Trong số các công trình đã công bố liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp, có thể kể đến những công trình tiêu biểu, cụ thể như: - Luận văn thạc sĩ “Định hướng và những giải pháp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT VĨNH PHÚC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT VĨNH PHÚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Dũng
Trang 4phương pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện Luận văn
Mặc dù bản thân cũng rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và tất cả bạn bè
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôi hoàn thành bản luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 7
1.1 Một số khái niệm 7
1.1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.1.2 Ngành kinh doanh xổ số kiến thiết 10
a Xổ số 10
b Vai trò của xổ số 12
c Đặc điểm của ngành kinh doanh xổ số kiến thiết 13
1.2 Nội dung và các chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh xổ số 14
1.2.1 Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết 14
a Phân tích cấu trúc tài chính 14
b Phân tích tính ổn định của chính sách tài trợ vốn 14
d Phân tích tình hình thanh toán 15
e Phân tích khả năng sinh lợi 16
1.2.2 Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 16
a Phân tích cấu trúc tài chính 16
b Phân tích tính ổn định của chính sách tài trợ vốn 19
c Phân tích tình hình thanh toán 22
c Phân tích khả năng sinh lời 29
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp 30
Trang 61.3.1 Các nhân tố chủ quan 30
1.3.2 Các nhân tố khách quan 33
1.4 Bài học kinh nghiệm về phân tích tài chính ở một số đơn vị 34
1.4.1 Phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú Thọ 34
1.4.2 Gợi ý đối với Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2017-2019 38
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc 38
2.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc 38
2.1.2 Các loại hình xổ số của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc hiện nay 40
a Xổ số truyền thống 40
b Xổ số Lô tô 43
c Xổ số cào, bóc 45
2.2 Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc, giai đoạn 2017 – 2019 47
2.2.1 Cơ cấu vốn 47
a Phân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn 47
b Phân tích tính ổn định của chính sách tài trợ vốn 53
2.2.2 Thực trạng các chỉ tiêu phân tích tài chính Công ty 2017-2019 55
a Phân tích khả năng thanh toán 55
b Phân tích khả năng sinh lợi 56
2.2.3 Phân phối lợi nhuận 58
2.3 Đánh giá về tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc 59
Trang 72.3.1 Kết quả đạt được 59
2.3.2 Tồn tại hạn chế 60
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2025 65
3.1 Phương hướng phát triển của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc đến năm 2025 65
3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc đến năm 2025 66
3.2.1 Về cấu trúc tài chính và chính sách tài trợ vốn 66
3.2.2 Về tình hình công nợ và khả năng thanh toán 67
3.2.3 Về khả năng sinh lời 68
3.2.4 Đa dạng hoá loại hình hoạt động xổ số và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh xổ số 69
3.2.5 Giải pháp thúc đẩy hoạt động Marketing 70
3.2.6 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 72
3.2.7 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty 73
3.2.8 Hoàn thiện công tác phân tích tài chính và kế hoạch hóa tài chính 76
3.3 Một số kiến nghị 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
BTC Bộ tài chính
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CĐKT Cân đối kế toán
CSH Chủ sở hữu
CKPT Các khoản phải thu
DTT Doanh thu thuần
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Cân bằng tài chính dưới góc độ ổn định nguồn tài trợ 21 Bảng 2.1 Cơ cấu giải thưởng của xổ số truyền thống 42 Bảng 2.2: Bảng phân tích sự biến động và cơ cấu tài sản của tại Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc giai đoạn 2017 – 2019 48 Bảng 2.3: Bảng phân tích sự biến động và cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc giai đoạn 2017 – 2019 51 Bảng 2.4: Tình hình tài trợ tài sản ngắn hạn thường xuyên Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc giai đoạn 2017 – 2019 54 Bảng 2.5: Bảng Khả năng thanh toán của Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc 55 Bảng 2.6: Tỷ suất chi phí và tỷ suất lợi nhuận của công ty 56 Bảng 2.7: Bảng tổng hợp phân phối lợi nhuận tại Công ty TNHH Một thành viên
Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc giai đoạn 2017-2019 59
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích tài chính doanh nghiệp có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa và hội nhập vào các khu vực như AFTA, ASEAN, APEC, WTO,…mức độ mở cửa của thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, ngân hàng sẽ mạnh mẽ hơn để đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp cần phải thay đổi để phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường
Phân tích tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng và có phạm vi rộng lớn, hiện hữu trong mọi hoạt động và có tác động đến tất cả kinh doanh Trong đó, kinh doanh xổ số là một lĩnh vực hoạt động mang đặc thù riêng, đây là lĩnh vực kinh doanh độc quyền của Nhà nước Kinh doanh xổ số là “hoạt động kinh doanh dựa trên các sự kiện có kết quả ngẫu nhiên, được tổ chức theo nguyên tắc doanh nghiệp thu tiền tham gia dự thưởng của khách hàng và thực hiện trả thưởng cho khách hàng khi trúng thưởng” (Nghị định 30/2007/NĐ-CP của Chính phủ (2007) Ở Việt Nam, xổ số được phát hành chính thức từ năm 1962 với phương châm hướng đến “ích nước, lợi nhà” Đây là công cụ tài chính của Nhà nước để điều tiết, phân phối lại thu nhập quốc dân, khai thác thêm nguồn thu cho ngân sách
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh xổ số đã chuyển từ mô hình bao cấp sang Công ty TNHH Trong đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc là doanh nghiệp Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện về mọi mặt hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và các cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật Trong 05 năm gần đây, Công ty duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 10%, phát triển được trên 750 đại lý bán vé số, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của địa phương và ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên, với đặc thù cơ chế quản lý hiện tại, Công ty XSKT vừa chịu sự chi phối của địa phương dưới hình thức quản lý của chủ sở hữu, vừa chịu sự quản lý
Trang 11của Bộ Tài chính dưới góc độ là cơ quan quản lý Nhà nước Chính điều này đôi khi làm nảy sinh tình trạng không thống nhất trong quản lý của hai chủ thể Kinh doanh thời gian dài trong lĩnh vực độc quyền cùng với sự đơn giản về nghiệp vụ kinh doanh nên vấn đề nhân sự có ảnh hưởng không nhỏ trong vấn đề quản lý của Công
ty Xổ số truyền thống với hình thức bán lẻ cầm tay như hiện nay đã không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội Với đặc điểm kênh phân phối nhiều đại lý trung gian, quá trình theo dõi vé trúng thưởng đối và việc kiểm tra số liệu vé bán không hết được hoàn trả trong ngày của Công ty còn gặp nhiều khó khăn Cùng với đó, rất nhiều người chơi vẫn bị cuốn hút vào chơi số đề nhiều hơn chơi xổ số Điều này ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu của doanh nghiệp
Xuất phát từ nhận thức đó, qua một thời gian tìm hiểu về thực trạng quản lý tài chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên xổ số kiến thiết (XSKT) Vĩnh Phúc cũng như thu thập thông tin về hoạt động của công ty những
năm gần đây, tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích tài chính tại Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc” làm đề tài bảo vệ luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tổng quan nghiên cứu
Phân tích tài chính nói chung và phân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng hiện nay đã và đang được rất nhiều nhà quản lý kinh tế nghiên cứu Tác giả nghiên cứu và sử dụng giáo trình của một số trường Đại học phát hành làm cơ sở nghiên cứu lý thuyết, có thể kể đến như Giáo trình “Quản lý tài chính doanh nghiệp” của GS.TS Phạm Quang Trung - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Giáo trình “
Cơ sở quản lý tài chính” của PGS.TS Nghiêm Sĩ Thương, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Nguyễn Văn Công (2010) Giáo trình “Phân tích báo cáo tài chính” Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, Hà Nội Nguyễn Ngọc Quang (2011) Phân tích báo cáo tài chính , Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Phạm Thị Gái (2004) Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Đây là những tài liệu giúp tác giả có những kiến thức cơ bản ban đầu về phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc
Trang 12Bên cạnh đó tác giả còn tham khảo các luận văn thạc sĩ liên quan đã bảo vệ thời gian qua Trong số các công trình đã công bố liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp, có thể kể đến những công trình tiêu biểu, cụ thể như:
- Luận văn thạc sĩ “Định hướng và những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tài chính từ hoạt động Xổ số kiến thiết Việt Nam” của tác giả Tô Hữu Thiện, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ chế tài chính các Công ty xổ số kiến thiết khu vực miền Bắc” của tác giả Võ Trung Dũng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008
- Nguyễn Văn Quang (2017), Quản lý tài chính ở Công ty Cổ phần Điện tử tin học viễn thông Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Trần Văn Tuấn (2013), Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Sông Đà - Thăng Long, Luận văn thạc sĩ
- Phùng Thị Hồng Nhung (2012), Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Traphaco, Luận văn thạc sĩ
- Bùi Văn Hoàng (2015), Phân tích báo cáo tài chính Công ty cổ phần Vinaconex 25, Luận văn thạc sĩ
- Nguyễn Xuân Thủy (2014), Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam, luận văn thạc sĩ
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
về phân tích tài chính tại doanh nghiệp và đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập đã và đang diễn ra trong tình hình đổi mới hiện nay Các công trình này đã có giá trị tham khảo tốt trong quản lý tài chính tại các doanh nghiệp ở nước ta Mặt khác, qua quá trình khảo sát, phỏng vấn cán bộ quản lý Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc, đặc biệt tác giả đã tiếp cận hầu hết các cán bộ, viên chức, người lao động thuộc các phòng tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc; kết quả cho thấy từ năm 2015 đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết
Trang 13Vĩnh Phúc Vì vậy, đề tài luận văn của tác giả hoàn toàn mới Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu trực tiếp và hệ thống về phân tích tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc trong những năm tiếp theo
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Muốn thực hiện phân tích tài chính ở một doanh nghiệp có hiệu quả cần phải có những nhận thức lý luận cần thiết gì?
- Thực trạng phân tích tài chính ở Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc như thế nào? Đặc biệt là những hạn chế, bất cập cần khắc phục?
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế liên quan đến tình hình tài chính ở Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc
- Giải pháp gì nhằm hoàn thiện tình hình tài chính ở Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc?
- Giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ
số kiến thiết Vĩnh Phúc đến năm 2025
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Trang 145.2 Phạm vi nghiên cứu :
+ Về nội dung: Phân tích tài chính doanh nghiệp
+ Về không gian nghiên cứu: Lĩnh vực kinh doanh xổ số; trong không gian hoạt động của Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc
+ Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2017-2019; Đề xuất giải pháp đến năm
2025
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Đề tài chọn địa điểm nghiên cứu tại Công ty TNHH một thành viên XSKT Vĩnh Phúc Đây là công ty hoạt động kinh doanh xổ số trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Phúc Công ty đã có những sự chuyển biến trong cơ cấu tổ chức cũng như quản lý, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triền trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, công
ty đã có đóng góp to lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương và của đất nước
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp: Là quá trình tiến hành thu thập số liệu, tài liệu, thông tin qua sách báo tạp chí và các báo cáo đã ghi chép ở thời gian trước như báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh,
Phương pháp xử lý số liệu
Công cụ xử lý số liệu: Phần mềm excel, toán xác xuất thống kê
Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp thống kê mô tả
Dựa trên cơ sở những việc thực tế để mô tả giúp người đọc có thể hiểu được quá trình diễn biến của vấn đề nghiên cứu Với đề tài này, đó là việc đi sâu vào mô
tả công tác quản lý tài chính của công ty, từ đó phân tích được tình hình hiện tại và đưa ra các giải pháp trong tương lai
* Phương pháp so sánh, đối chiếu
Là phương pháp tính toán các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối, so sánh chúng với nhau, từ đó tìm ra quy luật chung của hiện tượng Mục tiêu của việc sử dụng
Trang 15phương pháp so sánh trong đề tài này là phân tích thực trạng tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên XSKT Vĩnh Phúc giai đoạn 2017-2019
* Phương pháp phân tích, đánh giá
Phân tích số liệu: xem lại các số liệu đã được tổng hợp trước đó có đặc điểm, quy mô tương đương với kỳ đang tiến hành nghiên cứu
Từ những số liệu thu thập và tổng hợp được, kết hợp với các phương pháp để phân tíchthực trạng tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên XSKT Vĩnh Phúc giai đoạn 2017-2019, đánh giá vấn đề từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp
7 Đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về khoa học
Kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn góp phần hệ thống hóa khung lý thuyết Phân tích tài chính tại doanh nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp và khuyến nghị của luận văn trực tiếp góp phần cải thiện quản
lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu luận văn cũng có ý nghĩa tham khảo đối với thực tiễn quản
lý tại các Công ty TNHH một thành viên xổ số khác ở Việt Nam có cùng điều kiện tương đồng với Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cảm ơn, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc giai đoạn 2017 - 2019
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Vĩnh Phúc đến năm 2025
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một khái niệm được rất nhiều nhà phân tích quan tâm, đứng trên quan điểm của mình, mỗi nhà phân tích lại đưa ra một khái niệm khác nhau Theo GS.TS Phạm Quang Trung (2012): “Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sách số liệu các chỉ tiêu tài chính kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua hoặc hệ thống báo cáo tài chính dự toán nhằm cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có thể đánh giá tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp ” [14,tr7]
Tác giả Phạm Thị Thủy (2012), trên quan điểm của mình đưa ra khái niệm:
“Phân tích tài chính là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để xem xét mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đánh giá về tình hình tài chính hiện tại cũng như dự báo về tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp ” [21,tr99]
Theo tác giả Nguyễn Năng Phúc (2014): “Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các
kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi
ro về mặt tài chính trong tương lai của doanh nghiệp ” [19,tr4]
Nhìn vào khái niệm trên, có thể thấy các tác giả có nhiều điểm chung khi đưa
ra khái niệm phân tích TC, tác giả luận văn cùng chung quan điểm khi cho rằng: phân tích TC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua nhằm mục đích cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích TC, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng,
Trang 17hiệu quả kinh doanh và dự báo về tình hình tài chính cũng như những rủi ro tương lai của doanh nghiệp
Hệ thống TC cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin một cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và lưu chuyển tiền từ các hoạt động của đơn vị trong mỗi một kỳ kinh doanh Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào các số liệu riêng lẻ mà TC cung cấp thì sẽ khó có được cái nhìn tổng quan, toàn diện vì thiếu đi
sự liên hệ giữa các thông tin đó Do đó, cần phải thực hiện phân tích để thấy được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên TC Từ đó, người sử dụng thông tin có thể thu thập được thông tin chính xác về thực trạng tài chính và tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra quyết định kinh doanh hiệu quả nhất đồng thời lựa chọn những phương án kinh doanh tối ưu Bởi vậy, việc phân tích TC có ý nghĩa rất quan trọng đối với các đối tượng quan tâm đến doanh nghiệp bao gồm cả đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Đối tượng bên trong doanh nghiệp, bao gồm: nhà quản lý, người lao động và các cổ đông hiện tại của công ty Mỗi đối tượng trên sử dụng thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các mục đích khác nhau Cụ thể:
Các cổ đông với mục tiêu đầu tư vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận nên quan tâm nhiều đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Họ chính là chủ sở hữu của doanh nghiệp nên sử dụng thông tin kế toán để theo dõi tình hình tài chính
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ tài sản mà mình đã đầu tư vào doanh nghiệp Tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là hai yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Vì vậy, để bảo vệ tài sản của mình các cổ đông phải thường xuyên phân tích TC của doanh nghiệp mà họ đã đầu tư để quyết định có nên tiếp tục nắm giữ cổ phiếu của các doanh nghiệp này nữa hay không
Nhà quản lý doanh nghiệp thường căn cứ vào TC để đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động và luồng tiền trong quá khứ, hiện tại làm cơ sở cho việc lập và điều chỉnh kế hoạch, dự toán trong tương lai Nhưng thông tin trên các TC thường không đáp ứng đủ cho nhu cầu thông tin của họ Nhằm đáp ứng thông tin
Trang 18cho đối tượng này, bên cạnh việc tổ chức hệ thống kế toán quản trị thì hoạt động phân tích TC đã giúp cho nhà quản lý đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp;
Đảm bảo những quyết định của ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận;
Là căn, cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý trong doanh nghiệp và cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính
Người lao động quan tâm đến các thông tin từ phân tích tài chính để xem xét khả năng tồn tại của doanh nghiệp, khả năng thanh toán lương cùng triển vọng tăng lương trong tương lai
Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm: nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, nhà cung cấp, chủ nợ, cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan khác
- Nhà đầu tư: Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các TC của doanh nghiệp cần được công bố cho các nhà đầu
tư Mục đích của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc đầu tư mua vào cổ phiếu của doanh nghiệp hoặc đầu tư nguồn vốn vào các dự án của doanh nghiệp Do vậy, họ luôn luôn mong đợi, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao Phân tích thông tin từ TC doanh nghiệp cung cấp cho nhà đầu tư những chỉ tiêu về mức sinh lợi, thời gian hoàn vốn, mức độ thu hồi vốn, mức độ rủi ro của các dự án đầu tư Qua đó, giúp cho nhà đầu tư đưa ra những quyết định đúng đắn cho đồng vốn của mình
- Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, nhà cung cấp và các chủ nợ quan tâm đến khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện trên các TC Các chủ ngân hàng còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và coi đó như là nguồn đảm bảo cho ngân hàng có thể thu hồi nợ khi doanh nghiệp bị thua lỗ
và phá sản
Trang 19- Cơ quan quản lý nhà nước sử dụng thông tin từ phân tích TC để điều hành, hoạch định chính sách, quản lí chung nền kinh tế thông qua việc kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện pháp luật về kế toán, pháp luật thuế và tổng hợp, thống kê số liệu kế toán để xác định kết quả kinh doanh của các đơn vị từ đó đề ra chính sách đầu tư và chính sách thuế phù hợp
Từ những vấn đề trên cho thấy: Phân tích tài chính là công cụ hữu ích được dùng phổ biến để xác định giá trị kinh tế, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của từng doanh nghiệp; từ đó tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tưọng chọn lựa và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
1.1.2.Ngành kinh doanh xổ số kiến thiết
a Xổ số
Xổ số bắt đầu xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại xa xưa Khi đó, xổ số đơn giản
là sự mở rộng của những trò chơi với một quả bóng nhỏ và một số người tham gia nhất định trong mỗi lần mở thưởng Người chơi với đam mê xổ số cổ đại đưa ra những dự đoán về con số để có được niềm vui khi trúng giải đặc biệt
Sau đó, đến thời La Mã cổ đại, Caesar đã tổ chức chơi xổ số với mục đích tạo ra nguồn ngân sách để phục vụ cho việc tu sửa thành phố Đến thời Trung Cổ, những người thợ thủ công Châu Âu đã rất sáng tạo khi tổ chức chơi xổ số để bán những đồ gốm sứ của mình Giai đoạn từ những năm của thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, được sự cho phép của nhiều Hoàng đế ở Châu Âu, các loại hình xổ số được phát hành bởi các tổ chức tư nhân hoặc nhà nước nhằm gây quỹ để tu sửa các công trình công cộng, công trình phúc lợi và phục vụ đời sống nhân dân (NASP (2015) Lottery History)
Ở Việt Nam, xổ số được phát hành chính thức từ năm 1962 và thị trường xổ
số chủ yếu tập trung vào các sản phẩm xổ số truyền thống với phương châm hướng đến “ích nước, lợi nhà” Và cách đây gần 20 năm, người chơi xổ số Việt Nam đã bắt đầu được làm quen với hình thức xổ số tự chọn số
Xổ số ra đời từ rất sớm và hiện đã có mặt trên toàn thế giới nên có nhiều
Trang 20quan niệm khác nhau về nó Với trang NASP: “a lottery is a popular form of gambling which involves the drawing of lots a prize”
Từ điển Anh – Anh định nghĩa rằng: “prizes to the holders of numbers selected at random”
Theo Nghị định 30/2007/NĐ-CP của Chính phủ (2007), xổ số là “các sự kiện
có kết quả ngẫu nhiên” Kinh doanh xổ số là “hoạt động kinh doanh dựa trên các sự kiện có kết quả ngẫu nhiên, được tổ chức theo nguyên tắc doanh nghiệp thu tiền tham gia dự thưởng của khách hàng và thực hiện trả thưởng cho khách hàng khi trúng thưởng”
Mặc dù vậy, xổ số có thể xem là hình thức giải trí có thưởng bằng cách lựa chọn ngẫu nhiên và đồng thời cung cấp tài chính thực hiện mục tiêu xác định Đây cũng là đặc điểm thể hiện bản chất của hoạt động xổ số
Bản chất của xổ số được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau
Nước Pháp quan niệm: xổ số là trò chơi ngẫu nhiên, đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của dân chúng, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách Nước Úc lại quan niệm rằng: xổ số là hoạt động vui chơi ăn tiền, là một thực trạng xã hội Nhà nước nhận trách nhiệm đứng ra tổ chức cho người dân vui chơi theo đúng pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của người chơi Đồng thời, thông qua đó thu tiền để sử dụng cho việc phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội (NASP (2015), Cumulative Lottery Contributions to Beneficaries)
Trong báo cáo đánh giá hoạt động xổ số kiến thiết, các nhà tài chính ở nước
ta cho rằng: xổ số “là công cụ tài chính của Nhà nước để điều tiết, phân phối lại thu nhập quốc dân, khai thác thêm nguồn thu cho ngân sách”
Sự tồn tại của xổ số mang tính khách quan Lịch sự hình thành và phát triển của xổ số trong thời gian qua đã chứng minh sự tồn tại khách quan của nó Xổ số tồn tại và phát triển dựa trên các điều kiện nền tảng nhất định, chỉ khỉ nền kinh tế phát triển cao đến mức độ có tích lũy, những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, khi đó vấn đề giải trí được đặt ra và xổ số xuất hiện Hoạt động xổ số đòi hỏi phải có sự tham gia của số đông người chơi Chính vì vậy, thành quả phát triển kinh tế xã hội
Trang 21ảnh hưởng đến xổ số và khi ấy hoạt động xổ số tác động đến công bằng xã hội thông qua tài trợ cho các công trình phúc lợi công cộng
b Vai trò của xổ số
Tùy theo quy mô và cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia mà xổ số có tầm quan trọng nhất định, góp phần củng cố sự tồn tại của chính nó
- Xổ số góp phần đầu tư cho phúc lợi xã hội
Vai trò quan trọng của xổ số đó là một phần đáng kể nguồn thu từ hoạt động này được sử dụng để đầu tư phục vụ để đầu tư cho phúc lợi xã hội như: văn hóa, y
tế, giáo dục…
Vai trò đóng góp phúc lợi xã hội được luật hóa bởi Thông tư BTC của Bộ Tài chính (2006) Theo đó, từ năm 2007, nguồn thu từ xổ số không đưa vào cân đối thu, chi mà được quản lý thông qua ngân sách Nhà nước và sử dụng để đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội quan trọng của địa phương trong đó, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giáo dục, y tế
107/2006/TT Xổ số là công cụ điều tiết, phân phối lại thu nhập quốc dân
Xổ số có chức năng phân phối lại thu nhập dưới hình thức tự nguyện Tham gia với hy vọng may mắn đổi đời, người chơi đã cùng góp phần vào nguồn thu của
xổ số để trợ giúp người nghèo dưới hình thức: xây dựng cho người nghèo, học bổng giáo dục, trợ giúp chữa bệnh,… hoặc đóng góp cùng Nhà nước xây dựng công trình phúc lợi công cộng như bệnh viện, trường học
- Xổ số là công cụ điều tiết lưu thông tiền tệ
Tại Việt Nam, giao dịch mua bán lẻ vé xổ số được thực hiện bằng tiền mặt Chính vì vậy, xổ số là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước điều tiết lưu thông tiền tệ Công ty XSKT có hai dòng tiền vào chủ yếu: thế chấp đảm bảo thanh toán và thanh toán tiền vé Do đó, tiền được rút nhanh khỏi lưu thông với số lượng lớn, góp phần thực hiện chính sách kiềm chế tỷ lệ lạm phát trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ
- Góp phần giải quyết việc làm
Tùy mức độ phát triển của mỗi quốc gia mà nhu cầu về số lượng lao
Trang 22độngkhác nhau Tại Mỹ và các quốc gia tiên tiến khác, với trình độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cao nên mỗi đơn vị tổ chức xổ số quản lý hàng chục ngàn đại lý bán vé trực tiếp cho người chơi
Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới từ xuất phát điểm của quốc gia nông nghiệp lạc hậu và thoát khỏi chiến tranh không lâu Một lượng lớn lao động thất nghiệp chưa được đào tạo nghề hoặc không đủ sức lao động Trong tất cả các công việc đơn giản trong xã hội, xổ số là lĩnh vực duy nhất có thể tiếp nhận số lao động này Nhu cầu sử dụng lao động ở khâu phân phối với nhiều đại lý cấp trung gian và người bán lẻ
Mặt khác, xổ số còn tác động thúc đẩy sự phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, tăng nhu cầu lao động đối với các ngành nghề có liên quan như: in ấn, vận chuyển, sản xuất giấy, sản xuất máy móc thiết bị
c Đặc điểm của ngành kinh doanh xổ số kiến thiết
Thứ nhất, Hoạt động kinh doanh XSKT là một ngành nghề kinh doanh có
điều kiện, chịu sự kiểm soát, quản lư chặt chẽ và độc quyền của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, đây là ngành kinh doanh đặc biệt, có sản phẩm đặc biệt
Thứ hai, Sản phẩm vé số là loại hàng hóa mà người tiêu dùng không hề dự
tính sẽ mua, thường không xuất hiện trong danh sách mua sắm của khách hàng: Đặc điểm của sản phẩm là cung cấp dịch vụ “bán cơ hội” cho khách hàng; Là sản phẩm quy đổi mệnh giá bằng tiền và giấy được in các con số dự thưởng; Sản phẩm có giá trị trong thời gian nhất định và chỉ có những sản phẩm đã được bán ra mới có giá trị; Là sản phẩm đặc biệt nên dễ phải trả giá đắt nếu để sai sót trong quá trình in ấn
và phân phối
Thứ ba, Người bán là hệ thống đại lý chứ không phải công ty trực tiếp bán;
Sản phẩm dễ làm giả, lừa đảo (nếu không quản lý tốt); Một thị trường có nhiều công
ty hoạt động xổ số cùng bán sản phẩm; Là sản phẩm quy đổi nên việc quản lý tiền bạc không tốt Ngoài ra, các yếu tố thuộc về tổ chức, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm hoạt động kinh doanh cũng ảnh hưởng đến yêu cầu trong công tác đào tạo
Trang 231.2 Nội dung và các chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh xổ số
1.2.1 Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết
a Phân tích cấu trúc tài chính
Tác giả Phạm Thị Thủy (2012) cho rằng: ―Phân tích cấu trúc tài chínhlà
việc đánh giá tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn xét trong mối liên hệ với cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Phân tích cấu trúc tài chính sẽ giúp các đối tượng sử dụng nhận diện các chính sách huy động vốn trong mối liên hệ với chiến lược sử dụng vốn của doanh nghiệp’’[21,tr125]
Tác giả Nguyễn Văn Công (2014) nhận định: ―Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài
chính phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp Tuy nhiên, cấu trúc tài chính xem xét theo khía cạnh này chưa phản ánh được mối quan hệ giữa tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp ‖ [20,tr39] Tác giả luận văn cùng chung quan điểm với hai tác giả trên khi
cho rằng: chúng ta nên phân tích cấu trúc tài chính nghĩa rộng, tức là: cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn của doanh nghiệp Trong đó, cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn, cơ cấu nguồn vốn phản ánh tình hình huy động vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn phản ánh chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Thông qua việc phân tích cấu trúc tài chính giúp cho các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Đây cũng là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý ra quyết định điều chỉnh chính sách huy động và sử dụng vốn của mình, bảo đảm cho doanh nghiệp có được một cấu trúc tài chính vững mạnh, hiệu quả và tránh được những rủi ro trong kinh doanh
b Phân tích tính ổn định của chính sách tài trợ vốn
Trang 24Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc bảo đảm đầy đủ nhu cầu về tài sản là một vấn đề cốt yếu để bảo đảm cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả
Nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Nguồn vốn của bản thân chủ sở hữu: vốn đầu tư của chủ sở hữu ban đầu và
bổ sung trong quá trình kinh doanh, các quỹ doanh nghiệp có nguồn gốc từ lợi nhuận, lợi nhuận chưa phân phối, các nguồn kinh phí
- Nguồn vốn vay: vay ngắn hạn, dài hạn và trung hạn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác
- Nguồn vốn được hình thành do chiếm dụng trong quá trình thanh toán như:
nợ người cung cấp, nợ người lao động, nợ ngân sách Nhà nước, kể cả số chiếm dụng bất hợp pháp
Việc sử dụng nguồn vốn để tài trợ cho những nhu cầu vốn trong doanh nghiệp thường được xem xét trên nguyên tắc cân đối, điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải tính đến yếu tố an toàn trong cơ cấu vốn nhưng vẫn phải đảm bảo chi phí vốn hợp lý nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn mong muốn, vấn đề này thường được xem xét qua các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đưọc thực hiện theo hai quan điểm: quan điểm luân chuyển vốn và quan điểm ổn định nguồn tài trợ
c Phân tích tình hình thanh toán
Tính tự do cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đang ngày càng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, mặt khác, các quan hệ tài chính phát sinh ngày càng nhiều, đa dạng dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của nhau trên thị trường là thường xảy ra, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn Do vậy, phân tích tình hình công nợ phải thu, phải trả có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát hiện các dấu hiệu rủi ro tài chính có thể xảy ra Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hầu hết
Trang 25các doanh nghiệp đều tự chủ hoạt động tài chính, lấy thu bù chi và thực hiện quy trình tái sản xuất mở rộng, chính vì vậy mà phân tích công nợ phải thu, phải trả càng có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp những thông tin về cơ cấu phải thu
để đưa ra các biện pháp thu hồi phù hợp Đồng thời thấy được cơ cấu các khoản phải trả đưa ra các biện pháp thanh toán kịp thời để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
d Phân tích khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ
Đối với doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ảnh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp Để nhận thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế tài chính
mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cụ thể
1.2.2 Chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
Cơ sở phân tích tính toán các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp là các Báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
a Phân tích cấu trúc tài chính
* Phân tích cơ cấu tài sản
Trang 26Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra
và đánh giá tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng củatừng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được tác giả Nguyễn VănCông (2010) xác định như sau:
Qua phân tích cơ cấu tài sản từng thời điểm, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình sử dụng số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng vốn đã huy động có phù hợpvới lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp hay không
Nhưng chỉ tiêu “Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản’ không cho biết các nhân tố tác động và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Do vậy, trong quá trình phân tích, các tác giả còn kết hợp cả việc so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về
số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản
Bên cạnh đó, để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ vốn kinh doanh theo thời gian, chúng ta cần phân tích xu hướng biến động của tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản theo thời gian Việc đánh giá xu hướng này phải dựa trêntính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận Phân tích sâu hơn, có thể xem xét và so sánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tàisản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều năm vàso với cơ cấu chung của ngành để đánh giá
*Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu nguồn vốn trước hết, cần tính ra và đánh giá tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn Chỉ tiêu này được tác giả Nguyễn Văn Công (2010) xác định như sau:
Trang 27Tỷ số này cho biết cơ cấu vốn huy động của doanh nghiệp trong từng thời điểm, cho biết đâu là nguồn tài trợ chính cho các hoạt động của doanh nghiệp cũng như mức độ hợp lý trong việc huy động vốn của doanh nghiệp tại các thời điểm khác nhau Khi đánh giá tỷ số này cần căn cứ vào những yếu tố vĩ mô, yếu tố môi trường, yếu tố ngành kinh tế tác động tới doanh nghiệp trong thời gian nghiên cứu, đồng thời cần xem xét trong mối tương quan với chỉ tiêu trung bình ngành để đưa ra nhận định khách quan, hợplý
Phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lýsẽ nắm được cơ cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, nhà cung cấp, người lao động, về số tài sản tài trợ bằng nguồn vốn của họ Cũng qua phân tích
cơ cấu nguồn vốn, nhà quản lý nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động
*Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Mục đích của phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn nhằm mục đích dựa ra những đánh giá về chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp Mỗi ngành nghề, mỗi doanh nghiệp khác nhau có chính sách sử dụng nguồn vốn đầu tư vào tài sản khác nhau Tuy nhiên, thông thường một chính sách tài trợ ít rủi ro là tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nợ ngắn hạn, tài sản dài hạn được tài trợ bởi nợ dài hạnvàVCSH
Như vậy, khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn nên chọn các chỉ tiêu phản ánh được mối quan hệ giữa nguồn hình thành tài sản và tài sản của doanh nghiệp để thấy được sự hợp lý trong việc sử dụng nguồn vốn
Theo tác giả Nguyễn Văn Công (2010), khi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn ta sử dụng các chỉ tiêu như: hệ số nợ so với tài sản, hệ số khả năng thanh toán tổngquát, hệ số tài sản so với VCSH Tuy nhiên, theo quan
Trang 28điểm của tác giả, khi phân tích có thể sử dụng một trong hai chỉ tiêu: hệ số nợ so với tài sản, hệ số tài sản so với VCSH Đồng thời có thể sử dụng kết hợp các chỉ tiêu hệ
số tự tài trợ tài sản dài hạn, hệ số tự tài trợ tài sản cố định đế phân tích Ý nghĩa và công thức xác định các chỉ tiêu này được tác giả Nguyễn Văn Công (2010) đưa ra như sau:
Hệ số nợ so với tài sản: Phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ Hệ số chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ tài trợ tài sản bằng các khoản nợ của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại
Hệ số nợ so với tài sản =
Nợ phải trả
(2.3) Tài sản
Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng VCSH Trị số của chỉ tiêu này lớn hơn một, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng cả vốn chủ sở hữụ và nợ phải trả để tài trợ tài sản Trị số này càng lớn hơn một thì mức độ sử dụng nợ phải trả để tài trợ tài sản càng cao và ngược lại
Hệ số nợ so với chủ sở hữu =
Tài sản
(2.4) Vốn chủ sở hữu
b Phân tích tính ổn định của chính sách tài trợ vốn
Tác giả xin trình bày nội dung phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới góc độ ổn định nguồn tài trợ
Tác giả Nguyễn Văn Công (2014) cho rằng: ―Phân tích tình hình đảm bảo
vốn của doanh nghiệp theo góc độ này sẽ cung cấp cho nhà quản lý biết được sự ổn định, bền vững, cân đối và an toàn trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như những nhân tổ có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính'' [20,tr101]
Theo tính ổn định của nguồn tài trợ, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành hai loại là: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Trang 29- Nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn): Là nguồn mà doanh
nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, có thời gian hoàn trả vốn lớn hơn một năm; bao gồm: vốn chủsở hữu và vốn vay nợ dài hạn
- Nguồn vốn tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn): doanh nghiệp được sử dụngnguồn vốn này cho hoạt động kinh doanh trong một thời gian ngắn, có thời gianhoàn trả vốn trong vòng một năm; bao gồm: các khoản vay và nợ ngắn hạn, phảitrả người bán, khách hàng ứng trước, phải trả công nhân viên, phải nộp cơ quan nhànước Dưới góc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức:
Tài sản
ngắn hạn +
Tài sản dài dạn =
Nguồn tài trợ thường xuyên +
Nguồn tài trợ tạm thời
- Khi phân tích cân bằng tài chính trước hết cần so sánh tổng nhu cầu về tài sản với nguồn tài trợ thường xuyên Nếu tổng số nguồn tài trợ thường xuyên đủ hoặclớn hơn tổng số nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý để tránh bịchiếm dụng vốn Ngược lại, khi nguồn tài trợ thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huyđộng và sử dụng vốn phù hợp (huy động nguồn tài trợ tạm thời hợp pháp hoặc giảm quymôđầu tư, tránh đi chiếm dụng vốn một cách bất hợp pháp)
- Dưới góc độ ổn định nguồn tài trợ, cân bằng tài chính được tác giả Nguyễn
Năng Phúc (2014) thể hiện qua hình dưới đây:
Tổng số nguồn tài trợ
Trang 30Tài sản
ngắn hạn
- Tiền và tương đương tiền
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
Hình 1.1: Cân bằng tài chính dưới góc độ ổn định nguồn tài trợ
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc (2014) Giáo trình phân tích báo cáo tài chính, Nhà
xuấtbản Đại học Kinh tế Quốc dân)
Khi xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp, các nhà phân tích thường quan tâm đến các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán với chỉ tiêu: vốn hoạt động thuần (vốn kinh doanh thuần), vốn hoạt động thuần được tính như sau:
Vốn hoạt động thuần (VHĐT) = Tàisản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh số vốn tối thiểu của doanh nghiệp được sử dụng để duy trì những hoạt động diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Nói cách khác vốn hoạt động thuần đo lường mức độ hiệu quả hoạt động cũng như sức khỏetài chính ngắn hạn của một doanh nghiệp Vớisố vốn hoạt động thuần này, doanh nghiệp có khả năng bảo đảm chi trả các khoản chi tiêu mang tính chất thường xuyên cho các hoạt động diễn ra mà không cần phải vay mượn hay chiếm dụng bất
kỳ một khoản nào khác
Trường hợp VHĐTnhỏ hơn không (<0):
Khi VHĐT nhỏ hơn không, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên phần thiếu hụt doanh nghiệp phải sử dụng một phần nợ ngắn hạn để bù đắp Do vậy, cân bằng tài chính xảy ra trong trường hợp này đặt doanh nghiệp vào tình trạng chịu áp lực nặng nề về thanh toán
nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán mất cân bằng Khi vốn hoạt động thuần càng nhỏ
Trang 31hơn 0, doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và nguy cơ phá sản có thể xảy ra
Trường hợpVHĐT bằng không (=0):
Khi VHĐTbằng không, nguồn tàitrợ thường xuyên của doanh nghiệp vừa đủ
để tài trợ cho tài sản dài hạn nên doanh nghiệp không phải sử dụng nợ ngắn hạn để
bù đắp Cân bằng tài chính trong trường hợp này là tưong đối bền vững; tuy nhiên, tính ổn định vẫn chưa cao, nguy cơ xảy ra “cân bằng xấu’' vẫn tiềm tàng
Trường hợp VHĐT lớn hơn không (>0):
Khi VHĐT lớn hơn không, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp không những được sử dụng để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn Cân bằng tài chính trong trưòng hợp này được coi là “cân bằng tốt”, an toàn và bền vững Bởi vì, một doanh nghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì cần thiết phải duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để thỏa mãn việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho Khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao khi vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn
và ngược lại, khi vốn hoạt động thuần giảm sút thì doanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán
c Phân tích tình hình thanh toán
- Phân tích tình hình công nợ phải thu
+ Phân tích tình hình các khoản phải thu: Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: Phải thu khách hàng, trả trước người bán, phải thu các đối tượng khác,…Khi phân tích tình hình các khoản phải thu, sử dụng phương pháp so sánh dọc, lấy từng khoản phải thu cụ thể lần lượt được chia cho tổng các khoản phải thu
để xác định tỷ trọng của chúng trong tổng các khoản phải thu:
Tỷ trọng của từng Giá trị của từng khoản phải thu
khoản phải thu trong tổng = x 100 (2.5) các khoản phải thu Tổng các khoản phải thu
Trang 32Ngoài ra, để cụ thể và xem xét sự thay đổi của từng nhân tố trong việc phân tích cơ cấu tài sản, chúng ta có thể kết hợp phân tích dọc và phân tích ngang, lập bảng phân tích cơ cấu từng khoản phải thu tương tự mẫu Bảng phân tích cơ cấu tài
sản (trình bày ở Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu tài sản mục a)
Qua việc phân tích này sẽ giúp các nhà quản trị có thể đưa ra chính sách thu hồi công nợ kịp thời và phù hợp với từng khoản phải thu, giảm bớt số vốn bị chiếm dụng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
+ Phân tích tình hình phải thu của khách hàng
Trong các khoản phải thu, phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình tài sản của doanh nghiệp Khi phân tích tình hình nợ phải thu khách hàng, các nhà phân tích thường so sánh số cuối kỳ với số đầu kỳ hoặc qua nhiều thời điểm để thấy quy mô và tốc độ biến động của khoản phải thu khách hàng, cơ cấu của khoản phải thu khách hàng Thông qua đó các nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định phù hợp như tăng cường giám sát khoản phải thu từng khách hàng, đưa ra các chính sách khuyến mại, chiết khấu phù hợp cho từng đối tượng cụ thể,…
Phân tích khoản phải thu khách hàng, những nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng:
Số vòng quay Doanh thu thuần
phải thu = (2.6) khách hàng Nợ phải thu khách hàng bình quân
Nguồn: [12, tr.137]
Trong đó:
- Nợ phải thu khách hàng bình quân được tính như sau:
Nợ phải thu Số dư khách hàng đk + Số dư khách hàng ck
Trang 33khách hàng = (2.7) bình quân 2
- Doanh thu thuần lấy từ chỉ tiêu mã 03 thuộc Báo cáo kết quả kinh doanh Chỉ tiêu số vòng quay phải thu khách hàng cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng quay phải thu khách hàng quá cao cũng không tốt vì có thể nói đến sản lượng tiêu thụ do phương thức thanh toán của doanh nghiệp là quá chặt chẽ
+ Thời gian một vòng quay phải thu khách hàng:
Thời gian một Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay = (2.8) phải thu khách hàng Số vòng quay phải thu khách hàng
Nguồn: [12,tr128]
Chỉ tiêu này cho biết, để thu hồi được các khoản nợ phải thu doanh nghiệp phải cần một thời gian bao lâu Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ việc thu hồi vốn càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian của một vòng quay càng dài chứng tỏ tốc độ thu hồi vốn càng chậm, doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn ngày càng nhiều Tuy nhiên, chỉ tiêu này quá ngắn cũng không phải là tốt cho doanh nghiệp vì quá cứng nhắc và không linh động, dẫn đến sản lượng hàng tiêu thụ kém Thời gian của kỳ phân tích được tính theo năm 365 ngày
Khi phân tích chỉ tiêu này, các nhà phân tích có thể so sánh kỳ thu tiền bình quân của kỳ phân tích với kỳ gốc để thấy được tình hình thu hồi công nợ để từ đó có biện pháp thu hồi nợ nhằm góp phần ổn định tình hình tài chính
- Phân tích tình hình công nợ phải trả
+ Phân tích tình hình các khoản phải trả: Các khoản phải trả của doanh nghiệp gồm phải trả người bán, phải trả cán bộ công nhân viên, phải trả tiền
Trang 34vay,…Khi phân tích tình hình các khoản phải trả, chúng ta sử dụng phương pháp so sánh dọc với tổng các khoản phải trả, lấy giá trị từng khoản phải trả cụ thể chi cho giá trị tổng các khoản phải trả, xác định tỷ trọng của chúng Công thức được tính như sau:
Tỷ trọng của từng Giá trị của từng khoản phải trả
khoản phải trả trong tổng = x 100 (2.9) các khoản phải trả Tổng các khoản phải trả
Ngoài ra, để cụ thể và xem xét sự thay đổi của từng nhân tố trong việc phân tích cơ cấu nợ phải trả, chúng ta có thể kết hợp phân tích dọc và phân tích ngang, lập bảng phân tích cơ cấu từng khoản phải trả tương tự mẫu Bảng phân tích cơ cấu
tài sản (trình bày ở Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu tài sản, mục 2.2.1)
+ Phân tích tình hình phải trả người bán: Trong các khoản phải trả, phải trả nhà cung cấp có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thanh toán và uy tín của doanh nghiệp Khi các khoản phải trả người bán không có khả năng thanh toán, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, uy tín của doanh nghiệp giảm đi Khi các khoản phải trả người bán được thanh toán đúng hạn, uy tín của doanh nghiệp được nâng cao, góp phần nâng cao thương hiệu Vì vậy, phân tích tình hình phải trả người bán là cần thiết và thường xuyên Khi phân tích tình hình phải trả người bán, chúng ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Số vòng quay phải trả người bán:
Số vòng quay Giá vốn hàng bán
phải trả = (2.10) người bán Nợ phải trả người bán bình quân
Nguồn: [12,tr144]
Trong đó:
- Nợ phải thu khách hàng bình quân được tính như sau:
Trang 35Nợ phải trả Số dự nợ người bán đầu kỳ và cuối kỳ
người bán = (2.11) bình quân 2
- Giá vốn hàng bán lấy từ chỉ tiêu mã 11 thuộc Báo cáo kết quả kinh doanh Chỉ tiêu vòng quay phải trả người bán phản ánh trong kỳ phân tích các khoản phải trả người bán quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền kịp thời, ít chiếm dụng vốn của các đối tượng Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao quá cũng không tốt bởi vì có thể doanh nghiệp đang thừa tiền luôn thanh toán trước hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
+ Thời gian một vòng quay phải trả người bán:
Thời gian một Thời gian của kỳ phân tích
vòng quay = (2.12) phải trả người bán Số vòng quay phải trả người bán
Khi phân tích chỉ tiêu này ta có thể so sánh thời gian của một vòng quay kỳ phân tích với kỳ kế hoạch để thấy được tình hình thanh toán công nợ của doanh nghiệp để từ đó có biện pháp huy động vốn, góp phần ổn định tình hình tài chính
Để phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán, trước hết, cần tính ra và so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm trên các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán như
hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số thanh toán của tài sản lưu động, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán nợ dài hạn
Trang 36- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (công thức 2.13):
Hệ số khả năng thanh toán
tổng quát: =
Tổng tài sản
(2.13) Tổng số nợ phải trả
Nguồn: [12,tr165]
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Nếu doanh nghiệp có chỉ số này luôn lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán và ngược lại
- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (công thức 2.14):
Hệ số thanh toán nợ
ngắn hạn =
Tổng giá trị tài sản ngắn hạn
(2.14) Tổng số nợ ngắn hạn
Nguồn: [12, tr.158]
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu hệ số thanh toán nợ ngắn hạn càng nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp
- Hệ số thanh toán nhanh (công thức 2.15):
Hệ số thanh toán
nhanh =
Tổng TS ngắn hạn – Hàng tồn kho
(2.15) Tổng số nợ ngắn hạn
Nguồn: [12, tr.157]
Hệ số khả năng thanh toán nhanh: chỉ tiêu này cho biết với giá trị còn lại của
TS ngắn hạn DN có đủ khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không Về mặt
Trang 37lý thuyết, khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số của khả năng thanh toán nhanh: ≥ 1, DN đảm bảo thừa khả năng thanh toán nhanh và ngược lại khi trị số của chỉ tiêu nhỏ hơn 1, DN không đảm bảo khả năng thanh toán nhanh Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay vốn chậm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Hệ số thanh toán tức thời (công thức 2.16):
Hệ số khẳ năng
thanh toán tức thời =
Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn
(2.16)
Nợ ngắn hạn Nguồn: [12, tr.156]
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay của tiền đối với các khoản nợ quá hạn và đến hạn ở bất cứ thời điểm nào Chỉ tiêu này cao chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp dồi dào, tuy nhiên nếu mà cao quá và kéo dài lại cho thấy doanh nghiệp đang có lượng tiền nhàn rỗi là rất lớn, ứ đọng dẫn đến hiệu quả
sử dụng vốn thấp Chỉ tiêu này thấp và kéo dài cho thấy doanh nghiệp không còn đủ khả năng trả nợ, có thể dẫn đến phá sản
- Hệ số khả năng trả lãi tiền vay :
Hệ số khả năng Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
trả lãi = (2.17) tiền vay Chi phí lãi vay
Nguồn: [12,tr168]
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp Hệ số này càng cao chứng tỏ khả năng bù đắp chi phí lãi vay càng tốt, từ đó tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp, các nhà cho vay sẵn sàng quyết định cung ứng vốn cho doanh nghiệp
+ Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn
Trang 38Phân tích khả năng thanh toán dài hạn là đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn trên một năm kể từ ngày phát sinh của doanh nghiệp Nợ dài hạn bao gồm các khoản phải trả người bán, phải trả người lao động, vay dài hạn,…Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn bao gồm các nội dung: hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn và hệ số khả năng trả tiền lãi vay
+ Hệ số khẳ năng thanh toán nợ dài hạn:
Hệ số khả năng Tài sản dài hạn
- Phân tích khả năng thanh toán thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các dòng tiền thu, chi trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp Việc phân tích khả năng thanh toán thông qua Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho một kỳ hoạt động là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp xây dựng được dự toán tiền khoa học để nâng cao độ tin cậy của các quyết định kinh doanh
Việc phân tích được thực hiện trên cơ sở xác định tỷ trọng dòng tiền thu, chi của từng hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Khi phân tích các dòng tiền này, các đối tượng quan tâm có cái nhìn sâu hơn về các dòng tiền thu, chi của doanh nghiệp, từ đó xác định được nguyên nhân ảnh hưởng tác động đến tình hình tăng, giảm tiền trong kỳ của doanh nghiệp, có các biện pháp huy động và sử dụng tiền có hiệu quả
d Phân tích khả năng sinh lời
Trang 39Đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp: cho ta biết mức lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được Các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích bao gồm:
Sức sinh lợi của vẩn chủ sở hữu (ROE — Return On Equity): Đây là chỉ tiêu
được chủ sở hữu doanh nghiệp quan tâm hàng đầu vì chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lợi của
vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế
x 100 (2.19) Vốn chủ sở hữu bình quân
Sức sinh lợi của tài sản (ROA — Return OnAssets):đánh giá hiệu quả sử
dụng tài sản của doanh nghiệp
Sức sinh lợi của
tài sản =
Lợi nhuận sau thuế
x 100 (2.20) Tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị tài sản bình quân sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Do đó, đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản mà không phân biệt tài sản này được hình thành từ nguồn vốn nào
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Một quy trình PTTCDN cần tiến hành theo 5 giai đoạn: Xác định mục tiêu phân tích, xác định nội dung phân tích, thu thập thông tin, xử lý thông tin, dự đoán
và ra quyết định Do vậy, khi tiến hành PTTCDN phải thực hiện đầy đủ, chính xác
từ khâu đầu tiên để có kết quả đáp ứng yêu cầu DN cần phải xây dựng một kế hoạch phân tích và trình tự sắp xếp công việc hợp lý Nhà quản trị tài chính cần phải phân chia công việc và nhiệm vụ cụ thể cho nhóm phân tích, để mỗi cá nhân chuyên trách một phần hành và đảm bảo hoàn thành quá trình phân tích kịp thời và đúng hạn
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 40Khi tiến hành PTTCDN có thể tiến hành phân tích nhiều nội dung, mỗi nội dung phân tích sẽ giúp nhà quản trị nhìn nhận và đánh giá tình hình tài chính DN trên các góc độ khác nhau Nội dung phân tích càng đầy đủ thì tình hình tài chính
DN càng được thể hiện rõ nét, quyết định tài chính đưa ra càng chính xác
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
PTTCDN có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và việc lựa chọn phương pháp nào thì các nhà quản trị tài chính phải tính toán sao cho thích hợp nhất Nếu chỉ sử dụng một phương pháp thì có thể đưa đến kết quả phân tích chưa khách quan, nên cần phải kết hợp các phương pháp phân tích khác nhau, để có thể đưa đến kết quả hiệu quả nhất Tuy nhiên, cần phải dựa vào mục tiêu của phân tích
để giới hạn phương pháp sử dụng sao cho phù hợp, mà không nên sử dụng quá nhiều phương pháp
Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính, là đầu vào của quá trình phân tích Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tình hình tài chính DN đến những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của DN, người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính DN trong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai
Thông tin bên trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin, từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, từ những thông tin về mặt số lượng đến những thông tin về mặt giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra nhận xét, kết luận sát thực Tuy nhiên, thông tin từ bộ phận kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết đối với nguồn thông tin đến từ trong DN Các báo cáo tài chính chứa đựng khá đầy đủ thông tin kế toán cần phân tích Hệ thống báo cáo tài chính của DN bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính Mỗi báo cáo tài chính cung cấp cho người phân tích các khía cạnh khác nhau và tổng hợp lại, sẽ hình thành toàn cảnh về tình hình tài chính của DN