Gần đây nhất, một nghiên cứu thực hiện năm 2019 cho thấy Cefuroxim là kháng sinh thuộc nhóm được tiêu thụ nhiều nhất tại khoa Sản nhiễm khuẩn giai đoạn 2014-2018 [15].. Từ thực tế trên,
Trang 1NĂM 2019 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2020
Trang 2NĂM 2019KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến hai người thầy của tôi là ThS Dương Viết Tuấn – giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, trường Đại học Dược Hà Nội và ThS Thân Thị Hải Hà – Phó trưởng khoa Dược, bệnh viện Phụ sản Trung ương – những người thầy đã dành thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, cùng toàn thể các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội – những người thầy
đã truyền cảm hứng và trang bị cho tôi những kiến thức để tôi có được cơ hội thực hiện và hoàn thành đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các anh chị khoa Dược, các anh chị Phòng Công nghệ thông tin và Phòng lưu trữ hồ sơ của bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin tại bệnh viện
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Phạm Thị Thùy Linh, Trần Thị Như Quỳnh, và Nguyễn Thị Trang - những người bạn đã luôn bên cạnh và giúp
đỡ tôi
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình yêu quý, đặc biệt là bố, mẹ, chị gái và cháu gái sắp chào đời, đã luôn trở thành động lực giúp tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Phan Thị Mỹ Linh
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện 3
1.1.1 Nội dung chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện 3
1.1.2 Đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện 4
1.1.2.1 Đánh giá định tính 4
1.1.2.2 Đánh giá định lượng 5
1.2 Kháng sinh Cefuroxim 6
1.2.1 Phổ tác dụng 7
1.2.2 Dược động học 8
1.2.3 Chỉ định, chống chỉ định 10
1.2.4 Tương kỵ, tương tác thuốc 11
1.3 Nhiễm khuẩn trong sản phụ khoa 12
1.3.1 Đặc điểm chung 12
1.3.2 Một số thể lâm sàng và phác đồ kháng sinh 13
1.3.3 Vị trí của Cefuroxim trong sản phụ khoa 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu 1: Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm 2019 dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.1.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 19
2.1.4 Xử lý số liệu 20
2.2 Mục tiêu 2: Đặc điểm sử dụng Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn trong 8 tháng đầu năm 2019 20
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 21
Trang 52.2.4 Xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 24
3.1 Mục tiêu 1: Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm 2019 dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện 24
3.2 Mục tiêu 2: Đặc điểm sử dụng Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn trong 8 tháng đầu năm 2019 27
3.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 27
3.2.1.1 Tuổi, đối tượng đặc biệt, thời gian nằm viện, kết quả ra viện 27
3.2.1.2 Đặc điểm về chức năng thận 29
3.2.1.3 Đặc điểm về chẩn đoán khi vào viện 29
3.2.1.4 Đặc điểm các bệnh lý nhiễm khuẩn 32
3.2.1.5 Đặc điểm vi sinh 32
3.2.2 Đặc điểm về sử dụng Cefuroxim 34
3.2.2.1 Lý do lựa chọn kháng sinh 34
3.2.2.2 Đặc điểm các phác đồ kháng sinh Cefuroxim 35
3.2.2.3 Đặc điểm về cách dùng, liều dùng, thời gian sử dụng 37
3.2.2.4 Tương kỵ, tương tác thuốc 38
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 39
4.1 Về đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim 39
4.2 Về đặc điểm sử dụng Cefuroxim 40
4.2.1 Về đặc điểm của mẫu nghiên cứu 40
4.2.2 Về đặc điểm sử dụng Cefuroxim 42
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết
ACOG American College of Obstetricians
and Gynecologists Hiệp hội sản phụ Mĩ ADR Adverse Drug Reaction Phản ứng có hại của thuốc
ATC Anatomical Therapeutic Chemical Phân loại thuốc theo giải phẫu
- điều trị - hóa học BNF British National Formulary Dược thư Anh
CRP C-Reactive Protein Protein C phản ứng
DDD Defined Daily Dose Liều xác định trong ngày
ESBL Extended Spectrum
FDA Food and Drug Administration Cơ quan quản lý thuốc và
thực phẩm Mĩ
ICD International Classification of
MRSA Methicillin-resistant
Staphylococcus aureus
Tụ cầu vàng kháng Methicillin
MSSA Methicillin-susceptible
Staphylococcus aureus Tụ cầu vàng nhạy Methicillin
Trang 7NEU Neutrophil Bạch cầu đa nhân trung tính
PBP Penicillin Binding Protein Protein gắn Penicillin
PCR Polymerase chain reaction Phản ứng chuỗi Polymerase
WBC White Blood Count Số lượng bạch cầu
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2 Hiệu chỉnh liều Cefuroxim natri dựa trên đặc điểm
chức năng thận của bệnh nhân
Bảng 3.3 Đặc điểm về tuổi, đối tượng đặc biệt, thời gian nằm
viện và kết quả ra viện
28
Bảng 3.5 Đặc điểm chẩn đoán bệnh chính khi vào viện 30
Bảng 3.8 Đặc điểm xét nghiệm nuôi cấy vi sinh vật 33 Bảng 3.9 Danh mục vi khuẩn phân lập được và mức độ nhạy
cảm với Cefuroxim
34
Bảng 3.10 Lý do lựa chọn kháng sinh Cefuroxim 35 Bảng 3.11 Số lượng phác đồ Cefuroxim trên 1 bệnh nhân 35 Bảng 3.12 Các phác đồ sử dụng trong phác đồ ban đầu và phác
đồ thay thế
36
Bảng 3.13 Các phác đồ ban đầu đối với bệnh nhân có chẩn đoán
nhiễm khuẩn trước khi dùng
37
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đặc điểm tiêu thụ các nhóm kháng sinh 25 Hình 3.2 Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim so với các kháng sinh
khác
26
Hình 3.3 Đặc tiêu thụ Cefuroxime trong nhóm C2G 27
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng kháng sinh không hợp lý là vấn đề nghiêm trọng mang tính toàn cầu đang ngày càng đe dọa sức khỏe của cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh các bệnh nhiễm khuẩn mới xuất hiện Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế thế giới,
ở các nước đang phát triển, tỷ lệ kháng sinh được sử dụng không phù hợp tương đối cao, lên tới 30% các trường hợp viêm phổi và khoảng 50% trường hợp nhiễm trùng cấp tính đường hô hấp trên và tiêu chảy [49] Hậu quả sau đó là các biến cố bất lợi của thuốc, đặc biệt là đề kháng kháng sinh làm cho các phác đồ hiện có trở nên kém hiệu quả, dẫn tới lãng phí về kinh tế và gánh nặng bệnh tật gia tăng Ở
Mĩ, ước tính chi phí tiêu tốn hàng năm để giải quyết những hậu quả kể trên là rất lớn, lên tới 4000-5000 triệu đô la [49]
Trước thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý như vậy, có nhiều giải pháp được đưa ra Tổ chức Y tế Thế giới kêu gọi “Không hành động hôm nay, ngày mai không có thuốc chữa” Cùng với các nước trên thế giới, Việt Nam luôn quan tâm và hưởng ứng tích cực lời kêu gọi này Cụ thể, Bộ Y tế đã ban hành các hướng dẫn như “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh” và “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” (Quyết định 772/2016/QĐ-BYT) làm cơ sở cho hoạt động quản lý kháng sinh tại các bệnh viện trong cả nước Thực tế cũng cho thấy, trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về kháng sinh được thực hiện tại bệnh viện và mang lại hiệu quả rõ rệt Các đề tài này đi từ việc phân tích thực trạng tiêu thụ, thực trạng sử dụng và đề kháng kháng sinh để từ đó đưa ra các can thiệp phù hợp, vì vậy giải quyết được những vấn đề gặp phải tại từng cơ sở
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa Sản tuyến cuối, với khoa Sản nhiễm khuẩn là đơn vị điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn chính của viện Thực hiện chương trình quản lý kháng sinh, tại bệnh viện đã triển khai nhiều nghiên cứu, góp phần cải thiện sử dụng kháng sinh hợp lý Gần đây nhất, một nghiên cứu thực hiện năm 2019 cho thấy Cefuroxim là kháng sinh thuộc nhóm được tiêu thụ nhiều nhất tại khoa Sản nhiễm khuẩn giai đoạn 2014-2018 [15] Cũng theo nghiên cứu này Cefuroxim có tỷ lệ đề kháng cao (65-100%) bởi các
Trang 112
chủng vi khuẩn hay gặp tại khoa giai đoạn 2017-2018 (như E.coli, Klebsiella
pneumonia, Acinetobacter spp.) [15] Từ thực tế trên, để có cái nhìn tổng quan về
việc sử dụng Cefuroxim, đề tài “Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh
Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2019” được tiến hành với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn, bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2019 dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện
2 Khảo sát đặc điểm sử dụng Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn, bệnh viện
Phụ sản Trung ương trong 8 tháng đầu năm 2019
Trang 123
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện
1.1.1 Nội dung chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện
Tối ưu hóa việc sử dụng kháng sinh là rất quan trọng để điều trị nhiễm khuẩn hiệu quả, bảo vệ bệnh nhân khỏi những tác hại do sử dụng kháng sinh không cần thiết và hạn chế tình trạng kháng kháng sinh Chương trình quản lý kháng sinh (ASP) được thực hiện đã mang lại những kết quả tích cực, không chỉ góp phần cải thiện về mặt lâm sàng, mà còn giúp giảm thiểu chi phí chăm sóc sức khỏe
Ở Mĩ, các chương trình toàn diện đã liên tục chứng minh việc giảm tỷ lệ sử dụng kháng sinh từ 22% - 36%, với khoản tiết kiệm hàng năm từ 200.000$ - 900.000$ ở các bệnh viện Vì vậy, chương trình quản lý kháng sinh được khuyến khích thực hiện ở tất cả các cơ sở chăm sóc sức khỏe [32] Cùng với đó, trung tâm kiểm soát nhiễm khuẩn Hoa Kỳ (CDC) năm 2019 đã tiếp tục cập nhật khuyến cáo năm 2014 về 7 yếu tố chính cần thiết để triển khai này hiệu quả Các yếu tố bao gồm [29]:
1 – Lãnh đạo đơn vị điều trị hỗ trợ triển khai chương trình
2 – Một bác sĩ chịu trách nhiệm giải trình
3 – Một dược sĩ phụ trách chuyên môn dược
4 – Thực hiện can thiệp như đánh giá và phản hồi từ bên ngoài, hoặc phê duyệt thuốc trước khi sử dụng
5 – Theo dõi việc kê đơn kháng sinh, ảnh hưởng của can thiệp
6 – Báo cáo thông tin sử dụng kháng sinh và tình hình đề kháng
7 – Đào tạo cho các nhân viên y tế, bệnh nhân
Đây là những yếu tố cốt lõi, tuy nhiên không có mẫu duy nhất cho một chương trình để tối ưu hóa việc kê đơn thuốc kháng sinh trong bệnh viện Việc thực hiện các chương trình quản lý kháng sinh đòi hỏi sự linh hoạt sao cho phù hợp đặc điểm thực tế của các bệnh viện [29]
Trang 134
Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng đưa ra khuyến cáo (Quyết định số 772/2016/QĐ-BYT) một số nhiệm vụ chính của chương trình quản lý kháng sinh trong bệnh viện như sau [5]:
- Xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh tại bệnh viện; xây dựng danh mục kháng sinh cần hội chẩn khi kê đơn, danh mục cần phê duyệt trước khi sử dụng, phiếu yêu cầu kê đơn và quy trình phê duyệt; xây dựng hướng dẫn điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp tại bệnh viện, các quy trình quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn
- Xây dựng tiêu chí đánh giá về sử dụng kháng sinh, về nhiễm khuẩn bệnh viện, về mức độ kháng thuốc
- Xác định vấn đề cần can thiệp thông qua khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh, mức độ kháng thuốc
- Tiến hành can thiệp thông qua cập nhật các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, hướng dẫn sử dụng kháng sinh, đào tạo và tập huấn cho cán bộ nhân viên y tế
- Đánh giá sau can thiệp và phản hồi
1.1.2 Đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
Đánh giá sử dụng kháng sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện, nhằm xác định vấn đề cần can thiệp Các phương pháp đánh giá việc sử dụng kháng sinh nhìn chung có thể chia thành 2 nhóm: đánh giá định tính và đánh giá định lượng
1.1.2.1 Đánh giá định tính
Nghiên cứu đánh giá định tính, cũng tương đồng như chương trình đánh giá
sử dụng thuốc (DUE), nhằm đánh giá tính phù hợp của việc dùng thuốc trên phương diện chất lượng so với bộ tiêu chí được xây dựng trước đó Các tiêu chí này có thể liên quan đến quy trình sử dụng thuốc hoặc liên quan đến kết quả đầu
ra sử dụng thuốc [23], [47] Các tiêu chí đánh giá định tính được thể hiện trong Bảng 1.1 dưới đây
Trang 14Giám sát điều trị (loại xét nghiệm, thời gian chỉ định xét nghiệm)
Giám sát ADR (loại xét nghiệm, thời gian chỉ định xét nghiệm
Các tiêu chí liên quan đến kết quả đầu ra sử dụng thuốc:
số đơn kê hoặc chi phí sử dụng thuốc hoặc tổng số gam/IU kháng sinh, liều xác định trong ngày (DDD), liều kê đơn hàng ngày (PDD), số ngày điều trị (DOTs)
Trang 156
Trong đó, tính toán dựa trên DDD là phương pháp được sử dụng khá phổ biến Theo định nghĩa của WHO, liều xác định trong ngày (DDD) là liều trung bình duy trì hằng ngày của 1 thuốc được sử dụng cho chỉ định chính ở người lớn Đây là công cụ thuận lợi cho phép chuyển đổi, chuẩn hóa các số liệu về số lượng sản phẩm hiện có như hộp, viên, ống tiêm, chai thành ước lượng thô về thuốc được dùng trong điều trị, ví dụ số liều dùng hàng ngày, nhờ đó có thể so sánh lượng tiêu thụ giữa các khoảng thời gian khác nhau hoặc giữa các đơn vị của cùng
1 thuốc hoặc các thuốc khác nhau [56] Tuy nhiên, DDD cũng có 1 số nhược điểm như bị ảnh hưởng bởi việc điều chỉnh liều và do đó sẽ đánh giá dưới ngưỡng việc
sử dụng kháng sinh ở những bệnh nhân cần điều chỉnh liều, ví dụ như trẻ em hoặc bệnh nhân bị suy thận Ngoài ra, DDD là một đơn vị đo lường và không nhất thiết phản ánh liều khuyến cáo hoặc liều kê đơn hàng ngày [42]
1.2 Kháng sinh Cefuroxim
Theo thời gian, cephalosporin là nhóm thứ 2 trong các kháng sinh lactam được tìm ra và phát triển, sau penicillin [57] Cấu trúc hóa học của các kháng sinh nhóm cephalosporin đều là dẫn xuất của acid 7-aminocephalosporanic (viết tắt là A7AC) Thay đổi cấu trúc trên chuỗi bên acyl ở vị trí 7 sẽ thay đổi hoạt động kháng khuẩn và các nhóm thế ở vị trí 3 thay đổi đặc điểm dược động học [45] Các cephalosporin bán tổng hợp tiếp tục được chia thành bốn thế hệ Sự phân chia này không còn căn cứ trên cấu trúc hóa học mà chủ yếu dựa vào phổ kháng khuẩn của kháng sinh Xếp theo thứ tự từ thế hệ 1 đến thế hệ 4, hoạt tính trên vi khuẩn Gram dương giảm dần và hoạt tính trên vi khuẩn Gram-âm tăng dần [7]
beta-Trong đó, Cefuroxim là 1 kháng sinh cephalosporin thế hệ 2, được cấp bằng sáng chế vào năm 1971 và được chấp thuận cho sử dụng y tế vào năm 1977 [34] Hiện nay, Cefuroxim trên thị trường có cả thuốc tiêm dưới dạng Cefuroxim natri
và thuốc uống dưới dạng Cefuroxim axetil Cũng như tất cả các kháng sinh khác, các kiến thức liên quan đến thuốc sẽ giúp các nhà lâm sàng sử dụng thuốc hiệu quả trên người bệnh Một số đặc điểm về kháng sinh Cefuroxim được trình bày dưới đây
Trang 16Nhìn chung, Cefuroxim in vitro có hoạt tính tốt trên Staphylococcus aureus (MSSA), Streptococcus pyogenes, Streptococcus agalactiae, Haemophilus
influenza, Haemophilus parainfluenzae, Moraxella catarrhalis [35], [36] Tác
dụng trên E.coli và Klebsiella ở mức trung bình So với các kháng sinh cùng nhóm
như Cefoxitin và Cefotetan thì Cefuroxim có tác dụng kém trên một số chủng kỵ
khí như Bacteroides fragilis [48] Bên cạnh đó, các chủng khác không nhạy cảm với Cefuroxim gồm Enterococcus faecalis, Enterococcus faecium, Acinetobacter
spp., Burkholderia cepacia, Campylobacter spp., Citrobacter freundii, Enterobacter aerogenes, Enterobacter cloacae, Morganella morganii, Proteus penneri, Proteus vulgaris, Pseudomonas aeruginosa, Serratia marcescens, Stenotrophomonas maltophilia, Chlamydia spp., Mycoplasma spp., Legionella spp., Clostridium difficile [35]
Trong thực hành lâm sàng, phổ tác dụng của kháng sinh có thể thay đổi
do ảnh hưởng của đề kháng kháng sinh Một nghiên cứu tại các bệnh viện Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009 cho thấy Cefuroxim có tỷ lệ đề kháng tương đối cao
bởi E.coli, và dao động từ 40-75% [11] Nghiên cứu khác được thực hiện trên các
chủng gây nhiễm khuẩn đường hô hấp tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2011 cũng
cho kết quả tương tự Theo đó, tỷ lệ S.pneumoniae và H.influenzae kháng
Cefuroxim lần lượt là 48,8% và 33,3% theo tiêu chuẩn của CLSI [50]
Trang 17ăn hoặc ngay sau khi ăn Nồng độ đỉnh của Cefuroxim trong huyết tương thay đổi tùy theo dạng viên hay hỗn dịch [3]
Thuốc đạt nồng độ tối đa 4 - 6 µ/ml vào khoảng 3 giờ sau khi uống hỗn dịch có chứa 250 mg Cefuroxim axetil Nồng độ đỉnh trong huyết tương của hỗn dịch uống đạt trung bình 71% nồng độ đỉnh trong huyết tương của thuốc viên [3]
Sau khi tiêm bắp Cefuroxim cho những người tình nguyện bình thường, nồng độ huyết thanh tối đa trung bình dao động từ 27-35 µg/ml cho liều 750 mg,
và từ 33-40 µg/ml cho liều 1000 mg trong vòng 30-60 phút sau khi dùng thuốc Sau khi tiêm tĩnh mạch liều 750 và 1500 mg, nồng độ trong huyết thanh lần lượt xấp xỉ 50 và 100 µg/ml, sau 15 phút [35]
AUC và Cmax dường như tăng tuyến tính khi tăng liều trong khoảng liều duy nhất 250 đến 1000 mg sau khi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch Không có bằng chứng về sự tích lũy Cefuroxim trong huyết thanh từ những người tình nguyện bình thường sau khi tiêm tĩnh mạch lặp lại liều 1500 mg mỗi 8 giờ [35]
* Phân bố
Liên kết protein khoảng từ 33 đến 50% Thể tích phân bố trung bình dao động từ 9,3-15,8 L / 1,73 m2 sau khi dùng tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch trong khoảng liều 250 đến 1000 mg Nồng độ của Cefuroxim vượt quá mức ức chế tối thiểu đối với các mầm bệnh thông thường có thể đạt được ở amidan, mô xoang, niêm mạc phế quản, xương, dịch màng phổi, dịch khớp, dịch khớp, dịch kẽ, dịch đờm và dịch nhầy Ngoài ra, Cefuroxime vượt qua hàng rào máu não khi màng não bị viêm [35]
Trang 189
Cefuroxim có khả năng qua nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ Theo phân loại của FDA về tính an toàn của thuốc trên phụ nữ có thai, Cefuroxim được xếp vào nhóm B do các nghiên cứu sinh sản trên động vật đã không chứng minh được nguy cơ đối với thai nhi [38] So với các nhóm khác, Cefuroxim thường được xem
là an toàn và thuộc nhóm ưu tiên sử dụng trên phụ nữ có thai [3], [33] Tương tự như vậy, Cefuroxim cũng là kháng sinh được lựa chọn trong thời gian cho con bú
do bài tiết trong sữa mẹ ở nồng độ thấp [33], [53] Phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú là nhóm bệnh nhân hay gặp trong sản phụ khoa Như vậy, nhìn chung Cefuroxim được xem là kháng sinh tương đối an toàn và được lựa chọn cho nhóm bệnh nhân này
* Chuyển hóa
Cefuroxim không bị chuyển hóa Do vậy rối loạn chức năng gan được cho
là không ảnh hưởng đến dược động học của Cefuroxim [35]
* Thải trừ
Cefuroxim được thải trừ qua lọc cầu thận và bài tiết ở ống thận Thời gian bán hủy trong huyết thanh sau khi tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch là khoảng 70 phút Có sự phục hồi gần như hoàn toàn (85 đến 90%) của cefuroxime không thay đổi trong nước tiểu trong vòng 24 giờ sau khi dùng Phần lớn cefuroxim được bài tiết trong vòng 6 giờ đầu tiên Độ thanh thải thận trung bình dao động từ 114-170 ml/phút/1,73 m2 sau khi tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch trong khoảng liều 250 đến
1000 mg Cefuroxim chủ yếu được đào thải qua thận dưới dạng không biến đổi Như vậy, ở những bệnh nhân có chức năng thận bị suy giảm rõ rệt (Clcr < 20 ml/phút), nên giảm liều Cefuroxim để bù cho sự bài tiết chậm hơn [35] Liều hiệu chỉnh dựa trên đặc điểm chức năng thận được thể hiện trong bảng dưới đây
Trang 19sử dụng đường tiêm, natri Cefuroxim có thể được tích hợp vào dịch lọc màng bụng (thường là
250 mg cho mỗi 2 lít dịch lọc máu)
Bệnh nhân suy thận khi
chạy thận nhân tạo liên tục
(CAVH) hoặc lọc máu
thông lượng cao (HF) trong
các đơn vị trị liệu chuyên
sâu
7,9–12,6 (CAVH) 1,6 (HF)
750 mg hai lần mỗi ngày; với lọc máu thông lượng thấp áp dụng liều lượng khuyến cáo theo chức năng thận bị suy yếu
1.2.3 Chỉ định, chống chỉ định
* Chỉ định
Cefuroxim là kháng sinh được lựa chọn điều trị trong một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiết niệu, da – mô mềm; và dự phòng nhiễm trùng trong phẫu thuật
Trang 2011
Cụ thể, thuốc uống Cefuroxim axetil được dùng để điều trị nhiễm khuẩn thể nhẹ đến vừa ở đường hô hấp do vi khuẩn nhạy cảm gây ra: Viêm tai giữa (do
S pneumoniae, H influenzae, M catarrhalis kể cả chủng sinh beta-lactamase hay
do S pyogenes), viêm xoang tái phát, viêm amiđan (do S pneumoniae, H
influenzae), viêm họng tái phát (do S pyogenes, liên cầu beta tan máu nhóm A),
cơn bùng phát của viêm phế quản mạn tính hoặc viêm phế quản cấp có bội nhiễm
(do S pneumoniae, H influenzae) và viêm phổi mắc phải tại cộng đồng [3], [36]
Cefuroxim axetil cũng được khuyến cáo trong các trường hợp viêm giác mạc, viêm túi lệ, bệnh Lyme giai đoạn sớm [7], [25]
Cefuroxim natri tiêm được dùng để điều trị nhiễm khuẩn thể nặng đường
hô hấp dưới (kể cả viêm phổi); nhiễm trùng da – mô mềm: viêm mô tế bào, viêm quầng và nhiễm trùng vết thương; nhiễm trùng trong ổ bụng; nhiễm khuẩn tiết niệu biến chứng, bao gồm viêm bể thận Ngoài ra Cefuroxim tiêm cũng được lựa chọn để dự phòng nhiễm trùng trong phẫu thuật ở đường tiêu hóa, phụ khoa (bao gồm cả sinh mổ) và phẫu thuật chỉnh hình [28], [35]
* Chống chỉ định
Cefuroxim chống chỉ định trong các trường hợp dị ứng cephalosporin, hoặc
dị ứng nặng với các kháng sinh beta-lactam như penicillin, monobactam, carbapenem [35]
1.2.4 Tương kỵ, tương tác thuốc
* Tương kỵ
Cefuroxim natri tương thích với hầu hết các dung dịch và dung dịch điện giải được sử dụng phổ biến nhất [35] Độ pH của thuốc tiêm natri bicarbonat 2,74% ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc của các dung dịch và do đó không nên dùng dung dịch tiêm natri bicarbonat để pha loãng Cefuroxim Kháng sinh aminoglycosid (gentamicin, kanamycin, neltimicin, streptomycin, amikacin, tobramycin) tương kỵ với Cefuroxim vì vậy không trộn lẫn Cefuroxim natri với các kháng sinh này trong bất cứ túi/chai dịch truyền nào, và cũng không truyền đồng thời trên 1 dây truyền dịch hoặc qua 2 dây truyền khác nhau qua vị trí chữ
Trang 2112
Y Filgrastim, fluconazol, protamin, rapacuronium cũng đã được báo cáo là tương
kỵ với Cefuroxim axetil [3]
* Tương tác thuốc – thuốc
Tương tác làm tăng tác dụng của Cefuroxim: Probenecid liều cao làm giảm
độ thanh thải Cefuroxim ở thận, làm cho nồng độ Cefuroxim trong huyết tương cao hơn và kéo dài hơn [3], [35] Với mức tăng AUC khoảng 44-50%, thời gian bán thải tăng 63% và độ thanh thải giảm 29% đối với chế phẩm Cefuroxim đường tĩnh mạch [54]
Tương tác làm tăng độc tính: Cefuroxim dùng đồng thời với các thuốc kháng sinh aminoglycosid hoặc thuốc lợi tiểu mạnh (như furosemid) có thể làm tăng độc tính đối với thận [3], [35]
Tương tác làm giảm tác dụng của các hormon sinh dục nữ: Cefuroxim axetil dùng đường uống có thể ảnh hưởng đến hệ vi khuẩn chí ở ruột, làm giảm tái hấp thu estrogen, do đó có thể làm giảm tác dụng của các thuốc tránh thai đường uống
có chứa estrogen và progesterone [3], [36]
1.3 Nhiễm khuẩn trong sản phụ khoa
mở rộng cũng như các tổ chức còn sót lại trong buồng tử cung tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển [2] Ngoài ra, trong sản khoa các thủ thuật đường dưới cũng luôn mang theo nguy cơ cao gây nhiễm trùng, nhất là các thủ thuật can thiệp trực tiếp vào buồng tử cung qua đường âm đạo Trong đó, mổ lấy thai là thủ thuật hay gặp nhất và được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với nhiễm khuẩn hậu sản do làm tăng nguy cơ lên từ 5-20 lần so với đẻ đường âm đạo [7]
Trang 22suất lớn [2], [37]
Với mỗi thể lâm sàng khác nhau, các vi khuẩn gây bệnh điển hình cũng khác nhau, do đó tìm hiểu về đặc điểm vi sinh của từng kiểu nhiễm khuẩn sẽ giúp đưa ra lựa chọn kháng sinh phù hợp, bao phủ được các chủng gây bệnh
1.3.2 Một số thể lâm sàng và phác đồ kháng sinh
* Một số thể lâm sàng
Nhiễm khuẩn hậu sản
Nhiễm khuẩn hậu sản là các nhiễm khuẩn xuất phát từ bộ phận sinh dục trong thời kỳ hậu sản [6] Đây là tình trạng đa nhiễm khuẩn, trong đó các tác nhân gây bệnh bao gồm cả vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí Các vi khuẩn thường gặp như
Streptococcus pyogenes, Escherichia coli, Staphylococcus aureus (bao gồm cả
MRSA), Streptococcus pneumonia, Clostridium septicum và Morganella
morganii [55] Các hình thái lâm sàng của nhiễm khuẩn hậu sản bao gồm: nhiễm
khuẩn tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo; viêm niêm mạc tử cung; viêm cơ tử cung; viêm dây chằng rộng và phần phụ; viêm phúc mạc tiểu khung; viêm phúc mạc toàn thể; nhiễm khuẩn huyết; và viêm tắc tĩnh mạch [6] Trong đó, viêm niêm mạc
tử cung là hình thái hay gặp nhất, xảy ra trong 1-2% ca sinh nhưng phổ biến hơn đáng kể sau mổ đẻ (27%) [43]
Viêm vú, áp xe vú
Viêm vú thường xảy ra trong tuần thứ hai, thứ ba sau đẻ, hoặc ở phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ lâu dài (khoảng 5-30%) [37] Viêm vú có thể không liên
quan đến nhiễm khuẩn, trong trường hợp có thì Staphylococcus aureus là tác nhân
phổ biến nhất [24] Ngoài ra còn một số tác nhân khác như liên cầu beta tan huyết,
Trang 2314
Streptococcus faecalis, Escherichia coli, Haemophilus influenzae, Klebsiella pneumoniae, Salmonella, và Serratia marcescens [37]
Phụ nữ viêm vú sau đẻ có 5-11% nguy cơ phát triển áp xe vú [37] Mặc dù
vi sinh học của áp xe vú đã tập trung vào S aureus, nhưng trong áp xe vú không
trong thời kỳ hậu sản và cho con bú, các vi khuẩn kỵ khí hỗn hợp bao gồm
Peptostreptococci và Mobiluncus curtisii là những vi khuẩn phổ biến hơn [37]
Gần đây S.aureus kháng methicillin (MRSA) là tác nhân xuất hiện ngày càng
nhiều trong áp xe vú sau đẻ Kết quả một nghiên cứu thuần tập về yếu tố nguy cơ của áp xe vú sau đẻ do tụ cầu vàng cho thấy trong 54 trường hợp áp xe vú do tụ cầu vàng có 30 trường hợp phân lập ra MRSA và yếu tố nguy cơ MSSA và MRSA không khác biệt giữa các bệnh nhân [26]
Mycoplasma, Neisseria gonorrhea, Chlamydia trachomatis [2] Áp xe phần phụ
là biến chứng của viêm phần phụ, với đặc điểm khối viêm nhiễm tại ống dẫn trứng, buồng trứng, một số trường hợp có cả cơ quan lân cận trong vùng chậu như ruột và bàng quang [1]
Viêm vùng chậu
Viêm vùng chậu là viêm nhiễm cấp tính đường sinh dục trên của phụ nữ, lây lan từ cổ tử cung lên đến tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng và các cơ quan lân cận bao gồm: viêm nội mạc tử cung, viêm ống dẫn trứng, áp xe phần phụ và viêm phúc mạc chậu [1] Các sinh vật lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là
Neisseria gonorrhoeae và Chlamydia trachomatis, là tác nhân gây bệnh chủ yếu
Ngoài ra, cũng có thể do các vi khuẩn có trong hệ sinh vật âm đạo (như các chủng
kỵ khí, Gardnerella vaginalis, Haemophilus influenzae, trực khuẩn Gram âm ruột
Trang 2415
và Streptococcus agalactiae) hay Cytomegalovirus (CMV), Mycoplasma
hominis, Ureaplasma urealyticum, và Mycoplasma genitalium [31]
Nhiễm khuẩn sau phẫu thuật sản phụ khoa
Nhiễm trùng sau phẫu thuật là biến chứng thường thấy nhất của phẫu thuật trong sản phụ khoa Việc sử dụng kháng sinh dự phòng đã làm giảm đáng kể mặc
dù không loại bỏ hoàn toàn biến chứng này Nhiễm trùng sau phẫu thuật sản phụ khoa bao gồm viêm mô tế bào vết mổ, áp xe vết mổ, viêm nội mạc tử cung, viêm
mô tế bào vùng chậu và áp xe vùng chậu [40] Đối với hầu hết các bệnh nhiễm trùng vết mổ trong phụ khoa, mầm bệnh phát sinh từ hệ sinh vật nội sinh của da hoặc âm đạo Những sinh vật này thường là cầu khuẩn gram dương hiếu khí (ví
dụ, tụ cầu khuẩn), nhưng có thể bao gồm hệ sinh vật trong phân (ví dụ, vi khuẩn
kỵ khí và hiếu khí gram âm) khi vết mổ được tạo ra gần đáy chậu hoặc háng [20]
Cụ thể trong viêm nội mạc tử cung và viêm mô tế bào vùng chậu thường là đa nhiễm trùng, nhiễm khuẩn hiếu khí-kỵ khí hỗn hợp với các tác nhân nổi bật như
cầu khuẩn gram dương hiếu khí (Streptococci nhóm B, Enterococci,
Staphylococcus), cầu khuẩn gram dương kỵ khí (Peptococci, Pepto-streptococci),
trực khuẩn gram âm hiếu khí (Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Proteus), trực khuẩn gram âm kỵ khí (Bacteroides, Prevotella) [40]
Trang 2516
Clindamycin + ampicillin-sulbactam [43]
Cefoxitin [43]
Metronidazol + Amoxicilin-acid clavulanic [1]
Amoxicilin-acid clavulanic + Gentamicin [1]
Cefotaxim hoặc Ceftriaxon hoặc Ceftazidim + Metronidazol [1]
- Nhiễm trùng nặng, kéo dài, không đáp ứng điều trị trên Ticarcilin-acid clavulanic + Amikacin ± Metronidazol Hoặc Piperacilin-tazobactam+Amikacin ± Metronidazol [1]
Áp xe vú - Dicloxacillin hoặc Cloxacillin hoặc Cephalexin [1], [25]
- Nafcillin hoặc Oxacillin [25]
- Cefadroxyl hoặc Amoxicillin-clavulanat [1]
+ Nếu nghi ngờ kỵ khí (áp xe dưới quầng vú) phối hợp thêm: Clindamycin hoặc Metronidazol
- Nếu nghi ngờ MRSA: Trimethoprim/ Sulfamethoxazol hoặc Clindamycin hoặc Vancomycin [1], [25]
- Nhiễm trùng nặng: Vancomycin ± Cephalosporin thế hệ 3 hoặc beta-lactam/chất ức chế betalactamase [1]
Viêm vùng chậu - Cefoxitin hoặc Cefotetan + Doxycycline
Hoặc Cephalosporin thế hệ 3 như Ceftriaxon + Doxycyclin [1], [31]
Ngưng KS tĩnh mạch sau 48 giờ nếu tình trạng lâm sàng cải thiện, chuyển sang kháng sinh uống Doxycyclin
- Clindamycin + Gentamicin [1], [31]
Chuyển từ đường tĩnh mạch sang đường uống bắt đầu sau 48 giờ cải thiện các triệu chứng lâm sàng (sốt, buồn nôn, nôn, đau vùng chậu) Dùng Doxycyclin hoặc Clindamycin
Trường hợp bệnh nhân không dung nạp với Doxycyclin, có thể sử dụng Azithromycin [1]
Trang 26Ampicilin + Clindamycin + Gentamicin [1]
Ampicillin – Sulbactam + Doxycyclin [1]
Amoxicillin-clavulanat + Metronidazol ± Gentamicin [1]
- Nếu dị ứng hoặc không đáp ứng với các điều trị trên sau 48h
Levofloxacin + Metronidazol hoặc Imipenem-cilastatin hoặc Piperacillin-Tazobactam [1]
Trang 2718
1.3.3 Vị trí của Cefuroxim trong sản phụ khoa
Mô hình bệnh truyền nhiễm chính trong sản phụ khoa là bệnh lý đa nhiễm khuẩn trong đó vi khuẩn kỵ khí bắt buộc và vi khuẩn vi hiếu khí thường xuyên hoạt động Dựa trên phổ tác dụng, có thể thấy rằng Cefuroxim có hoạt tính kém
trên các tác nhân hay gặp trong sản phụ khoa như Neisseria gonorrhea [25],
Chlamydia, và một số chủng kỵ khí như Bacteroides fragilis Do đó, Cefuroxim
hầu như không có trong các hướng dẫn điều trị về nhiễm khuẩn sản phụ khoa
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa của Bộ Y tế (2015),
và Phác đồ điều trị sản phụ khoa của Bệnh viện Từ Dũ (2019) cho thấy Cefuroxim không được lựa chọn trong một số bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục nữ như viêm niêm mạc tử cung, viêm phần phụ, viêm vùng chậu, áp xe vú [1], [6] Tương tự như vậy, khuyến cáo của CDC 2015 về điều trị viêm vùng chậu hay hướng dẫn của Hội đồng nghiên cứu Y học Ấn Độ (ICMR) về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn sản phụ khoa cũng không sử dụng phác đồ có Cefuroxim [31], [39]
Mặc dù không được lựa chọn là kháng sinh điều trị, nhưng Cefuroxim được
sử dụng để dự phòng nhiễm khuẩn trong một số thủ thuật sản phụ khoa như mổ
đẻ, vết rách tầng sinh môn, cắt tử cung, theo khuyến cáo của BNF 76 và hướng dẫn của Hội đồng nghiên cứu Y học Ấn Độ (ICMR) 2015 [28], [39]
Như vậy có thể thấy rằng vai trò của Cefuroxim trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn sản phụ khoa còn hạn chế, trong khi đó Cefuroxim được lựa chọn là kháng sinh dự phòng trong một số thủ thuật như mổ đẻ, vết rách tầng sinh môn, cắt tử cung
Trang 2819
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu 1: Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm
2019 dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Số liệu về sử dụng các kháng sinh (đường uống, tiêm, truyền) và số ngày nằm viện của bệnh nhân tại khoa Sản nhiễm khuẩn từ 1/1/2019 – 31/12/2019
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả hồi cứu, sử dụng phép phân tích định lượng dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện
* Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu lưu trữ về sử dụng các kháng sinh tại bệnh viện Phụ sản Trung ương
từ 1/1/2019 – 31/12/2019 cung cấp các thông tin liên quan đến:
- Số lượng các kháng sinh sử dụng trong khoa Sản nhiễm khuẩn từ 1/1/2019 – 31/12/2019
- Tổng số ngày giường của bệnh nhân tại khoa Sản nhiễm khuẩn từ 1/1/2019 – 31/12/2019
2.1.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm tiêu thụ kháng sinh chung tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm 2019
- Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm 2019
* Chỉ số đánh giá: DDD/100 ngày nằm viện
DDD/100 ngày nằm viện = Tổng số gam sử dụng x 100
DDD x số ngày nằm viện Giá trị DDD của các kháng sinh được tham khảo từ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Hợp tác về Phương pháp thống kê dược, Tổ chức Y tế Thế giới (WHOCC) (Phụ lục 2)
Trang 2920
2.1.4 Xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý bằng Excel 2016
2.2 Mục tiêu 2: Đặc điểm sử dụng Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn trong 8 tháng đầu năm 2019
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh án ra viện của bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Sản Nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương có ngày nhập viện và ra viện trong thời gian từ 1/1/2019 đến 30/08/2019
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân có chỉ định sử dụng kháng sinh Cefuroxim trong thời gian điều trị nội trú
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh án có thời gian sử dụng Cefuroxim < 3 ngày
- Bệnh nhân tử vong
- Các bệnh án không tiếp cận được
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả hồi cứu
* Cỡ mẫu
Toàn bộ bệnh án của các bệnh nhân điều trị tại khoa Sản nhiễm khuẩn có ngày vào viện và ra viện từ 1/1/2019 đến 30/8/2019 thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu
* Phương pháp lấy mẫu
Các bước tiến hành lấy mẫu được thể hiện trong Hình 2.1
Trang 3021
Hình 2.1 Sơ đồ lấy mẫu
* Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin bệnh án trong mẫu nghiên cứu được ghi lại theo “Phiếu thu thập thông tin bệnh án” trình bày ở Phụ lục 1
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
* Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
(1) Tuổi, đối tượng đặc biệt (phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú), thời gian nằm viện, kết quả ra viện
(2) Chức năng thận theo hệ số thanh thải creatinin
Danh sách bệnh nhân nhập viện và ra viện từ 1/1/2019 - 30/8/2019 có sử dụng Cefuroxim trong thời gian điều trị tại khoa Sản nhiễm khuẩn
Dữ liệu tại kho lưu trữ bệnh án
Trang 3122
Hệ số thanh thải creatinin của thận (Clcr) tính theo công thức Cockroft & Gault:
Clcr (nam) = (140 – tuổi) x thể trọng
Ccr x 0.81 Clcr (nữ) = Clcr (nam) × 0,85 Trong đó: Tuổi người bệnh được tính theo năm, thể trọng tính theo kg, Ccr là nồng độ creatinin trong huyết thanh tính theo µmol/lít, Clcr có đơn vị là ml/phút
Bảng 2.1 Phân loại mức độ suy thận theo creatinin huyết thanh và độ thanh thải creatinin
Mức độ suy thận Ccr (µmol/lít) Clcr (ml/phút)
(3) Chẩn đoán khi vào viện: bệnh chính, bệnh mắc kèm
(4) Đặc điểm bệnh lý nhiễm khuẩn
(5) Đặc điểm vi sinh: tỷ lệ bệnh nhân được làm xét nghiệm vi sinh, tỷ lệ các loại bệnh phẩm, tỷ lệ kết quả dương tính, các vi khuẩn phân lập được, kết quả kháng sinh đồ
* Đặc điểm sử dụng Cefuroxim
(1) Lý do lựa chọn kháng sinh, bao gồm 4 nhóm:
- Có chẩn đoán nhiễm khuẩn ban đầu
- Không có chẩn đoán nhiễm khuẩn nhưng có dấu hiệu nhiễm khuẩn trước khi dùng Các dấu hiệu nhiễm khuẩn bao gồm: ± sốt và ít nhất 1 trong các điều kiện
về xét nghiệm máu: 1-WBC và NEU (hoặc % NEU) tăng, 2-CRP tăng, Procalcitonin tăng
3 Không có chẩn đoán nhiễm khuẩn và không có dấu hiệu nhiễm khuẩn trước khi dùng
- Lựa chọn theo kết quả kháng sinh đồ
Trang 3223
(2) Đặc điểm phác đồ Cefuroxim, bao gồm:
- Đặc điểm về số lượng phác đồ/1 bệnh nhân
- Đặc điểm phác đồ ban đầu và phác đồ thay thế
- Các phác đồ ban đầu đối với bệnh nhân có chẩn đoán nhiễm khuẩn trước khi dùng
(3) Đường dùng, liều dùng, dung môi sử dụng và thời gian sử dụng
(4) Tương kỵ, tương tác thuốc: tỷ lệ bệnh án có tương kỵ/tương tác thuốc
Cách đánh giá tương kỵ, tương tác thuốc: dựa trên thông tin thu được về các thuốc dùng cùng, tiến hành tra cứu tương tác, tương kỵ thuốc có thể xảy ra bằng cách đối chiếu với thông tin tương tác, tương kỵ thuốc có trong tờ thông tin sản phẩm của Biệt dược gốc Zinacef, Dược thư quốc gia Việt Nam 2015 (lần xuất bản thứ 2) và Stockley's Drug Interactions (2010)
2.2.4 Xử lý số liệu
- Dữ liệu được nhập và xử lý bằng Excel 2016
Trang 3324
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Mục tiêu 1: Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm
2019 dựa trên liều DDD/100 ngày nằm viện
Tiến hành phân loại các kháng sinh sử dụng tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm
2019 thành các nhóm dựa trên hệ thống phân loại ATC và khảo sát DDD/100 ngày nằm viện của các nhóm này Kết quả được trình bày ở Bảng 3.1 và Hình 3.1
Bảng 3.1 Đặc điểm tiêu thụ các nhóm kháng sinh
Trang 3425
Hình 3.1 Đặc điểm tiêu thụ các nhóm kháng sinh
Nhận xét: Tiêu thụ kháng sinh chung tại khoa Sản nhiễm khuẩn năm 2019 đạt 56,56 DDD/100 ngày nằm viện Trong đó, Quinolone là nhóm được tiêu thụ nhiều nhất với DDD/100 ngày nằm viện là 15,98 Tiếp đến là nhóm Penicillin + chất ức chế men với 14,24 DDD/100 ngày nằm viện Cephalosporin thế hệ 2 xếp thứ 3 với DDD/100 ngày nằm viện là 13,34
Khảo sát đặc điểm tiêu thụ của các kháng sinh cụ thể, kết quả thu được thể hiện trong Bảng 3.2
Trang 3526
Bảng 3.2 Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim so với các kháng sinh khác
STT Gộp hoạt chất đường dùng Mã ATC DDD/100 ngày nằm viện
Hình 3.2 Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim so với các kháng sinh khác
Nhận xét: Tiêu thụ Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn xếp thứ tư với 7,97 DDD/100 ngày nằm viện Cùng với Cefuroxim, Cefoxitin và Cefaclor là 2 kháng
LevofloxacinP Ampicilin/SulbactamP
Imipenem/CilastatinP
CefuroximP CefoxitinP Cefoperazone/SulbactamP
ClindamycinP CefaclorO Amoxicillin/chất ưc menO
SulfaguanidineO CeftriaxoneP Piperacillin/TazobactamP
VancomycinP SultamicillinO
DDD/100 ngày nằm viện
Trang 3627
sinh cephalosporin thế hệ 2 khác được sử dụng tại khoa Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim trong nhóm C2G dựa trên DDD/100 ngày giường được thể hiện trong Hình 3.3
Hình 3.3 Đặc điểm tiêu thụ Cefuroxim trong nhóm C2G
Nhận xét: Trong nhóm C2G, Cefuroxim được tiêu thụ nhiều nhất và chiếm 60%
3.2 Mục tiêu 2: Đặc điểm sử dụng Cefuroxim tại khoa Sản nhiễm khuẩn trong 8 tháng đầu năm 2019
Sau quá trình lấy mẫu, 179 bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào nghiên cứu Kết quả khảo sát mẫu nghiên cứu được trình bày dưới đây
3.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
3.2.1.1 Tuổi, đối tượng đặc biệt, thời gian nằm viện, kết quả ra viện
Tất cả 179 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là nữ Tiến hành khảo sát các đặc điểm về tuổi, đối tượng đặc biệt (phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú), thời gian nằm viện và kết quả ra viện Các đặc điểm được thể hiện trong Bảng 3.3 và Hình 3.4
Trang 37Hình 3.4 Phân bố độ tuổi mẫu nghiên cứu
Nhận xét: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 31, với độ tuổi dao động trong khoảng 17-52 tuổi và nhóm tuổi từ 21-41 chiếm tỷ lệ cao nhất Về đối tượng đặc biệt, có 44 phụ nữ có thai (24,6%) và 10 phụ nữ đang cho con bú (5,6%) Tất cả các bệnh nhân đều cải thiện lâm sàng khi ra viện Trong đó, 153 bệnh nhân (85,5%) ra viện với tình trạng bệnh đỡ, giảm; 26 bệnh nhân (14,5%) được ghi nhận khỏi trước khi ra viện Thời gian nằm viện trung bình là 7 ngày