HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN CÔNG LẬP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TRO
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG LẬP
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI
TRONG DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2011
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG LẬP
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI
TRONG DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS LÊ VĂN TÍCH
HÀ NỘI - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực và có độ tin cậy Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận văn
Nguyễn Công Lập
Trang 4Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON
NGƯỜI TRONG DI CHÚC ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH
2.1 Các nhân tố tác động đến con người hiện nay 41 2.2 Chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiến trình phát triển của nhân loại thể hiện ngày một rõ vị trí, vai trò của nhân tố con người Con người được đánh giá là nhân tố quyết định trong các nguồn lực, là tài nguyên quý báu nhất của mỗi quốc gia, là động lực phát triển của mọi xã hội Vì vậy, phát triển con người phải là mục tiêu cao nhất của tiến trình lịch sử nhân loại
Là nhà cách mạng chuyên nghiệp, trong đó có gần 40 năm từ cương vị sáng lập đến người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực tế hóa hệ thống tư tưởng của mình và Đảng ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ đầu thập kỷ 30 đến hết thập kỷ 60 của thế kỷ XX Trong đó, trung tâm và cũng là mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tư tưởng về con người - trước hết là con người Việt Nam bị áp bức, dân tộc, giai cấp cần được giải phóng và phát triển toàn diện Nói cách khác, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, con người được nhìn nhận vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Tư tưởng ấy được thể hiện trong hệ thống bài nói, bài viết và trong thực tiễn hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Và đặc biệt, trong Di chúc, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định toàn bộ tư tưởng và trải nghiệm trọn cuộc đời cách mạng của Người Tư tưởng của Người đã trở thành giá trị của cái đẹp, của văn hóa, của truyền thống nhân văn Việt Nam
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có tác dụng quyết định đến sự thành công của cách mạng Việt Nam, của sự nghiệp giải phóng triệt để con người và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng đường lối và hoạch định chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta đối với
Trang 6con người trong sự nghiệp đổi mới Do vậy, quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển - “con người là nguồn lực của mọi nguồn lực” của Đảng ta cần được thể hiện trong chính sách xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của toàn dân, nhằm thực hiện mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội là phát triển các năng lực sáng tạo của con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã và đang đi vào cuộc sống, từng bước tích cực hóa nhân tố con người nhờ giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội Tuy vậy, công cuộc đổi mới hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần hoạch định và tổ chức thực thi chính sách xã hội cho phù hợp với tình hình mới, nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực con người, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [27, tr.70]
Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để xây dựng chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Nhận thức được tầm quan
trọng của chính sách xã hội đối với sự phát triển của con người, đề tài “Vận
dụng tư tưởng về con người trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng chính sách xã hội ở nước ta trong sự nghiệp đổi mới” đang là vấn
đề cấp thiết cần được triển khai nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người được thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội được Đảng ta và nhiều nhà khoa học quan tâm
Vì vậy, trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ
VI (1986) đến nay, Đảng ta đều xác định mục tiêu của chính sách xã hội thống
Trang 7nhất với mục tiêu phát triển kinh tế là nhằm phát huy sức mạnh của con người Đặc biệt, Đại hội đại biểu của Đảng lần thứ XI (2011) vừa qua, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách xã hội phải vì hạnh phúc con người Việc phát huy nhân
tố con người đối với sự phát triển xã hội: “Phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [27, tr.100]; trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội coi đây
là tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Bàn về vấn đề con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, trong cuốn “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996, tác giả Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm) đã đặt viên gạch đầu tiên cho ngành khoa học về con người ở nước ta, coi con người là trung tâm của sự phát triển, con người là giá trị của mọi giá trị
Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tác giả Lê Sỹ Thắng (chủ biên) đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về con người luôn là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Tuy vậy, công trình không đi sâu tìm hiểu các chính sách xã hội cụ thể mà dừng lại
ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng cho việc hoạch định các chính sách ấy
Trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1993, tác giả Hoàng Chí Bảo đã có nhiều thành công trong nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về chính sách xã hội, khái niệm và nội dung của chính sách xã hội cũng như mối quan hệ giữa chính sách xã hội với các chính sách khác
Trang 8Tác giả Lê Quang Hoan trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, đã phân tích những nội dung
cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và khẳng định sự cần thiết phải phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong cuốn “Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tác giả Thành Duy khẳng định chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thực chất là sự kết tinh những giá trị của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, thấm đượm tinh thần dân tộc và tinh thần nhân loại trong sáng, cao cả
Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tác giả Nguyễn Hữu Công chủ yếu bàn
về quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện và khẳng định vai trò của nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa trong quá trình hình thành và phát triển con người toàn diện
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về chính sách xã hội còn được công bố trên các kỷ yếu Hội thảo khoa học về 35 năm, 40 năm thực hiện
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trên nhiều tạp chí khoa học Nội dung các bài viết đề cập sâu nhiều khía cạnh tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người nói chung và người có công với cách mạng, về chính sách xóa đói giảm nghèo,… của Đảng và Nhà nước hiện nay
Với góc độ tiếp cận khác nhau, tác giả đều đề cập vấn đề con người trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp đổi mới với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, là trung tâm của các chính sách xã hội Tuy nhiên, do mục tiêu và đối tượng nghiên cứu mà các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc và sự vận dụng
Trang 9của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng, tổ chức thực thi chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới hiện nay
Kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước nên tôi chọn vấn đề
“Vận dụng tư tưởng về con người trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
để xây dựng chính sách xã hội ở nước ta trong sự nghiệp đổi mới” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cuối khóa của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Từ những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong
Di chúc, luận văn nghiên cứu làm rõ sự vận dụng quan điểm đó của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng chính sách xã hội ở nước ta trong sự nghiệp đổi mới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tập trung làm rõ:
- Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc
- Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc để xây dựng chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc
- Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng và thực thi chính sách xã hội ở nước
ta trong công cuộc đổi mới thông qua các văn kiện, các chính sách đảm bảo quyền lợi của con người các thành phần xã hội
* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề con người
Trang 10- Thực trạng con người Việt Nam sau hơn 40 năm thực hiện Di chúc và những chính sách xã hội chủ yếu nhất, cơ bản nhất của Đảng và Nhà nước ta đối với sự phát triển của con người Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử - lôgíc, kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp,…
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc
để góp phần làm rõ giá trị to lớn tư tưởng đó đối với sự nghiệp xây dựng phát triển con người toàn diện Đồng thời, minh chứng tính đúng đắn và những hạn chế của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định, xây dựng chính sách xã hội
ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng và ý nghĩa của việc xây dựng các chính sách
xã hội nhằm phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 11Từ những năm 50 của thế kỷ XX, quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Liên Xô
và Trung Quốc góp phần tăng cường sức mạnh của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới Nhưng từ đầu những năm 60, trước âm mưu vươn lên làm bá chủ thế giới, Mỹ phô trương tiềm năng kinh tế, sức mạnh quân sự bằng cách tăng cường can thiệp vũ trang vào nhiều quốc gia, khu vực;
Trang 12thế giới đã xuất hiện nhiều cách đánh giá về sức mạnh, vai trò của Mỹ trên trường quốc tế và theo đó là “thái độ” đối với Mỹ Nhiều quốc gia thần phục trước tiềm năng kinh tế, sức mạnh quân sự của Mỹ đã nảy sinh tâm lý sợ Mỹ Họ cho rằng, không nên chống Mỹ, vì có thể dẫn đến chiến tranh lớn Ngay trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng nảy sinh tình trạng đánh giá khác nhau về Mỹ Có người cho rằng “Mỹ là con hổ giấy!” nên dẫn đến thái độ coi thường sức mạnh Mỹ, xa rời Tuyên bố Mátxcơva năm 1960 của Hội nghị các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế Họ tự nêu định nghĩa nội dung thời đại là
“gió Đông thổi bạt gió Tây!” Số khác lại cho rằng, Mỹ là “con hổ giấy có răng nanh nguyên tử!” và do vậy không nên chống Mỹ Bởi lẽ, từ những cuộc chiến khu vực có thể dẫn đến chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới Từ đó dẫn đến thái
độ thần phục Mỹ, sợ Mỹ, không ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước Cùng với nhiều nguyên nhân khác, tình hình trên đây đã dẫn đến
sự bất hòa trong phe xã hội chủ nghĩa, mà biểu hiện mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc là tiêu biểu
Tình hình trên đây đặt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam trước sự bất lợi Bởi lẽ, Liên Xô, Trung Quốc là hai nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa đang là hai nước viện trợ lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta Nhưng nay hai nước nảy sinh bất đồng, vấn đề viện trợ quân
sự, sự giúp đỡ về đường lối kháng chiến của ta đặt trước những thử thách mới
Là người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế tại Mátxcơva tháng 11- 1960, khẳng định xu thế lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ủng hộ đường lối “chung sống hòa bình giữa hai hệ thống và phát triển phong trào cách mạng ở các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa là hai mặt khăng khích của cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân thế giới…giữ vững và tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa các
Trang 13nước xã hội chủ nghĩa và giữa các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân các nước,…” [19, tr.1038-1043]
Mặc dù vậy, “sự bất hòa” của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong đó giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn không được ngăn chặn Cùng với những khó khăn của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, sự phân biệt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói trên đã “góp phần” làm sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một yếu Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì rèn luyện sức khỏe và cùng Trung ương Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Đồng thời, Người bí mật chuẩn bị cho “chuyến đi xa” của mình Người biết rõ sức khỏe của mình, quy luật khắt khe của tạo hóa Vì vậy, tháng 5- 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu bí mật viết những dòng đầu tiên trong Di chúc, mà Người đặt dưới cái tên cũng rất bình dị như những dòng viết khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian lao, bí mật của mình là “Tuyệt đối bí mật” Đây là bản gồm ba trang, do chính Người đánh máy, phần cuối đề Hà Nội, ngày 15- 5- 1965, dưới có chữ ký “Hồ Chí Minh” và bên trái có chữ ký của đồng chí “Lê Duẩn”
- “Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng chứng kiến”
Trong tác phẩm “Bác Hồ viết Di chúc”, đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại cứ vào diệp tháng 5- 1966, 1967 Người đọc lại, suy ngẫm, cân nhắc kỹ những điều đã viết ra trong “Tài liệu đặc biệt” nhưng không có sửa chữa gì thêm và không có những bản viết riêng Bởi Người còn suy nghĩ, cân nhắc mọi điều sẽ dặn lại cho chúng ta
Bản Di chúc của Người cũng chứa đựng tình cảm bao la, bao quát toàn
bộ cuộc đời vì nước, vì dân, vì mỗi con người và toàn dân tộc Việt Nam Thông thường, Di chúc là những điều “chắt lọc” của người sắp đi xa dặn người ở lại: con cháu họ tộc về truyền thống họ tộc gia phong, về kinh
Trang 14nghiệm, bài học cuộc đời, về dòng dõi họ mạc và sự phân chia tài sản cho con cháu* Nhưng với Chủ tịch Hồ Chí Minh - người “không có gia đình, cũng không có con cái…không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi Phụ nữ Việt Nam
là chị em của tôi Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ,…”[64, tr.40,171] trọn cuộc đời Người đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của mỗi người dân Việt Nam Mỗi từ ngữ trong “Tài liệu đặc biệt” đều là sự trăn trở, suy nghĩ vô cùng
kỹ lưỡng, là kết tinh sự lo toan cả cuộc đời cùng với khát vọng của từng người dân Việt Đó là lời dặn lại của người lãnh đạo cao nhất của dân tộc đối với các thế hệ cách mạng, lời truyền lại của người cha với các thế hệ con cháu, là phương án xây dựng lại đất nước sau ngày giải phóng Vì vậy, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, thế trận miền Nam có một số thay đổi và sức khỏe của Người càng yếu thêm, Người đã bổ sung thêm một số đoạn, gồm sáu trang viết tay Trong đó, Người viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói “về việc riêng” đã viết trong bản năm 1965, và viết thêm một
số đoạn Đó là những đoạn nói về những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, như: chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng lại thành phố và làng mạc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, chuẩn bị thống nhất đất nước Trong đó, đoạn viết về chỉnh đốn lại Đảng và chăm sóc đối với thương binh, Người viết rồi lại gạch chéo; đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, chuẩn bị thống nhất đất nước, Người gạch dọc ở bên trái ngoài lề
* Theo từ điển bách khoa Việt Nam, Di chúc là một văn bản pháp luật dân sự của người từ 18 tuổi trở lên tự nguyện lập trong khi còn sống và minh mẫn, không bị lừa dối nhằm xử lý di sản hoặc các công việc khác và phát sinh hiệu lực khi người đó chết
Trang 15Ngày 10- 5- 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉnh sửa và viết lại hoàn chỉnh Di chúc
Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm bút tích đánh máy và các trang viết tay chỉ cô đúc trong mấy trang giấy, nhưng đó là một tác phẩm
vô cùng quý giá vì nội dung tư tưởng cực kỳ lớn lao và phong phú Bản Di chúc chính là sự tổng kết một cuộc đời, một sự nghiệp của vị Chủ tịch kính yêu của dân tộc Với cách mạng và với Đảng, đó là cả một chặng đường chiến đấu gian lao, trải qua những cuộc chiến tranh giải phóng, đánh bại hai tên đế quốc lớn Pháp và Mỹ Đó còn là “bản thiết kế” xây dựng nước Việt Nam thống nhất theo tinh thần đổi mới mang lại nhiều dân chủ, tự do, hạnh phúc nhất của mỗi con người Việt Nam và là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự bền vững của độc lập dân tộc
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp, những nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, đúc kết những vấn đề có tính nguyên lý của cách mạng Việt Nam và vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai Những tư tưởng lớn trong Di chúc được chắt lọc, được đúc kết bằng cả cuộc đời của một người Việt Nam vĩ đại nhất, đã để lại những dấu tích sâu xa trong số phận của dân tộc mình và quyết định rất nhiều số phận của dân tộc trong tương lai Di chúc
đề cập đến hàng loạt vấn đề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, những nhiệm vụ trọng đại mà Đảng và nhân dân ta phải nỗ lực thực hiện ở thời điểm bước ngoặt, những công việc cần giải quyết trong tương lai gần khi cách mạng nước nhà sắp đến ngày toàn thắng Di chúc cũng hướng tới một tương lai xa với một niềm tin mãnh liệt vào sức sáng tạo của nhân dân và dân tộc, vào triển vọng tốt đẹp của phong trào cách mạng thế giới Đặt ra những vấn
đề như thế trong Di chúc, đó là sự thể hiện sức nghĩ, tầm nhìn và hành động
Trang 16của một nhà tư tưởng với trí tuệ lớn và nhân cách lớn Khẳng định giá trị của bản Di chúc, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Bản Di chúc tuy rất ngắn gọn, song nó chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình cảm, là sự kết tinh của một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hữu với những thế hệ mai sau”[31, tr.7] Di chúc không chỉ thể hiện tầm cao tư tưởng mà còn đặc sắc về phương pháp và phong cách, tất cả được kết hợp nhuần nhuyễn ở
Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là một biểu tượng kiệt xuất về Văn hóa làm người, một kiểu mẫu về Đạo làm người
Có thể nói bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị như một cương lĩnh chính trị xây dựng và phát triển đất nước mà Người đã để lại trước lúc đi xa Bản Di chúc đề cập đến nhiều phương diện, chứa đựng những giá trị
lý luận, thực tiễn sâu sắc, mang ý nghĩa nhân văn cao cả và giá trị lịch sử cho muôn đời mai sau Cùng với ý nghĩa nhân văn lớn lao, Di chúc đã trở thành văn kiện quan trọng, một di sản vô giá của Đảng ta, dân tộc ta Mỗi câu, mỗi chữ trong “Tài liệu tuyệt đối bí mật” đều toát lên nhân cách của một “công bộc” phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước Không dừng lại ở đó, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tài sản chung của cách mạng thế giới, của nhân loại yêu tự do, hòa bình và tiến bộ trên khắp năm châu:
Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam đã phản ánh một sự hòa hợp giữa mặt chủ quan của Chủ tịch Hồ Chí Minh với mặt khách quan của phong trào cách mạng thế giới Chính vì thế Bác Hồ cùng với bản Di chúc của Người là thuộc về tất cả phong trào cộng sản, công nhân và cách mạng trên thế giới Người được liệt vào những bậc mà thân thế và sự nghiệp đã vượt ra ngoài phạm vi biên giới của Tổ quốc mình, và chính điều đó làm cho đối phương cũng phải kính trọng [90, tr.66]
Trang 17Nói đến Di chúc thì trước hết phải nói đến người viết ra nó Con người
ấy có sức cảm hóa muôn người bởi trái tim nhân ái, vị tha, khoan hòa độ lượng Sự độ lượng vĩ đại ấy làm xúc động muôn triệu người trên trái đất này
Đó là con người suốt đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, một chiến sĩ phấn đấu không mệt mỏi trong suốt 60 năm vì những mục tiêu cao quý của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Ở tuổi 79, Chủ tịch
Hồ Chí Minh suốt đời hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, dù phải từ biệt thế gian này, Người không còn điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa Người là nhà hoạt động cách mạng kiên cường, bất khuất, vượt qua mọi khó khăn thử thách, luôn chủ động và nắm bắt thời cơ để tiến đến đích, giành thắng lợi cuối cùng Nguồn gốc của sức mạnh này là con người Hồ Chí Minh với những phẩm chất cao quý trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin, là niềm tin sâu sắc vào sức mạnh to lớn của dân tộc và của con người Việt Nam Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thể hiện đa dạng, phong phú trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người Tất cả đều toát lên tình thương yêu vô hạn, thái độ bao dung và lòng tin yêu tuyệt đối của Người vào con người Nhận xét về tầm quan trọng của vấn đề con người trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định:
Tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải quyết mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực hay ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ; mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật, đang sống trong quả đất này và chắc chắn còn sống lâu dài
Trang 18đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy nghĩ và chủ đích của mọi hành động Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó [38, tr.79] Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu thương con người, đã không ngừng phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng con người và luôn quan tâm đến mọi đối tượng xã hội, mọi tầng lớp nhân dân Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh khát vọng của con người mà quan trọng là hướng con người đến hành động cách mạng để chinh phục thế giới, để giành lại hạnh phúc mà con người cần có trong cuộc sống Do vậy, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh được gọi là chủ nghĩa nhân văn chiến đấu, chiến đấu cho mình, chiến đấu cho đồng loại đau khổ, chiến đấu vì sự công bằng và nhân phẩm mà con người cần có và đáng có, để đem lại cuộc sống đích thực với hạnh phúc cho mọi người và vì mọi người Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói, mỗi người chúng ta, ai cũng ở trong trái tim mênh mông và tình thương yêu bao la của Người Bởi vậy, trong bản Di chúc lịch sử để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, không chỉ để lại “muôn vàn tình thương yêu” cho hết thảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn “Đầu tiên là công việc đối với
con người” [71, tr.503]
Con người trong Di chúc là sự tổng hợp nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam, là một nhiệm vụ quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cho Đảng và Nhà nước ta cần phải làm cho con người Việt Nam sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc là sự tổng kết quan trọng về chủ nghĩa nhân văn mà Người đã đúc kết trong quá trình hoạt động cách mạng của mình Đây chính
là vấn đề cốt tủy, là hạt nhân, đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng, sâu thẳm nhất trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng
Trang 191.2 NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI TRONG DI CHÚC
1.2.1 Đầu tiên là công việc đối với con người
Cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn là quan điểm coi trọng nhân cách, phẩm giá con người, thương yêu con người Điều đó ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thật toàn diện và sâu sắc Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người luôn là mục tiêu quan trọng nhất và chi phối toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Không phải đến khi viết Di chúc Người mới đề cập đến con người Xuất dương tìm đường cứu nước từ thân phận của một người dân mất nước, một người dân thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhiều nơi, sống chung với nhiều người cùng cảnh ngộ, ở nhiều quốc gia, châu lục Người đã tận mắt chứng kiến bao cảnh thương tâm của kiếp người nô lệ, người cùng khổ trên khắp thế giới Người thấu hiểu sâu sắc về thân phận con người, quan niệm về con người một cách rõ nét và định hướng đấu tranh vì con người Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận con người và đem lại một quan niệm riêng hết sức độc đáo Ở Hồ Chí Minh không có nhiều bài viết riêng về con người, nhưng trong hệ thống tư tưởng của Người, con người nói chung, trong đó trước hết là con người Việt Nam yêu nước, cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh chống ngoại xâm luôn luôn được biểu hiện rõ nét thông qua cuộc sống lao động và đấu tranh của họ Vấn đề con người trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được nhắc đến như một mục tiêu cao cả Nó thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đến mỗi con người, mỗi thân phận
Con người trong xã hội thuộc nhiều tầng lớp, thứ hạng khác nhau, nhưng bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành tình cảm, tâm hồn, trí tuệ của mình cho những người cùng khổ Vì muốn giải phóng cho những người
Trang 20cùng khổ mà Người đã hiến cả đời mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Người xót xa trước nỗi bất hạnh bị xâm lược, áp bức, bóc lột đối với người dân Việt Nam và đối với con người cùng cảnh ngộ của các dân tộc khác Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của con người Mong muốn cháy bỏng của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, được sống trong hòa bình, hữu nghị, yêu thương và hạnh phúc Mục đích cuối cùng của cách mạng do Người lãnh đạo nhằm giúp con người có thể thực hiện được đầy đủ quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, nhằm giúp con người phát triển toàn diện Vì thế, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa luôn là công việc quan trọng đầu tiên trong sự nghiệp của chúng ta
Vì vậy, nội dung chủ yếu bản Di chúc viết tay năm 1968 (mà Người ghi
là “thêm mấy điểm” vào trong thư này - tức bản Di chúc đánh máy tháng 5- 1965) viết về sự hy sinh của những con người, những thành phần xã hội khác nhau và chính sách của Đảng, Nhà nước đối với họ sau kháng chiến
chống Mỹ thắng lợi: “Đầu tiên là công việc đối với con người” Người chỉ
rõ: “…để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm Theo ý tôi, việc cần phải
làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” - yếu tố cực kỳ quan trọng để xây
dựng lại xã hội Việt Nam sau chiến thắng đế quốc xâm lược Và công việc
đầu tiên sau đó là “đối với con người” [71, tr.503] Đó là những thành phần
xã hội, những con người rất cụ thể đã từng hy sinh tài sản, xương máu cho kháng chiến, những nạn nhân của xã hội cũ,…
Trong Di chúc, con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đó là cha mẹ, vợ con của họ, là đoàn viên thanh niên, phụ nữ, các bậc phụ
Trang 21lão, các cháu nhi đồng yêu quý, những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, đồng bào nông dân, các đồng chí trong Đảng, những nạn nhân của chế độ cũ,… Xuất phát từ tình thương yêu đối với tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những việc cần làm về kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục,… đối với con người ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi Các chính sách đó phải nhằm hướng tới hầu hết các tầng lớp xã hội, bộ đội, thanh niên xung phong, thương binh, gia đình liệt sĩ, nông dân, phụ nữ, cho đến nạn nhân của xã hội cũ như trộm cắp, gái đếm, cờ bạc, buôn lậu, hầu như không bỏ sót một đối tượng nào
Tình thương yêu, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại
ở những vấn đề chung nhất của toàn xã hội mà rất cụ thể đối với từng đối tượng trong xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn cứ vào vị trí xã hội, chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân để phát huy tối đa phẩm chất và năng lực của mỗi con người trong từng lĩnh vực đặc thù Hơn ai hết Người thấu hiểu và trân trọng, tôn vinh những con người đã chiến đấu, đã hy sinh cuộc sống và hạnh phúc cá nhân, cống hiến mọi sức lực cho Tổ quốc Phải tạo điều kiện để toàn bộ những thanh niên, phụ nữ, thương binh, bệnh binh, nông dân có một cuộc sống tốt đẹp sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi
Di chúc thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người có công với nước như thương binh, bệnh binh, liệt sĩ và gia đình của họ Trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, để làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta đã hiến dâng tuổi thanh xuân
và sự sống của mình cho Tổ quốc Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc cha
mẹ, những người vợ, người chồng và những người con đã mãi mãi không thể
Trang 22gặp lại người thân của mình Kế thừa và phát huy đạo lý truyền thống ngàn đời của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho thương binh, bệnh binh và thân nhân các liệt
sĩ tình cảm và sự quan tâm sâu sắc
Ngay từ tháng 6- 1947, giữa những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp, Người đã chỉ thị chọn một ngày nào trong năm làm “Ngày Thương binh” Thực hiện chỉ thị của Người, một Hội nghị trù bị gồm đại biểu của các cơ quan, các ngành ở trung ương, khu và tỉnh đã họp ở Phú Minh, Đại
Từ, Thái Nguyên và nhất trí lấy ngày 27- 7- 1947 làm “Ngày Thương binh, liệt sĩ” đầu tiên trong cả nước Từ đó, ngày 27- 7 hàng năm đã trở thành
“Ngày Thương binh, liệt sĩ” của cả nước Đối với mỗi người dân Việt Nam:
Ngày 27- 7 là một ngày kỷ niệm Mỗi năm đến ngày ấy, thì những người ái quốc Việt Nam càng tưởng nhớ đến anh em thương binh, tưởng nhớ đến các gia đình tử sĩ, tưởng nhớ đến những người vô danh anh hùng, hoặc đã hy sinh tính mệnh, hoặc đã góp một phần xương máu trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta [65, tr.75] Đến ngày 27- 7 hàng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư động viên, khích lệ cho thương binh và các gia đình liệt sĩ Không chỉ gửi thư, Người còn trích một tháng lương của mình và dành những món quà để tặng thương binh Ngoài ra, Người còn đi thăm một số cơ sở chăm sóc thương binh, thăm những gia đình có công với cách mạng, gia đình có đông con đi bộ đội và gia đình liệt sĩ Dù bận nhiều việc trong lãnh đạo kháng chiến, nhưng Người vẫn dành thời gian đến viếng các nghĩa trang liệt sĩ Người viết:
Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng dạ của toàn dân và non sông đất nước
Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sĩ đã thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc kiên
Trang 23quyết đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước
Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh [66, tr.427]
Tình cảm của Người đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ là
dù trong hoàn cảnh nào cũng giúp họ từng bước ổn định và nâng cao dần đời sống vật chất, tinh thần Người thường xuyên nhắc các cơ quan nhà nước và các đoàn thể chấp hành thật tốt đối với các chính sách đối với thương binh, bệnh binh và các gia đình có công với cách mạng Cùng với các chủ trương, chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước, những việc làm đền ơn đáp nghĩa của nhân dân ta góp phần giúp họ ổn định cuộc sống, có cơ hội tham gia vào các hoạt động của xã hội và góp phần vào việc xây dựng đất nước
Đối với những người có công với cách mạng, đặc biệt để thương binh có thể phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh” trong tăng gia sản xuất, học tập, công tác, trước hết cần có sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của cộng đồng
và xã hội Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cấp ủy Đảng và chính quyền cùng đồng bào cả nước ai cũng có thể giúp đỡ thương binh và gia đình liệt sĩ Việc giúp đỡ phải thiết thực, cụ thể, có tổ chức và tùy theo khả năng của từng người Vì đây là công việc tình nghĩa, nên tuyệt đối không cưỡng bức và cần giúp đỡ lâu dài chứ không chỉ trong một thời gian ngắn, không phải bằng cách góp gạo nuôi thương binh, mà bằng cách tạo điều kiện và công ăn việc làm cho họ Mọi người nên coi đây là một nghĩa vụ, chứ không phải là một việc
“làm phúc”
Với các thương binh, bệnh binh, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng Tránh ỷ lại, công thần, kém kỷ luật, kém tin tưởng, không tích cực công tác, không bi
Trang 24quan chán nản Phải luôn luôn cố gắng đem hết khả năng của mình để tăng gia sản xuất, dần dần có thể tự lực cánh sinh, tiến tới tự cấp tự túc, giảm bớt khó khăn cho bản thân, gia đình và xã hội Phấn đấu để trở thành người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận
Xuất phát từ tình cảm và sự quan tâm sâu sắc đối với những người có công với nước, với các gia đình thương binh liệt sĩ, trong suốt 24 năm lãnh đạo đất nước, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến trước lúc đi
xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lời căn dặn cuối cùng trong Di chúc về thương binh, liệt sĩ Người chỉ rõ:
Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong,…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi
ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mọi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”
Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta
Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét [71, tr.503-504] Tình cảm thân thương, niềm tin và sự quan tâm của Người là định hướng, là chỗ dựa về mặt tinh thần vững chắc, là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao để bộ đội, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, thử thách phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình trước vận mệnh của nước nhà trong mọi giai đoạn lịch sử
Trang 25Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là nhà chiến lược, nhà tổ chức thiên tài mà còn là người cha thân yêu đối với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội Đặc biệt, đối với thanh niên xung phong, các chiến sĩ trẻ tuổi, Người đã dành cho
họ những tình cảm sâu nặng, tin yêu và ấm áp Người luôn theo dõi từng bước trưởng thành và luôn mong muốn xây dựng họ trở thành “đội quân chủ lực” không chỉ trong chiến đấu mà cả trong xây dựng đất nước Người dặn dò:
Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc [71, tr.504]
Với tầm nhìn chiến lược, với kinh nghiệm của một nhà quản lý, lãnh đạo đất nước, Người đã tiên đoán một cách chính xác về mô hình đội ngũ quản lý vừa hồng, vừa chuyên cho tương lai của đất nước Người khẳng định: “Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [71, tr.504] Người đặt kỳ vọng vào tuổi trẻ, nhất là lớp tuổi trẻ có chọn lọc Muốn trở thành những cây cổ thụ vững chắc phải chọn lọc từ những mầm khỏe khoắn, được thử thách Đó là một trong những tư tưởng lớn của Người khi đánh giá, quan tâm đến tuổi trẻ
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên là lực lượng xung kích, là tương lai của dân tộc và hạnh phúc của mỗi gia đình Người coi tuổi trẻ là độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người: “Một năm khởi đầu
từ mùa xuân Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [63, tr.167] Mùa xuân dân tộc được xanh tốt từ những cuộc đời tươi trẻ của mỗi con người Đó là triết lý trong chiều sâu tư tưởng của Người
Trang 26Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiền đồ của thanh niên và tiền đồ của dân tộc gắn chặt với nhau không thể tách rời Muốn làm tròn sứ mạng “người chủ tương lai” của đất nước, Người yêu cầu thanh niên phải có đầy đủ phẩm chất đức - tài, phải vừa hồng vừa chuyên Người ví có tài mà không có đức như một anh làm kinh tế tài chính giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội Nếu có đức
mà không có tài ví như ông bụt không làm hại ai nhưng cũng không làm lợi gì cho loài người
Với phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thấu hiểu sự hy sinh to lớn của họ
ở hậu phương và cả ở chiến trường Đó là sự hy sinh to lớn Đồng thời, Người chú ý đến sự phát triển, sự tiến bộ của phụ nữ, quyền bình đẳng và hạnh phúc của họ trong cuộc sống Trong Di chúc, Người khẳng định:
Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ
để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ [71, tr.504] Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại những lời tâm huyết này trước lúc đi xa, phải chăng là sự đúc kết ngắn gọn của sự trăn trở cả cuộc đời Người về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng phụ nữ nhằm thực hiện quyền bình đẳng cho mỗi dân tộc, mỗi con người và cho phụ nữ được quyền bình đẳng thật sự như nam giới Và trên thực tế, tư tưởng, quan điểm của Người về giải phóng phụ nữ được thể chế hóa thành pháp luật Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng ta đã có quan niệm phụ nữ là lực lượng cách mạng to lớn và đề ra chính sách nhất quán, sự quan tâm đặc biệt nhằm thực hiện nam nữ bình đẳng, tạo điều kiện khuyến khích để phụ nữ
Trang 27tham gia mọi lĩnh vực phát triển đất nước Tư tưởng “nam nữ bình quyền” cũng là một trong những nhiệm vụ cốt yếu của Cương lĩnh cách mạng Việt Nam và nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Xác định giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhà nhân văn chủ nghĩa vĩ đại, Người đặc biệt quan tâm tới sự nghiệp giải phóng phụ nữ Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng phụ
nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới, của chủ nghĩa xã hội Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp ủy Đảng, chính quyền, các bộ, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị phải chú ý đào tạo cán bộ nữ, tạo điều điện cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào công tác chính quyền, đoàn thể, phát huy tài năng, sở trường, của họ trong các lĩnh vực phù hợp với bản thân họ Có như vậy, phụ nữ mới thật sự bình đẳng với nam giới
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phụ nữ Việt Nam được hưởng quyền bình đẳng thật sự thì không chỉ giành cho được độc lập thống nhất nước nhà để đưa cả nước tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng họ, chăm
lo đến đời sống vật chất, tinh thần của họ mà còn phải bồi dưỡng, giúp đỡ họ, đưa họ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo Đảng và chính quyền Bên cạnh đó, bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên, tránh ỷ lại, trông chờ vào
sự giúp đỡ của người khác Người phụ nữ cần xóa bỏ thói xấu tự ti, mặc cảm, chịu đựng nhẫn nhục, có như vậy mới thực sự phát triển giới mình và giải phóng mình
Trang 28Với nông dân Việt Nam, trong bản Di chúc viết tháng 5- 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm rất mực đối với họ Sau khi tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn của nhân dân ta nói chung, “đồng bào nông dân” đối với Đảng và Chính phủ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ nói riêng, Người căn dặn phải miễn thuế nông nghiệp cho nông dân:
Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống
đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất [71, tr.504]
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến nông dân, bởi đây là một lực lượng chiếm số đông trong dân số của Việt Nam, một lực lượng cơ bản của cách mạng với những đóng góp hy sinh to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Người đã dành cho “đồng bào nông dân” những tình cảm và sự quan tâm vô cùng sâu sắc Nhưng sự quan tâm đó không phải chỉ đem lại cho người nông dân được hưởng những điều họ mong muốn mà là khơi dậy trong họ ý chí tự hào và tự mình phải làm ra tất cả
Luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc “kháng chiến kiến quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn kháng chiến
thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ Muốn nông dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở”
[66, tr.23] Người cũng chỉ rõ:
Trang 29Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng lãnh đạo, để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan [66, tr.185]
Vấn đề nông nghiệp, nông dân chiếm một vị trí quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất nhỏ, 90% dân số là nông dân, thực chất đây là một cuộc cách mạng nông dân, lực lượng nòng cốt là liên minh công nông, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Nông dân có nhiệm vụ quan trọng là sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội Nông nghiệp là một mặt trận, là hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam Muốn mặt trận nông nghiệp thắng lợi, điều đầu tiên là phải xây dựng và củng cố ban quản trị hợp tác xã Người chỉ rõ: “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh nông
nghiệp là: Chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt” [69, tr.544]
Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nông dân trong cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho họ tình cảm và sự quan tâm sâu sắc Trước lúc
đi xa, Người vẫn chưa yên lòng, vì biết rằng sau ngày đất nước toàn thắng, đời sống của “đồng bào nông dân” ta còn gặp nhiều khó khăn Người căn dặn Đảng và Chính phủ cần có chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân,
để họ được “hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi”, tiếp bước trên chặng đường cách mạng, đẩy mạnh sản xuất
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người còn được thể hiện khá rõ trong những gợi ý về chính sách khoan hòng độ lượng của Nhà nước đối với những người bên kia trận tuyến, những người bại trận hoặc những người bị ép buộc theo địch, bị lôi kéo mà đã một thời lầm đường lạc lối Theo Người, những
Trang 30người vì một cớ gì mà đi lầm đường, như đi lính hoặc làm công cho giặc chẳng hạn, thì Chính phủ sẽ luôn luôn rộng lượng đối với những ai biết cải tà quy chính, trọng thưởng những ai biết lập công chuộc tội Người không nhận thức và giải quyết theo “chủ nghĩa thành phần” Đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, Người coi “bốn biển đều là anh em” Với tù binh là thái độ khoan hồng độ lượng Với con người nói chung là nâng cao, cổ vũ con người, hướng con người về Chân - Thiện - Mỹ Biện pháp là nặng giáo dục,
họ, giúp họ trở thành những người lao động lương thiện, sống trong tình đoàn kết, hòa hợp của một dân tộc trọng đạo lý Trong Di chúc, Người viết: “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái đếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo
họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” [71, tr.504]
Chính lòng nhân từ của Người đã đánh thức lương tâm biết bao nhiêu con người lầm lỗi, để họ quay về hoàng lương và trở thành những con người
có ích cho xã hội Theo cách nhìn nhận và tầm nhìn của Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn, con người của mọi người:
Hồ Chí Minh tin ở khả năng tự cải tạo của con người Đối với những kẻ phạm lỗi lầm, kể cả những người có tội với Tổ quốc, với nhân dân, Bác vẫn rộng lòng khoan dung, độ lượng Bác tin rằng trong lương tâm họ vẫn còn một phần cái bản tính tốt của con người, của nòi giống Nếu biết nâng cao người lên, khuyến
Trang 31khích cái thiện, cái tốt, đẩy lùi cái ác, cái xấu, thì những người nhất thời hư hỏng vẫn có thể sửa mình thành những con người có ích cho xã hội [32, tr.840]
Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc là chủ nghĩa nhân văn cách mạng ngời sáng lý tưởng cộng sản Tình thương yêu con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải như sự ban ơn, mà tìm cách giúp đỡ để làm cho cái xấu phải mất dần đi và cái tốt, cái đẹp phải được nảy
nở như hoa mùa xuân
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Di chúc về con người, vì con người, cho con người Chủ tịch Hồ Chí Minh coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, coi xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của cách mạng Do vậy, Đảng và Nhà nước phải có chủ trương, kế hoạch đúng đắn để phát huy nhân tố con người, để dùng con người mà làm lợi cho con người
Trước hết nói về Đảng - nhân tố quyết định việc giải quyết vấn đề con
người, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “việc cần phải làm trước tiên là
chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều
ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi” [71, tr.503] Theo Người, trong điều kiện Đảng cầm quyền thì mọi việc của dân, của nước, mọi thành công, thất bại đều phụ thuộc trực tiếp vào phẩm chất, năng lực của Đảng Đảng phải chịu trách nhiệm về sự hưng thịnh hay suy vong của dân tộc Điều đó tùy thuộc vào đường lối cách mạng đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Cho nên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là nhiệm vụ then chốt
Trang 32Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của một Đảng cầm quyền, nhưng cũng thấy được nguy cơ của đảng cầm quyền là sự sao nhãng chức năng “đày tớ của nhân dân” của một bộ phận cán bộ, đảng viên Vì vậy, để xây dựng Đảng trong điều kiện cầm quyền, vấn đề tiên quyết là “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” [71, tr.510] Người chỉ rõ, Đảng ta là đảng cầm quyền, nên phải thật sự trong sạch vững mạnh, thật sự là bộ tham mưu của giai cấp công nhân, của dân tộc Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, mẫu mực về đạo đức, lối sống, có tầm cao trí tuệ để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn và không ngừng phát triển
Luận điểm Đảng “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” được xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng ta, từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Theo cách hiểu thông thường, về mặt chính trị, người lãnh đạo và người đày tớ (người phục vụ) có những chức trách không giống nhau Thế nhưng, với Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có trách nhiệm lãnh đạo cách mạng vì mục đích, lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có mục đích tự thân, thì hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ
Để thực hiện tốt vai trò “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, Đảng cần có đường lối đúng đắn, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân Đảng phải là công bộc của nhân dân, mục đích hoạt động của Đảng là phục vụ nhân dân, đem lại quyền lợi cho nhân dân
Giữ cho Đảng trong sạch, phát huy vai trò lãnh đạo, thật sự là người đày tớ trung thành của nhân dân là ba yếu tố gắn bó chặt chẽ, bổ sung, làm
Trang 33tiền đề cho nhau trong quá trình tồn tại và phát triển của Đảng Nói về sự trong sạch của Đảng, nhiều lần Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư” [71, tr.510] Đạo đức của người cách mạng được hợp thành bởi nhiều yếu
tố, theo Người, trong điều kiện Đảng cầm quyền, phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là những thành tố cơ bản nhất, quyết định nhất Đó cũng chính là vấn đề then chốt nhất đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, làm cho Đảng thực sự là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân Để có đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mỗi cán
bộ, đảng viên phải nghiêm khắc đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân Người có đạo đức cách mạng không chỉ như vậy mà còn có tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi xây dựng, chỉnh đốn Đảng là
phải tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng Người viết: “Đoàn kết là
một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” [71, tr.510] Đây được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vì đoàn kết tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước giàu mạnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam là nhờ đoàn kết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [71, tr.510] Đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Đoàn kết phải trên cơ sở thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đoàn kết thể hiện sự nhất trí trong nhận thức và hành động, trong lời nói và việc
Trang 34làm Đoàn kết trên cơ sở thống nhất đường lối, chính sách, lập trường tư tưởng, kiên định trong mọi tình huống, không hoang mang, dao động, xa rời
lý tưởng của Đảng, xa rời đội ngũ, xa rời nhân dân
Để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh căn dặn phải “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và
nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” [71, tr.510] Nhờ dân chủ mà Đảng
ta đã khơi dậy, phát huy cao nhất trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình Nhờ dân chủ mà trong Đảng đã khắc phục được tình trạng bè cánh, địa phương chủ nghĩa, quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng Thực hành dân chủ rộng rãi nghĩa là phải dân chủ thực sự, dân chủ thường xuyên, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở Dân chủ phải gắn với tập trung Tập trung dân chủ là nguyên tắc sống còn và cũng là biện pháp tốt nhất để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong sạch, vững mạnh Nguyên tắc đó còn bảo đảm cho khối đoàn kết thống nhất trong Đảng được thực hiện và giữ vững Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy phải thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng Thực hiện dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa cũng như trong lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày,…
Để thực hiện dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng được phát huy, Người căn dặn Đảng cần lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển Tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất, hữu hiệu nhất để Đảng và mọi đảng viên có thể phát huy ưu điểm, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm Do vậy, Người yêu cầu tự phê bình và phê bình phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [71, tr.510] Trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì mới thực hành được “dân chủ rộng rãi”, mới “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” Không có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau sẽ dẫn
Trang 35đến dân chủ hình thức, tự phê bình và phê bình không nghiêm túc hoặc lợi dụng dân chủ, lợi dụng phê bình để trả thù cá nhân
Những nội dung về xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ
có giá trị lý luận trong việc giáo dục, rèn luyện Đảng ta trong sạch, vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ của mình Quan trọng hơn, thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự trưởng thành vững mạnh của Đảng qua các giai đoạn cách mạng đã chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công trong xây dựng, rèn luyện Đảng ta
Cùng với nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để giải quyết tốt công việc đối với con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu: “Đảng cần phải
có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng
các nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại,… nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu của sự sinh tồn và phát triển của con người Đời sống kinh tế sẽ vận động theo hướng làm cho người nghèo đói trở nên đủ ăn, người đủ ăn trở nên khá, người khá trở nên giàu, người giàu thì giàu thêm, cuối cùng đạt đến mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng Còn phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần cho sự tồn tại của đời sống con người, xã hội loài người Phát triển văn hóa nhằm làm cho mọi người không ngừng hoàn thiện về nhân cách, hướng con người đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đời sống tinh thần lành mạnh, trong sạch; xã hội ta thật sự trở thành một xã hội có đạo đức, văn minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi việc làm đều vì hạnh phúc của con người, giải phóng cho con người Do vậy, việc phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, bao gồm mọi lứa tuổi, giai tầng trong
xã hội, trước hết là nhân dân lao động và những người lao động khác Người
Trang 36từng nói, giành độc lập là quan trọng, nhưng khi đất nước độc lập rồi mà dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng vô nghĩa Mặt khác, độc lập phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, độc lập đem lại cơm no áo ấm, đem lại hạnh phúc cho nhân dân Trong Di chúc, Người chỉ rõ:
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng [71, tr.498]
Chính vì vậy, Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành Với tình cảm bao la, tâm hồn cao đẹp, tất cả vì con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân các dân tộc, các tầng lớp cần lao bị đọa đày đau khổ Người thiết tha mong muốn các dân tộc được
tự do, bình đẳng, con người được sống hạnh phúc Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân phải xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới
Trong Di chúc, Người căn dặn, cùng với việc phát triển kinh tế, văn hóa nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, Đảng phải có “kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh Khôi phục
và mở rộng các ngành kinh tế Phát triển công tác vệ sinh, y tế Sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp với hoàn cảnh mới” [71, tr.504-505]
Rõ ràng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng cầm quyền phải thực sự là một đảng tiêu biểu cho đạo đức và văn minh Người chỉ rõ, động cơ và mục đích của Đảng là “một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ
Trang 37Tổ quốc” Động cơ, mục đích ấy thuộc về bản chất của một đảng cách mạng chân chính Do vậy, sau ngày đất nước được thống nhất, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch chu đáo, tránh rơi vào bị động, tránh những khuyết điểm, thiếu xót, sai lầm khi giải quyết “công việc đối với con người” trong hoàn cảnh mới, tình hình mới
Tóm lại, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Di chúc về con người, vì con người và cho con người Là cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh,
Di chúc thể hiện tầm nhìn rộng lớn của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phát triển kinh tế và văn hóa; khôi phục đất nước sau chiến tranh; Song tựu trung lại, tất cả vì mục tiêu để con người giải phóng hoàn toàn, ngày một hoàn thiện và ngày càng phát triển Tất cả đều toát lên tình thương yêu vô hạn, thái độ tôn trọng, bao dung và lòng tin tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với con người
1.2.2 Tin tưởng vào ý chí, sức mạnh của con người
Lòng thương yêu con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo lập trường cách mạng tất yếu đòi hỏi sự tin tưởng và tôn trọng con người trên cơ sở thấy được ý chí và vai trò quyết định của con người đối với lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, có dân thì có tất cả, sức mạnh của Đảng, của Nhà nước là dựa trên ý chí, sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân
Vốn tin tưởng vào những phẩm chất tốt đẹp của con người, nhiều lần Người đã nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [67, tr.276] Trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và đặc biệt trong Di chúc của Người, con người luôn được khẳng định là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam Ngay từ năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
Trang 38khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tư do” [71, tr.108] Đây là kết tinh
ý chí của dân tộc Việt Nam, là sự khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Cuộc chiến đấu
ấy đã nêu trước toàn thế giới một biểu tượng về lòng dũng cảm, về đức tin vào chính nghĩa và đạo lý Đó là cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của một dân tộc phải sống trong cảnh nô lệ, là cuộc giao tranh một mất một còn giữa cái phải lớn nhất với cái trái lớn nhất trong lịch sử nhân loại của thế kỷ XX Đó cũng là cuộc đấu tranh không cân sức giữa một dân tộc nhỏ, đất không rộng, người không đông với một đế quốc lớn, với vũ khí hiện đại, với tất cả sự hung hãn và tàn bạo Song quy luật muôn đời cho thấy, chính nghĩa tất yếu chiến thắng phi nghĩa, tự do và công lý cũng vẫn vượt lên mọi sức mạnh bạo tàn Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nói đến mối quan tâm hàng đầu, cấp bách của mọi người dân Việt Nam lúc
đó Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn
- Đó là điều chắc chắn” [71, tr.509] Với niềm tin sắt đá vào sự tất thắng của cuộc “đụng đầu lịch sử” Mỹ - Việt, Người chỉ rõ: Nhân dân hai miền Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn Viết bản Di chúc trong lúc cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước còn đang diễn ra gay go quyết liệt, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn tin tưởng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi Người khẳng định: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam Bắc sẽ nhất định sum họp một nhà” [71, tr.511] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta không chỉ có ý nghĩa thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ, mà còn
Trang 39“góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” [71, tr.511] trên phạm vi toàn thế giới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong Di chúc vừa rộng, vừa cụ thể
Đó là “đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng”, là “nhân dân ta”, là “đồng bào Nam, Bắc”, là “toàn quân, toàn dân ta”, là nhân dân lao động “đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột”, là
“những đoàn viên, thanh niên vừa hồng, vừa chuyên”, Trong Di chúc, nhân dân, đồng bào lại có “nhân dân miền xuôi, nhân dân miền ngược”, “nhân dân lao động”, “phụ nữ đảm đang”, “những chiến sĩ trẻ trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong”, “đồng bào nông dân”, “những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong,…), có “cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ)”, có “những nạn nhân của chế độ cũ”,
Con người trong Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến gồm mọi đối tượng xã hội, mọi tầng lớp nhân dân Nhưng với niềm tin sâu sắc vào ý chí, sức mạnh của con người, Người tin tưởng chắc chắn nhân dân ta sẽ chiến thắng vì còn con người là còn tất cả, đất nước ta nhất định sẽ được xây dựng lại thành công sau chiến tranh
Nói rõ hơn điều khẳng định và dự báo đó, Người còn nhấn mạnh:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa Đồng
bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn
Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! [71, tr.498]
Khoảng thời gian mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và bổ sung bản Di chúc
là khoảng thời gian mà đế quốc Mỹ liên tiếp thay đổi chiến lược chiến tranh
Trang 40trên chiến trường miền Nam, đồng thời mở rộng quy mô chiến tranh phá hoại
ra miền Bắc Đó còn là khoảng thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, một năm trước khi Người qua đời Quân dân ta đã quyết tâm giải phóng miền Nam để tâm nguyện thiêng liêng của Người được thực hiện,
để Người được gặp gỡ đồng bào miền Nam ruột thịt Cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 đã giáng đòn mạnh vào kẻ thù nhưng chưa tạo ra thắng lợi trọn vẹn; chiến tranh chưa thể kết thúc Điều này giải thích rõ vì sao Người
dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ còn có thể kéo dài mấy năm nữa
Thực hiện di nguyện của Người, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của
dân tộc Việt Nam: “Thắng Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”, cả nước
lên đường hướng về miền Nam thân yêu, một phong trào hành động lập công đền ơn Bác dấy lên mạnh mẽ trên khắp cả nước Nhân dân miền Bắc ra sức thi đua: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” với quyết tâm
“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, với tinh thần “xẻ dọc trường sơn đi cứu nước”, kịp thời chi viện cho miền Nam
Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta từng bước làm phá sản chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ Địch luôn luôn rơi vào thế bị động, dẫn đến làm phá sản chiến lược chiến tranh, đánh nhụt ý chí tiếp tục kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ Chiến thắng oanh liệt đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, cùng với thắng lợi của quân
và dân ta ở miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari vào ngày 27- 1- 1973, cam kết chấm dứt chiến tranh, rút quân Mỹ và chư hầu về nước, lập lại hòa bình ở Việt Nam Như vậy, đến đây (đầu năm 1973) quân và dân ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu thứ nhất
“Đánh cho Mỹ cút”, đồng thời tạo ra chuyển biến quan trọng về cán cân so sánh lực lượng, tạo ra thế và lực vô cùng thuận lợi cho việc thực hiện mục