ trực thuộc là đơn vị có nhiều nhất các phương thức liên kết trong khi nó là đơn vị có ít nhất tính hoàn chỉnh về nội dung và cấu trúc, hình thức so với hai kiểu câu còn lại)
Đối với tác giả Trần Ngọc Thêm thì cho rằng có tất cả 10 phép liên kết câu và mỗi phép lại được phân loại thành các phép nhỏ với yếu tố khác nhau Các phép liên kêt giúp cho câu được hoàn chỉnh, mạch lạc hơn Trong hai câu liên kết với nhau có một câu làm chỗ dựa được gọi là câu chủ (chủ ngôn) và một câu nối kết với câu chủ được gọi là câu kết (kết ngôn)
Để liên kết hình thức các câu/ phát ngôn (từ đây sẽ gọi chung là phát ngôn) trong văn bản, tiếng Việt sử dụng một số ‘yếu tố ngữ âm’ (âm tiết, vần, phụ âm đầu, thanh điệu) và ‘yếu tố ngữ pháp’ (hư từ, cấu trúc ngữ pháp) Phương thức sử dụng các yếu tố liên kết này là ‘lặp lại’ chúng trong những
Trang 34phát ngôn khác nhau và nhờ đó tạo ra sự liên kết giữa các phát ngôn đó Liên kết hình thức có một số phép liên kết sau:
Phép lặp: Phép lặp là lặp từ ngữ, tức là từ ở sau lặp lại từ ở trước câu đã có Lặp ngữ âm: Phép ‘lặp ngữ âm’ thường được dùng trong các tác phẩm thi ca, (hay chung hơn: ‘văn vần’) Trong các loại văn bản khác, gọi chung là
‘văn xuôi’, phương thức này ít khi được sử dụng
Trong văn vần, trước tiên phải nói đến phương thức ‘lặp số lượng âm tiết’ Phương thức này cho phép tạo ra các thể thơ khác nhau Chẳng hạn, nếu
số lượng các âm tiết được lặp đi lặp lại đều đặn giữa các câu kế tiếp nhau thì
ta sẽ có các thể thơ bốn chữ, thơ năm chữ hay thơ bảy chữ…
2) Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Hồ Xuân Hương – Bánh trôi nước)
Còn nếu số lượng âm tiết được lặp lại ở những câu đứng cách nhau hoặc kết hợp cả hai cách lặp nói trên thì ta có các thể thơ lục bát hay song thất lục bát
Ví dụ: Anh đi em một ngó chừng
Ngó sông, sông rộng, ngó rừng, rừng sâu
Có nhiều cách lặp để liên kết: lặp ngữ âm, lặp vần, lặp từ vựng, lặp cấu trúc
Phương thức lặp vần, lặp âm: cũng là một phương thức lặp ngữ âm phổ
biến để tạo ra sự liên kết giữa các câu thơ Tuy nhiên, các vần không phải bao
Trang 35giờ cũng được lặp lại hoàn toàn mà có thể chỉ là lặp một phần nhưng phải tuân theo những nguyên tắc về luật hài âm
Ví dụ:
Ví dụ:
- Lặp hoàn toàn:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
( Nguyễn Du- Truyện kiều)
Ví dụ lặp âm đầu:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
Ví dụ lặp vần:
Vân Tiên mình lụy giữa dòng
Giao long rìu đỡ vào trong bãi rày
( Nguyễn Đình Chiểu) Trái lại, trong văn xuôi, phương thức lặp vần tuy cũng được sử dụng nhưng rất ít gặp Phương thức lặp ngữ âm phổ biến ở đây là lặp số lượng âm tiết và thường đi kèm với ‘lặp ngữ pháp” Đó là do phương thức lặp ngữ âm trong văn xuôi chỉ tạo ra một độ liên kết không đáng kể, chủ yếu là tạo cho văn bản văn xuôi tính nhạc điệu hay âm hưởng thơ
- Lặp ngữ pháp: Phương thức ‘lặp ngữ pháp’ thể hiện ở việc lặp lại một hay một số yếu tố ngữ pháp của một phát ngôn ở một phát ngôn khác để tạo
ra sự liên kết giữa chúng
Ví dụ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng, ý thiếp ai sầu hơn ai
Trang 36( Đoàn Thị Điểm- Trinh phụ ngâm)
Ở ví dụ trên ta thấy các yếu tố được lặp lại để tạo sự liên kết giữa các câu gồm có từ “ thấy” ở câu 1 được lặp lại ở câu hai và từ “ ngàn dâu” ở câu hai được lặp lại ở câu 3
Như vậy, lặp ngữ pháp bao gồm ‘lặp từ ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp hư từ’) và ‘lặp cấu trúc ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp cú pháp’) của các phát ngôn Thông thường, để tăng thêm độ liên kết của hai phát ngôn, người ta kết hợp
sử dụng cả hai phương thức này, nghĩa là lặp cả cấu trúc ngữ pháp và hư từ
Nói chung, trong trường hợp này, lặp cú pháp là phương thức cơ bản
Và, như đã nói ở trên, lặp cấu trúc có thể được kết hợp với lặp ngữ âm
- Phép thế: Phương thức thế là cách thức liên kết câu (dòng), khổ thơ
có sử dụng những từ, tổ hợp từ, chỉ cùng một sự vật để thay thế cho nhau, nhằm tạo tính liên kết Phương thức thế có thể chia thành: Thế đại từ, thế đồng nghĩa (hay gần nghĩa)
+ Thế đồng nghĩa, đồng loại: phương thức liên tưởng đồng loại, đồng
nghĩa là cách liên kết các câu, dòng, đoạn, khổ thơ trong văn bản dựa vào các
từ cùng loại (danh từ, động từ, tính từ ) cùng nghĩa
Ví dụ liên tưởng cùng loại:
Cây sung có quả không hoa
Xương rồng không lá người ta chuyện trò (L 351, sđd, tr.425)
Cây sung và xương rộng là hai từ cùng loại, cùng danh từ chỉ cây
Ví dụ liên tưởng cùng nghĩa:
Cây vông đồng khồng mà mọc
Gái đất này chưa chọc đã theo (L 362, sđd, tr.425)
Trong bối cảnh lời ca dao thì cây vông đồng, đồng nghĩa với gái đất này, cùng nói về sự dễ dãi Cặp từ đồng nghĩa có khi từ láy:
Gió thổi lung tung
Buồm chạy lang tang
Trang 37(L 344, sđd, tr.1.159)
Có thể thấy các cặp từ láy này đồng nghĩa với nhau
Trong ca dao, phương thức liên tưởng đồng loại, đồng nghĩa còn thể hiện qua việc áp dụng điển cố để kết nối các câu, dòng, khổ thơ trong văn bản cũng là cách kích thích sự tưởng tưởng và liên tưởng cao nơi người đọc trong ngữ cảnh nhất định – vì ẩ trong điển cố là cuộc sống sinh động
Ví dụ: Ai khôn bằng Tiết Đinh San
Cũng còn mắc kế nằng Phàn Lê Huê (L 39, sđd, tr.425)
Từ nhân vật Tiêt Đinh Sang mà dòng thứ hai xuất hiện nhân vật Phàn
Lê Huê, từ người này mà liên tưởng đến người kia Tiết Đinh Sang, tức Tiết Đinh Sơn, một danh tướng đời Đường ở Trung Quốc – đem quân đi đánh nước Hồ để cứu cha là Tiết Nhân Qúy đang bị vây hãm Tiết Đinh Sơn bị Phàn Lê Huê – nữ tướng đối phương – bắt sống Để cứu cha, Sơn phải cầu hôn Phàn Lê Huê
+ Thế đại từ: Thế đại từ là cách liên kết câu khi câu (dòng), đoạn sau dùng đại từ thay thế cho một hay một từ ngữ ở câu (dòng) thơ trước
Ví dụ: Tò vò mày nuôi con nhện
Đến khi nó lớn nó quên nhau đi
(Vũ Ngọc Phan, 1997)
Phép liên tưởng đối lập: Phương thức liên tưởng đối lập là cách sử
dụng các từ ngữ, hình ảnh có nét nghĩa đối lập nhau về hai thái cực của một thuộc tính để liên kết các câu (dòng), khổ thơ trong ca dao Sử dụng câu đứng sau các từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ
đã có ở câu trước Phép liên tưởng đối lập thường gặp là phép nghịch đối, liên tưởng cùng chất, liên tưởng khác chất
Phép nối : Phương thức nối trong ca dao là cách thức liên kết các câu, dòng, đoạn bằng những từ ngữ có tác dụng làm các câu, dòng, khổ thơ liền lại, chắp lại với nhau; làm cho nội dung được liền mạch hay liên tục Phương
Trang 38thức nối là phương thức liên kết mà các câu (dòng), khổ thơ sau có những từ ngữ diễn đạt quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu (dòng), khổ thơ
Những từ ngữ dùng để nối các câu, dòng, khổ thơ còn có tác dụng chuyển tiếp, chỉ ra mối quan hệ giữa các câu, dòng, khổ thơ giúp bài ca gồm các quan hệ từ (mà, và, nhưng, do, bởi ), phụ từ, từ có tác dụng chuyển tiếp (tuy nhiên, do đó, vậy nên, do nên )
Bảng 1.3: Một số quan điểm riêng giữa hai quan niệm về liên kết
Liên kết hình thức và liên kết
nội dung
Liên kết phi cấu trúc tính
- Liên kết bao gồm cả liên kết hình thức
và liên kết nội dung
- Chỉ tính đến các phương tiện hình thức ngôn ngữ tạo liên kết
- "Liên kết nội dung" không được đặt
ra thành đối tượng xem xét trực tiếp - phần nhiều nó được xem xét trong mạch lạc
1.1.2.2 Những đặc trưng của văn bản
Văn bản tiếng Việt hiện nay cũng được xem xét trên các bình diện đã nói ở trên Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ngữ pháp văn bản, người ta thường tiếp cận văn bản từ phía các đặc trưng của chúng Đó là những đặc trưng giúp
ta nhận biết văn bản trong số những đơn vị ngôn ngữ khác không phải là văn bản (gọi chung là ‘tính văn bản’ hay ‘các phạm trù của tính văn bản’) Trong ngữ pháp văn bản, người ta thường nêu lên những đặc trưng chủ yếu sau đây [dựa theo đề xuất của Beaugrande i Dressler(1990)]:
– Tính liên kết (kohezja),
– Tính mạch lạc (koherencja),
– Tính chủ định (intencjonalność),
– Tính chấp nhận được (akceptowalność),
Trang 39– Tính thông tin (informacyjność),
– Tính tình huống (sytuacyjność) ,
– Tính liên văn bản (intertekstualność)
Cũng chính vì vậy, có thể định nghĩa văn bản là “một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” Nếu thiếu bất kỳ một tiêu chuẩn nào trong số đó thì „văn bản” cũng không mang tính giao tiếp, mà không có tính giao tiếp thì ngôn phẩm sẽ không phải là văn bản
1.1.2.3 Phân loại văn bản
Cho đến thời điểm hiện tại, việc phân loại văn bản chưa được thống nhất theo quy chuẩn chung Chẳng hạn, có thể phân biệt những cặp văn bản đối lập như ‘văn bản nói’/ văn bản viết’; ‘văn bản ngẫu sinh’/ ‘văn bản tái sinh’ (‘sao chép’); ‘văn bản công khai’/ ‘văn bản riêng tư’; ‘văn bản thông dụng’/ ‘văn bản nghệ thuật’; ‘văn bản tự sự’/ văn bản mô tả’…
Tuy nhiên, có thể phân loại văn bản theo cách chung nhất là:
(i) Xét về dạng thức tồn tại: Có thể phân biệt văn bản thành văn bản viết và văn bản nói Cách thức phân biệt trên được căn cứ vào những đặc điểm của phương tiện dùng để cấu tạo nên văn bản Điều đó cho thấy, sự phân biệt văn bản về dạng thức tồn tại không chỉ căn cứ vào văn bản viết và nói mà còn căn cứ vào đặc điểm của phương tiện giao tiếp
(ii) Xét về kiểu cấu tạo: Có thể thấy kiểu văn bản cấu tạo được thấy rõ
ở tính ổn định, nhất quán như đơn từ, khiếu nại, tờ khai
(iii) Xét về phong cách chức năng: Với phong cách chức năng của văn bản có thể nhận thấy rõ ở đặc điểm văn bản hành chính, đến văn bản khoa học
và văn bản văn chương
Ngoài ra, có thể phân biệt các văn bản về mặt quy mô Xét về mặt này,
có thể phân biệt: ‘văn bản một phần’ (chỉ bao gồm phần tin), ‘văn bản hai phần’ (phần mở đầu và phần tin) và ‘văn bản ba phần’ (mở đầu, phần tin và phần kết)
Trang 401.1.3 Môn Văn học trường Trung học cơ sở
1.1.3.1 Khái quát về môn Ngữ Văn bậc Trung học cơ sở
Để đạt được mục tiêu dạy học môn Ngữ văn cần thực hiện theo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới là phát triển cho HS những phẩm chất,
và năng lực cơ bản như lòng nhân ái, chăm chỉ, Bên cạnh đó, với việc đọc hiểu văn bản sẽ giúp cho HS cảm thụ được nét đẹp trong văn bản, thơ,
Ngoài việc hình thành cho HS những phẩm chất cơ bản thì môn Ngữ Văn còn phát triển cho HS những năng lực cơ bản như Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
1.1.3.2 Nội dung chương trình môn Ngữ Văn bậc Trung học cơ sở
Mục tiêu dạy học môn Ngữ Văn ở bậc Trung học cơ sở
Trong các câu văn, ca dao, tục ngữ, đoạn văn về thiên nhiên, cảnh đẹp quê hương, đất nước sẽ giúp học sinh cảm thụ được các nét đẹp, giá trị văn hóa, dân tộc của quê hương, đất nước, về lịch sử dân tộc từ đó thêm lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức được vai trò của cá nhân trong việc gìn giữ “nét trong sáng của tiếng Việt”
Sau khi kết thúc chương trình Tiếng Việt tiểu học, HS THPT bước vào cấp THCS bằng môn Ngữ Văn với nội dung chuyên sâu hơn, và là tiền đề phát triển ngôn ngữ tiếng Việt dựa trên xây dựng và hình thành các loại văn bản như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận
Phân phối chương trình môn Ngữ Văn bậc THCS như sau:
Cả năm: 37 tuần (140 tiết)