Hoàn cảnh của ông P như trong quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không?. Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 BLDS 2015 quy định : “Khi một ngư
Trang 1CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
(Phần chung)
Bộ môn: Những quy định chung về luật dân sự, tài sản, thừa kế
Giảng viên: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 02 năm 2020
Trang 2Tóm tắt bản án số: 11/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017 về “V/v: Tuyên bố một
người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi” của Tòa án nhân dân thị
xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
1.1. Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường hợpmất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
1.2. Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân
Hồ Chí Minh.
Tóm tắt tình huống.
2.1.Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện)
2.2.Trong bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của
Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của bản
án có câu trả lời
Trang 32.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của tòa án.
2.5 Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sởkhi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS 2005 và BLDS 2015)
2.6 Giao dịch do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân córàng buộc pháp nhân không? Nêu cơ sở pháp lý
2.7 Trong tình huống trên, hợp đồng ký kết với Công ty Nam Hà có ràng buộcCông ty Bắc Sơn không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý
VẤN ĐỀ 3: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA PHÁP NHÂN
Tóm tắt bản án số 10/2016/KDTM-PT ngày 17/03/2016 về “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
3.1. Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên và trách nhiệmcủa các thành viên đối với nghĩa vụ của pháp nhân
3.2. Trong bản án được bình luận, bà Hiền có là thành viên của Công ty Xuyên Á hay không? Vì sao?
3.3. Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay của
Trang 4VẤN ĐỀ 1 NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN
Tóm tắt Bản án số: 11/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017 về “V/v: Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi” của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam 1
Bà Vủ Thị H (người yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự) và ông Lê Văn P(người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quan hệ vợ chồng Mục đích yêu cầu là
để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông P Theo lời khai của bà H và ông P thìông P bị bệnh tâm thần Sau khi đã được xuất viện thì điều trị ngoại trú, dưới sựquản lý của trạm y tế xã Đ
Dựa trên căn cứ là kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm Pháp ytâm thần khu vực Miền Trung, yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn P có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi của bà Vủ Thị H được chấp nhận Tòa chỉ định bàHuỳnh Thị T (người nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến tuổi trưởng thành) là người giám
hộ cho ông P Đồng thời, bà H phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm
1.1 Hoàn cảnh của ông P như trong quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 ( BLDS 2015) quy định : “Khi
một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của
cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.
Theo Bản án số: 11/2017/QDDS-ST:
• Ông P tuy bị tâm thần nhưng đã được xuất viện và điều trị ngoại trú,dưới sự quản lý của trạm y tế xã Đ cho đến nay nên không có căn cứcho rằng ông không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
• Không có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơquan, tổ chức hữu quan về việc tuyên bố ông P mất năng lực hành vidân sự
1Từ đây về sau viết tắt là Bản án số: 11/2017/QĐDS-ST.
Trang 5• Có kết luận giám định pháp y tâm thần số 268/KLGĐTC, ngày22/5/2017 đối với ông Lê Văn P của Trung tâm Pháp y tâm thần khuvực Miền Trung kết luận về mặt pháp luật, ông P có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi.
Vì vậy, hoàn cảnh của ông P không thuộc trường hợp mất năng lực hành vidân sự
1.2 Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự
Bảng so sánh:
Hạn chế năng lực hành
vi dân sự (Điều 24, BLDS 2015)
Mất năng lực hành
vi dân sự (Điều 22, BLDS 2015)
Cơ quan có thẩm quyền
tuyên bố quyết định
Tòa án
các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình
Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
Chủ thể yêu cầu Người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan,
tổ chức hữu quan
giám định pháp y tâm thần
Người đại diện Tòa án quyết định người
đại diện theo pháp luật
và phạm vi đại diện2
Người mất năng lực hành vi dân sự “phải
có người giám hộ”;
2 Từ điều 319 đến điều 321 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 6người giám hộ có thể là người giám hộ
đương nhiên (Điều
53 BLDS 2015) hay
giám hộ được cử
(Điều 54 BLDS 2015) (khi không có
người giám hộ đương nhiên)3
dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, còncác giao dịch khác phải được sự đồng ý của người đại diện
Mọi giao dịch dân
sự phải do người đạidiện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Hủy bỏ tuyên bố Khi không còn căn cứ tuyên bố,theo yêu cầu
của chính người đó hoặc của người cón quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
1.3 Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 quy định: “Người nghiện ma túy, nghiện các
chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
Tuy nhiên trong trường hợp của ông P, theo kết luận của giám định pháp ytâm thần, thì ông P bị tâm thần dẫn đến khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành
3 Đỗ Văn Đại và Nguyễn Thanh Thư (2011), “Vấn đề bảo hộ người mất năng lực hành vi dân sự”, Tạp chí
Khoa học pháp lý, (số 5), tr.15.
Trang 7vi Do vậy, ông P không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dânsự.
1.4 Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tiêu chí
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người thành niên do tình trạng thểchất hoặc tinh thần mà không đủkhả năng nhận thức, làm chủ hành
vi nhưng chưa đến mức mất nănglực hành vi dân sự
Tòa án chỉ định người giám hộ, xácđịnh quyền, nghĩa vụ của ngườigiám hộ
Về hậu quả
pháp lý
Được xác lập các giao dịchphục vụ nhu cầu sinh hoạt hằngngày, còn các giao dịch khácphải được sự đồng ý của ngườiđại diện
Được xác lập các giao dịch dân sự.Tuy nhiên, người giám hộ có nghĩa
vụ đại diện người được giám hộtrong các giao dịch theo quyết địnhcủa người được giám hộ và Tòa án
1.5 Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thuyết phục không? Vì sao?
Đối chiếu theo điều 23, BLDS 2015, Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp
có người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là thuyết phục vì những lý
do sau:
• Thứ nhất, ông P (sinh năm 19864, 31 tuổi) là người đã thành niên
4 Trang 1 của Bản án số: 11/2017/QĐDS-ST.
Trang 8• Thứ hai, do tình trạng tinh thần (bệnh tâm thần), ông P không đủ khả năngnhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân
sự Điều này được thể hiện qua việc sau khi điều trị tại Bệnh viện Tâm thầnthành phố Đà Nẵng, ông đã được xuất viện và cho điều trị ngoại trú dưới sựquản lý của Trạm Y tế xã Đ đến nay.5
• Thứ ba, có yêu cầu của bà H, vợ ông P, là người có quyền, lợi ích liên quan
Cụ thể là nhằm giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông P
• Thứ tư, quyết định này có cơ sở dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thầnsố: 286/KLGĐTC, ngày 22/5/2017 của ông Lê Văn P của Trung tâm Pháp ytâm thần khu vực miền Trung
Như vậy, việc Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn thuyết phục
1.6 Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Toà án không để bà H là người giám hộ cho ông P là thuyết phục,do:
Toà án vẫn đang thụ lý vụ án ly hôn giữa ông P và bà H, chưa có quyết định chính thức về việc ly hôn của ông P và bà H Vậy tại thời điểmđó, họ vẫn là vợchồng
Khoản 1 Điều 53 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ”.
Như vậy, bà H vẫn là người giám hộ đương nhiên của ông P Nhưng mụcđích của bà H khi yêu cầu Toà án tuyến bố ông P khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi là để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông P mà Tòa án đãthụ lí
Do đó bà H không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P Quyết địnhcủa Tòa án là hoàn toàn thuyết phục
1.7 Việc Tòa án để bà T làm người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Việc toà án để bà T là người giám hộ cho ông P thuyết phục vì:
• Bố của ông P đã mất, mẹ của ông P - bà H, đã bỏ đi hơn 20 năm(không có cơ sở để chỉ định bà H làm giám hộ cho ông P)
• Vợ của ông P thì không đủ điều kiện làm người giám hộ theo quyếtđịnh của toà án
5 Trang 2 của Bản án số: 11/2017/QĐDS-ST.
Trang 9• Bà T là người có quan hệ nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến khi trưởngthành Và chính ông P đã yêu cầu Toà án chỉ định bà T là người giám
hộ cho mình, đồng nghĩa với việc ông đồng ý để bà T là người giám
hộ6
• Bà T cũng đã đồng ý làm người giám hộ cho ông P
1.8 Với vai trò là người giám hộ, bà T được đại diện cho ông P trong những giao dịch nào? Tại sao?
Căn cứ theo phạm vi giám hộ theo quyết định của Tòa án tại bản án số11/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017, dựa trên điểm b khoản 1 Điều 57 và điểm
c khoản 1 Điều 58 BLDS 2015, Khoản 2 điều 23, điều 59 thì bà T được đạidiện trong các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củaông P:
• Thủ tục ly hôn với bà H
• Sử dụng tài sản của ông P để thực hiện các giao dịch dân sự phục vụ chocác nhu cầu thiết yếu của ông P theo Điểm a Khoản 1 Điều 58 BLDS2015
1.9 Suy nghĩ của anh/chị về chế định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mới được bổ sung trong BLDS 2015.
Trước đây theo BLDS 2005, căn cứ vào khả năng nhận thức và làm chủ hành
vi mà được phân ra nhiều mức độ khác nhau Cá nhân khi đủ độ tuổi và khôngthuộc trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ là những người
có năng lực pháp luật đầy đủ, là người tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sựbằng hành vi của họ và tự chịu trách nhiệm, tự thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng hành
vi của họ Điều này không phù hợp và không đảm bảo yếu tố công bằng về quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ dân sự Bởi trong trường hợpnếu cá nhân bị khuyết thiếu mà ảnh hưởng đến nhận thức và làm chủ hành vi của họ(ví dụ người già, người tàn tật có khả năng nhận thức không sáng suốt dẫn tớikhông làm chủ và thực hiện được hành vi) nhưng không thuộc trường hợp mất hoặchạn chế năng lực hành vi dân sự mà phải thực hiện và chịu trách nhiệm như mộtngười có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì rất bất hợp lý Vì trên thực tế khôngphải mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân lúc nào cũng chỉ trong hai tháicực: hoàn toàn đầy đủ hoặc mất mà có rất nhiều người tuy khả năng nhận thức vàlàm chủ không đầy đủ nhưng chưa đến mức mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự
6 Khoản 2 Điều 46 BLDS 2015
Trang 10nên việc bổ sung thêm đối tượng người có khó khăn trong nhận thức và làm chủhành vi là một điều cần thiết.
Sự bổ sung này hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ mà Hiến pháp 2013 cũngnhư BLDS 2015 là bảo vệ tối đa quyền con người, quyền công dân Việc bổ sung
nhóm “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” sẽ đảm bảo tối đa
quyền lợi cuả những người vốn khi sinh ra hoặc vì một lý do nào đó họ không cókhả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình giống những người xung quaycùng độ tuổi và môi trường sống, khả năng tự bảo vệ của họ trước các tác động bênngoài hạn chế hơn những người khác- bảo vệ tốt hơn các chủ thể yếu thế trong quan
Trang 11đổi tên người sử dụng lao động là cơ quan đại diện Bộ tài nguyên và Môi trường (bịđơn) Tại khu tập thể xảy ra việc mất xe, cơ quan này buộc ông phải bồi thường thiệt hại và chấm dứt hợp đồng Ông không đồng ý nên khởi kiện yêu cầu Tòa án xét xử Tại bản án sơ thẩm, yêu cầu của ông được chấp nhận, cơ quan đại diện phải bồi thường các khoản tiền.
Người đại diện pháp luật cúa cơ quan đại diện nộp đơn kháng cáo Tại phiên phúc thẩm, Tòa ra quyết định chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo và thực hiện các yêu cầu có liên quan
Tóm tắt tình huống:
Công ty Bắc Sơn thành lập chi nhánh tại TP HCM Tại quy chế hoạt động của Chi nhánh có quy định “chi nhánh là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập” Chi nhánh ký hợp đồng với Công ty Nam Hà Khi có tranh chấp, công ty Bắc Sơn phủ nhận trách nhiệm vì lý do Chi nhánh có tư cách pháp nhân
2.1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu
rõ từng điều kiện)
Khoản 1 điều 74 BLDS 2015 quy định: “Một tổ chức được công nhận là
pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
2) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
3) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
4) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Trang 12được nêu ra trong BLDS 2015 vì đây là cơ sở pháp lí chung cho mọi loại pháp nhân
và các luật khác có liên quan và luật chuyên ngành nếu có quy định riêng về phápnhân cũng phải tuân theo Bộ luật này trừ những điểm đặc thù.8
Thông qua quy định này, công nhận sự ra đời của pháp nhân, đánh dấu thờiđiểm phát sinh tư cách chủ thể của pháp nhân, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tiệncho việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, cũng như để Tòa án và các cơquan tài phán giải quyết khi xảy ra tranh chấp liên quan đến sự thành lập của phápnhân
2) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS 2015:
• Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của
cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhânhoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
• Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quyđịnh pháp luật
Pháp nhân là một tổ chức có nhiều đơn vị, bộ phận khác nhau, một tập thểnhiều người cùng hoạt động chung một mục đích, vì vậy, để cho hoạt động của phápnhân nhất quán thì cần phải có một cơ quan điều hành đóng vai trò chỉ huy đầu não
Có cơ quan điều hành tạo cho pháp nhân sự liên kết tương đối bền vững, bảo đảmcho các hoạt động dều nhất quán Tùy theo loại pháp nhân khác nhau mà có các cơquan điều hành tương ứng Quy định này giúp pháp nhân độc lập về mặt tổ chức,không bị chi phối bởi các chủ thể khác khi quyết định các vấn đề phát sinh từ hoạtđộng của tổ chức và bảo đảm sự ổn định về mặt tổ chức
3) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.
Nghĩa là tài sản của pháp nhân phải độc lập hoàn toàn với tài sản riêng củathành viên pháp nhân, với cơ quan Nhà nước sáng lập ra pháp nhân
“Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên,
thành viên của pháp nhân, và các tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền
sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.” (Điều 81 BLDS 2015).
8 Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Những vấn đề chung về Luật dân sự (Tái bản lần thứ 1,
có sửa đổi và bổ sung), NXB Hồng Đức và Hội Luật gia Việt Nam, tr.163