Pháp luật về quyền tự do ngôn luận có vai trò quan trọng trong việc quyđịnh về quyền của công dân khi tiếp cận những thông tin trên báo chí, đảmbảo cho mỗi công dân thực hiện quyền này m
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VĂN PHÚ NIỆM
QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn Khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh.
Tôi cũng xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Luận văn có sử dụng, phát triển và kế thừa những tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được ghi rõ nguồn.
Trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Văn Phú Niệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tận tình giảng dạy và trang bị kiến thức cho tôi trong 02 năm qua tại Học viện, Niên khoá 2018 - 2020.
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn GS.TS Võ Khánh Vinh, đã dành thời gian tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với những người thân, các bạn học viên trong lớp, các đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình học và hoàn thành Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Văn Phú Niệm
Trang 53.1 Quan điểm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở ViệtNam 40
3.2 Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí củacông dân ở Việt Nam 44
3.3 Điều kiện cần có để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báochí của công dân Error! Bookmark not defined.3.4 Đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cáchmạng Việt Nam trong tình hình mới ……… 52
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6: Quy phạm pháp luật: Quản lý nhà nước: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền báo chí Cách mạng Việt Nam ta đã có những đóng góp to lớn trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệpđổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)ngày nay Chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu
vĩ đại của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền báo chí nước ta ngàynay phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Chính vì vậy công tácquản lý nhà nước về báo chí cần được tăng cường mà vẫn tạo được quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí của công dân hiện nay
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có mối liên hệ chặt chẽ với cácquyền khác, đó chính là quyền bất khả xâm phạm về nhân thân và đời tư;quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tham gia quản lý nhà nước(QLNN) và xã hội
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là một xu thế tiến bộ vàmang tính chất tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quyền
tự do ngôn luận là một kênh đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia cũngnhư phản ánh tính công khai, minh bạch trong hoạt động của một nhà nước.Quyền tự do ngôn luận được tôn trọng giúp người dân của một quốc gia hiểubiết và giám sát một cách chặt chẽ những việc mà Chính phủ, nhà nước làm,giảm thiểu những hành vi lạm quyền, tham nhũng và những hành vi khác đingược lại lợi ích của công dân
Pháp luật về quyền tự do ngôn luận có vai trò quan trọng trong việc quyđịnh về quyền của công dân khi tiếp cận những thông tin trên báo chí, đảmbảo cho mỗi công dân thực hiện quyền này một cách nhanh nhất, hiệu quảnhất Pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng quy định
1
Trang 8một cách hạn chế, cụ thể những trường hợp thông tin bị giới hạn tiếp cận vàcác cơ chế để đảm bảo cho quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
Những chủ trương, chính sách của Đảng và những văn bản QPPL đượcthể chế hoá của nhà nước về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dântrong những năm qua đã từng bước làm dân chủ hoá, minh bạch hoá hoạtđộng của cơ quan nhà nước, giúp người dân tiếp cận ngày một dễ dàng vàthuận lợi hơn đối với các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ Hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là những cơ quan có nhiệm vụ đápứng những yêu cầu về thủ tục hành chính hằng ngày đã công khai và thuậntiện hơn cho người dân Các hành vi quan liêu, hách dịch, của quyền trongcông việc của cán bộ, cơ quan nhà nước đã tận tình, chu đáo hơn Ngược lại,nhận thức của người dân về quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận và phản ánhthông tin liên quan đến chủ trương, chính sách quan trọng hoặc có mối liên hệtrực tiếp đến lợi ích người dân của các cơ quan Đảng và nhà nước từ Trungương đến địa phương cũng ngày một tôn trọng và nâng cao
Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,cũng như triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về quyền tự do ngônluận, quyền tiếp cận thông tin, Đảng và nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộnhững hạn chế, chưa phù hợp với tình hình thực tế
Những tồn tại như thế một phần là do hệ thống văn bản pháp luật tronglĩnh vực hoạt động báo chí còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kịp bổ sung, sửa đổikịp thời phù hợp với thực tiễn của hoạt động báo chí Cần phát triển báo chíphải đi đôi với quản lý tốt, phải có sự nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiệnhơn nữa pháp luật về QLNN đối với hoạt động báo chí ngày nay, báo chí củathời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá trình hội nhập quốc tế sâurộng và nhất là Việt Nam ta đã chính thức trở thành thành viên Tổ chứcThương mại Thế gới (WTO), đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới
Trang 9Nếu không nắm bắt được tình hình, báo chí khó có thể đảm đương đượcnhiệm vụ và giữ vững được bản lĩnh của mình Trong thời đại bùng nổ thôngtin như hiện nay, khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càngchiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xâydựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng
cố nhiều mặt mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra Bởi vậy, nghiên cứu hoànthiện pháp luật về QLNN đối với báo chí trong tình hình mới hiện nay là vấn
đề cấp thiết
Trong bối cảnh và tinh thần đó Học viên quyết định chọn vấn đề về
“Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay” để
thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hànhchính, với mong muốn góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúcđẩy sự bảo đảm hơn về quyền này ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứngdụng đồng bộ và tương thích hơn với quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở những phạm vikhác nhau được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, Luận văn thạc sĩ, Luận án
tiến sĩ tiêu biểu,…: Giáo trình sau đại học “Quyền con người” Chủ biên
GS.TS Võ Khánh Vinh, Học viện Khoa học xã hội, Xb 2015, Nxb KHXH;
Cuốn sách “Hỏi đáp về quyền con người”, xb 2011, Nxb Hồng Đức; ThS Vũ Thị Thuỳ Dung; Tạp chí quản lý Nhà nước - Số 209 (T6/2013); “Việt Nam với việc nội luật hoá quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận”, Chu Thị Thuý Hằng, Tạp chí khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 31, Số 3 (2015); “Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam”, Nguyễn Khắc Giang, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 1 (2015); Hiến pháp Nước Việt Nam qua các thời kỳ, (các bản hiến pháp năm 1946, 1959,1980,
3
Trang 101992, 2013), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội 2017 Ngoài ra vấn đề
quản lý nhà nước về báo chí luôn được đề cấp tới trong các cuốn sách nghiêncứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo báo chí, trong các tác phẩm của các tácgiả nghiên cứu về lý luận báo chí, về quyền tự do ngôn luận…
Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất làkhi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thôngkhác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; Việc thựchiện Quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực,quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cầntiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trongchỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnhcác biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báochí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định củaĐảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy
đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạtđộng kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020
Các công trình tiêu biểu nêu trên đã cung cấp một lượng lớn kiến thức,thông tin về đề tài Luận văn Mặc dù vậy, các công trình trên mới tập trung đềcập đến cơ sở lý luận chung về ngôn luận, quyền tự do ngôn luận, quyền conngười của mỗi công dân được thể hiện tự do trên báo chí trong thời đại côngnghệ thông tin bùng nổ như thế này là chưa đầy đủ, chưa rõ nét
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này vẫn có tính rất cấp thiết và có ýnghĩa cả về thực tiễn lẫn lý luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Luận văn nghiên cứu tổng quát về tình hình thực hiện quyền tự do ngônluận ở Việt Nam, đánh giá lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, làm rõcác vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chícủa công dân ở Việt Nam Qua đó kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháphoàn thiện pháp luật, cơ chế để nâng cao hiệu quả và đi vào cuộc sống hiệnđại ngày nay, bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mỗi công dânđược bảo vệ theo pháp luật.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, Luận văn đề ra những những nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề nhận thức, lý luận về quyền tự dongôn luận trên báo chí của công dân và sự cần thiết QLNN bằng pháp luậttrong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí.Quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền tự dongôn luận trên báo chí , từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảođảm quyền tự do ngôn luận với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế
- Phân tích pháp luật hiện hành liên quan đến quyền tự do ngôn luậntrên báo chí của công dân ở Việt Nam Đánh giá về tính tương thích với cáctiêu chuẩn của Luật nhân quyền quốc tế và thực trạng bảo đảm quyền tự dongôn luận trên báo chí ở Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra nguyên nhân củanhững bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận ở ViệtNam
- Kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiệnhành lang pháp lý, nhằm đảm bảo và tăng cường khả năng thực hiện quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
5
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, pháp lý vàthực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở nước
ta hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vế nội dung, đề tài Luận văn không nghiên cứu mở rộng đến các quyền
con người khác, mà chỉ đi sâu nghiên cứu về vấn đề lý luận, pháp luật hiệnhành và thực trạng bảo đảm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của côngdân ở Việt nam
Về không gian, đề tài Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng bảo
đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam, không mởrộng đến các quốc gia khác
Về Thời gian, Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận thực tiễn về pháp
luật và thực trạng đảm bảo quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
từ năm 1997 đến nay Đồng thời đảm bảo quền tự do ngôn luận của công dântrên nền báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Quan điểm củacộng đồng quốc tế về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin;Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về bảođảm thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổnghợp, thông kê, lôgíc, so sánh, đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành cáckhái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về QLNN trong
Trang 13lĩnh vực báo chí thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi công dân trongkhuôn khổ pháp luật.
Luận văn khai thác tư liệu, thông tin của các công trình nghiên cứu đãcông bố, các bài viết nghiên cứu để lập luận và chứng minh cho các luậnđiểm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, luận điểm, thông tin và đề xuất mới
có giá trị tham khảo trong việc nêu cao quyền tự do ngôn luận trên báo chí củacông dân ở nước ta trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo chí
của công dân
Chương 2: Pháp luật và thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo
chí của công dân
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân
7
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN
BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
1.1.1 Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Ngày nay trên thế giới, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là yếu tốhết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi đất nước, đồng thờicòn là biểu hiện trực tiếp về quan niệm, chính sách nhân quyền ở đất nước đó.Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyên dân sự vàchính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định về các quyền cơ bản này và nhànước ta luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết
Tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con ngườitrong một xã hội phát triển Song thực hiện quyền tự do trên báo chí như thếnào lại là vấn đề cần đề cập một cách cự thể, căn cứ vào sự lựa chọn với tìnhhình phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia đó, cùngvới tiêu chí các tiêu chí của nền văn hoá mà trực tiếp là đạo đức Nên dù thựchiện các quyền này theo pháp luật để phù hợp với truyền thống văn hoá, phục
vụ lợi ích quốc gia, của dân tộc, của cộng đồng Vì vậy, báo chí không thể lợidụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí mà xâm phạmtới quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân, của đất nước
Đó là những vấn đề tất yếu mà chỉ từ vấn đề nhận thức đầy đủ, nghiêmtúc thì mỗi công dân, mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo mới có thể sửdụng quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí một cáchthiết thực, hiệu quả, có ý nghĩa tích cực với xã hội và con người, qua đó thểhiện tinh thần “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” Chúng ta luôn tintưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam về
Trang 15tự do ngôn luận, tự do báo chí hiện nay và lâu dài, mọi người dân Việt Nam sẽđược hưởng các quyền này mày một đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện đểphát triển toàn diện và hài hoà, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sựphát triển chung của đất nước.
1.1.2 Đặc điểm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được C.Mác nêu với cung bậc làđỉnh cao của tự do: “báo chí là nơi để con người thực hiện quyền tự do ngônluận của mình, bởi một nền báo chí tự do là hiện thân trí tuệ của nhân dân” ỞViệt Nam trong Luật Báo chí Điều 4, Chương 1 đã ghi rõ “báo chí là diễn đànthực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”
Như vậy, tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất Đó làquyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìmkiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên váo chí
Với tính chất mở và liên kết rất rộng của báo chí nói chung, mạng xãhội… nói riêng là nơi ít có và khó kiểm soát chặt chẽ hết của nhà nước Đây
là vấn đề rất dễ bị lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trênbáo chí Không có quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do báo chí, tự dongôn luận trên báo chí là vô hạn, hay nói cách khác, quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận trên báo chí là có giới hạn
Tự do ngôn luận trên báo chí chỉ được bảo vệ khi những phát ngôn,bình luận, chia sẻ… trên báo chí khi không bị xâm phạm lợi ích hợp phápchính đáng của quốc gia và cộng đồng, hay không xâm phạm những quyền, tự
do chính đáng của người khác Đây là điều phù hợp với các quy định trongTuyên ngôn quốc tế và Nhân quyền
1.1.3 Quan niệm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Trong
tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền”
luôn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ Trong đó, tự do ngôn luận, báo
9
Trang 16chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyênngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế
về các Quyền Dân sự và Chính trị” 1966, đã quy định rõ quyền và nghĩa vụcủa người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí Theo đó người dân cóquyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thôngtin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của phápluật Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy địnhcủa pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền Việc thực hiện nhữngquyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và việc này
có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uytín của người khác như: Bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻhoặc đạo đức của xã hội
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,hội họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoàXHCN Việt nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều đạo luật, Nghị địnhnhư: Luật Báo chí (2016), Luật tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụinternet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dânchủ trong xã hội Điều đó khẳng định và thể chế hoá quan điểm nhất quán củaĐảng và nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấpthông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báochí, v.v Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn, đókhông chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tintheo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơquan, tổ chức nhà nước đáp ứng Trên không gian mạng nhà nước ta đã cónhững quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, Tiếp cận thông tin Vì
Trang 17vậy, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch
vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định
về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin Phải chịu trách nhiệm vềnhững nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xãhội…
Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổpháp luật Quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân:
“Không được xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp phápcủa người khác” Việc hạn chế các quyền này theo quy định của luật trongtrường hợp cần thiết vì lý do: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng là một tất yếu Những hành viđăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt gâyhoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cáchmạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc,
vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cánhân… đều bị pháp luật xử lý Việc tiếp cận thông tin là những quy định vềphân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ
quan, tổ chức không được pháp cung cấp Do vậy, “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “Một
số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp Luật Việt Nam hoàn toàn
tương thích, phù hợp với Luật quốc tế về Quyền con người
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam không nhữngđược bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chốngnhững biểu hiện tiêu cực trong xã hội Nhiều vụ tham nhũng lớn được ngườidân phản ánh, báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện.Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích
11
Trang 18cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của nhà nước “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát
của cá nhân, tổ chức được Đảng, nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích Tuynhiên, vấn đề là phản biện ra sao và động cơ phản biện như thế nào để đảmbảo tính khách quan, tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụnggây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước
Tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết vớicác quyền như: Quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu
đạt (Freedom of expression) đôi khi còn được dùng để đề cập đến cả hành
động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằngcách sử dụng phương tiện truyền thông nào
Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận thể hiện ở sự tự do phát biểu màkhông bị kiểm duyệt hoặc hạn chế Quyền này có thể bị hạn chế, chẳng hạn
như sự hạn chế với những phát ngôn reo rắc sự hận thù (Hate speech), hay
phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, tôn giáo, tín ngưỡng… Trongthực tiễn cũng không tồn tại quyền tự do ngôn luận tuyệt đối trong các hệthống pháp luật và các xã hội trên thế giới
Theo Điều 25, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”, các hạn chế đối
với tự do ngôn luận phải được luật pháp quy định và chỉ được quy định trongtrường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xãhội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng
Như vậy, Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền
mà công dân được tự do thể hiện ý kiến, quan điểm trên báo chí mà không tráivới pháp luật quốc gia và quốc tế Đó là quyền của công dân thông qua báochí, mạng xã hội,… được thực hiện thông qua việc phát ngôn tự do trên
Trang 19phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng, cung cấp phục vụ cho công dân,
mà không bị kiểm duyệt
1.1.4 Công tác quy hoạch báo chí trong trong thời kỳ phát triển công nghệ thông tin
Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất làkhi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thôngkhác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; việc thựchiện quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực,quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới Đến nay, việctriển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu, nhận thức của cơ quan chủquản, cơ quan báo chí thực hiện quy hoạch đã được nâng lên
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cầntiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trongchỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnhcác biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báochí Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định củaĐảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy
đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạtđộng kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020
Đồng thời người làm báo tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tráchnhiệm người công dân, sứ mệnh người làm báo nhằm tạo sự đồng thuận xãhội, giữ vững niềm tin vào nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng
1.2 Trách nhiệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương ĐảngKhoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống thamnhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề
13
Trang 20ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền tự do ngôn luận củacông dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chốngtham nhũng của Đảng và nhà nước.
1.2.1 Lý luận bảo đảm về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận
Việt Nam là quốc gia thực sự có tự do báo chí, tự do ngôn luận: Đểquyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được đảm bảo trong thực tiễncuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tiếp cận thông tin
và Luật Báo chí Tại Điều 10 của Luật này cũng quy định công dân có quyền
tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêucầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin
Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của côngdân, theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật báo chí năm 2016 thì:
Điều 10: Quyền tự do báo chí của công dân:
- Sáng tạo tác phẩm báo chí
- Cung cấp thông tin cho báo chí
- Phản hồi thông tin trên báo chí
- Tiếp cận thông tin báo chí
- Liên kết với các cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí
- In, phát hành báo in
Điều 11:Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:
- Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới
- Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của nhà nước
- Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối vớicác tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chứcchính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vàcác tổ chức, cá nhân khác
Trang 211.2.2 Trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự
do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Luật báo chí 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân:
Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự
do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo Điều 12 của Luật báo chí 2016:
- Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phầm báo chí kháccủa công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy địnhtại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của luật này; trong trườnghợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu
- Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng vănbản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến
Theo Điều 13 của Luật Báo chí 2016: Trách nhiệm của nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự dobáo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vaitrò của mình
- Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhànước bảo hộ Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngônluận trên báo chí để xâm phạm lợi ích chủa nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức và công dân
- Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và
quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàndiện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiệntrong cuộc sống
15
Trang 221.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
1.3.1 Tâm lý con người
Con người là chủ thể quan trọng trong sáng tạo và thông tin, trên đócon người thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội như trao đổi, học tập,lao động, giao tiếp, sáng tạo, tiêu dùng… đây là hành vi có ý thức, phục vụnhu câu cuộc sống cũng như sự phát triển của xã hội loài người Đồng thời làkết quả của sự tương tác của con người phương tiện như báo chí và các dich
vụ khác diễn ra trên không gian mạng, trên phương tiện truyền thông đạichúng Nếu như thiếu sự tương tác của con người, sẽ không có thông tin traođổi thì mọi việc lại không tồn tại, sự phát tri n và t n t i c a phển và tồn tại của phương tiện ồn tại của phương tiện ại của phương tiện ủa phương tiện ương tiệnng ti nệnthông tin hoàn toàn do ý mu n c a con ngốn của con người và vì con người Vì vậy, ủa phương tiện ười và vì con người Vì vậy,i và vì con người và vì con người Vì vậy,i Vì v y,ậy,tâm lý con người và vì con người Vì vậy,i tác đ ng r t l n đ n quy n t do ngôn lu n trên báoộng rất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo ất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo ớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo ến quyền tự do ngôn luận trên báo ền tự do ngôn luận trên báo ự ậy,chí cũng nh trên m ng xã h i hi n đ i ngày nay.ư ại của phương tiện ộng rất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo ện ại của phương tiện
Với thời đại công nghiệp 4.0 ngày nay, việc sử dụng Internet là phổbiến, Việt Nam có trên 30 triệu người sử dụng Facebook hàng ngày, đó làchưa kể số người sử dụng các mạng xã hội khác Với bản chất chất phát, thậtthà, cởi mở của người Việt, họ không ngần ngại chia sẻ những thông tin ngàymột nhiều hơn trên các báo chí, diễn đàn xã hội, nếu không tuân thủ các quyđịnh pháp luật dẫn đến trao đổi, lưu trữ hoặc công khai các thông tin, tài liệu
bí mật nhà nước, bí mật nội bộ hay vô tình tham gia vào việc tạo ra, lưu hành,tuyền bá các thông tin xấu, bịa đặt, xuyên tạc sai sự thật sẽ rất nguy hại đếnđất nước
Cho nên việc trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng về côngnghệ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn vẫn là xây dựng ý thức và văn hoáứng xử trong thời đại kết nối toàn cầu ngày nay
Trang 231.3.2 Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội
Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiềumặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng khả quan so với các nước trongkhu vực và trên thế giới Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua Lạm phát tiếp tục đượckiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhấttrong 3 năm qua Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ướcđạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bộichi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP Đó là những số liệu minhchứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam,cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nướcngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớntrên thế giới…
Thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợpvới tình hình thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng” toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiềuđạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người,trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet
Như vậy, trước sự tương tác đa chiều thì ngôn luận có trách nhiệm mỗicông dân trên internet là tiếng nói quan trọng nhằm đạt tới sự đồng thuận xãhội cũng như góp phần phát hiện tình hình, giúp cho sự điều chỉnh các chủtrương, chính sách và kinh tế, văn hoá - xã hội của các cấp có thẩm quyền
1.3.3 Nội luật hoá hệ thống pháp luật
Công ước quốc tế về các quyền Dân sự - chính trị (1966) đã ghi nhận vềquyền tự do ngôn luận là một quyền con người quan trọng, mà Việt Nam làthành viên của Công ước này từ năm 1982 Việc nội luật hoá các quy định củaCông ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo 17
Trang 24những lộ trình nhất định Quá trình đó thể hiện đòi hỏi nội tại về phát triển tự
do của con người Việt Nam và thể hiện cam kết của nước ta khi tham gia cácđiều ước quốc tế về quyền con người
Là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, việcnội luật các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia đượcViệt Nam thực hiện theo những lộ trình nhất định Quyền tự do ngôn luận làmột trong những quyền quan trọng của con người, do vậy quyền này được bảo
vệ không chỉ ở cấp độ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia là Hiếnpháp mà còn được chi tiết hoá trong các văn bản luật của Việt Nam
Trang 25Tiểu kết chương 1
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là điều mà được Đảng,nhà nước ta luôn coi trọng Bởi quyền tự do ngôn luận là một kênh đánh giámức độ dân chủ của một quốc gia một cách công khai, minh bạch trong hoạtđộng của nhà nước, Chính phủ… giúp người dân hiểu biết và giám sát chặtchẽ việc nhà nước làm, giảm thiểu hành vi lạm quyền, tham nhũng và nhữnghành vi khác đi ngượic lại lợi ích của công dân Đồng thời mong muốn gópphần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúc đẩy sự đảm bảo hơn về quyềnnày ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứng dụng đồng bộ và tương thíchhơn với luật quốc tế
Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là quyền được phátbiểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng vàthực hiện đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhànước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối vớicác tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chứcchính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vàcác tổ chức, cá nhân khác
Trong thời gian qua, nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền tự do ngônluận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân, điều này được thể hiệntrong chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy nhiên, việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận này của người dân vẫn còn khó khăn Vì vậy, nhà nước ta cầnchú trọng hơn nữa bằng cách cần thay đổi cơ chế pháp lý hữu hiệu, thực tếnhằm đáp ứng, phù hợp hơn với tình hình mới của thời đại công nghệ 4.0, đểmỗi công dân thực hiện quyền của mình vào quá trình QLNN một cách chủđộng, thực chất và hiệu quả hơn
19
Trang 26Chương 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN
TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN 2.1 Pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
2.1.1 Khái niệm về quá trình hình thành và phát triển của quyền tự do ngôn luận
Ở Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước,cũng như trong hệ thống pháp luật không dùng khái niệm “quyền tự do biểuđạt” mà sử dụng khái niệm “quyền tự do ngôn luận”, là một trong nhữngquyền cơ bản của công dân, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được quy địnhtại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 cùng với quyền tự do xuất bản, tự do tổ chức
và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.Tiếp đến, trong Hiến pháp năm 1959, quyền tự do ngôn luận được quy địnhtại Điều 25, cùng với tự do báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình của côngdân Cần thấy rằng, trong bối cảnh chính quyền non trẻ phải đương đầu vớinhiều khó khăn, thách thức, tiếp đến là trải qua hai cuộc kháng chiến chốnthực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 - 1975) mà nhà nước ta vẫn nỗ lực ghinhận trong Hiến pháp các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do ngônluận, mới thấy hết ý nghĩa lịch sử trọng đại của vấn đề này
Khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến phápnăm 1980, trong đó quyền tự do ngôn luận của công dân tiếp tục được quyđịnh tại Điều 67 cùng với quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự
do biểu tình “phù hợp với lợi ích của CNXH và của nhân dân”
Bước vào thời kỳ đổi mới, trong Hiến pháp năm 1992, chế định Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương V) có một số thay đổi quyền tự dongôn luận được quy định tại Điều 69, bên cạnh một quyền mới - “quyền được
Trang 27Sau hơn 20 năm tổ chức thực hiện Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi,
bổ sung thành Hiến pháp năm 2013 Trong đó, chế định Quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân được đổi tên thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân” (chương II) và quyền tự do ngôn luận được quy định tạiĐiều 25, gắn với các quyền có liên quan: tự do báo chí, hội họp, lập hội, biểutình và quyền tiếp cận thông tin thay cho quyền được thông tin
Quá trình hiến định quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam cho thấy, dohoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 không cóquy định về điều kiện thực hiện (hoặc hạn chế) đối với quyền tự do ngôn luậncủa công dân Tuy nhiên, từ Hiến pháp năm 1980 về sau, việc thực hiền quyền
tự do ngôn luận đều kèm theo điều kiện: “Theo quy định của pháp luật, phùhợp với lợi ích nhà nước và xã hội” Nhìn tổng thể, quyền tự do ngôn luận củacông dân và những điều kiện thực hiện quyền này đã sớm được nhà nước tatôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hoá thành Luật, Nghị định,Thông tư theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế
2.1.2 Tôn trọng pháp luật và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Tôn trọng pháp luật và đảm bảo thực thi quyền tự do ngôn luận trên báochí của công dân nói riêng Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạnchế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi íchquốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phù hợp với điều kiệnquốc gia: Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy
có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ
21
Trang 28dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơbản này để xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc, làm phương hại danh dự, nhânphẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xãhội.
Ngày 17 - 10 - 1997, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Cùng với những quan điểm chỉ đạo
quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm “Phát triển đi đôi với quản lý tốt”
là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung QLNN về báo chí trongtình hình mới Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hộinhập với báo chí khu vực và trên thế giới
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã chuyển hướng và hộinhập kịp thời, không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quantrọng Chưa thời điểm nào mà mặt trận báo chí phát triển mạnh, phong phú,
đa dạng, đúng hướng, tiến bộ cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, nhà nước ViệtNam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báochí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, pháthuy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dânnhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã và đang đượcđảm bảo trên thực tế Hơn thế nữa, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Namluôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinhnghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân
Trang 292.1.3 Nhận thức đúng về quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin trên báo chí của công dân
- Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơbản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế vềquyền con người và đã được quy định trong các Hiến pháp nước ta, đặc biệt làHiến pháp 2013
Để phản đối Luật An ninh mạng, một số bài viết trên các trang mạngcủa một số phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, nhà nước đưa ra luậnđiệu rằng luật này không hề mang lại lợi ích gì cho nước, cho dân, cả chính trị
và kinh tế, mà chỉ giúp cho bọn tham nhũng đang bị truy đuổi bao năm qua cókhả năng “lật cờ” trỗi dậy Một số bài viết của các đối tượng này còn đòi huỷ
bỏ nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự, như Chương 9 - về các tội phạm anninh quốc gia, Điều 79 (tội lật đổ chính quyền nhân dân)… Đây thực chất làthủ đoạn chính trị, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng vànhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo; pháhoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; kích động hận thù dân tộc; pháhoại quan hệ quốc tế của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Pháp luậtnước ta cũng như các quốc gia đều quy định, quyền bao giờ cũng đi đôi vớinghĩa vụ Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ các quyền tự dongôn luận, tự do báo chí, kể cả quyền sử dụng mạng xã hội và quyền tiếp cậnthông tin Bởi vây, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, người dân cần hiểu rõ
và nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do ngôn luận, quyền tự
do báo chí, quyền tiếp cận thông tin
Đặc biệt, Internet được nhà nước khuyến khích sử dụng, bao gồm báo
và tạp chí điện tử, mạng xã hội, các trang thông tin điện tử… được cấp phéphoạt động Năm 2016, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thôngqua Luật tiếp cận thông tin, đây là một văn kiện pháp luật cụ thể hoá về quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí của Hiến pháp năm 2013.Theo quy định của
23
Trang 30Luật Tiếp cận thông tin thì quyền Tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị
hạn chế hoặc là quyền có điều kiện: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh quốc gia, đối ngoại…”; những thông tin “nếu để tiếp cận sẽ
gây nguy hại đến lợi ích của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng - anninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sứckhoẻ cộng đồng…” (Điều 6) Những thông tin được tiếp cận có điều kiện,
chẳng hạn: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ
sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý”… “Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, nếu được người đó đồng ý” (Điều 7) Luật này cũng quy định
quyền và nghĩa vụ của công dân (trong việc Tiếp cận thông tin), đó là những
quyền: “Được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về Tiếp cận thông tin”…
2.1.4 Tôn trọng pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bảo vệ lợi ích nhân dân
Tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những mục tiêu phấn đấu
cơ bản của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi,giao tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình công khai thông qua cácphương tiện truyền thông đại chúng
Tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, đâykhông chỉ là sự quan tâm của chính quyền ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ màcòn là một đòi hỏi cơ bản về quyền con người Là nhu cầu tinh thần trao đổithông tin trong quá trình tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng quốc gia, dântộc nhất là trong thời đại phát triển CNTT hiện nay
Thực tế, những năm qua báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về
số lượng, đa dạng về loại hình ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, sốlượng độc giả, cơ sở vật chất - Kỹ thuật công nghệ, năng lực tài chính của các
Trang 31Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổchức chính trị xã hội nghề nghiệp, các giới, ngành, các tổ chức tôn giáo lớnđều được xuất bản các tờ báo riêng của mình Đồng thời, mọi người dân đều
có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến của mình trên tất
cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đạichúng
Tính đến tháng 10 năm 2019, cả nước hiện có 844 cơ quan báo chí in,với 184 báo in, 660 tạp chí in; 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 189 giấyphép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báochí in, phát thanh truyền hình Có 67 đài phát thanh - Truyền hình Trung ương
và địa phương, 05 đơn vị hoạt động truyền hình Hội Nhà báo Việt Nam quản
lý hơn 22.000 hội viên, trong đó gần 18.000 nhà báo đã được cấp thẻ hànhnghề đang làm việc tại hàng trăm cơ quan báo chí từ Trung ương đến địaphương, Đảng và nhà nước ta luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi đểmọi nhà báo hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật
Công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, vấn đề tự do côngkhai, minh bạch thông tin càng được Đảng và nhà nước quan tâm và tạo điềukiện thuận lợi cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển Mộttrong những hoạt động được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao làhơn ba thập kỷ qua, các đài phát thanh, truyền hình đã thường xuyên truyềnhình trực tiếp các buổi chất vấn của đại biểu Quốc hội dành cho các thànhviên Chính phủ, kể cả Thủ tướng Chính phủ Báo chí đã tường thuật trực tiếpcác kỳ họp của Quốc hội, những kỳ họp của Hội đồng Nhân dân các tỉnh,thành phố trên cả nước Tất cả các Bộ trưởng đều nghiêm túc thực hiện nhiệm
vụ “Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời” trong những buổi giao lưu trực tuyến thường xuyên Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành cử “người phát ngôn báo chí”, có
trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời về những sự việc nhân dân đang quan
25
Trang 32tâm đối với từng ngành, nghề cụ thể, các cuộc trả lời phỏng vấn về các vụviệc đang diễn ra gây bức xúc trong xã hội do các báo, đài đưa tin về các sựkiện, vụ việc tiêu cực nghiêm trọng được báo chí đề cập đã đáp ứng đòi hỏicủa nhân dân về tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin.
Có thể nói, với vai trò phản ánh và tham gia phản biện xã hội, báo chí
là một kênh quan trọng để các cơ quan chức năng tham khảo nhằm bổ sung,hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhànước sao cho phù hợp với đời sống của người dân Cùng với việc phát hiện,biểu dương nhân tố mới báo chí tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tưtưởng lý luận, chống tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác đượcnhân dân đồng tình ủng hộ Trong bất kỳ thể chế chính trị xã hội nào thì tự dongôn luận, tự do báo chí chỉ mang tính tương đối, bởi tự do báo chí phải đượcthực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật điều hành và quản lý chophù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước Chúng ta ngày nay đã vàđang hội nhập sâu rộng toàn cầu, luôn xây dựng và phát triển một nền báo chí
tự do Trong đó nhà báo được tự do hành nghề, tự do sáng tạo để phục vụcông chúng theo đúng đạo đức và trách nhiệm của người làm báo chân chính
vì mục đích cao cả là “phục vụ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, đem lại sự tin tưởng cho người dân Ngoài sự chi phối củapháp luật, còn có sự chi phối của đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm và sự giác
ngộ chính trị của mỗi người Không thể có “tự do báo chí tuyệt đối”, tự do
sáng tạo trong báo chí, trước hết phải được thể hiện ở việc nhà báo cần tự tin,bản lĩnh chọn lọc thông tin cung cấp trung thực, mang đến cho người đọcthông tin có chất lượng tốt, từ đó mang lại nhận thức tốt cho người đọc
Vấn đề nữa cần quan tâm là, ngoài các qui định về pháp luật, mỗi nhàbáo khi tác nghiệp, đều cần cân nhắc kỹ việc xử lý thông tin; một sự việc, mộthiện tượng đang diễn ra đều phải suy nghĩ, cân nhắc để tự trả lời câu hỏi: có
Trang 33nên phản ánh sự kiện đó lên mặt báo hay không? nếu sự việc đó làm ảnhhưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mình thì cần kiên quyết loại bỏ.
Các thế lực cơ hội, thù địch từng la lối “Việt Nam đàn áp những người bất đồng chính kiến” đây là sự vu cáo, chụp mũ trắng trợn, trong thực tế có một
số tờ báo đã bị xử phạt hành chính, bị nhắc nhở, hoặc bị đình chỉ xuất bản Vì
họ đã sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin xuyên tạc, bịađặt, kích động chống lại Đảng, nhà nước ta Thực tiễn cho thấy ở nước ta đãthực sự có tự do ngôn luận, tự do báo chí trên cơ sở mỗi nhà báo, người làmcông tác báo chí, truyền thông đều thực hiện đúng pháp luật, nêu cao tinh thầntrách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc XHCN Nếu ai đó cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự dobáo chí để công khai công kích chống Đảng, nhà nước đi ngược lại lợi íchquốc gia, lợi ích dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật Đây là sựnghiêm minh, bình đẳng trong pháp luật để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dântộc mà không có một thế lực thù địch nào có thể dùng lời lẽ để chống phá,công đích được
2.2 Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam
2.2.1 Thành tựu về quyền tự do ngôn luận qua tương tác trên mạng xã hội của công dân
Theo như quy định của Hiến pháp, quyền tự do ngôn luận của mọi côngdân là quyền được tự do có quan điểm và giữ vững quan điểm của mình, cũngnhư được tự do tìm kiếm và tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhưng phải nằm tronggiới hạn mà pháp luật quy định, không phải tuỳ tiện, vu khống, bôi nhọ, lừabịp, làm lộ bí mật quốc gia, xâm hại quyền tự do của người khác
Trước tình hình mạng xã hội, báo điện tử phát triển như ngày nay thìđang đặt ra vấn đề rất thời sự, cấp thiết, đó là hiểu thế nào và làm sao để thực
27
Trang 34hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với mọi “diễn đàn cộng đồng không biêngiới”, cho phép mọi người dễ dàng và nhanh chóng thực hiện quyền tự dongôn luận trên báo chí Với tính năng “siêu văn bản” cập nhật thông tin tứcthời, báo mạng điện tử đã trở thành phương tiện thông tin thời sự nhanh nhất,ngày một thoả mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng Ở đó công dân
có thể tìm kiếm thông tin cần quan tâm cho cuộc sống riêng, hoặc nắm bắtdiễn đàn của thời cuộc nhằm hoà nhập với xã hội và thể hiện quan điểm củamình trước những thông tin đó
Là một mơi trường mở, không có giới hạn về không gian và thời giannên mỗi sự tương tác, mỗi dòng bình luận, mỗi ý kiến nêu ra trên không gianmạng thì cả thế giới đều biết và do đó hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực đều cóthể xuất hiện đồng thời và tác động tức thời Khi quyền tự do ngôn luận khôngcòn là hoạt động riêng của cá nhân, tổ chức, mà đó là hoạt động báo chítruyền thông Vì thế, mà mỗi cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do ngônluận trên báo chí, không gian mạng không được vượt quá giới hạn mà phápluật cho phép, vô tình quyền tự do ngôn luận này bị lợi dụng để phục vụ cholợi ích của một hay một nhóm người, thậm chí trở thành phương tiện đểnhững kẻ chống phá lợi dụng, bôi nhọ, nói xấu, gây chia rẽ làm nguy hại đến
sự ổn định chính trị Cho nên người tương tác trên cộng đồng mạng khi thấy
có dấu hiệu bất thường cần hết sức cảnh giác và kịp thời phản bác
Trong đại dịch Covid-19, một số thành phần muốn lợi dụng quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí đưa nhiều thông tin sai lệch đã đăng tải trên mạng
xã hội Có thể nói cho đên nay, Việt Nam ta làm rất tốt phòng chống dịch vàđiều trị hiệu quả, nhưng không ít thông tin tuyên truyền sai lệch, xuyên tạc,gây ảnh hưởng đến uy tín, đối ngoại, và nhiều vấn đề kinh tế, chính trị củanước ta
Trang 35Như vậy, vấn đề đặt ra là trước tình hình phát triển nhanh và đa dạngcủa báo công nghệ mạng xã hội, báo điện tử… các cơ quan quản lý cần hếtsức quan tâm để làm sao vừa bảo đảm được quyền tự do ngôn luận nhưngcũng cần kịp thời định hướng, hướng dẫn và quản lý dòng “ngôn luận đachiều” đó Cần làm cho mọi người hiểu rằng, trong một xã hội dân chủ, nhànước pháp quyền “tự do ngôn luận” không có nghĩa là tuỳ tiện mà phải nằmtrong giới hạn của luật pháp, phải theo đạo đức xã hội, truyền thống văn hoádân tộc, vì lợi ích cộng đồng… Cần phải có những cơ quan có trách nhiệmnắm bắt những thông tin để kịp thời hướng dư luận, hoặc đấu tranh phản báclại các thông tin sai trái, thông tin không chính xác bằng chính quyền tự dongôn luận của mình Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “làmsao dân biết hưởng quyền tự do của mình, biết dùng quyền tự do ngôn luận,dám nói, dám làm Muốn vậy phải giáo dục cho người dân ý thức về quyền tự
do ngôn luận, để hiểu được cần ngôn luận cái gì, ngôn luận làm sao cho đúnglúc, đúng chỗ” Ghi nhớ lời của Người mỗi công dân đang sống trong đấtnước thực thi sự nghiệp đổi mới với mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nướcmạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cần trau dồi kiến thức và có trách nhiệm
để nâng cao năng lực và ý thức làm chủ bản thân Cần nắm vững luật pháp đểhiểu được quyền tự do và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, đối với xã hội,với bản thân, từ đó biết ngôn luận đúng với “quyền tự do ngôn luận”
Mạng xã hội, báo điện tử… đã là một diễn đàn của xã hội, của côngdân thị mọi người cần hiểu và thực hiện quyền tự do ngôn luận sao cho thậthiệu quả, thật có ích và xem đây là một phương tiện tìm kiếm thông tin bổích, đa dạng, đa chiều, nhưng cũng phải luôn cảnh giác và kiên quyết đấutranh kiệp thời với những luận điệu “diễn biến hoà bình”, truyền bá nhữngquan điểm sai trái gây kích động thù địch, vu cáo, xuyên tạc tình hình làm tổn
29
Trang 36hại đến lợi ích cộng đồng, xã hội và đất nước nhất là trong giai đoạn chúng tađang tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
2.2.2 Hạn chế, bất cập về quyền tự do ngôn luận trên báo chí, mạng xã hội của công dân
Vì Quyền tự do ngôn luận trên báo chí ngày nay, đa số sử dụng trênkhông gian mạng Internet nên người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam cũngphải tuân thủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet
Theo Điều 10, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chínhphủ quy định vế quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet:
- Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theoquy định của pháp luật
- Tuân thủ thời gian hoạt động của điểm truy nhập internet công cộng
- Không được kinh doanh lại các dịch vụ internet dưới bất kỳ hình thứcnào
- Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin
và các quy định khác có liên quan tại Nghị định này
Ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sửdụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ tại điều 26 của Nghị địnhnày sau đây:
- Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật
- Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy địnhcủa pháp luật
- Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội