1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh tây nguyên

119 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào tạo công chức là một quá trình liên tục nhằm nâng cao chất lượng công chức phục vụ công tác quản lý nhà nước, tuy nhiên việc đào tào công chức vẫn còn nhiều bất cập như chưa đồng bộ,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

VŨ QUỐC DŨNG

CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ

TẬP TRUNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

VŨ QUỐC DŨNG

CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ

TẬP TRUNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết nội dung của luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác Bản luận văn này là sự cố gắng nỗ lực của bản thân cùng với

sự nhiệt tình hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn Ngoài các phần trích dẫn, các kết quả phân tích, đánh giá, kết luận đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi

Tác giả

Vũ Quốc Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Sau đại học, giảng viên khoa kinh tế chính trị Đại học kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội và đặc biệt là các thầy cô trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn thạc sỹ

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tác giả tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2020

Tác giả

Vũ Quốc Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ TẬP TRUNG 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 5

1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng công chức ngành thống kê tập trung 8

1.2.1 Các khái niệm cơ bản 8

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thống kê tập trung 16

1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung 19

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức của ngành thống kê tập trung 27

1.3 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành thống kê tại Việt Nam 30

1.3.1 Kinh nghiệm của Cục Thống kê tỉnh Bình thuận 30

1.3.2 Kinh nghiệm của Cục Thống kê thành phố Hải phòng 32

1.3.3 Bài học kinh nghiệm 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 35

2.1.1 Phương pháp khảo sát điều tra 35

2.1.2 Phỏng vấn sâu 36

Trang 6

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 37

2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 37

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ TẬP TRUNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN 38

3.1 Đặc điểm tình hình, chất lượng công chức và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây Nguyên 38

3.1.1 Giới thiệu chung 38

3.1.2 Chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên 40 3.1.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức ngành Thống kê tập trung tại các tỉnh Tây nguyên 55

3.2 Tình hình nâng cao chất lượng công chức ngành Thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên 61

3.2.1 Thực trạng quy hoạch công chức tại các tỉnh Tây nguyên 61

3.2.2 Tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên 63

3.2.3 Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nâng cao chất lượng công chức ngành Thống kê tập trung của các tỉnh Tây nguyên 68

3.3 Đánh giá chung 71

3.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 71

3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 74

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ TẬP TRUNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN 79

4.1 Bối cảnh mới và định hướng nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung 79

4.1.1 Bối cảnh mới 79

Trang 7

4.1.2 Định hướng của ngành thống kê tập trung 80

4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên 83

4.2.1 Rà soát và thực hiện nghiêm túc công tác quy hoạch công chức 83

4.2.2 Đổi mới công tác tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng công chức 85

4.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác phát triển nhân lực và thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về nâng cao chất lượng công chức 95

4.2.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát nâng cao chất lượng công chức 96

4.3 Kiến nghị 98

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 Spss, Stata Phần mềm phân tích thống kê

4 Website Trang thông tin điện tử

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 3.1 Quy mô công chức ngành thống kê tập trung các

4 Bảng 3.4 Số lượng và cơ cấu công chức theo tỉnh năm 2018 42

5 Bảng 3.5 Công chức đã được đào tạo quản lý nhà nước 43

10 Bảng 3.10 Kết quả thi tuyển công chức ngành thống kê tập

trung các tỉnh Tây nguyên năm 2017 60

Trang 10

TT Bảng Nội dung Trang

11 Bảng 3.11 Công chức được đào tạo chương trình quản lý nhà

nước và nghiệp vụ công tác thống kê 65

12 Bảng 3.12 Kết quả thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức cán bộ

tại Cục Thống kê các tỉnh Tây nguyên 69

13 Bảng 4.1 Nội dung, số lượng và địa điểm đào tạo công chức 90

14 Bảng 4.2

Đề xuất chỉ tiêu đào tạo cao học và đại học chuyên ngành thống kê cho Cục Thống kê các tỉnh Tây nguyên

91

15 Bảng 4.3 Đề xuất đào tạo tin học văn phòng và ngoại ngữ 92

16 Bảng 4.4 Đề xuất tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá công

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 3.1 Tỷ lệ công chức theo trình độ chuyên môn năm

2 Hình 3.2 Tỷ lệ công chức theo trình độ chuyên môn của

Cục Thống kê các tỉnh Tây nguyên năm 2018 41

3 Hình 3.3 Tỷ lệ công chức được đào tạo chương trình Quản

lý nhà nước từ chuyên viên trở lên năm 2018 44

4 Hình 3.4 Tỷ lệ công chức sử dụng phần mềm thống kê

5 Hình 3.5 Tỷ lệ công chức có trình độ chuyên môn thống kê

6 Hình 3.6 Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu công việc của công chức

7 Hình 3.7 Tỷ lệ Đảng viên đủ tư các hoàn thành nhiệm vụ

8 Hình 3.8 Tỷ lệ ý kiến đánh giá của công chức về quy trình

9 Hình 3.9 Tỷ lệ công chức được đào tạo nghiệp vụ chuyên

10 Hình 4.1 Đề xuất quy trình tuyển dụng công chức 87

11 Hình 4.2 Đề xuất quy trình đánh giá công chức 94

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo chủ nghĩa Mác thì tư liệu sản xuất và sức lao động kết hợp với nhau tạo thành quá trình sản xuất Như vậy với bất kỳ nền sản xuất xã hội nào đều phải gắn liền với yếu tố nhân lực Lịch sử cho thấy quốc gia nào quan tâm, coi trọng, quản lý tốt nhân lực trong quá trình sản xuất thì hầu như quốc gia đó đều thành công vượt bậc như Nhật Bản, Singapore

Quản lý nhân lực tốt để có thể phát triển nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Trong tình hình xã hội hiện nay lao động có chuyên môn kỹ thuật cao là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại trong việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Ðầu tư vào nguồn nhân lực là đầu tư mang tính chiến lược, trong nhiều trường hợp nó có kết quả tốt hơn so với việc đầu tư vào việc đổi mới công nghệ và thiết bị

Ðào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn kỹ thuật cho công chức của nước ta là khâu quan trọng nối liền quá trình tuyển dụng với quá trình sử dụng lao động có hiệu quả Đào tạo công chức là một quá trình liên tục nhằm nâng cao chất lượng công chức phục vụ công tác quản lý nhà nước, tuy nhiên việc đào tào công chức vẫn còn nhiều bất cập như chưa đồng bộ, chưa gắn chặt với thực tiễn, chưa xây dựng được chương trình đào tạo phù hợp để nâng cao, phát triển nguồn nhân lực một cách bài bản, có hệ thống

Vùng Tây Nguyên của Việt Nam bao gồm các tỉnh: Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum với địa hình là cao nguyên, dân cư phân tán, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn mức trung bình của cả nước, công chức ngành thống kê tập trung của các tỉnh này vì thế cũng còn nhiều hạn chế so với mặt bằng chung của toàn ngành như: Tỷ lệ công chức có trình độ từ đại học trở lên chưa cao và không đồng đều giữa các địa phương trong vùng, đặc biệt là trình độ tin học còn bất cập chưa đáp ứng được một số yêu cầu trong

Trang 13

thời kỳ mới, thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0

Công tác thống kê là nhiệm vụ rất quan trọng đảm bảo cung cấp thông tin trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ cơ quan nhà nước trong việc hoạch định chính sách, chiến lược, xây dựng kế hoạch kinh tế -

xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Để làm tốt công tác này, việc quản lý nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên đồng thời thực hiện mục tiêu đã được phê duyệt trong Quy hoạch phát triển nhân lực Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Quyết định 501/QĐ-TTg ngày 10/5/2018, Quyết định 01/2019/QĐ-TTg ngày 5/1/2019 của Thủ tướng

Chính phủ, đề tài “Chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên” được lựa chọn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đánh giá thực

trạng và đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng công chức và nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên

2.2.2 Phân tích đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên trong giai đoạn 2016-2018 Đánh giá những mặt tích cực đạt được và những hạn chế từ đó tìm ra nguyên nhân của những tồn tại và các vấn đề cần giải quyết

2.2.3 Đề xuất các quan điểm, phương hướng phát triển và các giải pháp nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên của Việt nam đến 2025

Trang 14

Câu hỏi nghiên cứu: Lãnh đạo Tổng cục Thống kê và Lãnh đạo Cục

Thống kê các tỉnh Tây Nguyên cần có những biện pháp quản lý thế nào để nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2021 – 2025 ?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vấn đề nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây Nguyên (công chức thống kê viên và thống kê viên chính)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Luận văn nghiên cứu thực tế trong phạm vi các tỉnh Tây

Nguyên, bao gồm tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum

Thời gian: Luận văn nghiên cứu dữ liệu phản ánh thực tế về chất lượng

công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018, đề xuất các giải pháp quản lý và nâng cao chất lượng công chức đến năm 2025

Phạm vi nội dung:

Chất lượng công chức ngành Thống kê tập trung nói riêng, xác lập chất lượng nhân lực nói chung, được đánh giá qua nhiều yếu tố (có nhiều cách tiếp cận khác nhau) như trí lực, thể lực, tâm lực, hay thái độ, kỹ năng Tương tự như vậy, có rất nhiều biện pháp nâng cao chất lượng công chức Trong phạm

vi đề tài nghiên cứu của luận văn này, nội dung cốt lõi được lựa chọn cho khung nghiên cứu cụ thể như sau: Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức; những biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung; những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành thống kê tập trung;

Trang 15

Luận văn không nghiên cứu đến công chức thống kê của Bộ, Ngành cơ quan thuộc Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các tổ chức thống kê ngoài hệ thống thống kê nhà nước

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của Luận văn bao gồm 04 chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh tây nguyên

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh tây nguyên

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC

NGÀNH THỐNG KÊ TẬP TRUNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về nguồn nhân lực, đây là một trong những yếu tố quan trọng của nền sản xuất xã hội mà bất cứ quốc gia nào cũng cần phải có

Dr S Balakrishnan (2003), Human Resource Management, Annamalai

Universtiy, India, đã đưa ra khái niệm về nguồn lực con người và quản lý nguồn lực con người Ông cho rằng nguồn nhân lực được coi là một tài sản rất quan trọng của bất kỳ tổ chức hay quốc gia nào Các tài nguyên khác sẽ không có ý nghĩa khi không có nguồn nhân lực, nhờ nguồn nhân lực mà các nguồn lực khác được sử sụng có hiệu quả và có mục đích hơn

Cuốn sách Thần kỳ Đông Á: Phát triển kinh tế và chính sách công của

Ngân hàng thế giới (WB - 1993), đã phân tích và khẳng định: Các nước Đông

Á có giai đoạn tốc độ phát triển kinh tế tăng gấp hai, ba lần các nước phát triển ở Âu - Mỹ Một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á chính là do chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các nước này

Đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2006), đề tài cấp bộ của Viện

Chiến lược và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đề tài nêu thực trạng nhân lực của Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2005 như: Chất lượng nhân lực (thể lực, trình

độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, sử dụng nhân lực), số lượng nhân lực, những hạn chế của nhân lực, từ đó có các giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến 2020

Trang 17

Luận án tiến sĩ của Đoàn Anh Tuấn (2012), Nâng cao chất lượng nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam Đề tài đã nêu lên cơ sở lý luận,

chất lượng nhân lực, thực tiễn về nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực nói chung sau đó đề cập đến nguồn nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia

Việt Nam nói riêng Theo nghiên cứu, nhân lực là con người nằm trong lực

lượng lao động (dân số trong độ tuổi lao động) với kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động thể hiện khả năng làm việc với mỗi trình độ nhất định trong sản xuất;

nâng cao chất lượng nhân lực là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn

diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân của

mỗi con người; chất lượng nhân lực là sự hiện thực hóa năng lực thể chất và

năng lực tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hóa thông tin thành mức độ hoàn thành công việc, sản phẩm và công nghệ mới Các đánh giá chi tiết về chất lượng nhân lực, thực trạng các nội dung nâng cao chất lượng nhân lực, các đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Nguyễn Trí Duy (2012),

Nghiên cứu những nội dung và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của hệ thống thống kê tập trung Luận văn đưa ra khái niệm ngắn gọn về nguồn nhân

lực (là tổng thể các chỉ số phát triển con người, mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng, xã hội và sự nỗ lực của bản thân và là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người, xã hội

có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội) và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ngành thống kê bao gồm cơ cấu tổ

Trang 18

chức (quy định theo Quyết định 54/2010/QĐ-TTg), đánh giá về quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực ngành thống kê từ đó đề ra các mục tiêu cụ thể, các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện có và chất lượng nguồn nhân lực đầu vào cũng như đảm bảo nguồn vốn cho công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống thống kê tập trung

Đề tài thạc sĩ của Vũ Kiên Quyết (2016), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh Luận

văn đã đề cập đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu trong quá trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức là những người xây dựng, thực thi các chủ trương và chính sách, là nhân

tố quyết định đối với sự phát triển đất nước

Đề tài thạc sỹ của Ngô Văn Ninh (2012), Nâng cao chất lượng nhân lực ngành thống kê tỉnh Tuyên Quang Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận và thực

tiễn về chất lượng nhân lực ngành thống kê, trong đó nêu lên vai trò đặc điểm của thống kê và ngành thống kê, đặc điểm nhân lực ngành thống kê; các lý luận về nhân lực và chất lượng nhân lực; quản lý nhân lực trong đơn vị hành chính cũng như kinh nghiệm của các nước trong việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành thống kê Về đánh giá thực trạng chất lượng nhân lực ngành thống kê tỉnh Tuyên Quang, đề tài đã nêu được thực trạng về chính sách tuyển dụng và chất lượng nhân lực của ngành từ đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực ngành thống kê tại Tuyên Quang

Chất lượng nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương đã

có rất nhiều nghiên cứu nhưng tại khu vực Tây nguyên của Việt Nam, nơi tập trung các tỉnh có những đặc trưng gần giống nhau về địa lý, văn hóa hiện chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách toàn diện, đa chiều về chất lượng công chức ngành thống kê tập trung của khu vực này

Trang 19

Kế thừa khung lý thuyết về chất lượng nhân lực, đề tài vận dụng để đánh giá thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức mà cụ thể là chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh khu vực Tây nguyên

1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm nhân lực

Loài người từ tự nhiên sinh ra, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Các Mác cho rằng con người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Theo quan điểm triết học của ông thì nền sản xuất xã hội được cấu thành bởi các yếu tố tư liệu sản xuất và lao động của con người Bởi vậy, con người ở đây được coi như một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất

Theo quan điểm của kinh tế học phát triển thì nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của mỗi quốc gia hoặc của một tổ chức và chính là vốn nhân lực Xét ở góc độ vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, xét ở góc độ vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm

lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của

tổ chức đó Xem xét ở góc độ của một tổ chức, người lao động được coi là nhân lực và có khả năng thay đổi về số lượng, chất lượng trong quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là "vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại"

Quan điểm sản xuất thì coi con người là nguồn lực đầu vào của nền sản xuất xã hội, vì thế vốn con người được coi là “nguồn nhân lực”

Trang 20

Bên cạnh các tiếp cận về mặt khoa học, khái niệm nhân lực cũng được

đề xuất bởi các tổ chức quốc tế

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn về con người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu, nó được coi như một nguồn vốn bên cạnh những nguồn vốn vật chất khác như vốn bằng tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững

Liên hợp quốc cũng đưa ra khái niệm nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội - kinh tế Theo Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP): "Nguồn nhân lực

là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" Như vậy, nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; "tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi Thực chất đó là tiềm năng của con người về số lượng, chất lượng và cơ cấu" Tiềm năng về thể lực con người thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng, tỷ lệ sinh, mức độ dinh dưỡng của xã hội Cơ cấu dân số thể hiện qua tháp tuổi của dân số Năng lực thể chất của con người là nền tảng và cơ sở để các năng lực về trí tuệ và nhân cách phát triển Tiềm năng về trí lực, là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện có cũng như khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri thức của nhân lực Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử và nền văn hóa của từng quốc gia Nó được kết tinh trong mỗi con người và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trưng của con người lao động trong quốc gia đó

Trang 21

Những quan điểm về nhân lực nói trên đều có những điểm chung đó là:

Về mặt xã hội, nhân lực được coi là nguồn lực của xã hội bao gồm số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực

Về mặt cá nhân, nhân lực là nguồn lực bên trong của con người bao gồm thể lực, tâm lực và trí lực của mỗi cá nhân

Kế thừa và phát huy các tri thức của xã hội, các tác giả của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm khác nhau về nhân lực

Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh thì con người là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động Đó là một hệ thống cấu trúc bao gồm: Sức khoẻ, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần Hồ Chí Minh cho rằng con người là tài sản quý nhất, chăm

lo và bồi dưỡng phát triển con người, coi con người là mục tiêu, động lực của

sự phát triển xã hội, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng Nhận thức đúng đắn và khơi dậy nguồn lực con người, đặc biệt nguồn nhân lực chính là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, xem con người với tư cách là nguồn sáng tạo có ý thức, là chủ thể của lịch sử

Theo quan điểm của Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2012) nhân lực được xác định là “sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển của cơ thể con người đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện để tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [2]

Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) lại cho rằng “nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong

tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [4]

Quan niệm về nhân lực của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) được đúc kết như sau: “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được

Trang 22

hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp” Các tác giả cũng cho rằng nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực, thể lực là sức khỏe cơ thể của con người, trí lực là năng lực, trí tuệ của con người Khi xem xét đến nhân lực, tổ chức/doanh nghiệp thường quan tâm đến các khía cạnh về quy mô, chất lượng, cơ cấu của nhân lực [5]

Quan điểm trên đây nhìn nhận nhân lực một cách toàn diện, coi nhân lực không chỉ trên giác độ số lượng (nguồn lực lao động) mà cả về chất lượng (tiềm năng phát triển) Theo cách tiếp cận này cho rằng, nhân lực là tất cả các

kỹ năng, năng lực của con người liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân

và của quốc gia Các nguồn lực cơ bản của sự phát triển quốc gia thường có là: Nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật chất, trong đó nhân lực có vai trò quyết định Là "lao động sống" (Các Mác), nó làm cho các nguồn lực khác trở nên hữu dụng

Ngày nay thế giới đang bước vào cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 4, trong đó kinh tế tri thức đang là trụ cột của sự phát triển, các thành quả khoa học trở thành yếu tố sản xuất và trở thành cấu phần của sản phẩm

Tỷ trọng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề hay quốc gia đó Vì vậy, mặt chất lượng của nhân lực, yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên nghiệp, nhân cách, phẩm chất là những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nhân lực của tổ chức hoặc của từng quốc gia

Khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhanh, mạnh, nó đóng góp ngày càng to lớn đối với sự phồn thịnh của một quốc gia thì nhân lực ngày càng trở nên quan trọng Chính nhân lực là tài nguyên cốt lõi ảnh hưởng đến sự phát triển của một quốc gia Xét trên khía cạnh vi mô, nhân lực chất

Trang 23

lượng cao là yếu tố tiên quyết đối với sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức

Tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những khái niệm khác nhau về nhân lực: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực và tâm lực” hay “Nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu

tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động”

Từ những quan niệm nêu trên, luận văn này đưa ra khái niệm về nhân

lực như sau: Nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động được phản ánh một

mức độ nhất định (số lượng, chất lượng, cơ cấu) trong quá trình phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia

1.2.1.2 Khái niệm ngành thống kê tập trung, công chức và công chức ngành thống kê tập trung

* Ngành thống kê tập trung

Các quốc gia trên thế giới đều có cơ quan thống kê, nhưng cách thức tổ chức của mỗi quốc gia có sự khác nhau: Cơ quan thống kê nhà nước độc lập (Thống kê quốc gia: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc…) Cơ quan thống kê nhà nước trực thuộc bộ (Úc) Một số nước phát triển ở Châu Âu, Cơ quan Thống

kê độc lập và là cơ quan về dịch vụ thống kê, cung cấp dịch vụ thống kê theo nhu cầu thị trường

Ở Việt Nam, Luật Thống kê năm 2015 thì cơ quan thống kê tập trung là

tổ chức quản lý nhà nước về công tác thống kê, cơ cấu tổ chức theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, cơ quan quản lý cao nhất ở trung ương là Tổng cục Thống kê (TCTK), cấp dưới là Cục Thống kê các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (CTK), cuối cùng là Chi cục Thống kê cấp huyện (Chi CTK) TCTK là cơ quan thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống

Trang 24

kê; tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật [9]

* Công chức

Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định về cán bộ, công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [8]

* Công chức ngành thống kê tập trung

Nhân lực của mỗi quốc gia là một bộ phận của lực lượng lao động xã hội gắn với điều kiện về độ tuổi, khả năng lao động, năng lực hành vi, năng lực pháp lý của các cá nhân

Theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia của Việt nam thì lực lượng lao động là toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động hiện đang làm việc hoặc đang thất nghiệp

Nhân lực của một ngành phản ánh số lượng và chất lượng những người làm việc trong ngành, tham gia vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu quản lý phát triển của ngành Số lượng nhân lực của một ngành là toàn bộ những người làm việc trong ngành đó Tuy nhiên, với một ngành thuộc khối quản lý nhà nước, số lượng nhân lực của ngành còn phải đảm bảo

Trang 25

nằm trong số lượng định biên được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chất lượng nhân lực của ngành biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, tâm lực của toàn bộ những người làm việc trong ngành

Nhân lực ngành thống kê tập trung là toàn bộ số lượng và chất lượng công chức, viên chức và người lao động trong ngành thống kê tập trung tham gia vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành từ cấp Trung ương đến cấp địa phương (Cơ quan thống kê Trung ương là TCTK, cơ quan thống kê

cấp tỉnh là CTK, cơ quan thống kê cấp huyện là Chi Cục Thống kê)

Như vậy công chức ngành thống kê tập trung là công chức được quy

định tại Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 tham gia vào việc thực hiện

chức năng, nhiệm vụ của ngành thống kê từ cấp Trung ương đến cấp địa phương theo quy định cụ thể tại Quyết định số: 03/2008/QĐ-BNV ngày 12 tháng 11 năm 2008 của Bộ Nội vụ về Ban hành chức danh, mã số và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành Thống kê [1]

1.2.1.3 Khái niệm chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng và đây là một phạm trù khá phức tạp Ở mỗi lĩnh vực khác nhau có khái niệm về chất lượng khác nhau Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế hóa, ISO 9000:2005, chất lượng là

mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có

Từ các cách tiếp cận khác nhau, nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về chất lượng nhân lực Có ý kiến cho rằng, chất lượng nhân lực là giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực, phẩm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội

Chất lượng nhân lực còn được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động, do những người lao động đó thực hiện Trong quá trình này con người

Trang 26

thường thực hiện hai chức năng chủ yếu: Một mặt thực hiện những hoạt động

cơ bản nhờ những kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy được hoặc đã học tập được qua đào tạo để sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu có sẵn được thiết kế ra từ trước, mặt khác con người thực hiện đồng thời những chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không theo khuôn mẫu định trước Ở đây,

sự hao phí năng lực thể chất và năng lực tinh thần, tức sự vận dụng trí năng của người lao động phải đạt đến trình độ cao: Trình độ tìm kiếm, phát hiện thông tin mới và vật chất hóa nó thành sản phẩm và công nghệ mới Như vậy, chất lượng nhân lực khi tiếp cận kinh tế tri thức là nâng cao năng lực thể chất

và năng lực tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hóa thông tin thành sản phẩm và công nghệ mới Do đó, khả năng sáng tạo đổi mới là đặc điểm nổi bật của chất lượng nhân lực khi tiếp cận kinh tế tri thức

Từ các quan điểm nêu trên, đề tài xác định, chất lượng công chức ngành thống kê tập trung là mức độ đáp ứng yêu cầu của các yếu tố cấu thành năng lực của công chức bao gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp

vụ thống kê, thái độ trong công việc và chấp hành chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước

1.2.1.4 Nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

Với cách tiếp cận nêu trên về chất lượng nhân lực có thể thấy nâng cao chất lượng công chức thực chất là nâng cao các yếu tố cấu thành nên chất lượng công chức bao gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ thống kê, thái độ làm việc của công chức Tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của người lao động lên đến một trình độ nhất định để họ có thể hoàn thành được nhiệm, công việc đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, ngành và rộng hơn là xã hội trong một giai đoạn, thời kỳ nhất định

Trang 27

Chất lượng của công chức được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau từ trình độ chuyên môn nghiệp vụ đến các yếu tố về thể chất và tinh thần cũng như thái độ làm việc của công chức vì vậy chất lượng của công chức cũng chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau từ kinh tế đến xã hội, nên nâng cao chất lượng công chức phải thông qua nhiều biện pháp khác nhau mới có thể đạt được hiệu quả tốt

Như vậy, nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung là tổng hợp các biện pháp nhằm nâng cao mức độ phù hợp của các yếu tố cấu thành chất lượng công chức ngành thống kê tập trung bao gồm: Nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ thống kê, nâng cao ý thức thái độ của người làm công tác thống kê và chấp hành chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

Đánh giá thực trạng của nhân lực được thực hiện để giúp cho ngành, tổ chức, doanh nghiệp nắm bắt được tình trạng nhân lực của ngành, tổ chức, doanh nghiệp mình từ đó bố trí và sử dụng nhân lực đúng với năng lực sở trường của nhân lực, nhằm giúp cho nhân lực phát huy hết tiềm năng, từ đó tạo ra năng suất lao động hiệu quả công việc tốt nhất

Như ở trên đã trình bày, chất lượng công chức được cấu thành bởi các yếu tố trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ thống kê, thái độ trong công việc và chấp hành chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Trong nội dung của mục này đề tài sẽ đề cập và đi sâu vào các nội dung nói trên

1.2.2.1 Trình độ chuyên môn của công chức

Trình độ chuyên môn phản ánh năng lực của công chức thông qua đào tạo, đây là kết quả cao nhất mà người lao động đạt được trước và sau khi được tuyển dụng Trình độ chuyên môn của công chức phần lớn có được chủ yếu

Trang 28

thông qua đào tạo, có thể đào tạo trong trường lớp hoặc được đào tạo sau khi được tuyển dụng

Trình độ chuyên môn của công chức có thể lượng hóa được vì nó thể hiện qua các bằng cấp, chứng chỉ mà công chức có được qua các bậc đào tạo thì kiến thức của công chức lại rất khó để đo lường Trong quá trình làm việc người lao động không chỉ sử dụng kiến thức chuyên môn mà còn phải vận dụng các loại kiến thức khác nhau để xử lý và giải quyết công việc một cách hiệu quả nhất

Trình độ chuyên môn của công chức ngành thống kê tập trung thực hiện nhiệm vụ bao gồm:

- Trình độ chuyên môn kỹ thuật;

- Trình độ về quản lý nhà nước;

- Trình độ tin học;

- Trình độ ngoại ngữ

1.2.2.2 Kỹ năng nghiệp vụ thống kê

Là một ngành quản lý nhà nước về lĩnh vực thống kê, công chức ngành thống kê tập trung ngoài trình độ chuyên môn được đào tạo qua trường lớp từ

hệ thống đào tạo quốc dân, còn cần phải có các kỹ năng nghiệp vụ về thống

kê và công tác thống kê Kiến thức trong nghiệp vụ thống kê của công chức bao gồm kiến thức chuyên môn về thống kê, kinh tế

Các kiến thức kỹ năng về thống kê bao gồm:

- Chọn mẫu điều tra, thiết kế cuộc điều tra;

- Tổ chức, triển khai điều tra, khảo sát thống kê;

- Phân tích, xử lý số liệu thống kê

- Dự báo thống kê…

Ngoài các kiến thức và kỹ năng nêu trên, để đạt được hiệu quả công việc cao nhất, công chức ngành thống kê tập trung còn cần có thêm các kỹ

Trang 29

năng khác đó là: Khả năng ứng xử và giải quyết công việc, các kỹ năng như

kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp, đàm phán…

1.2.2.3 Thái độ của công chức ngành thống kê tập trung trong công việc

Thái độ của công chức trong công việc phản ánh cách ứng xử trong quá trình làm việc được biểu hiện thông qua các yếu tố sau:

+ Tinh thần trách nhiệm với công việc;

+ Ý thức tổ chức kỷ luật;

+ Tính sáng tạo đổi mới trong công việc;

+ Mức độ thực hiện các cam kết;

+ Khả năng làm việc độc lập;

+ Khả năng phối hợp và làm việc nhóm

Thái độ làm việc là ý thức của công chức ngành thống kê tập trung trong quá trình làm việc phụ thuộc vào khí chất và tính cách của mỗi cá nhân Khi một công chức làm việc trong một tổ chức thì công chức đó phải tuân thủ nguyên tắc, quy định của tổ chức Tuy nhiên không phải bất kỳ cá nhân nào cũng có trách nhiệm, ý thức cũng như sự tự giác trong việc tuân thủ các quy định của tổ chức một cách triệt để Việt nam là một trong các nước phương Đông, ý thức tổ chức của công chức chưa thực sự tốt nên cần phải nêu cao văn hóa của tổ chức, để đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc

Văn hóa truyền thống của một quốc gia có ảnh hướng rất lớn đến suy nghĩ, thói quen, cách sống… từ đó dẫn đến hành vi trong lao động của công chức và ảnh hưởng đến năng suất lao động So với các tiêu chí về trình độ chuyên môn kỹ năng, nghiệp vụ thống kê thì thái độ làm việc của công chức ngành thống kê tập trung trong công việc là tiêu chí khó có thể lượng hóa, vì vậy cũng rất khó để đánh giá

Với đặc điểm là một ngành quản lý nhà nước theo ngành dọc như ngành Thống kê tập trung, việc không tuân thủ quy định làm việc hoặc thái độ

Trang 30

làm việc không đúng mực của một một bộ phận công chức có thể ảnh hưởng đến chất lượng số liệu của toàn ngành, nhất là tại cấp cơ sở, nơi trực tiếp thu thập thông tin cho công tác tổng hợp và phân tích chung Ngành thống kê tập trung đòi hỏi số liệu thống kê phải đầy đủ, chính xác, minh bạch và thường xuyên cập nhật thì công chức của ngành phải đáp ứng các yêu cầu như: Trung thực, thuần thục và nhuần nhuyễn trong công việc

1.2.2.4 Chấp hành chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước

Mỗi đảng viên, công chức cần chủ động tích cực, học tập, tìm hiểu, nắm vững và am hiểu sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thấm nhuần đạo đức cách mạng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội Mỗi công chức cần nêu gương sáng trong tuân thủ

và chấp hành pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật,

am hiểu pháp luật để thi hành nghiêm chỉnh pháp luật

1.2.3 Nội dung nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

1.2.3.1 Quy hoạch công chức ngành thống kê tập trung

Xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực ngành là việc xây dựng kế hoạch dài hạn về việc phát triển nhân lực của một ngành dựa trên việc dự báo nhu cầu về nhân lực của ngành, từ đó tiến hành các bước tiếp theo nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực Do vậy cần xác định trước những người có khả năng đảm nhiệm trọng trách trong những thay đổi nhân lực sắp diễn ra của ngành

Nguyên tắc quy hoạch

Một trong những nội dung quan trọng trong công tác cán bộ theo Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng đó là: “Đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ; đối với cán bộ diện quy hoạch lâu dài, cần lựa chọn nguồn cán bộ đưa vào

Trang 31

quy hoạch là những người ưu tú trong công nhân và những người lao động, công chức trẻ, sinh viên xuất sắc đã tốt nghiệp, trong lực lượng vũ trang Định

kỳ lựa chọn bổ sung cán bộ đủ tiêu chuẩn, có triển vọng đưa vào quy hoạch.”

Công tác quy hoạch là nhằm tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công chức cho tổ chức/ngành Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải gắn chặt chẽ với công tác quy hoạch sử dụng bảo đảm cho đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả thiết thực đúng địa chỉ, đúng nhu cầu sử dụng theo quy hoạch, không

bị lãng phí Với những yêu cầu nêu trên trong công tác quy hoạch phải xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan và đơn vị trong việc thực hiện quy hoạch đào tạo bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, công chức

Nguyên tắc của việc xây dựng quy hoạch nâng cao chất lượng nhân lực ngành là: Quy hoạch phát triển công chức của ngành phải đảm bảo dựa trên chiến lược phát triển của ngành, chiến lược phát triển nhân lực chung về nhân lực của đất nước

Quy hoạch công chức của ngành phải đảm bảo nguyên tắc đặt lợi ích chung của toàn ngành lên trên hết, thông qua lợi ích của toàn ngành để đảm bảo lợi ích cho từng bộ phận, đơn vị Bên cạnh đó, trong công tác quy hoạch nhằm hạn chế tối đa sự tác động không móng muốn của các yếu tố khác, công tác quy hoạch cũng cần đảm bảo tính “động” và tính “mở”

Việc quy hoạch nhân lực cũng phải đảm bảo dựa trên thực trạng nhân lực hiện tại của ngành cũng như các yếu tố tác động từ môi trường vĩ mô như: Luật Lao động, Luật công chức cũng như các yếu tố về kinh tế - xã hội khác…

Mục đích của việc xây dựng quy hoạch công chức là:

- Tối đa hóa việc sử dụng công chức và đảm bảo nhu cầu về nhân lực trong tương lai của ngành;

- Bảo đảm có thể huy động tối đa công chức cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu của ngành;

Trang 32

- Phối kết hợp các mục tiêu về công chức với các mục tiêu khác của ngành thống kê tập trung;

- Tối đa hóa hiệu quả của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành thống kê tập trung

Quy trình quy hoạch

Để có công chức đủ tiêu chuẩn, bảo đảm tính liên tục và kế thừa cần xúc tiến hành qui hoạch bồi dưỡng, đào tạo công chức mà trước hết là công chức lãnh đạo, quản lý và chuyên gia trong từng lĩnh vực theo yêu cầu của công việc

Trên cơ sở xác định nhu cầu quy hoạch công chức, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện quy hoạch xác định tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng công chức cho các giai đoạn xác định trong tương lai

Trên cơ sở quy hoạch phát triển công chức của ngành, các kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng công chức được xây dựng nhằm xác định nhu cầu công chức trong từng giai đoạn phát triển bao gồm các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Các kế hoạch bao gồm: Kế hoạch tuyển dụng, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo cho công chức của ngành có đầy đủ kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, sức khỏe cũng như có thái độ làm việc phù hợp đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của công việc

Tần suất tiến hành quy hoạch

Để công tác quy hoạch công chức có hiệu quả, đảm bảo cung cấp được đầy đủ nhu cầu công chức cho sự phát triển của ngành, công tác quy hoạch cần được thực hiện thường xuyên hàng năm, trong đó có việc bổ sung mới nguồn cán bộ cho quy hoạch cũng như loại bỏ các công chức đã được quy hoạch trong giai đoạn trước nhưng không đáp ứng được các yêu cầu quy hoạch cho giai đoạn hiện tại và tương lai

Trang 33

1.2.3.2 Tổ chức thực hiện quy hoạch nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung các tỉnh Tây nguyên

Chất lượng công chức của một ngành nói chung cũng như ngành Thống

kê nói riêng chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng công chức của ngành Thống kê tập trung cần phải thực hiện nhiều công việc khác nhau mới đảm bảo tạo ra kết quả cao nhất Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào các nội dung sau: Công tác tuyển dụng, công tác đào tạo, công tác đánh giá thực hiện công việc

Công tác tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn công chức để thỏa mãn nhu cẩu sử dụng công chức của ngành và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của ngành

Công tác tuyển dụng tốt ngoài việc đảm bảo tuyển dụng được đầy đủ số lượng công chức đáp ứng việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức, ngành mà còn đảm bảo nâng cao được chất lượng công chức từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động

a) Quy trình tuyển dụng công chức ngành thống kê tập trung được thực hiện theo các bước sau:

- Xác định nhu cầu tuyển dụng công chức của ngành: Là việc xác định

số lượng, cơ cấu, chất lượng của công chức cần tuyển dụng Trong việc xác định nhu cầu tuyển dụng công chức thì việc xác định nhu cầu tuyển dụng về chất lượng là quan trọng nhất Từ việc xác định nhu cầu về chất lượng đơn vị tuyển dụng sẽ đưa ra được các tiêu chuẩn tuyển dụng phù hợp cho từng vị trí công việc Việc xác định nhu cầu tuyển dụng có thể được thực hiện theo quy trình từ dưới lên (các đơn vị có nhu cầu tuyển dụng đề xuất số lượng, cơ cấu

và tiêu chuẩn tuyển dụng) hoặc theo quy trình từ trên xuống (Đơn vị có trách nhiệm tuyển dụng công chức sẽ xác định hiện trạng công chức của toàn ngành

Trang 34

từ đó xác định nhu cầu tuyển dụng chung cho ngành và cho từng đơn vị) hoặc kết hợp (từ việc tổng hợp nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị, đơn vị có trách nhiệm tuyển dụng công chức tiến hành phân tích và đưa ra quyết định cuối cùng về việc tuyển dụng công chức)

- Thông báo tuyển dụng: Việc thông báo tuyển dụng công chức của ngành thống kê tập trung được thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật

- Thu nhận và xử lý hồ sơ: Sau khi thông báo tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, các ứng cử viên có nhu cầu dự tuyển sẽ nộp

hồ sơ tại đơn vị tuyển dụng theo quy định khi thông báo tuyển dụng Đơn vị nhận hồ sơ tuyển dụng sẽ nhận và phân loại xử lý hồ sơ, lập danh sách hồ sơ

dự tuyển đủ tiêu chuẩn và thông báo cho người dự tuyển

- Tổ chức thi tuyển/xét tuyển/phỏng vấn: Cơ quan/đơn vị tổ chức tuyển dụng công chức sẽ thành lập hội đồng tuyển dụng nhân sự theo quy định của pháp luật sau đó tiến hành công tác thi tuyển/xét tuyển/phỏng vấn, đánh giá kết quả tuyển dụng từ đó đưa ra quyết định tuyển dụng các công chức theo đúng quy định

- Tiếp nhận công chức mới: Là quá trình giới thiệu cho công chức mới những kiến thức cơ bản về ngành, về đơn vị, về nhiệm vụ cơ bản nơi người trúng tuyển sẽ làm việc

b) Nguồn tuyển dụng:

Đối với công tác tuyển dụng nói chung, nguồn tuyển dụng của một tổ chức bao gồm nguồn tuyển dụng từ bên trong tổ chức (là những người đang làm hợp đồng bên trong tổ chức, có khả năng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của

vị trí cần tuyển dụng) và nguồn bên ngoài tổ chức (là những người hiện không làm việc trong tổ chức, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của tổ chức)

Đối với công tác tuyển dụng của ngành thống kê tập trung, nguồn tuyển dụng chủ yếu là những người hiện không làm việc trong ngành, đáp ứng được

Trang 35

các yêu cầu tuyển dụng của ngành Nguồn tuyển dụng của ngành thống kê tập trung chủ yếu là sinh viên các chuyên ngành Thống kê, kinh tế, kế toán… từ các trường đại học trong và ngoài nước; sinh viên các trường Cao đẳng Thống

kê, những người đã làm việc tại các đơn vị khác, đáp ứng yêu cầu và quy định tuyển dụng…

Công tác đào tạo công chức

Đào tạo công chức là một quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện các kỹ năng và rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho công chức để công chức có thể thực hiện tốt các công việc của họ trong hiện tại và tương lai

Muốn có một đội ngũ công chức có chất lượng cao, phải tiến hành đào tạo ngay từ ban đầu một cách căn bản, đồng thời trong quá trình công tác không ngừng đào tạo, bồi dưỡng lại để nâng cao trình độ cho họ, đây là một quá trình rất quan trọng Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức được tiến hành theo nhiều phương thức khác nhau từ đào tạo tại trường, đào tạo tại các cơ sở giáo dục của ngành đến “Tự đào tạo”

a) Nội dung đào tạo

- Đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;

- Đào tạo về quản lý nhà nước;

- Đào tạo về văn hóa công sở;

- Các hình thức đào tạo bổ sung kiến thức khác: Ngoại ngữ, tin học,

kỹ năng chuyên sâu về chuyên môn…

b) Quy trình đào tạo

Công tác đào tạo công chức được thực hiện theo quy trình như sau:

- Xác định nhu cầu đào tạo: Là xác định đối tượng đào tạo, nội dung đào tạo Căn cứ để xác định nhu cầu đào tạo của ngành bao gồm: Chiến lược phát triển ngành, quy hoạch phát triển công chức ngành, tiêu chuẩn chức danh công việc/nghề nghiệp của ngành, năng lực và nguyện vọng của công chức

Trang 36

- Xây dựng kế hoạch đào tạo của ngành: Là việc xác định mục tiêu đối tượng, nội dung đào tạo cũng như các biện pháp cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đào tạo của ngành trong một khoảng thời gian nhất định Kế hoạch đào tạo cũng bao gồm việc xác định thời gian, địa điểm, kinh phí dành cho công tác đào tạo công chức của ngành

- Triển khai thực hiện đào tạo: Việc triển khai hoạt động đào tạo của ngành bao gồm việc lập danh sách đối tượng được đào tạo, lựa chọn giảng viên, chuẩn bị các tài liệu và cơ sở vật chất cho đào tạo, tiến hành đào tạo

c) Kinh phí cho đào tạo:

Kinh phí đào tạo do ngân sách nhà nước chi trả dựa trên dự toán kinh phí đào tạo đã được phê duyệt

Công tác đánh giá thực hiện công việc

Đánh giá thực hiện công việc là quá trình thu nhận xử lý thông tin về quá trình và kết quả thực hiện công việc của công chức đưa ra đánh giá một cách chính xác nhất về mức độ hoàn thành công việc của công chức

a) Tiêu chuẩn nội dung đánh giá

Theo quy định tại Luật cán bộ công chức năm 2008, việc đánh giá công chức được thực hiện theo các nội dung sau:

- Đánh giá việc chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và pháp luật của Nhà nước;

- Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và tác phong, lề lối làm việc;

- Đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

- Đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;

- Đánh giá tinh thần trách nhiệm, phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;

- Đánh giá thái độ phục vụ nhân dân

Ngoài những quy định trên đối với công chức là lãnh đạo, quản lý còn phải đánh giá thêm các nội dung sau đây:

Trang 37

- Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý;

- Năng lực lãnh đạo, quản lý;

- Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức

b) Phương pháp và tiêu chí đánh giá:

Lãnh đạo cơ quan, đơn vị dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ của công chức, có thể dùng nhiều phương pháp nhau (thang điểm, so sánh, xếp hạng, quan sát,…) từ đó đưa ra đánh giá mức độ hoàn thành công việc của công chức dựa trên các tiêu chí sau:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

- Hoàn thành tốt nhiệm vụ;

- Hoàn thành nhiệm vụ;

- Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực;

- Không hoàn thành nhiệm vụ

c) Quy trình đánh giá:

Quy trình đánh giá công chức bao gồm 2 bước:

- Công chức tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của mình;

- Thủ trưởng đơn vị nhận xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ cho từng công chức trong đơn vị

d) Tần suất đánh giá

Công tác đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng và khi kết thúc thời gian luân

chuyển biệt phái

1.2.3.3 Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nâng cao chất lượng công chức ngành thống kê tập trung

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là công tác cần thiết nhằm đảm bảo các nội dung của công tác nâng cao chất lượng công chức của ngành được thực

Trang 38

hiện đầy đủ, đúng nội dung đúng đối tượng và đúng quy định của pháp luật hiện hành

Chủ thể của công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát là đơn vị được giao phụ trách công tác thanh tra, kiểm tra (Vụ Tổ chức cán bộ TCTK) và các CTK, Chi CTK, các công chức

Khách thể của hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát: Hồ sơ, lý lịch của công chức, công tác tổ chức, học tập bổ sung nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị đối với từng đối tượng cụ thể

Tần suất: Thanh tra, kiểm tra, giám sát được tổ chức định kỳ hàng năm

và kiểm tra đột xuất

Thủ tục tiến hành: Dựa trên kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát hàng năm được Tổng cục trưởng TCTK phê duyệt, chủ thể thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể và thông báo cho chủ thể bị thanh tra, kiểm tra, giám sát thời gian và nội dung tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Phương pháp thực hiện: Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chủ yếu được thực hiện trực tiếp tại các đơn vị nhưng cũng có thể được thực hiện thông qua hình thức báo cáo bằng văn bản

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức của ngành thống kê tập trung

1.2.4.1 Hệ thống pháp luật

Với mỗi quốc gia pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi công dân, mỗi cán bộ, công chức làm việc trong từng cơ quan cụ thể của bộ máy quốc gia Hệ thống pháp luật càng tốt thì việc củng cố quyền lực của nhà nước, củng cố vai trò của mỗi ngành mỗi cấp cũng như từng công dân càng được đảm bảo

Đối với ngành thống kê tập trung, hệ thống Luật pháp liên quan trực

Trang 39

tiếp đến công tác của ngành đó là Luật Lao động; Luật cán bộ, công chức, viên chức; Luật Thống kê; Nghị định 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định 88/2017/NĐ-CP về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức Hệ thống pháp luật đầy đủ là cơ sở để ngành thống kê tập trung thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một các hiệu quả nhất

1.2.4.2 Chiến lược phát triển ngành

Chiến lược phát triển ngành quy định quan điểm các mục tiêu tổng quát

và mục tiêu cụ thể của một ngành trong một giai đoạn nhất định Chiến lược phát triển của ngành cũng đưa ra các giải pháp, nhằm thực hiện các mục tiêu

đã được nêu trong chiến lược phát triển Do đó, xây dựng được một chiến lược phát triển ngành phù hợp là cơ sở để xây dựng các quy hoạch phát triển công chức của ngành cũng như công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn công chức đảm bảo cho ngành có đội ngũ nhân lực tinh thông, mang lại năng suất lao động cao hiệu quả nhất

1.2.4.3 Quy hoạch phát triển công chức ngành (cấp quốc gia)

Quy hoạch phát triển công chức ngành (cấp quốc gia) là việc xây dựng các mục tiêu về công chức của ngành trong tương lai, việc xây dựng quy hoạch phát triển công chức ngành được tốt và xây dựng các vị trí công việc phù hợp là cơ sở để xây dựng các kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, sử dụng công chức một các hiệu quả đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của ngành

1.2.4.4 Các cơ sở đào tạo công chức ngành thống kê tập trung

Công tác giáo dục đào tạo tham gia một cách trực tiếp và đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người Đây là lĩnh vực không thể thiếu để nâng cao trình độ học vấn, trình độ tổ chức quản lý, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi con

Trang 40

người Nhờ có giáo dục, đào tạo mà xã hội đã tái sản xuất ra nhân cách, năng lực hoạt động của con người và tạo sự thúc đẩy xã hội phát triển

Giáo dục đào tạo là cơ sở là con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người Như vậy, chất lượng giáo dục, đào tạo là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, là yếu tố cơ bản để phát huy nguồn lực con người, tham gia một cách trực tiếp và đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người của mỗi quốc gia, dân tộc

Trong giáo dục, đào tạo ngoài hệ thống giáo dục đào tạo của các trường quốc gia thì việc các đơn vị tự đào tạo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, để lực lượng lao động có thể nhanh chóng đi vào thực tế và hiểu rõ về công tác cũng như nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình thì cần được đào tạo theo những chương trình huấn luyện riêng theo đặc thù của công tác của ngành

Với ngành thống kê tập trung ngoài bốn trường đại học trong nước cung cấp nguồn nhân lực đầu vào hệ đại học và trên đại học là: Đại Học Kinh

tế quốc dân, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng Trực thuộc TCTK có trường Cao đẳng thống kê Bắc Ninh và trường Cao Đẳng thống kê Đồng Nai, hai trường này chuyên đào tạo sinh viên chuyên ngành thống kê hệ cao đẳng và trung cấp Ngoài ra còn có Viện Khoa học Thống kê là đơn vị giúp TCTK chủ trì xây dựng các tài liệu đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ thống kê cho toàn ngành

1.2.4.5 Hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ

Hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức quy định chức trách, nhiệm vụ và tiêu chuẩn về năng lực, tiêu chuẩn về trình độ đối với từng

ngạch công chức cụ thể

Đối với mỗi ngành, việc xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ

cụ thể rõ ràng là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo nhân lực một cách hiệu quả nhất

Ngày đăng: 21/12/2020, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w