1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố hà nội

77 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 707,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu thấu đáo lĩnh vực pháp luật này sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, góp phần phòng, chống bạo lực gia đình; phát hiện nhanh, nhận diện đúng bản chất và xử lý ch

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Câu hỏi nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Những đóng góp mới của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 10

ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 10

1.1 Khái quát chung về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 10

1.1.1 Một số khái niệm 10

1.1.2 Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ và hậu quả 13

1.1.3 Các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 14

1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 15

1.2.1 Khái niệm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 15

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 18

1.2.3 Nội dung pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 19

1.2.4 Vai trò của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 20

Kết luận Chương 1 23

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24

2.1 Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 24

2.1.1 Quy định về các hành vi bạo lực gia đình bị cấm [15, Điều 2] 24

2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình và nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình 26

2.1.3 Quy định về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình 27

2.1.4 Quy định về các cách thức bảo vệ phụ nữ khi bạo lực gia đình xảy ra 31

2.1.5 Quy định về các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình 34

Trang 2

2.1.7 Quy định về xử lý vi phạm hành chính và vi phạm hình sự đối với các hành vi

bạo lực gia đình đối với phụ nữ 37

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hà Nội 40

2.2.1 Các yếu tố địa lý, kinh tế, xã hội và văn hóa của Hà Nội ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 40

2.2.2 Một số kết quả đạt được 42

2.2.3 Những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế đó 46

Kết luận Chương 2 51

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 52

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 52

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng gia đình và bảo vệ quyền con người, quyền công dân 52

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ song hành với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 54

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 55

3.2.1 Các giải pháp chung 55

3.2.2 Các giải pháp cụ thể 60

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thực hiện của thành phố Hà Nội 62

3.3.1 Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức cơ sở đối với việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 62

3.3.2 Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và xã hội hóa công tác thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 64

3.3.3 Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 65

Kết luận Chương 3 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,8% dân số và 50,6% lực lượng lao động, có đóng góp công sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước[51] Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có vấn đề bạo lực gia đình Một vấn đề toàn cầu, làm tổn hại cả về thể chất và tinh thần của rất nhiều phụ nữ, làm mất ổn định cuộc sống, hạnh phúc của nhiều gia đình.Theo thống kê của Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì trong số các

vụ bạo lực gia đình bị phát hiện, nạn nhân là nữ chiếm đến hơn 74%, trẻ em là hơn 11% Theo điều tra của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đối với phụ nữ,

tỷ lệ từng bị bạo lực về tinh thần là 47,2%, bạo lực thể chất là 7,3%, bạo lực tình dục là 4,2%, bạo lực về kinh tế là 1,8% [52]

Do đó, nghiên cứu pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc Việc nghiên cứu thấu đáo lĩnh vực pháp luật này sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, góp phần phòng, chống bạo lực gia đình; phát hiện nhanh, nhận diện đúng bản chất và xử lý chính xác các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, tìm ra phương cách hữu hiệu điều chỉnh xã hội và định hướng việc thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ một cách hiệu quả

Theo thống kê, tại Việt Nam, bạo lực gia đình đã làm tổn hại tinh thần, ảnh hưởng tới kinh tế và năng suất lao động, ước tính gây thiệt hại khoảng 1,77% GDP (tổng sản phẩm quốc nội) mỗi năm[49] Ngày nay, bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả cho con người Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã và đang trở thành vấn đề phổ biến, là biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người lớn và trẻ em trên toàn thế giới, là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của con người, làm

Trang 4

trở ngại lớn đối với sự bình đẳng trong xã hội, là lực cản trên con đường xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại Vì vậy, trong nhiều năm qua, sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của bạo lực gia đình đối với phụ nữ là mối quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, đặc biệt, tổ chức Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước

về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW)… đã thể hiện sự quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế trong vấn đề bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Bước sang thế kỷ XXI, bạo lực gia đình đối với phụ nữ không giảm mà vẫn tiếp tục lan rộng, trở thành vấn đề nghiêm trọng và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã và đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng, là sự vi phạm thô bạo các quyền con người Tổng hợp số liệu từ các cuộc điều tra xã hội học cho thấy 30% số hộ gia đình được phỏng vấn cho biết trong 12 tháng gia đình họ đã xảy ra ít nhất một hành vi bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật [59]

Chính vì sự nguy hiểm và tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ mà vấn

đề này tại Việt Nam đã được Luật hoá, được đặt dưới sự kiểm soát của pháp luật, đó

là hành vi vi phạm pháp luật Ở nước ta, thúc đẩy bình đẳng giới, tôn trọng và bảo đảm quyền con người chống lại mọi hành vi bạo lực là quan điểm nhất quán của nhà nước Việt Nam Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia nhiều công ước quốc tế liên liên quan đến phòng, chống bao lực, cụ thể như phê chuẩn Công ước CEDAW vào ngày 17/12/1982, phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em Vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cũng được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, theo đó đều coi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, cụ thể như: Luật Hôn nhân

và gia đình 2014; Luật Trẻ em 2016; Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật Bình đẳng giới 2006; đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007,

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 Những văn bản pháp luật nêu trên và các

Trang 5

văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng

Chính vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hết sức cần thiết nhằm xây dựng các quy định pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, cũng như tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này đạt hiệu quả cao, đặc biệt là phòng ngừa bạo lực gia

đình một cách có hiệu quả Đây là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về

phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tại luận văn thạc sỹ Luật học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ không phải là vấn đề mới mẻ, mà là hiện tượng xã hội có tính lịch sử và tương đối phổ biến trên thế giới Đây là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Một số công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề này, cụ thể như:

Công trình nghiên cứu của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội XI

“Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới”

Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009), Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng chống bạo lực gia đình đăng trên Tạp chí Luật học

Bài viết của tác giả Lê Lan Chi (2011), “Bàn về ranh giới xử lý hình sự và xử

lý hành chính các hành vi bạo lực gia đình” đăng trênTạp chí Nhà nước và Pháp

Luật

Bài viết của tác giả Trần Thị Hòe (2010), “Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ” đăng trênTạp chí Khoa học Chính trị

Bài viết của tác giả Ngô Thị Hường (2008), “Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ

em - thực trạng và nguyên nhân” ĐH Luật Hà Nội- Hội thảo khoa học chuyên đề"

Trang 6

Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng (2009), “Tổng quan về bạo lực

và pháp luật phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em” đăng trên Tạp chí Luật

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích, đánh giá vấn đề bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên việc nghiên cứu pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn của thành phố Hà Nội từ đó đề xuất những giải pháp đề hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ thì chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập tới

Đề tài “Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” là công trình khoa học độc lập, có

tham khảo nhưng không trùng lắp với các công trình nghiên cứu mà tác giả đã khảo cứu

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đảm bảo mục đích nêu trên trên, luận văn xác định các nhiệm vụ chính sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

- Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó nhận diện những khó khăn khi thực hiện lĩnh vực pháp luật này

- Nghiên cứu đƣa ra các giải pháp hợp lý, toàn diện, khả thi trong việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ một cách có hiệu quả

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là gì? Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là gì?

- Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đƣợc quy định nhƣ thế nào?

- Thực trạng thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ tại thành phố Hà Nội nhƣ thế nào?

- Làm thế nào để hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối

Trang 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở mục 3, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

5.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Phạm vi về nội dung và không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật và việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội ở các nội dung như: quy định pháp luật về các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ; quy định về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình và nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình; quy định về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình; quy định về các cách thức bảo vệ phụ nữ khi bạo lực gia đình xảy ra; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và quy định về xử lý vi phạm hành chính và vi phạm hình sự đối với các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Phạm vi về thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước, pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, tổng hợp, diễn giải, phân tích, so sánh để phân tích và làm rõ các vấn đề khoa học cần nghiên cứu

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Về mặt lý luận, những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về pháp luật phòng chống bạo lực gia

Trang 9

đình đối với phụ nữ, đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay

- Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thay đổi phần nào nhận thức của người dân về vấn đề bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng, bên cạnh đó, những giải pháp được đề xuất vận dụng vào thực tiễn sẽ nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội và có thể là kinh nghiệm thực tiễn để tham khảo, áp dụng cho những địa phương khác trên cả nước, đồng thời luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu lĩnh vực pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Chương 2 Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trang 10

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

1.1 Khái quát chung về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.1.1 Một số khái niệm

Thứ nhất, khái niệm bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, Gia đình là tế bào của

xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với nhiều dạng thức khác nhau Xét về hình thức, có thể chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau:

- Bạo lực về thể chất trong gia đình: Là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ Bạo lực về thể chất thường biểu hiện bằng các hành vi như: xô đẩy, đánh đập, cào cắn, đạp đá, ném các

đồ vật vào một người, sử dụng vũ khí hoặc bóp cổ

- Bạo lực về tinh thần trong gia đình: Là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình Bạo lực về tinh thần thường biểu hiện bằng các hành vi như: réo đủ các thứ tên để chửi rủa nạn nhân; thậm chí chửi rủa người thân của nạn nhân, đàn áp nạn nhân, dùng những thủ đoạn tâm lý để áp chế nạn nhân, làm nhục nạn nhân ở nơi công cộng, nói xấu họ với con cái, làm nhục họ trước mặt con cái Đôi khi, bạo lực về tinh thần còn thể hiện ở việc cố gắng cô lập, cản trở nạn nhân trong việc tiếp xúc với mọi người, không chế nạn nhân trong việc họ có thể gặp gỡ hoặc nói chuyện với ai, muốn kiểm soát xem

họ đang ở đâu trong mọi lúc, mọi nơi

- Bạo lực về kinh tế trong gia đình: Là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi

về kinh tế của thành viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…), tìm mọi cách để nắm giữ tiền bạc của nạn nhân, bắt bạn phải hỏi xin tiền, kiểm soát tất cả tiền bạc của họ hoặc phá hoại tài sản của nạn nhân

Trang 11

- Bạo lực về tình dục: Là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con

Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì bạo lực gia đình là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình [35]

Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”

[15, Điều 1, Khoản 2]

Đây là hành vi của một hay nhiều thành viên trong gia đình đã dùng quyền lực và bạo lực để thực hiện hành vi làm cho người khác đau đớn về thể xác, bị khủng hoàng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó

Như vậy, dù thuật ngữ bạo lực gia đình được giải thích với nhiều cách khác nhau nhưng khi xem xét bạo lực gia đình, ta có thể thấy các đặc điểm sau:

+ Một là, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó

+ Hai là, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi vô ý + Ba là, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại

về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình

Bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm sâu sắc Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn

đề toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của

xã hội đều có thể gặp phải tệ nạn này Đối tượng của các hành vi bạo lực gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả nam giới nhưng thường là những thành viên yếu đuối

là nữ giới, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ, người già và

Trang 12

hoặc bạo lực thể xác cho biết họ đã từng bị thương tích do hành vi bạo lực đó gây

ra Trong đó, 60% cho biết rằng họ bị thương tích nhiều hơn một lần và 17% bị thương tích nhiều lần [38, trang 80]

Bạo lực gia đình đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, tâm lý, tình cảm của mỗi cá nhân Đặc biệt, đối với phụ nữ thì bạo lực gia đình còn ảnh hưởng đến cả việc mang thai và sinh con, cũng như nuôi dạy con cái và đối với trẻ em thì bạo lực còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình thường và nhất là tương lai của các em sau này

Thứ hai, khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình

Phòng bạo lực gia đình là những biện pháp, cách thức nhằm hạn chế, ngăn chặn, tiến tới loại bỏ sự phát sinh, tồn tại và phát triển của bạo bực gia đình

Bạo lực gia đình phát sinh, tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song chúng ta hoàn toàn có khả năng tiến hành phòng ngừa và ngăn chặn hàng vi bạo lực gia đình khi nó chưa xảy ra bằng việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của bạo lực gia đình

Chống bạo lực gia đình là các biện pháp, phương thức nhằm ngăn ngừa những hậu quả xấu do bạo lực gia đình gây ra đối với các thành viên trong gia đình

Phòng, chống bạo lực gia đình là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, gia đình và cá nhân trong việc phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi bạo lực gia đình; xử lý các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình

Phụ nữ là người yếu thế trong gia đình và trong xã hội và thường bị phân biệt đối xử dựa trên yếu tố giới Chính vì vậy, bạo lực gia đình thường xảy ra đối với phụ nữ nhiều hơn Theo kết quả điều tra thì 65% phụ nữ bị bạo lực là do thành viên trong gia đình gây ra [38, trang 21] Vì vậy, phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ luôn được các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, cộng đồng, gia đình và cá nhân đặc biệt quan tâm giải quyết

Trang 13

1.1.2 Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ và hậu quả

gia đình đối với phụ nữ bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giới, tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" và một số tư tưởng lạc hậu do ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu sắc định kiến giới, đó là những định kiến nằm ngay trong truyền thống văn hóa, phong tục tâp quán, chuẩn mực đạo đức bấy lâu nay trong xã hội: “chồng chúa, vợ tôi”; tư tưởng gia trưởng; định kiến giới: phụ nữ

là người giữ gìn hạnh phúc gia đình - “một điều nhịn là chín điều lành”… Những quan niệm này đã khiến cho người nam giới cho rằng họ có vai trò trụ cột trong gia đình, có quyền định đoạt mọi việc, họ luôn có tư tưởng mình là “tiếng nói” trong gia đình nên có thể mắng chửi vợ một vài câu là điều bình thường, thậm chí tát vợ một vài cái cũng không sao

Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ yếu tố nhận thức: Nhận thức của chính bản thân của người phụ nữ bị bạo lực: Sự nhìn nhận, đấu tranh của người phụ nữ trước bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, còn cam chịu; họ mang tư tưởng: “xấu chàng hổ ai”, họ sợ: “vạch áo cho người xem lưng”, hay sợ hàng xóm, bạn bè chê cười…

Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ yếu tố nhìn nhận của cộng đồng: Cộng đồng, xã hội coi vấn đề bạo lực gia đình là chuyện thông thường, chuyện riêng của mỗi gia đình: “Đèn nhà ai nhà nấy rạng”, sự can thiệp, lên án của cộng đồng, làng xóm, chính quyền địa phương chỉ mang tính chất nhất thời, mờ nhạt Do đó, bạo lực gia đình vẫn có điều kiện tồn tại và phát triển

Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ yếu tố kinh tế: Khó khăn về kinh tế cũng là một trong những yếu tố có nguy cơ dẫn đến bạo lực gia đình Nó thường tạo ra các áp lực dẫn tới các mâu thuẫn, tranh chấp nếu không biết cách xử

lý phù hợp

Nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ yếu tố thiếu hiểu biết về pháp luật: nhiều đối tượng không nhận thức được bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia

Trang 14

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng [36, trang 22] như:

- Ảnh hưởng về sức khỏe đối với phòng, chống bạo lực gia đình: Ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất ở tất cả các mức độ thương tật, kể cả tử vong; rối loại sức khỏe tâm thần và nghiện ngập dẫn đến tình trạng nạn nhân có ý muốn tự sát hoặc đã có hành vi tự sát; trầm cảm và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác (ví dụ rối loạn căng thẳng sau sang chấn, căng thẳng, trầm cảm); ảnh hưởng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục như: Sảy thai, thai chết lưu, nạo phá thai, các biến chứng sản khoa, sinh con nhiều lần, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, mang thai ngoài ý muốn

Ảnh hưởng tới con cái: Hơn 25% phụ nữ đã từng bị chồng bạo lực cho biết con cái họ thường xuyên gặp ác mộng và rất rụt rè hoặc dễ bị kích động so với gần 15% phụ nữ không bị chồng bạo lực Hơn nữa, dường như phụ nữ từng bị chồng bạo hành cho biết con cái họ có xu hướng bỏ học hoặc lưu ban cao hơn

Điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy gần 1/3 phụ nữ bị lạm dụng cho biết công việc của họ bị gián đoạn bởi người chồng, 16% không thể tập trung vào công việc, 6,6% không có khả năng làm việc do ốm đau và 7% mất tự tin do hậu quả của bạo lực gia đình Theo tác giả Duvvury và cộng sự cho biết phụ nữ từng bị bạo hành trung bình bị thiệt hại gần 20% thu nhập tiềm năng hàng tháng [36, trang 23]

1.1.3 Các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Nhận diện được nguồn gốc, nguyên nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ

là cách thức hữu hiệu để tìm ra các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là rất quan trọng

Trước hết, cần tuyên truyền phổ biến kiến thức để nhận nâng cao nhận thức của người dân đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình, từng bước loại bỏ những

tư tưởng lạc hậu, phân biệt đối xử đối với phụ nữ Xây dựng các nội dung giáo dục

về phòng, chống bạo lực gia đình đưa vào các chương trình giáo dục các cấp để nâng cao nhận thức của chính thế hệ tương lai của đất nước

Trang 15

Nâng cao nhận thức và thay đổi cách nhìn nhận của cộng đồng dân cư đối với vấn đề bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình đối với phụ nữ Trên cơ sở

đó, cả cộng đồng mới cùng hành động để ngăn chặn bạo lực gia đình Nâng cao nhận thức của cả nam giới và nữ giới đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình

Tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm để mọi người đều có

cơ hội có được việc làm, có thu nhập và đảm bảo cuộc sống giúp ngăn ngừa những tiêu cực trong xã hội, trong đó có vấn nạn bạo lực gia đình

Giải quyết có hiệu quả các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc… cũng sẽ góp phần giảm thiểu các hành vi bạo lực gia đình

Thực hiện một các có hiệu quả các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2.1 Khái niệm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp năm 1946, đã ghi nhận: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1); “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [7, Điều 9]

Đến Hiến pháp năm 1959, Nhà nước Việt Nam ghi nhận: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [8, Điều 24]

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, pháp luật về gia đình ở Việt Nam đã tiếp thu được những tư tưởng pháp lý tiến bộ của thời đại, khẳng định bảo hộ chế độ hôn nhân và gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chể

Trang 16

độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” [12, Điều 1] Luật quy định rõ địa vị bình đẳng về mọi mặt giữa vợ và chồng trong gia đình: “Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt” [12, Điều 2]

Hiến pháp năm 1980 có các quy định về gia đình rõ ràng, đầy đủ hơn: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…Nhà nước

và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con”[9] Như vậy, nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng, không phân biệt đối xử giữa các con trai và con gái lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1987 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” [13, Điều 10]; “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi; cấm cưỡng ép ly hôn” [13, Điều 4]

Hiến pháp năm 1992 quy định rất cụ thể: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” [10, Điều 64 và 65]

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để đề cao công tác xây dựng, phát triển gia đình thời kỳ đổi mới, không có bạo lực, cụ thể như: Hiến pháp năm 2013; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật bình đẳng giới năm 2006; Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007; Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Những văn bản trên đã nêu bật những mục đích

cơ bản của công tác phòng, chống bạo lực gia đình, đó là nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương,đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới;

Trang 17

phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình,

và xây dựng một gia đình không có bạo lực, đáp ứng những yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đặc biệt, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình trong Hiến pháp năm 2013

cơ bản tiếp tục kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 2013 quy định các vấn đề chung, có tính nguyên tắc liên quan đến gia đình “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” [11, Điều 16]; “Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” [11, Điều 26] Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến gia đình, bình đẳng giới cũng trở thành một trong những nguyên tắc hiến định trong một số điều, khoản của các Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân và Chương III Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường [11]

Thực hiện các quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận, đặc biệt đối với phụ nữ, thì vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đã được Nhà nước cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật có liên quan như: Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Xử

lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Bình đẳng giới năm 2006; Quyết định số 629/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29 tháng 5 năm 2012 Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quyết định

số 215/2014/QĐ-TTg ngày 06/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020

và đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 4/2/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

Trang 18

của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình… là cơ sở pháp lý cơ bản để bảo vệ con người trước bạo hành gia đình

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một lĩnh vực pháp luật gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực của các thành viên trong gia đình đối với phụ nữ, việc phòng chống bạo lực gia đình của các chủ thể nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người phụ nữ trong gia đình, tạo điều kiện cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu

về quyền con người, quyền công dân

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Nguyên tắc 1: Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Nguyên tắc 2: Hành vi bạo lực gia đình phải được phát hiện, ngăn chặn và xử

lý kịp thời theo quy định của pháp luật

Các hành vi bạo lực gia đình phải được xử lý nghiêm, đặc biệt là những hành

vi bạo lực gia đình gây thương tích hoặc bạo hành tinh thần gây hoảng loạn tâm thần đối với phụ nữ cần được xử lý hình sự để đảm bảo tính nghiêm minh

Nguyên tắc 3: Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ

Chú trọng công tác phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ là chính nhưng nguyên tắc bảo vệ, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo lực gia đình cũng cần được các cơ quan có thẩm quyền vào cuộc và thực hiện một cách nghiêm túc vì nạn nhân của bạo lực gia đình khi được giúp đỡ kịp thời có thể bảo vệ được tính mạng, sức khỏe của mình

Trang 19

Nguyên tắc 4: Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình

Phát huy truyền thống tương thân, tương ái, thương người như thể thương thân và giáo dục truyền thống ấy đối với chính các thành viên trong gia đình để mỗi thành viên đều nhận thức gia đình thực sự là “tổ ấm”, là “nơi bình yên nhất” của mỗi người Phát huy vai trò của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể trong

xã hội đối với công tác phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng

1.2.3 Nội dung pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng được ghi nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật, trong đó Luật phòng, chống bạo lực gia đình là chủ đạo gồm các nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định những hành vi bạo lực gia đình bị cấm từ bạo lực về thể xác, bạo lực về tinh thần, bạo lực về kinh tế Đây là căn cứ để phòng chống cũng như xử lý vi phạm pháp luật đối với người thực hiện hành vi

Chúng ta chưa có số liệu chính thức về các hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, nhưng từ năm 2006 đến nay, qua kết quả nghiên cứu của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện gia đình và Giới thì có 21,2 % các cặp vợ chồng có trải qua hình thức bạo lực từ chửi mắng, đánh đập, nhục mạ, buộc quan hệ tình dục khi không có nhu cầu Cứ 05 cặp vợ chồng thì có 01 cặp từng xẩy

ra bạo lực dưới mọi hình thức [51]

Thứ hai, khi có hành vi bạo lực gia đình xảy ra, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định nghĩa vụ của người gây ra bạo lực gia đình đối với nạn nhân Trong thực tế, nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ, nam giới và trẻ em, trong

Trang 20

Thể thao và Du lịch thì trong số các vụ bạo lực gia đình bị phát hiện, nạn nhân là nữ chiếm đến hơn 74%, trẻ em là hơn 11% [52]

Thứ ba, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng ghi các quyền và nghĩa vụ của nạn nhân khi bạo lực gia đình xảy ra Tuy nhiên, những quyền này chỉ được thực hiện khi nạn nhân được biết về quyền và có yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cộng đồng bảo vệ, trong thực tế, nhiều nạn nhân là phụ nữ, trẻ em còn không biết đến quyền này hoặc biết nhưng vì tâm lý e ngại, che dấu mà không yêu cầu cơ quan,

tổ chức bảo vệ khi bị bạo lực gia đình

Thứ tư, để thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ thì chúng

ta luôn coi trọng biện pháp phòng ngừa là chủ yếu vì cố gắng để bạo lực gia đình không xảy ra, hay không có nguy cơ xảy ra thì sẽ hạn chế được những hệ quả đáng tiếc do bạo lực gia đình gây ra Chính vì vậy, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình chú trọng đến việc quy định và thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thứ năm, khi bạo lực gia đình xảy ra đối với phụ nữ, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định của biện pháp bảo vệ phụ nữ Trong những năm qua, các biện pháp bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình nói chung đạt hiệu quả cao

Thứ năm, ghi nhận trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thứ sáu, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2.4 Vai trò của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Nhìn chung, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới Trong

Trang 21

lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng, vai trò của pháp luật là vô cùng to lớn đối với việc bảo vệ phụ nữ - một trong những đối tượng yếu thế trong xã hội và trong gia đình

Cùng với hệ thống pháp luật nói chung thì pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình chính là cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là công cụ hữu hiệu

để nhà nước thực hiện quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước của mình nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, giúp phụ nữ có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các quyền của mình, ngăn ngừa và loại bỏ tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là công cụ pháp lý hữu hiệu để phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ việc thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đến việc thực hiện các biện pháp hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình hay các biện pháp bảo vệ,

hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình…

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là cơ sở pháp lý để

xử lý các hành vi bạo lực gia đình bị pháp luật nghiêm cấm như: hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; lăng

mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; cưỡng ép quan hệ tình dục; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả

Trang 22

năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Những hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nói chung

và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng có thể bị xử

lý vi phạm hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ

Một hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất, cụ thể, tính khả thi cao, dân chủ, tiến bộ, hướng tới các giá trị nhân văn cùng với hệ thống các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ngày càng đầy đủ; hoạt động của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật ngày càng đạt hiệu quả cao hơn sẽ là những đảm bảo pháp lý để ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 23

Kết luận Chương 1

Phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và ban hành hẳn một đạo luật riêng biệt để điều chỉnh đó là Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 Trong Chương 1 của đề tài nghiên cứu này, tác giả đã luận giải được hai vấn đề cơ bản sau:

Một là, khái quát chung về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Trong nội dung này, tác giả đã làm rõ một số vấn đề của phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ như: Phân tích và luận giải khái niệm, đặc điểm của bạo lực gia đình; khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình Luận giải nguồn gốc bạo lực gia đình đối với phụ nữ và hậu quả của bạo lực gia đình; chỉ rõ các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Hai là, phân tích sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ gồm các nội dung như:

Phân tích và luận giải khái niệm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Nguyên tắc của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Nội dung pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Vai trò của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Những nội dung được phân tích ở chương 1 là cơ sở lý luận để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và thực tiễn thực hiện lĩnh vực pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 24

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 2.1.1 Quy định về các hành vi bạo lực gia đình bị cấm [15, Điều 2]

Thứ nhất, quy định những hành vi bạo lực của các thành viên trong gia đình đối với phụ nữ

Một là, nhóm các hành vi bạo lực về thể chất được quy định gồm: Hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục

Hai là, quy định nhóm các hành vi bạo lực về tinh thần gồm các hành vi: Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha,

mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng

ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Ba là, nhóm các hành vi bạo lực về kinh tế gồm các hành vi: chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Các hành vi bạo lực gia đình bị nghiêm cấm, nhưng trong thực tế bạo lực gia đình vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ Theo số liệu các vụ án ly hôn có nguyên nhân

từ bạo lực gia đình do Tòa án nhân dân tối cao báo cáo trong 10 năm (từ ngày 1/7/2008 đến ngày 31/7/2018), cho thấy Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 1.422.067 vụ án ly hôn, đã giải quyết 1.384.660 vụ, đạt tỷ lệ 97,4%, còn lại 37.407 vụ đang trong quá trình giải quyết Trong số 1.384.660 vụ án ly hôn Tòa

Trang 25

án đã giải quyết, có 1.060.767 vụ xuất phát từ nguyên nhân bạo lực gia đình như: Bị đánh đập, ngược đãi; vợ hoặc chồng nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; ngoại tình (chiếm 76,6% các vụ án ly hôn)[43] Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thì trong giai đoạn 2008-2017, toàn quốc đã xảy ra 292.268 vụ bạo lực gia đình [55] Như vậy, số liệu thống kê giữa các ngành là chưa thống nhất với nhau, có thể số liệu các vụ bạo lực gia đình dẫn đến ly hôn không được nạn nhân báo cáo với cơ quan chức năng (cụ thể là chính quyền cấp cơ sở) mà

tự giải quyết để chấm dứt bạo lực gia đình là bằng cách ly hôn

Theo Báo cáo Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp quốc công bố ngày 25/11/2011, cứ ba phụ nữ có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một người (34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức bạo hành này chiếm 9% [38] Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng: thể xác, tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng bị người khác lạm dụng [29]

Thứ hai, những hành vi của những chủ thể khác vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ [15, Khoản 2,3,4,5,6,7 Điều 8] gồm:

Hành vi cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành

Trang 26

Hành vi dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình

Như vậy, hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hành vi bạo lực của thành viên trong gia đình gây ra đối với người phụ nữ còn hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ không chỉ là hành vi của những người thành viên trong gia đình mà còn có thể là hành vi của những người khác không phải là thành viên gia đình Ví dụ: Hành vi sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình Thậm chí, hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình có thể là hành vi của người có thẩm quyền giải quyết bạo lực gia đình như: Hành vi dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình

2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình và nghĩa

vụ của người có hành vi bạo lực gia đình

Thứ nhất, nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền [15, Khoản 1 Điều 5] sau đây:

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo

vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, tư vấn pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình và các quyền khác theo quy định của pháp luật

Đây là các quyền cơ bản giúp cho nạn nhân của bạo lực gia đình thoát khỏi tình trạng bạo lực gia đình hiện thời Tuy nhiên, trong thực tế số lượng người phụ

nữ bị bạo lực gia đình thực hiện các quyền này chiếm một tỷ lệ rất thấp so với thực

tế các vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ xảy ra vì tâm lý e ngại và dấu giếm nên các quyền này chưa được thực hiện một cách có hiệu quả trên thực tiễn

Trang 27

Thứ hai, nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình [15, Khoản 2 Điều 5]: Có

nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu

Thứ ba, nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình [15, Điều 4]

Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành

vi bạo lực

Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối

Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật

Đối với các hành vi bạo lực gia đình của chồng đối với vợ thì nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân gần như không được thực hiện trong thực tiễn vì tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thường là tài sản chung nên ngay cả những trường hợp người phụ nữ bị chồng đánh đập, hành hạ gây thương tích thì không có người phụ nữ nào làm đơn khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu người gây

ra hành vi bạo lực gia đình (người chồng) bồi thường thiệt hại cho vợ

2.1.3 Quy định về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình

Thứ nhất, quy định về thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình

Về mục đích của biện pháp thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình: Nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam

Về yêu cầu đối với biện pháp thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình phải bảo đảm: chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn giáo và không làm ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín

Trang 28

Vê nội dung của biện pháp thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình gồm: Thông tin về chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình Thông tin, tuyên truyền về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam Thông tin, tuyên truyền về tác hại của bạo lực gia đình để mọi người dân nhận thức được và có biện pháp ngăn ngừa, phòng chống Thông tin, chia sẻ về các biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình Tuyên truyền các kiến thức về hôn nhân và gia đình; kỹ năng ứng xử, xây dựng gia đình văn hoá và những nội dung khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình

Về hình thức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân hoặc thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác

Theo kết quả Tổng kết 10 năm thi hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì công tác truyền thông và các hoạt động tại cộng đồng đạt kết quả cao nhất, trong

10 năm, các cơ quan, tổ chức đã biên soạn và phân phối hàng triệu tờ rơi, tờ gấp; tranh cổ động, áp phích và tài liệu tuyên truyền liên quan tới xây dựng gia đình; Tổ chức hàng nghìn cuộc hội thảo, tập huấn về phòng, chống bạo lực gia đình cho hàng trăm nghìn lượt người có liên quan thuộc các ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở; thực hiện trợ giúp pháp lý; thăm khám và bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình Ước tính, đến nay có trên 90% hộ gia đình có ít nhất 01 người được tiếp cận thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình qua các kênh thông tin khác nhau Mô hình phòng, chống bạo lực gia đình được thí điểm giai đoạn 2008-2010 tại 64 xã/phường/thị trấn thuộc 64 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Kết quả tổng kết sau 3 năm thí điểm cho thấy, số vụ bạo lực gia đình giảm 77,8% so với trước khi triển khai Mô hình; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo nhận rộng Mô hình trên phạm vi toàn quốc, thống kê tại 61/63 tỉnh thành phố

có khoảng 74,85% xã/phường/thị trấn triển khai Mô hình phòng, chống bạo lực gia

Trang 29

đình [49] Các Mô hình hiện nay đang đóng góp tích cực vào công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cũng như thực hiện can thiệp,

hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình ngay tại cộng đồng

Thứ hai, quy định về hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình

Các mâu thuẫn, bất đồng giữa các thành viên trong gia đình cần được hòa giải kịp thời, tạo cơ hội để các thành viên trong gia đình có thể hàn gắn để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc vì sự tan vỡ của mỗi gia đình cũng sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội

Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ quy định nguyên tắc hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình cần phải được thực hiện kịp thời, chủ động, kiên trì; phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Tôn trọng sự tự nguyện tiến hành hòa giải của các bên; khách quan, công minh, có lý, có tình Đảm bảo việc giữ bí mật thông tin đời tư của các bên Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Tuy nhiên, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng quy định những mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình không được hòa giải như những vụ việc thuộc tội phạm hình sự và những vụ việc thuộc hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý hành chính

Về chủ thể tiến hành hòa giải, trước hết thuộc về chính gia đình – nơi phát sinh mâu thuẫn, bất đồng

Khi gia đình không hòa giải được hoặc có yêu cầu của thành viên gia đình thì người đứng đầu hoặc người có uy tín trong dòng họ chủ động hòa giải hoặc mời người có uy tín trong cộng đồng dân cư hòa giải

Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa người thuộc cơ quan, tổ chức mình với thành viên gia đình họ khi có yêu cầu của thành

Trang 30

viên gia đình; trường hợp cần thiết thì phối hợp với cơ quan, tổ chức ở địa phương

để tiến hành hòa giải

Tổ hòa giải ở cơ sở tiến hành hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở Ủy ban nhân dân cấp

xã có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các

tổ chức thành viên hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hòa giải ở cơ

sở thực hiện hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình

Thứ ba, các quy định về tư vấn trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình

Cán bộ thực hiện công tác tư vấn tại cơ sở gồm: Công chức làm công tác văn hóa - xã hội, công chức làm công tác tư pháp, cán bộ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi cấp xã, tổ viên của Tổ hòa giải ở cơ sở, nhân viên y tế ở cấp xã đã được tập huấn về tư vấn là người thực hiện tư vấn trực tiếp về gia đình ở cơ sở

Đối tượng cần tư vấn về gia đình ở cơ sở do Ủy ban nhân dân cấp xã xác định và lập danh sách để thực hiện hoạt động tư vấn Đó là những người có hành vi bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình; người nghiện rượu, ma tuý, đánh bạc

và người chuẩn bị kết hôn

Nội dung tư vấn gồm: Cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình

Hình thức tư vấn về gia đình ở cơ sở gồm: Tư vấn trực tiếp; tư vấn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc tư vấn thông qua các loại hình khác

Trách nhiệm của cán bộ cơ sở đối với hoạt động tư vấn là: Công chức làm công tác tư pháp phối hợp với công chức làm công tác văn hóa - xã hội cấp xã cung cấp, phổ biến tài liệu, thông tin, kiến thức về phòng, chống bạo lực gia đình cho người chuẩn bị kết hôn trước khi được cấp Giấy chứng nhận kết hôn; cung cấp nội dung tư vấn về gia đình ở cơ sở cho cơ quan thông tin đại chúng

Trang 31

Thứ tư, quy định về việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình

Việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với hành vi bạo lực gia đình thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi bạo lực gia đình đã diễn ra Biện pháp này được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được tổ hòa giải ở cơ sở hoà giải mà tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình

Người đứng đầu cộng đồng dân cư (Trưởng thôn, làng, bản, ấp, phum, sóc,

tổ trưởng tổ dân phố…) quyết định và tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình

Thành phần tham gia góp ý, phê bình bao gồm đại diện gia đình, hộ gia đình liền kề và các thành phần khác do người đứng đầu cộng đồng dân cư mời

2.1.4 Quy định về các cách thức bảo vệ phụ nữ khi bạo lực gia đình xảy ra

Thứ nhất, quy định về các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình

Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra, bao gồm:

Một là, buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;

Hai là, cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình Nạn nhân bị thương tích do bạo lực gia đình gây ra thì người gây ra bạo lực gia đình, người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình phải đưa nạn nhân đi cấp cứu ngay tại cơ sở y tế Khi khám và điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nạn nhân bạo lực gia đình được xác nhận việc khám và điều trị nếu có yêu cầu Chi phí cho việc khám và điều trị đối với nạn nhân bạo lực gia đình do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả đối với người có bảo hiểm y tế Nhân viên y tế khi thực hiện nhiệm vụ của mình có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo lực gia đình; trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để

Trang 32

Ba là, các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình

Các biện pháp ngăn chăn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính gồm: (1) Tạm giữ người; (2) Áp giải người vi phạm; (3) Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; (4) Khám người; (5) Khám phương tiện vận tải, đồ vật; (6) Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện

vi phạm hành chính; (7) Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; (8) Giao cho gia đình, tổ chức quản lý người

bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính; (9) Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn [16, Điều 119]

Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh [4, Khoản 1 Điều 109]

Bốn là, biện pháp cấm tiếp xúc: Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với:

Trường hợp 1: Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình

Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc thuộc về Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; (2) Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc

đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; (3) Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc

Trang 33

Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người

có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình

Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị tạm giữ hành chính, xử phạt vi phạm hành chính

ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình không quá 3 ngày

Trường hợp 1: Cấm tiếp xúc theo quyết định của Toà án

Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; (2) Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc

đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; (3) Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc

Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người

có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình và Viện kiểm sát

Thời hạn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án nhân dân không quá 4 tháng

Người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi bạo lực và khả năng của mình có trách nhiệm thực hiện biện pháp buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình và cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình

Quy định về biện pháp cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực là cần thiết để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân và cũng là

Trang 34

việc áp dụng biện pháp này phải có các điều kiện như phân tích trên đây điều này có phần chưa khả thi Bởi vì, hầu hết nạn nhân bị bạo lực là người vợ, người con trong

đó nhiều người bị phụ thuộc vào người chồng về kinh tế, đặc biệt là người phụ nữ lại rất gắn bó với con cái, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nhưng họ vẫn có thể cam chịu, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực Do đó, việc quy định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc phải “có đơn yêu cầu của nạn nhân, có sự đồng ý của nạn nhân” là chưa phù hợp với thực tiễn và chưa bảo vệ được các nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ, trẻ em Bên cạnh đó, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 20 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 thì điều kiện để cấm tiếp xúc là: “Người

có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc” Điều này là không khả thi, vì đa số hành vi bạo lực gia đình xảy ra với những người trong gia đình, sống chung trong một mái nhà nên họ không

có nơi ở khác Do đó, khi áp dụng biện pháp này, trong trường hợp hành vi bạo lực gây tổn hại hết sức nghiêm trọng tới sức khỏe, danh dự của nạn nhân; hành vi lặp lại nhiều lần; người có hành vi đã được giáo dục mà tiếp tục vi phạm… thì không cần đến sự yêu cầu hay cho phép của nạn nhân [29] Khi thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc, nếu nạn nhân hoặc thủ phạm không có nơi ở khác thích hợp thì các cơ quan, tổ chức hữu quan phải bố trí chỗ ở cho họ (có thể ở tại nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà văn hóa thôn, bản…)

Thứ hai, tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình

Nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn về chăm sóc sức khoẻ, ứng xử trong gia đình, pháp luật và tâm lý để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình, được hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu

2.1.5 Quy định về các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình

Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là nơi chăm sóc, tư vấn, tạm lánh,

hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình, bao gồm:

Trang 35

Một là, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Ngoài chức năng khám chữa bệnh thì tùy theo khả năng và điều kiện thực tế, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình trong thời gian không quá 1 ngày theo yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình

Hai là, cơ sở bảo trợ xã hội là nơi thực hiện việc chăm sóc, tư vấn tâm lý, bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình Tính đến năm 2016, cả nước có 408 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 194 cơ sở công lập và 214 cơ sở ngoài công lập [45] với các tên gọi khác nhau như: Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người cao tuổi Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người khuyết tật Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí Cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần trợ giúp xã hội…[21, Điều 5] Tuy nhiên, chưa có cơ sở bảo trợ

xã hội nào có tên gọi Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình

Ba là, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình Đây là cơ sở do các tổ chức, cá nhân thành lập và được Nhà

trợ, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình theo chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình; kinh phí hỗ trợ, đối tượng được hỗ trợ do Chính phủ quy định Cơ ở này thực hiện việc cung cấp các dịch vụ tư vấn về pháp luật, tâm lý, chăm sóc sức khỏe, bố trí nơi tạm lánh và các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình

Bốn là, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng Đây là cơ sở do các cá nhân, tổ chức có

uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân

nạn nhân bạo lực gia đình, hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết

Mô hình này đã được tổ chức thực hiện ở nhiều địa phương và đem lại hiệu quả cao trong việc phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 36

Ví dụ: tỉnh Bến Tre đã thành lập gần 500 “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” với gần 2.000 thành viên ở các địa bàn dân cư ấp, khu phố [53] Tỉnh Thanh Hóa phát triển được 1.300 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng Các mô hình đã hòa giải 2.716 vụ mâu thuẫn gia đình có liên quan đến bạo lực gia đình, tư vấn cho 3.485 người [47]

Ban Chủ nhiệm các địa chỉ là đại diện các đoàn thể chính trị, văn hóa - xã hội Các “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” thường được chọn đặt ở nhà của các trưởng khu phố, chi hội trưởng các chi hội Với tinh thần tham gia tự nguyện của các thành viên, “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” kịp thời đại diện, bênh vực cho nhiều trường hợp phụ nữ, trẻ em đối tượng yếu thế bị bạo hành, xâm hại; tư vấn, giải quyết các mâu thuẫn, bất hòa trong hôn nhân gia đình Không chỉ hỗ trợ cho nạn nhân bị bạo lực gia đình mà các thành viên của các “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” còn phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức, hỗ trợ giới thiệu việc làm, nâng cao thu nhập cho phụ nữ… Từ đó, giảm nảy sinh mâu thuẫn về tiền bạc và tình cảm trong gia đình, là những nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực gia đình

Mặc dù, “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” đã phát huy hiệu quả trong thời gian vừa qua, nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận thẳng thắn về vấn đề bạo lực gia đình diễn ra đối với phụ nữ ở các khía cạnh bảo vệ, trợ giúp: Tại sao nạn nhân của bạo lực gia đình phải dời khỏi nơi sinh sống để tạm lánh, trong khi kẻ gây ra bạo lực gia đình lại không phải “cách ly” khỏi gia đình mà chỉ có thể là “cấm tiếp xúc” với nạn nhân theo quyết định của của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú hoặc Tòa án nhân dân

2.1.6 Quy định về trách nhiệm của các cơ quan chức năng, người có thẩm quyền đối với việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình được quy định tại Chương IV Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (từ Điều 33 đến Điều 41) Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; trách nhiệm của

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trách nhiệm của Bộ Y tế; trách nhiệm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường

Trang 37

và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan thông tin đại chúng; trách nhiệm của cơ quan Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Tuy nhiên, Luật chỉ quy định chung chung về trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong thi hành Luật, mà không đề ra cơ chế cho việc thực thi trên thực tế

Hiện nay, Nghị định 08/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04 tháng 02 năm

2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng không quy định chi tiết về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đối với việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

2.1.7 Quy định về xử lý vi phạm hành chính và vi phạm hình sự đối với các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Hiện nay, quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng được quy định trong Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, Nghị định này chưa quy định bất cứ một hình thức xử phạt nào cho những hành vi dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại khoản 7 Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 Do đó, cần phải quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm của các

cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình cũng như những chế tài xử lý thích đáng đối với các cơ quan, tổ chức để các vụ việc bạo lực xảy ra liên tục, kéo dài, không phát hiện và có biện pháp can thiệp kịp thời

Bên cạnh đó, vẫn còn một số quy định về hình thức phạt tiền của Nghị định

số 167/2013/NĐ-CP chưa thực sự hợp lý và không có tính khả thi, cụ thể như:

“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong

Trang 38

hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác 2) Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác” [20, Điều 55] Mức phạt như vậy là quá thấp, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vì đối với những người có điều kiện kinh tế thì mức phạt tiền như trên là không có ý nghĩa giáo dục với họ Còn đối với người có điều kiện kinh tế khó khăn thì biện pháp phạt tiền lại càng phản tác dụng do người có hành vi bạo lực vì phải nộp phạt mà trút giận lên nạn nhân bằng những hành vi bạo lực kinh khủng hơn, tinh vi hơn Ngoài ra, trong trường hợp người có hành

vi bạo lực không có thu nhập thì việc phạt tiền với họ là không khả thi, không

có tác dụng, do họ không có công ăn việc làm, thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn

và đánh đập vợ để lấy tiền uống rượu, khi bị xử phạt thì người phải bỏ tiền nộp phạt chính là nạn nhân (vợ, con) [29]

Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình” Vậy, thương tích ở mức độ nào và nạn nhân phải có kết quả giám định thương tật thì người gây ra bạo lực gia đình mới bị xử phạt chăng? “Phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình” [20, Khoản 1 Điều 51] Vậy mức độ lăng mạ, chửi bới thành viên trong gia đình như thế nào thì sẽ bị xử lý? Muốn có căn cứ để xử phạt cần có bằng chứng, có người đứng ra tố giác hoặc cơ quan chức năng phát hiện

và xử lý Trong khi đó, sự lăng mạ thực hiện bằng lời nói mà thường thì “lời nói gió bay” lấy gì làm căn cứ; liệu lực lượng cán bộ xã, công an… có đủ để theo sát từng nhà, phát hiện hành vi để xử lý Đây chính là lý do mà quy định có nhưng không thực hiện xử phạt được trong thực tế hoặc rất ít khi được xử lý khiến cho tình trạng bạo lực gia đình ngày càng diễn ra phức tạp hơn và chính người vi phạm và nạn nhân cho rằng đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Ví dụ, kết quả phỏng vấn phụ nữ từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010

Ngày đăng: 22/12/2020, 00:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w