Những năm gần đây, nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Văn Kiên học viên lớp Cao học Luật Kinh tế khóa 2018-2020 xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Kiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bản luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Mở Hà Nội Trong quá trình làm luận văn em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để hoàn thành cuốn luận văn này
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Vũ Đặng Hải Yến đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Trường Đại học Mở Hà Nội những người đã truyền đạt kiến thức quý báu cho em suốt trong thời gian học tập vừa qua
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn các anh/chị trong Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, các Tòa án huyện đã giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu cũng như đóng góp ý kiến thực tiễn quý báu cho luận văn cùng toàn thể gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Kiên
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Mục đích của đề tài 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại, các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và khái niệm, đặc điểm thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại 7
1.1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 11
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 12
1.2 Hệ thống pháp luật và nội dung của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 14
Trang 61.2.1 Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án nhân dân 14
1.2.2 Nội dung pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 20
1.3 Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 41
1.3.1 Điều kiện khách quan 41
1.3.2 Điều kiện chủ quan 43
CHƯƠNG 2 47
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TAND TỈNH HƯNG YÊN 47
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên 47
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 48
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên 51
2.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên 51
2.2.2 Một số hạn chế về thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 61
CHƯƠNG 3 70
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TAND TỈNH HƯNG YÊN 70
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND cấp tỉnh 70
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 70
Trang 73.1.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 71
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên 74
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 74 3.2.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên 80
KẾT LUẬN 84
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm thúc đẩy sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đất nước, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển về kinh tế Mục tiêu này dẫn đến sự tăng nhanh số lượng chủ thể tham gia hoạt đồng thương mại Các hoạt động thương mại luôn tiềm ẩn những xung đột, bất đồng về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Nhằm đảm bảo cho sự ổn định và phát triển môi trường kinh doanh một cách lành mạnh, cần thiết phải có một cơ quan, tổ chức để giải quyết những xung đột, bất đồng này Hiện nay, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau, tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đều được bảo đảm Các hình thức giải quyết tranh chấp được các quốc gia quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia phải thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó Hiện nay, phổ biến trên thế giới và Việt Nam có bốn hình thức được lựa chọn để giải quyết tranh chấp là thương lượng, hòa giải, Tòa án, Trọng tài
Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp, thảo luận và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010 –
2020 Để phục vụ cho chiến lược này cần có những nghiên cứu và phát triển sâu rộng các quy định của hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật trong lĩnh vực kinh tế
và giải quyết các vụ án trong tranh chấp kinh doanh, thương mại Đây là yêu cầu hết sức cần cấp thiết bởi lẽ trong những năm gần đây có nhiều diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên các tranh chấp kinh doanh, thương mạicũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng của các tranh chấp như trên cũng như những loại án đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không ngừng nghiên cứu và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong
Trang 10án, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và chỉ đạo các Tòa án nhân dân cấp huyện nghiêm túc thực hiện chủ đề hành động nhằm đạt hiệu quả cao trong công cuộc cải cách tư pháp Với một tỉnh có nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây như Hưng Yên thì tình trạng tranh chấp trong hoạt động thương mại phát sinh ngày càng nhiều, kinh nghiệm của Thẩm phán trong giải quyết loại án này còn hạn chế… thì việc nghiên cứu và hoàn thiện quy trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên là rất cần thiết
Do đó, em chọn đề tài “Thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên”làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm 2000, một số tác giả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại TAND ở nhiều cấp độ khác nhau như Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Vân Anh “Giải quyết tranh chấp công ty bằng Tòa án ở Việt Nam” hay Cung Mỹ Anh (2008) “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của BLTTDS - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục”… Những công trình đã đề cập đến vấn đề khái quát của loại hình tài phán Tòa án kinh
tế ở Việt Nam Mặc dù các công trình này cũng đã đề cập đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại khá chi tiết và đầy đủ, tuy nhiên do các công trình này đã nghiên cứu cách đây nhiều năm nên không cập nhật với tình hình thực tiễn hiện nay Đặc biệt, nghiên cứu về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh
Trang 11Những năm gần đây, nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh, thương mại là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa áncủa Nguyễn Duy Phương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1/2015 tr 31 – 34; Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và việc phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa trọng tài thương mại và Tòa án theo quy định của luật trọng tài thương mại và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối caocủa tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên Tạp chí TAND Số 16/2015, Tr 6- 10; Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại theo pháp luật Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếcủa Dương Nguyệt Nga đăng trên Tạp chí TAND số 16/2007, Tr4 -10; Đoàn Tấn Minh và Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015; Nguyễn Thị HoàiPhương (2016), Bình luận những điểm mới trong BLTTDS năm 2015; Cao Nhất Linh, Phạm Việt Trung (2019),Quyền của bị đơn trong thủ tục hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tạp chí Công thương
Tóm lại, đề tài có liên quan đến giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân không phải là đề tài quá mới mẻ nhưng trong phạm vi đề tài của mình tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thông qua thực tiễn áp dụng tại
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại và thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND;
- Phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND cấp tỉnh;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại và thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND đồng thời nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, xây dựng nhà nước pháp quyền trong cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước ta Quá trình nghiên cứu của luận văn học viên đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp bình luận, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp diễn giải…để thực hiện
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Sau khi thực hiện xong công trình nghiên cứu này, luận văn góp phần đóng góp cho khoa học pháp lý về:
Về mặt lý luận, luận văn làm rõ được những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND và những điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND Đồng thời, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND
Về thực tiễn, luận văn phân tích và đánh giá được thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên Đồng thời từ đó, luận văn đưa ra được những đề xuất hoàn thiện
Trang 146
pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này tại TAND tỉnh Hưng Yên
Đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà lập pháp, các Thẩm phán, sinh viên… có nghiên cứu về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND hoặc đề tài có liên quan đến nội dung này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại TAND tỉnh Hưng Yên
Trang 157
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại, các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mạivà khái niệm, đặc điểm thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm triết học của trường phái triết học Mác – Lê nin, mâu thuẫn
là quy luật chung của tự nhiên xã hội, nó là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Mâu thuẫn tồn tại như một tất yếu khách quan trong xã hội, nếu không có mâu thuẫn thì không thể có sự phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”1 Như vậy, tranh chấp có thể xảy ra ở bất kì lĩnh vực nào trong đời sống xã hội
Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động phổ biến trong nền kinh tế thị trường Theo Hoàng Phê (2018), “Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi”2 Như vậy, kinh doanh được hiểu theo nghĩa cả sản xuất và buôn bán, các hoạt động này phải có mục đích sinh lợi Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế có sự thay đổi về chất do đó tính chất của các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo Điều đó, đòi hỏi phải xác định lại khái niệm kinh doanh cho phù hợp với bản chất của nó Trong các văn bản pháp luật như Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp hiện hành đều có định nghĩa
về hoạt động kinh doanh, theo đó “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
1 Hoàng Phê (2018), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1297
2 Hoàng Phê (2018), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr668
Trang 168
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận”3 Khác với các hành vi dân sự, các chủ thể cũng trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ thì mục đích chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận Pháp luật và thực tiễn đều ghi nhận hành vi kinh doanh có mục đích sinh lợi còn thực tế lỗ hay lãi không phải là yếu tố chính khi xác định hành vi nào là hành vi kinh doanh
Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử loài người Sự ra đời và phát triển thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Khi có sự phần công lao động lần thứ ba trong xã hội cộng sản nguyên thủy, thương nhân ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm để kiếm lời – các thương nhân lúc đó hành
vi thương mại đã được hình thành Thuật ngữ thương mại cũng được dùng khá phổ biến trong pháp luật thương mại của các quốc gia Ở nước ta, trong thời kỳ kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ thương mại với nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng chỉ đến khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thuật ngữ thương mại mới xuất hiện nhiều hơn và được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn Theo Đặng Đình Hào và Hoàng Đức Thân thì “thực chất của thương mại là quá trình trao đổi hàng hóa qua mua bán trên thị trường”4 Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 thì “Hoạt động thương mại là hoạt đông nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiền thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi”
Khi các hoạt động kinh tế nói chung trong đó có kinh doanh, thương mại phát triển thì tranh chấp trong kinh doanh, thương mại cũng trở nên phổ biến hơn Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định tại Luật Thương mại năm 1997“Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”5 Theo đó, nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 rất hẹp
so với quan niệm quốc tế về thương mại Hoạt động thương mại gồm ba nhóm: hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến
3 Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
4 Đặng Đình Hào và Hoàng Đức Thân (1993), Kinh tế thương mại, Trung tâm thông tin thương mại, Hà Nội,
tr5
5 Điều 238 Luật Thương mại năm 1997
Trang 179
thương mại Tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo cách hiểu của Luật Thương mại năm 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó có thể được coi là các tranh chấp thương mại, vì vậy đã dẫn đến các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những Công ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên như Công ước New York năm 1958
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa
về tranh chấp thương mại nhưng qua sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật
và thông lệ quốc tế
Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại tương đối đơn giản Tuy nhiên khái niệm này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 thì “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Như vậy, có thể thấy có nhiều cách hiểu đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại, tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn,bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liênquan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư
và thương mại Và có thể định nghĩamột cách ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM
như sau: “Tranh chấp KDTM lànhững mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa cácchủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”.6
1.1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại
Từ những phân tích như trên, ta có thể thấy, tranh chấp KDTM có một số đặc điểm sau:
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Thương mại tập II, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr316
Trang 1810
Thứ nhất, tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa
các bên trong mối quan hệ cụ thể Đó là mối quan hệ trong KDTM, trong mối quan
hệ này các chủ thể đều muốn đạt được mục đích của mình do vậy không tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm giữa các bên Đối với tranh chấp KDTM phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Thứ hai, chủ thể trong tranh chấp KDTM chủ yếu là tranh chấp giữa các
thương nhân Hoạt động thương mại thường phát sinh giữa các thương nhân với nhau, ngoài ra trong những trường hợp nhất định các cá nhân, tổ chức khác không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể trong hoạt động KDTM Những giao dịch này khoa học pháp lý gọi là giao dịch hỗn hợp Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn
áp dụng Luật Thương mại thì quan hệ pháp luật này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ này được quan niệm là tranh chấp KDTM Quy tắc chọn luật này đã được nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết tranh chấp này, trong đó có Việt Nam
Tranh chấp KDTM là hệ quả tất yếu từ các hoạt động KDTM của các thương nhân và các chủ thể khác, trong đó có phát sinh mục đích sinh lợi Việc nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của tranh chấp KDTM sẽ thuận lợi cho việc nhận diện loại tranh chấp này
Dựa trên những căn cứ khác nhau, tranh chấp KDTM được chia thành:
- Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp KDTM trong nước và tranh chấp KDTM quốc tế
- Theo số lượng các bên trong tranh chấp: Tranh chấp KDTM gồm hai bên
và tranh chấp KDTM gồm nhiều bên
- Theo lĩnh vực tranh chấp: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng, sở hữu trí tuệ, đầu tư…
Trang 1911
1.1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp KDTM trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Khi có tranh chấp xảy ra đòi hỏi phải giải quyết một cách minh bạch, hiệu quả và nhanh chóng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hoạt động KDTM đồng thời giữ vững trật tự kỷ cương của xã hội
Hiện nay, tranh chấp KDTM được giải quyết bằng bốn phương thức: (1) Thương lượng; (2) Hòa giải; (3) Tòa án và (4) Trọng tài thương mại Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp có đặc điểm pháp lí riêng biệt, trình tự, thủ tục tiến hành
và giá trị pháp lí khác nhau
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh không cần đến vai trò của người thứ ba Các bên tự đưa ra quan điểm, bàn bạc với nhau để đi đến thống nhất giải quyết vấn đề bất đồng
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh có sự tham gia của bên thứ ba độc lập hoặc do hai bên tranh chấp cùng chỉ định, đóng vai trò trung gian để giúp các bên tìm kiếm phương pháp thích hợp cho việc giải quyết bất đồng
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên trung gian (trọng tài viên) sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra quyết định có tính chất bắt buộc với các bên tranh chấp
Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước đưa ra phán quyết bắt buộc các bên phải thi hành Thông thường thì giải quyết tranh chấp qua Tòa án được tiến hành khi việc áp dụng các biện pháp thương lượng hoặc hòa giải không có hiệu quả và các bên không đưa vụ tranh chấp
ra giải quyết tại Trọng tài thương mại
Ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án là một phương thức khá phổ biến được các chủ thể lựa chọn khi xảy ra tranh chấp để giải quyết tranh chấp Bởi phương thức này xuất hiện đã khá lâu và giá trị của bản án, quyết định của Tòa khiến các bên buộc phải tuân theo, nếu không thì có thể bị tiến hành các biện pháp cưỡng chế
Trang 20vì vậy, Nhà nước phải thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Khi có căn cứ cho rằng, quyền và lợi ích của mình đang bị xâm phạm thì người bị hại có quyền yêu cầu người có hành vi trái pháp luật ngừng hành vi đó, yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ
Theo Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lí, bảo
vệ quyền tư pháp TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa
án góp phần giáo dục pháp luật, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật Do vậy, khi
có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp từ cá nhân, tổ chức thì Tòa án phải xem xét thụ lí và tiến hành các thủ tục giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể này Các vụ việc phát sinh từ các quan hệ KDTM được giải quyết bởi Tòa kinh tế
Quá trình giải quyết các vụ án KDTM là một quá trình phức tạp gồm nhiều giai đoạn khác nhau, bắt đầu sau khi có đơn khởi kiện của đương sự,Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, sau đó chuẩn bị xét xử, thu thập tài liệu, hòa giải, tạm đình chỉ, đình chỉ, tiến hành phiên Tòa, ra phán quyết… Cũng có trường hợp vụ việc được tiến hành theo trình tự thủ tục rút gọn, tức là rút ngắn hơn so với trình tự thông thường
Trang 2113
Theo Từ điển Tiếng Việt: “thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức”7 Trong cuộc sống, có nhiều hoạt động được tiến hành theo thủ tục, đặc biệt là các hoạt động của Nhà nước được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có hoạt động xét xử của TAND Để đảm bảo trật tự kỉ cương trong đất nước, các vi phạm pháp luật cần bị xem xét và xử lí theo một trật tự được quy định chặt chẽ trong luật Mặt khác, hoạt động xét xử cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như quyền lợi chính đáng của cá nhân, tổ chức trong
xã hội Hoạt động xét xử được quy định trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Thủ tục
tố tụng là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án dã được thụ lí hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật
Như vậy, có thể hiểu, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án là trình tự tiến hành các hoạt động để giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động KDTM được pháp luật tố tụng dân sự quy định
1.1.3.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết tranh chấp trong KDTM tại Tòa án
Thứ nhất, về chủ thể tiến hành thủ tục Chủ thể tiến hành thủ tục giải quyết
tranh chấp KDTM ở đây là TAND Theo quy định của pháp luật hiện hành, TAND
có 4 cấp: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện Bốn cấp Tòa án này thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình trong giải quyết các xung đột giữa các chủ thể trong hoạt động KDTM Đây là chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ nhằm bảo vệ công lí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ KDTM
Thứ hai, về nội dung của thủ tục Thủ tục được tiến hành theo trình tự do
pháp luật quy định, thể hiện trật tự trước sau của các giai đoạn trong giải quyết tranh chấp KDTM Các hoạt động, công việc của TAND theo thủ tục sơ thẩm được tiến hành phải đảm bảo đúng trình tự do luật định, gồm: Khởi kiện và thụ lý đơn
7 Hoàng Phê (2018), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, TP HCM, tr 1215
Trang 2214
kiện; Hòa giải; Chuẩn bị xét xử; Mở phiên Tòa sơ thẩm; Ra phán quyết Nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa tiến hành thủ tục phúc thẩm, ngoài ra còn có thể có thủ tục Giám đốc thẩm8 và Tái thẩm9 theo quy định của pháp luật
Còn đối với thủ tục tố tụng trọng tài theo quy định của Luật Tố tụng trọng tài hiện nay có nhiều điểm khác biệt với thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM theo tố tụng Tòa án Hoạt động tố tụng trọng tài bắt nguồn từ thỏa thuận trọng tài, nếu không có thỏa thuận trọng tài thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết nhưng khi giải quyết tại TAND thì đương sự chỉ cần làm thủ tục khởi kiện đúng TAND có thẩm quyền mà không cần thỏa thuận trước khi giải quyết tranh chấp KDTM Mặt khác, ở tố tụng trọng tài được phân thành hai hình thức trọng tài là trọng tài vụ việc
và trọng tài quy chế, với mỗi hình thức trọng tài thì thủ tục giải quyết lại có điểm khác nhau, ví dụ nếu giải quyết bằng trọng tài vụ việc thì nguyên đơn sẽ gửi đơn kiện cho bị đơn còn nếu giải quyết bằng trọng tài quy chế thì nguyên đơn gửi đơn kiện cho Trung tâm trọng tài Đối với trường hợp các bên chọn tố tụng trọng tài khi giải quyết tranh chấp KDTM cũng không có thủ tục kháng cáo, kháng nghị, không
có thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm như tố tụng Tòa
Trang 23Trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định 20-TTg ngày 14/01/1960 Theo quyết định này trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế Sau
đó cùng với sự phát triển của nền kinh tế và dưới sự lãnh đạo của Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/CP ngày 14/04/1975 về điều lệ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Theo quyết định tại Nghị định số 75/CP trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế Hoạt động của trọng tài kinh tế có nội dung chủ yếu là đảm bảo tính kỷ luật của nhà nước, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế lượng tranh chấp kinh tế tăng và để quản lý hiệu quả nền kinh tế Hội đồng bộ trưởng (hiện nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 62-HĐBT ngày 17/04/1984 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Trọng tài kinh tế cấp huyện, tỉnh, bộ lần đầu tiên hình thành ở nước ta hệ thống trọng tài kinh tế cấp huyện
Khi đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Hội đồng nhà nước (nay là Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh trọng tài kinh tế ngày 10/01/1990 Pháp lệnh này có nhiều nội dung đổi mới về tổ chức, phân cấp thẩm quyền và thủ tục tố tụng trọng tài Theo Pháp lệnh Trọng tài kinh tế, Trọng tài kinh tế là hệ thống
Trang 2416
các cơ quan do nhà nước thành lập ra gồm ba cấp trung ương, tỉnh, huyện, chịu sự quản lý theo ngành dọc cũng như chịu sự quản lý chính quyền địa phương, nằm trong bộ máy hành pháp của nhà nước
BLTTDS 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2005 Trước đây các quy định về thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại được quy định tản mạn trong các văn bản pháp luật thì khi Bộ luật ra đời đã được các nhà lập pháp tập hợp, nghiên cứu và xây dựng thành những quy định chung thống nhất làm cơ sở cho việc xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân
Sau khi BLTTDS ra đời, các quy định về thẩm quyền dân sự của Tòa án, trong đó có thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đã được hướng dẫn thi hành bởi Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Qua đó vấn đề thẩm quyền được quy định tương đối đầy đủ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý để Tòa án các cấp giải quyết tranh chấp kịp thời, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Sau nhiều năm áp dụng các quy định của BLTTDS 2004 cùng với hướng dẫn thi hành tại Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC, Tòa án đã giải quyết nhanh chóng và hiệu quả các vụ việc, tranh chấp trong đời sống xã hội nói chung và các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nói riêng Tuy nhiên, hiện nay một số quy định của BLTTDS 2004 đã bộc lộ những hạn chế, khiến cho việc giải quyết các tranh chấp cũng gặp nhiều khó khăn Những hạn chế này cần phải được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về Tố tụng dân sự ở Việt Nam
Ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
Và hiện nay để thay thế Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP, Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 03/2012/NQHĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung"
Trang 25họ chủ động thực thi nhiệm vụ, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; đồng thời, cần tiếp tục đổi mới trình tự, thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm các vụ việc dân sự nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, khắc phục khó khăn, bất cập trong công tác xét xử, nâng cao chất lượng và hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự; bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân; góp phần vào sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Theo quy định của Hiến pháp 2013, nhiều nội dung quan trọng về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cũng đã được bổ sung, sửa đổi; cụ thể là: (1) Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; (2) Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; (3) Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành
Trang 2618
niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân
có thể xét xử kín; (4) Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; (5) Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; (6) Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; (7) Quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm; (8) Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (9) Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; (10) Tòa án nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp
Ngày 24 tháng11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân, theo đó nhiều nội dung quan trọng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân; về cơ cấu
tổ chức, thẩm quyền của từng cấp Tòa án; về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm đã có những thay đổi căn bản Theo quy định của Luật này, Tòa án nhân dân được tổ chức thành 4 cấp, bao gồm: (1) Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ: giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc việc xét xử của các Toà án khác, tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.(2) Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ: phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng (3) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ: sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi
Trang 2719
phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật (4) Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ: sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật
Do đó, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 đã bỏ phiếu thông qua BLTTDS, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2016 Bộ luật có 517 điều, trong đó có một số sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức TAND 2014 BLTTDS có những quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại TAND cấp sơ thẩm, thủ tục giải quyết vụ án dân sự cấp phúc thẩm, đặc biệt bổ sung thủ tục rút gọn Đây là văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp KDTM nói riêng bởi Tòa
án
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện trình tự giải quyết tranh chấp như Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Hay Nghị quyết
03/2012/NQ-HĐTP, ngày 3/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất
“Những quy định chung” Hai Nghị quyết này hướng dẫn thủ tục giải quyết tranh chấp theo BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011 nhưng đến nay vẫn còn hiệu lực áp dụng khi TAND tiến hành xét xử sơ thẩm
Trên cơ sở Nghị quyết 19/2014/NQ-CP ngày 18/3/2014 do Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,Nghị quyết 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020,… trong đó có một nhiệm vụ rất quan trọng đó là cải cách tư pháp về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành một số văn bản để hướng dẫn TAND các cấp thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM như Nghị
Trang 2820
quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ngày 30/6/2016 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 03/2015/QH13, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ban hành ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại TAND, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm…
Ngoài ra, do giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM nên TAND còn căn cứ vào cả các quy định trong BLDS, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Doanh nghiệp… để giải quyết thấu đáo vụ việc
1.2.2 Nội dung pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
1.2.2.1 Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án cấp sơ thẩm
a Khởi kiện tranh chấp KDTM
Trong các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận thì quyền khởi kiện là một quyền năng quan trọng để con người, công dân có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hoạt động dân sự nói chung và hoạt động KDTM nói riêng Theo Điều 186 BLTTDS 2015 quy định “Cá nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”
Khởi kiện là quyền quan trọng của các chủ thể và là hành vi đầu tiên của cá nhân, tổ chức để họ tham gia vào quan hệ tố tụng, nếu không có hoạt động khởi kiện tranh chấp KDTM thì không có quá trình thực hiện các thủ tục tiếp theo Theo
đó, khởi kiện là phương thức để các chủ thể có thể hành động để tự bảo vệ các quyền trong KDTM của mình, Tòa án qua hoạt động xét xử của mình trên cơ sở hành vi khởi kiện của đương sự cũng góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao với
Trang 2921
nhân dân và xây dựng môi trường pháp lý an toàn, cải thiện môi trường cạnh tranh quốc gia
Về điều kiện khởi kiện
Theo quy định tại Điều 186, 187 BLTTDS năm 2015, các chủ thể khởi kiệnphải đáp ứng điều kiện sau:
- Cá nhân khi khởi kiện vụ án KDTM phải có năng lực hành vi tố tụng dân
sự đồng thời phải có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Đối với
cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có quyền lợi cần được bảo vệ thì do người đại diện thay mặt để thực hiện việc khởi kiện vụ án Quy định này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt trong TTDS, quy định không cho phép người không phải chủ thể của quan hệ pháp luật lợi dụng quyền khởi kiện bởi nếu không họ có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác
Cá nhân khi có đủ năng lực chủ thể thì có thể tự mình khởi kiện hoặc ủy quyền cho người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thay mình tiến hành thủ tục khởi kiện tranh chấp KDTM
- Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án KDTM bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Các cơ quan nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan quản lý thị trường,… có tư cách pháp nhân thì có quyền khởi kiện còn các bộ phận, đơn vị, phòng ban của các cơ quan này thì không có quyền khởi kiện vụ án KDTM Các tổ chức khác như tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp… bao gồm cả tổ chức có tư cách pháp nhân và
tổ chức không có tư cách pháp nhân nên những tổ chức không có tư cách pháp nhân thì xem xét trong từng trường hợp phụ thuộc vào việc tổ chức có được tham gia giao dịch một cách độc lập không (như doanh nghiệp tư nhân, tổ hợp tác…), còn tổ chức có tư cách pháp nhân thì do đại diện theo pháp luật của tổ chức đứng ra khởi kiện (ví dụ: Giám đốc của công ty TNHH 1 thành viên thay mặt cho công ty tiến hành khởi kiện…)
Vụ án phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Trang 3022
Các vụ việc phát sinh từ hoạt động KDTM rất đa dạng và phức tạp, các bên
có thể lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tại TAND, theo đó, TAND có thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM theo Điều 30 BLTTDS năm 2015:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTMgiữa cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Việc phân định thẩm quyền của TAND đối với các tranh chấp KDTM cũng giúp cho TAND và các chủ thể xác định nộp đơn khởi kiện ở đâu Theo Điều 35 BLTTDS năm 2015 thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm, còn nếu vụ việc có tính chất phức tạp cần chuyên môn
kỹ thuật của cán bộ Tòa án, ủy thác tư pháp với nước ngoài hoặc những vụ việc mà TAND cấp huyện giải quyết không đảm bảo khách quan, vô tư khi giải quyết tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh Những vụ việc quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015, những vụ việc quy định tại khoản 1 Điều 31 BLTTDS năm 2015 (yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp) thì thuộc thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện
Trang 3123
TAND cấp tỉnh theo quy định tại Điều 37 BLTTDS năm 2015 có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật cạnh tranh; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải thành viên của công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa công ty với người quản lý trong công ty TNHH hoặc thành viên hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc trong công ty cổ phần, giữa thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
Ngoài ra TAND cấp tỉnh còn có thẩm quyền sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện mà TAND cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện
Có một số trường hợp sự việc chưa được giải quyết bằng một bản ản hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật, chẳng hạn vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê của các chủ thể kinh doanh
Xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM là một vấn đề phức tạp Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành về phương thức xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục TTDS có thể theo loại việc, theo lãnh thổ hoặc theo lựa chọn của nguyên đơn Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 5 Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì chỉ khi có một văn bản quy phạm pháp luật xác định quan hệ đó là tranh chấp KDTM thì Tòa án mới vận dụng quy định nàyhoặc tranh chấp phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý của nhiều loại hình doanh nghiệp mà sự hoạt động dựa vào sự góp vốn của các thành viên như hợp tác xã hoặc các loại hình doanh nghiệp đặc thù trên thực tế (như trường tư thục, trường dạy nghề, trường dân lập, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán…) theo BLTTDS hiện
Trang 3224
hành không được coi là tranh chấp công ty mặc dù chúng có cùng bản chất với tranh chấp công ty Tiêu chí lợi nhuận chưa thực sự rõ ràng về mặt lý luận và thực tiễn Nếu phân biệt quan hệ về kinh doanh và dân sự dựa trên yếu tố lợi nhuận mà không đưa ra tiêu chí cụ thể, khác biệt thì có sự bất ổn về cách phân loại các tranh chấp Chẳng hạn các trang thiết bị có thể vừa dùng cho mục đích kinh doanh, vừa dùng cho sinh hoạt Điều này sẽ dẫn đến việc cùng một quan hệ nhưng bao hàm cả 2 mục tiêu là tiêu dùng và phục vụ sản xuất - kinh doanh
Còn thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện10 Pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân không
bị xâm phạm vừa bảo đảm việc giải quyết tranh chấp KDTM giữa các chủ thể được thuận lợi Xác định đúng thời hiệu khởi kiện để các bên thực hiện quyền khởi kiện đúng theo quy định của pháp luật
Các tranh chấp thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại năm 2005 quy định, theo đó thời hiệu khởi kiện là 2 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều
23711 Xác định ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện là ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm phụ thuộc vào từng tranh chấp Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các Thẩm phán để xem xét có thụ lí đơn kiện hay không
Theo quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến tranh chấp KDTM, tùy loại tranh chấp mà thời hiệu cũng có sự khác nhau, cụ thể: Các tranh chấp liên quan đến số lượng, chất lượng hàng hoá thì ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được hiểu là ngày giao nhận hàng, trường hợp hàng hoá có bảo hành là ngày hết thời hạn bảo hành đối với tranh chấp về chất lượng hàng hoá Các tranh chấp
10 Khoản 1 Điều 149 BLTTDS năm 2015
11 Điều 319 Luật Thương mại năm 2005
Điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại năm 2005: “Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng,
kể từ ngày giao hàng”
Trang 3325
khác liên quan đến nghĩa vụ phải hoàn thành theo hợp đồng thì ngày bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ hoặc trường hợp hàng hoá có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành Tuy nhiên theo Điều
429 BLDS năm 2015: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” Như vậy, Luật Kinh doanh bảo hiểm và BLDSnăm 2015 có quy định khác nhau về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện Vì trên thực tế hai thời điểm này không đồng nhất: khi người yêu cầu biết
sự kiện pháp lý xảy ra xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ nhưng họ chưa thực hiện quyền khởi kiện ngay mà sẽ thực hiện thỏa thuận, hòa giải, thống nhất cách giải quyết trong một thời gian nhất định Khi không thống nhất được cách giải quyết thì mới phát sinh tranh chấp Trong trường hợp này, Tòa án phải ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành, tức là Luật Kinh doanh bảo hiểm để xác định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp, thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp12
Các tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận cũng có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện Xuất phát từ đặc thù quan hệ bảo hiểm giữa các bên là thời gian hợp đồng bảo hiểm
có hiệu lực đối với các bên tương đối dài Theo đó, Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm có quy định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm là 3 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp
Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hành khách cũng là một tranh chấp khá phổ biến hiện nay khi điều kiện giao lưu thương mại ngày một phát triển
Bộ luật Hàng hải năm 2015 có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển Theo đó, thời hiệu khởi kiệnvề hư hỏng, mất mát hàng hóa là 01 năm kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng13.Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận
12 Mục 8 Phần IV Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019
13 Điều 169 Bộ luật Hàng hải năm 2015
Trang 3426
chuyển theo chuyến là 02 năm kể từ ngày người khởi kiện biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm14 Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường tổn thất do hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khỏe và mất mát, hư hỏng hành lý là
02 năm15 Thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là 02 năm kể từ ngày chấm dứt hợp đồng Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng môi giới hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng lai dắt tàu biển là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp Thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung là 02 năm kể từ ngày xảy ra tổn thất chung Thời gian tiến hành phân bổ tổn thất chung không tính vào thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp
Hiện nay, pháp luật có nhiều quy định mới về thời hiệu khởi kiện nhưng thực tiễn chưa có sự cập nhật kịp thời và nhận thức đúng cũng như áp dụng thống nhất
về thời hiệu khởi kiện dẫn đến việc giải quyết các vụ án không chính xác Để việc
áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện được chính xác, phù hợp với từng loại tranh chấp và thời điểm phát sinh tranh chấp, căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết
số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, việc áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện cần phân biệt theo thời gian khởi kiện, thụ lý giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Trường hợp Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trước ngày 01/01/2017 nhưng chưa giải quyết hoặc đang trong quá trình giải quyết thì Tòa
án vẫn áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2011 và của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết
Thứ hai: Đối với các giao dịch về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được xác lập trước ngày 01/01/2017, nhưng từ ngày 01/01/2017 đương sự mới có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu gửi đến Tòa án (tức là từ
14 Điều 195 Bộ luật Hàng hải năm 2015
15 Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Hàng hải năm 2015
Trang 35áp dụng
Thứ ba: Khi thụ lý giải quyết vụ án, cần lưu ý một số quy định của pháp luật
về trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện và quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự để có căn cứ giải quyết vụ án được chính xác và thống nhất
- Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Điều 155 BLDS năm 2015 gồm: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; yêu cầu bảo
vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; trường hợp khác
Trở ngại khách quan được hiểu là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa
vụ dân sự của mình
Trang 3628
+ Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người
có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây: Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân; người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được
- Các trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự theo Điều 157 BLDS 2015: Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của
mình đối với người khởi kiện; bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; các bên đã tự hòa giải với nhau
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều 157 BLDS 2015
Như vậy, để việc áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện trong hoạt động giải quyết các tranh chấp về dân sự chính xác có căn cứ pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng cần cập nhật kịp thời và áp dụng đúng quy định của pháp luật trong từng thời điểm đối với từng vụ án cụ thể Đồng thời, để các đương sự có nhận thức đầy đủ hơn về thời hiệu khởi kiện thì trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cần giải thích cho đương sự biết các quy định mới của pháp luật về thời hiệu khởi kiện để họ kịp thời thực hiện quyền khởi kiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 37b Thụ lí tranh chấp kinh doanh, thương mại và trả lại đơn khởi kiện
Thụ lí vụ án là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào
sổ thụ lí vụ án để giải quyết16 Như vậy, thụ lí vụ án là công việc đầu tiên của Tòa
án trong quá trình tiến hành thủ tục tố tụng Thụ lí vụ án kinh doanh, thương mại gồm hai hoạt động cơ bản là nhận đơn kiện xem xét và vào sổ thụ lí Thụ lí vụ án có
ý nghĩa thiết thực trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ KDTM, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ của chủ thể kinh doanh, tạo niềm tin vào cơ quan bảo vệ pháp luật đồng thời nó là căn cứ để xác định các thời hạn tố tụng như quy định tại Điều 182 BLTTDS năm 2015
Thủ tục thụ lí vụ án KDTM được quy định tại Điều 191 BLTTDS năm 2015: Tòa nhận đơn và ghi vào sổ nhận đơn; cấp giấy xác nhận hoặc thông báo cho người khởi kiện biết Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, thẩm phán được phân công phải xem xét một số nội dung theo quy định của pháp luật Nếu đơn cần phải sửa đổi, bổ sung theo Điều 193 BLTTDS năm 2015 thì thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do thẩm phán ấn định nhưng không quá 1 tháng, đặc biệt có thể gia hạn nhưng không gia hạn quá 15 ngày Nếu người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung theo đúng yêu cầu của thẩm phán thì tiếp tục thụ lí vụ án còn nếu không sửa đổi, bổ sung theo đúng yêu cầu của
16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
tr250
Trang 3830
thẩm phán thì thẩm phán trả lại đơn kiện và các tài liệu đã nộp kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện
Điều 195 BLTTDS năm 2015 quy định, sau khi nhận đơn khởi kiện, tài liệu
và chứng cứ kèm theo nếu Tòa án thấy đúng thẩm quyền thì xác định tiền tạm ứng
án phí cho người khởi kiện, để họ thực hiện thủ tục nộp tạm ứng án phí theo đúng quy định
Khi xem xét thụ lí vụ án, nếu thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lí được thì thẩm phán trả lại đơn kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Các trường hợp trả lại đơn kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 BLTTDS năm 2015
c Chuẩn bị xét xử, hòa giải, tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại
Chuẩn bị xét xử
Theo quy định tại điều 28 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án KDTM là 2 tháng kể từ ngày Tòa án vào sổ thụ lí, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan có thể gia hạn thời hạn này nhưng không quá 1 tháng Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên Tòa xét xử trừ trường hợp có lí do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng
Nếu hòa giải không thành, thì Tòa án phải củng cố hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra xét xử tại phiên Tòa Các hoạt động này được gọi là chuẩn bị xét xử, chủ yếu bao gồm: phân công thẩm phán, thông báo việc thụ lí, lập hồ sơ vụ án
Hòa giải
Hòa giải là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương
sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc Cơ sở của hòa giải là quyền tự định đoạt của đương sự Trong quá trình thực hiện thủ tục này, Tòa án giữ vai trò đặc biệt quan trọng Với tư cách là cơ quan xét xử, Tòa án hỗ trợ các bên để họ tự thỏa
Trang 39Thành phần phiên hòa giải gồm Thẩm phán chủ trì, thư kí Tòa, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ… Thủ tục tiến hành phiên hòa giải được tiến hành theo Điều 208 BLTTDS năm 2015, nếu các đương sự hòa giải thành thì thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định này có hiệu lực ngay sau khi ban hành Để đề phòng các sai lầm có thể, Điều 213 BLTTDS năm 2015 quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là
do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật và trái đạo đức xã hội
Tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án KDTM là việc Tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết vụ án KDTM khi có căn cứ do pháp luật quy định Căn cứ tạm đình chỉ được quy định tại Điều 214 BLTTDS năm 2015 Tạm đình chỉ không phải là chấm dứt việc giải quyết mà chỉ là tạm thời gián đoạn trong một thời gian nhất định Thẩm phán được phân công vẫn tiếp tục giải quyết và theo dõi vụ việc Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày lí do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và gửi quyết định đó cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp
Đình chỉ giải quyết vụ án KDTM là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết vụ án KDTM khi có những căn cứ do luật định Căn cứ đình chỉ được quy định tại Điều 217 BLTTDS năm 2015 Khi đã ra quyết định này thì mọi hoạt động giải quyết tranh chấp sẽ dừng lại
d Phiên Tòa sơ thẩm
Trang 4032
Sau khi hòa giải không thành hoặc đối với những vụ việc không hòa giải được hoặc không được hòa giải, Tòa án phải tiến hành phiên Tòa xét xử vụ án KDTM Phiên Tòa này được gọi là phiên Tòa sơ thẩm
Phiên Tòa sơ thẩm là phiên xét xử vụ án lần đầu của Tòa án Theo Điều 15 BLTTDS năm 2015, việc xét xử được tiến hành kịp thời, công bằng và công khai Tại phiên Tòa, thẩm phán sẽ tiến hành quyết định giải quyết tất cả các vấn đề của vụ tranh chấp KDTM, xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự làm cơ sở cho việc thi hành án Sau khi kết thúc phiên Tòa sơ thẩm thì vụ việc tranh chấp cũng kết thúc trừ khi có kháng cáo, kháng nghị
Phiên Tòa được tiến hành theo đúng nguyên tắc tố tụng dân sự Thành phần hội đồng xét xử theo Điều 63 BLTTDS năm 2015 gồm: một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, đặc biệt có thể có hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Những người tham gia phiên Tòa này cũng được quy định rất cụ thể chi tiết từ Điều 227,
228 BLTTDS năm 2015
Thủ tục tiến hành phiên Tòa sơ thẩm theo trình tự: chuẩn bị khai mạc phiên Tòa, khai mạc phiên Tòa, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và ngườ phiên dịch, xem xét, quyết định hoãn phiên Tòa khi có người vắng mặt, hỏi tại phiên Tòa, thủ tục tranh tụng, công bố chứng cứ, tài liệu có liên quan, tranh luận, nghị án và tuyên án
Sau khi phiên Tòa kết thúc thì Tòa án sửa chữa, bổ sung bản án (nếu có); cấp trích lục bản án, gửi bản án; sửa chữa, bổ sung biên bản tại phiên Tòa
1.2.2.2 Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án cấp phúc thẩm
Sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên thì bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn một thời hạn để các đương sự có thể kháng cáo, viện kiểm sát có thể kháng nghị Nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa
án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ án Thủ tục này được gọi là thủ tục phúc thẩm