1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật trang trí bao lam trong một số chùa việt ở thành phố hồ chí minh

415 81 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 415
Dung lượng 8,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội - 2020BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Nguyễn Thị Thu Tâm NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ BAO LAM TRONG MỘT SỐ CHÙA VIỆT Ở THÀ

Trang 1

Hà Nội - 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thu Tâm

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ BAO LAM TRONG MỘT SỐ

CHÙA VIỆT Ở THÀNH PHỐ HÒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Trang 2

Hà Nội - 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thu Tâm

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ BAO LAM TRONG MỘT SỐ

CHÙA VIỆT Ở THÀNH PHỐ HÒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật

Mã số: 9210101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Hoàng Minh Phúc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ Nghệ thuật trang trí bao lam

trong một số chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh là công trình nghiên cứu do

tôi viết và chưa công bố

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 20

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Tâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

iii BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ T ÔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ, BAO LAM TRONG CHÙA VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 11

1.1 Cơ sở lý luận, khái niệm và cơ sở hình thành nghệ thuật trang trí, bao lam trong chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh 11

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghệ thuật trang trí, bao lam trong chùa Việt ở thành phố H ồ Chí Minh 40

Tiểu kết 53

Chương 2 HÌNH TƯỢNG TRANG TRÍ BAO LAM TRONG CHÙA VIỆT Ở THÀNHPH Ố H Ồ CHÍMINH 56

2.1 Hình tượng về đề tài Tứ linh 58

2.2 Hình tượng về đề tài Tứ quý 69

2.3 Hình tượng về đề tài Phật gi áo 76

2.4 Hình tượng thực vật và độngvật 82

2.5 C ác hìnhtượng khác 102

Tiểu kết 114

Chương 3 BÀN LUẬN VỀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ BAO LAM CHÙA VIỆT THÀNH PH Ố H Ồ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC.117 3.1 Nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp nối truyền thống dân tộc 117

3.2 Giá trị nội dung, hình tượng mới mang sự linh hoạt đậm nét dân gian trên bao lam 128

3.3 Hiệu quả tạo hình của nghệ thuật trang trí bao lam chùa 136

3.4 Giao lưu và tiếp biến mỹ thuật trong hình tượng nghệ thuật trang trí bao lam chùa 152 3.5 Kế thừa và phát huy giá trị nghệ thuật trang trí bao lam trong chùa Việt tại thành phố Hồ Chí Minh

Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG B Ố

MỤC LỤC

161 166 169 175 176 188

Trang 5

TÀI L IỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 7

Mặc dù đến định cư và sinh sống ở vùng đất phương Nam, nhưng trong suốtmấy trăm năm qua, người Việt tại đây vẫn gìn giữ và phát huy những truyền thốngvăn hóa của cha ông trên mọi lĩnh vực Tất nhiên, theo quy luật tự nhiên, sống ởmột v ng đất mới cùng với những cư dân h c, để sinh t n và phát triển, người Việttại miền Nam không chỉ phải thích nghi với điều kiện tự nhiên và xã hội mới, màcòn phải thường xuyên tiếp nhận những kinh nghiệm sống và những thành tựu của

c ác cư dân bản địa Và, cũng theo quy luật tự nhiên, theo thời gian và truyền thốngvăn hóa của người Việt tại phương Nam cũng dần dần thay đổi cho phù hợp với

những điều kiện tự nhiên trong bối cảnh xã hội mới Như trong cuốn sách Kiến trúc đình, chùa Nam Bộ, nhà nghiên cứu Phạm Anh Dũng đã nói về nét khác “Kiến trúc

đình chùa Nam Bộ, từ khởi nguyên, luôn là bộ phận của văn hóa Việt Nam Tuynhiên, do không gian cư trú biến đổi, Vì vậy các hình thức biểu hiện có nhiềubiến đổi linh hoạt” [32, tr.162] Vậy, dù vẫn có chức năng là đình, là chùa hay làmiếu., nhưng iến trúc và nghệ thuật đ nh, ch a, miếu của người Việt miềnNam có nhiều nét khác so với của người Việt ở miền Bắc

Văn hóa Phật giáo Nam Bộ mang đặc điểm chung người Việt nhưng do ảnhhưởng về địa lý, lịch sử và quá trình cộng cư mà hình thành những nét riêng và khácbiệt mang tính chất của lưu dân đi hai hoang Nói một c ch h c v ng đất phươngNam là nơi hội tụ nhiều nền v n hóa và tôn gi o, v n hóa Phật gi o đón nhận c c

Trang 8

Trải qua bao biến cố lịch sử, rất nhiều ngôi chùa cổ, có giá trị ở Nam Bộ đã

bị mất đi vĩnh vi ễ n Theo thống kê của thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố HồChí Minh tính đến năm 2018 tại thành phố H ồ Chí Minh có tổng số 933 ngôi chùa,trong đó có 54 di tích cấp quốc gia: 2 di tích khảo cổ, 26 di tích lịch sử, 26 di tíchkiến trúc nghệ thuật Trong số 26 di tích về kiến trúc nghệ thuật, ngoài chùa Hoa, cósáu công trình kiến trúc chùa Việt, cụ thể gồm c ác ngôi chùa: Phước Tường, GiácLâm, Sắc tứ Trường Thọ, Giác Viên, Hội Sơn, Phụng Sơn Sáu ngôi cổ tự được xâydựng khoảng thế kỷ XIX, sau nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được những nét cổkính, mang phong cách dân gian Nam Bộ xưa Trong đó, giá trị đặc trưng của nghệthuật ch a được thể hiện đậm nét trên bao lam Việc nghiên cứu bao lam trong sáungôi chùa trên, sẽ mang lại cái nhìn khái quát và những nét riêng về nghệ thuậttrang trí chùa Việt tại thành phố H Chí Minh

Nghiên cứu nghệ thuật trang trí bao lam chùa ở thành phố H Chí Minh làmột đề tài có giá trị thiết thực trong việc bổ sung làm sáng rõ một số vấn đề về mỹthuật và góp phần nhận diện nghệ thuật trang trí ở thành phố H ồ Chí Minh thời kỳtrước đây Đề tài bước đầu nêu ra đặc điểm nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt ởthành phố Hồ Chí Minh Việc thực hiện đề tài này là có ý nghĩa khoa học và ý nghĩathực ti n, góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu về kho tàng di sản v n hóa nghệthuật ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, khẳng định giá trị nghệ thuật tạohình, phản ánh diện mạo của nghệ thuật trang trí Phật giáo và là sự tiếp nối truyềnthống nghệ thuật trang trí của dân tộc trong quá trình lịch sử Một số nghiên cứu củaluận án mong đóng góp cho chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật về ý nghĩakhoa học và làm rõ, khẳng định giá trị nghệ thuật trang trí của một số bao lam cổ

Trang 9

trong sáu chùa Việt tại thành phố Hồ Chí Minh Qua đó bổ sung phần nghiên cứu về

Trang 10

mỹ thuật trang trí cổ của người Việt ở phía Nam, một mảng nghiên

được quan tâm

Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt về mỹ thuật baolam chùa ở thành phố Hồ Chí Minh Phần lớn c ác công trình quan tâm đến trang trí

mỹ thuật trong ngôi chùa miền Bắc và miền Trung, còn ở miền Nam rất nhiều côngtrình nghiên cứu về văn hóa và lịch sử, còn trang trí mỹ thuật bao lam trong chùa ở

miền Nam thì chưa đi sâu phân tích Do đó NCS chọn đề tài Nghệ thuật trang trí bao lam trong một số chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh Dựa vào những kết quả

nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, NCS sử dụng ngôn ngữ tạo hình đểphân tích nghệ thuật trang trí bao lam chùa, hệ thống, tổng hợp, khái quát, từ đó nêu

ra những nhận định cụ thể về hình tượng trang trí trên bao lam và những nhận địnhchung về nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh trong thế

kỷ XIX Đề tài của luận án tập trung nghiên cứu nghệ thuật trang trí bao lam thuộclĩnh vực mỹ thuật trong một số ngôi chùa Việt tiêu biểu ở thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài tiếp cận từ góc độ mỹ thuật học, xem xét bao lam qua đặt và giải quyết cácvấn đề thẩm mỹ tạo hình, ngôn ngữ, yếu tố, quy luật tạo hình theo nguyên tắc củanghệ thuật trang trí gắn với kiến trúc và công năng sử dụng của bao lam Đối tượngnghiên cứu của đề tài là bao lam, là nghệ thuật điêu hắc trang trí trên kiến trúc, baolam bằng gỗ trong chùa Việt, một trong những mảng trang trí nội thất đặc trưng vàđặc biệt phát triển của các chùa Việt ở miền Nam Do vậy, đề tài của luận án, ngoài

ý nghĩa khoa học và tính mới, còn có giá trị thực tiễn và tính thời sự trong việc gìngiữ, bảo t n, tu bổ và phát huy những giá trị nghệ thuật của các ngôi chùa cổ nổitiếng tại thành phố Hồ Chí Minh Từ đó tạo dựng những cơ sở lý luận, hướng tớiphát hiện những giá trị trong nghệ thuật trang trí thuộc mỹ thuật truyền thống ởthành phố H Chí Minh, bổ sung luận cứ và là cơ sở cho công tác bảo t n di tích tạithành phố H Chí Minh hiện nay Đ ng thời việc phát huy giữ g n v n hóa nghệ

Trang 11

thuật của dân tộc cần thiết phải làm rõ những yếu tố thẩm mỹ

Các kết quả thu đuợc của luận án sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chocác nhà nghiên cứu tìm hiểu, tham khảo, bổ sung những kiến thức và là cơ sở khoahọc cho những công trình nghiên cứu tiếp theo trong tuơng lai

Nghiên cứu về hình tuợng trang trí trên bao lam tại s áu ngôi chùa tiêu biểu

Hệ thống, mô tả đ án trang trí bao lam trên kiến trúc trong chùa Nghiên cứu nghệthuật điêu khắc trang trí kiến trúc, bao lam bằng gỗ trong chùa Việt Tiếp cận từ góc

độ mỹ thuật, xem xét bao lam chùa Việt qua đặt và giải quyết vấn đề thẩm mỹ tạohình, ngôn ngữ và yếu tố, quy luật tạo hình theo nguyên tắc của nghệ thuật trang trígắn với kiến trúc cùng công năng sử dụng của bao lam So s ánh, khái quát, nhậnđịnh về điểm giống và khác nhau của bao lam ở Nam Bộ, cửa võng ở Bắc Bộ,khung thanh vọng ở Trung Bộ trong cùng bối cảnh lịch sử Từ đó rút ra những nétriêng - đặc trung tiêu biểu của nghệ thuật trang tr bao lam trong ch a Việt ở thànhphố H Ch Minh

3 Đối tượng và phạm V i n ghiê n cứu

Nghiên cứu hình tượng nghệ thuật trong trang trí trên bao lam tại sáu ngôi

chùa Việt: Phuớc Tuờng, Giác Lâm, Sắc tứ Truờng Thọ, Giác Viên, Hội Sơn,

Trang 12

Phụng Sơn ở thành phố H ồ Chí Minh

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian: một số bao lam bằng gỗ tiêu biểu trong sáu công

trình chùa Việt xếp hạng cấp quốc gia về kiến trúc, nghệ thuật:

Phuớc Tuờng, phuờng T ăng Nhơn Phú A, quận 9, Tp.Hồ Chí Minh

Giác L âm, phuờng 10, quận Tân Bình, Tp.Hồ Chí Minh

Sắc tứ Truờng Thọ, phuờng 7, quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh

Giác Viên, phuờng 3, quận 11, Tp.Hồ Chí Minh

Hội Sơn, phuờng L ong Bình, quận 9, Tp.Hồ Chí Minh

Phụng Sơn, phuờng 2, quận 11, Tp.Hồ Chí Minh

3.2.2 Phạm vi thời gian: bao lam trong sáu di tích chùa Việt đuợc xếp hạng

di tích cấp quốc gia chủ yếu trong thế kỷ XIX

4 Câu hỏi và gi ả thuyết nghiên cứu

Nghệ thuật trang trí bao lam là một loại hình thuộc nghệ thuật tạo hình ViệtNam hay không?

Giá trị đặc trung của nghệ thuật trang trí chùa ở Nam Bộ có thể hiện đậm néttrên bao lam ở một số chùa Việt tiêu biểu thành phố Hồ Chí Minh không?

Ngôn ngữ biểu đạt thông qua hình tuợng, bố cục, kỹ thuật trên bao lam chùaViệt ở thành phố Hồ Chí Minh có cho thấy sự liên tục trong dòng chảy văn hóatruyền thống Việt không?

Nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt thành phố H Chí Minh cho thấy tính

c ách văn hóa mới của nguời Việt ở vùng đất phuơng Nam đuợc biểu hiện thế nào?

Bao lam có biểu đạt nhiều giá trị nội dung mới mang tính hiện thực, dân gianmang nét riêng Nam Bộ không?

4.2 Gi ả thuyết nghiên c ứu

Một là, xác định nghệ thuật trang trí bao lam là một loại hình thuộc nghệ

thuật tạo hình Việt Nam

Trang 14

Hai là, làm rõ giá trị đặc trưng của nghệ thuật trang trí chùa Việt ở Nam Bộ

được thể hiện đậm nét trong trang trí bao lam trong một số chùa tiêu biểu ở thànhphố Hồ Chí Minh Đ 0 ng thời thấy được những quan niệm nhân sinh quan của conngười ở vùng đất Phương Nam

Ba là, qua hình tượng, bố cục, kỹ thuật trên bao lam, thấy sự liên tục trong

dòng chảy văn hóa truyền thống Việt Khẳng định bao lam vẫn còn nguyên giá trị

mỹ thuật, giá trị văn hóa tới ngày nay

Nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt thành phố H Chí Minh cho thấy sựsáng tạo trong thể hiện hình tượng cũng như tính c ách văn hóa mới của người Việt

ở vùng đất phương Nam là sự cởi mở, khoan dung và hòa đ ồ ng, sẵn sàng tiếp thucác giá trị của các dân tộc khác để làm mới, đa dạng hơn sắc thái cho mình Khẳngđịnh nghệ thuật trang trí bao lam là sự tiếp nối lịch sử mỹ thuật Việt Nam ở mộtdiện mạo mới

Bốn là, bao lam biểu đạt nhiều giá trị nội dung mới mang tính hiện thực, sự

linh hoạt dân gian, mang nét riêng Nam Bộ Sự biến đổi phù hợp với tập tục, quanniệm gần gũi với những nét sinh hoạt của cư dân vùng và mang tính riêng biệt

Bốn giả thuyết này bước đầu làm sáng tỏ đặc điểm của nghệ thuật trang tríbao lam Nhằm phân tích bao lam trong sáu ngôi chùa Việt ở thành phố Hồ ChíMinh được xếp hạng di tích cấp quốc gia, từ đó chỉ ra giá trị về mặt lý luận và giátrị về thực tiễn của nghệ thuật trang trí bao lam trong chùa Việt ở thành phố Hồ ChíMinh đối với nền mỹ thuật Việt Nam

5 P h ư ưng pháp ngh íên cứu

NCS sử dụng lý thuyết về mỹ học [41], ký hiệu học nghệ thuật, mỹ thuật học[140] như một cơ sở lý luận, phương pháp luận để tiếp cận, phương pháp nghiêncứu này được vận dụng giúp phân tích về ngôn ngữ tạo hình trên bao lam (theo đềtài h nh tượng thể hiện) để tìm ra cái mới

Tiếp cận nghiên cứu theo hướng phương pháp tiếp cận liên ngành

Trang 15

Sử dụng kết hợp một số ngành như Triết học, Tôn giáo học, Sử học nghệthuật, Văn hóa học, Kiến trúc, Mỹ thuật để tiếp cận, phân tích các biểu hiện, hiệntượng, ý nghĩa của hình tượng trong quá trình hình thành và phát triển nghệ thuậttrang trí bao lam ở chùa, đánh giá hệ thống đề tài và kiểu thức trang trí bao lamchùa mang đặc điểm chung và riêng Từ đó tìm ra giá trị nghệ thuật bao lam chùa

Tiếp cận nghiên cứu theo hướng phân tích tổng hợp

Phương pháp phân tích tổng hợp là tổng hợp khái quát về mặt lịch sử, vănhóa gắn liền với sự phát triển kinh tế, xã hội Sự tác động của xã hội ảnh hưởng sựhình thành và phát triển tín ngưỡng và nghệ thuật phục vụ tín ngưỡng Tính đặc thùriêng biệt về nghệ thuật, ngôn ngữ tạo hình của trang trí chạm khắc trên bao lamtrong chùa ở thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XIX Những tài liệu, s ách và điền dãnhằm thiết lập cơ sở cơ bản cho đề tài luận án trên cơ sở kế thừa tài liệu của các nhànghiên cứu đi trước

Phương pháp nghiền cứu điền dã

Phương pháp điền dã tiếp cận trực tiếp từng bao lam, khảo sát, ghi chép, đođạc, chụp ảnh, thống ê cụ thể h nh tượng trên bao lam và hệ thống, phân loại baolam ở sáu ch a Từ đó có cơ sở để so s nh, phân t ch giữa c c bao lam với nhau,giữa bao lam với cửa võng c c v ng T m ra c i h c và giống nhau của bao lam sovới cửa võng, rút ra những đặc điểm chung và riêng của bao lam để hiểu tính đadạng của nghệ thuật trang trí bao lam chùa thành phố Hồ Chí Minh Nhằm đánh giá

hệ thống đề tài, kiểu thức, phong c ch trang tr bao lam ch a và đúc kết về gi trịnghệ thuật bao lam ch a

Tất cả những phương pháp nêu trên nhằm mục đích làm nổi rõ giá trị nghệthuật trang trí chạm khắc trên bao lam trong chùa Việt ở thành phố H ồ Chí Minh

6 Đón g góp m ới của luận án

Từ những nghiên cứu, tìm hiểu các luận điểm của các nhà nghiên cứu, NCSxin đưa ra một số đóng góp mới:

Trang 16

Trước hết, luận án là một công trình khoa học, toàn diện ở Nam Bộ trongviệc dùng ngôn ngữ tạo hình đi sâu khảo tả, phân tích và đánh giá nghệ thuật trangtrí bao lam trong một số ngôi chùa tiêu biểu ở thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài bước đầu đã chỉ ra đặc điểm nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt ởthành phố Hồ Chí Minh Bổ sung phần nghiên cứu về mỹ thuật trang trí cổ củangười Việt ở phía Nam, một mảng nghiên cứu còn rất ít được quan tâm

Lần đầu tiên, gần 150 bao lam tại s áu ngôi chùa được xem xét, thống kê,phân

tích, đánh giá một cách chi tiết và cụ thể về giá trị nghệ thuật thông qua việc khảo tả

Những tài liệu điều tra, khảo s át được thực hiện cụ thể và chi tiết này cũngnhư là một trong những đóng góp mới của luận án

Đề tài là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về một số ngôi chùaViệt tiêu biểu trên cơ sở phân loại, so s ánh nghệ thuật trang trí trên bao lam theongôn ngữ tạo hình Dựa trên việc nghiên cứu một số đối tượng về trang trí chạmkhắc bao lam tại c ác chùa khu vực thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở đánh giá vềhình thức, ý nghĩa của từng biểu hiện mỹ thuật Phân định những điểm giống nhaukhác nhau trong cấu trúc bao lam Phân tích sự nối tiếp và cùng hiện diện của một

số tín ngưỡng trong nghệ thuật trang trí bao lam chùa để tìm ra đặc điểm nghệ thuật bao lam chùa ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó nêu lên giá trị thẩm

mỹ của nghệ thuật trang tr bao lam ch a Đề tài đóng góp vào hiểu biết chung củangành khoa học trên góc độ lý thuyết về nghệ thuật trang trí chùa Việt ở thành phố

Hồ Chí Minh thế kỷ XIX Đây là công trình nghiên cứu mỹ thuật về một sản phẩm làm

đẹp, mang ý nghĩa xã hội, ý nghĩa tâm linh trong không gian trong ngôi chùa Việt.

Tính thực ti n, sự t n tại phát triển nghệ thuật trang tr bao lam ch a gắn liềnvới nghệ thuật tạo hình của vùng đất Nam Bộ và gắn liền với lịch sử văn hóa truyền

Trang 17

thống của người Việt, để góp phần làm sáng tỏ các nhận định trong nội dung nghiêncứu nghệ thuật trang tr bao lam ch a ở thành phố H Chí Minh

Trang 18

Qua việc tổng hợp, phân tích về nghệ thuật trang trí bao lam chùa ở thànhphố Hồ Chí Minh giúp học viên, sinh viên có điều kiện học tập, nghiên cứu và tiếpcận với nghệ thuật trang trí của khu vực Đề tài cũng buớc đầu đóng góp vào việcxây dựng c ác công trình nghiên cứu nghệ thuật trang trí bao lam ở miền Nam nóiriêng và bổ sung vào việc nghiên cứu nghệ thuật trang trí Việt Nam nói chung

Nêu thực trạng bao lam chùa Việt ở thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp bảotồn trùng tu di tích không làm mất đi những giá trị nghệ thuật dân tộc sẵn có và vậndụng hợp lý vào c ác công trình xây dựng hiện nay

6.3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Nghệ thuật trang trí bao lam chùa Việt thành phố Hồ Chí Minh thực sự có giátrị thực tiễn và phản ánh đậm nét văn hóa vùng miền với những giá trị nghệ thuậttạo hình đặc trung

Một là, xác định nghệ thuật trang trí bao lam là một loại hình thuộc nghệ

thuật tạo hình Việt Nam

Hai là, giá trị đặc trung của nghệ thuật trang trí chùa Việt ở Nam Bộ đuợc

thể hiện đậm nét trong trang trí bao lam trong một số chùa tiêu biểu ở thành phố HồChí Minh Đ ồng thời thấy đuợc những quan niệm nhân sinh quan của con nguời ởPhuơng Nam

Ba là, ngôn ngữ biểu đạt thông qua hình tuợng, bố cục, kỹ thuật trên bao lam

chùa Việt ở thành phố H ồ Chí Minh đã cho thấy sự liên tục trong dòng chảy vănhóa truyền thống Việt Khẳng định nghệ thuật trang trí bao lan vẫn còn nguyên giátrị mỹ thuật, giá trị v n hóa tới ngày nay Tuy nhiên, nghệ thuật trang trí bao lamchùa Việt thành phố H Ch Minh cũng cho thấy sự sáng tạo trong nghệ thuật cũngnhu t nh c ch v n hóa mới của nguời Việt ở v ng đất phuơng Nam đó là sự cởi mở,khoan dung và hòa đồ ng sẵn sàng tiếp thu các giá trị của các dân tộc khác để làmmới, đa dạng hơn sắc thái cho mình Khẳng định nghệ thuật trang trí bao lam thểhiện diễn biến lịch sử mỹ thuật Việt Nam ở sự kết nối chạm khắc gỗ Bắc Bộ, tiếpnối và nâng lên một diện mạo mới

Trang 19

Bốn là, Bao lam biểu đạt nhiều giá trị nội dung mới mang tính hiện thực, sự linh hoạt dân gian, mang nét riêng Nam Bộ Sự biến đổi phù hợp tập tục, quan niệm gần gũi với những nét riêng.

Trang 20

Để nêu bật được những đặc điểm riêng và vì luận án thuộc chuyên

ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật nên phải sử dụng cơ sở lý thuyết với

những tiếp cận nghiên cứu theo hướng mỹ học Hegel [41], theo hướng mỹthuật h ọc [140], lý thuyết giao lưu, tiếp biến v ăn hóa [1], [7] và lý thuyết địavăn hóa [41], [47]

1.1.1.1 Tiếp cận nghiên cứu theo hướng mỹ thuật học [140]

Trên góc độ tạo hình, hướng tiếp cận này được rất nhiều nhà nghiêncứu đi trước tiếp cận và sử dụng uận điểm:

Hoa văn trên dải đất chữ S không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để trangtrí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà, chúng là sự kết tinh

“muôn đời muôn thuở” của dân tộc Việt Đã một thời rất dài, hoa văngắn vào cuộc sống thường ngày trước việc ứng xử với c ái đẹp, để trởthành những mảnh tâm hồn nhân thế và cõng trên lưng biết bao vấn đềlịch sử, xã hội của dân tộc [11, tr.8]

Của nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền là một luận điểm rất quan trọng Từluận điểm này, NCS tập trung nghiên cứu nghệ thuật trang trí bao lam trong chùaViệt ở thành phố Hồ Chí Minh, đó là vẻ đẹp biểu hiện cho một không gian của cõi

hư vô trong Phật pháp Nghệ thuật trang trí bao lam như những điểm nhấn trang trí,

là tiếng nói của nhân gian trong ngôi ch a Việt Trên cơ sở lý luận nghệ thuật tạohình khi nghiên cứu hình tượng nghệ thuật chạm khắc trang trí bao lam trong chùaViệt ở Nam Bộ, một phương ph p nghiên cứu chủ đạo nhằm giải quyết hiệu quảnhững lập luận xác thực những nhận định của c á nhân, trước sự hiện tồn của bao

Trang 21

lam Dùng hệ thống lý thuyết, lý luận và các kiến thức chuyên

làm rõ tính mới của luận án trong quá trình đánh giá phân tích c ác tác

lam và không trùng lặp với những nghiên cứu đi truớc

Lý thuyết chỉ ra nghệ thuật, ký hiệu học, hình ảnh trong tự nhiên là cáigốc mà con nguời đã sử dụng nó để biểu đạt suy nghĩ, mong muốn của mình,chữ viết cũng bắt ngu 0 n từ đó Qua qu á trình ph át triển của loài nguời thì sựbiểu đạt ngày càng phức tạp và gắn liền với cuộc sống đuơng đại Mỗi tổ hợphoa văn trên bao lam là tập hợp của nhữn g ký hiệu hay những tín hiệu củanguời xua để lại Đây là phuơng thức truyền đạt đặc biệt mang tính chất kýhiệu hay cũng có thể gọi là các yếu tố đặc thù của nghệ thuật trang trí Cácyếu tố của nghệ thuật trang trí đuợc kết hợp lại với cảm xúc, mong muốn và

kỹ năng của nguời tạo t ác sẽ tạo nên một tổng hòa tín hiệu và đó chính là bốcục của bao lam Giữa chúng hình thành m ối tuơng quan kh á phức tạp, và mỗiphuơng thức loại hình là một loại ký hiệu riêng Vì vậy những lý thuyết theohuớng mỹ thuật học, mỹ học đuợc sử dụng trong luận án để giải mã ký hiệucủa nghệ thu ật trang trí nhằm tổng hợp, phân tích, đánh giá bao lam Lý

thuyết đó chỉ ra nghệ thuật trên bao lam chùa và xác định trang trí bao lam

là một loại hình của nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

ì.1.1.2 Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa [1], [7]

Để thấy rõ đuợc sự tác động qua lại trong văn hóa: Việt - Chăm, Việt - Hoa,Việt - Khmer hay Việt - Ản trong chùa Việt Lý thuyết giao luu và tiếp biến đuợcmột số nhà lý luận áp dụng khi phân tích sự tuơng tác giữa sự gặp gỡ trao đổi, tiếpthu học hỏi lẫn nhau nhằm tìm ra yếu tố cộng sinh

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các gi á trị vật chất và tinh thần do con

nguời s ng tạo và t ch lũy qua qu tr nh hoạt động thực ti n, trong sự tư ng tác với môi truờng tự nhiên và xã hội Giao luu v n hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền v ăn hóa và giao luu là hình thức quan hệ trao

đổi v n hóa c ng có lợi, giúp đ p ứng một số nhu cầu hông thể tự thỏa mãn

Trang 22

của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa

sự trao đổi qua lại hai chiều những sản phẩm v ăn hóa giữa các cộng đ 0 ng dântộc, quốc gia với nhau, là sự giao thoa học tập lẫn nhau, ảnh huởng lẫn nhau,

bổ sung cho nhau để làm phong phú cho v n hóa của m nh

Tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận một chiều các yếu tố văn hóa từ bênngoài (ngoại sinh và biến đổi cho ph hợp với c c yếu tố v n hóa bên trong(nội sinh để làm giàu cho v n hóa của m nh h i niệm tiếp biến v n hóađuợc sử dụng từ những n ăm 1875 - 1880, giao luu v ăn hóa thực chất là sự gặp

gỡ, đối thoại giữa các nền văn hóa Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hóaphải biết dựa trên c i nội sinh để lựa chọn tiếp nhận c i ngoại sinh, từng buớcbản địa hóa để làm giàu, ph t triển v n hóa dân tộc Trong tiếp nhận c c yếu

tố ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng

Đó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hóa của các dân tộc khác,giúp cho văn hóa dân tộc ph át triển mà vẫn giữ đuợc sắc thái riêng của mình

Trang 23

Tiếp biến văn hóa là kết quả của quá trình tiếp xúc, giao luu giữa vănhóa bản địa (yếu tố nội sinh) và một nền văn hóa từ bên ngoài (yếu tố ngoạisinh) Qu á trình giao luu tiếp biến gắn với di ễ n trình giao luu tiếp biến v ănhóa giữa văn hóa của nguời Việt với các dân tộc khác trên đất nuớc Việt Nam

và với nền văn hóa bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Đây là thuyết về sự tiếpnhận, một chiều, mang tính ảnh huởng, các yếu tố, giá trị, đặc điểm văn hóa

từ bên ngoài, biến đổi cho phù hợp với các yếu tố, giá trị, quan niệm văn hóabản địa, để biểu đạt, phản ánh tâm h 0 n, tính cách uớc muốn của chủ thể đuợctiếp nhận

Nói về sự giao luu văn hóa, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền đã viết

“Việt Nam là nơi tụ hội các dòng v ăn hóa duới dạng giao luu (cả vô thức lẫn

hữu thức)” [10, tr.67] Còn theo tác giả Radugin trong cuốn sách Từ điển Bách khoa văn hóa học đã viết :

Tiếp nhận văn hóa (L.ad-cultura P.Acculturation) quá trình một nhómsắc tộc tiếp nhận v n hóa của một nhóm sắc tộc h c tiến bộ hơntrong tiến trình giao luu văn hóa giữa hai bên Trong nhân loại học,

“tiếp nhận văn hóa” có nghĩa một nhóm sắc tộc này ảnh huởng đếnmột sắc tộc khác về mặt v ăn hóa trong khi hai bên quan hệ chặt chẽvới nhau Tiếp nhận v n hóa là một h nh th i của truyền b v n hóa

và để chỉ qu á trình tiếp xúc này Nói cách chặ t chẽ, tiếp nhận v ănhóa bao g m việc biến đổi về v n hóa giữa cả hai bên trong hi tiếpxúc một thời gian dài [1, tr.448 -449]

“Tiếp xúc v n hóa - những mối liên hệ giao luu nhiều mặt, dẫn đến sựtrao đổi inh nghiệm, c c gi trị vật chất và tinh thần giữa những cộng đ ngdân tộc, quốc gia và tổ chức v ăn minh hóa” [1, tr.449] Nhận định trên chothấy lý thuyết giao luu tiếp biến văn hóa là lý thuyết khoa học khi áp dụngvào đề tài luận n để thấy bối cảnh v n hóa làm cơ sở cho việc t m hiểu nghệthuật trang tr bao lam Thuyết giao luu v n hóa là thuyết lấy ết quả của sự

Trang 24

giao lưu tiếp biến để NCS phân tích Việc tiếp thu văn hóa trên

được các nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ, giao lưu tiếp biến,khẳng định bản sắc dân tộc, ghi lại dấu ấn địa phương cùng chiều dài lịchsử

của dân tộc, nhà nghiên cứu Nguyễ n Chí Bền đã nhìn lý thuyết này từ

Ản Độ, và sau đó, là Trung Quốc, đã không làm hòa tan nền văn hóa bản địa, màchỉ làm cho nó thêm phong phú Sức s áng tạo và trí tưởng tượng của dân tộc nàydường như được kích thích phát triển trong sự tiếp biến văn hóa (acculturation) ”[124, tr.58]

Qua lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa đã chứng minh trên bao lam, người Việt sẵn sàng tiếp thu các giá trị của các dân tộc khác để làm mới, đa dạng hơn sắc thái cho mình.

Có hai điểm quan trọng khi kiến giải về giao lưu và tiếp biến: một là giao lưu

và tiếp biến có thể phát sinh từ cộng đồ ng thiểu số có trình độ văn hóa thấp Hai, lýthuyết này tr i ngược với một số quan niệm, một số lý thuyết cho rằng nhóm cộngđồng thống trị trong quá trình đồng hóa không tiếp nhận sự tác động ngược chiều

NCS đã tập trung dựa vào những lý thuyết cơ bản đó nhằm chỉ ra nghệthuật trên bao lam chùa làm cơ sở cho những luận giải vấn đề ch nh của luận n

Trang 25

ì.1.1.3 Lý thuyết địa văn hóa [41], [47]

Lý thuyết này để so s ánh ý nghĩa của nghệ thuật trang trí bao lam trong chùaViệt và lấy triết học về dân tộc làm cơ sở c ăn bản

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm về vùng văn hóa đuợc

viết nhu sau:

Vùng văn hóa: một thực thể văn hóa bao gồm những nét đặc trung,những sắc thái riêng mà các vùng kh ác không có hoặc có mà khôngđiển hình, không tiêu biểu Những nét đặc trung VHV (văn hóavùng) thể hiện trên các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể

Học thuyết của các nhà dân tộc học Xô Viết truớc đây về khu vựclịch sử - dân tộc học, hay lịch sử - v ăn hóa, thực chất là học thuyết

về VHV (v ăn hóa vùng) [47, tr.818]

Nghiên cứu địa văn hóa là nghiên cứu về địa du, phong tục tập quán,

v ăn hóa của một địa phuơng nhất định Tâm lý sinh hoạt theo thói quen, hoặctheo một cảm quan thẩm mỹ khi bị t ác động bởi môi truờng tự nhiên và môitruờng của một chính thể nhất định thì tính cách, thói quen, tâm lý của connguời thay đổi phù hợp với điều kiện mới Đặc điểm của nhóm nguời hay mộtcộng đ ồ ng thay đổi theo một huớng chung sẽ tạo ra đặc điểm kh ác biệt so vớivùng miền khác Vùng văn hóa Nam Bộ, mà trung tâm là Sài Gòn - Gia Định

là một trong những v ng v n hóa mang đặc trung riêng biệt

Lý thuyết địa văn hóa - vùng văn hóa qua một số luận điểm của các nhà

nghiên cứu nhu sau:

Một phuơng thức biểu hiện chủ quan thứ ba tiêu biểu ở chỗ: nó bỏqua tất cả những gì nói đúng ra, thực sự có giá trị nghệ thuật ởtrong thời qu á khứ và trong thời hiện tại, để chỉ nêu lên truớc côngchúng cái tính chất chủ quan ngẫu nhiên của nó mà thôi nhu ta thấy

nó xuất hiện ở trong những công việc của đời sống hằng ngày Tính

Trang 26

chất chủ quan này chẳng qua là một hình thức độc đáo củanhận

thức hàng ngày đối với cuộc sống nôm na (Heghen) [41,tr.436]

Có thể nói, với những tính chất và ngôn ngữ tạo hình mang tính đặc thùđịa phuơng, đồ án trang trí bao lam trong chùa Việt đã tổng hợp kết tinh mọitinh hoa của nghệ thuật dân tộc để tạo ra diện mạo hình thể và không gian mới

“Nghệ thuật không phải tóm lại là cố gắng bào nhẵn nội dung của nó bằngnhững biểu hiện chung chung, mà tr ái lại nhằm cấp cho nội dung những nétngày càng riêng biệt biến nó thành một cá tính sinh động” [41, tr.434]

Nghiên cứu khảo sát một số t nh địa phuơng chủ yếu mang t nh đặc thùthuộc vùng đất phuơng Nam - đã t ác động trực tiếp đến nghệ thuật thể hiệnhiệu quả tạo hình, nhà nghiên cứ u Nguyễ n Trung Tín đã có những nhận xét vềtính địa phuơng hóa “Thông qua việc cải biên những yếu tố kế thừa và bổsung thêm một số yếu tố khác cho phù hợp với tâm lý và thẩm mỹ dân tộcViệt Nam” [143, tr.84]

Thuyết về địa văn hóa - vùng văn hóa đã giúp NCS thêm có cơ sở đểchứng minh t nh địa phuơng là một trong những nhân tố quyết định đến gi trịtruyền thống của bao lam Đặc điểm vùng miền về môi truờng tự nhiên, xã hội

đã t ác động vào nhận thức của nguời nghệ nhân khi tạo t ác t ác phẩm Việc ápdụng lý thuyết địa văn hóa - vùng văn hóa dựa trên hệ thống các giá trị vănhóa vùng miền về cả không gian, thời gian trong việc xem xét đ ồ án trang tríbao lam tại chùa của nguời Việt ở thành phố Hồ Chí Minh, sẽ làm nổi rõ giátrị đặc trung nghệ thuật trang trí bao lam chùa của nguời Việt tại Nam Bộ

V n hóa v ng miền x c định hông gian v n hóa dựa trên những v ng lõi của

v n hóa, d ở chung một v ng v n hóa, đ n trang tr bao lam trong ch aViệt đi theo một hệ thống chung về tạo d ng, về phong c ch tạo ra gi trị nghệ

thuật riêng Yếu tố địa v ăn hóa sẽ là điểm nhấn trong tỉnh cách văn hóa mới của người Việt tại phương Nam: cởi mở, phóng khoáng, hào sảng đặc trưng.

Thực tế trong qu tr nh nghiên cứu, tất cả c c lý thuyết, phuơng ph p tiếp

Trang 27

cận nêu trên luôn đan xen nhau, bổ trợ cho nhau và giúp NCS một

nhất trong quá trình thực hiện đề tài của luận án

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan

1.1.2.1 Đồ án trang trí

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam không có từ đồ án, cũng không có từ đồ

án trang trí, nhung có từ đồ án tốt nghiệp, đồ án thiết kế, đồ án quy hoạch [47,

tr.1047] Theo một số cuốn từ điển khác giải thích nghĩa của đồ án mang tính chiết

tự, đồ là bản vẽ, án là phuơng án C ách giải thích trên chỉ đúng với nghĩa rộng,nhung ở cả Trung Quốc và Việt Nam một nghĩa hẹp của đồ án tuơng ứng, đồngnghĩa với hoa văn

Đ ồ án trang trí đuợc ghép bởi khái niệm đồ án và trang trí Trong đó, đồ án làsản phẩm thị giác do con nguời sáng tạo ra nên không mang tính tự nhiên thiên tạo

Đ ồ án mang đặc tính thiết kế ngoài hình thức thị giác luôn phải kèm theo đó lànhững ý đồ, tức là những hình thức có nghĩa Đ ồ án đuợc thể hiện trên mặt phẳng,trong không gian và cả thời gian, có thể tĩnh nhung cũng có thể động Và khái niệm

về Đồ án trang trí thuờng đuợc gọi là hoa văn, họa tiết hoặc bao hàm một nghĩa rộng hơn Đồ án trang trí là một chuỗi sắp xếp kích thuớc, tuơng quan của những

đuờng nét, hình dáng, mảng khối, màu sắc, họa tiết, có thể đuợc lặp đi lặp lại nhằmtạo ra tiết tấu, nhịp điệu để đạt tới v đẹp thống nhất trong hệ thống trang trí Nói

c ách khác, đồ án trang trí chính là một hệ thống sắp xếp làm nổi rõ ý đồ sáng táccủa nghệ sĩ bằng tất cả các yếu tố ngôn ngữ trang trí để xây dựng nên một tác phẩm

Đ ồ án trang trí đuợc nghĩ ra bởi một nguời hay một nhóm nguời, tập trung vàonhững hệ thống nhằm, thể hiện, di n đạt bằng h nh tuợng cô đọng, điển h nh Đ ntrang trí còn là tập hợp của một hệ thống c ác hoa văn khác hay giống nhau trongmột tổng thể hài hòa, liên kết với nhau khăng khít, chịu chi phối của một nội dungnhất định Đ ồ án trang trí mang một nội dung cụ thể và thuờng đuợc sử dụng nhiềulần trong một hệ thống trang trí Đ ồ án trang trí còn mang một đặc trung không thể

Trang 28

lẫn giữa c ác hệ thống trang trí nơi này với nơi khác, vùng này với

giữa dân tộc này với dân tộc khác

ì.1.2.2 Hình tượng trang trí

Thuật ngữ trang trí là “Nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và

tinh thần của con nguời” [90, tr.135, 136] Nghệ thuật trang trí là một thuật ngữ dunhập từ nuớc ngoài Nghệ thuật trang trí thuộc trong phạm trù mỹ thuật và đuợc nhànghiên cứu Trần Lâm Biền viết:

Hoa văn trên dải đất chữ S không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để trangtrí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà, chúng là sự kết tinh

“muôn đời muôn thuở” của dân tộc Việt Đã một thời rất dài, hoa văngắn vào cuộc sống thuờng ngày truớc việc ứng xử với c ái đẹp, để trởthành những mảnh tâm hồn nhân thế và cõng trên lung biết bao vấn đềlịch sử, xã hội của dân tộc [11, tr.8]

Nói đến trang tr là nói đến việc làm đẹp, nhung nhu thế là chua đủ, cái haycủa nghệ thuật trang trí rất cần đuợc thảo luận Nếu nhìn từ góc độ kí hiệu học thìtrang trí là những tín hiệu thị giác của một bề mặt chứa đựng những cái cần đuợcbiểu đạt

Theo Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông của tác giả Đặng Thị Bích Ngân

hình tuợng đuợc hiểu theo khía cạnh khác cho thấy “Có ý nghĩa sâu sắc và đặctrung gạn lọc từ các hình ảnh d thấy hoặc quá quen thuộc bởi sự sáng tạo củanguời nghệ sĩ” [90, tr.85]

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phuơng thức chiếm lĩnh, thể hiện và

tái tạo hiện thực theo quy luật của tuởng tuợng, hu cấu nghệ thuật Nghệ sĩ s ng tạo

ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tu tuởng và tình cảm củamình, giúp con nguời thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ýnghĩa muôn màu muôn v của bản thân, của thế giới xung quanh Khác với các nhàkhoa học, nguời nghệ sĩ hông di n đạt trực tiếp ý nghĩa, t nh cảm bằng khái niệmtrừu tuợng, bằng định lý, công thức mà bằng hình tuợng, nghĩa là bằng cách làm

Trang 29

sống lại một cách cụ thể, gợi cảm những sự việc, những hiện tượng

hợp với thời đại” [90, tr.135, 136]

Như vậy có thể nói khái niệm hình tượng nghệ thuật trang trí là hình tượng

nghệ thuật tạo hình, là đ án trang trí có sự sáng tạo của con người thông qua cảmxúc, sự quan sát tinh tế và đôi bàn tay khéo léo Hình tượng nghệ thuật trang tríphản ánh các tiêu chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo còn gọi là hình tượng của nghệ thuậtlàm đẹp, hình tượng nghệ thuật trang trí có mặt trong mọi lĩnh vực, trong mọi môitrường kể cả ở những nơi công cộng Hình tượng nghệ thuật trang trí do con ngườisáng tạo nên, lấy đối tượng từ trong tự nhiên, cuộc sống làm họa tiết trang trí Cáchọa tiết được đơn giản, cường điệu hóa, biểu trưng hóa nhưng vẫn giữ được tính đặctrưng của họa tiết Ngôn ngữ của h nh tượng trang trí tạo bởi các yếu tố đường nét,mảng khối, đậm nhạt, màu sắc sắp đặt trong một bố cục trang trí theo nguyên tắcđăng đối, lặp lại, đảo chiều, xen kẽ và hình mảng không đều

ì.1.2.3 Bao lam

Bao lam hay còn gọi là cửa võng, khung thanh vọng hay diềm gỗ là một cấu

kiện kiến trúc chùa để trang trí làm đẹp cho công trình kiến trúc và đặc biệt làtạo/phân định không gian riêng biệt, nâng cao giá trị thiêng của khu vực thờ

Bao lam dưới những tên gọi khác nhau theo từng vùng miền Đây là một sản phẩm tâm linh, có cách bài trí nội thất đặc biệt ở những không gian thờ tự linh thiêng.

Trong lĩnh vực kiến trúc do cách sử dụng thuật ngữ ở từng địa phương mà

Trang 30

cùng một từ, cùng một cấu kiện kiến trúc có nhiều cách gọi tên khác nhau Chẳnghạn như y môn - áo cửa vốn ban đầu làm bằng vải, các chùa miền Bắc hiện vẫn sử

Trang 31

dụng, về sau để cho bền, người ta thay bằng chất liệu gỗ phủ sơn.

của nghệ thuật điêu khắc gỗ Trung Hoa

Loại hình diềm gỗ trang trí mà ta vẫn gọi là cửa võng do chữ “thùy hoa môn”

mà ra Thùy là rủ xuống, hoa là hoa văn Thùy hoa môn là loại cửa có diềm gỗ hoavăn rủ từ trên xuống Nhưng trong thuật ngữ điêu khắc kiến trúc của Trung Quốc,thì “quải lạc” hoặc “mi tử” mới chính là gốc của các dạng thức cửa võng, khungthanh vọng, bao lam Cho đến nay, sự xuất hiện các diềm gỗ trang trí kiểu cửa võng

ở c ác ngôi chùa người Việt đều xuất hiện khá muộn, phần lớn vào thời Nguyễn.Cũng xin nói thêm cửa võng và cửa khám rất khác nhau, dù có chung một kỹ thuậtchạm thủng các phiến gỗ mỏng

Vấn đề phân tích khái niệm cửa võng, y môn, diềm trang trí, là các thuật ngữlấy từ c ách đặt tên vị trí c ác đồ án trang trí của thợ mộc vùng Bắc Bộ có từ trướcthế

kỷ XVII Ở miền Nam có rất nhiều loại bao lam khác nhau trong chùa như bao lamgian, bao lam bàn, bao lam sập, bao lam áng thờ

Cửa võng, y môn - áo cửa theo cách gọi ở Bắc Bộ, khung thanh vọng theocách gọi ở Cố đô Huế và bao lam theo cách gọi ở Nam Bộ Theo một khía cạnh nào

đó thực chất là một thành phần trong trang trí kiến trúc Có chăng c ách gọi tên ởBắc Bộ là gọi theo cấu trúc của cấu kiện, cách gọi tên ở Cố đô Huế là gọi theo kếtcấu của bộ phận giằng bộ khung theo phương ngang, còn miền Nam người Việt gọitên theo chức n ng của cấu kiện trong kiến trúc “Cửa võng bao giờ cũng ở giữachính điện hay b ái đường của đình, chùa, đền, miếu phía trên, giữa hai cột cái.Cửa võng là khu phức hợp chạm khắc tinh vi, phong phú kiểu c ch trên cơ sở lắpghép các xà, kèo, mảng gỗ, hoành phi” [126, tr.509] Bên cạnh đó, do cấu tạo của

Trang 32

tấm trang trí chính giữa thường có cấu trúc võng xuống như tấm rèm bằng gỗ, do

Trang 33

vậy mà trong dân gian ở Bắc Bộ gọi là “cửa võng” Còn nhà nghiên

Do có nhiều cách gọi về một thuật ngữ/ một cấu kiện nhu vậy, nên trong luận

án, NCS sử dụng thuật ngữ “Bao lam” để thể hiện phuơng ngữ ở Nam Bộ và bảo

đảm sự thống nhất trong toàn bộ luận án

Bao lam đuợc trang trí bằng kỹ thuật chạm khắc hoa văn, trổ thủng hay “nẩynền” (chạm nổi) Các họa tiết trang trí thuờng đuợc tạo tác theo đồ án trang trí: tứlinh (long, ly, quy, phụng), tứ quý, tứ thời, hoặc cây, cỏ, hoa, lá, chim, thú, chữvạn Mục đích đuợc làm ra nhu một tấm màn chắn truớc bàn thờ, nó có rất nhiềukiểu dáng, hình thức, tùy theo địa phuơng, vùng miền Tuy vậy, cấu trúc bao lam,cửa võng, y môn, khung thanh vọng có công thức chung g m 3 phần ghép lại: phầntrên thuờng là một hay nhiều tấm ván chạm làm thành một tấm diềm lớn che chắn

từ xuyên hạ (xà), có chung kiểu thức trang trí với hai miếng hai bên, thuờng có cấutrúc võng ở giữa Phần 2 và 3 là phần hai bên, g Ồm các tấm ván chạm tiếp nối từphần 1 chạy dài xuống duới theo hai cây cột đứng hai bên, đăng đối với nhau về họatiết trang trí, ba “thớt” này liên kết lại tạo thành bố cục có “hình chữ U nguợc” [143,tr.76] Khoảng không gian giữa xuyên hạ, xuyên trung và thuợng là liên ba chứkhông phải là cửa võng (bao lam), là phần chạm trổ trang trí che chắn bên trên Liên

ba có cấu tạo đa dạng, liên kết nhiều hình thức với nhau nhu ô hộc, song tiện, vánchạm lộng, ván khảm xà cừ

Bao lam, do đặc trung ở miền Nam với điều kiện khí hậu mua nhiều, các giađình khá giả, đình, chùa thuờng lợp mái bằng “ngói âm duơng” vì vậy mà cấu trúcmái có các thanh gỗ dài, bản rộng từ 10 đến 12cm, dầy khoảng từ 1 đến 2cm chạysong song từ nóc chùa xuống đuôi mái, trên c ác thanh này, c ác viên ngói phẳngđuợc xếp gối lên và giáp mí ở giữa các thanh gỗ Phía trên những viên ngói phẳng

là các lớp ngói đuợc xếp một hàng úp ch ng lên với hai hàng ngửa hai bên và viên

Trang 34

ngói trên chồng lên viên ngói dưới Như vậy phần dưới, trong của

các thanh lam là phần thô của mái, gầm bàn, gầm sập, phần bao này

tại Nam Bộ gọi với tên chung là Bao lam - Bao bọc, che chắn các thanh

lam.

Đã có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tranh luận vấn đề này, theo NCS,

do sự khác nhau của kiến trúc chùa Bắc Bộ - Nam Bộ nên dẫn đến có nhiều cáchgọi Miền Bắc gọi cấu kiện trang trí ở chính giữa là cửa võng, cấu kiện trang trí ởhai bên là áo cửa, trong khi miền Nam gọi chung là bao lam Từ đặc điểm đó dẫnđến việc cách gọi tên là bao lam sẽ mang định danh rộng hơn

Theo nghĩa triết tự chữ Hán thì bao lam còn là một sự bao che cho một phầnbiên của một đồ vật nói chung Như vậy bao lam được trang trí khá rộng, còn cửavõng, khung thanh vọng chỉ khuôn trong một không gian kiến trúc nhất định Vấn

đề bao lam, khung thanh vọng và cửa võng sau khi phân giải, sát ngữ nghĩa, s átcông năng kiến trúc, NCS tạm đưa ra luận điểm có thể xem trang trí bao lam vàtrang trí cửa võng, khung thanh vọng ở một khía cạnh nào đó lại là thuật ngữ tươngđồng thì ít mà khác biệt thì nhiều

Nhìn chung cách gọi Bao lam, Cửa võng, Khung thanh vọng chỉ mang tính

chất dân gian và mang tính định danh theo thói quen Bên cạnh đó c ăn cứ vào bằng

“Xác lập kỷ lục” do Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ Việt Nam ký và Tổng giámđốc Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam - Nxb Thông Tấn Xã Việt Nam xác lập vàongày 30 tháng 11 năm 2007, HĐTV.VB.GXL.KL số 426/KLVN/2007, trong bằngcó

Trang 35

viết “Chùa Giác Viên - Ngôi chùa có bao lam “B ách điểu” lớn nhất Việt Nam” Dựa

Trang 36

vào những lập luận trên và ngôn từ trong văn bản qui chuẩn của

Việt Nam, để thống nhất tên gọi trong luận án, NCS sử dụng tên gọi là bao lam.

Bao lam đặt trong dòng chảy nghệ thuật là đại diện cho lịch sử thời đại, lịch

sử mới, cuộc sống mới, mang tính riêng ở Nam Bộ Nam Bộ mang tính thực dụngtrong đó bao lam là công cụ tạo ra không gian Tuy bao lam không là yếu tố tạo ra

tính thiêng nhung nó nâng cao giá trị thiêng.

Nghệ thuật trang trí bao lam trong chùa không chỉ nói lên giá trị về văn học,lịch sử mà còn là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, là những câu chuyện đầytính nhân văn Với tài ba đuợc kế thừa từ cha ông, các nghệ nhân nguời Việt đãtrang trí cho bao lam một giá trị nghệ thuật riêng

1.1.3 Lịch sử vùng đất ở Sài Gòn - Gia Định - thành phố Hồ Chí Minh

1.1.3.1 Vị trỉ địa lý thành phố Hồ Chỉ Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn tiếp giáp với 6 tỉnh g Ồm phía bắc và phíađông là các tỉnh Bình Duơng, Đ ồng Nai và một phần tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Phíatây là các tỉnh Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang Về phía nam tiếp giáp vớiBiển Đông, mà trực tiếp là vịnh Đ ng Tranh và vịnh Gành Rái

Vùng đất thành phố H ồ Chí Minh có chế độ gió mùa tạo nên nhịp điệu mùa

rõ rệt: hết mùa khô sẽ đến mùa mua Từ tháng 11 đến tháng 4 là thời kỳ gió mùaĐông - Bắc, là mùa khô Từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây - Nam, làmùa mua, luợng mua trung bình 2.000mm Trịnh Hoài Đức đã nói “Bốn mùa đều là

hạ, mua xuống ấy là thu” [39, tr.11] mà để chỉ khí hậu của Gia Định

Nhìn từ trên cao, thành phố Hồ Chí Minh là một vùng đất chằng chịt kênhrạch, sự phong phú của hệ thống sông ngòi nhìn nhu c ác tuyến, tỏa tia C ác yếu tốthiên nhiên nhu khí hậu, sông rạch, biển, đất tác động lẫn nhau làm cho cảnh quanvùng này luôn ở trạng thái động Từ cao nguyên đất đỏ còn luu dấu tích của núi lửaxua đến bậc thềm phù sa cổ, đồng bằng thấp phù sa mới, đến những vùng đất đangđuợc b ồ i đắp hằng ngày Vùng đất này đã thể hiện sự cổ đại trong hiện đại, nơi đâyhiện hữu cả núi, cả rừng, cả cao nguyên và đ ng bằng Thành phố H Ch Minh là

Trang 37

đầu mối giao thông quan trọng, là tuyến đuờng giao thuơng hàng hải và là một cảng

Trang 38

biển trước khi phát triển thành một thành đô đúng nghĩa Người

ì.ì.3.2 Sơ lược lịch sử Sài Gòn - Gia Định - thành phố Hồ Ch ỉ Minh

Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy đất Nông Nại làm phủ GiaĐịnh, lấy đất Đ 0 ng Nai lập huyện Phước Long và lấy vùng Sài Gòn làm huyện TânBình, dựng dinh Trấn Biên, lưu dân từ c ác nơi tới định cư, lập ấp Thành phố H0Chí Minh lúc này nằm chủ yếu trên phần đất của huyện Tân Bình Năm 1772, tướngNguyễn Cửu Đàm cho đắp lũy Bán Bích bảo vệ c ác đơn vị hành chính, quân sự,khu dân cư, chợ và từ đây hình thành một đô thị với đúng ý nghĩa của Đô Tháng 11năm 1799 Nguyễn Ánh tổ chức lại việc cai trị đã chia làm 3 địa giới là Trấn Biên,Phiên Trấn và Long H

Vậy, thành phố H 0 Chí Minh được hình thành cơ bản trên cơ sở là thành SàiGòn - Gia Định cũ và trên nền của một trong những trung tâm Đàng Trong là Đ 0ngNai - Gia Định Trải qua các thời kỳ, tên gọi của mảnh đất thành phố H0 Chí Minh

đã được ghi dấu ấn bằng những tên gọi như: Năm 1698 - 1790: phủ Gia Định Năm

1790 - 1802: Gia Định kinh N ăm 1802 - 1808: Gia Định trấn N ăm 1808 - 1836:Gia Định thành Năm 1886: Sài Gòn - Gia Định được gọi là hòn ngọc Viễn Đông

Từ 1976 - nay: Sài Gòn được đổi tên là thành phố H0 Chí Minh

Thành phố H Ch Minh là đầu mối giao thông với sự có mặt của các tuyếngiao thông huyết mạch như đường ô tô, đường sắt, đường biển, đường sông vàđường hàng không Do đó việc diễn ra sự giao lưu với c ác vùng trong nước, cácnước trong khu vực cũng như trên thế giới rất thuận lợi đã có từ rất lâu đời

ì.ì.3.3 Cư dân ở Sài Gòn - Gia Định - thành phố Hồ Ch ỉ Minh

Thành phố H 0 Chí Minh có nhiều lớp dân cư sinh sống cộng cư, đan xennhau Lịch sử khai khẩn vùng đất này chỉ mới ba trăm năm nhưng lịch sử về cư dânvùng đất này đã có từ lâu với sự biến thiên của tự nhiên và xã hội

Trang 39

Các tộc người sinh sống ở Nam Bộ

Trong các tộc người sinh sống ở vùng đất Sài Gòn xưa, trước khi có côngcuộc khẩn hoang 1698 thì tại nơi đây đã có nhiều tộc người bản địa khác nhau cùngsinh sống rải rác như Xtiêng, Mạ “dân tộc Xtiêng và dân tộc Mạ đã sinh tồnhàng bao thế kỷ, không bị tan vỡ nhưng cũng không tiến lên được” [42, tr.201]

Người Việt

Sách Địa chỉ văn hóa thành phố Hồ Chỉ Minh cho NCS có một góc nhìn tổng

thể về người Việt tới khai hoang lập ấp ở Sài Gòn:

Ông cha ta khai mở vùng Sài Gòn và cả vùng lưu vực Đ ồ ng Nai này:những người Việt Nam hồ i cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII cho đến gầnhết thế kỷ XVII đã chinh phục thiên nhiên, làm chủ đất đai “mở cõi”bằng chiếc búa phá rừng, bằng cái phảng chém cỏ, bằng lưỡi cày với đôitrâu; chính vì thế mà sự nghiệp vững đời đời [42, tr.300]

Trong c ác tộc người cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh thì người Việt chiếm

đa số và là chủ thể v n hóa ch nh tại đây, trên nền v n hóa của người Việt đi haihoang, những người con của đất Việt đã dần hình thành nét đặc trưng văn hóa Nam

Bộ Với ý chí, tài năng, sức lao động và sự s áng tạo sẵn có, người Việt cùng với cáccộng đồ ng dân tộc khác như Khmer, Hoa, Chăm đã biến vùng đất hoang vu thànhmột thương cảng sầm uất, n ng động với v n minh miệt vườn đặc trưng tại v ng đấtmiền Nam tổ quốc

Người Khmer

Thật hó để x c định người hmer định cư ở v ng đất này chính xác từ n mnào nhưng theo nhiều thư tịch cũ ghi lại thì những người Khmer đầu tiên đã chọnnhững v ng đất cao ở Nam Bộ để sinh sống hi người Xiêm đ nh bại Chân ạpnăm 1432 Người Khmer bị ảnh hưởng của văn hóa Phù Nam ở miền Nam, tiếp thuđạo Bà L a Môn từ Ản Độ và ảnh hưởng Phật gi áo Nam Tông của người Xiêm Thế

kỷ XVI, họ cùng với lớp cư dân Việt đầu tiên đào ênh nước tạo thuận lợi tronggiao thông đường thủy cho việc vận chuyển, sinh sống Đ ng thời họ là những cư

Trang 40

dân giỏi về trồng lúa nước đã góp phần trong công cuộc khẩn

Năm Kỷ Mùi, 1679, đoàn người Hoa của Trần Thượng Xuyên và Trần AnBình đến xin chúa Nguyễn tị nạn, được sự chấp nhận của chúa Nguyễn, TrầnThượng Xuyên và Trần An Bình vào cửa biển Cần Giờ đến đóng đô ở Bàn L ân -Biên Hòa “Trong lớp cư dân mới đến vùng Đ ồng Nai - Gia Định vào thế kỷ XVII,còn có một số lớn người Hoa từ Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) ” [80,tr.44] Theo dòng chảy của lịch sử, từ những đợt di cư lớn của người Hoa vào thànhphố, cộng đ ng người Hoa ở thành phố H Ch Minh đã thực sự đóng góp vào sự đadạng và phong phú của mỹ thuật trang trí bao lam tại nơi đây Những giá trị nghệthuật trang trí bao lam chùa Việt đã thể hiện rõ sức sống mới của người Hoa và sựgiao lưu tiếp biến nghệ thuật của nghệ nhân Hoa - Việt với các dân tộc anh em trênmảnh đất của thành phố

Người Chăm

Người Chăm đến định cư tại thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu từ biến cố lịch

sử năm 1692 ở Đàng Trong, do xung đột với chúa Nguyễn nên đã sang Campuchiasinh sống Năm 1699, người Chăm theo Nguyễn Hữu Cảnh về định cư ở Tây Ninh,dần dần người Chăm về Sài Gòn đông dần và theo dòng lịch sử, người Chăm Islam

ở Nam Bộ đã tạo nên một sắc thái văn hóa riêng đặc sắc ở vùng đất này

Như vậy thành phố H Ch Minh là một v ng đất đa tộc người, rất đa dạng,nhiều thành phần ở tứ phương “Thành Gia Định nước Việt Nam ta Người bốnphương ở lẫn nhau, mỗi nhà tự có tục riêng” [39, tr.141] và “Người Sài Gòn qui tụ

từ tứ xứ, lúc sơ khai cũng như suốt quá trình phát triển” [42, tr.448] Những tộcngười bản địa, người Việt - chủ thể của v ng đất, cộng đ ng người Khmer, Hoa,

Ngày đăng: 22/12/2020, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w