Đất đai là tài nguyên đặc biệt và vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của tất cả mọi quá trình sản xuất, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam chúng ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện thống nhất quản lý. Vì vậy, để nắm chắc và quản lý chặt chẽ đất đai, một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai là đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, tạo sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính, đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và khoa học. Việc xây dựng hệ thống quản lý đất đai là một nhiệm vụ cần thiết nhằm mang lại lợi ích thiết yếu cho phát triển kinh tế đất nước, tạo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Một hệ thống quản lý đất đai công khai và minh bạch sẽ góp phần tích cực trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý, nâng cao hiệu quả trong sử dụng, giải quyết tốt mọi tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Hệ thống hồ sơ địa chính được thiết lập đầy đủ, rõ ràng cho từng thửa đất sẽ là cơ sở để Nhà nước quản lý, nắm chặt toàn bộ diện tích đất đai và đối tượng sử dụng đất, hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai của cả người sử dụng cũng như người quản lý. Luật Đất đai 2003 quy định về việc thành lập hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐKQSDĐ) trực thuộc cơ quan tài nguyên và môi trường ở 2 cấp gồm VPĐKQSDĐ cấp tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và VPĐKQSDĐ cấp huyện trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường. VPĐKQSDĐ các cấp có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là giúp cơ quan tài nguyên và môi trường làm đầu mối tổ chức thực hiện các thủ tục về đăng ký đất đai, cấp GCN; lập và chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính cùng cấp. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý đất đai là cải cách thủ tục hành chính. Do vậy, việc hợp nhất VPĐKQSDĐ ở hai cấp trước đây thành một tổ chức
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LỢI
Thái Nguyên -2020
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Thái nguyên, ngày 30 tháng 06 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thoa
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Xuyên; Lãnh đạo Sở, cán bộ, các phòng, trung tâm thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Vĩnh Phúc, Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh Bình Xuyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu thực hiện đề tài
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và những người bạn, những người
đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn trong thời gian học tập, đặc biệt là trong thời gian thực hiện đề tài này
Thái nguyên, ngày 30 tháng 06 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thoa
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sơ khoa học của đăng ký đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai 4
1.1.1 Đăng ký đất đai 4
1.1.2 Văn phòng Đăng ký đất đai 8
1.2 Mô hình đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước 13
1.2.1 Đăng ký đất đai và tài sản gắn liền trên đất ở một số nước 13
1.2.1.3 Ở Thuỵ Điển 15
1.2.1.5 Pháp 17
1.3 Thực trạng hoạt động của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
và Văn phòng Đăng ký đất đai ở Việt Nam 18
1.3.1 Tình hình thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai ở Việt Nam 18
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai 18
1.3.3 Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của VPĐKĐĐ 21
1.3.4 Đánh giá chung về tình hình hoạt động của VPĐKĐĐ 23
1.4 Thực trạng hoạt động của VPĐKĐĐ tỉnh Vĩnh Phúc 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, thời gian và nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 30
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1 Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản huyện Bình Xuyên 31
2.2.2 Đánh giá tình hình hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên giai đoạn 2014 -2019, theo các nội dung: 31
2.2.3 Đánh giá kết quả hoạt động của VPĐKĐĐ đăng ký đất đai chi nhánh Bình Xuyên qua ý kiến của người dân và cán bộ; 31
2.2.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 32
2.3.3 Phương pháp thống kê, so sánh 32
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Kết quả đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của huyện Bình Xuyên 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 36
3.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai huyện Bình Xuyên 39
3.2 Đánh giá tình hình hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên
đoạn 2014 -2019 44
3.3 Kết quả ý kiến của cán bộ chuyên môn và người sử dụng đất về hoạt động
của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 62
3.3.1 Mức độ công khai về thủ tục hành chính 62
3.3.2 Thời gian thực hiện các thủ tục hành chính 64
3.3.3 Điều kiện cơ sở vật chất 66
3.3.4 Mức độ và thái độ hướng dẫn của cán bộ chuyên môn 67
3.3.5 Các khoản lệ phí người sử dụng đất phải thực hiện 69
3.3.6 Ý kiến đánh giá tổng thể của cán bộ, người sử dụng đất về hoạt động
của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 70
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 71
3.4.1 Nhận xét chung về hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 71
3.4.2 Những thuận lợi 71
3.4.3 Những khó khăn, vướng mắc 72
3.4.4 Đề xuất giải pháp 72
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 76
2 Kiến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Giấy chứng nhận (GCN) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
VPĐKĐĐ Văn phòng đăng ký đất đai
VPĐKQSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn nhân lực của VPĐKĐĐ các chi nhánh 29
Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích phân theo loại đất năm 2019 42
Bảng 3.2 Nguồn nhân lực của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 45
Bảng 3.3 Kết quả cấp GCN của huyện Bình Xuyên từ 2014-2019 51
Bảng 3.4 Kết quả đăng ký thế chấp trên địa bàn huyện Bình Xuyên giai đoạn năm 2014 - 31/12/2019 55
Bảng 3.5 Hồ sơ địa chính lưu trữ tại VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 56
Bảng 3.6 Mức độ công khai TTHC tại VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 63
Bảng 3.7 Đánh giá tiến độ giải quyết hồ sơ của Chi nhánh Bình Xuyên 65
Bảng 3.8 Đánh giá về điều kiện vật chất tại Chi nhánh Bình Xuyên 66
Bảng 3.9 Mức độ hướng dẫn của cán bộ chuyên môn khi thực hiện các TTHC tại VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 67
Bảng 3.10 Thái độ của cán bộ chuyên môn khi thực hiện các TTHC tại VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 69
Bảng 3.11 Nhận xét về hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên 70
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí của VPĐKĐĐ trong hệ thống quản lý đất đai 13
Hình 1.2 Mô hình tổ chức VPĐKQSDĐ tỉnh Vĩnh Phúc 26
Hình 1.3 Mô hình tổ chức VPĐKĐĐ tỉnh Vĩnh Phúc 27
Sơ đồ 1: Bản đồ hành chính, Vị trí địa lý huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc 34
Sơ đồ 02: Sơ đồ cơ cấu diện tích tự nhiên huyện Bình Xuyên 44
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên đặc biệt và vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của tất cả mọi quá trình sản xuất, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống Nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia
Đối với Việt Nam chúng ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện thống nhất quản lý Vì vậy, để nắm chắc và quản lý chặt chẽ đất đai, một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai là đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, tạo sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính, đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và khoa học Việc xây dựng
hệ thống quản lý đất đai là một nhiệm vụ cần thiết nhằm mang lại lợi ích thiết yếu cho phát triển kinh tế đất nước, tạo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Một hệ thống quản lý đất đai công khai và minh bạch sẽ góp phần tích cực trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý, nâng cao hiệu quả trong sử dụng, giải quyết tốt mọi tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai Hệ thống hồ sơ địa chính được thiết lập đầy đủ, rõ ràng cho từng thửa đất sẽ là cơ sở để Nhà nước quản lý, nắm chặt toàn bộ diện tích đất đai và đối tượng sử dụng đất, hạn chế được tình trạng
vi phạm pháp luật về đất đai của cả người sử dụng cũng như người quản lý
Luật Đất đai 2003 quy định về việc thành lập hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐKQSDĐ) trực thuộc cơ quan tài nguyên và môi trường ở 2 cấp gồm VPĐKQSDĐ cấp tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và VPĐKQSDĐ cấp huyện trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường VPĐKQSDĐ các cấp có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là giúp cơ quan tài nguyên và môi trường làm đầu mối tổ chức thực hiện các thủ tục về đăng ký đất đai, cấp GCN; lập và chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính cùng cấp
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý đất đai là cải cách thủ tục hành chính Do vậy, việc hợp nhất VPĐKQSDĐ ở hai cấp trước đây thành một tổ chức
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thống nhất là một tất yếu khách quan, do đó Văn phòng đăng ký đất đai “một cấp” được thành lập theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ VPĐKĐĐ tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 (sửa đổi bổ sung một số điều tại Quyết định số 09/ /QĐ-UBND 27/4/2018) bao gồm 4 phòng chức năng và 9 Chi nhánh đặt tại các huyện, thành phố Trong đó VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên đang thực hiện nhiệm vụ tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
Từ thực trạng phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Bình Xuyên cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp,
du lịch, dịch vụ; tốc độ đô thị hóa nhanh, tình hình giao dịch về đất đai, bất động sản ngày một tăng lên Đất đai trở thành nguồn nội lực phát triển của địa phương, nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng, công tác giao dịch, huy động nguồn vốn từ quyền sử dụng đất đang có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế của người sử dụng đất
VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên được thành lập 5 năm (tháng 11/2014 đến tháng 12/2019) nhưng đến nay vẫn chưa có bất kỳ sự đánh giá nào về hiệu quả hoạt động? Có những tồn tại gì cần khắc phục để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, giải quyết tình trạng tồn đọng hồ sơ đăng ký đất đai? những vướng mắc bất cập của chính sách pháp luật so với thực trong cuộc sống? công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai, …? là những vấn đề được chính quyền địa phương và người dân hết sức quan tâm Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
"Đánh giá tình hình hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014 - 2019”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên giai đoạn 2014 -2019, theo các nội dung: Kết quả kê khai đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu; kết quả thực hiện đăng ký biến động đất đai khi người sử dụng đất thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; kết quả đăng ký giao dịch bảo đảm và kết quả cập nhật chỉnh lý biển động hồ sơ địa chính;
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp khắc phục
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên Kết quả nghiên cứu của Luận văn
là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ quan tâm đến mô hình hoạt động của VPĐK một cấp Ngoài ra, những giải pháp được đề xuất trong Luận văn có thể để các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tham khảo nhằm nâng cao hoạt động của hệ thống VPĐKĐĐ trong thời gian tới; Là cơ sở cho việc hoạch định chính sách về việc thống nhất quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất;
- Luận văn góp phần làm cơ sở lý luận để đưa ra những đánh giá khách quan
về quá trình thực hiện công tác đăng ký đất đai, cấp GCN và công tác quản lý đất đai tại huyện Bình Xuyên
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sơ khoa học của đăng ký đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai
1.1.1 Đăng ký đất đai
1.1.1.1 Khái niệm đăng ký
Đăng ký là một hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức hay cá nhân nào đó thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người đăng ký cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký Hay nói một cách khác đăng ký là việc xác lập thông tin về một sự việc hay một tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân hay pháp nhân nào đó vào với mục đích được đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ theo một quy luật nhất định Có nhiều loại đăng
ký như đăng ký hộ tịch, đăng ký giao dịch đảm bảo, đăng ký bất động sản, đăng ký bản quyền, sở hữu trí tuệ, đăng ký phát minh,
1.1.1.2 Khái niệm đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
Thuật ngữ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thực chất là việc ghi vào hồ sơ địa chính về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với một thửa đất xác định và cấp GCN đối với thửa đất, tài sản gắn liền với thửa đất đó nhằm chính thức xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất
Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cũng có những đặc điểm chung như các loại hình đăng ký khác; song đăng ký quyền sử dụng đất có một số đặc điểm khác biệt:
Một là: đăng ký quyền sử dụng đất là thủ tục hành chính do Nhà nước quy
định và tổ chức thực hiện và có tính bắt buộc đối với mọi người sử dụng đất; Đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất không có tính bắt buộc mà do nhu cầu của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất
Hai là: đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đối với loại tài sản đặc biệt:
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Đất đai là tài sản đặc biệt có giá trị; giá trị đặc biệt vừa thể hiện ở giá trị sử dụng không thể thiếu và có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức, cá nhân, nhưng chí có giới hạn về diện tích trong khi nhu cầu sử dụng của xã hội ngày càng tăng; giá trị đặc biệt của đất đai còn được thể hiện ở giá đất và luôn có xu hướng tăng lên
* Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân; người đăng ký chỉ được hưởng quyền
sử dụng đất; trong khi đó quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật lại không đồng nhất giữa các thửa đất có mục đích sử dụng khác nhau, do loại đối tượng (tổ chức, cá nhân) khác nhau sử dụng;
* Đất đai thường có các tài sản gắn liền (gồm: nhà, công trình xây dựng, cây rừng, cây lâu năm) mà các tài sản này chỉ có giá trị nếu gắn liền với một thửa đất tại
vị trí nhất định; trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất;
Ba là: Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải
thực hiện đồng thời cả hai việc: vừa ghi vào hồ sơ địa chính của cơ quan Nhà nước để phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật; vừa cấp Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào việc sử dụng đất và có điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo pháp luật
1.1.1.3 Các trường hợp đăng ký đất đai, đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, bao gồm:
Đăng ký lần đầu và đăng ký biến động về sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
* Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu
Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu là việc đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đối với thửa đất đang có người sử dụng, chưa đăng ký, chưa được cấp một loại Giấy chứng nhận nào (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) hoặc Nhà nước giao đất, cho thuê đất
để sử dụng;
Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu có đặc điểm khác biệt với đăng ký biến động:
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Một là: tính chất công việc là Nhà nước xem xét công nhận quyền sử dụng
đất đối với trường hợp đang sử dụng đất hoặc chính thức xác lập quyền của người
sử dụng đối với đất được Nhà nước giao, cho thuê Vì vậy quá trình thực hiện thủ tục đăng ký lần đầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thẩm tra xác định rõ nguồn gốc sử dụng và căn cứ vào quy định của pháp Luật Đất đai để công nhận và xác định chế độ sử dụng đối với thửa đất (xác định rõ diện tích được quyền sử dụng, thời hạn sử dụng, hình thức giao hay cho thuê), quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho chủ sở hữu có nhu cầu trên Giấy chứng nhận
Hai là: Kết quả của đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất lần đầu được ghi vào hồ sơ địa chính của Nhà nước và cấp Giấy chứng nhận cho người sử dụng, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đủ điểu kiện
* Đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất Đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện đối với thửa đất, tài sản gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhận mà có thay đổi về nội dung đã ghi trên Giấy chứng nhận
Đăng ký biến động có những đặc điểm khác với đăng ký lần đầu: Đăng ký biến động thực hiện đối với một thửa đất, tài sản gắn liền với đất đã xác định một chế độ sử dụng cụ thể; sự thay đổi bất kỳ nội dung nào liên quan đến quyền sử dụng đất hay chế độ sử dụng của thửa đất đều phải phù hợp với quy định của pháp luật;
do đó tính chất công việc của đăng ký biến động là xác nhận sự thay đổi của nội dung đã đăng ký theo quy định pháp luật
Vì vậy quá trình thực hiện đăng ký biến động phải xác lập căn cứ pháp lý của
sự thay đổi theo quy định của pháp luật (lập hợp đồng, tờ khai thực hiện các quyền, quyết định chuyển mục đích hoặc gia hạn sử dụng đất, quyết định đổi tên tổ chức; biên bản hiện trường sạt lở đất…); trên cơ sở đó thực hiện việc chỉnh lý hồ sơ địa chính và chỉnh lý hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
1.1.1.4 Đối tượng đăng ký đất đai
Đối tượng đăng ký đất đai là người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; Đối tượng đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất [Điều 5 Luật Đất đai 2013], bao gồm:
- Tổ chức trong nước gồm cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);
- Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
- Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư
1.1.1.5 Người chịu trách nhiệm đăng ký đất đai [Luật Đất đai 2013]
Người chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký đất đai là cá nhân mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất của người sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 7 Luật Đất đai 2013: Người chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký gồm có:
- Người đứng đầu của tổ chức, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với việc sử dụng đất của tổ chức mình
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích; đất phi nông nghiệp đã giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân, các công trình công cộng phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và công trình công cộng khác của địa phương
- Người đại diện cho cộng đồng dân cư là trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố hoặc người được cộng đồng dân cư thỏa thuận cử ra đối với việc sử dụng đất đã giao, công nhận cho cộng đồng dân cư
- Người đứng đầu cơ sở tôn giáo đối với việc sử dụng đất đã giao cho cơ sở tôn giáo
- Chủ hộ gia đình đối với việc sử dụng đất của hộ gia đình
- Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với việc sử dụng đất của mình
- Người có chung quyền sử dụng đất hoặc người đại diện cho nhóm người có chung quyền sử dụng đất đối với việc sử dụng đất đó
1.1.2 Văn phòng Đăng ký đất đai
1.1.2.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức hoạt động của Văn phòng Đăng ký đất đai
* Theo quy định tại Điều 9 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai 2003 quy định về việc thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất như sau:
a) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất, quản lý hồ
sơ địa chính và giúp cơ quan tài nguyên và môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai
b) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và thành lập các chi nhánh của Văn phòng tại các địa bàn cần thiết
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
c) Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh căn cứ vào nhu cầu đăng ký quyền sử dụng đất trên địa bàn quyết định thành lập Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường
* Theo quy định tại Khoản 1, Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định về việc thành lập VPĐKĐĐ như sau:
a) VPĐKĐĐ là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương; có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật
VPĐKĐĐ có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở
dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu;
b) VPĐKĐĐ có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Chi nhánh VPĐKĐĐ được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VPĐKĐĐ theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Kinh phí hoạt động của VPĐKĐĐ thực hiện theo quy định của pháp luật
về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký đất đai [Thông tư liên tịch 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai và cung cấp thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
VPĐKĐĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được Nhà nước bố trí văn phòng, trang thiết bị làm việc và mở tài khoản theo quy định của pháp luật
b Nhiệm vụ, quyền hạn
Điều 2 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ- Bộ Tài chính quy định:
1 Thực hiện việc đăng ký đất được Nhà nước giao quản lý, đăng ký quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
2 Thực hiện việc cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
3 Thực hiện việc đăng ký biến động đối với đất được Nhà nước giao quản
lý, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
4 Lập, chỉnh lý, cập nhật, lưu trữ và quản lý hồ sơ địa chính; tiếp nhận, quản
lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
5 Cập nhật, chỉnh lý, đồng bộ hóa, khai thác dữ liệu đất đai; xây dựng, quản
lý hệ thống thông tin đất đai theo quy định của pháp luật
6 Thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; chỉnh lý bản đồ địa chính; trích lục bản đồ địa chính
7 Kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất; kiểm tra, xác nhận sơ đồ nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do tổ chức, cá nhân cung cấp phục vụ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận
8 Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
9 Cung cấp hồ sơ, bản đồ, thông tin, số liệu đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
10 Thực hiện việc thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật
11 Thực hiện các dịch vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực theo quy định của pháp luật
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
12 Quản lý viên chức, người lao động, tài chính và tài sản thuộc VPĐKĐĐ theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành và tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao
* Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh
Chi nhánh VPĐKĐĐ tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là đơn
vị hạch toán phụ thuộc; có con dấu riêng và được Nhà nước bố trí văn phòng, trang thiết bị làm việc theo quy định của pháp luật Chi nhánh có 01 Giám đốc, không quá
02 Phó Giám đốc và các bộ phận chuyên môn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
số lượng Chi nhánh VPĐKĐĐ
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của VPĐKĐĐ và các Chi nhánh trực thuộc VPĐKĐĐ; thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của VPĐKĐĐ
và Giám đốc, Phó Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định
Biên chế, số lượng người làm việc của VPĐKĐĐ được giao trên cơ sở đề án
vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế, số lượng người làm việc của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được cấp có thẩm quyền phê duyệt
c Mối quan hệ giữa VPĐKĐĐ với các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương [Quy chế phối hợp]
Điều 5 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ- Bộ Tài chính, quy định việc phối hợp giữa VPĐKĐĐ, Chi nhánh VPĐKĐĐ với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện), cơ quan tài chính, cơ quan thuế và các cơ quan, đơn vị khác có liên quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VPĐKĐĐ theo các nguyên tắc sau:
1 Bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, kịp thời, công khai, minh bạch;
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2 Xác định rõ cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp; trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; nội dung, thời hạn, cách thức thực hiện; chế độ thông tin, báo cáo;
3 Tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế tổ chức hoạt động của từng cơ quan, đơn vị
d) Phương thức phối hợp
1 Trao đổi ý kiến bằng văn bản hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản theo yêu cầu của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp về những vấn đề có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó;
2 Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan theo quy định;
3 Lấy ý kiến bằng văn bản;
4 Tổ chức hội nghị, hội ý;
5 Khảo sát, điều tra thực địa;
6 Các hình thức khác
e) Vị trí của VPĐKĐĐ đối với các cơ quan quản lý đất đai hiện nay
- Vị trí của VPĐKĐĐ đối với cơ quan đăng ký đất đai được thể hiện theo sơ đồ sau:
UBND huyện, quận, thị
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ vị trí của VPĐKĐĐ trong hệ thống quản lý đất đai
1.2 Mô hình đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước
1.2.1 Đăng ký đất đai và tài sản gắn liền trên đất ở một số nước
1.2.1.1 Ở Anh
Hệ thống đăng ký đất đai của Anh là hệ thống đăng ký bất động sản (đất đai
và tài sản khác gắn liền với đất) tổ chức đăng ký theo một hệ thống thống nhất có Văn phòng chính tại Luân Đôn và 14 văn phòng khác phân theo khu vực (địa hạt) phân bổ đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Anh Quốc và Xứ Wales Mọi hoạt động của
hệ thống đăng ký hoàn toàn trên hệ thống máy tính nối mạng theo một hệ thống thống nhất (máy làm việc không kết nối với INTERNET, chỉ nối mạng nội bộ để bảo mật dữ liệu)
Cơ sở của đăng ký được quy định rất chặt chẽ trong Luật đăng ký đất đai (Land Registration Act) được sửa đổi và ban hành mới vào năm 2002, có hướng dẫn chi tiết vào năm 2003 (Registration Rules) và được cập nhật, chỉnh sửa bổ sung vào năm 2009 Trước năm 2002 VPĐKĐĐ hoạt động theo địa hạt Bất động sản thuộc địa hạt nào thì đăng ký tại Văn phòng thuộc địa hạt đó Tuy nhiên, từ khi có Luật đăng ký mới (năm
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2002) và khi hệ thống đăng ký hoạt động theo hệ thống đăng ký điện tử thì khách hành
có thể lựa chọn bất kỳ Văn phòng đăng ký nào trên lãnh thổ Anh
Một điểm nổi bật trong Luật Đất đai và Luật đăng ký có quy định rất chặt chẽ về đăng ký, bất kỳ người nào sở hữu đất đai và bất động sản trên lãnh thổ Anh đều phải đăng ký tại VPĐKĐĐ; Nhà nước chỉ bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu có tên trong hệ thống đăng ký
Cho đến năm 1994, Anh đã chuyển toàn bộ hệ thống đăng ký từ hệ thống đăng ký thủ công trên giấy sang hệ thống đăng ký tự động trên máy tính nối mạng, dùng dữ liệu số Dữ liệu số là dữ liệu có tính pháp lý nếu dữ liệu đó do VPĐKĐĐ cung cấp Điều này được quy định cụ thể trong Luật đăng ký và Luật Đất đai
Về đối tượng đăng ký: Theo Luật Đất đai của Anh lấy đơn vị thửa đất làm đơn vị đăng ký, các tài sản khác gắn liến với đất được đăng ký kèm theo thửa đất dưới dạng thông tin thuộc tính Về chủ sở hữu chỉ phân biệt sở hữu cá nhân và sở hữu tập thể (sở hữu chung, đồng sở hữu ) (BTNVMT, 2012)
1.2.1.2 Ở Mỹ
Các bang ở Hoa Kỳ đều có luật đăng kí và hệ thống thi hành hoàn chỉnh Bất
kì yếu tố nào về quyền sở hữu của một thửa đất ở một hạt nào đó đều có thể tiến hành đăng kí ở hạt đó Quy định này là để bảo vệ quyền lợi cho người sở hữu đất đai Mục đích đăng kí là nói cho người khác biết người mua đất đã có quyền sở hữu đất đai Nếu mua đất không đăng kí thì có thể bị người bán đất thứ hai gây thiệt hại Luật đăng kí bảo vệ quyền lợi người mua đất cho quyền ưu tiên đối với người đăng
kí Ví dụ A chuyển nhượng mảnh đất cho B sau đó lại chuyển nhượng cho C như vậy về mặt lí thuyết thì B có quyền ưu tiên, tuy nhiên theo luật cộng đồng ai đăng kí trước người đó được ưu tiên trước Nếu C đăng kí trước B thì C có quyền ưu tiên về mảnh đất đó Luật đăng kí đất yêu cầu người mua đất lập tức phải tiến hành đăng kí
để chứng tỏ quyền sở hữu của đất đã thay đổi, đồng thời cũng để ngăn chặn người đến mua sau tiếp tục mua, kể cả việc đi lấy sổ đăng kí trước Yêu cầu có liên quan
về việc đăng kí là: Về nội dung, có thể đăng kí được bất kì các yếu tố nào có liên quan như khế ước, thế chấp hợp đồng chuyển nhượng hoặc yếu tố có ảnh hưởng đến quyền lợi đất đai; Phía bán đất phải thừa nhận hợp đồng mua bán qua công
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chứng, cung chi nhánh điều kiện để ngăn chặn giả mạo; về mặt thao tác thì người mua đất hoặc đại diện của mình theo hợp đồng, khế ước nộp cho nhân viên đăng kí thị xã để vào sổ đăng kí, tiến hành chụp khế ước và xếp theo thứ tự thời gian
Đăng ký chứng thư của Mỹ có mục tiêu "tránh những vụ chuyển nhượng có tính gian lận, để đảm bảo cho bất kỳ người nào muốn thực hiện giao dịch cũng có thể biết có những quyền tài sản và lợi ích nào thuộc về hoặc liên quan tới mảnh đất hoặc ngôi nhà cụ thể" Việc đăng ký văn tự giao dịch được triển khai lần đầu tiên theo Luật Đăng ký của Mỹ năm 1640 và đã được phát triển ra toàn Liên bang
Các điều luật về Đăng ký được phân loại theo cách thức mà nó giải quyết các vấn đề về quyền ưu tiên và nguyên tắc nhận biết Các điều luật được chia thành 3 loại: quy định quyền ưu tiên theo trình tự, quy định về quyền ưu tiên theo nguyên tắc nhận biết và quy định hỗn hợp
Điều luật theo nguyên tắc trình tự dành quyền ưu tiên cho giao dịch đăng ký trước Một giao dịch được đăng ký sẽ thắng một giao dịch chưa được đăng ký dù cho giao dịch chưa đăng ký được thực hiện trước Điều này dễ bị lợi dụng để thực hiện các giao dịch có yếu tố gian lận
Điều luật theo nguyên tắc nhận biết: không dành quyền ưu tiên cho trình tự đăng ký Người mua nếu không biết được (không được thông tin) về các tranh chấp quyền lợi liên quan tới bất động sản mà người ấy mua thì vẫn được an toàn về pháp lý
Điều luật hỗn hợp phối hợp cả 2 nguyên tắc trên và là một bước phát triển lôgic với các quy định như sau: Một người mua sau được quyền ưu tiên so với người mua trước nếu không biết về vụ giao dịch trước và người mua sau phải đăng
ký trước
Cũng như đặc điểm chung của đăng ký chứng thư, hệ thống này ở Mỹ, dù theo nguyên tắc ưu tiên trình tự đăng ký hay theo nguyên tắc khác, vẫn là một hệ thống đăng ký chứng cứ về các quyền chứ chưa phải bản thân các quyền Người mua vẫn phải điều tra một chuỗi các văn tự của các vụ mua bán trước và phải điều tra tại chỗ xem người bán có đúng là chủ sở hữu và hoàn toàn có quyền bán hay không (BTNVMT, 2012)
1.2.1.3 Ở Thuỵ Điển
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Đăng ký đất đai được thực hiện ở Thuỵ Điển từ thế kỷ thứ 16 và đã trở thành một thủ tục không thể thiếu trong các giao dịch mua bán hoặc thế chấp
Hệ thống ĐKĐĐ ở Thuỵ Điển cơ bản được hoàn chỉnh từ đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn tiếp tục phát triển và hiện đại hoá Về bản chất hệ thống này là hệ thống đăng ký quyền tương tự hệ thống Torrens
Về mô hình tổ chức, ĐKĐĐ và đăng ký BĐS do các cơ quan khác nhau thực hiện, cả hai hệ thống này hợp thành hệ thống địa chính Cơ quan đăng ký tài sản do Tổng cục quản lý đất đai thuộc Bộ Môi trường Thuỵ Điển Cơ quan đăng ký tài sản trung ương có 53 Văn phòng đăng ký BĐS đặt tại các địa phương khác nhau Ngoài
ra còn có một số Văn phòng đăng ký tài sản trực thuộc chính quyền tỉnh
Để phối hợp đồng bộ thông tin về đất đai và tài sản trên đất, việc xây dựng
cơ sở dữ liệu tích hợp được giao cho Ban quản lư dữ liệu BĐS trung ương trực thuộc Bộ tài nguyên môi trường Cơ quan này chịu trách nhiệm xây dựng và quản trị hệ thống ngân hàng dữ liệu đất đai, quản lý toàn bộ thông tin đăng ký BĐS và đăng ký đất đai
Các cơ quan ĐKĐĐ, đăng ký BĐS, cơ quan xây dựng và quản trị hệ thống ngân hàng thông tin đất đai đều hoạt động theo chế độ tự chủ tài chính dựa trên việc thu phí dịch vụ
Để thực hiện việc đăng ký, đất đai được chia thành các đơn vị đất, mỗi đơn
vị đất có mã số duy nhất Việc xác định đơn vị đất như tách, hợp một phần diện tích đất, lập đơn vị đất mới thuộc trách nhiệm của Cục trắc địa - Bản đồ quốc gia Việc đăng ký quyền, đăng ký thế chấp, đăng ký chuyển quyền… do cơ quan đăng ký đất đai thực hiện theo trình tự thủ tục chặt chẽ (BTNVMT, 2012)
1.2.1.4 Ở Hà Lan
Hệ thống đăng ký đất đai ở Hà Lan là một hệ thống đăng ký chứng thư phát triển Trên cơ sở Hệ thống hồ sơ đăng ký văn tự giao dịch đã được duy trì hàng trăm năm, khi có một giao dịch được đăng ký, hệ quả pháp lý của giao dịch đó là tình trạng pháp lý hiện hành của đất đai sau khi thực hiện giao dịch (actual legal situation) được rút ra và đăng ký vào một hệ thống hồ sơ riêng biệt một cách có hệ thống và theo trình
tự chặt chẽ (theo hệ thống thửa đất), hệ thống đăng ký này gọi là Hệ thống địa chính Hà
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Lan Sự chuẩn xác của hệ thống đăng ký chứng thư kết hợp với hồ sơ địa chính mang lại hiệu quả tương tự như một hệ thống đăng ký quyền Sự chuẩn xác của hệ thống đăng ký văn tự giao dịch phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố, đó là việc duy trì hệ thống hoạt động liên tục và quy trình pháp lý xác định chủ quyền Việc xác định chủ quyền ở đây được hiểu là một quá trình mà tất cả các quyền đang tồn tại liên quan đến một thửa đất được khẳng định một cách dứt khoát, đúng thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký Cần phân biệt khái niệm xác định quyền và xác lập quyền Xác định chủ quyền được thực hiện đối với quyền đang tồn tại, còn xác lập quyền là việc tạo ra một quyền mới
mà trước đó chưa có Hệ thống đăng ký đất đai hiện nay ở Hà Lan là một hệ thống đăng ký Nhà nước, do cơ quan Nhà nước thực hiện Tuy nhiên, do hệ thống này vận hành có hiệu quả kinh tế, phí dịch vụ thu được của hệ thống (không tính thuế đất đai nộp vào ngân sách) lớn tới mức đủ để hệ thống cơ quan này hoạt động theo nguyên tắc
tự chủ về tài chính (BTNVMT, 2012)
1.2.1.5 Pháp
Chế độ pháp lý chung về đăng ký bất động sản được hình thành sau cách mạng tư sản Pháp Luật ngày 28 tháng 3 năm 1895 là đạo luật đầu tiên quy định một cách có hệ thống việc đăng ký tất cả các quyền đối với bất động sản, kể cả những quyền không thể thế chấp (quyền sử dụng bất động sản liền kề, quyền sử dụng và quyền sử dụng làm chỗ ở) và một số quyền đối nhân liên quan đến bất động sản (thuê dài hạn) Luật này cũng quy định cơ chế công bố công khai tất cả các hợp đồng, giao dịch giữa những người còn sống về việc chuyển nhượng quyền đối với bất động sản
VPĐKĐĐ đều phải tuân thủ bốn nguyên tắc chung:
- Hợp đồng, giao dịch phải do Công chứng viên lập Đây là điều kiện tiên quyết Điều kiện này không những đảm bảo thực hiện tốt các thủ tục đăng ký về sau
mà còn đảm bảo sự kiểm tra của một viên chức công quyền đối với tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
- Tuân thủ dây chuyền chuyển nhượng Mọi hợp đồng, giao dịch đều không được phép đăng ký nếu như tờ giấy xác nhận quyền của sở hữu chủ trước đó chưa được đăng ký
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Thông tin về chủ thể Mọi hợp đồng, văn bản đem đăng ký đều phải ghi rõ
họ, tên, địa chỉ nơi cư trú, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, họ tên của vợ hoặc chồng, chế độ tài sản trong hôn nhân của các cá nhân tham gia vào hợp đồng, giao dịch, cho dù họ trực tiếp có mặt hay tham gia thông qua người đại diện
- Thông tin về bất động sản Để phân biệt bất động sản đó với các bất động sản khác thì những thông tin sau đây được coi là không thể thiếu: Tên xã nơi có bất động sản, số thửa trên bản đồ địa chính Bên cạnh các thông tin này, trong thực tiễn người ta còn ghi thêm; Tính chất của bất động sản, nội dung địa chính và tên thường gọi (ví dụ: nhà gốc đa, quán cây sồi…)
Pháp luật còn đưa ra một số quy định đặc biệt đối với các phần có thể phân chia của nhà chung cư, cũng như đối với các phần của bất động sản đã phân chia giữa nhiều chủ sở hữu, nhằm mục đích xác định rõ các phần đó Trong hợp đồng, giao dịch cần phải ghi rõ số lô của tài sản được giao dịch, bằng cách mô tả tình trạng phân chia của bất động sản chung nếu là nhà chung cư hoặc kèm theo hồ sơ
chia lô (nếu là đất chia lô) (BTNVMT, 2012)
1.3 Thực trạng hoạt động của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất và Văn
phòng Đăng ký đất đai ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai ở Việt Nam
Theo số liệu thống tính đến hết năm 2019 trên cả nước đã có 62/63 tỉnh đã thành lập VPĐKĐĐ và đi vào hoạt động; chỉ còn tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định việc phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An số 5518/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 và sớm đi vào hoạt động trong thời gian tới
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai
Trước đây, các VPĐKQSDĐ thuộc Sở đều tổ chức thành nhiều đơn vị trực thuộc, phổ biến là các Phòng, một số nơi tổ chức thành bộ phận hoặc tổ (gọi chung
là Phòng); mỗi VPĐKQSDĐ thuộc Sở trung bình có từ 3 đến 4 phòng
Do có ít cán bộ nên đa số các VPĐKQSDĐ cấp huyện được tổ chức thành các tổ, nhóm để triển khai thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu công việc của từng thời kỳ; nhiều VPĐKQSDĐ thực hiện việc phân công cán bộ quản lý theo địa bàn (mỗi cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi, thực hiện một số xã) nên lực lượng bị phân tán
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thí điểm kiện toàn Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường”, Tổng cục Quản lý Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chủ động, phối hợp với các cơ quan có liên quan của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp tổ chức triển khai thực hiện thí điểm đầu tiên trên 4 tỉnh là Hải Phòng, Hà Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai
Theo Luật Đất đai 2013, VPĐKĐĐ là các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc
Sở Tài nguyên và Môi trường, do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập theo quy định của pháp luật Nhằm đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống VPĐKĐĐ, ngày 27/8/2014, Thủ tướng Chính phủ đã có Thông báo số 347/TB-VPCP, trong đó đã đề ra nhiệm
vụ trọng tâm là phải đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai một cấp làm nền tảng cho hoạt động cải cách thủ tục hành chính về đất đai, hướng tới Chính phủ điện tử
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số BTC ngày 04/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của VPĐKĐĐ trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thì cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai hoạt động như sau:
15/2015/TTLT-BTNMT-BNV Lãnh đạo VPĐKĐĐ: Gồm có Giám đốc và không quá 02 Phó Giám đốc Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định
Các phòng ban, bộ phận trực thuộc VPĐKĐĐ gồm có: Phòng Hành chính Tổng hợp; Phòng Kế hoạch - Tài chính (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định thành lập đối với Văn phòng đăng ký đất đai có từ 15 Chi nhánh trở lên); Phòng Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận; Phòng Thông tin - Lưu trữ; Phòng Kỹ thuật địa chính và Các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đặt tại UBND các huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh
-Cho đến ngày 31/12/2019, cả nước đã có 62/63 tỉnh, thành trên cả nước thành lập và kiện toàn xong VPĐKĐĐ “một cấp” Trong quá trình kiện toàn hệ
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thống VPĐKĐĐ, các Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động, tích cực giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh do việc chuyển đổi thẩm quyền thực hiện; việc giải quyết thủ tục hành chính về đất đai, cấp Giấy chứng nhận tăng cả về số lượng Giấy chứng nhận, chất lượng hồ sơ, thời gian thực hiện thủ tục rút ngắn hơn, chất lượng giải quyết thủ tục được nâng lên, tình hình biến động đất đai được kiểm soát chặt chẽ hơn
Việc thành lập VPĐKĐĐ đã giúp đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa ngành quản lý đất đai, thực hiện cải cách hành chính một cách mạnh mẽ trong lĩnh vực đất đai liên quan đến người dân, doanh nghiệp như số lượng, thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm, tiến độ cấp Giấy chứng nhận tăng đáng kể, các Văn phòng đăng
ký đã có điều kiện hơn về lực lượng chuyên môn, chủ động hơn trong việc điều phối nguồn nhân lực trong toàn hệ thống; người dân, doanh nghiệp và các tổ chức được tiếp cận với hệ thống tổ chức chuyên nghiệp, thuận lợi và linh hoạt khi có nhu cầu thực hiện các giao dịch về đất đai
Việc thành lập VPĐKĐĐ cũng đã khắc phục được tình trạng không thống nhất
về hồ sơ thủ tục, trình tự giải quyết ở các địa bàn khác nhau trên cùng một tỉnh, thành phố, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đã giảm từ 05 - 25 ngày so với trước đây; thời gian giải quyết hồ sơ giao dịch về đất đai đảm bảo đạt 90 - 95% so với quy định, tình trạng tồn đọng hồ sơ quá hạn đã cơ bản chấm dứt Ngoài ra, hệ thống VPĐKĐĐ đã cung cấp thông tin đất đai cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu là 322.042 lượt Đồng thời hỗ trợ đắc lực công tác quản lý nhà nước về đất đai của địa phương, tình trạng khiếunại tố cáo của công dân liên quan đến vấn đề cấp Giấy chứng nhận ngày càng giảm
Tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở một số địa phương đã tăng đáng kể như: Hà Nội (sau 20 tháng thành lập) tăng 665.000 Giấy; Thành phố Hồ Chí Minh (sau 11 tháng thành lập) tăng 299.000 Giấy
Hoạt động đăng ký đất đai đã có sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất Chất lượng thực hiện giải quyết thủ tục đăng ký, cấp GCN được nâng cao, bảo đảm
sự thống nhất trong toàn tỉnh, thành phố do VPĐKĐĐ đã thường xuyên kiểm soát,
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phát hiện những sai sót để điều chỉnh, hướng dẫn các Chi nhánh Thực hiện thủ tục giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đã đảm bảo được tiến độ theo quy định,tình trạng tồn đọng hồ sơ quá hạn đã cơ bản chấm dứt
Việc thành lập VPĐKĐĐ là cơ sở nền tảng cho việc liên thông dữ liệu với các ngành khác, tiến tới Chính phủ điện tử Các VPĐKĐĐ đã có điều kiện hơn về lực lượng chuyên môn, chủ động hơn trong việc điều phối nguồn nhân lực trong toàn hệ thống, đã quan tâm, chăm lo nhiều hơn cho việc xây dựng, cập nhật, chỉnh
lý hồ sơ địa chính của địa phương, nhất là việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; đồng thời tăng cường kiểm tra, chỉ đạo việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính ở các cấp huyện, xã để bảo đảm sự thống nhất của hồ sơ địa chính theo quy định
Nhiều VPĐKĐĐ hiện nay hoạt động khá tốt với cơ cấu tổ chức lên đến hơn nghìn cán bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội một số VPĐKĐĐ đã thực hiện tốt hoạt động cung cấp dịch vụ công với doanh thu lên đến hàng chục tỷ đồng một năm như Đồng Nai, Đăk Lắk, Vĩnh Long
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích có được, cũng có những khó khăn như kinh phí hoạt động, trụ sở hoạt động của chi nhánh, trang thiết bị, việc luân chuyển
hồ sơ do còn có hạn chế về hạ tầng cơ sở dữ liệu chưa hoàn thiện, việc giải quyết khối lượng hồ sơ công việc lớn cũng tạo áp lực cho một số vị trí Tuy nhiên các khó khăn này có thể khắc phục được trong thời gian tới nếu được Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu quốc gia
và kiểm kê đất đai Nhiều địa phương VPĐKĐĐ triển khai thực hiện việc hoàn thiện
hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động cho một số xã đã cấp Giấy chứng nhận; tiếp nhận
và quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính Một số VPĐKĐĐ cấp tỉnh đã tham gia hỗ trợ cho các cấp huyện, xã tổ chức việc đăng ký cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận ở một số xã theo
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hình thức đồng loạt (Hà Nội; Thái Bình; Đồng Nai; Vĩnh Phúc) Tuy nhiên tình hình hoạt động của VPĐKĐĐ cấp tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế
Đối với tỉnh Vĩnh Phúc VPĐKĐĐ cấp tỉnh đã tổ chức rà soát và triển khai cấp Giấy chứng nhận cho các tổ chức sự nghiệp, tổ chức kinh tế khoảng trên 98% tính đến hết năm 2013 và đưa ra ý kiến chỉ đạo, gửi văn bản tới các huyện, thị cấp đổi Giấy chứng nhận QSDĐ đồng loạt cho các hộ gia đình cá nhận sau khi đo đạc lại bàn đồ địa chính mới Sau khi thành lập VPĐKĐĐ Vĩnh Phúc theo quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 (được sửa đổi bổ sung tại quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 27/04/2018) của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành, VPĐKĐĐ tỉnh đã có văn bản chỉ đạo Văn phòng Đăng ký chi nhánh (cấp huyện) triển khai thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận đồng loạt cho các hộ gia đình, cá nhân đối với đơn vị cấp xã đã hoàn thành công tác đo đạc bản đồ địa chính theo quy định
1.3.3.2 Chi nhánh (cấp huyện)
Tương tự như Văn phòng Đăng đất đai cấp tỉnh, các VPĐKĐĐ chi nhánh (cấp huyện) đã thành lập đều tập trung triển khai thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm; thống kê
và kiểm kê đất đai
Việc cập nhật, chỉnh lý biến động, hoàn thiện hồ sơ địa chính đang quản lý ở hầu hết các VPĐKĐĐ chi nhánh chưa được quan tâm thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ, nhiều VPĐKĐĐ chưa thực hiện việc gửi thông báo cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; việc kiểm tra, hướng dẫn cấp xã trong việc cập nhật, chỉnh lý hồ
sơ địa chính chưa được các VPĐKĐĐ chi nhánh (cấp huyện) quan tâm thực hiện
Việc tổ chức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình cá nhân còn bị động giải quyết riêng lẻ theo yêu cầu của một số trường hợp mà chưa chủ động tổ chức làm đồng loạt cho từng xã nên tiến độ cấp Giấy chứng nhận còn chậm so với yêu cầu phải hoàn thành
Cho đến nay một số Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tại một số huyện thực hiện đề án mô hình Văn phòng một cấp đã đổi tên từ Văn phòng Đăng
ký quyền sử dụng đất thành VPĐKĐĐ Chi nhánh trên cơ sở hợp nhất từ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cũ
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.4 Đánh giá chung về tình hình hoạt động của VPĐKĐĐ
1.3.4.1 Kết quả đạt được
Hệ thống VPĐKĐĐ cấp tỉnh và chi nhánh tại các huyện, thành phố mặc dù
đã thành lập và hoạt động được hơn 5 năm, vẫn còn rất nhiều khó khăn về điều kiện làm việc, kinh nghiệm hoạt động chưa nhiều nhưng kết quả hoạt động của hệ thống các chi nhánh VPĐKĐĐ đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tiến độ và kết quả thực hiện cấp Giấy chứng nhận
Hệ thống VPĐKĐĐ các cấp tiếp nhận và giải quyết hồ sơ tách khỏi cơ quan quản lý Nhà nước với tinh thần phục vụ là dịch vụ hành chính công nên lực lượng chuyên môn về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đã được gia tăng hơn nhiều lần so với trước đây và đã trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, mang tính chuyên môn sâu, ít bị chi phối bởi các công việc mang tính sự vụ khác về quản lý đất đai của cơ quan tài nguyên và môi trường từng cấp; hơn nữa đã phân biệt các rõ công việc mang tính sự nghiệp với công việc quản lý Nhà nước trong hoạt động đăng ký, cấp Giấy chứng nhận; trên cơ sở đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan
có thẩm quyền trong việc giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận và các thủ tục hành chính về đất đai và đã cải cách thủ tục theo hướng đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện cấp Giấy chứng nhận hơn rất nhiều so với trước Luật Đất đai 2003
Việc hình thành hệ thống VPĐKĐĐ cũng góp phần hỗ trợ rất tích cực cho cấp xã, nhất là các xã miền núi, trung du do sự thiếu hụt về nhân lực và hạn chế về năng lực chuyên môn trong việc triển khai thực hiện cấp Giấy chứng nhận và quản
lý biến động đất đai ở địa phương Nhất là trong điều kiện hiện nay theo tinh thần Nghị quyết số 30/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội khóa XIII đã yêu cầu đến ngày 31/12/2013 phải căn bản hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận về quyền
sử dụng đất lần đầu trên phạm vi cả nước; Chỉ thị 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Chính phủ về thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; Chỉ thị 05/CT-TTg ngày 04/04/2013 của Chính phủ Về tập trung chỉ đạo và tăng cường biện pháp thực hiện để trong
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
năm 2013 hoàn thành cơ bản việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1.3.4.2.Các hạn chế
Chức năng nhiệm vụ của các VPĐKĐĐ ở nhiều địa phương chưa được phân định rõ ràng Việc tổ chức bộ máy các VPĐKĐĐ ở các địa phương chưa thống nhất; chức năng nhiệm vụ của một số đơn vị trực thuộc VPĐKĐĐ cấp tỉnh chưa được phân định rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo, thiếu tính chuyên nghiệp, thậm chí có nơi các phòng làm chung cùng một công việc, chưa có phân công nhiệm vụ rõ ràng
Điều kiện nhân lực của hầu hết các VPĐKĐĐ còn rất thiếu về số lượng, hạn chế về kinh nghiệm công tác, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ mà Luật Đất đai đã phân cấp; đây là nguyên nhân cơ bản của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm và sự hạn chế trong việc lập, cập nhật và chỉnh lý hồ sơ địa chính hiện nay Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật cần thiết cho thực hiện thủ tục hành chính về đất đai của VPĐKĐĐ còn rất thiếu thốn, nhiều VPĐKĐĐ chi nhánh chưa có máy đo đạc để trích đo thửa đất, máy photocopy để sao hồ sơ; đặc biệt diện tích làm việc chật hẹp và không có trang thiết bị bảo quản để triển khai việc lưu trữ hồ sơ địa chính phục vụ việc khai thác khi thẩm tra hồ sơ và cung cấp thông tin đất đai
Không thống nhất về loại hình hoạt động giữa các địa phương: có địa phương VPĐKĐĐ phải tự bảo đảm kinh phí để tồn tại và hoạt động, có địa phương VPĐKĐĐ được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước cho một phần kinh phí hoạt động; cũng có địa phương VPĐKĐĐ được được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước cho toàn bộ kinh phí để hoạt động Hoạt động của VPĐKĐĐ chưa triển khai thực hiện hết các nhiệm vụ được giao, nhất là nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện, chỉnh lý
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Được thành lập theo Quyết định số
606/2005/QĐ-UBND ngày 04/3/2005 và
được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số
26/2010/QĐ-UBND ngày 16/9/2010 của
UBND tỉnh Vĩnh Phúc
+ Được thành lập theo Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 và được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 27/4/2018 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc
+ Là đơn vị có tư cách pháp nhân, có con
dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc
Nhà nước, các tổ chức tín dụng để hoạt
động theo quy định của pháp luật
+ Là đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, có con dấu riêng, được mở tài khoản theo quy định hiện hành
1.4.1.2 Mô hình tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014
Tổ chức bộ máy có: 01 Giám đốc, 02 phó Giám đốc và 04 phòng bao gồm: Phòng Nghiệp vụ cấp GCN; Phòng Hành chính - Tổng hợp; Phòng Kỹ thuật địa chính; Phòng Lưu trữ thông tin đất đai, dưới là 3 tổ nghiệp vụ bao gồm: Tổ đo đạc,
tổ đăng ký cấp GCN, tổ lưu trữ cơ sở dữ liệu
Phòng
Kỹ thuật
địa chính
Phòng
Lưu trữ thông tin
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức VPĐKQSDĐ tỉnh Vĩnh Phúc
(Nguồn: VPĐKQSDĐ tỉnh Vĩnh Phúc 2014) 1.4.1.3 Mô hình tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 11/2014 đến nay
Tổ chức bộ máy có: 01 Giám đốc, 03 phó Giám đốc và 04 phòng nghiệp vụ, bao gồm: Phòng Hành chính - Tổng hợp; Phòng Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận (Phòng Thẩm định hồ sơ cấp GCN); Phòng Kỹ thuật địa chính Phòng Thông tin lưu trữ, dưới là 9 Chi nhánh VPĐKĐĐ
Tổ đăng
ký cấp GCN
Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Các Phó Giám đốc
và cấp GCN
Phòng
Kỹ thuật địa chính
Phòng Thông tin lưu trữ
VPĐKĐĐ 9 chi nhánh
Tổ lưu trữ CSDL
Tổ đo đạc
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sơ đồ 1.3 Mô hình tổ chức VPĐKĐĐ tỉnh Vĩnh Phúc
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc 2019)
1.4.1.4 Về cơ chế tài chính, kinh phí hoạt động
Thực hiện theo cơ chế tự chủ một phần, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ và theo chủ trương, đề xuất tại Báo cáo số 55/BC-BTNMT ngày 31/7/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường như sau:
a) Nguồn ngân sách Nhà nước cấp đảm bảo gồm:
* Từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2018 VPĐKĐĐ là đơn vị sự nghiệp tự chủ một phần:
- Chi thường xuyên theo biên chế sự nghiệp hàng năm
- Chi theo đặt hàng, giao kế hoạch cho các việc đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, trích đo địa chính, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận, cập nhật, chỉnh lý HSĐC, cơ sở dữ liệu đất đai, sắp xếp, lưu trữ HSĐC, lập HSĐC, lập cơ sở dữ liệu địa chính theo kế hoạch, định mức đơn giá sản phẩm
- Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản gồm: Xây dựng trụ sở, nhà làm việc; mua sắm trang thiết bị như máy đo đạc, máy in, phô tô, máy tính, máy quét, máy chủ Server, hệ thống phần mềm, mạng nội bộ ; sửa chữa tài sản cố định, có giá trị lớn
và kinh phí khác do UBND tỉnh quyết định
* Từ tháng 6/2018 đến nay VPĐKĐĐ là đơn vị sự nghiệp tự toàn phần:
- VĐKĐĐ tỉnh thực hiện theo cơ chế tự chủ tự đảm bảo chi phí thường xuyên theo Nghị định 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính Phủ về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực kinh tế và sự nghiệp khác; Thông tư số 145/2017/TT-BTC ngày 29/12/2017 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính Phủ; Quyết định số 1313/QĐ-UBND
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ngày 08/6/2018 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao quyền tự chủ tài chính cho Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2018 - 2020 Nguồn tài chính được giao tự chủ gồm: Nguồn thu sự nghiệp từ việc cung cấp các dịch vụ; Nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công theo giá tính đủ chi phí; Nguồn thu phí theo pháp luật quy định về phí, lệ phí, được để lại chi theo quy định; Tiền lãi được chia từ các hoạt động liên danh, liên kết; Lãi gửi ngân hàng; Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có) và Kinh phí đầu tư xây dựng
sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí); ngân sách hỗ trợ phần chi phí
chưa kết cấu trong giá dịch vụ sự nghiệp công;
- Nguồn thu sự nghiệp và hoạt động dịch vụ gồm: Nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên theo Điểm đ, Khoản 1, Điều 12 Nghị định 141/2016/NĐ-CP (nếu có); Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ, nguồn khác theo quy định của pháp luật và Nguồn khác (nếu có)
- Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định của pháp luật phí và lệ phí;
- Nguồn thu từ hoạt động khác (nếu có), gồm: Tiền lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết; Lãi tiền gửi ngân hàng; và Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật;
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
và kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản cho đơn vị theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có);
- Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật;
- Nguồn khác, gồm: Vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; và Nguồn khác (nếu có)
1.4.1.5 Nguồn nhân lực
Về nhân lực hiện nay các Chi nhánh tương đối đồng đều về số lượng nhưng qua gần 5 năm hoạt động nhân lực có sự biến động lớn do sự sắp xếp, cơ cấu lại cho phù hợp tại các Chi nhánh Theo quy định số nhận lực khi thành lập VPĐKĐĐ
“một cấp” sẽ giữ nguyên số nhân sự đang làm việc tại VPĐKQDĐ cấp huyện, tuy nhiên một số cán bộ gắn bó với UBND huyện, thị, thành phố chuyển sang Phòng Tài nguyên và Môi trường, các phòng ban của UBND cấp huyện, khi tiếp nhận số nhân lực giảm 48 người Thời gian mới thành lập tháng 10 năm 2014 số lượng nhân
sự tại các Chi nhánh rất thiếu do đó đòi hỏi phải có sự điều động, luân chuyển từ các đơn vị thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và tuyển dụng thêm lao động hợp đồng nhằm đáp ứng yêu cầu công việc Tính đến nay về nhân sự làm việc tại VPĐKĐĐ các Chi nhánh vẫn còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn trong giải quyết thủ tục hành chính về đất đai tại địa phương
Tổng số cán bộ, nhân viên trực thuộc các VPĐKĐĐ của huyện, thị, thành phố qua 2 giai đoạn thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1 Nguồn nhân lực của VPĐKĐĐ các chi nhánh (huyện, thị, thành phố) trong tỉnh Vĩnh Phúc
Số
TT Tên đơn vị VPĐKQSDĐ cấp huyện
VPĐKĐĐ Chi nhánh Năm
2014 Năm 2019
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(Nguồn: Tổng hợp)
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Kết quả cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân trên đại bàn huyện Bình Xuyên giai đoạn 2014 -2019;
- Các hoạt động của VPĐKĐĐ Chi nhánh Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Các vấn đề liên quan tới quản lý và sử dụng đất ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 04 năm 2020
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Giới hạn về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2019