1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dạy học chính tả tiếng việt cho học sinh lớp 2 dân tộc khmer huyện tri tôn, an giang

135 66 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP LA QUỐC QUY DẠY HỌC CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC KHMER HUYỆN TRI TÔN, AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

LA QUỐC QUY

DẠY HỌC CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC KHMER

HUYỆN TRI TÔN, AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

ĐỒNG THÁP - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

LA QUỐC QUY

DẠY HỌC CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC KHMER

HUYỆN TRI TÔN, AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Mã số : 8.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS HOÀNG QUỐC

ĐỒNG THÁP – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả

nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì

một công trình nào khác

Đồng Tháp, tháng 09 năm 2019

La Quốc Quy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN - -

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo Sau Đại học và quý Thầy/Cô Trường Đại học Đồng Tháp đã trực tiếp giảng dạy cho tôi trong thời gian qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Quốc đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi chân thành cảm ơn ban giám hiệu, quý thầy cô và học sinh các Trường Tiểu học: A Cô Tô, B Cô Tô, A Núi Tô, B Núi Tô, A Ô Lâm và B Ô Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi làm đề tài

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên để tôi hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã có rất nhiều nổ lực và cố gắng, song do năng lực lực bản thân có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong sự góp ý chân thành của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Giải thuyết khoa học 12

8 Đóng góp của đề tài 12

9 Cấu trúc đề tài 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 14

1.1.1 Khái niệm Chính tả và quy tắc chính tả tiếng Việt 14

1.1.2 Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Chính tả tiếng Việt 18

1.1.3 Đặc điểm nhận thức và tâm lí của học sinh lớp 2 dân tộc Khmer 20

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 22

1.2.1 Nội dung chương trình Chính tả tiếng Việt lớp 2 22

Trang 6

1.2.2 Thực trạng dạy học Chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc

Khmer huyện Tri Tôn, An Giang 24

1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng 40

1.3 Tiểu kết chương 1 43

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC KHMER 45

2.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 45

2.1.1 Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer 45

2.1.2 Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực 46

2.1.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh trong dạy học chính tả 47 2.1.4 Nguyên tắc phát triển lời nói 48

2.1.5 Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp xây dựng cái đúng và loại bỏ cái sai trong dạy học chính tả 49

2.1.6 Nguyên tắc phát triển tư duy 50

2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang 51

2.2.1 Tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt để dạy học chính tả 51

2.2.2 Sử dụng tiếng Khmer trong dạy học chính tả 55

2.2.3 Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học chính tả 57

2.2.4 Đề xuất một số phương pháp trong dạy chính tả 59

Trang 7

2.2.5 Đề xuất quy trình thiết kế nội dung bài dạy chính tả 67

2.2.6 Đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả 70

2.3 Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Khái quát về tổ chức thực nghiệm 77

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 77

3.1.2 Nội dung thực nghiệm, đối tượng, địa bàn thực nghiệm 77

3.1.3 Phương pháp thực nghiệm 78

3.1.4 Tổ chức thực nghiệm 79

3.2 Kết quả thực nghiệm 93

3.3 Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ

Bảng 1.1 Ý kiến của học sinh về việc học tiếng Việt 26

Bảng 1.2 Kết quả học tập phân môn Chính tả của học

Bảng 1.3 Nhận thức của giáo viên về dạy học chính

tả cho học sinh lớp 2 dân tộc Khmer 32

Bảng 1.4 Ý kiến của giáo viên về việc học chính tả

của học sinh lớp 2 dân tộc Khmer 35

Bảng 3.1 Khảo sát về học lực phân môn Chính tả của

6 trường tiểu học trước khi thực nghiệm 94

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra hai nhóm thực nghiệm và

đối chứng trước khi thực nghiệm 95 Bảng 3.3 Kết quả thu được sau thực nghiệm 96

Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra hai nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau khi thực nghiệm 96

Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả học tập của hai nhóm thực

nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm 95 Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả học tập của hai nhóm thực

Trang 9

DANH MỤC KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp không thể thiếu của con người Ngôn ngữ được sử dụng từ việc trao đổi thông tin, thể hiện suy nghĩ, tình cảm đến việc học tập, sáng tạo đều cần đến ngôn ngữ Chính vì thế, vấn đề biết và

sử dụng ngôn ngữ là điều kiện thiết yếu để mỗi con người tồn tại trong cuộc sống và kết nối cộng đồng Nói cách khác, vai trò của ngôn ngữ là rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng, một dân tộc, trong mọi thời đại Vì thế vấn đề DH ngôn ngữ nói chung luôn được quan tâm trong

mọi nền giáo dục, ở mọi thời kì

TH là bậc học nền tảng, có vai trò quyết định đến việc hình thành những năng lực cần thiết của mỗi con người, trong đó có năng lực ngôn ngữ Vấn đề rèn luyện cho HS viết đúng CT là yêu cầu cấp thiết trong DH TV cho

HS Tuy nhiên hiện nay, thực trạng DH TV cho HS TH nói chung và DH CT nói riêng đang còn nhiều bất cập và hạn chế Nếu tình trạng dạy và học như hiện nay kéo dài thì không chỉ gây khó khăn cho công tác giảng dạy của GV

mà còn ảnh hưởng rất lớn khi HS lên học các lớp cao hơn, và nhất là khi HS tham gia vào xã hội Để viết đúng CT đòi hỏi GV phải tổ chức rèn luyện lâu dài bằng những PP phù hợp Cho đến nay, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu, phân tích các thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân để đề ra giải pháp giúp cho HS TH viết đúng CT Mặc dù vậy, vấn đề viết sai CT của

HS vẫn là vấn đề nan giải, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu ở những địa bàn

cụ thể, với những đối tượng cụ thể nhằm đề ra các giải pháp hữu hiệu hơn

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Quan tâm chăm lo phát triển đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là vấn đề giáo dục ngôn ngữ được Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu Nếu việc giáo dục ngôn ngữ cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó chú trọng giáo dục TV

Trang 11

đạt chất lượng, sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát

triển xã hội của đất nước

An Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc Ngoài dân tộc Kinh còn có cộng đồng dân tộc Chăm, Hoa, Khmer cùng sinh sống Trong đó, đồng bào dân tộc Khmer có số dân rất đông đứng thứ hai sau người Kinh (Việt), tập chung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Thực tế cho thấy, điều kiện sống, sinh hoạt, học tập của đồng bào dân tộc Khmer còn gặp rất nhiều khó khăn, trong các lí do đó có sự bất đồng về ngôn ngữ Qua việc khảo sát thực trạng dạy – học TV cho HS Khmer bậc TH ở huyện Tri Tôn, An Giang, chúng tôi thấy: Chất lượng dạy - học TV cho HS Khmer bậc TH ở huyện Tri Tôn hiện nay chưa cao Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tồn tại này là do việc sử dụng PP DH của GV chưa hiệu quả và chưa thật sự phù hợp với tâm lí tiếp cận của HSDT Khmer Để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy - học TV cho HSDT Khmer trên địa bàn huyện Tri Tôn, nhất thiết phải cải tiến PP DH Trong đó, GV cần chú trọng vào việc cải tiến PP

DH phân môn CT cho HSDT Khmer vì đây được xem là giai đoạn đặc biệt quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển năng lực ngôn ngữ của HS Bởi, TV

ta rất giàu và đẹp, nó thể hiện cả tâm tư tình cảm và sự tôn trọng lẫn nhau

trong các văn bản, cho nên người viết cần phải viết đúng CT

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và thực

hiện đề tài “Dạy học chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang” với hi vọng góp phần cho HSDT Khmer viết đúng

CT, làm cơ sở hình thành và nâng cao năng lực TV cho các em

2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

2.1 Về phương pháp dạy học Chính tả cho học sinh tiểu học nói chung

Nghiên cứu về PP dạy học CT cho HS TH nói chung đã có nhiều tài liệu, công trình đề cập đến

Trang 12

Đầu tiên phải kể đến giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt” của

Lê A, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết [1], [3] đã nêu lên một số vấn

đề chung của PP DH TV ở TH Tài liệu phân tích được các cơ sở khoa học, những đặc điểm của HS TH trong quá trình chiếm lĩnh TV; mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, PP DH TV đặc điểm ngôn ngữ của HS TH; chương trình SGK và tài liệu dạy học…

Giáo trình“Lí luận dạy học tiếng Việt” của Hoàng Thị Tuyết [39]

trình bày cơ sở tâm sinh lí trong DH CT, khái niệm CT, các giai đoạn học viết

CT của HS TH Bên cạnh đó, tài liệu còn nghiên cứu một số nguyên tắc, PP

nhiều vấn đề xoay quanh chữa lỗi chính tả cho HS

Giáo trình “Dạy học chính tả cho học sinh tiểu học theo vùng phương ngữ” của Võ Xuân Hào [10] đã chỉ ra những kiến thức cơ bản về CT TV, xác

định được những điểm khác biệt về ngữ âm trong phương ngữ, một số thủ pháp dạy học phù hợp với CT phương ngữ Đồng thời, tài liệu còn trình bày được một số nguyên nhân chính dẫn đến lỗi chính tả của HS, cách giúp HS

TH ở các vùng phương ngữ nhận diện, phân tích và chữa lỗi chính xác, nhanh chóng

Trang 13

2.2 Về phương pháp dạy học Chính tả tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer

Nghiên cứu về DH TV cho HSDT thiểu số là một vấn đề không mới Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu chỉ dừng lại ở nghiên cứu mô tả, giải thích hiện trạng mà chưa đưa ra giải pháp trọng tâm để nâng cao chất lượng DH TV

cho HSDT thiểu số, có thể kể đến như sau:

Giáo trình“Phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc Tiểu học” của Mông Ký Slay [30], [31] đã xây dựng được một số vấn đề về

PP DH CT cho HSDT bậc TH, cách xây dựng môi trường học TV và sử dụng các phương tiện trợ giúp cho HSDT học tốt môn TV

Giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số” của Lê Thị Kim Thoa [33] nêu ra khái niệm về

CT, xây dựng được nội dung, yêu cầu, hình thức CT cho từng khối lớp Từ đó nêu lên một cách hệ thống, có khoa học về PP DH CT cho HSDT thiểu số

Luận văn Thạc sĩ “Khắc phục lỗi chính tả của học sinh lớp 5 dân tộc Khmer tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang” của Huỳnh Hình Kim Ngọc

[22] đã nghiên cứu về thực trạng lỗi CT của HS lớp 5 dân tộc Khmer lớp 5 tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang và đề ra một số biện pháp khắc phục

Bài viết “Tình hình dạy và học ở trường tiểu học cho học sinh Khmer huyện Tri Tôn tỉnh An Giang” của Hoàng Quốc (2005) [28] trong: Kỷ yếu

Hội thảo khoa học nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng GV ngữ văn THPT ở trường phổ thông, Trường Đại học Sư phạm Huế, đã chỉ ra thực trạng việc dạy và học TV trong nhà trường TH nói chung và thực trạng việc

DH TV cho HS Khmer nói riêng

Kết quả “Khảo sát, nghiên cứu năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh Khmer trên địa bàn huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Đề tài KH&CB cấp trường, Trường Đại học An Giang Nghiệm thu năm

Trang 14

2013” của Hoàng Quốc (2013) [29], đã đưa ra cái nhìn cụ thể và khái quát về

năng lực sử dụng TV của HS Khmer trên địa bàn huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn (An Giang) Qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng việc dạy và học TV cho HS Khmer

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Thực trạng và giải pháp khắc phục lỗi chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 5 dân tộc Khmer ở huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh” của Đặng Thị Mỹ Đô [9] đã chỉ ra được những mặt tích cực và

hạn chế của việc dạy và học CT của HS lớp 5 dân tộc Khmer ở huyện Châu Thành, Trà Vinh Từ đó đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục lỗi CT cũng như nâng cao năng lực học CT cho HS ở đây

Đề tài “Bồi dưỡng kỹ năng đọc và viết cho HSDT Khmer chậm biết đọc, biết viết tiếng Việt ở huyện Tri Tôn tỉnh An Giang sau khi hoàn thành chương trình lớp 1” của Trần Thị Huyền [14] đã xây dựng một số nội dung và

biện pháp DH nhằm bồi dưỡng kĩ năng đọc và viết cho HSDT Khmer chậm biết đọc, biết viết TV ở huyện Tri Tôn tỉnh An Giang sau khi hoàn thành chương trình lớp 1

Đề tài “Nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy Học vần cho HS lớp 1 dân tộc Khmer ở huyện Tri Tôn tỉnh An Giang” của Phan Thái Bích Thủy

(2008) [35] ứng dụng PP hợp tác nhóm và trò chơi học tập vào trong cải tiến

PP dạy Học vần Trong đó, lần đầu tiên PP hợp tác nhóm và trò chơi học tập được áp dụng cho đối tượng là học Khmer lớp 1 nhằm tạo bước đột phá trong dạy học, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy - học Học vần cho HS lớp 1 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn tỉnh An Giang Thiết nghĩ, đây là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn

Nhìn chung, vấn đề DH CT TV nói chung và DH CT cho HSDT Khmer nói riêng đã có nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lí luận cho đề tài Song chưa có công trình nào

Trang 15

nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng DH CT TV cho HS Khmer lớp 2

tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, vì thế, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Khmer huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với hi vọng kết quả

nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng dạy học TV học sinh Khmer nói chung và dạy học phân môn CT nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi CT, từ đó

đề ra những biện pháp khắc phục lỗi CT của HS lớp 2 dân tộc Khmer ở Đồng bằng song Cửu Long nói chung và HS lớp 2 dân tộc Khmer ở huyện Tri Tôn,

An Giang nói riêng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc DH CT trong phân môn

CT ở bậc TH

Tìm hiểu thực trạng dạy học CT cho HS lớp 2 dân tộc Khmer trên địa bàn huyện Tri Tôn, An Giang

Đề xuất giải pháp dạy CT học hiệu quả, phù hợp với đặc điểm HS lớp

2 dân tộc Khmer tại huyện Tri Tôn, An Giang

Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của các giải pháp được đề xuất trong luận văn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dạy học CT TV cho HS lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang

Trang 16

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lí luận, thực tiễn liên quan đến dạy CT cho

HS lớp 2 dân tộc Khmer trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các trường TH trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh

An Giang: Trường TH A Cô Tô, Trường TH B Cô Tô, Trường TH A Núi Tô, Trường TH B Núi Tô, Trường TH A Ô Lâm, Trường TH B Ô Lâm

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số PP sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết như đọc sách, tài liệu tham khảo; tổng hợp, phân tích tài liệu để xây dựng lí luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để quan sát, dự giờ tiết dạy của GV và khảo sát thông qua sử dụng phiếu điều tra để lấy ý kiến đối

với GV và HS

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm tra kết quả nghiên cứu, xem xét tính khả thi của đề tài trong thực tiễn DH Sau khi đề xuất PP dạy phân môn CT cho HS lớp 2 dân tộc Khmer, chúng tôi tiến hành áp dụng những PP đã đề xuất tiến hành cho

GV trên địa bàn huyện Tri Tôn, An Giang để dạy thực nghiệm

7 Giải thuyết khoa học

Nếu đề tài được nghiên cứu và thực nghiệm thành công, sẽ góp phần cải thiện chất lượng việc DH phân môn CT nói riêng cũng như kĩ năng sử dụng TV cho HS lớp 2 dân tộc Khmer trên địa bàn huyện Tri Tôn, An Giang

8 Đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần hệ thống cơ sở lí luận về biện pháp khắc phục lỗi CT

TV cho HS lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang Kết quả nghiên

Trang 17

cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho GV nghiên cứu, áp dụng để làm thay đổi cách dạy, cách học chưa hiệu quả hiện nay của GV, HS trên địa bàn

9 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận - Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học Chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc Khmer tại huyện Tri Tôn, An Giang

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Khái niệm Chính tả và quy tắc chính tả tiếng Việt

1.1.1.1 Khái niệm Chính tả tiếng Việt

Cùng với sự tiến bộ của xã hội, ngôn ngữ cũng tham gia vào dòng chảy không ngừng của quá trình phát triển Cho đến ngày nay, chữ quốc ngữ được hình thành và phát triển hơn 368 năm, được xây dựng trên chữ cái La-tinh với 29 chữ cái và 6 dấu thanh Chữ quốc ngữ ghi được tất cả các âm tiết

TV, mỗi âm tiết TV đều mang một thanh điệu nhất định Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với các âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết Vì TV là ngôn ngữ phân tiết tính, nghĩa

là nói sao viết như vậy, các âm tiết TV được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Theo tác giả Lê Phương Nga: “Trong CT TV, mỗi dòng chữ gồm những

chữ, mỗi chữ tách riêng ra là một âm tiết Khi muốn nói đến mặt CT của sách

thì chúng tôi dùng từ chữ, khi nói đến mặt ngữ âm của nó chúng tôi dùng âm tiết, hai cách này tuy khác nhau, nhưng đều chỉ một vật” [21, tr.14]

Chính tả theo nghĩa thông thường là “phép viết đúng” Thuật ngữ CT được dịch từ tiếng Hi Lạp: Orhos (đúng) và Grapho (viết) [7, tr.14]

Theo Từ điển tiếng Việt: “CT là cách viết đúng, hợp với chuẩn và những quy tắc về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng thức

ngôn ngữ viết.“CT đó là cách viết chữ được coi là chuẩn”, theo Hoàng Phê

[26, tr.173]

Theo Trần Thị Lan: “CT là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa, viết tắt, viết các chữ số; viết giờ, ngày, tháng, năm, cách thức ghi dấu thanh; viết các từ ngữ mượn tiếng nước ngoài, ”

Trang 19

“Chuẩn CT được hiểu là chuẩn áp dụng cho văn phong qui phạm, được dùng làm thước đo trong ngôn ngữ nhà trường, áp dụng chính thống trong ngôn ngữ truyền thông và ngôn ngữ của các văn bản quản lí nhà nước” [16, tr.15]

Theo Lê Phương Nga: “CT là viết đúng, là cách viết hợp với chuẩn và những quy định mang tính quy ước xã hội, được mọi người trong một cộng đồng chấp nhận và tuân thủ Những quy định đó thường là những thói quen trong vận dụng thực tiễn, nhưng cũng có thể do các tổ chức, cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành để sử dụng trong xã hội.”[20, tr.182]

Theo Huỳnh Hình Kim Ngọc: “CT TV là phép viết đúng các từ ngữ theo quy tắc của hệ thống chữ viết TV.”[21, tr.10]

Như vậy, CT TV là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết Chuẩn CT bao gồm chuẩn chữ viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các dấu thanh Yêu cầu cơ bản của CT là phải thống nhất cách viết các từ cụ thể Nói cách khác, CT là hệ thống các quy tắc về việc viết chữ mà các thành viên trong cộng đồng dùng hệ thống chữ viết đó quy định và thừa nhận Trong đó có các quy định về viết đúng các từ ngữ, viết đúng tên người, tên địa lí, tên các cơ quan, tên tổ chức trong và ngoài nước, các từ phiên âm tiếng nước ngoài, các dấu câu…

1.1.1.2 Quy tắc chính tả tiếng Việt

a) Quy tắc viết các đơn vị từ

Theo truyền thống các âm tiết viết tách rời nhau (quần áo, sách vở) Tuy nhiên một số từ thuộc tiếng nước ngoài thì các âm tiết được viết theo đơn

vị từ (rađiô, Paris, video…)

Trang 20

b) Quy tắc viết tên riêng tiếng Việt

- Tên người, tên địa lý: Viết hoa con chữ cái đầu của tất cả các âm tiết,

kể cả biệt hiệu, bút danh Ví dụ: Nguyễn Quang Diêu, Đồng Tháp, Ức Trai,…)

- Các tên riêng khác: (tên cơ quan, tên tổ chức xã hội…)

+ Nếu tên riêng là cụm từ thì viết hoa chữ cái đầu tên tổ chức, cơ quan

và viết hoa chữ cái đầu thuộc âm tiết đầu của danh từ chung (có chức năng phân biệt đối tượng), còn danh từ riêng thì viết hoa theo quy định Ví dụ: Trường Đại học Đồng Tháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh,…

+ Những từ vốn là tên địa lí, nếu đã mất tính chất tên riêng thì không viết hoa

+ Tên chức vụ, danh hiệu, vinh dự: Khi cần viết hoa để biểu thị ý kính trọng thì viết hoa âm tiết đầu Ví dụ: Phó thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao

+ Tên các sự kiện lịch sử, văn hóa quan trọng: Viết hoa chữ cái đầu và tên riêng Ví dụ: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chiến dịch Điện Biên Phủ, Giải phóng đất nước

+ Tên tác phẩm: Viết hoa chữ cái đầu và tên riêng Ví dụ: Đất nước đứng lên, Dế Mèn phiêu lưu kí

c) Quy tắc viết hoa tên riêng tiếng nước ngoài

- Chuẩn viết phiên âm từ vay mượn: Có 2 cách phiên âm

+ Phiên âm âm tiết hóa: Có gạch nối giữa các âm tiết của từ (Lê-nin, Pa-ri,…)

+ Phiên âm từ hóa: Viết liền các âm tiết, tôn trọng âm theo hệ chữ tinh, nếu chữ viết của nguyên ngữ là chữ cái La-tinh thì giữ đúng nguyên hình chữ viết của nguyên ngữ, kể cả các dấu chữ cái f, j, z, dấu phụ ở một số chữ cái có thể bỏ bớt Ví dụ: Wroctaw, Shakespeare,…Nếu chữ viết hoa của

Trang 21

La-nguyên ngữ không thuộc hệ thống chữ cái La-tinh thì dùng lối chuyển tự sang chữ cái La-tinh

- Tên sông, núi, tổ chức quốc tế không thuộc riêng nước nào thì viết dạng chữ thống nhất và phổ biến trên thế giới, kể cả chữ viết tắc nếu có Ví dụ: Mekong, UNESCO, Himalaya,…

d) Quy tắc dùng dấu nối liên danh

- Trong các từ liên danh như : Cách mạng khoa học - kĩ thuật, Bộ môn hóa - dược, Quảng Nam - Đà Nẵng,…

- Chỉ số hạn về không gian, thời gian, số lượng như: Chuyến tàu Hà Nội - Huế, Thời kì 1945 - 1954,…

- Giữa các số để phân biệt ngày, tháng, năm: 30 - 04 - 1975

e) Quy tắc chính tả tiếng Việt bổ sung

* K, C, Q

- K viết trước các kí hiệu ghi âm (bộ phận nguyên âm đôi) i, e, ê,: Kính, kiên, kia…

- C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a,

ă, â, o, ô, ơ, u, ư: ca, căn, co, cư, cân…Một số trường hợp, theo thói quen k vẫn viết trước a: kaki

- Q viết trước âm đệm /-u-/: quả, quang, quân, quý…

* G - Gh; Ng - Ngh

- G, Ng: viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm

đôi): a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư: nga, ngõ, ngơ, ngô, gần, go, gu…

- Gh, Ngh viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi) i, e, ê,: nghe, nghĩ, nghệ, ghé, ghi, ghê…

* IÊ, YÊ, YA, IA

- IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: tiên tiến , chiến, liên…

Trang 22

- YÊ viết sau âm đệm, trước âm cuối: tuyên, truyền, huyền… hoặc khi

mở đầu âm tiết: yên, yết, yêu…

- IA viết sau âm đầu , không có âm cuối: chia, phía, mía, lìa…

- YA viết sau âm đệm không có âm cuối: khuya,

* UA, UÔ

- UA viết khi không có âm cuối: của, múa, chúa, lúa…

- UÔ viết trước âm cuối: suối, chuối, tuổi…

* ƯA, UƠ

- ƯA viết khi không có âm cuối: thừa, trưa, mưa…

- UƠ viết trước âm cuối: trường, nước, sương…

* I, Y làm âm chính

- I viết sau âm đầu: phi, minh, bi, thi, lí…

- Y viết sau âm đệm: quý, khuynh, huy, thủy,

Khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần Việt: ỉ, ỉn, ỉm, ầm ĩ…Viết Y đối với từ gốc Hán: y tá, ý thức, y phục…

* U, O làm âm đệm

Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết u: quốc, quân, quy, quyên…

Sau các âm khác hoặc mở đầu âm tiết:

- O viết trước các nguyên âm a, ă, e: toe, toét, khoăn, hoằn…

- U viết trước các nguyên âm y, ya, yê, ê, â: khuya, huynh, huân, tuệ, huệ…

1.1.2 Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Chính tả tiếng Việt

1.1.2.1 Vị trí của dạy học Chính tả

Việc hình thành chuẩn về CT là một quá trình phức tạp và lâu dài Bên cạnh những quy tắc CT đã tương đối ổn định về cách sử dụng thì vẫn còn tồn tại không ít những hiện tượng CT đang được chuẩn hóa trong quá trình phát triển ngôn ngữ TV cũng ngày càng được củng cố và biến đổi để bắt kịp

Trang 23

những tiến bộ của thời đại Trong đó, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của TV cần thiết phải được quan tâm Phân môn CT trong nhà trường TH là phân môn giữ một ví trí quan trọng trong việc giữ gìn sự giàu đẹp và trong sáng của

TV

Là một phân môn quan trọng trong sáu phân môn của môn TV, ở trường TH, phân môn CT được xếp dạy sau phân môn Tập đọc Cùng với các phân môn khác, phân môn CT giúp người học hình thành kĩ năng sử dụng

TV Trong đó, đặc biệt chú trọng đến kĩ năng viết và kĩ năng nghe Đồng thời, cung cấp cho HS một số kiến thức về chữ viết như: Cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc CT, và thói quen viết chữ ghi TV đúng chuẩn…

Viết đúng CT giúp HS làm chủ được tiếng nói có khả năng sử dụng

TV vào trong các tình huống giao tiếp, học tập và tư duy đạt hiệu quả cao Ngoài việc hình thành lòng yêu mến TV và thói quen giữ gìn sự trong sáng của TV, phân môn CT còn góp phần nâng cao trình độ văn hóa của người sử dụng TV CT giúp HS có công cụ để rèn luyện một số thao tác của tư duy như: tư duy phân tích, tư duy tổng hợp, tư duy thay thế, tư duy bổ sung, tư duy so sánh, tư duy khái quát hóa,… là nền tảng để giao tiếp, tư duy trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng lao động, sản xuất và chất lượng cuộc sống chung của toàn xã hội, trên hết là khả năng nhận thức chung của toàn xã hội

về ngôn ngữ

1.1.2.2 Nhiệm vụ của dạy học Chính tả

Trong các giờ DH CT ở cấp TH, nhiệm vụ của phân môn là cung cấp cho HS các quy tắc CT và kết hợp rèn luyện viết đúng CT, viết chữ đúng mẫu, kĩ năng nghe viết chính xác cho HS, rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa từ, trau dồi ngữ pháp Ngoài các kĩ năng CT, phân môn còn trang bị cho

HS kĩ năng sử dụng TV ở dạng chữ viết vào quá trình giao tiếp Nhờ viết đúng CT mà HS có thể truyền đạt hết những nội dung mà HS muốn giao tiếp

Trang 24

Viết đúng CT cũng như nắm vững các quy tắt CT đồng nghĩa với việc HS có khả năng làm chủ phương tiện ghi chép để phục vụ cho việc học tập các môn khác Phân môn CT giúp cho HS có thói quen hình thành lòng yêu quý TV và chữ viết TV Bên cạnh đó, quá trình rèn luyện trong phân môn còn là con đường bồi dưỡng một số phẩm chất, đức tính và thái độ cần thiết cho HS như: tính cẩn thận, tính chính xác, tính kỉ luật, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

1.1.3 Đặc điểm nhận thức và tâm lí của học sinh lớp 2 dân tộc Khmer

Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về tâm lí, đặc trưng văn hóa, ngôn ngữ,… và dân tộc Khmer cũng không lệ ngoại

Trẻ em ở lứa tuổi lớp 2, giai đoạn từ 6 đến 8 tuổi nói chung đều gặp khó khăn về mặt nhận thức khi đến trường Đa số HS chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập, dễ nhớ chóng quên, tiếp thu kiến thức chậm, chưa đi sâu khái quát mà chỉ dừng lại ở mức độ bên ngoài Trần Thanh Pôn, Viện nghiên cứu giáo dục phía Nam nhận xét rằng: “HSDT Khmer khác với HS người Kinh, HSDT Khmer có đặc điểm tư duy ngầm” [27, tr.35] Trước mọi hoạt động, sinh hoạt hằng ngày, HSDT Khmer tiếp cận trước hết bằng lối tư duy thông qua nội cảm Cần nhận thức một vấn đề đầu tiên HS cần cảm nhận bằng cảm xúc thông qua bình diện thông hiểu nội dung của tiếng nói, âm tiết, ngữ nghĩa dân tộc, hành văn dân tộc, cú pháp dân tộc tất cả đều biểu đạt bên trong suy nghĩ của HS Tiếp đến quy nạp vấn đề mang tính dân tộc cho đến khi cần diễn đạt thành lời nói để tiếp thu và trao đổi

Trẻ nhỏ rất hiếu động và rất ham tìm hiểu về cuốc sống và thế giới xung quanh, nhất là những gì mới lạ đối với HS Đây là thứ mà hầu như đứa trẻ nào cũng cần Thông qua các giác quan trên cơ thể mà HS có thể nâng cao

sự hiểu biết về thế giới Và thông thường thì những sự vật, sự việc hay vật

Trang 25

thật sẽ giúp HS nhận thức tốt hơn Theo hình thức này HS đã chụp đối tượng vào trí óc và dùng để suy ngẫm, tư duy ở một trạng thái cao hơn HSDT Khmer rất mạnh mẽ về loại tư duy này, vì thế chúng ta nên tận dụng ưu điểm này để khắc phục sự nghèo nàn về vốn sống, vốn từ ngữ TV cho các em; giúp

HS tư duy trừu tượng, trước mọi tình huống vấn đề người ta hay đưa mẫu vật

cụ thể đặt trước mặt HS, hoặc tạo dáng, mô phỏng, vẽ tranh minh họa để HS nhận biết nhanh, gọn Điều này thể hiện qua những chuyến thực tế HS rất dễ phân biệt những sự vật, sự việc mà HS đã được học

HSDT Khmer thường bở ngỡ khi học TV, nhất là các lớp đầu cấp học

Đa số HS nghe được TV nhưng không hiểu được ý nghĩa lời nói, không hiểu điều thầy cô nói và từ đó HS không nắm được nhiệm vụ học tập HSDT Khmer có thói quen dùng tiếng Khmer để giao tiếp với bạn bè cùng dân tộc, thậm chí khi các em trả lời với thầy/cô giáo cũng bằng tiếng Khmer do trình

độ TV của các em còn kém Trên lớp, các em không hiểu bài, dẫn đến tâm lí chán nản trong học tập

Ở độ tuổi này, HSDT Khmer ngoài học TV còn phải học tiếng Khmer Trong khi đó, cơ năng tâm sinh lí của các em còn quá hạn hẹp về cả năng lực, trí lực Các em phải cùng lúc phải học hai ngôn ngữ trong khi chương trình giáo dục hiện nay của chúng ta nghiên về lí thuyết chưa có tính thực hành cao

HSDT Khmer thường mang tâm lí mặc cảm và thụ động Các em mặc cảm vì là dân tộc thiểu số Và hay thụ động vì HSDT Kinh thường hay chê cười bạn vì phát âm không chính xác TV Vì thế đa số HSDT Khmer thường nhút nhát, không tự tin khi học chung với bạn bè người Việt Từ đó, dẫn đến khó khăn cho HSDT Khmer trong việc tương tác với GV trong quá trình học tập khi đứng trước những vấn đề khó

Trang 26

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Nội dung chương trình Chính tả tiếng Việt lớp 2

Chương trình phân môn CT TV ở lớp 2 được bố trí trong cả hai học kì với thời lượng là 62 bài và 62 tiết Học kì 1 với thời lượng 32 tiết trong 16 tuần, có 14 tiết CT tập chép và 14 tiết CT nghe viết Học kì 2 tổng số tiết là

30 tiết trong 15 tuần Trong đó, có 7 tiết CT tập - chép và 23 tiết CT nghe - viết Trong tuần tiết CT thứ nhất sẽ sau tiết tập đọc thứ nhất và tiết kể chuyện, tiết CT thứ hai sẽ sau tiết tập đọc thứ hai Các dạng bài tập - chép và nghe - viết được sắp xếp đan xen với nhau trong các tuần học Do kĩ năng viết lớp 2 chưa vững nên chưa có hình thức bài tập nhớ - viết

Nội dung chương trình CT TV lớp 2 chủ yếu cho HS thực hành qua các hình thức viết: CT đoạn - bài; CT âm - vần Đối với dạng bài CT đoạn - bài HS được thực hành rèn luyện (nhìn viết hoặc nghe viết) mỗi bài trên dưới

50 tiếng, thông qua đó rèn kĩ năng viết CT, kĩ năng nghe cho HS Còn riêng đối với CT âm - vần HS được luyện viết các tiếng (chữ) có âm, vần dễ viết sai

do không nắm quy tắc chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ngh, ia/ya, iê/yê,…) hoặc

do ảnh hưởng cách phát âm phương ngữ (l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi) Bên cạnh vấn

đề viết, HS còn được củng cố khả năng CT thông qua các dạng bài tập áp dụng chung cho toàn quốc và bài tập lựa chọn cho các vùng phương ngữ khác nhau Các dạng bài tập xoay quanh các nội dung luyện phát âm, gọi tên và ghi tên các đồ vật, sự vật, làm quen với các kiểu câu, loại câu thông dụng Ngoài hai hình thức CT nói trên, phân môn CT lớp 2 còn một số bài tập nhằm giúp

HS thuộc lòng bảng chữ cái và bước đầu biết áp dụng những hiểu biết về bảng chữ cái vào một số công việc phục vụ đời sống, học tập như: xếp tên người theo trật tự bảng chữ cái, lập danh sách HS…

Về yêu cầu cần đạt của chương trình CT lớp 2 được chia làm ba giai đoạn

Trang 27

- Giai đoạn 1:

+ Bước đầu viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh, ng/ngh

+ Bước đầu viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r, tr/ch,…) vần (an/ang, ăn/ăng, ân/âng, ai/ay, uôn/uông,…), thanh (?/~) do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương

+ Bước đầu biết viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam

+ Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 35 chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ, mắc không quá 5 lỗi

- Giai đoạn 2:

+ Viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh,ng/ngh

+ Viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r, tr/ch,…) vần(ươn/ương, et/ec, ao/au,…), thanh (?/~, ~/ , ) do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương

+ Bước đầu biết viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam

+ Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 40 chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ, mắc không quá 5 lỗi

+ Tiếp tục thực hành viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam

Trang 28

+ Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 55 chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ, mắc không quá 5 lỗi

Tất cả nội dung của một môn học được xác định trên cơ sở chương trình của môn học đó và được chuẩn hóa thành những kiến thức và kĩ năng cụ thể Về yêu cầu đánh giá ở phân môn CT lớp 2 tập trung vào một số nội dung sau:

- Viết đúng CT các chữ mở đầu bằng c, k, q, g, gh, ng, ngh, gi; các chữ có vần khó: oay, oam, oao, oăc, oăm, oen, oet

- Viết hoa theo quy tắc trong một số trường hợp:

+ Viết hoa chữ cái đầu câu

+ Viết hoa tên riêng người và tên riêng địa lí Việt Nam

- Viết CT theo yêu cầu:

+ Nhìn - viết, nghe - viết bài CT có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 50 chữ/ 15 phút, trình bày sạch sẽ, đúng quy định, mắc không quá 5 lỗi

+ Tập phát hiện và sửa một số lỗi dễ nhận biết trong bài viết

+ Tập trình bày bài viết sạch và đúng yêu cầu

1.2.2 Thực trạng dạy học Chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang

1.2.2.1 Khảo sát việc dạy và học Chính tả tiếng Việt của học sinh lớp

Trang 29

- Đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi CT TV của HS lớp 2 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, An Giang

b) Phạm vi và đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 6 trường TH có số lượng đông HSDT Khmer trên địa bàn huyện Tri Tôn Cụ thể, ở xã Ô Lâm chúng tôi chọn 2 trường, trường TH A Ô Lâm, trường TH B Ô Lâm, đây là 2 trường có đông HSDT Khmer nhất trong cùng một lớp học ở huyện Ở trung tâm huyện, chúng tôi chọn trường TH A Núi Tô và trường TH B Núi Tô Ở khu vực vùng ven của huyện, chúng tôi chọn xã Cô Tô 2 trường đó là: trường TH A Cô Tô, trường TH B Cô Tô

Đối tượng khảo sát bao gồm 27 GV và 701 HS ở khối lớp 2 của các trường chúng tôi nghiên cứu

c) Nội dung khảo sát

- Dự giờ GV: Chúng tôi xin dự giờ quan sát tiến trình dạy và học của giáo viên và học sinh, không đánh giá tiết dạy Chúng tôi dự giờ 6 trường, mỗi trường một lớp với 2 tiết CT: 1 tiết CT tập - chép, 1 tiết CT nghe - viết

- Khảo sát phiếu: Chúng tôi thiết kế phiếu khảo sát GV và HS theo nguyên tắc khách quan, dễ hiểu, rõ nghĩa

1.2.2.2 Kết quả khảo sát

a) Học sinh

- Về thái độ học tập của học sinh

HS Khmer có những điểm tương đối khác biệt về nhận thức và quá trình phát triển tâm lí, cho nên có những khác biệt nhất định về thái độ học tập

TV nói chung và thái độ học tập trong phân môn CT nói riêng

Qua khảo sát 701 HS ở các trường TH trên địa bàn huyện Tri Tôn, chúng tôi thu được bảng kết quả về ý kiến của HS trong việc học TV như sau:

Trang 30

Bảng 1.1 Ý kiến của học sinh về việc học tiếng Việt

Ở nhà, em nói chuyện với

ba mẹ bằng tiếng gì? TV và tiếng Khmer

55 7,8 Rất khó 266 37,9 Theo em, học TV có khó

không?

Tương đối khó 223 31,8

Trang 31

Dễ 212 30,3

Có 684 97,6 Theo em, HS Khmer có

Em thích viết kiểu bài CT

Theo em, HS Khmer có Có 690 98,4

Trang 32

cần viết đúng CT TV

không?

Từ kết quả khảo sát thái độ học tập của HS cho thấy, đa số HS

Khmer lớp 2 có hứng thú đối với việc học tập TV Với câu hỏi Em có thích học TV không ? được đưa ra nhằm thăm do thái độ học tập của HS Khmer và

cũng nhằm đo lường chất lượng giảng dạy TV của GV Số liệu cho thấy, có 71% HS Khmer trả lời thích học TV; chỉ có 9,7% HS trả lời hơi thích đối với môn học Điều này cho thấy vẫn có một số HS chưa có thái độ yêu thích đối với việc học TV Đa số HS Khmer TH thích học TV là phù hợp với hoàn cảnh thực tế Khả năng học tập và thái độ học tập trong trường hợp này không tỉ lệ thuận với nhau Mặc dù HS học TV vẫn còn yếu nhưng đa số các em yêu thích đối với môn học này Điều này chứng tỏ những cố gắng của ngành trong những năm qua nhằm cải thiện và nâng cao năng lực học TV của HS đã phần nào mang lại kết quả HS Khmer thích học TV sẽ là động lực giúp đội ngũ

GV phấn đấu nhiều hơn trong DH TV cho HS Khmer nói chung và DH CT

TV nói riêng Cũng nói thêm rằng, GV tại các trường TH được khảo sát rất quan tâm, yêu thương, tận tình dạy dỗ cho HS, nhất là HS Khmer Sự yêu thích TV một phần nào đó là do xuất phát từ tình cảm của GV giành cho HS Điều này rất dễ nhận thấy khi tiếp xúc với bất kì HS Khmer nào

Câu hỏi Em có thường nói TV không? Kết quả thu được là: 146 HS

(chiếm 20,8%) trả lời thường xuyên nói TV, trong khi đó có đến 386 HS (chiếm 55,1%) cho biết các em rất ít khi nói TV Điều này cho thấy HS

Khmer rất hạn chế sử dụng TV trong các lĩnh vực giao tiếp Với câu hỏi Em

có thể dùng TV để làm gì? Có 26% ý kiến cho biết sử dụng TV để đọc chữ

Trang 33

(chủ yếu trong lớp học); 60,1% HS dùng TV trong việc nói chuyện và một tỉ

lệ rất ít (chiếm 6,7%) sử dụng để xem TV Điều này cho thấy môi trường vận dụng TV của HS nhìn chung còn chưa đa đạng, khả năng tiếp xúc với TV của

HS cũng tương đối giới hạn bởi chưa có nhiều hoạt động có sự tham gia của

TV Có 64,8% HS cho biết HS chủ yếu sử dụng TV trong các hoạt động học tập ở lớp, trong khi đó, chỉ có 17,1% HS sử dụng TV ở nhà và một số ít (chiếm 18,1%) HS sử dụng TV ở cả hai phạm vi trường học và gia đình Số liệu cũng cho thấy, tỉ lệ HS sử dụng tiếng Khmer để giao tiếp với bố mẹ rất cao (chiếm 86,3%), tỉ lệ sử dụng TV để giáo tiếp với người thân trong gia đình rất hạn chế (chỉ chiếm 5,9%)

Khi được hỏi Theo em, học TV có khó không? Kết quả thu được là:

30,3% HS trả lời TV dễ học; 31,8% HS cho rằng TV tương đối khó học và; 37,9% HS cho rằng TV rất khó học

Kết quả thống kê cũng cho thấy, 97,6% HS cho rằng HS Khmer nên học TV, trong khi đó chỉ có 2,4% HS cho rằng không nên học TV Điều này cho thấy vẫn còn một số HS chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học

TV

Khảo sát thái độ ưa thích đối với phân môn CT cho thấy, 63,5% HS thích học CT; 13,7% HS không thích học vì HS cho rằng môn CT rất khó học (chiếm 32,8%), 37,5% HS cho rằng môn CT khó học và chỉ có 7% ý kiến cho

rằng môn CT không khó Khi được hỏi Trong giờ học CT, em cảm thấy thế nào? Có đến 30,2% HS cảm thấy chán và buồn ngủ khi học tiết CT; 31,6%

HS cảm thấy bình thường và; 38,2% HS thích thú và phát biểu tích cực trong tiết CT Trong 701 HS được khảo sát, có 625 HS (chiếm 89,1%) thích viết kiểu bài CT tập chép, trong khi đó chỉ có 10,9% HS thích viết kiểu bài CT nghe viết Điều này cho thấy đối với HS Khmer, vấn đề viết CT kiểu bài nghe

- viết nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn đối với các em Kết quả khảo sát

Trang 34

cho thấy, 98,4% HS nhận thức đúng đắn về vai trò của phân môn CT đối với việc học tập TV ở nhà trường, trong khi đó, vẫn còn 1,6% HS chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của phân môn CT đối với việc học nói chung

- Về kết quả học tập của học sinh

Để đánh giá năng lực học tập CT của HS, chúng tôi tiến hành cho 701

HS làm 2 bài kiểm tra sau các tiết học CT Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành xem, chấm vở CT để kiểm tra năng lực viết CT của HS

Bảng 1.2 Kết quả học tập phân môn Chính tả của học sinh

Làm được các bài tập

CT

Vận dụng đúng quy tắt

Bảng 1.2 thể hiện kết quả học tập phân môn CT của HS lớp 2 dân tộc Khmer ở một số trường TH trên địa bàn huyện Tri Tôn, An Giang Kết quả được đánh giá thông qua các tiết dự giờ, các bài kiểm tra CT dành cho HS Nội dung kiểm tra bao gồm: khả năng viết chữ đúng nét của HS, viết đúng CT (qua kiểm tra vở và bài kiểm tra), khả năng nắm rõ các quy tắc CT của HS cũng như việc vận dụng các quy tắc CT trong các bài tập CT nói chung

Kết quả khảo sát cho thấy, có 16,5% HS viết đúng các nét chữ Đây là một con số khá khiêm tốn, cho thấy đa số HS còn hạn chế nhiều về chữ viết Điều này thật sự rất đánh lo ngại, bởi lớp 2 là lớp học nền tảng hình thành năng lực viết chữ cho HS Chữ viết và CT có mối quan hệ mật thiết với nhau Chữ viết ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực viết đúng CT của HS Kết quả này

Trang 35

đã phần nào nói lên sự yếu kém rất đáng quan ngại trong năng lực viết của HS nói chung

Có 36,2% HS viết đúng CT trong tổng số HS được khảo sát Kết quả này được tổng hợp thông qua việc đánh giá các bài viết CT hàng tuần của HS

và kết quả làm bài kiểm tra trên giấy của các em Năng lực viết đúng CT của

HS còn khá thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học TV nói chung của các em Năng lực viết đúng CT được đánh giá khi HS thường xuyên có những bài viết CT sai dưới 5 lỗi trên một bài Từ đó có thể nhận thấy HS lớp 2 dân tộc Khmer viết sai khá nhiều lỗi CT Đa phần HS luôn có lỗi sai trong các bài viết CT Có rất ít HS không mắc lỗi nào khi viết CT

Đánh giá năng lực nắm vững các quy tắc CT của HS cho thấy, có 9,0% HS nhớ và thực hiện đúng các quy tắc CT Khả năng này được thể hiện qua việc HS thực hiện đúng các bài tập CT và thông qua kết quả phỏng vấn miệng Đa số HS nắm và nhớ được một số quy tắc CT đơn giản và dễ quên các quy tắc phức tạp HS hay nhầm lẫn và viết sai các quy tắc về âm vần, dẫn đến sai nhiều lỗi CT Một bộ phận không nhỏ HS nắm tương đối tốt các quy tắc CT nhưng vẫn còn khá chậm và dễ quên, dẫn đến còn lúng túng trong việc vận dụng các quy tắc

34,8% HS trong tổng số HS được khảo sát làm tốt các bài tập CT về

âm vần Kết quả này được đánh giá thông qua việc đánh giá vở bài tập TV của HS trong các tiết dự giờ Kết quả này phần nào cho một bộ phần khá đông

HS còn làm sai các bài tập CT HS làm sai bài tập CT do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do các em chưa nắm vững các quy tắc cũng như chưa biết cách vận dụng quy tắc CT vào việc làm bài tập

Trang 36

Đánh giá chung về khả năng vận dụng các quy tắc CT của HS: 14%

HS vận dụng tốt các quy tắc CT vào viết CT cũng như làm các bài tập CT và bài kiểm tra HS vận dụng tốt nghĩa là HS không những nhớ đúng quy tắc mà còn biết thể hiện đúng các quy tắc đó trong việc viết CT và làm các dạng bài tập CT khác nhau Kết quả khảo sát đã phần nào cho thấy thực trạng học phân môn CT của HS lớp 2 dân tộc Khmer Thực trạng này đòi hỏi GV cần thay đổi cũng như vận dụng một cách hợp lí các PP DH CT hiệu quả hơn đối với đối tượng HS lớp 2 dân tộc Khmer

b) Giáo viên

Để tìm hiểu nhận thức của GV đối với DH CT của HS lớp 2 dân tộc Khmer ở nhà trường TH, chúng tôi đã tiến hành tham vấn trên 27 GV trực tiếp giảng dạy tại các điểm trường TH thuộc địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Với kết quả thu được như sau:

Bảng 1.3 Nhận thức của giáo viên về dạy học Chính tả cho học

sinh lớp 2 dân tộc Khmer

Kết quả Nội dung

Rất đồng ý Đồng ý Phân vân Không đồng

ý

Trang 37

Số lượn

g

Tỉ lệ

Số lượn

g

Tỉ lệ

Số lượn

g

Tỉ lệ

Số lượn

%

2 5,4

%

5 18,5

%

Trang 38

để có thể khai thác và vận dụng các PP DH phù hợp Nhìn chung tâm lí e ngại, rụt rè và có phần kém hứng thú với việc học đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học của các em Chú ý đến đặc điểm tâm lí này của HS Khmer lớp 2,

GV sẽ có những tác động phù hợp và hiệu quả, góp phần nâng cao kết quả học TV của các em Có 3,7% ý kiến vẫn còn phân vân với nhận định trên Điều này cho thấy một bộ phận không nhỏ GV nhận thức chưa cao về những ảnh hưởng của đặc điểm tâm lí đến DH CT cho HS

Nói về vai trò của việc tạo môi trường luyện tập TV cho HS, có 59,3%

GV rất đồng ý với nhận định trên, 33,3% GV đồng ý về vai trò của môi trường luyện tập TV cho HS Với nhận định cần DH CT cho HS Khmer bằng nhiều hình thức tích cực có 37% GV đồng ý với nhận định trên 25,9% GV rất đồng ý, trong khi có 7,4% GV không đồng ý Khi được hỏi về việc có nên sử dụng đa dạng các PP DH CT cho HS Khmer có 55,5% GV đồng ý với việc đa

Trang 39

dạng các PP DH, 29,7% GV rất đồng ý và 14,8% GV còn phân vân với nhận định trên Có 70,4% GV không đồng ý với nhận định DH CT cho HS Khmer nên sử dụng các PP DH truyền thống, trong khi chỉ có 2,7% GV rất đồng ý với nhận định trên Điều này cho thấy đa phần GV có nhận định đúng đắn về việc kết hợp các PP trong DH Tương ứng với nhận định trên, có 25,9% GV không đồng ý với nhận định DH bằng PP truyền thống phát huy năng lực HS trong khi chỉ có 5,4% GV đồng ý với quan điểm này Khi được hỏi về vai trò của việc xây dựng bài tập CT dành riêng cho HS Khmer, đa phần GV đều có những ý kiến tương đối đúng đắn về vấn đề này Với nhận định Cần xây dựng

hệ thống bài tập CT dành riêng cho HS Khmer lớp 2 có 29,6% GV rất đồng ý với nhận định này Các GV cho rằng, hệ thống bài tập CT âm vần trong SGK chưa đủ để đáp ứng nhu cầu rèn luyện năng lực viết đúng CT cho HS Khmer Không những thế, một phần không nhỏ bài tập CT của SGK còn chưa phù hợp với những đặc điểm tâm lí đặc trưng của HS Khmer Vì thế, việc xây dựng một hệ thống bài tập CT riêng, phù hợp với đặc trưng tâm lí và trình độ của HS Khmer là vô cùng cần thiết Trong khi đó chỉ có 18,5% GV không đồng ý vì cho rằng việc làm này có nhiều khó khăn mà mất nhiều thời gian của GV

Từ bảng tổng hợp trên cho thấy, nhìn chung nhận thức của GV trong vấn đề DH CT cho HS Khmer còn nhiều hạn chế Bên cạnh những nhận thức đúng đắn và tiến bộ về DH CT cho HS Khmer vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ GV chưa có cách nhìn đúng đắn và tiến bộ trong DH CT cho HSDT Khmer lớp 2 Điều này đã phần nào ảnh hưởng đến việc dạy học CT cho HS Khmer lớp 2 Bởi, chỉ có nhận thức đúng đắn về những yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập CT của HS mới có thể đưa ra được những giải pháp phù hợp, đúng đắn nhằm giúp HS có thể nâng cao năng lực học tập CT nói riêng và TV nói chung

Trang 40

Bảng 1.4 Ý kiến của giáo viên về việc học Chính tả của học sinh Khmer

lớp 2

lượng

Tỉ lệ (%)

Ngày đăng: 22/12/2020, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w