Công tác quản lý phối hợp thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Long Biên đã có nhiều thay đổi, cải tiến để khai thác, phát huy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ XUÂN TRỰC
CƠ CHẾ THÔNG TIN TRONG TAM GIÁC QUẢN LÝ GIỮA NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH - HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN LONG BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ XUÂN TRỰC
CƠ CHẾ THÔNG TIN TRONG TAM GIÁC QUẢN LÝ GIỮA NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH - HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN LONG BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.140114
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN QUÝ THANH
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Xuân Trực
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý CNTT : Công nghệ thông tin CNH : Công nghiệp hóa CSVC : Cơ sở vật chất
GDĐĐ : Giáo dục đạo đức GDĐT : Giáo dục đào tạo GVCN : Giáo viên chủ nhiệm HĐH : Hiện đại hóa
LLGD : Lực lượng giáo dục LLXH : Lực lượng xã hội
QLGD : Quả lý giáo dục QLNT : Quản lý nhà trường
SV : Sinh viên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Danh mục chữ viết tắt ii
Danh mụ̣c các bảng, biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Một số khái niệm quản lý 5
1.2.1 Khái niệm quản lý 5
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục 7
1.2.3 Khái niệm về thông tin và các thuộc tính của nó 8
1.2.4 Cơ chế thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 9
1.3 Các đặc trưng cơ bản của thông tin 9
1.4 Vai trò của thông tin trong quản lý 10
1.5 Nội dung và phương pháp xây dựng, duy trì cơ chế thông tin giữa Phụ huynh, Nhà trường, học sinh 11
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ THÔNG TIN GIỮA NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH, HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN LONG BIÊN 16
2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội, giáo dục tại quận Long Biên, Hà Nội 16
2.2 Giới thiệu hoạt động khảo sát 16
2.2.1 Đối tượng khảo sát 17
2.2.2 Nội dung khảo sát 17
2.2.3 Phương pháp khảo sát 19
2.3 Kết quả của khảo sát 19
2.4 Thực trạng thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 29 2.5 Thực trạng cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà trường và
Trang 62.6 Thực trạng cơ chế thông tin giữa nhà trường và học sinh 32
2.7 Thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục về phối hợp giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh tiểu học tại quận Long Biên 33
2.8 Kênh thông tin giữa giáo viên với nhà trường và phụ huynh học sinh, học sinh 34
2.9 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động của các kênh thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 37
2.10 Đánh giá chung về thực trạng cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trưởng tiểu học quận Long Biên 42
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CƠ CHẾ THÔNG TIN GIỮA NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH - HỌC SINH 47
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 47
3.1.1 Đảm bảo tính thống nhất 47
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 47
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 48
3.2 Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 48
3.2.1 Đổi mới công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức ý nghĩa tầm quan trọng của công tác quản lý trao đổi thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 48
3.2.2 Xây dựng kế hoạch chiến lược trong quản lý, điều hành công tác trao đổi thông tin phù hợp với các đặc điểm nhà trường 51
3.2.3 Tăng cường triển khai các hoạt động phối hợp với vai trò chủ đạo của nhà trường 53
3.2.4 Tăng cường chỉ đạo về cơ chế thông tin trong quản lý trên cơ sở phát huy sức mạnh tập hợp của nhà trường - gia đình 54
3.2.5 Thực hiện việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ về công tác quản lý thông tin giữa nhà trường - gia đình trong việc giáo dục học sinh 55
Trang 73.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp nâng cao chất lượng cơ chế
thông tin trong quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh 57
3.4 Khảo nghiệm tính đúng đắn và khả thi của các biện pháp 57
3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm đã đề xuất 57
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 58
3.4.3 Nhận xét 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MU ̣C CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Các kênh thông tin thường dùng để truyền đạt, tiếp nhận
thông tin 19
Bảng 2.2: Mức độ trao đổi thông tin(Tần xuất) 20
Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả của các kênh thông tin 21
Bảng 2.4: Sự cần thiết của các kênh thông tin 22
Bảng 2.5: Mức độ ảnh hưởng của thông tin giữa nhà trường và phụ huynh tới kết quả giáo dục học sinh 23
Bảng 2.6: Tần xuất của các kênh thông tin 24
Bảng 2.7: Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các nội dung thông tin với nhà trường 26
Bảng 2.8: Yêu cầu của CMHS đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin trong việc phối hợp giáo dục học sinh 26
Bảng 2.9: Nhận thức của GVCN về những công việc chủ động thông tin với cha mẹ học sinh và học sinh trong việc giáo dục học sinh 27
Bảng 2.10: Một số yêu cầu của GVCN đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, học sinh 27
Bảng 2.11: Các kênh thông tin được sử dụng trong các trường tiểu học tại quận Long Biên 33
Bảng 2.12: Nội dung thông tin giữa nhà trường cho phụ huynh học sinh và học sinh Error! Bookmark not defined Bảng 2.13: Cách thức của nhà trường đối với gia đình và giáo viên chủ nhiệm cùng quan tâm dạy dỗ trẻ tiểu học 39
Bảng 2.14: Một số việc của nhà trường đã thực hiện đối với cha mẹ học sinh và học sinh để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và học sinh 41
Bảng 3.1: Khảo sát tính cấp thiết 59
Bảng 3.2: Khảo sát tính khả thi 59
Bảng 3.3: Kết quả khảo sát tính cấp thiết 60
Biểu đồ 3.1: Đánh giá tương quan giữa tình cần thiết, khả thi của các biện pháp dựa trên điểm trung bình 61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ tương tác giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh là hết sức cần thiết và quan trọng Sự tương tác trao đổi thông tin giữa nhà trường - cha mẹ - học sinh góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục học sinh
Hiện nay, cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà trường với cha mẹ học sinh học sinh trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục học sinh, đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan về mặt quản lý nên công tác phối hợp còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp với nhu cầu về nâng cao hiệu quả của việc giáo dục học sinh, phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Quận Long Biên là một quận nằm ở phía Đông thành phố Hà Nội Đây
là quận duy nhất nằm ở tả ngạn Sông Hồng, đồng thời là quận có diện tích lớn nhất của thủ đô Hà Nội Công tác quản lý phối hợp thông tin giữa nhà trường
- cha mẹ học sinh - học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Long Biên đã có nhiều thay đổi, cải tiến để khai thác, phát huy tiềm lực của xã hội trong việc giáo dục học sinh Song thực tế vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, xã hội Việc đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng vấn đề, phát hiện được trở ngại vướng mắc để tìm ra các nguyên nhân đề xuất các giải pháp phối hợp thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục của các nhà trường Với những lý do trên tôi chọn đề tài:
“Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên”
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận của các kênh thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh để đề xuất biện pháp quản lý nhằm
Trang 10mẹ học sinh - học sinh ở các trường tiểu học quận Long Biên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xác định cơ sở lý luận của việc xây dựng cơ chế thông tin giữa nhà
trường - cha mẹ học sinh - học sinh nhằm quản lý hiệu quả thông tin ở trường tiểu học
3.2 Đánh giá nội dung và hiệu quả việc của cơ chế thông tin giữa nhà
trường - cha mẹ học sinh - học sinh nhằm quản lý hiệu quả thông tin ở trường tiểu học quận Long Biên
3.3 Đề xuất những biện pháp nhằm quản lý thông tin giữa nhà trường -
cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
4 Khách thể nghiên cứu và Đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
5 Giả thuyết khoa học
Tầm quan trọng của cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh sẽ gia tăng sự gắn kết giữa nhà trường - gia đình học sinh, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh tiểu học trên địa bàn quận Long Biên trong bối cảnh hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Nghiên cứu tài liệu: Đọc nghiên cứu các công trình khoa học để tiếp thu, xác định lịch sử nghiên cứu, nội hàm các khái niệm, công cụ nghiên cứu
và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu
+ Phân tích, tổng hợp tài liệu
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 11+ Khảo sát bằng hệ thống câu hỏi, phỏng vấn,
+ Quan sát thực tế, trắc nghiệm/thử nghiệm (testing)
+ Tổng kết kinh nghiệm và xin ý kiến chuyên gia
Thố ng kê, toán ho ̣c, biểu bảng, sơ đồ
7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
8.1 Địa bàn nghiên cứu: các trường tiểu học quận Long Biên
8.2 Khách thể: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh
trên địa bàn quận Long Biên
Nghiên cứu Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng của cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà
trường - cha mẹ học sinh, học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả của cơ chế thông tin
quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình đã từ lâu được xem
là nguyên lý cơ bản của giáo dục Vận dụng và quán triệt được điều đó vào hoạt động thực tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục giữ vững được chất lượng, phát triển lành mạnh và bền vững dù trong cơ chế thị trường Điều đó đã được thực
tế giáo dục kiểm chứng từ lâu Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học là hình thành ở học sinh cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng của nhân cách người công dân, người lao động, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên trên hoặc ra đời tham gia các hoạt động đa dạng của xã hội Xét về mặt bằng chung giáo dục là tế bào của xã hội, tế bào tốt thì xã hội tốt Tuy nhiên tình trạng đạo đức của học sinh ngày càng đi xuống, các em ham chơi không chịu học tập đó là nỗi băn khoăn của những người trực tiếp giáo dục mà Đảng, nhà nước và xã hội giao phó Khi thấy học sinh vô lễ, ngang bướng, nói ra những lời không hay, đánh bạn… Đó là những điều mà người làm công tác giáo dục thấy rõ trách nhiệm của mình, phải hết sức nhiệt tình làm sao cho việc giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao Tuy vậy, càng đi sâu vào cơ chế thị trường thì rõ ràng việc kết hợp giáo dục không còn đơn giản và dễ dàng đi vào cuộc sống như trước đây Xã hội ta hiện nay đang có những biến đổi mới, mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tế thị trường… và gia đình cũng biến đổi dưới tác động của xã hội Tuy nhiên hầu hết gia đình hiện nay còn ổn định nên có thể đặt vấn đề nâng cao hiệu quả giáo dục con cái mà hai thành viên quan trọng nhất là cha,
mẹ của các em
Qua khảo sát thực tế ở trường tiểu học quận Long Biên, tôi thấy còn có nhiều hạn chế về kiến thức, kinh tế khiến cho giáo dục gia đình chưa phát huy hết sức mạnh và hiệu quả cao của nó Trước hết là chưa nhận thức đầy đủ vai
Trang 13trò trách nhiệm giáo dục con cái, cho rằng con cái họ đến trường thì nhiệm vụ giáo dục do nhà trường hoàn toàn đảm nhiệm, còn gia đình chịu trách nhiệm một phần nhỏ
Đối với phát triển xã hội, có nhiều biến đổi như hiện nay, một số yếu tố giáo dục gia đình mang tính truyền thống đang bị dao động hoặc thay đổi Đồng thời trong giai đoạn hiện nay các em tiếp nhận thông tin nhờ sự tăng dần các phương tiện thông tin đại chúng Từ đó phương pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức khiến cho không ít gia đình bị hụt hẫng, bất lực trước thực trạng giáo dục con cái Họ cho rằng con cái bây giờ khó dạy bảo hơn trước Thực ra đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em hiện nay phát triển một cách gia tốc, thể trọng tăng nhanh, hiểu biết thông minh hơn, giao tiếp rộng rãi hơn,… vì thế nếu gia đình quen dùng phương pháp giáo dục cũ như trên sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn Một số gia đình rơi vào tình trạng
bi quan, đi đến chỗ bỏ mặc con cái nhất là đối với trẻ em hư, hạnh kiểm yếu kém
Một số bộ phận khác thì do mải mê làm ăn nên lãng quên nhiệm vụ giáo dục con cái một số gia đình cha mẹ trẻ, ít con, kinh tế đầy đủ thì lại có xu hướng nuông chiều quá mức khiến trẻ trở nên ỷ lại, thiếu tính độc lập sáng tạo cần thiết và có thể dẫn chúng đến chỗ đòi hỏi hưởng thụ, chơi ngông, dễ bị tiêm nhiễm các thói hư tật xấu hiện đang tồn tại trong xã hội
Từ những lý do trên, sự phối hợp trao đổi thông tin giữa nhà trường, cha mẹ học sinh, học sinh là điều rất cần thiết trong việc giáo dục học sinh nên tôi đã chọn đề tài: “Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên”
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy
Trang 14thể
+ Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [4, tr.38]
+ Taylor F.W (người Mỹ) cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất” “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm” [24]
+ Henri Fayol (1841-1925), người Pháp, người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý
+ Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu QL là một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn” [10]
+ Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [11, tr.32]
+ Theo tác giả Trần Đình Nghiêm: “Quản lý là một quá trình dựa vào
Trang 15các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một hệ thống mới” [16]
+ Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [12]
+ Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích
đã định”, “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [23, tr.24]
Nói về Nhà nước và QL nhà nước trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ta có thể thấy người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng minh bạch Người nói: “Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà nước được cai trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế” và “Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau ” Đồng thời “Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [9, tr.22]
Có 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau và tạo thành chu trình QL: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là một quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội
mà còn là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội
Trang 16hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.3 Khái niệm về cơ chế
Cơ chế là khái niệm được dùng để chỉ một quy luật vận hành của một
hệ thống hay bất cứ một sự vật hiện tượng, một quy luật hoặc quá trình nào
đó trong tự nhiên, xã hội, cơ chế còn là chỉ sự tương tác giữa các yếu tố với nhau kết thành nhờ hệ thống và nhờ vào việc tương tác đó mà hệ thống này hoạt động
Cụm từ “cơ chế” được sử dụng phổ biến ở nước ta từ cuối những năm
1970, khi chúng ta bắt đầu có sự nghiên cứu về quản lý và kinh tế đang có sự thay đổi Ví dụ như có các loại cơ chế sau đây: cơ chế hiện đại, cơ chế mới,
cơ chế một cửa, cơ chế mở, cơ chế cải cách,…
Tóm lại, khái niệm cơ chế là gì là một khái niệm rộng và được ứng
dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau, có thể thấy nó được ứng dụng từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội
1.2.4 Khái niệm về thông tin và các thuộc tính của nó
Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, ở đâu ta cũng thấy người ta nói tới thông tin: thông tin là nguồn lực của sự phát triển; chúng ta đang sống trong thời đại thông tin; một nền công nghiệp thông tin, một xã hội thông tin đang hình thành v.v Thông tin (Information) là khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta
Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX
và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học xã hội Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ thông tin đã trở
Trang 17thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàn cầu
1.2.5 Cơ chế thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh
Tổ chức mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình và học sinh nhằm giáo dục cho học sinh, đây là sự thể hiện tác động qua lại một cách biện chứng
Liên kết giữa gia đình và các lực lượng xã hội sao cho gia đình phát huy được tác dụng định hướng, tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động xã hội vì xã hội là môi trường giáo dục rất tốt cho trẻ Bên cạnh đó gia đình còn giúp trẻ có nhận thức đúng và không bị các tệ nạn xã hội lôi cuốn Mặt khác lực lượng xã hội vô cùng đông đảo tạo ra một môi trường rộng lớn có ảnh hưởng tự phát hoặc tự giác rất mạnh mẽ đối với cuộc sống hàng ngày của trẻ
Tóm lại: Có thể nói rằng có bao nhiêu mối quan hệ ở trong nhà trường
và xã hội mà học sinh tham gia, hoạt động, giao tiếp thì có bấy nhiêu tác động học sinh cho học sinh phải tuân theo quy luật phát triển chung về hình thành
và phát triển nhân cách Hơn ai hết những người làm công tác giáo dục phải nắm vững và vận dụng quy luật này cho thật hợp lý
1.3 Các đặc trưng cơ bản của thông tin
Bản thân thông tin không có mục đích tự thân Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một hệ thống có điều khiển nào đó
Thông tin có tính tương đối
Tính tương đối của thông tin thể hiện rất rõ nét đối với các hệ thống kinh tế xã hội vì đây là các hệ thống động, hệ thống mở, đối với nhiều mặt còn có thể coi là một hệ thống hộp đen
Tính định hướng của thông tin
Thông tin phản ánh mối quan hệ giữa đối tượng được phản ánh và nơi nhận phản ánh Đây là một quan hệ hai ngôi
Trang 18Hình thức vật lý cụ thể của thông tin là vật mang tin Có thể so sánh thông tin là linh hồn còn vật mang tin là cái vỏ vật chất…
- Thông tin là những tin tức cho nên nó không thể sản xuất để dùng dần
được
- Thông tin phải thu thập và xử lý mới có giá trị
- Thông tin càng cần thiết càng quý giá
- Thông tin càng chính xác, càng đầy đủ, càng kịp thời càng tốt
Số lượng thông tin: thông tin có đem lại nhiều hiểu biết mới để con người nhận định chính xác hơn hệ thống (đối tượng) được nghiên cứu
- Giá trị thông tin: phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu của thông báo đối với người nhận tin
1.4 Vai trò của thông tin trong giáo dục
Cùng với xu thế hội nhập và sự phát triển của nền kinh tế, cơ chế thị trường, khoa học, kỹ thuật… hiện nay, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển Internet mạnh mẽ với nhu cầu, khả năng sử dụng Internet trong thanh niên ngày càng tăng cao và phổ biến, hầu như tất cả ai trong chúng ta cũng có khả năng tiếp cận mạng Do vậy, việc sử dụng mạng
xã hội như công cụ tuyên truyền, định hướng tư tưởng, giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng, cung cấp nhu cầu thông tin chính xác cho nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh là một điều tất yếu trong xu thế phát triển chung hiện nay
Mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục, kết nối, trao đổi thông tin giữa tam giác: nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh Các thông tin, hình ảnh được chuyển tải kịp thời, sinh động, thường xuyên, nhanh nhất, nâng cao chất lượng tuyên truyền và sức thuyết phục
Với cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, mạng xã hội đang chiếm lĩnh các kênh thông tin, giải trí, giao lưu không chỉ của của giới trẻ, mà nó thực sự có ích trong việc thông báo thông tin, trao đổi thông tin, kết nối thông
Trang 19tin giữa nhà trường, phụ huynh học sinh và học sinh Việc sử dụng mạng xã hội nói chung và Facebook, Zalo, viber nói riêng mang lại nhiều lợi ích Nhiều trường đã sử dụng phần mềm zoom, lika trong đợt dịch, dạy học trực tuyến, họp hội đồng, sinh hoạt chuyên môn, họp phụ huynh học sinh, …Đặc biệt trong năm học 2020-2021 này, toàn thành phố Hà Nội áp dụng phần mềm Enetviet trong quản lý giáo dục, với phần mềm này, hàng ngày, giáo viên, nhà trường và cha mẹ học sinh có thể theo dõi liên tục các thông tin của học sinh trong quá trình con tới lớp, ở trường cũng như các hoạt động ở trường, ở lớp của con
1.5 Nội dung và phương pháp xây dựng, duy trì cơ chế thông tin giữa Phụ huynh, Nhà trường, học sinh
- Đối với Phụ huynh
+ Thiết lập và duy trì mối liên hệ với Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên
bộ môn qua gặp gỡ trực tiếp, gọi điện thoại, xem sổ liên lạc hay các kỳ họp Phụ huynh
+ Thường xuyên nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con ở trường, lớp đồng thời cung cấp thông tin (diễn biến tâm tư, tình cảm) của con cho Giáo viên chủ nhiệm
+ Tham gia đầy đủ các cuộc họp Phụ huynh, các hoạt động khác theo yêu cầu của trường, lớp
+ Nắm bắt thông tin và luôn giữ liên lạc với ban Phụ huynh, cán sự lớp
và bạn bè thân thiết của con
- Đối với Nhà trường
+ Thông tin cho Phụ huynh biết về các hoạt động giáo dục của Nhà trường + Giám sát Giáo viên, Học sinh trong việc dạy và học; cử Giáo viên hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn
+ Định hướng nội dung các kỳ họp Phụ huynh, cần có nhiều nội dung
Trang 20- Đối với học sinh
+ Chăm chỉ học tập, đi học đầy đủ, hoàn thành bài đầy đủ và báo cáo thầy cô, bố mẹ những việc diễn ra trong ngày tại lớp học, tại nhà
+ Thông tin với cha mẹ, thầy cô giáo thông qua các phương tiện, kênh thông tin như: Viết thư, thơ, tâm sự với thầy cô, cha mẹ,
Trang 21TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua phân tích ở chương 1, về cơ bản, cơ thế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường, cha mẹ học sinh, học sinh có rất nhiều kênh thông tin Kênh thông in từ nhà trường tới cha mẹ học sinh và ngược lại Kênh thông tin từ nhà trường tới học sinh, từ học sinh tới nhà trường thông qua cha
mẹ, qua thầy cô giáo
Thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường, cha mẹ học sinh, học sinh thông qua nhiều kênh: Qua gặp trực tiếp thông qua các cuộc họp, gặp gỡ hàng ngày; qua điện thoại, tin nhắn, qua mạng xã hội: zalo, Faebook,
Thông tin sẽ được hiểu là những gì đem lại cho mọi người sự hiểu biết
về người khác, về đối tượng, hiện tượng nào đó trong tự nhiên và xã hội, hay
về vấn đề khách quan, chủ quan nào đó, một sự kiện chuẩn bị được diễn ra…
để từ đó con người đưa ra những quyết định phù hợp cho từng hoàn cảnh cụ thể nhằm thu được kết quả tốt nhất theo hướng họ mong muốn
Thông tin có thể là lời nói, là những gì người ta dù không thể cầm nắm,
sờ, mó tới nó, nhưng có thể kiểm chứng được nó qua những ghi chép, ghi âm, tổng kết… bằng văn bản chính thống hoặc chưa chính thông
Tóm lại, thông tin là những gì giúp cho con người hiểu rõ hơn, chi tiết hơn, nhanh hơn về sự vật hiện tượng nào đó mà họ quan tâm
+ Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học: Các nội dung được trao đổi giữa môi trường với hệ thống để làm hoạt đọng hệ thống đó có thể được hiểu là thông tin của quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học
+ Quan điểm của khoa học quản lý: Những tín hiệu mà người nghe thu nhận được, sau đó, nó được đánh giá và sử dụng cho việc ra các quyết định trong quản lý được hiểu là thông tin, theo quan điểm của khoa học quản lý
Trang 22Như vậy, ta có thể thấy rằng, từ những quan niệm trên thì khái niệm thông tin không áp dụng đối với thế giới vô cơ
Trong hệ thống kỹ thuật thì chúng được áp dụng nhiều, và khái niệm thông tin được tồn tại, bởi, thông tin trong hệ thống kỹ thuật được tự động hóa hoàn toàn và nó gắn với hoạt động quản lý của con người Nó hoạt động theo các chương trình do con người lập trình ra
Thông tin là ý thức, không phải là vật chất Vật chất là cái gì đó có thể cầm, nắm, nhưng ý thức thì không thể, và thông tin cũng như vậy Người ta
có thể kiểm chứng sự đúng sai của thông tin, chứ không thể cân đo đong đêm thông tin nặng nhẹ như thế nào
- Giáo dục học sinh, rèn giũa, bồi dưỡng cho học sinh phát triển từng ngày là việc không chỉ ngành giáo dục cần phải làm mà đó là công việc của toàn xã hội
Việc kết hợp giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và học sinh thông qua
hệ thông thông tin quản lý sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh trong và ngoài xã hội
Trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước, Việt Nam ngày càng cần nhiều nhân tài cho xã hội, chính vì thế, học sinh ở cấp bậc tiểu học như trang giấy trắng, vai trò của nhà trường, cha mẹ học sinh vô cùng quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước sau này
Nhà trường, thầy cô giáo luôn có những định hướng trong sự nghiệp giáo dục cho trẻ Bên cạnh đó, gia đình luôn đồng hành cùng thầy cô trên bước đường giáo dục con em mình
Việc sử dụng công nghệ thông tin và quản lý thông tin trong nhà trường, gia đình là điều cần thiết Các thông tin cần được cập nhật thường
Trang 23xuyên, nhanh chóng, chính xác sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc tạo nên các
tế bào tốt cho xã hội
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ GIỮA
NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH - HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN LONG BIÊN 2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội, giáo dục tại quận Long Biên, Hà Nội
Ngày 6/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 132/2003/NĐ-CP
về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập Quận Long Biên thuộc Thành phố Hà Nội Long Biên có diện tích 6.038,24ha, với 170.706 nhân khẩu; 14 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường: Cự Khối, Thạch Bàn, Long Biên, Bồ Đề, Ngọc Thụy, Ngọc Lâm, Gia Thụy, Thượng Thanh, Việt Hưng, Phúc Đồng, Sài Đồng, Phúc Lợi, Giang Biên, Đức Giang
Long Biên có các tuyến đường giao thông quan trọng Đặc biệt với lợi thế vị trí cửa ngõ của Hà Nội, nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đồng thời cũng là trục kinh tế sôi động là những yếu tố
cơ bản thuận lợi để quận Long Biên phát triển nhanh và bền vững
Giáo dục - đào tạo phát triển mạnh theo hướng chuẩn hoá, xã hội hóa, từng bước hiện đại: Quận chủ trương tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở
vật chất, tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường chất lượng cao, trường học điện tử với tổng kinh phí 677.1 tỷ đồng; 100% các trường được sửa chữa, xây mới, đầu tư thiết bị dạy học theo hướng đồng bộ, hiện đại Quy
mô trường lớp tăng, hệ thống trường ngoài công lập (tư thục, dân lập và trường quốc tế) có bước phát triển
Long Biên là một trong những quận có số lượng và tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia cao nhất thành phố Hà Nội Hiện nay, quận có 25 trường tiểu học công lập và 1 trường liên cấp
2.2 Giới thiệu hoạt động khảo sát
Khảo sát là một trong những cách tuyệt đối tốt nhất để có được hiểu rõ được thực trạng của thông tin trong quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh
Trang 25và học sinh để từ đó, chúng ta có thể phát huy những mặt mạnh và rút kinh nghiệm để cải tiến những tồn đọng nhằm giúp cho việc thúc đẩy sự phát triển của trẻ một cách toàn diện hơn từ lứa tuổi tiểu học
Hiện nay, quận Long Biên, Hà Nội có 25 trường tiểu học công lập và 1 trường dân lập, với tổng số lớp là 785 lớp với 35602 học sinh
Số cán bộ quản lý: 52 người, tất cả đều có trình độ đại học trở lên, có
10 thầy cô có trình độ thạc sĩ về quản lý giáo dục
Tổng số giáo viên: 1025 người, trong đó có 785 giáo viên được phân công chủ nhiệm lớp
Số giáo viên chủ nhiệm:
- Có trình độ đại học là 582 người, chiếm tỉ lệ: 74,14%
- Là nam giáo viên: 12 người, chiếm tỉ lệ 1,52%
- Là nữ giáo viên: 773 người, chiếm tỉ lệ 98,48%
2.2.1 Đối tượng khảo sát
Nghiên cứu đề tài “Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên”, nghiên cứu đã tiến hành lập bảng câu hỏi khảo sát 250 cha mẹ học sinh, 50 giáo viên chủ nhiệm của các trường tiểu học thuộc quận Long Biên và 20 giáo viên bộ môn Khi tổng hợp số phiếu trả lời hợp lệ của cha mẹ học sinh là 200
và 30 phiếu trả lời của giáo viên chủ nhiệm, 20 phiếu trả lời của giáo viên bộ môn, 20 phiếu trả lời của giáo viên bán trú Ngoài ra, tôi cũng thực hiện một
số cuộc phỏng vấn trực tiếp một số nhà quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh cũng như học sinh để hiểu rõ hơn thực trạng nhận thức và hoạt động phối hợp quản lý học sinh giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và cá nhân mỗi học sinh ở các trường tiểu học của quận
2.2.2 Nội dung khảo sát
Trang 26- Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các nội dung thông tin với nhà trường
- Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các kênh thông tin với nhà trường
- Yêu cầu của CMHS đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin trong việc phối hợp giáo dục học sinh
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả của cơ chế thông tin giữa nhà trường
- cha mẹ học sinh - học sinh tiểu học
- Các kênh thông tin liên lạc giữa cha mẹ học sinh với nhà trường
- Mức độ, tần xuất của các kênh thông tin liên lạc giữa cha mẹ học sinh với nhà trường
Đối với học sinh
- Sự cần thiết của các thông tin giữa học sinh với nhà trường, với thầy
cô giáo, với cha mẹ học sinh
- Thông tin có ảnh hưởng như thế nào trong việc học tập của học sinh
Đối với giáo viên
- Mức độ ảnh hưởng của thông tin giữa nhà trường và phụ huynh tới kết quả giáo dục học sinh
- Tần xuất của các kênh thông tin
- Nhận thức của GVCN về những công việc chủ động thông tin phối hợp với cha mẹ học sinh và học sinh trong việc giáo dục học sinh
- Một số yêu cầu của GVCN đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, học sinh
Đối với lãnh đạo nhà trường
- Cách thức của nhà trường đối với gia đình và giáo viên chủ nhiệm cùng quan tâm dạy dỗ trẻ tiểu học (lập bảng phỏng vấn đối với 15 lãnh đạo các trường)
- Một số việc của nhà trường đã thực hiện đối với cha mẹ học sinh và
Trang 27học sinh để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và học sinh
2.2.3 Phương pháp khảo sát
Tính điểm trung bình với các câu hỏi khảo sát thường có mức độ từ cao xuống thấp
2.3 Kết quả của khảo sát
Qua khảo sát và phỏng vấn trực tiếp các thầy cô giáo chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, học sinh tôi thấy hiệu quả của các kênh thông tin giữa nhà trường và phụ huynh Thông qua các kênh thông tin tác động rất lớn đến kết quả giáo dục, đặc biệt kết quả này phụ thuộc lớn vào thầy cô chủ nhiệm
Khảo sát 250 cha mẹ học sinh, 50 giáo viên ở 4 trường trong Quận Kết quả thu được(200 phiếu của cha mẹ học sinh và 50 phiếu của giáo viên) về các kênh thông tin, tần xuất của các kênh thông tin, nội dung thông tin, hiệu quả của các kênh thông tin đối với phụ huynh học sinh khi trao đổi với nhà trường thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, nhân viên
Bảng 2.1: Các kênh thông tin thường dùng để truyền đạt, tiếp
Trang 28Bảng 2.2: Mức độ trao đổi thông tin (Tần xuất)
Kênh thông tin
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Trang 29(eNetViet)
Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả của các kênh thông tin
Kênh thông tin
Nhanh chóng Tiện lợi Tiết kiệm Khó sử dụng
Trang 30kênh thông tin như Zalo, Facebook, Zoom, sổ liên lạc điện tử, Cổng thông tin điện tử, email, Mỗi kênh đều đem lại những hiệu quả nhất định trong việc phục vụ cho công tác quản lý, giáo dục học sinh Các kênh sử dụng công nghệ thông tin thường đem lại hiệu quả nhanh chóng, tiết kiệm Trong đợt dịch Covid-19, các nhà trường thực hiện chủ trương: Nghỉ dịch chứ không nghỉ học” các phương tiện công nghệ thông tin phục vụ đắc lực cho công tác dạy
và học Các nhà trường sử dụng phần mềm Zoom, lika, để dạy học cho học sinh khi học sinh nghỉ học Hiệu quả của việc sử dụng các phần mềm dạy học trực tuyến đã được cha mẹ học sinh đánh giá cao Cha mẹ học sinh đã cùng với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tham gia công tác giáo dục học sinh Học sinh cũng hứng thú trong việc học trực tuyến Thông qua phần mềm Zoom nhà trường đã tổ chức các cuộc họp đại diện cha mẹ học sinh, đưa ra những chủ trương, kế hoạch của nhà trường trong thời gian nghỉ dịch Đối với giáo viên chủ nhiệm cũng đã tổ chức các buổi họp cha mẹ học sinh khi thực hiện dãn cách xã hội
Bảng 2.4: Sự cần thiết của các kênh thông tin
Kênh thông tin
Cần thiết Không cần thiết
Trang 31Sổ liên lạc điện tử (eNetViet) 200 100 0 0
Nhìn vào bảng tổng hợp cho thấy các kênh thông tin rất cần thiết trong công tác quản lý nhà trường và hoạt động giáo dục Mỗi kênh thông tin có những ưu điểm riêng Do vậy cần phải sử dụng nhiều kênh thông tin để điều hành, nắm rõ thông tin liên quan đến nhá trường, từ đó có những biện pháp xử
lý, giải quyết các khúc mắc, khó khăn liên quan tới công tác quản lý, giáo dục học sinh Nhà quản lý cần nắm rõ những thông tin (Thông tin tốt, thông tin xấu) từ những thông tin đó nhà quản lý tìm hiểu, kiểm chứng các thông tin, đưa ra những biện pháp xử lý, giải quyết nội dung các thông tin đó đề cập Thông tin từ các kênh cho biết nhiều nội dung thông tin (thông tin về công tác giáo dục, về giáo viên, về phụ huynh, học sinh, các vấn đề khác liên quan tới nhà trường) Càng nắm được nhiều thông tin người quản lý càng có nhiều biện pháp giải quyết các công việc, quản lý nhà trường tốt hơn Do vậy các kênh thông tin là rất cần thiết trong công tác quản lý, giáo dục học sinh
Bảng 2.5: Mức độ ảnh hưởng của thông tin giữa nhà trường và phụ huynh
tới kết quả giáo dục học sinh
Trang 32chủ nhiệm và cha mẹ học sinh đều tán thành quan điểm kết quả giáo dục học sinh phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp giữa nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh Ngoài ra, trong các cuộc phỏng vấn, tôi ghi nhận thấy rằng, việc quan tâm của giáo viên tới học sinh cũng là yếu tố quan trọng trong việc học tập và phát triển của học sinh mỗi khi tới lớp, tới trường
Bảng 2.6: Tần xuất của các kênh thông tin
Giáo viên
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không
bao giờ
Giáo viên chủ nhiệm đánh giá cao về vai trò của các lực lượng giáo dục trong việc phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và học sinh Sự chủ động của giáo viên chủ nhiệm, người luôn quan tâm, hiểu rõ học sinh khi học sinh ở lớp, ở trường là rất quan trọng, từ đó giáo viên chủ nhiệm nắm bắt tâm
lý của từng học sinh để phối hợp với cha mẹ học sinh, với ban giám hiệu, với hội phụ huynh của lớp, của trường để cùng đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhất cho việc giáo dục học sinh Tuy nhiên, giáo viên bộ môn và giáo viên bán trú ít có liên lạc với cha mẹ học sinh hơn, bởi mọi thông tin, họ sẽ thông tin cho giáo viên chủ nhiệm để giáo viên chủ nhiệm thông tin đến nhà trường, đến cha mẹ học sinh và học sinh Trong những trường hợp đặc biệt, các giáo viên bộ môn hoặc giáo viên bán trú mới có những liên lạc trực tiếp với cha mẹ học sinh, mặc dù, họ có sự tiếp xúc thường xuyên với học sinh
Cha mẹ học sinh luôn cho rằng sự chủ động của giáo viên chủ nhiệm với học sinh đóng vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp giáo dục học
Trang 33sinh 100% các phiếu đều đánh giá cao sự chủ động của giáo viên trong việc gần gũi, quan tâm đến học sinh Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm chủ động liên lạc với cha mẹ học sinh nếu có những việc cần trao đổi gấp hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng cũng rất quan trọng Tuy nhiên, sự họ lại không đánh giá cao vai trò của ban đại diện cha mẹ học sinh trong mối quan hệ này
Giáo viên chủ nhiệm cho rằng nhà trường cần chủ động thông tin với gia đình trong việc giáo dục học sinh, ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cũng đánh giá cao việc phụ huynh cần chủ động trong việc thông tin với nhà trường, ví dụ cung cấp thêm thông tin, trao đổi thêm với giáo viên chủ nhiệm
về tính cách, sở thích, nhu cầu của học sinh để giáo viên chủ nhiệm phối hợp với nhà trường, với cha mẹ học sinh dạy dỗ học sinh trong điều kiện tốt nhất Cha mẹ học sinh lại thấy vai trò của nhà trường rất quan trọng trong việc chủ động liên lạc, thông tin tới học sinh và cha mẹ học sinh quá trình học tập, tu dưỡng của học sinh tại trường Cha mẹ học sinh luôn tin tưởng vào sự giáo dục, quan tâm của giáo viên chủ nhiệm tới con em mình, chính vì thế, họ luôn mong thầy cô chủ nhiệm chủ động trong việc thông báo tình hình của con em
họ sau mỗi buổi học qua tin nhắn, điện thoại, zalo, facebook… tất cả mọi hình thức để họ nắm bắt được tình hình của con họ tại trường diễn ra như thế nào
Nhiều bậc phụ huynh có thể do bận công tác, hoặc vì lý do nào đó nên chưa thể thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm hoặc nhà trường để nắm bắt tình hình của con em mình, đồng thời, phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và nhà trường đưa ra các biện pháp để cùng dạy dỗ con em Đôi khi, giáo viên chủ nhiệm hoặc nhà trường gửi các phiếu nhận xét hoặc các bài kiểm tra để yêu cầu cha mẹ học sinh có ý kiến nhưng một số các phụ huynh chỉ ký chứ không đưa ra bất kỳ nhận xét nào hoặc yêu cầu gì đối với giáo viên chủ nhiệm hoặc nhà trường
Trang 34Bảng 2.7: Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các nội
dung thông tin với nhà trường
Nội dung
Thường
Không bao giờ
1 Gặp gỡ giáo viên chủ nhiệm sau mỗi buổi
2 Sử dụng điện thoại, Zalo hoặc nhóm
Facebook để biết thông tin của con từ phía
nhà trường hoặc giáo viên chủ nhiệm
3 Trao đổi thông tin qua các hội nhóm, fanpage
Cha mẹ học sinh luôn muốn biết các thông tin về con cái của mình ở trường, do đó, họ cố gắng tận dụng các cơ hội để có được các thông tin đó, nhưng hình thức mà họ sử dụng nhiều nhất là sử dụng điện thoại, Zalo hoặc nhóm Facebook để biết thông tin của con từ phía nhà trường hoặc giáo viên chủ nhiệm
Bảng 2.8: Yêu cầu của CMHS đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả
cung cấp thông tin trong việc phối hợp giáo dục học sinh
3 Nhắn tin, gọi điện ngay để thông tin cho gia đình biết
Trang 35100% cha mẹ học sinh tán thành với việc giáo viên chủ nhiệm và nhà trường nhắn tin hoặc gọi điện để thông tin cho gia đình về con cái của họ khi
ở trường Họp phụ huynh theo tháng không phải là giải pháp mà họ ưng ý Tuy nhiên, hàng tháng nhà trường và giáo viên gửi văn bản tới gia đình thông báo tình hình học tập của học sinh được 50% cha mẹ học sinh cho là cần thiết
Bảng 2.9: Nhận thức của GVCN về những công việc chủ động thông tin với cha mẹ học sinh và học sinh trong việc giáo dục học sinh
Có hoặc không cũng được
Không cần
1 Liên lạc thường
2 Thường xuyên trao
Cha mẹ học sinh và học sinh luôn tin tưởng vào giáo viên và nhà trường, vì vậy, 100% số phiếu được hỏi đều cho rằng rất cần thiết việc nhà trường và giáo viên chủ nhiệm liên lạc với phụ huynh học sinh và thường xuyên trao đổi với học sinh
Bảng 2.10: Một số yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, học sinh
1 Hàng ngày thông báo với phụ huynh học sinh các tin tức
3 Tuyên dương kịp thời học sinh ngoan để các bạn khác noi
Trang 36Hàng ngày, ngoài việc dạy học, giáo viên tiểu học vô cùng vất vả với việc dỗ và giáo dục học sinh, các em ở lứa tuổi 6-11 còn non nớt trong các hoạt động, luôn cần giáo viên hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, thường xuyên Có những học sinh hiếu động, việc tiếp thu của các em có thể gặp hạn chế ở một mặt nào đó càng có thể làm giáo viên chủ nhiệm vất vả hơn Do đó, 100% giáo viên chủ nhiệm thấy rằng, thông báo với cha mẹ học sinh tin tức của con hàng ngày là cần thiết để cha mẹ học sinh nắm bắt thông tin của con em họ một cách kịp thời Vì học sinh còn nhỏ, học sinh tin tưởng gần như tuyệt đối vào lời nói và hướng dẫn của giáo viên, nên việc trò chuyện, tiếp cận gần gũi với học sinh cũng là điều cần thiết Trên thực tế, có nhiều học sinh kể với cô giáo mọi việc của mình, của gia đình, của bạn bè, đối với trẻ, đó như một chiến tích kỳ vĩ bởi bao nhiêu tâm sự, trẻ tâm sự hết với cô Có những chuyện, học sinh không nói với bố mẹ, nhưng lại có thể trò chuyện với giáo viên chủ nhiệm, bởi trẻ thấy thầy cô giáo như thần tượng đầu đời của chúng Chính vì thế, đôi khi giáo viên chủ nhiệm khen bạn cùng học, với mục đích tạo động lực thúc đẩy các đôi bạn cùng tiến trong học tập, giúp các con thân thiện nhau hơn, biết cách tham gia các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để phát triển hoàn thiện hơn các kỹ năng sống của mình
Việc phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục đảm bảo sự thống nhất về nhận thức hành động cũng như cách thức để đạt mục tiêu quá trình phát triển nhân cách, tránh mâu thuẫn, tránh sự tách rời, gây nên tình trạng nghi ngờ, vô hiệu hoá lẫn nhau, gây dao động, hoang mang đối với cá nhân trong việc tiếp thu, lựa chọn các giá trị đạo đức tốt đẹp
Gia đình có ưu thế đối với việc hình thành chuẩn mực về đạo đức trong quan hệ ứng xử, định hướng nghề nghiệp, … nhà trường có ưu thế trong việc giáo dục các chuẩn mực đạo đức, các ý thức công dân, phát triển kỹ năng sống, giáo dục con người một cách toàn diện…
Các đoàn thể xã hội giúp học sinh kiểm nghiệm những điều đã học
Trang 37được trong nhà trường với thực tiễn trong đời sống xã hội, mở rộng kiến thức thực tế làm cho kiến thức các em phong phú và đa dạng hơn
Phối hợp giữa nhà trường với gia đình và lực lượng giáo dục trong xã hội sẽ thống nhất được mục tiêu, kế hoạch giáo dục, chăm sóc học sinh của tập thể sư phạm nhà trường với phụ huynh, cơ sở sản xuất, với các đoàn thể, các cơ quan văn hoá giáo dục ngoài nhà trường
* Khảo sát đối tượng là học sinh:
Khảo sát 125 học sinh tại 4 trường bằng phiếu với 2 câu hỏi:
Câu 1: Thông tin giữa học sinh với nhà trường, với thầy cô giáo, với
cha mẹ học sinh(Cần thiết; Không cần thiết)
Câu 2: Thông tin có ảnh hưởng như thế nào trong việc học tập của học
sinh (Rất nhiều; Không ảnh hưởng)
Nội dung
Mức độ
Thông tin giữa học sinh với nhà trường, với
Nội dung
Mức độ
Thông tin có ảnh hưởng như thế nào
trong việc học tập của học sinh 114 91,2 11 8,8
2.4 Thực trạng cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh
Trang 38đình ngày càng lỏng lẻo, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song do cả 2 phía giáo viên và phụ huynh học sinh Giáo viên chủ nhiệm chỉ gặp gỡ phụ huynh học sinh trong 3 buổi họp phụ huynh, thậm chí khi gặp giáo viên chủ nhiệm phụ huynh không trò chuyện với cô giáo của con Giáo viên đến thăm nhà học sinh lại càng ít và chỉ gặp trong những trường hợp rất đặc biệt Vì vậy, để phối hợp đạt hiệu quả cao nhà trường phải đóng vai trò chủ động hơn trong sự phối hợp này
Tính tương tác giữa gia đình, nhà trường và học sinh trong việc giáo dục học sinh là vô cùng quan trọng và cần thiết Có thể xét ở khía cạnh vi mô: Nhóm bạn - một mặt giúp đứa trẻ kiểm soát hành vi, suy nghĩ, nhưng mặt khác có thể dẫn dắt, kích động hoặc làm gương cho nhau về hành vi bạo lực; những người thân, cộng đồng xung quanh đứa trẻ cũng vậy
Hiện nay, có một tác động khá vô hình từ yếu tố xã hội, nhưng lại có thể đem đến những hậu quả hữu hình: Đó là các phương tiện thông tin truyền thông như: Tivi, đài, báo, game và nhất là các trang mạng xã hội…
2.5 Thực trạng cơ chế thông tin trong quản lý giữa nhà trường và cha
mẹ học sinh
Công nghệ thông tin 4.0 đã len lỏi vào từng ngõ ngách của cuộc sống,
và với giáo dục, công nghệ 4.0 đã giúp ích rất nhiều trong việc giáo dục và dạy dỗ trẻ, làm gắn kết gần gũi hơn, chặt chẽ hơn giữa nhà trường, phụ huynh
và học sinh
Đối với cha mẹ học sinh, làm sao có thể tìm được cho con một ngôi trường để giúp con phát triển ngôn ngữ, tư duy và thể chất một cách toàn diện Họ luôn băn khoăn, không biết con học ở trường này được dạy dỗ và đối
xử như thế nào, đối với trẻ ở lứa tuổi tiểu học, nhất là học sinh lớp 1, lớp 2, nhiều cha mẹ lúc nào cũng bồn chồn và lo lắng cho con Như hiểu được nỗi lo này, các thầy cô giáo tại các trường tiểu học của quận Long Biên luôn nỗ lực
Trang 39xây dựng cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh ngày càng khăng khít, thông qua nhiều cách thức khác nhau Với phụ huynh, họ nhận thấy được rõ cộng tác với nhà trường trong việc giáo dục con là một điều hết sức quan trọng, thể hiện được sự thống nhất trong quan điểm giáo dục, giúp con không phải ráng sức “đối phó” với cách giáo “dạy một đằng” và “hành một nẻo” Mỗi ngày, lúc đưa con đến trường cũng như khi tan học, cha mẹ có thể gặp gỡ giáo viên chủ nhiệm tại lớp Đây cũng là lúc hai bên có thể trao đổi vắn tắt những thông tin trong ngày về các bé Để từ đó có sự quan tâm cần thiết cũng như có hướng giáo dục kịp thời khi con “đi trật nhịp”, để được “lắng nghe” và “hiểu”
về con từ nhiều hướng
Hàng ngày, các phụ huynh khác luôn nhận được “Sổ Báo Bài”, kênh liên lạc cần thiết để phụ huynh nắm được thông tin về quá trình học của con, để giúp con ôn lại kiến thức ở trường cũng như cập nhập tình hình về con, trong trường hợp không thể gặp và trao đổi với các cô mỗi khi đưa đón con đi học Mỗi phụ huynh đều nhận được bản tin nội bộ qua email với đầy đủ thông tin về hoạt động trong tháng của cộng đồng giáo dục nhà trường, cũng như cập nhật các hoạt động sắp tới để phụ huynh sắp xếp thời gian đến trường tham dự cùng với các con Nhờ những thông tin này, các bậc phụ huynh có thể nắm bắt được những tình hình sinh hoạt của con mình và hỗ trợ cho con kịp thời, cũng như có những đóng góp cho sự phát triển chung của nhà trường
Ngoài ra, phụ huynh cũng có cơ hội cùng tham gia chung với học sinh trong các chuyến đi từ thiện, các buổi giao lưu với các chuyên gia tâm
lý trong nước và nước ngoài, để cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm, vướng mắc trong việc giao tiếp nuôi dạy con Nhờ những hoạt động và các buổi giao lưu được tổ chức tại trường như vậy, đã giúp cho phụ huynh và nhà trường có sự khăng khít với nhau, cùng nhau đồng hành trong việc
Trang 40thần một ngày một tốt hơn
Với nhịp sống hiện đại, khi công việc và bao mối lo toan đang chi phối đến hầu hết thời gian của các bậc phụ huynh, thì các kênh thông tin mở để phụ huynh gắn kết với nhà trường là vô cùng cần thiết Và sự hợp tác, đóng góp thông tin từ các bậc phụ huynh sẽ là nền tảng giúp nhà trường hoàn thiện trách nhiệm quan trọng của mình Chắc chắn phụ huynh và gia đình cùng đi chung một con đường, cùng chung một mục tiêu và cùng chia sẻ thông tin, học sinh sẽ trở thành trung tâm của công tác giáo dục và được vun đắp một cách trọn vẹn hơn
2.6 Thực trạng cơ chế thông tin giữa nhà trường và học sinh
Học sinh có quyển sổ ghi chung, đây là cuốn sổ mà học sinh có thể viết bài tập được giao mỗi ngày, cảm nhận và suy nghĩ về ngày hôm đó (vui hay không vui, các em thích học môn gì, thích tiết học nào, chơi với bạn bè ra sao,
có gì đặc biệt về ngày học hôm đó ở trường hay không?)
Đôi khi, học sinh sẽ viết những tâm tư qua những lá thư nhỏ để gửi cho giáo viên chủ nhiệm, cho nhà trường hoặc cha mẹ học sinh
Mỗi ngày, cuốn sổ đó sẽ được cha mẹ học sinh ký và hôm sau, giáo viên sẽ xem lại cuốn sổ, đó cũng là một kênh thông tin rất hữu hiệu trong việc phối hợp quản lý học sinh giữa nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, cha mẹ học sinh và học sinh
Ngoài ra, học sinh có thể được phát những tờ phiếu ghi tên những quyển sách, quyển truyện hay đã đọc trong tuần, cha mẹ học sinh cũng ký nhận vào các tờ phiếu đó và hàng tuần, giáo viên sẽ tổng kết và phát hoa khen thưởng cho học sinh
Để tạo sự gần gũi cho học sinh, ngay từ đầu mỗi năm học khi tiếp nhận học sinh mới, nhiều giáo viên đã chia sẻ một chút về bản thân như một vài lời
về tiểu sử, sở thích và mối quan tâm, hoặc tại sao họ yêu thích công việc giảng dạy Sự cởi mở này giúp học sinh cảm thấy bạn gần gũi hơn, chúng có