1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong các trường học ở thành phố vị thanh tỉnh hậu giang

122 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 896,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CĐ Việt Nam có chức năng: đại diện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ; tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; tham gia xây CNVCLĐ; kiểm tra, giám sát hoạ

Trang 1

PHAN VĂN NHỚ

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC

Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI ĐỨC TÚ

ĐỒNG THÁP - NĂM 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Phan Văn Nhớ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng tất cả tấm lòng, tác giả xin chân thành cảm ơn đến:

- Ban Giám hiệu, quý thầy cô quản lý lớp và cán bộ, giảng viên của trường Đại học Đồng Tháp đã hết lòng giảng dạy, tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu;

- Quý thầy cô trong Hội đồng đánh giá luận văn đã đọc, góp ý và phản biện cho đề tài nghiên cứu của tác giả được hoàn thiện hơn;

- Quý lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh Hậu Giang, lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Vị Thanh, Ban Giám hiệu và giáo viên các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và những người thân đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Bùi Đức Tú, người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả định hướng về nội dung đề tài, phương pháp nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã cố gắng

nỗ lực hết mình nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Bản thân rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báo từ thầy cô, các nhà khoa học và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Phan Văn Nhớ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC 7

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 8

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 12

1.2.1 Công cụ quản lý 12

1.2.2 Công đoàn cơ sở 13

1.2.3 Chủ tịch công đoàn cơ sở 14

1.2.4 Đội ngũ và đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 14

1.2.5 Phát triển 15

1.2.6 Phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 16

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 17

1.4 YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCHCÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 19

1.4.1 Yêu cầu về số lượng 19

1.4.2 Yêu cầu về chất lượng 19

1.4.3 Yêu cầu về cơ cấu 20

1.5 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 21

1.5.1 Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 21

1.5.2 Tuyển chọn, sử dụng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 21

1.5.3 Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 22

Trang 5

1.5.4 Kiểm tra, đánh giá đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 24

1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 25

1.6.1 Yếu tố khách quan 25

1.6.2 Yếu tố chủ quan 26

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 29

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC CỦA THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 29

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

2.1.3 Tình hình giáo dục và đào tạo 34

2.1.4 Tình hình hoạt động của công đoàn cơ sở các trường học 37

2.2 MÔ TẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 39

2.2.1 Mục đích khảo sát 39

2.2.2 Nội dung khảo sát 39

2.2.3 Khách thể khảo sát 39

2.2.4 Công cụ khảo sát 40

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 40

2.3 THỰC TRẠNG VỀ ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 40

2.3.1 Về số lượng của đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 40

2.3.2 Về chất lượng của đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 40

2.3.2.1 Phẩm chất chính trị, tư tưởng 41

Trang 6

2.3.2.2 Phẩm chất nghề nghiệp 43

2.3.2.3 Năng lực tham gia quản lý 44

2.3.2.4 Năng lực vận động, thuyết phục quần chúng 46

2.3.3 Về cơ cấu đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 49

2.4 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 50

2.4.1 Thực trạng lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 50

2.4.2 Thực trạng quy hoạch phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 51

2.4.3 Thực trạng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 52

2.4.4 Thực trạng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 54

2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 55

2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 56

2.5.1 Yếu tố khách quan 56

2.5.2 Yếu tố chủ quan 57

2.6 ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 57

2.6.1 Mặt mạnh 57

2.6.2 Mặt yếu 58

2.6.3 Thời cơ 58

2.6.4 Thách thức 59

Tiểu kết chương 2 61

Trang 7

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH,

TỈNH HẬU GIANG 63

3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 63

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 63

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 64

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 64

3.2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 64

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đố với việc phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 64

3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp 64

3.2.1.2 Nội dung và cách thực hiện 64

3.2.1.3 Điều kiện thực hiện 66

3.2.2 Cải tiến quy hoạch phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 66

3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 66

3.2.2.2 Nội dung và cách thực hiện 67

3.2.2.3 Điều kiện thực hiện 70

3.2.3 Phát huy hiệu quả việc tuyển chọn, sử dụng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở 70

3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 70

3.2.3.2 Nội dung và cách thực hiện 71

3.2.3.3 Điều kiện thực hiện 72

Trang 8

3.2.4 Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chủ tịch công

đoàn cơ sở 73

3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 73

3.2.4.2 Nội dung và cách thực hiện 74

3.2.4.3 Điều kiện thực hiện 78

3.2.5 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong các trường học 80

3.2.5.1 Mục tiêu của biện pháp 80

3.2.5.2 Nội dung và cách thực hiện 80

3.2.5.3 Điều kiện thực hiện 85

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 85

3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 87

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 87

3.4.2 Khách thể khảo nghiệm 87

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 87

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 87

3.4.4.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết 87

3.4.4.2 Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi 89

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 101 PHỤ LỤC

Trang 10

KÝ HIỆU VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BCH BGH CBCĐ CBGVNV

CĐ CĐCS CNH, HĐH CNVCLĐ GD&ĐT LĐLĐ

MN

TH THCS THPT UBKT

BP

Ban Chấp hành Ban Giám hiệu Cán bộ công đoàn Cán bộ, giáo viên, nhân viênCông đoàn

Công đoàn cơ sở Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nhân, viên chức, lao động Giáo dục và Đào tạo

Liên đoàn Lao động Mầm non

Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Ủy ban Kiểm tra Biện pháp

Trang 11

Cơ quan lãnh đạo của CĐ là Tổng LĐLĐ Việt Nam CĐ Việt Nam có chức năng: đại diện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ; tham gia quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; tham gia xây

CNVCLĐ; kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp

về thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động; tổ chức hoạt động tuyên truyền, các phong trào thi đua yêu nước trong CNVCLĐ, phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức, xây dựng đội ngũ CBCĐ đáp ứng yêu cầu của phong trào công nhân, CĐ

Gần chín mươi năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, CĐ Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của giai cấp, lợi ích của người lao động, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, vận động, tập hợp CNVCLĐ đấu tranh chống giặc ngoại xâm, viết lên trang sử hào hùng của giai cấp công nhân và tổ chức CĐ Việt Nam

Bước vào thời kỳ đổi mới, những thay đổi trong đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng nhu cầu tình hình mới, nền kinh tế nước ta chuyển hướng

từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ CNVCLĐ tăng lên về số lượng và chất lượng Sự phát triển kinh tế làm cho đời sống CNVCLĐ được cải thiện nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề Đó là sự phân hóa giàu

Trang 12

nghèo trong nội bộ giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc; quan hệ lao động ngày càng phức tạp dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động dễ bị vi phạm Điều đó đã đặt ra cho tổ chức CĐ Việt Nam yêu cầu phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình mới, trong đó công tác nâng cao năng lực của đội ngũ chủ tịch CĐCS có vai trò vô cùng quan trọng

Bởi vì theo Hồ Chí Minh “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,

“Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “cán bộ là người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu

rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ để đặt ra đường lối cho đúng ” Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng khóa XII đã đánh giá tầm quan trọng của người cán

bộ và công tác cán bộ “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.”

Mặt khác, CĐCS trường học có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp với bộ phận chuyên môn tổ chức các phong trào thi đua trong nhà trường; kết hợp, hỗ trợ chính quyền nhà trường cùng hướng tới thực hiện nhiệm vụ chung; giúp tất cả CBGVNV nhà trường nhận thức đầy đủ, đúng đắn vai trò vị trí của người thầy, nghề thầy, năng lực của thầy trong xã hội hiện nay; sơ kết, tổng kết,đánh giá khen thưởng, kỷ luật Nếu công đoàn đã biết phát huy vai trò quan trọng trong việc phát động, triển khai các phong trào thi đua, xây dựng nội bộ đoàn kết, nhất trí thì sẽ giúp cho chất lượng giáo dục nhà trường luôn ổn định và ngày càng nâng cao Để làm được điều đó, CĐCS các trường học cần có một đội ngũ chủ tịch CĐ bản lĩnh, năng động, sáng tạo

Trang 13

1.2 Cơ sở thực tiễn

Qua thực tiễn hoạt động đã cho thấy, ở đâu CBCĐ có năng lực, bản lĩnh, có tâm huyết thì ở đó hoạt động CĐ thu hút được đông đảo CNVCLĐ tham gia và góp phần mang lại hiệu quả công việc trong mọi lĩnh vực, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động, khẳng định vai trò, vị trí của

tổ chức CĐ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của sự phát triển đất nước với nhiều diễn biến phức tạp hiện nay, thì trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ CĐCS còn yếu, không theo kịp với thực tiễn phát triển của đất nước Tính năng động, sáng tạo và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế, cần phải được khắc phục thì mới đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới

Cùng với hệ thống CĐ trong thành phố, thời gian qua LĐLĐ thành phố

Vị Thanh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học ở thành phố nhằm góp phần xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay, đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường đều là do giáo viên kiêm nhiệm nên vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực Nhiều trường tổ chức CĐ chưa phát huy, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia Một bộ phận chủ tịch CĐ chưa thật sự tâm huyết, thiếu chủ động trong công tác, kinh nghiệm

và kỹ năng hoạt động còn yếu, chỉ tập trung cho công tác giảng dạy nên chưa tích cực học tập, nghiên cứu về chuyên môn, về lý luận nghiệp vụ CĐ, từ đó

đã ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác CĐ tại đơn vị

Bên cạnh thực trạng năng lực đội ngũ chủ tịch CĐ của các trường trong thành phố còn nhiều hạn chế, bất cập thì công tác quản lý, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho đội ngũ này cũng cần được quan tâm Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách khoa học

Trang 14

Từ thực trạng trên cho thấy vấn đề nâng cao năng lực cho đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường học ở thành phố Vị Thanh là vấn đề cấp bách và được quan tâm hàng đầu của Ban Thường vụ LĐLĐ thành phố Với mong muốn đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm quản lý, nâng cao năng lực đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường học, tôi

chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng đội ngũ chủ tịch

CĐ trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học ở thành phố nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS trong các trường học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác phát triển chủ tịch CĐCS trong các trường học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang

4 Giả thuyết khoa học

Đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường học có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Nếu các biện pháp đề xuất phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học được xây dựng khả thi, thì

sẽ nâng cao năng lực của đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS trong các trường học trên địa bàn

Trang 15

5 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu ở 30 CĐCS trường học (Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở) trực thuộc LĐLĐ thành phố Vị Thanh

- Đối tượng khảo sát gồm: BCH CĐCS (chủ tịch, phó chủ tịch và

ủy viên BCH), đoàn viên CĐ và người lao động trong các CĐCS trường học trực thuộc

- Số liệu khảo sát: từ năm 2015 đến 2018

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS

trong các trường học

6.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng về phát triển đội ngũ

chủ tịch CĐ trong các trường học ở thành phố Vị Thanh hiện nay

6.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ chủ tịch CĐ trường học

ở thành phố Vị Thanh hiện nay và trong thời gian tới

6.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích - tổng hợp, phân loại - hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát BCH CĐCS, cán bộ công chức, viên chức , đoàn viên CĐ và người lao động trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang để tìm hiểu thực trạng

về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học trên địa bàn

- Phương pháp tọa đàm: Trực tiếp trao đổi với BCH CĐCS, cán bộ công chức, viên chức, đoàn viên CĐ và người lao động để tìm hiểu thực trạng về phát

Trang 16

triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học trên địa bàn hiện nay

- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến một số nhà sư phạm, nhà quản lý, nhà khoa học đầu ngành, có kinh nghiệm và tâm huyết về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học hiện nay và trong thời gian tới

- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp toán học để thống kê, tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được phục vụ cho các vấn đề cần giải quyết trong đề tài

8 Những đóng góp của luận văn

8.1 Về lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học về trình độ, năng lực của cán bộ CĐCS cần thiết phải theo kịp với thực tiễn phát triển của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

8.2 Về thực tiễn

Luận văn sẽ làm sáng tỏ về phát triển đội ngũ chủ tịch CĐ trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ chủ tịch CĐ trường học ở thành phố Vị Thanh trong thời gian tới

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cở sở lý luận về phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong trường học

Chương 2 Thực trạng phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang

Chương 3 Biện pháp phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở trong các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC 1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Giữa thế kỷ 18, cuộc Cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở Anh, sau đó tiếp tục ở nhiều nước khác Từ cuộc cách mạng, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản đã ra đời Hai giai cấp này đối lập nhau về quyền lợi Do bị bóc lột tàn tệ, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống giai cấp tư sản từ lẻ tẻ, rời rạc,

tự phát dần dần thành cuộc đấu tranh của cả một phân xưởng, một nhà máy, một ngành, một địa phương Trong đấu tranh, công nhân nhận thấy cần tập hợp lực lượng thống nhất hành động mới bảo vệ được quyền lợi của mình Do

đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy đó là Công đoàn

Công đoàn ra đời đầu tiên ở Anh vào đầu năm 1776, Pháp năm 1789,

Mỹ năm 1827, Đức năm 1848 Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng được củng cố Để truyền bá Chủ nghĩa Mác vào sâu rộng trong giai cấp công nhân, Mác và Ăng-ghen đã đứng ra thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (tức Quốc tế thứ nhất) vào ngày 28-9-1864 ở Luân Đôn Quốc tế thứ nhất đồng thời làm nhiệm vụ Quốc tế công đoàn, vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho các yêu cầu

cụ thể của công đoàn

Phong trào đấu tranh của công nhân và công đoàn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sau Quốc tế II được thành lập ngày 14-5-1889 và trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ I tháng 8-1914 Thắng lợi Cách mạng tháng 10 Nga 1917 đã làm vang dội thế giới, giải phóng giai cấp công nhân

và nhân dân lao động Nga, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, phong trào công đoàn thế giới bước sang giai đoạn mới

Trang 18

Trong thời kỳ này, công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng trong tổ chức công đoàn quốc tế Từ sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, phong trào công nhân và công đoàn đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước khác trên thế giới như Ý, Hung-ra-ri Sự ra đời của Quốc tế III (1919) và Công hội Đỏ (RILU) năm 1921 đã đánh dấu một bước tiến mới của công đoàn thế giới

Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện sự cân bằng lực lượng giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tư bản Bấy giờ, tổ chức công đoàn đã tích cực tham gia quản lý kinh tế

- xã hội Trong thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn ra đời tiêu biểu nhất là Liên hiệp công đoàn thế giới tháng 10-1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này từ năm 1949); Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự

do (1949) Những tổ chức công đoàn mang tính quốc tế này vẫn tồn tại cho đến ngày nay

Trải qua một thời gian dài phát triển, nhiều tổ chức công đoàn ở các quốc gia đã có đủ điều kiện nhận thức và kinh nghiệm xây dựng tổ chức công đoàn, vai trò và vị trí công đoàn ngày càng được khẳng định Nhiều tổ chức công đoàn đã đứng ra đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, đưa ra nhiều kiến nghị đòi tăng tiền lương, giảm giờ làm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động Từ khi ra đời cho đến nay, tổ chức công đoàn đã có nhiều đóng góp đáng kể cho tiến trình cách mạng thế giới Ngày nay, công đoàn đã trở thành một tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, thực dân Pháp tiến hành ồ ạt đợt khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) ở nước ta Đây là lúc giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng và chuyển biến mau lẹ về chất lượng

Trang 19

Ảnh hưởng từ Cách mạng tháng 10 Nga và sau đó đặc biệt là với sự truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào công nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, hoàn thành bước chuyển biến từ tự phát sang tự giác, từ đó, sự hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn Việt Nam gắn chặt với cuộc vận động thành lập Đảng Có thể nói,

từ khi Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập (tháng 6-1925) đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) cũng là lúc xuất hiện các tổ chức công đoàn đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân nước

ta Các cuộc bãi công từ 1925 đã thể hiện rõ nét ý thức giai cấp, mục đích chính trị của cuộc tranh đấu Từ những tổ chức tương tế buổi đầu đã dần dần xuất hiện các Công hội đỏ bí mật

Trong cao trào cách mạng 1930-1931, Công hội đỏ đã có cơ sở mạnh

mẽ khắp trong nước và đi đầu trong các cuộc bãi công mở đường cho việc thành lập Xô Viết Nghệ Tĩnh Tháng 8-1930, thay mặt Đông phương Bộ của Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chỉ định Công hội đỏ Việt Nam cử đại biểu đi dự Đại hội Công hội đỏ quốc tế lần thứ VI ở Mát-xcơ-va Khi ấy thông qua Công hội đỏ, đồng chí Trần Phú đã đi khảo sát phong trào công nhân Nam Định Hải phòng, Hòn Gai để viết bản Luận cương chính trị lịch sử Được cử làm trưởng ban Công vận trung ương, ngày 20-1-1931 tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng đã triệu tập Hội nghị công nhân Đông Dương lần thứ I vạch ra phương hướng tổ chức và đấu tranh cho phong trào công nhân và công đoàn

Trong thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương 1936-1939, hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội và đòi tự do cơm áo hoà bình dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương hàng ngàn cuộc bãi công của nửa triệu công nhân tham gia đã nổ ra liên tiếp ở các thành phố lớn trong cả nước Mặc

dù bị bọn phản động thuộc địa ngăn cản, nhiều nghiệp đoàn vẫn được thành

Trang 20

lập và tự do hoạt động, báo chí vẫn tự do xuất bản và công khai tuyên truyền Chủ nghĩa Mác- Lênin Chưa giành được toàn bộ quyền tự do nghiệp đoàn, công nhân Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội lập các Hội ái hữu ở khắp nơi Tháng 9-1939, Đại chiến Thế giới lần thứ II bùng nổ, các tổ chức của công nhân và công bộ công đoàn phải rút vào bí mật

Trong thời kỳ vận động Cách mạng tháng Tám (1939-1945), Hội công nhân cứu quốc - một lực lượng quan trọng của Mặt trận Việt Minh được thành lập nhất là ở Bắc và Trung Bộ Hội công nhân cứu quốc vừa bí mật đấu tranh đòi quyền lợi hằng ngày, vừa tổ chức các đội võ trang làm nòng cốt cho cuộc nổi dậy ở đô thị

Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân lao động Việt Nam từ chỗ

là dân nô lệ mất nước đã đứng lên làm chủ đất nước, chủ xí nghiệp Ngày 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - nhà nước do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Để thực sự thống nhất về tổ chức công đoàn, Hội nghị cán bộ công nhân cứu quốc họp ngày 20-5-1946 quyết định đổi Hội công nhân cứu quốc thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Ngày 20-7-1946, tại thủ đô Hà Nội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chính thức tuyên bố thành lập đánh dấu bước ngoặt của phong trào công đoàn Việt Nam với một tổ chức thống nhất

2-và ổn định thật sự trong cả nước

Trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam (1954-1975), công đoàn Việt Nam lớn mạnh vượt bậc Ngày 14-9-1957, Quốc hội nhất trí thông qua Luật công đoàn qui định vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của công đoàn Việt Nam

Trong Đại hội công đoàn Việt Nam lần thứ II (tháng 2-1961), Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đổi tên thành Tổng công đoàn Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới Đặc biệt tại Đại hội công đoàn lần VI, đại hội

Trang 21

quyết định đổi tên Tổng công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nhằm xác định rõ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động công đoàn không thể chú trọng đến đối tượng công nhân - viên chức trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước mà phải mở rộng đến mọi công nhân lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cả doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài

Với sứ mệnh lịch sử của mình công đoàn sẽ tiếp tục là một nhân tố không thể thiếu được trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phấn đấu không ngừng cho sự nghiệp CĐ, cho việc bảo vệ quyền lợi của người lao động

Do vậy, công tác phát triển đội ngũ của tổ chức CĐ cũng được quan tâm đặc biệt Điều này đã được nhiều tài liệu, sách báo, tạp chí, đề cập đến,

tiêu biểu như:

- “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại

hóa” của Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2001

- “Công tác đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn”

của Nguyễn Viết Vượng (2007)

Ngoài ra còn một số công trình, bài báo nghiên cứu về vai trò và hoạt động của CĐ như:

- “Lý luận Mác - Lênin về công đoàn và vận dụng vào hoạt động công

đoàn Việt Nam trong kinh tế thị trường” của Nguyễn Viết Vượng, năm 2005

- "Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn để thích ứng với tình hình

mới" của Dương Xuân An - Nguyên Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt

Nam (2007)

- "Mấy suy nghĩ về công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ công đoàn hiện

nay" của Lê Phan Ngọc Rỉ, Tạp chí Lao động và Công đoàn, ngày 02 tháng 8

Trang 22

năm 1999, "Công đoàn Việt Nam với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn

Đảng" của Cù Thị Hậu, Tạp chí Cộng sản, tháng 4 năm 2000, “Vai trò của Công đoàn Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Viết

Vượng, Tạp chí Cộng sản, tháng 7 năm 2007

Nói chung, đã có nhiều tài liệu và bài viết đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, CBCĐ nhưng hầu như chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu công phu, khoa học để đánh giá một cách toàn diện thực trạng và

có những giải pháp cụ thể cho việc phát triển đội ngũ chủ tịch CĐ nói chung, đội ngũ chủ tịch CĐCS các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang nói riêng Chính vì vậy, luận văn sẽ tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá và

đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS các trường học

ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Công cụ quản lý

Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”

Để quản lý hiệu quả cần có công cụ quản lý Công cụ quản lý có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:

- Công cụ hành chính: là các tác động trực tiếp bằng các quyết định mang tính bắt buộc của tổ chức lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu của quản lý trong những tình huống nhất định

- Công cụ kinh tế: dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn, lên đối tượng quản lý về kinh tế, nhằm làm cho họ quan tâm tới hiệu quả cuối

Trang 23

cùng của sự hoạt động, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

- Các công cụ giáo dục: là các cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ

Có thể nói công cụ quản lý trong công tác công đoàn là toàn bộ những phương tiện cần thiết mà nhờ đó các cơ quan và cán bộ công đoàn các cấp sử dụng để điều tiết, hướng dẫn, khuyến khích, phối hợp…các hoạt động của tập thể và cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau của tổ chức công đoàn

1.2.2 Công đoàn cơ sở

Theo Điều 10, Hiến pháp năm 2013 có một điều riêng nói về tổ chức Công đoàn Việt Nam: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ công chức, viên chức, công nhân và những động người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [39; tr.7-8]

Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của CĐ, tập hợp đoàn viên CĐ trong một hoặt một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được CĐ cấp trên trực tiếp công nhận theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều lệ Công đoàn Việt

Trang 24

Nam (Điều 4 Luật Công đoàn).

1.2.3 Chủ tịch công đoàn cơ sở

Chủ tịch CĐCS là người đại diện diện theo pháp luật của BCH CĐCS

để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNVCLĐ

Chủ tịch CĐCS do BCH CĐCS bầu ra hoặc Đại hội CĐCS trực tiếp bầu ra, được CĐ cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận Chủ tịch CĐCS là người đứng đầu Ban Thường vụ (nếu có), BCH có trách nhiệm điều hành hoạt động của Ban Thường vụ, BCH

1.2.4 Đội ngũ và đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Khái niệm đội ngũ tuy có cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định

Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: đội ngũ là tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần

1.2.4.2 Đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Đội ngũ chủ tịch CĐCS là những người đứng đầu BCH các CĐCS Đội ngũ này thay mặt BCH CĐCS đại diện cho tập thể người lao động trong quá trình tham gia quản lý và bảo vệ, quyền, lợi ích của công nhân lao động, được đoàn viên tín nhiệm bầu tại đại hội hoặc hội nghị CĐCS, mong muốn của

Trang 25

đoàn viên khi bỏ lá phiếu là bầu được người có năng lực, uy tín, trình độ, có bản lĩnh và nhiệt tình để ngoài việc tổ chức các hoạt động phong trào, còn là

“thủ lĩnh” để đấu tranh bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp chính đáng cho

họ Khi chủ tịch CĐCS có được đầy đủ những tiêu chuẩn và phát huy được vai trò của mình thì tự than sẽ là người đại diện cho đội ngũ đoàn viên, Đảng cần đến chủ tịch công đoàn như chiếc cầu nối giữa Đảng và quần chúng chính quyền cần đến chủ tịch công đoàn như người bạn đồng hành để cùng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị Ngược lại, nếu chủ tịch công đoàn kém năng động, kém hiểu biết thì CĐCS như là một tổ chức thừa trong đơn vị, không những uy tín của chủ tịch công đoàn giảm sút mà vị thế

của tồ chức cũng bị xem nhẹ

1.2.5 Phát triển

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm phát triển (development)

Có thể kể ra một số quan niệm sau đây:

- Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là quá trình biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là sự tích lũy dần về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất; là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cũ, do

sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng

- Xét theo quan điểm hệ thống, phát triển là một quá trình có tính chất

kế thừa Có hai hình thức kế thừa: kế thừa bằng hoàn thiện và kế thừa theo quy luật phủ định của phủ định

Kế thừa bằng hoàn thiện làm cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong phạm vi nào đó xảy ra hết cỡ của nó, đưa một hình thái nào đó trở thành hoàn thiện

Kế thừa theo quy luật phủ định của phủ định là sự chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác, cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ Đây là hình thức

kế thừa cao nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển

Trang 26

- Theo Từ điển Triết học: “Phát triển là quá trình vận động từ thấp (giản đơn) đến cao (phức tạp) mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời, sự phát triển của các hệ thống… đều phục tùng các quy luật phổ biến của phép biện chứng”

Như vậy mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến về số lượng, làm thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng tiến được coi là phát triển

Xu thế phát triển nói chung đều hướng tới sự tăng lên về số lượng, đa dạng hơn của các hiện tượng, vấn đề Xem xét xu hướng phát triển của hiện tượng đòi hỏi phải phân tích các vấn đề và hiện tượng một cách tỉ mỉ, thận trọng; đặc biệt là phải có đủ thời gian, không nôn nóng, hấp tấp Có thể nói

một cách khái quát “Phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật, hiện

tượng tuân theo những quy luật nội tại, khách quan của chúng”

1.2.6 Phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Theo Liên Hiệp Quốc, phát triển con người gồm hai mặt, hai công việc chính: trước hết phải đầu tư vào con người, phát triển nhân tính và khả năng của họ; thứ hai, tạo ra các cơ hội, điều kiện và môi trường thuận lợi cho con người hoạt động, phát triển hiệu suất của họ Giữa hai mặt trên có mối tương

và có chất lượng cao, thông qua hoạt động của họ mà không ngừng nâng cao hiệu quả của tổ chức, làm cơ sở và động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của tổ chức đó

Trang 27

Trên bình diện quản lý vĩ mô – quản lý quốc gia và quốc tế – nguồn nhân lực chính là nguồn tài nguyên con người của một quốc gia, thậm chí của các nước, khu vực và thế giới

Nhìn chung, nguồn nhân lực – nguồn tài nguyên con người – là một nguồn tài nguyên phong phú nhưng không dễ khai thác Ngoài phần đa hiện hữu đã được sử dụng, nó còn tiềm ẩn trong các tổ chức mà chưa khai thác được Muốn khai thác, phải phát huy được nguồn tài nguyên nhân lực, cần đảm bảo được một số điều kiện và phải tìm ra những phương thức phát triển nhân lực phù hợp vói mỗi quốc gia, với mỗi ngành cũng như mỗi tổ chức cụ thể Phát triển nguồn nhân lực còn được hiểu là một trong những chức năng

cơ bản của quản lý nguồn nhân lực Hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản còn lại của quản lý nguồn nhân lực là sử dụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực Tuy nhiên, khái niệm phát triển nguồn nhân lực rộng hơn khái niệm phát triển quản lý nguồn nhân lực Nó bao gồm các chức năng công việc của quản lý nguồn nhân lục với mục đích phát triển nguồn nhân lực (như tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và phát huy …)

Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực là việc tạo ra sự tăng cường bền vững về hiệu năng của mỗi thành viên người lao động và hiệu quả chung của

tổ chức, gắn liền với việc không ngừng tăng lên về chất lượng và số lượng của đội ngũ cũng như chất lượng cuộc sống của nhân lực

Vì vậy phạm trù “đội ngũ” được dùng khá rộng rãi trong các tổ chức xã hội như: đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân, đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán

bộ quản lý … Đại từ điển Tiếng việt đưa ra khái niệm: “Đội ngũ là tập hợp số

đông người cùng chức năng, nghề nghiệp” (tr 659)

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

Trong những năm gần đây, hoạt động của CĐCS trong các trường học

đã có nhiều chuyển biến tích cực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của CĐ cấp trên,

Trang 28

CĐCS tập trung chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CBGVNV nhà trường; nắm bắt kịp thời những mâu thuẫn bức xúc phát sinh trong quá trình công tác và phản ánh với Hiệu trưởng nhà trường để tập trung giải quyết; nhắc nhở CBGVNV nhà trường thực hiện tốt các chính sách theo quy định của pháp luật như tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện an toàn, vệ sinh lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Ngoài ra, các CĐCS còn tổ chức tốt các hoạt động thăm hỏi, trợ giúp khó khăn, hoạt động văn nghệ, thể thao để chăm lo cho CBGVNV nhà trường

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong hoạt động CĐ thì một thực tế đặt ra là vai trò của chủ tịch CĐCS trong các trường học chưa tương xứng với kỳ vọng của CBGVNV nhà trường và nhiệm vụ đặt ra trong tình hình hiện nay Ai cũng biết, chủ tịch CĐ có tham gia góp ý những việc làm có lợi cho cơ quan, đơn vị, đảm bảo quyền lợi của đoàn viên nên không ngần ngại tham gia góp ý kể cả những việc làm sai trái của của người quản lý,

sử dụng lao động Trường hợp người sử dụng lao động cố tình, vi phạm đến lợi ích người lao động, vi phạm chính sách pháp luật… Chủ tịch CĐ cần thể hiện bản lĩnh vững vàng kiên quyết đấu tranh ngăn chặn Thế nhưng, hiện nay, trong một số trường học việc thành lập và tổ chức hoạt động CĐCS còn mang tính hình thức, đối phó Nhiều trường, chủ tịch CĐ không có tiếng nói, tất cả quyền hành nằm trong tay Hiệu trưởng dẫn đến việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của CBGVNV nhà trường chưa tốt

Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho CBGVNV nhà trường để họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ lao động của chủ tịch CĐ còn hạn chế Chính vì thế mà một số CBGVNV nhà trường chưa có ý thức bồi dưỡng nâng cao trình độ nên tay nghề còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời kỳ mới Họ

Trang 29

đôi khi chỉ đòi hỏi quyền lợi một chiều mà quên trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà trường, đối với sự nghiệp giáo dục Việc thực hiện các quy định về quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chưa kịp thời Rất nhiều trường học trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trích nộp kinh phí CĐ theo quy định của Luật CĐ năm

và mỗi CĐCS có 01 chủ tịch công đoàn theo Điều lệ của Công đoàn Việt Nam

1.4.2 Yêu cầu về chất lượng

- Tư tưởng, chính trị: kiên định mọi đường lối, chủ trương của Đảng và

chính sách pháp luật của Nhà nước; nắm vững các quy định của tổ chức công đoàn và ngành giáo dục; có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung của tập thể và đơn vị; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, cục bộ, biết giữ gìn mối đoàn kết nhất trí, thật sự là tấm gương cho đồng nghiệp và học sinh noi theo

- Phẩm chất đạo đức: có bản lĩnh, kiên định thực hiện mục tiêu, kế

hoạch đề ra; luôn học hỏi và lắng nghe; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết

định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; luôn nỗ lực nâng cao

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý với rèn luyện

Trang 30

phong cách, tác phong công tác khoa học, dân chủ, sáng tạo, gần gũi, chân thành, gắn bó mật thiết với nhân dân; nêu gương về đạo đức, lối sống, thực

hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; …

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: có hiểu biết về chuyên môn nghiệp

vụ; có trình độ đào tạo chuẩn với yêu cầu của đội ngũ cán bộ quản lý; có năng lực, trình độ và kinh nghiệm trong công tác; có trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học

- Năng lực tập hợp, thuyết phục quần chúng: là người tiêu biểu và

trưởng thành từ phong trào CNVCLĐ, nhiệt tình, tâm huyết với công việc, biết đặc lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân; có năng lực đại diện cho tiếng nói của người lao đông, giúp người lao động tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà trường Biết phát huy sức mạnh của tập thể và có khả năng giải quyết các xung đột trong nhà trường; có phong cách dân chủ, cư

xử lịch thiệp với người lao động; có bản lĩnh đấu tranh và thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động

1.4.3 Yêu cầu về cơ cấu

- Cơ cấu về độ tuổi:

Căn cứ theo Điều lệ Công Đoàn Việt Nam 2013 và hướng dẫn TLĐ năm 2012 về công tác nhân sự Ban chấp hành thì cấu tạo ban chấp hành cần kết hợp hài hòa giữa 3 độ tuổi (dưới 40 tuổi, từ 40 đến dưới 50 tuổi, từ 50 tuổi trở lên) bảo đảm tính phát triển, kế thừa, trẻ hóa

398/HD-Căn cứ vào đó, các CĐCS xây dựng kế hoạch phát triển cán bộ CĐ đảm bảo tỷ lệ phù hợp giữa các thế hệ đoàn viên công đoàn để có tính đại diện, tính kế thừa, tăng cường số lượng cán bộ trẻ, đồng thời đảm bảo đúng

độ tuổi theo quy định Coi trọng cơ cấu đoàn viên trực tiếp thực hiện nghiệp

vụ, chuyên môn, là dân tộc ít người Việc giới thiệu nhân sự phải đảm bảo dân chủ, công khai, đúng quy trình, đúng quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam, hướng dẫn của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn

Trang 31

- Cơ cấu về giới tính: Đảm bảo cân đối về giới tính sao cho thích hợp

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho CĐCS trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các hoạt động công đoàn, đặc biệt ưu tiên phát triển theo hướng tăng cường cán

bộ nữ, phấn đấu đạt 30% nữ trong ban chấp hành công đoàn các cấp

1.5 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 1.5.1 Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc và của chế độ Vì vậy, xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ kế thừa có năng lực quản lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, gắn bó mật thiết với nhân dân là một công tác cực kì quan trọng đáp ứng tốt cho hiện tại và tương lai Việc quy hoạch phải đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong công tác cán bộ, được công khai lấy ý kiến

từ tập thể để đảm bảo tính khách quan

Quy hoạch phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học cũng dựa trên nguyên tắc đó Đây là hoạt động quản lý của người quản lý và của tổ chức công đoàn, giúp cho cơ quan quản lý biết được số lượng, chất lượng, độ tuổi, trình độ và cơ cấu về chuyên môn, giới tính của từng cá nhân và cả đội ngũ CBCĐ, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ và tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng và phát huy được khả năng, tính tích cực của từng cá nhân Kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếu mang tính định hướng cho vận dụng và thực hiện các chức năng quản lý vào hoạt động bộ máy của tổ chức công đoàn Vì vậy, công tác quy hoạch là nhiệm vụ rất quan trọng trong việc phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS trong các trường học

1.5.2 Tuyển chọn, sử dụng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Tuyển chọn, sử dụng CBCĐ là yêu cầu tất yếu cho việc thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ CĐCS trong các trường học trên địa bàn thành phố vị Thanh

Trang 32

Như vậy, để việc phát triển đội ngũ CBCĐ trong các trường học trên địa bàn thành phố Vị Thanh đáp ứng yêu cầu thực tế cần phải lựa chọn đúng người, giao đúng nhiệm vụ, tạo thuận lợi cho CBCĐ trong điều hành công việc và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của cá nhân cũng như của tổ chức

CĐ Mặt khác việc tuyển chọn đội ngũ CBCĐ cần dựa vào yêu cầu công tác của CĐCS và phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBCĐ Việc làm này thực chất là nhằm phát huy năng lực của đội ngũ CBCĐ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chứcCĐ

Căn cứ tiêu chuẩn chung về cán bộ theo quy định của Đảng, Nhà nước

và đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp công đoàn, vai trò, nhiệm vụ của từng loại cán bộ, từng chức danh cán bộ để xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ Trong đó, cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với chức danh chủ tịch CĐ là: có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhiệt tình công tác CĐ, có kiến thức quản

lý kinh tế xã hội, luật pháp, hiểu biết về chuyên môn, ngành nghề, nắm vững

lý luận, kỹ năng và nghiệp vụ công tác CĐ, có năng lực hoạt động thực tiễn được quần chúng tín nhiệm

Thực hiện chế độ cử tuyển đối với CBCĐ là giáo viên trực tiếp đứng lớp, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để đào tạo dài hạn tại các trường CĐ Thực hiện đào tạo theo địa chỉ, gắn với quy hoạch, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ

1.5.3 Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ là trang bị và bổ sung tri thức, kỹ năng cũng như phẩm chất đạo đức cho CBCĐ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác hoạt động CĐ

Có thể nói rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ đóng vai trò rất quan trọng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ CBCĐ, làm cơ sở cho việc nâng cao

Trang 33

hiệu quả hoạt động CĐ Như vậy, để phát triển đội ngũ CBCĐ đủ về số, mạnh

về chất, đồng bộ về cơ cấu thì không thể bỏ qua khâu xây dựng và thực hiện

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ

Trong xu thế phát triển của khoa học công nghệ thì yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người CBCĐ ngày càng cao hơn Vì vậy cần phải coi công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của CBCĐ; hướng tới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi chủ tịch CĐ và của cả tổ chức CĐ

Trong những năm qua công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của các cấp CĐ đã có sự đổi mới, bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào CNVCLĐ và tổ chức CĐ Tuy nhiên trong thực tế hiện nay việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ vẫn chưa thật sự hiệu quả do nhiều nguyên nhân: việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa được coi trọng; nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động CĐ; một

số chương trình đào tạo, bồi dưỡng nặng về lý luận, dàn trải, trùng lặp về nội dung, thiếu tính thiết thực, chưa đi sâu vào rèn luyện lỹ năng, nghiệp vụ công tác cho CBCĐ Do vậy, mặc dù đã được đào tạo, bồi dưỡng một số CBCĐ vẫn còn lúng túng trong hoạt động CĐ, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra còn han chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức CĐ trong tình hình mới

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới với nhiều thời cơ và thách thức, để xây dựng đội ngũ CBCĐ đáp ứng yêu cầu của tổ chức CĐ nói chung

và của CĐCS trường học nói riêng thì cần phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng

Trang 34

CBCĐ; cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, phù hợp với điều kiện và yêu cầu công tác CĐ trong các trường học

Chủ tịch công đoàn cơ sở giỏi sẽ đóng vai trò quan trọng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn Do đó, việc trang bị cho đội ngũ chủ tịch CĐCS kiến thức về lý luận, chuyên môn nghiệp vụ công tác công đoàn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ và các kiến thức chuyên ngành bổ trợ khác nhằm nâng cao trình độ, thực hiện tiêu chuẩn cán bộ; phẩm chất chính trị vững vàng, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn các cấp sẽ góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách xây dựng đội ngũ chủ tịch CĐ; nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của các cấp công đoàn và của từng cơ quan, đơn vị Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.5.4 Kiểm tra, đánh giá đội ngũ chủ tịch công đoàn cơ sở

Kiểm tra nhằm xem xét việc thực hiện nhiệm vụ, phát hiện những sai sót, đánh giá thực trạng trong hoạt động CĐ Kiểm tra còn là động lực để động viên, khích lệ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ CBCĐ, giúp hoạt động CĐ đạt hiệu quả tốt hơn

Đánh giá là một trong những chức năng quan trọng trong công tác CĐ Đánh giá đúng CBCĐ là tiền đề cho việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, phát huy được tiềm năng của đội ngũ CBCĐ, giúp người CBCĐ

có phương hướng đúng trong phấn đấu, rèn luyện Đánh giá còn là cơ sở để thực hiện những chính sách, biểu dương, tôn vinh những CBCĐ có thành tích xuất sắc trong hoạt động CĐ, đồng thời phê bình những CBCĐ không hoàn thành nhiệm vụ Mặt khác, đánh giá đúng CBCĐ là yếu tố quan trọng góp

Trang 35

phần xây dựng tình đoàn kết thống nhất trong tổ chức CĐCS, giúp phát huy được tính tích cực của mỗi CĐCS, của chủ tịch CĐ trong việc xây dựng CĐ ngày càng vững mạnh

Hiện nay, công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đội ngũ CBCĐ được coi là một trong những công việc không thể thiếu trong công tác của tổ chức

CĐ Làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá không những biết được thực trạng của đội ngũ CBCĐ mà qua đó còn nhận biết được các dự báo về tình hình chất lượng đội ngũ CBCĐ cũng như việc đề ra những kế hoạch khả thi để nâng cao chất lượng của đội ngũ cũng như hoạt động của tổ chức CĐ Kết quả kiểm tra, đánh giá CBCĐ còn là cơ sở cho việc mỗi cá nhân chủ tịch CĐ tự điều chỉnh bản thân và phấn đấu để đáp ứng với yêu cầu, tiêu chuẩn của chủ tịch CĐ

1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

1.6.1 Yếu tố khách quan

- Công tác giáo dục, đào tạo đối với đội ngũ chủ tịch công đoàn Đây là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ chủ tịch công đoàn Hầu hết chủ tịch công đoàn cơ sở ở các trường học là kiêm nhiệm nên kiến thức về công tác công đoàn là rất hạn chế Mặc dù hàng năm, Liên đoàn Lao động thành phố đều có kế hoạch bồi dưỡng kiến thức về hoạt động công đoàn cho đội ngũ chủ tịch công đoàn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ Các lớp học ngắn ngày chỉ giúp đội ngũ chủ tịch công đoàn hiểu được sơ lược về các kiến thức nên khi hoạt động thực tiễn thường lúng túng,

kỹ năng vận dụng, giải quyết tình huống phát sinh chưa tốt, gây ảnh hưởng đến hoạt động công đoàn của trường

- Cơ chế, chính sách đối với đội ngũ chủ tịch công đoàn Cơ chế, chính sách là những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ công chức nói chung, chủ tịch công đoàn nói riêng nhằm xây dựng đội

Trang 36

ngũ cán bộ có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Cơ chế, chính sách bao gồm: chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách sử dụng và quản lý, chính sách bảo đảm lợi ích và động viên tinh thần,… Thực hiện tốt

cơ chế chính sách sẽ tạo động lực thúc đẩy chủ tịch công đoàn nỗ lực vươn lên trong công tác, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo và không ngừng học tập để nâng cao trình độ Nhưng nếu cơ chế, chính sách không tốt sẽ kìm hãm tài năng của chủ tịch công đoàn, làm cho họ mất đi động lực phấn đấu, không thiết tha với công tác, dẫn đến chất lượng công tác ngày một giảm sút

1.6.2 Yếu tố chủ quan

- Tình yêu dành cho công tác công đoàn, tinh thần ham học hỏi và ý chí phấn đấu vươn lên của bản thân mỗi chủ tịch công đoàn Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong công tác phát triển đội ngũ chủ tịch công đoàn Với tình yêu, niềm say mê công tác, chủ tịch công đoàn sẽ toàn tâm, toàn ý, vượt mọi khó khăn để thực hiện nhiệm vụ được giao Do điều kiện khách quan mà đội ngũ chủ tịch công đoàn không chuyên trách thường không được đào tạo bài bản, chủ yếu là được học hỏi qua các đợt tập huấn ngắn ngày, không chuyên sâu Vì thế, lượng kiến thức mà họ tiếp nhận được không đủ để phục

vụ cho hoạt động Nhưng, nếu bản thân mỗi chủ tịch công đoàn có tinh thần ham học hỏi, không ngừng tự học, tự rèn luyện thì sẽ nâng cao được trình độ, năng lực của bản thân, chủ động trong mọi công tác và hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao Ngược lại, nếu chủ tịch công đoàn không có ý thức tự học, tự nâng cao trình độ thì sẽ trở nên yếu kém, lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển ngày càng cao của xã hội

- Môi trường làm việc thân thiện, lành mạnh Môi trường làm việc sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động và ý chí phấn đấu của mỗi chủ tịch công đoàn Môi trường làm việc của chủ tịch công đoàn bao gồm môi trường bên trong (tinh thần, các mối quan hệ trong cơ quan,…) và môi trường bên ngoài

Trang 37

(cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ và chính sách,…) Môi trường làm việc tốt là nơi mà quan hệ giữa các thành viên trong cơ quan luôn trong sáng, lành mạnh, mọi người sống có nghĩa, có tình, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và công tác, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo luôn quan tâm, chăm lo cho lợi ích của tập thể, tạo mọi điều kiện cho nhân viên thực hiện nhiệm vụ được giao Môi trường làm việc như thế sẽ tạo điều kiện cho chủ tịch công đoàn nêu cao tinh thần trách nhiệm, hăng hái trong công tác, phát huy tối đa năng lực của mình Còn ngược lại, môi trường làm việc đầy áp lực, tập thể thiếu đoàn kết, lãnh đạo thiếu quan tâm thì chủ tịch công đoàn sẽ không mặn mà với công tác, làm việc thiếu trách nhiệm Thực tế trong hoạt động của chủ tịch CĐCS ở các trường học cho thấy, trường nào có môi trường làm việc tốt thì nơi đó hoạt động công đoàn phát triển mạnh, trường học đạt nhiều thành tích cao trong các phong trào thi đua, chủ tịch công đoàn thì luôn năng động, sáng tạo trong công tác

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản

về phát triển, đội ngũ, chủ tịch công đoàn cơ sở, yêu cầu phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS, nội dung phát triển và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ chủ tịch CĐCS

Những vấn đề trên là cơ sở lý luận quan trọng để xem xét, đối chiếu với thực trạng quản lý, phát triển và nâng cao năng đội ngũ chủ tịch CĐCS các trường học ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN

CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC Ở THÀNH PHỐ VỊ THANH,

TỈNH HẬU GIANG

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG ĐOÀN

CƠ SỞ CỦA THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ngày 23/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 34/NQ-CP thành lập thành phố Vị Thanh thuộc tỉnh Hậu Giang và công nhận Vị Thanh là đô thị loại III Từ đó, thành phố Vị Thanh được mệnh danh là “Thành phố Tây sông Hậu” Trở thành trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông của tỉnh Hậu Giang, là điểm tựa quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh Hậu Giang và tiểu vùng Tây sông Hậu

Vị trí địa lí: Thành phố Vị Thanh nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hậu Giang, cách thành phố Cần Thơ khoảng 65km về phía Nam Thành phố có diện tích 118km2 với 9 đơn vị hành chính gồm 5 phường (Phường I, Phường III, Phường IV, Phường V, Phường VII) và 4 xã (Vị Tân, Hỏa Lựu, Hỏa Tiến, Tân Tiến) Địa giới hành chính:

- Phía Đông giáp huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang)

- Phía Tây giáp huyện Gò Quao (tỉnh Kiên Giang)

- Phía Nam giáp huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang)

- Phía Bắc giáp huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang) và huyện Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang)

Trang 40

Vị Thanh là thành phố trẻ bên dòng “Xà No thơ mộng và xinh đẹp”, nằm trên các trục tuyến giao thông đường thủy và đường bộ quan trọng của tỉnh Hậu Giang và tiểu vùng Tây sông Hậu, có những điểm giao lưu kinh tế lớn với các huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, và với đô thị trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long là thành phố Cần Thơ Với vai trò là đô thị trung tâm giao lưu kinh tế của tiểu vùng Tây sông Hậu và tiểu vùng Bắc bán đảo Cà Mau, nằm ở giữa tứ giác tăng trưởng Cần Thơ - Cà Mau - Kiên Giang - An Giang

Địa hình, địa mạo: Khu vực nội thị của Vị Thanh có địa hình khá bằng phẳng đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long Địa hình có độ cao thấp dần

từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Có hai trục giao thông chính là quốc

lộ 1A, quốc lộ 61; hai trục giao thông đường thủy quốc gia là kênh Xáng Xà

No, kênh Quản lộ - Phụng Hiệp

Khí hậu: Vị Thanh nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt Nhiệt độ

Ngày đăng: 22/12/2020, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w