luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài, báo cáo,
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Siu
Trang 2Lời cam đoan
Chương 2: CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO VÀ THỰC CHẤT VẬN
DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
2.1 Chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 292.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo 392.3 Thực chất vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt
Chương 3: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO THEO TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO - THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 723.1 Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo theo tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo 723.2 Bài học kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra trong thực
hiện chính sách tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh về
Chương 4: DỰ BÁO NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, YÊU CẦU VÀ
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT
4.1 Dự báo nhân tố tác động và yêu cầu thực hiện chính sách
tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương
4.2 Giải pháp thực hiện chính sách tôn giáo theo tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết lương giáo 139
Danh mục các công trình của tác giả đã được công bố liên quan đến đề tài 172
Phụ lục 185
Trang 3Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Dân tộc dân chủ nhân dân
Front Unite’de Lutte de Race Opprimes
Hà Nội
Khoa học xã hội
Nhà xuất bản
Phòng không - Không quân
Quân đội nhân dân
Trang
Uỷ ban nhân dân
Uỷ ban Trung ương
Xã hội chủ nghĩa
BCHTWCTQGCT- HCQGCTQSCNĐQCNTBCNXHCNH, HĐHDTDCNDFULROHNKHXHNxbPK- KQQĐNDTr.UBNDUBTWXHCN
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng ViệtNam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh bảo đảm phát triển bền vững của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốtquá trình lãnh đạo cách mạng
Đoàn kết lương giáo là bộ phận quan trọng, gắn bó mật thiết, khôngtách rời đại đoàn kết toàn dân tộc Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, HồChí Minh luôn coi trọng vấn đề đại đoàn kết nói chung và đoàn kết lươnggiáo nói riêng Người giành nhiều thời gian, tâm huyết viết sách, báo, tổngkết, chỉ đạo thực hiện đoàn kết lương giáo ở Việt Nam Các bài nói, bài viết
về đoàn kết lương giáo, là một nội dung độc đáo trong toàn bộ di sản tư tưởngcủa Người Tư tưởng đó trở thành “ngọn cờ” đoàn kết, tập hợp đông đảo lựclượng cách mạng, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Đoàn kếtlương giáo là bộ phận quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh,chỉ đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc ta trong các giai đoạn trướcđây Đây cũng là định hướng cơ bản về quan điểm, chính sách tôn giáo củaĐảng, Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo, đồng bào có đạo với sốlượng khoảng hơn 20 triệu người Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề ra quan điểm,chính sách tôn giáo đúng đắn Do vậy đã tập hợp đông đảo các tầng lớpnhân dân, không phân biệt lương giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc,tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng.Hiện nay, CNĐQ và các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn chia rẽđoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộcở Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo được quán triệt
Trang 5sâu sắc trong quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta Tuynhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân cả khách quan, chủ quan, việcthực hiện chính sách tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kếtlương giáo ở một số địa phương còn nhiều hạn chế, bất cập Một bộ phậntín đồ, chức sắc tôn giáo bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động, lợidụng, có những hành động chống đối Nhà nước và chế độ XHCN, đi ngượclại lợi ích quốc gia, làm phương hại khối đại đoàn kết toàn dân.
Trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh hiện nay, việc thực hiện chính sách tôn giáo theo tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo càng trở nên cấp thiết Đoàn kếtlương giáo, thực hiện thắng lợi chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, tăngcường đại đoàn kết toàn dân tộc, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địchlợi dụng tôn giáo, chống phá cách mạng, là nhân tố góp phần quyết định thắnglợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng HồChí Minh về đoàn kết lương giáo, là vấn đề lớn cần được nghiên cứu có tínhchất hệ thống Từ đó, góp phần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tư tưởng của Người,vận dụng tốt hơn trong quá trình thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo củaĐảng, Nhà nước hiện nay
Từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Namhiện nay” làm luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
* Mục đích :
Nghiên cứu, đề xuất những luận cứ khoa học nhằm thực hiện tốt hơnchính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết lương giáo
Trang 6* Nhiệm vụ :
- Nghiên cứu, làm rõ nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết lương giáo và những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tôngiáo ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và những vấn đề đặt ratrong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng HồChí Minh về đoàn kết lương giáo
- Đề xuất yêu cầu và giải pháp thực hiện chính sách tôn giáo theo tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện naytheo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam theo tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết toàn dântộc, tập trung ở một số địa bàn tôn giáo trọng điểm của đất nước; số liệu khảosát chủ yếu từ năm 2003 đến nay
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo, thực hiệnchính sách tôn giáo và đại đoàn kết toàn dân tộc
Cơ sở thực tiễn của luận án là thực tế quá trình thực hiện chính sách tôngiáo ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức thực hiện của Nhà nước,các cấp các ngành, các địa phương
Trang 7* Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đặc biệt chú trọng phương pháp lôgic và lịch sử,phân tích và tổng hợp, kết hợp với các phương pháp: điều tra xã hội học, thống
kê, so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án góp phần làm sáng tỏ nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết lương giáo; cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho lãnhđạo Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội để từ đó thực hiện tốthơn chính sách tôn giáo, góp phần làm thất bại âm mưu phá hoại của các thếlực thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Luận án có thể dùng làmtài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan ở cácnhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, phụ lục, kết luận gồm có 4 chương, 9 tiết
và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo là nội dung quan trọngluôn được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm, tập trung nghiêncứu Lực lượng làm công tác nghiên cứu tôn giáo, tiếp cận tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết lương giáo khá đông đảo, bao gồm các nhà khoa học côngtác ở trong và ngoài quân đội Trong đó, có nhà khoa học, đồng thời làmcông tác quản lý về tôn giáo, về giáo dục, đào tạo hoặc trên các lĩnh vựckhác Tuỳ theo đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các tác giả đã đề cập, khaithác những góc độ khác nhau của tư tưởng nói trên Có thể khái quát trênmột số vấn đề chính sau:
1.1 Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1 Nhóm nghiên cứu về vấn đề chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc
Thời gian qua, có nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu, đề cập
trực tiếp tới vấn đề này như: Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Phùng Hữu Phú (chủ biên), Nxb CTQG, HN, 1995; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc, Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn
Khoa, Nxb Lao động, HN, 2001; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới,
Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, HN, 2004; 60 năm Quân đội
nhân dân Việt Nam xây dựng, chiến đấu, trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Phạm Văn Trà, Nxb QĐND, HN, 2004; Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới, Mẫn Văn Mai (chủ biên), Nxb QĐND, HN, 2006; Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với Phật giáo Nam tông và đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của
Trang 9Đảng và Chính phủ, Đề án do Học viện CTQG và Văn phòng Chính phủ
chủ trì, HN, 2006
Ngoài ra một số luận văn, luận án KHXH nhân văn quân sự cũng đề
cập đến chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, như: Quân đội nhân dân Việt
Nam trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước hiện nay, Phạm Văn Tuấn, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính
trị, HN, 2009; Vai trò của lực lượng vũ trang quân khu 2 trong đấu tranh
chống chia rẽ dân tộc trên địa bàn quân khu hiện nay, Lê Việt Hùng, luận
văn thạc sĩ Triết học, Học viện CTQS, HN, 2006 Một số bài viết như: Phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản,
số 20, tháng 10/2000; Đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực to lớn nhất trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Trịnh Quốc Tuấn, Tạp chí Quốc
phòng toàn dân, tháng 4/2003; Những biểu hiện sinh động về chính sách đại
đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, Trần Hậu, Tạp chí Lịch
sử Đảng, số 11/2007…
Trong những công trình trên, các tác giả đã nêu và phân tích khá sâusắc, có sức thuyết phục các nội dung chính như: Cơ sở hình thành chiến lượcđại đoàn kết Hồ Chí Minh; chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong cáchmạng giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốcXHCN; những nội dung cơ bản trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và một số nội dung trong tư tưởng củaNgười như: Vấn đề tôn giáo trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh; pháthuy tiềm năng cách mạng của đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kếttoàn dân tộc; phương pháp đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ ChíMinh v.v…xem đây là một bộ phận, một khía cạnh để thực hiện chiến lượcđại đoàn kết toàn dân tộc
Ngoài những nội dung trên, các tác giả còn làm sâu sắc thêm một sốnội dung liên quan vấn đề đại đoàn kết như: Đại đoàn kết toàn dân không chỉ
là truyền thống mà còn là bài học sống còn của dân tộc ta trong lịch sử dựng
Trang 10nước và giữ nước; sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường tới khối đạiđoàn kết toàn dân hiện nay; vai trò của Đảng và mối quan hệ giữa tăng cườngđoàn kết trong Đảng với củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; một số chínhsách của Nhà nước Việt Nam đối với Phật giáo Nam tông và đạo Tin lànhvùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần ổn định chính trị xã hội; đấu tranhlàm thất bại âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thếlực thù địch tại một số địa bàn trọng điểm…
Trong cuốn sách 60 năm quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng, chiến
đấu, trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Đại tướng Phạm Văn Trà,
nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ rõ: Quân đội nhân dân Việt Nam làquân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, là quân đội của dân, dodân, vì dân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân chiến đấu” Quân đội ta khôngchỉ thực hiện tốt chức năng chiến đấu, mà phải thực hiện tốt cả chức năngcông tác, chức năng lao động sản xuất Chức năng công tác của Quân độiđược hiểu là công tác vận động quần chúng nhân dân, trong đó có vận độngđồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo…Xuất phát từ chứcnăng, nhiệm vụ, vì vậy quân đội có vai trò to lớn trong thực hiện chiến lượcđại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước Đồng thời, đây cũng là vinhdự, trách nhiệm chính trị lớn lao, là tình cảm sâu sắc của quân đội ta đối vớiĐảng, Nhà nước và nhân dân, được thể hiện xuyên suốt trong lịch sử từ khithành lập quân đội đến nay và mai sau
Trong đề tài Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới, các tác giả tập trung làm
rõ vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhànước hiện nay Thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau: Làm cho đồng bàocác dân tộc thiểu số hiểu rõ và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng,Nhà nước ta hiện nay; xây dựng cơ sở hạ tầng vùng dân tộc miền núi; thamgia củng cố kiện toàn các tổ chức chính trị-xã hội, bồi dưỡng cán bộ kế cậnngười dân tộc thiểu số; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
Trang 11trận an ninh nhân dân, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống hoàbình, ổn định của đồng bào dân tộc.
Trong công trình Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện chiến
lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước hiện nay, tác giả đã làm
rõ một số nội dung chủ yếu: đưa ra quan niệm và xác định nội hàm chiếnlược đại đoàn kết toàn dân tộc; vai trò, đặc điểm quân đội trong thực hiệnchiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; khảo sát kết quả, rút ra bài học kinhnghiệm và dự báo nhân tố tác động đến quân đội trong thực hiện chiến lượcđại đoàn kết dân tộc trong thời gian tới Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp cơbản để quân đội thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng,Nhà nước hiện nay, đó là: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực củacán bộ, chiến sĩ trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; vậndụng tốt các nội dung, phương thức thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàndân tộc; tham gia giải quyết có hiệu quả các “điểm nóng” ở địa phương, tíchcực đấu tranh, ngăn ngừa và làm thất bại sự chống phá khối đại đoàn kếttoàn dân tộc của các thế lực thù địch; kết hợp xây dựng đơn vị vững mạnhvới xây dựng cơ sở chính trị - xã hội trên địa bàn và tăng cường quan hệđoàn kết quân dân
1.1.2 Nhóm nghiên cứu về tôn giáo và vấn đề đoàn kết tôn giáo
Đây là lĩnh vực nhạy cảm, mang đậm tính chính trị - xã hội, vì vậy,nhiều nhà khoa học đã đầu tư thời gian, tập trung công sức nghiên cứu vấn đề
này Tiêu biểu như một số công trình: Xu hướng phát triển tôn giáo hiện nay ở
nước ta và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý, Lê Hữu Nghĩa
(chủ nhiệm), Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN, 2003; Lý luận về tôn giáo và
tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn, tái bản lần thứ ba, Nxb
CTQG, HN, 2007
Một số công trình, luận án, luận văn khoa học xã hội nhân văn quân sự
đề cập tới vấn đề này như: Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống
Trang 12tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sở quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Lê
Đại Nghĩa, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện CTQS, HN, 2001; Quân đội
tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên trong điều kiện mới, Lê Ngọc Sanh (Chủ nhiệm), Đề tài khoa
học cấp bộ, 2005 - Bộ Quốc phòng quản lý; Vai trò của quân đội nhân dân
Việt Nam trong thực hiện quan điểm chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, Phạm Văn Nghĩa, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
CTQS, HN, 2006; Vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong công tác
vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay, Nguyễn Như Trúc,
luận án tiến sĩ Triết học, Học viện CTQS, HN, 2006; Ảnh hưởng qua lại giữa
đạo Công giáo và văn hoá Việt Nam, Phạm Huy Thông, luận án tiến sĩ Triết học,
Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, 2008; Tổchức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc bộ đến trước cách mạng tháng Tám
1945, Nguyễn Phú Lợi, luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học, ViệnNghiên cứu Tôn giáo, HN 2009…
Đề tài Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần
quân nhân ở đơn vị cơ sở quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, tác giả đã
làm rõ: Thực chất ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thầnquân nhân ở đơn vị cơ sở; quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tinhthần quân nhân ở đơn vị cơ sở; những yếu tố tác động và đặc điểm ảnh hưởngcủa tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sở Saukhi phân tích thực trạng, chỉ rõ xu hướng, yêu cầu khách quan phải khắc phụcảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần quânnhân, tác giả đề xuất định hướng và giải pháp cơ bản khắc phục ảnh hưởng tiêucực của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sởhiện nay
Trang 13Đề tài khoa học Quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở
vùng dân tộc, tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên trong điều kiện mới, các tác giả
đưa ra quan niệm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, làm rõ đặc điểm và thựctrạng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôn giáo trên địa bàn Trên cơ sở đó,các tác giả khái quát đặc điểm cơ bản, tác động đến quân đội tham gia xây dựnghệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên hiện nay Đó là những đặc điểm: địa lý,chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; đặc điểm dân tộc, tôn giáo; đặc điểm hệ thốngchính trị cơ sở; điều kiện khả năng của quân đội tham gia xây dựng hệ thốngchính trị cơ sở Từ đó, đề tài tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm, đặcbiệt đã đề xuất năm giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng quân đội tham gia xâydựng hệ thống chính trị cơ sở, trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Công trình Vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện
quan điểm chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, tác
giả chỉ ra một số nội dung cơ bản thể hiện vai trò quân đội trong thực hiệnquan điểm, chính sách tôn giáo, như: giáo dục và giúp đỡ quân nhân có đạothực hiện tốt nhiệm vụ được giao; góp phần nâng cao nhận thức, tự giác chấphành quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng, Nhà nước cho cáctầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào có đạo; thực hiện quan điểm, chính sáchtôn giáo góp phần tăng cường đoàn kết quân - dân và đoàn kết dân tộc; thamgia xây dựng cơ sở địa phương vùng giáo; đấu tranh bảo vệ quan điểm, chínhsách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động, làm rõ thực trạng quânđội thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo, tác giả chỉ ra những bài họckinh nghiệm, đề xuất những yêu cầu và giải pháp phát huy vai trò Quân độitrong thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước hiện nay.Như vậy, tác giả không đi sâu làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Trang 14Công trình Vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong công tác vận
động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay, trình bày: quan niệm về
vai trò của quân đội trong công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở TâyNguyên Từ đó, tác giả phân tích thực trạng vai trò của quân đội trong côngtác vận động đồng bào có tôn giáo, chỉ ra định hướng phát huy vai trò quân độitrong công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay
Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các giải pháp cơ bản, như: Nâng cao nhậnthức, trách nhiệm và năng lực của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong công tácvận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên; tiếp tục đổi mới nội dung, hìnhthức, phương pháp thực hiện công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở TâyNguyên hiện nay; nâng cao chất lượng hoạt động tham gia phát triển kinh tế -
xã hội, xoá đói giảm nghèo trên địa bàn đóng quân; nâng cao chất lượng độingũ cán bộ dân vận chuyên trách của các đơn vị quân đội, chất lượng các tổ,đội công tác tăng cường cho cơ sở địa phương vùng đồng bào có tôn giáo ởTây Nguyên hiện nay; xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp, kết hợpgiữa các đơn vị quân đội với cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội ở địaphương trong công tác vận động đồng bào có tôn giáo
Đề tài Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hoá Việt Nam, tác
giả trình bày được các dẫn chứng, cứ liệu cụ thể chứng minh: Đạo Công giáo
có những đóng góp tích cực cũng như ảnh hưởng tiêu cực với văn hoá ViệtNam; làm rõ kết quả sự tác động trở lại của văn hoá Việt Nam với đạo Cônggiáo qua tiến trình hội nhập văn hoá và đồng hành cùng dân tộc; xu hướngphát triển của mối quan hệ giữa đạo Công giáo và văn hoá dân tộc trong giaiđoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Trong đó, tác giả đưa ra giải pháp
để thúc đẩy tiến trình “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, coi nhiệm vụ xâydựng cuộc sống “tốt đạo, đẹp đời” là trách nhiệm của toàn xã hội chứ khôngphải của riêng người có đạo…
Công trình Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc bộ đến
trước Cách mạng tháng Tám 1945, tác giả trình bày quá trình hình thành, phát
Trang 15triển, từ đó rút ra những đặc điểm và vai trò của tổ chức xứ, họ đạo Công giáoở đồng bằng Bắc bộ đến trước cách mạng tháng Tám 1945, góp phần tìm hiểuCông giáo Việt Nam…
Như vậy, nội dung các luận án trên dừng lại ở góc độ: làm rõ vai tròcủa quân đội trong thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo, vận động đồngbào có tôn giáo ở Tây Nguyên chấp hành tốt chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước hiện nay Hoặc ở phạm vi hẹp, làm rõ: ảnh hưởng qua lạigiữa đạo Công giáo và văn hoá Việt Nam; quá trình hình thành, phát triển, từ
đó rút ra những đặc điểm và vai trò của tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồngbằng Bắc bộ trước cách mạng tháng Tám 1945, của một số tác giả
Các bài viết về tôn giáo và chính sách tôn giáo, tiêu biểu như: Tìm hiểu
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ 1945-1975, Nguyễn Thị
Kim Thanh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9/2007; Các tôn giáo ở Việt Nam đồng
hành cùng dân tộc trong thời kỳ đổi mới, Trần Văn Trình, Tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo, số 3 - 2008; Từ sự đổi mới về đường lối đến sự đổi mới về chính
sách tôn giáo ở Việt Nam từ 1990 đến nay, Đỗ Thị Kim Định, Tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo, số 8 – 2008
Gần đây trên Tạp chí “Nghiên cứu tôn giáo” đăng bài của các nhà
nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung, liên quan tới tôn giáo và chính sách
tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, như: Vấn đề tôn giáo và dân tộc với hệ thống
chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, Hoàng Minh Đô, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo,
số 9 - 2008; Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn
giáo trước sự phát triển của thời đại ngày nay, Nguyễn Đức Lữ, Tạp chí
Nghiên cứu tôn giáo, số 10 - 2008
Nhiều bài viết của các nhà khoa học, đề cập việc giải quyết vấn đề tôn
giáo, liên quan đến tôn giáo, như: Tự do tôn giáo phải gắn liền với chấp hành
nghiêm pháp luật, Lại Hồng Khánh, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số
10/2008; Năm năm thực hiện Nghị quyết số 25- NQ/TW khoá IX về công tác
Trang 16tôn giáo, Hồ Trọng Hoài, Tạp chí Cộng sản, số 792, tháng 10 năm 2008; Tăng cường khối đoàn kết các tôn giáo là tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, Má Thị Hà, Tạp chí Cộng sản, số 792, tháng 10-2008…
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn, trong một số công trình khoa học đã làm rõnhững nội dung, đặc điểm tình hình tôn giáo, tín ngưỡng, chính sách tôn giáoở Việt Nam Trong đó, tác giả tập trung lý giải về chính sách tự do tôn giáo ởnước ta, như: Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận rõ tầm quantrọng của khối đoàn kết tôn giáo, chủ trương “Tín ngưỡng tự do và Lươnggiáo đoàn kết”; nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhândân; thái độ ứng xử đúng đắn và phù hợp với vấn đề tôn giáo; để giải quyếttốt vấn đề tôn giáo phải đặt nó trong vấn đề văn hoá; ngăn chặn việc lợi dụngtôn giáo vào mục đích chống lại Tổ quốc…
Trong đề tài Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và
thực tiễn, tác giả Đỗ Quang Hưng đã làm rõ các nội dung, như: Bối cảnh quốc
tế của vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thế kỷ XX; chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và bước khởi đầu nhận thức về vấn đề tôngiáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (giai đoạn 1924-1945); sự phát triển quanđiểm và đường lối tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam: từ cách mạngDTDCND đến cách mạng XHCN; xây dựng, từng bước hoàn thiện và thực thichính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta từ 1945 đến nay
1.1.3 Nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo
Có khá nhiều công trình, tiêu biểu như: Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín
ngưỡng, Viện Nghiên cứu tôn giáo, Nxb KHXH, HN, 1996, xuất bản lần thứ
hai có bổ sung, năm 1998; Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn
giáo, Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nxb Tôn giáo, HN,
2003; Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách
Trang 17mạng Việt Nam, Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Nxb QĐND, HN, 2003; Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
Nguyễn Mạnh Hưởng (chủ nhiệm), Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự,
HN, 2003; Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận,
Bình Thuận, Hoàng Minh Đô (chủ biên), Nxb Lý luận Chính trị, HN, 2006;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay,
Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nxb Chính trị - Hành chính, HN, 2009…
Về các bài viết, tiêu biểu như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
lương giáo, Nguyễn Đức Lữ, Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 3/1995; Kích động
tư tưởng ly khai, một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên, Hoàng Minh Đô, Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, số 6/2005; Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, Nguyễn Đức Lữ,
Tạp chí Lịch sử Đảng số 12/2007…
Trong các công trình nói trên, công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam, các tác giả đã nghiên
cứu có tính hệ thống các vấn đề như: Vấn đề dân tộc, tôn giáo; đại đoàn kếttoàn dân tộc; những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà sau cách mạng tháng Tám Theo các tác giả, vấn đề dân tộc, tôn giáo lànhững vấn đề lớn, rất nhạy cảm của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam.Nhận thức rõ vấn đề đó, sau khi giành được chính quyền trong cách mạngtháng Tám, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết thànhcông vấn đề dân tộc, tôn giáo Đó là cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng thựchiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương giáo để “kháng chiến
và kiến quốc” thắng lợi
Bên cạnh các đề tài trên, một số nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu
đến vấn đề đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 18và xem đây là một bộ phận quan trọng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộcở Việt Nam.
Trong công trình Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, tập thể tác giả
Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã làm nổi bật tư tưởng vì nước, vì dân, vì đoànkết các dân tộc toàn nhân loại được coi là mục đích của chính sách tự do tôngiáo của Hồ Chí Minh Nhiều bài nói, bài viết của Người về tôn giáo, tínngưỡng, được công trình trích dẫn khá đầy đủ, làm cơ sở khi nghiên cứu nộidung đoàn kết lương giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Công trình Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc, các tác giả đã phân tích việc khắc phục ảnh hưởng
tiêu cực của tôn giáo đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, làm rõ cơ sở lý luận,thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; tập trung làm rõ quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vềtôn giáo và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nó trong cách mạng XHCN.Trên cơ sở đó, đề tài dự báo tình hình, chỉ ra yêu cầu, đề xuất một số giảipháp cơ bản nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Công trình Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh
Thuận, Bình Thuận, các tác giả đã hệ thống, làm rõ: thực trạng tôn giáo, tín
ngưỡng và việc thực hiện chính sách tôn giáo trong vùng đồng bào Chăm ởNinh Thuận, Bình Thuận; giải pháp góp phần hoạch định chính sách tôn giáođối với khu vực này Trong đó, đề tài tập trung vào một số nội dung chủ yếu:khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của hai tỉnh NinhThuận, Bình Thuận; thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm ở haitỉnh này; tìm hiểu việc thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo trong vùngđồng bào Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận; dự báo xu hướng biến động củatín ngưỡng, tôn giáo và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách
Trang 19tôn giáo trong vùng đồng bào Chăm ở khu vực này; đề xuất một số giải pháp,kiến nghị về chính sách tôn giáo đối với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận, BìnhThuận…
Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt
Nam hiện nay, các tác giả đã tập trung làm rõ hai nội dung: Thứ nhất, cơ sở
hình thành; tư tưởng về đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc; tư tưởng vềquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời chống lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo và bài trừ mê tín, dị đoan; quan điểm Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữatôn giáo và một số lĩnh vực của đời sống xã hội Thứ hai, vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo trong các Văn kiện của Đảng; vận dụng tư tưởng HồChí Minh về tôn giáo trong các văn bản pháp luật; những kết quả đạt đượctrong công tác tôn giáo; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo tronggiai đoạn hiện nay…Đây là công trình mới ra mắt bạn đọc, có giá trị về lýluận và thực tiễn, thu hút sự quan tâm của nhiều người, trong đó có các nhànghiên cứu, quản lý nhà nước về tôn giáo trên phạm vi cả nước Tác giả sẽ kếthừa, tiếp thu một số nội dung, mở rộng, phát triển phù hợp luận án của mình
Một số luận án khoa học xã hội nhân văn đề cập tới vấn đề tôn giáo, tín
ngưỡng; đoàn kết tôn giáo đã được công bố như: Công tác vận động giáo dân
của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay, Hoàng
Mạnh Đoàn, luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,
HN, 2002; Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên
hiện nay - thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Trần Xuân Dung,
luận án tiến sĩ Triết học Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN, 2002; Quan điểm
Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, Phạm Hữu Xuyên, luận án tiến sĩ Triết
học, chuyên ngành Tôn giáo học, Viện nghiên cứu Tôn giáo, HN, 2007
Một số luận văn thạc sĩ KHXH nhân văn như: Vấn đề đoàn kết tôn giáo ở
Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Lý Thị Bích Hồng, luận văn thạc sĩ khoa
Trang 20học Tôn giáo, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN, 2001; Nâng cao hiệu quả
công tác vận động tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay, Trần Thị Tuyết Hà,
luận văn thạc sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN, 2001;
Công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay,
Nguyễn Đức Thịnh, luận văn thạc sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện CTQG Hồ
Chí Minh, HN, 2001; Công tác vận động đồng bào Công giáo Tỉnh Bình Dương
của Trường sĩ quan Công binh trong giai đoạn hiện nay, Nguyễn Đăng Thành,
luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện CTQS, HN, 2002; Công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo ở Nam Định từ năm 1990 đến nay, Hồ Xuân
Định, luận văn thạc sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN,
2004; Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết lương giáo trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp 1945- 1954 (Khảo sát tình hình các tỉnh phía Bắc), Trần
Thị Mai Thanh, luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường đại học KHXH vànhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, 2005…
Trong luận án Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng
(cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay, tác giả đã đưa ra quan niệm về
nội dung, chất lượng công tác vận động đồng bào Công giáo Theo tác giả,nội dung cơ bản của công tác vận động giáo dân là: tuyên truyền, giáo dục vềđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức, hướng dẫnđồng bào Công giáo nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, khoa học, vậnđộng họ tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh toàndiện; phát động các phong trào, vận động giáo dân tham gia tích cực cácphong trào: xây dựng đời sống mới ở khu dân cư, phòng chống các tệ nạn xãhội; cảnh giác phát hiện và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạnlợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, bảo vệ lợi ích chính đáng của đồngbào Công giáo
Tác giả cũng phân tích, làm rõ chất lượng công tác vận động đồng bàoCông giáo, thể hiện: giáo dân nắm vững và thực hiện đúng đường lối, chính
Trang 21sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
và con đường đi lên CNXH ở nước ta; tổ chức thực hiện phong trào hànhđộng cách mạng trong quần chúng giáo dân; duy trì và thực hiện tốt quy chếdân chủ ở cơ sở Tác giả cũng chỉ ra một số tiêu chí cơ bản đánh giá chấtlượng công tác vận động giáo dân, đó là: mức độ tham gia của chủ thể; đốitượng tiếp nhận; về nội dung, hình thức, phương pháp, phương châm vậnđộng; về hiệu quả của các chủ trương, giải pháp…
Trong luận văn thạc sĩ Công tác vận động đồng bào Công giáo Tỉnh
Bình Dương của Trường sĩ quan Công binh trong giai đoạn hiện nay, tác giả
đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn công tác vận động đồng bào Công giáo tỉnhBình Dương của Trường sĩ quan Công binh giai đoạn hiện nay Trong đó, tácgiả đưa ra quan niệm quân đội thực hiện công tác vận động đồng bào Cônggiáo: đó là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm giáo dục, động viên giúp
đỡ giáo dân trong sản xuất và đời sống, góp phần xây dựng địa bàn vữngmạnh toàn diện đồng thời phát huy các điều kiện của địa phương trong rènluyện bộ đội và xây dựng đơn vị Trên cơ sở đó, tác giả đề cập nội dung, yêucầu và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng công tác vận động đồng bàoCông giáo tỉnh Bình Dương
Trong luận văn Công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở
Nam Định từ năm 1990 đến nay, tác giả làm rõ quan niệm về công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo
Theo tác giả, công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo, bao gồm:công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên quần chúng tín đồ nhằm làm cho giáodân nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện tốt đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao đời sống nhândân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững mạnh Mục tiêu của công tác vậnđộng quần chúng tín đồ Công giáo là nhằm bảo đảm mọi đường lối, chính sách
Trang 22của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực thi có hiệu quả trong đồng bào,tăng cường đoàn kết và phát huy vai trò của đồng bào trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đề tài còn đề cập đến nộidung, hình thức, chủ thể, đối tượng và nhân tố cơ bản tác động đến chất lượng,hiệu quả công tác vận động đồng bào Công giáo ở Nam Định…
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, tham luận khoa học của các đồng chí lãnhđạo Đảng, Nhà nước và một số nhà khoa học làm công tác nghiên cứu, quản
lý tôn giáo, đề cập tới vấn đề đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo
Nghiên cứu tổng hợp từ các công trình trên, có thể tóm tắt trên một sốnội dung cơ bản sau:
Một là, về cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo
Một số công trình đã đề cập trên, với cách tiếp cận và diễn đạt khác nhaunhưng về cơ bản, có thể khái quát bắt nguồn từ những cơ sở sau:
- Từ quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáotrong cách mạng XHCN nhằm thực hiện lý tưởng giải phóng xã hội, giảiphóng con người; là giải quyết vấn đề lực lượng, đoàn kết các lực lượng, tạosức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong cách mạng XHCN, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của CNĐQ, các thếlực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng XHCN
- Từ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Namtrong cải tạo thiên nhiên, trong sinh hoạt cộng đồng và đấu tranh chống giặcngoại xâm
- Từ tinh thần khoan dung, khoan hoà trong các tôn giáo ở Việt Nam
- Từ yêu cầu chung đấu tranh chống lại âm mưu thâm độc của kẻ thùlợi dụng tôn giáo chia rẽ đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng
Hai là, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo.
Trang 23Những đề tài mà chúng tôi dẫn ra ở trên đã ít nhiều làm rõ tình hình tôngiáo: Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo đã tồn tại lâu dàicùng với lịch sử dân tộc Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dướisự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra quan điểm, chính sách tôngiáo đúng đắn, nhất quán nên đã vận động được đông đảo quần chúng theo tôngiáo tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc; đồng bào theo tôngiáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũngnhư xây dựng đất nước đi theo con đường XHCN.
Từ chỗ làm rõ thực trạng, các tác giả chỉ ra một số nguyên nhân tácđộng tới tình hình tôn giáo Việt Nam: Do sự mở cửa hội nhập kinh tế, kéotheo hội nhập văn hoá, trong đó có du nhập tôn giáo ngoại lai; do kẻ thù lợidụng tôn giáo chống phá cách mạng; trình độ dân trí của một bộ phận nhândân còn thấp; mặt trái nền kinh tế thị trường tác động; sự yếu kém của đội ngũcán bộ làm công tác tôn giáo
Trong công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở
Việt Nam hiện nay, các tác giả đã làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
lương giáo, hoà hợp dân tộc Bao gồm: mục tiêu, đối tượng và nội dung củađoàn kết lương giáo; phương pháp thực hiện tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hoàhợp dân tộc…
Bên cạnh đó, một số tác giả còn khái quát bài học kinh nghiệm vềđoàn kết lương giáo trong cách mạng DTDCND như: Xác định đúng kẻ thùchủ yếu trước mắt; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự dokhông tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; đấu tranh vạch rõ kẻ thù, phê phánthẳng thắn hành động chống phá cách mạng làm tổn hại lợi ích của nhân dân
và Tổ quốc; làm tốt công tác vận động chức sắc tôn giáo phát huy vai trò và
uy tín của họ trong cộng đồng tôn giáo
Ba là, vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện quan
điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Trang 24Đề cập nội dung quân đội trong thực hiện quan điểm, chính sách tôngiáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, các công trình nói trên đã làm rõ: Quânđội thường xuyên giáo dục và giúp đỡ quân nhân có đạo làm nghĩa vụ quân sựthực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách được giao; quân đội góp phần nâng caonhận thức và tự giác chấp hành quan điểm, chính sách đối với tôn giáo củaĐảng và Nhà nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào có đạo; tăngcường đoàn kết quân dân và đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn kết toàndân; tham gia xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
cơ sở địa phương vùng có tôn giáo vững mạnh
Như vậy, các công trình trên ít nhiều đề cập đến đối tượng, phạm vinghiên cứu của đề tài, vị trí, vai trò đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáotheo tư tưởng Hồ Chí Minh
Bốn là, về hệ thống các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện đoàn
kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các đề tài nêu trên đã đưa ra một số giải pháp cơ bản: Tăng cường nhậnthức tư tưởng về đoàn kết tôn giáo trong tình hình mới; bổ sung và hoàn chỉnhhệ thống pháp luật, pháp quy về tôn giáo; nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho đồng bào các tôn giáo; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm côngtác tôn giáo trong tình hình mới; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng vàquản lý của Nhà nước, phát huy trách nhiệm của hệ thống chính trị để thựchiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong thời kỳ hiện nay; kiênquyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong tôn giáo, làm thất bại âmmưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng
Đó là một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án chưa được đề cập
Một là, hiện nay chưa có công trình khoa học nào đề cập dưới góc độ
chính trị - xã hội việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam theo tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo Một số công trình trên có đề cập đến tưtưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; về đoàn kết tôn giáo nói chung,
Trang 25chứ không đi sâu làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kếtlương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, chưa có đề tài nào tập trung hệ thống, khái quát toàn diện tư
tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, làm rõ vị trí, vai trò tư tưởng đótrong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc Một số công trình mới tập trungbàn đến: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; sựvận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng Cộng sảnViệt Nam - giai đoạn từ 1969 đến nay…mà chưa đề cập cụ thể tư tưởng HồChí Minh về đoàn kết lương giáo và sự vận dụng tư tưởng đó trong thực hiệnchính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Riêng công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo và sự vận dụng ở
Việt Nam hiện nay, có đề cập đến tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân
tộc của Hồ Chí Minh, nhưng với tư cách là một bộ phận trong toàn bộ tưtưởng của Người về tôn giáo, tín ngưỡng
Ba là, chưa có đề tài nào khảo sát, đánh giá kết quả vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ởViệt Nam từ năm 2003 đến nay Về cơ bản, các đề tài trên nêu tình hình thựchiện đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong một số giai đoạn.Một số đề tài chỉ ra thành tựu, những tồn tại cần khắc phục trong thực hiệnđoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chưa có đề tài nàokhảo sát, đánh giá kết quả thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta theo tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, chỉ rõ nguyên nhân của thành tựu
và hạn chế trong quá trình đó
Bốn là, chưa có đề tài nào đề xuất hệ thống giải pháp tiếp tục thực hiện
chính sách tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo Hiệnnay, CNĐQ và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hoàbình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ, trong đó chúng triệt để lợi dụng vấn đề dântộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam Vì vậy, vận dụng tốt hơn tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn
Trang 26giáo ở Việt Nam hiện nay, sẽ thiết thực góp phần xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân tộc vững mạnh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cáchmạng của kẻ thù
Tóm lại, những công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu dưới nhiềugóc độ khác nhau vấn đề lý luận, thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kếttôn giáo, đoàn kết lương giáo, có nội dung liên quan đến đề tài luận án Tácgiả có thể tham khảo trong nghiên cứu thực hiện luận án của mình Tuy nhiên,luận án tiến sĩ của tác giả là đề tài nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với cácvấn đề nghiên cứu trên Trong đó, luận án tập trung làm rõ một số vấn đề cơbản sau đây:
- Hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoànkết lương giáo
- Đưa ra quan niệm và làm rõ thực chất vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ những vấn đề đặt ra và đề xuất giảipháp thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết lương giáo
Kết luận chương 1
Đoàn kết lương giáo là nội dung quan trọng, bộ phận hợp thành chiếnlược đại đoàn kết Hồ Chí Minh Đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo trởthành quan điểm, đường lối nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Chủ tịch HồChí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hiện nay, tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo là một trong những cơ sở lý luận chỉ đạoquan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đã và đang được nhiềunhà khoa học, nhà quản lý công tác tôn giáo tập trung nghiên cứu Có nhiềucông trình khoa học đề cập, nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 27tôn giáo và đoàn kết lương giáo dưới các giác độ khác nhau Có thể khái quátkết quả đã đạt được trên một số vấn đề chính, theo các nhóm nghiên cứu, đólà: nhóm nghiên cứu về vấn đề chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; nhómnghiên cứu về tôn giáo và vấn đề đoàn kết tôn giáo; nhóm nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo…Trong mỗinhóm nghiên cứu trên, bao hàm những công trình khoa học, luận văn, luận án,những bài viết…đã được công bố.
Tổng hợp từ các nhóm nghiên cứu và các công trình khoa học đã nêu,
có thể tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được trên một số nội dung cơ bản: cơ sởhình thành, quá trình phát triển và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoànkết tôn giáo, đoàn kết lương giáo; vấn đề đoàn kết lương giáo trong xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc; vai trò Quân đội nhân dân Việt Nam trongthực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay;những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả đoàn kết tôn giáo, đoàn kếtlương giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Với tính cách là đề tài khoa học độc lập, luận án tập trung làm rõ nhữngvấn đề sau:
Một là, những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết lương giáo
Hai là, đưa ra quan niệm và làm rõ thực chất vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo
Ba là, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ những vấn đề đặt ra, đề xuất giải
pháp thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết lương giáo
Trang 28Chương 2 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO VÀ THỰC CHẤT VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT
LƯƠNG GIÁO TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
* Quan niệm về chính sách tôn giáo
Chính sách tôn giáo là một nội dung quan trọng trong hệ thống chínhsách xã hội của Đảng, Nhà nước ta Chính sách tôn giáo không phải là nộidung “nhất thành bất biến”, mà thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh chophù hợp với thực tiễn tình hình tôn giáo đất nước và nhiệm vụ cách mạngtrong mỗi giai đoạn lịch sử
Chính sách tôn giáo ở Việt Nam là sách lược và kế hoạch cụ thể của Đảng, Nhà nước ta nhằm đoàn kết, tập hợp đồng bào theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng và bảo
Trang 29được đông đảo bộ phận nhân dân theo tôn giáo thì khi đó cách mạng sẽ gặpkhó khăn, thậm chí thất bại.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi tôn giáo là vấn
đề xã hội - chính trị quan trọng Đảng, Nhà nước đề ra chính sách tôn giáođúng đắn, trực tiếp góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vữngmạnh, phát huy vai trò tích cực của đồng bào theo tôn giáo trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Từ thực trạng tình hình tôn giáo ViệtNam, cùng với quá trình đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực, Đảng xác
định đổi mới công tác tôn giáo là một nhu cầu khách quan Sự đổi mới nhận
thức của Đảng về lĩnh vực tôn giáo, được đánh dấu bằng Nghị quyết 24 -NQ/
TW năm 1990 Đây là bước ngoặt, thể hiện quan điểm mới của Đảng về tôngiáo và công tác tôn giáo Nghị quyết 24 - NQ/TW đã chỉ ra ba luận điểmmới, định hướng nhận thức trong toàn xã hội về tôn giáo và công tác tôn giáo,
đó là: Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.
Sau khi có Nghị quyết 24 - NQ/TW của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) đã ra Nghị định 69 - HĐBT cụ thể hoá một phầnnhững nội dung chính sách đối với công tác tôn giáo Như vậy, với sự đổi mới
về quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta được thể hiện tronghai Văn kiện quan trọng trên, đã tác động tới tình hình tôn giáo ở nước ta theochiều hướng tích cực Từ 1994 - 1999, Nhà nước ta lần lượt thừa nhận tư cáchpháp nhân cho các hệ phái Cao Đài và thành lập Ban đại diện của Phật giáoHoà Hảo, đồng thời tổng kết thực hiện Nghị quyết 24 Quá trình tổng kết đãđánh giá đúng những mặt đã đạt được, đồng thời chỉ rõ những mặt hạn chếcần khắc phục Một mặt, nhấn mạnh những quan điểm đổi mới đúng đắntrong Nghị quyết 24 về tôn giáo, mặt khác Đảng ta cũng yêu cầu mở rộngđoàn kết, tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo Cũng trong giai đoạn
Trang 30này, Bộ Chính trị BCHTW Đảng đã ra chỉ thị công khai về công tác tôn giáotrong tình hình mới - Chỉ thị 37/CT.
Từ trước đến nay, Đảng ta luôn coi công tác tôn giáo là vấn đề có ýnghĩa chiến lược, làm tốt công tác tôn giáo sẽ góp phần củng cố khối đại đoànkết toàn dân tộc vững mạnh Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục
có Nghị quyết, chỉ thị, thông báo…về tôn giáo và công tác tôn giáo Ngày 3-2003, tại Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khoá IX, Đảng ta ra Nghị quyết NQ25- NQ/TW về công tác tôn giáo Nghị quyết 25 - NQ/TW về công tác tôngiáo đã kế thừa nội dung Nghị quyết 24 và Chỉ thị 37 - CT của Bộ Chính trịnăm 1998 Đồng thời, Đảng ta bổ sung, phát triển một số nội dung mới phùhợp với tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo giai đoạn hiện nay Đây làNghị quyết của BCHTW về công tác tôn giáo được công bố công khai chotoàn Đảng, toàn dân, trong đó có đông đảo tín đồ, chức sắc tôn giáo tiếp thu,cùng toàn dân thực hiện
12-Như vậy, cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng vềtôn giáo và công tác tôn giáo cũng có sự đổi mới, phát triển Quan điểm,chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ này có sự đổi mới sâurộng, tạo điều kiện cho đông đảo giáo dân yên tâm “chăm lo việc đạo, làm tốtviệc đời” Đây là cơ sở hết sức quan trọng thể hiện quan điểm, chính sáchnhất quán của Đảng, Nhà nước ta “tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự
do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân” Đồng thời, đây cũng là bằngchứng hùng hồn, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khichúng cho rằng: “Ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng tôn giáo”(!) rằng “tôngiáo Việt Nam hiện nay đang bị chèn ép”, “bị phân biệt đối xử”…(!!)
Sau khi Nghị quyết số 25 - NQ/TW ra đời, Nhà nước ta đã thể chế hoáNghị quyết đó của Đảng thành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo Đây là kết quảcủa quá trình chuẩn bị công phu, nghiêm túc, công khai, dân chủ của các cơquan chức năng được giao nhiệm vụ soạn thảo Pháp lệnh
Trang 31Để có “Luật tôn giáo” ra đời ở Việt Nam, các cơ quan chức năng cầnphải có thêm thời gian, làm công tác chuẩn bị Tuy nhiên, với các văn bản nêutrên, đến nay, Nhà nước ta đã cơ bản xây dựng được khung pháp lý tương đốihoàn chỉnh để quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo Đây là cơ sở, tạođiều kiện cho các hoạt động tôn giáo dần dần đi vào nề nếp, chỉ đạo công táctôn giáo của hệ thống chính trị các cấp và tổ chức thực hiện để mọi công dântuân thủ pháp luật Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước tađược nhiều nước, nhiều tổ chức tôn giáo thế giới quan tâm, hoan nghênh đónnhận Đông đảo tín đồ, chức sắc tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vào chính sáchtôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dântộc, đoàn kết lương giáo ở Việt Nam hiện nay.
Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua, càngkhẳng định đường lối đổi mới đúng đắn do Đảng ta khởi xướng và lãnhđạo, trong đó có đổi mới tư duy về chính sách tôn giáo Kiên định chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường XHCN, vớiđường lối đổi mới toàn diện đúng đắn, nhất định Đảng sẽ đưa dân tộc tađến mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
* Những nội dung chủ yếu trong quan điểm, chính sách tôn giáo
Từ năm 1990 đến nay, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam…đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác tôn giáotrong tình hình mới Trong đó, quan điểm chính sách tôn giáo của Đảng, Nhànước được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta
Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dântộc, do vậy Đảng có quan điểm “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng vàbảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạtđộng trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật” [23, tr 48]
Trang 32Đảng ta vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo dưới CNXH Đặc biệt,Đảng đã chú trọng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáotrong thực hiện chính sách tôn giáo Trên cơ sở thừa nhận tín ngưỡng, tôngiáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và đạo đức tôn giáo cónhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta, Đảng yêucầu tất cả cán bộ, đảng viên và công dân phải tôn trọng quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân
Sự tôn trọng đó phải được hiểu là Đảng chăm lo mọi mặt đời sống nhândân, trong đó có nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân theotôn giáo Đảng nhất quán thực hiện tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo củanhân dân, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm tăngcường đoàn kết, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, tạo sự đồng thuận,giữ vững ổn định chính trị - xã hội Bên cạnh đó, Đảng ta cũng yêu cầu hệthống chính trị các cấp và toàn dân nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làmthất bại âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chốngphá cách mạng Việt Nam
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
Đồng bào theo tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của khối đạiđoàn kết toàn dân tộc, có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Vì vậy, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, là:
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theotôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy nhữnggiá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người
có công với Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vớicông dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái phápluật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽcác dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia [23, tr 49]
Trang 33Nội dung trên thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta Đảng, Nhànước đánh giá cao vai trò và sự đóng góp to lớn của bộ phận nhân dân theotôn giáo Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước chỉ thành công khi có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương giáo được củng cố Bên cạnh đó,Đảng, Nhà nước chú trọng giáo dục truyền thống trọng đạo lý của dân tộcViệt Nam “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, nhằm tăngcường đoàn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm thất bại
âm mưu “chia để trị” của kẻ thù
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng
Đại bộ phận tín đồ các tôn giáo nước ta là quần chúng nhân dân lao động,trong đó chủ yếu là nông dân, có lòng yêu nước, đoàn kết, gắn bó với dân tộc
Vì vậy, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng,Đảng ta xác định: “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệpchung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền vànghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23, tr 49]
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bàonêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc,thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợiích vật chất tinh thần cho nhân dân
Trong công tác vận động đồng bào tôn giáo nói riêng, cũng như côngtác vận động quần chúng nói chung, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợiích của nhân dân, vì mục đích đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Đối với đồng bào theo tôn giáo, Đảng, Nhà nước quan tâm giảiphóng cho họ thoát khỏi sự áp bức, nô dịch cả về thể xác và tinh thần, làm
Trang 34cho “phần xác no ấm, phần hồn vui vẻ”, giáo dục, tạo điều kiện cho họ vươntới những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của tôn giáo.
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Đảng ta xác định: “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vựccủa đời sống xã hội, các cấp các ngành, các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo
là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo” [23, tr 50]
Xuất phát từ thực tế, nước ta có nhiều tôn giáo với hàng chục triệu tín
đồ, chức sắc, nhà tu hành có mặt ở hầu khắp mọi vùng, miền trên cả nước Vìvậy làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, doĐảng lãnh đạo Tuy nhiên, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa các cơ quan và những cán bộ, công chức chuyên trách công tác tôn giáo.Trong hệ thống chính trị có những cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách làmtham mưu cho Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo Đây là lực lượng nòngcốt trong việc đề xuất, thực thi chính sách tôn giáo trên cả nước Vì vậy, tổchức, bộ máy làm công tác tôn giáo cần được củng cố, kiện toàn, nhất là ởnhững địa bàn trọng điểm có đông tín đồ, chức sắc tôn giáo
Thực chất công tác tôn giáo ở nước ta là công tác vận động quầnchúng; công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống cácthế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,chống phá cách mạng Vì vậy, thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo chỉđạt hiệu quả cao khi huy động được toàn bộ hệ thống chính trị làm tốt công tácvận động tín đồ, chức sắc tôn giáo và nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Vấn đề theo đạo và truyền đạo ở Việt Nam
Quan điểm của Đảng ta rất rõ ràng: mọi tín đồ, chức sắc tôn giáo đều
có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp, theo quy địnhcủa pháp luật; các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận, được hoạt độngtheo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường
Trang 35đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn sửa chữa, xây dựng
cơ sở thờ tự của mình theo đúng quy định của pháp luật Đảng ta khẳng định:
Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác, đềuphải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáotuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộcngười dân theo đạo Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyềnđạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định củaHiến pháp và pháp luật [23, tr 50 - 51]
Những nội dung trên thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước là tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáocủa công dân, bảo đảm hoạt động lễ nghi của các tôn giáo theo đúng quy địnhpháp luật Đồng thời, ngăn ngừa và cương quyết xử lý những hành động lợidụng tôn giáo hoạt động vì động cơ chính trị, hoặc vụ lợi, vi phạm pháp luậtnhư: tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái phápluật…của những tổ chức, cá nhân đội lốt tôn giáo
Những quan điểm trên là kết quả của quá trình đổi mới tư duy, đổi mớinhận thức của Đảng về tôn giáo từ khi có NQ 24, đặc biệt từ năm 2003 đếnnay Để thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo có hiệu quả, Đảng, Nhànước yêu cầu các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội vàtoàn dân phải thực sự quan tâm đến công tác tôn giáo Bằng những việc làm
cụ thể, thiết thực: chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào theo tôngiáo; vận động họ phát huy những giá trị đạo đức, văn hoá tôn giáo trong sinhhoạt cộng đồng, tôn trọng và bảo đảm quyền lợi vật chất, tinh thần chính đángcủa quần chúng tôn giáo Đồng thời, luôn cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làmthất bại mọi âm mưu, hành động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáochống phá cách mạng
Cùng với quan điểm trên, còn có những nguyên tắc chỉ đạo công táctôn giáo, chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay Trong đó, nguyên tắc cơ bản
Trang 36hàng đầu là: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự dokhông tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; đồng bào tôn giáo là một bộ phậncủa khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đấu tranh với mọi hành động vi phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợiích của Tổ quốc và của nhân dân
Như vậy, Đảng, Nhà nước ta hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết lương giáo trong thực tiễn hiện nay, đó là: tôn trọng đức tin của đồngbào tôn giáo; đối xử công bằng, bình đẳng giữa các tôn giáo và mọi công dân đểcủng cố, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đồng thời, khuyến khích mọi
tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc tôn giáo có những hoạt động ích nước, lợi dânphát huy những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của tôn giáo trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
* Một số chính sách cụ thể của Nhà nước ta đối với tôn giáo
Một là, đối với tín đồ các tôn giáo
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đếncông tác tôn giáo, Người căn dặn đồng bào các tôn giáo vừa phải làm tròn bổnphận của một công dân chân chính, vừa phải làm tròn bổn phận của một tín
đồ chân chính Với tư cách là tín đồ tôn giáo, “được tự do bày tỏ đức tin, thựchành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt,phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo”[45, tr 349 - 350] Với tư cách là công dân, mọi tín đồ, chức sắc tôn giáo đều
có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng trước pháp luật như mọi công dân khác
Đảng, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để đồng bào theo tôn giáotham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội tại địa bàn như: vận động toàndân đoàn kết xây dựng đời sống mới khu dân cư; hỗ trợ về vật chất, tinh thầngiúp đồng bào theo tôn giáo đang gặp khó khăn vươn lên “xoá đói, giảmnghèo”…Đồng thời, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước cũng yêucầu đồng bào tôn giáo “thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản
Trang 37trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động tín ngưỡng, tôngiáo theo đúng quy định của pháp luật” [45, tr 350] Đồng bào theo tôn giáođược sinh hoạt tôn giáo bình thường, có nơi thờ tự và thực hiện nghi lễ tôngiáo; có kinh sách, đồ dùng việc đạo và có chức sắc hướng dẫn việc đạo.
Hai là, đối với chức sắc các tôn giáo
Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo là những người chuyên hoạt động tôngiáo, họ là “tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo”, do vậy có vai tròquan trọng trong tổ chức các tôn giáo Nhà nước ta thừa nhận “Chức sắc, nhà
tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảngđạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo” [45, tr 350] Như vậy, chức sắc, nhà tuhành được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo của mình trong phạm vipháp luật cho phép và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung vàphạm vi hoạt động của mình
Ba là, đối với các tổ chức tôn giáo
Một tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi “có giáo lý, giáoluật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc; có hiếnchương điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó vớidân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng ký hoạt động tôngiáo và hoạt động tôn giáo ổn định…” [45, tr 353] Nếu tổ chức tôn giáo nàohoạt động trái với các quy định trên thì bị đình chỉ hoạt động Để được hoạtđộng tôn giáo, tổ chức có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký đến cơ quan nhà nước cóthẩm quyền; trong đó, Ban Tôn giáo Chính phủ cấp đăng ký cho tổ chức có phạm
vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cơ quan quản lý nhànước về tôn giáo cấp tỉnh, cấp đăng ký cho tổ chức có phạm vi hoạt động ở mộttỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [45, tr 371]
Tổ chức tôn giáo hợp pháp “được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồidưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo” [45, tr 357] Việc phongchức, bổ nhiệm, bãi chức, thuyên chuyển… chức sắc tôn giáo được thực hiện
Trang 38theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và phải thông báo với cơ quanquản lý nhà nước có thẩm quyền.
Bốn là, đối với cơ sở hoạt động kinh tế, xã hội từ thiện của tôn giáo
Nhà nước ta khuyến khích những chức sắc, nhà tu hành và tín đồ thamgia vào việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, các phong trào củaMặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức xã hội, hoạt động từ thiện,nhân đạo trong khuôn khổ chủ trương chung…Nhà nước ta chủ trương giảiquyết vấn đề cơ sở vật chất của tôn giáo trên tinh thần vừa bảo đảm nhu cầuchính đáng của tín đồ, vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, phù hợp vớiviệc quy hoạch về kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương [45]
Năm là, đối với quan hệ quốc tế của tôn giáo
Quan hệ quốc tế và đối ngoại về tôn giáo, hoặc có liên quan đến tôngiáo phải tuân thủ chế độ chung về quan hệ quốc tế và đối ngoại của Đảng,Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích Tổ quốc Việt Nam, giữ vững độc lập và chủquyền quốc gia, dân tộc Các tổ chức tôn giáo muốn đặt quan hệ chính thứchoặc tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài, phải xin phép Nhà nước
Tổ chức tôn giáo nước ngoài đặt ra những vấn đề liên quan đến tổ chứctôn giáo trong nước phải có sự thoả thuận của Nhà nước ta trước khi triểnkhai Giáo hội trong nước khi nhận được chủ trương của tổ chức tôn giáonước ngoài phải báo cáo với Nhà nước và chỉ thực hiện sau khi Nhà nước chophép Tín đồ là người nước ngoài, sinh sống và làm việc tại Việt Nam đượcsinh hoạt tín ngưỡng cá nhân theo quy định của pháp luật nước ta [45]
2.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo
* Quan niệm về đoàn kết lương giáo
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: Đoàn kết là “kết thành một khối thống
nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau” [133, tr 645]
Trang 39“Lương”: Người không theo đạo Thiên Chúa, phân biệt với giáo dân(nhân dân lương giáo kết đoàn) [133, tr 1074] “Giáo”: Thiên Chúa giáo, nóitắt phân biệt với lương (nhân dân lương giáo kết đoàn) [133, tr 734].
Theo Từ điển Chính trị vắn tắt: “Đoàn kết là hợp nhiều người thành
một khối vững chắc, cùng một lòng một dạ nhất trí với nhau; sự ủng hộ cácphong trào, các tổ chức hoặc cá nhân trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhauhoặc thống nhất Sự phối hợp hoạt động và hành động…” [114, tr.128 ]
Theo các sách xuất bản của Viện Nghiên cứu tôn giáo gần đây:
“Lương” được thay bằng bộ phận không Công giáo (hay Kitô giáo), bao hàm
cả những người theo đạo Phật và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Khái niệmlương - giáo xuất hiện từ đời nhà Nguyễn, khi mà các giáo sĩ phương Tâytruyền đạo Công giáo vào Việt Nam Theo đó, “Lương” là chỉ những ngườiViệt Nam không theo đạo Công giáo Như vậy, có thể hiểu rằng: tất cả nhữngngười không theo Công giáo, bao gồm những người theo Phật giáo, Đạogiáo… thuộc bên Lương; người theo Công giáo được gọi là Giáo Tuy nhiên,khái niệm này có sự phát triển qua các thời kỳ Sau này, Lương là khái niệm
để chỉ những người không theo tôn giáo, Giáo là chỉ những người có tôn giáo
Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm Lương - Giáo ở nghĩa như trên khiNgười nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôngiáo”[63, tr 30] Trong quá trình hoạt động lý luận và chỉ đạo thực tiễn cáchmạng, Hồ Chí Minh luôn quan niệm: Đoàn kết lương giáo là đoàn kết giữanhững người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng,tôn giáo; đoàn kết giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhautrong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thựchiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng…
Hồ Chí Minh luôn nói và viết “đoàn kết lương giáo”, đó là cách diễnđạt nôm na dễ hiểu của Người Hiện nay, trong các văn bản của Đảng và Nhànước ta, diễn đạt là “đoàn kết giữa đồng bào theo và không theo tôn giáo,
Trang 40đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo khác nhau” Đó là hai cách diễn đạtkhác nhau về câu chữ, nhưng thống nhất về bản chất Đảng ta luôn nhất quánvới tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về đoàn kết lươnggiáo nói riêng; đồng thời cũng bổ sung, phát triển quan điểm của Người phùhợp với thực tiễn tình hình tôn giáo và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.
Từ những nội dung có tính chất lý luận và thực tiễn nêu trên, có thểkhái quát “Quan niệm về đoàn kết lương giáo” như sau:
Đoàn kết lương giáo trong quá trình cách mạng Việt Nam là đoàn kết giữa đồng bào theo và không theo Công giáo, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng
Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo xuấtphát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống đoàn kết của dân tộc,những giá trị nhất định của tôn giáo, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng ViệtNam Tư tưởng đó còn được hình thành bởi nhân cách một nhà văn hoá kiệtxuất của Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, đạo đức phong cách của Chủtịch Hồ Chí Minh
* Về mục tiêu đoàn kết lương giáo
Đoàn kết lương giáo nhằm phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo sức mạnh tổng hợp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thống nhất đất nước, xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, tiến lên CNXH
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo được hình thành từ sớm,phát triển hoàn thiện vào những năm 40 - 60 của thế kỷ XX Nội dung tưtưởng đoàn kết lương giáo ra đời, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạngViệt Nam, cần phải đoàn kết, tập hợp đông đảo lực lượng, cả trong cách mạngDTDCND cũng như cách mạng XHCN