Giả thuyết khoa học dụng, đồng thời đề xuất cách vận dụng hợp lý để phục vụ cho phương pháp webquest sẽgiúp nâng cao hứng thú học tập của HS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
Nguyễn Thị Kim Thoa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
(HOÁ HỌC LỚP 10 NÂNG CAO)
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
(HOÁ HỌC LỚP 10 NÂNG CAO)
GVHD : ThS Thái Hoài Minh SVTH : Nguyễn Thị Kim Thoa Khóa : 2008 – 2012
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2012
Trang 3Để hoàn tất được khóa luận “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁPWEBQUEST TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG NHÓM OXI (HÓAHỌC 10 NÂNG CAO)”, em luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của cácthầy cô cùng gia đình, bè bạn.
Đầu tiên, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Thái Hoài Minh Cô đãtận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện vàhoàn thành khóa luận Em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng dạytrong tổ Phương pháp và toàn bộ các thầy cô, nhân viên khoa Hóa trườngĐHSP TP Hồ Chí Minh đã cung cấp kiến thức cho em trong suốt quá trìnhhọc tập Với vốn kiến thức được tiếp thu không chỉ là nền tảng cho quá trìnhnghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời mộtcách tự tin hơn
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thanh Vũ – giáoviên trường THPT Thủ Đức (quận Thủ Đức); thầy Trần Đình Hương - giáoviên trường THPT Bùi Thị Xuân (quận 1); quý thầy cô tổ Hóa trường THPTNguyễn Hữu Huân, THPT Thủ Đức, THPT Tam Phú (quận Thủ Đức) đã nhiệttình hỗ trợ em trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các bạn sinh viên K34, K35khoa Hóa, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh; các em HS thuộc các trườngTHPT Thủ Đức, trường THPT Bùi Thị Xuân đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ emtrong quá trình thực nghiệm Cảm ơn các bạn Lợi Minh Trang, bạn Lê ThànhVĩnh, anh Nguyễn Ngọc Trung đã đồng hành cùng em trong quá trình thựchiện đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã ủng hộ, động viên,chia sẻ cùng em để em hoàn thành được khóa luận như ngày hôm nay
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012
Nguyễn Thị Kim Thoa
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 12
1.2 Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường THPT 14
1.2.1 Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam 14
1.2.2 Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học 17
1.3 Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest 18
1.3.1 Khái niệm về phương pháp webquest 18
1.3.2 Khái niệm trang WebQuest 19
1.3.3 Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest 20
1.3.4 Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest 21
1.3.5 Cấu trúc chung của WebQuest 22
1.3.6 Quy trình thiết kế một WebQuest 23
1.3.7 Tiến trình thực hiện dạy học bằng phương pháp webquest 26
1.3.8 Các tiêu chí để đánh giá nội dung một WebQuest 27
1.4 Giới thiệu một số công cụ tạo website trực tuyến 28
1.4.1 Google Sites 28
1.4.2 Wix.com 29
1.4.3 DevHub 30
1.4.4 SnapPages 30
1.4.5 Webnode 31
1.4.6 WordPress 31
1.5 Sử dụng Google Sites để thiết kế WebQuest 32
1.6 Nội dung, phương pháp dạy học chương “Nhóm Oxi” 37
1.6.1 Giới thiệu nội dung chương “Nhóm Oxi” 37
1.6.2 Nguyên tắc sư phạm khi giảng dạy chương “Nhóm Oxi” 39
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHÓM OXI”(HÓA HỌC 10 NÂNG CAO) 42
2.1 Cấu trúc chung của WebQuest 42
2.2 Giới thiệu hệ thống WebQuest đã thiết kế 44
Trang 52.2.1 Bài “Oxi” 44
2.2.2 Bài “Ozon và Hidro peOxit” 49
2.2.3 Bài “Lưu huỳnh” 54
2.2.4 Bài “Hợp chất có Oxi của Lưu huỳnh” 59
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích thực nghiệm 70
3.2 Nội dung thực nghiệm 70
3.3 Đối tượng thực nghiệm 70
3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 71
3.5 Tiến hành thực nghiệm 72
3.6 Kết quả thực nghiệm 73
3.6.1 Một số sản phẩm của HS 73
3.6.2 Kết quả nhận xét của GV, giáo sinh và HS về WebQuest và phương pháp webquest 74
3.6.3 Kết quả bài kiểm tra của HS 81
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
CD
CNTT CTCT ĐHSP GV ICT
HS HTML
HTTH PPDH SGK
SV THCS THPT TN ĐC ULR
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
: compact dics (đĩa quan được sử dụng để lưu trữ dữ
liệu số)
: Công nghệ thông tin: Công thức cấu tạo: Đại học Sư phạm: Giáo viên
: Information and Communication Technologies (Côngnghệ thông tin và truyền thông)
: Học sinh
: Hypertext Markup Language (Ngôn ngữ liên kết siêu vănbản)
: Hệ thống tuần hoàn: Phương pháp dạy học
: Sách giáo khoa: Sinh viên
: Trung học cơ sở: Trung học phổ thông: Thực nghiệm
: Đối chứng
: Universal Resource Locator (tham chiếu nguồn tài
nguyên)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng đánh giá các thành viên trong nhóm 44
Bảng 2.2 Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Oxi 47
Bảng 2.3 Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Ozon và Hydro peOxit 52
Bảng 2.4 Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Lưu huỳnh 57
Bảng 2.5.Bảng tiêu chí đánh giá chung phần Lưu huỳnh đioxit 62
Bảng 2.6 Bảng tiêu chí đánh giá chung phần bài axit sunfuric 67
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng 71
Bảng 3.2 Quy trình thực nghiệm phương pháp webquest 72
Bảng 3.3 Thống kê số lượng GV tham gia nhận xét 75
Bảng 3.4 Nhận xét của GV về WebQuest 75
Bảng 3.5 Nhận xét của HS về WebQuest và phương pháp webquest 78
Bảng 3.6 Phân phối điểm bài kiểm tra 82
Bảng 3.7 Phân phối tần suất lũy tích kết quả kiểm tra 82
Bảng 3.8 Phân loại kết quả kiểm tra 82
Bảng 3.9 Thống kê các tham số đặc trưng 83
Bảng 3.10 Quy đổi các giá trị F α nhóm 1 86
Bảng 3.11 Quy đổi các giá trị F α nhóm 2 87
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1.Cấu trúc chung của một WebQuest 22
Hình 1.2 Sơ đồ quy trình thiết kế trang WebQuest 24
Hình 1.3 Biểu tượng của Google Sites 28
Hình 1.4 Biểu tượng của Wix.com 29
Hình 1.5 Biểu tượng của DevHub 30
Hình 1.6 Giao diện của SnapPeges 30
Hình 1.7 Giao diện của Webnode 31
Hình 1.8 Giao diện của WordPress 31
Hình 1.9 Giao diện của công cụ Google Sites 33
Hình 1.10 Giao diện đăng nhập tài khoản Gmail 33
Hình 1.11 Giao diện tạo website mới 33
Hình 1.12 Giao diện ban đầu của trang web 34
Hình 1.13 Giao diện quản lý trang web 35
Hình 1.14 Giao diện tạo trang mới 36
Hình 1.15 Giao diện soạn thảo văn bản 37
Hình 1.16 Cấu trúc chương "Nhóm Oxi" 38
Hình 2.1 Sơ đồ WebQuest đã thiết kế 42
Hình 2.2 Giao diện WebQuest bài Oxi 45
Hình 2.3 Giao diện phiếu đánh giá chung bài Oxi 48
Hình 2.4 Giao diện WebQuest bài Ozon và Hydro peoxit 51
Hình 2.5 Giao diện phiếu đánh giá cá nhân bài Ozon và Hydro peoxit 53
Hình 2.6 Giao diện WebQuest bài Lưu huỳnh 56
Hình 2.7 Giao diện phiếu đánh giá chung bài Lưu huỳnh 58
Hình 2.8 Giao diện WebQuest phần Lưu huỳnh đioxit 60
Hình 2.9 Giao diện phiếu đánh giá chung phần Lưu huỳnh đioxit 63
Hình 2.10 Giao diện WebQuest phần axit sunfuric 66
Hình 2.11 Giao diện phiếu đánh giá cá nhân phần axit sunfuric 68
Hình 2.12 Giao diện phiếu đánh giá chung phần Axit sunfuric 69
Hình 2.13 Một sản phẩm của HS trong phần lưu huỳnh đioxit 73
Hình 2.14 Đoạn phim HS làm thí nghiệm "thổi bong bóng" 74
Hình 2.15 Giao diện trò chơi ô chữ 74
Hình 2.16 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra nhóm 1 83
Hình 2.17 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra nhóm 2 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nước ta rất quan tâm đến sự phát triển của giáo dục,coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đảng nhận định rằng, muốn phát triểnthì cần phải đổi mới Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định “cần đổimới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xãhội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Đổi mới cũng cần hướng nền giáo dục vàđào tạo Việt Nam đến những chân trời mới của tri thức thế giới ngày nay Yếu tố quốc
tế phải luôn luôn được coi trọng hàng đầu vì xu thế hòa nhập toàn cầu, cạnh tranhquyết liệt ở thương trường năm châu không cho phép sự tồn tại của tư duy cục bộ, bản
vị, xơ cứng
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước: dạy học hướng vàongười học, ngày càng nhiều giáo viên (GV) tổ chức hoạt động dạy học theo phươngpháp seminar, hoạt động nhóm, dạy học theo dự án… Tất cả những phương pháp trênnhằm mục đích giúp HS chủ động tiếp cận kiến thức, tích cực tìm kiếm thông tin và từ
đó phát triển khả năng tư duy, khả năng tự học của bản thân Đúng theo tinh thần của
J A Komensky đã đề ra cho giáo dục ngay từ thế kỷ XVII: “Giáo dục có mục đíchđánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách, hãy tìm ra phươngpháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT),mạng lưới Internet phát triển rộng khắp đã trở thành một công cụ hỗ trợ tối đa cho nhucầu tìm kiếm thông tin của HS Tuy nhiên, việc tìm kiếm và xử lý thông tin trên mạngcủa HS không phải lúc nào cũng thuận lợi và đạt hiệu quả Lượng thông tin khổng lồtrên mạng khiến cho HS mất khá nhiều thời gian để tìm kiếm và thu thập Đồng thời
HS cũng dễ bị chệch hướng khỏi mục đích chính của đề tài Thêm vào đó, nhiều tàiliệu trực tuyến chứa nội dung không chính xác hoặc khó xác định mức độ tin cậy củathông tin, dẫn đến việc HS bị nhiễu còn GV lại phải mất nhiều thời gian để kiểm định
và đánh giá cho HS Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin đại trà trên mạng của HS có thểchỉ mang tính thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học
Để khắc phục những nhược điểm trên, năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại
(1) Xem định nghĩa trang 15
Trang 10tưởng của ông là đưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc lịch sử,dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ đề
đó trên cơ sở lập luận HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua nhữngnguồn tài liệu đã được GV lựa chọn từ trước WebQuest không yêu cầu HS có kỹ năng
về công nghệ thông tin (CNTT) cao, chỉ cần kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử
lý các thông tin dạng văn bản, có những kiến thức cơ bản trong thao tác với máy tính
và Internet WebQuest có thể sử dụng trong mọi môn học, ở tất cả các loại hình trườnghọc và rất thích hợp cho việc dạy học liên môn Mô hình này đang được các nước trênthế giới hưởng ứng và phát triển mạnh mẽ Ở Việt Nam, đã có một số khóa luận và
để phổ biến phương pháp này một cách rộng rãi trong các bộ môn nói chung và trongmôn hóa học nói riêng
Đó chính là những lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “VẬN DỤNGPHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp webquest trong dạy học – chương “Nhóm Oxi” (Hóa
học lớp 10 nâng cao) nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn hóa học ở THPT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
trường phổ thông
chương “Nhóm Oxi” - Hóa học 10 nâng cao
4 Nhiệm vụ của đề tài
Sites
nâng cao
(2) Xem định nghĩa trang 15
Trang 115 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
học tích cực cho HS THPT với nội dung nằm trong chương “Nhóm Oxi” (Hóa học lớp
6 Giả thuyết khoa học
dụng, đồng thời đề xuất cách vận dụng hợp lý để phục vụ cho phương pháp webquest sẽgiúp nâng cao hứng thú học tập của HS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóahọc ở trường THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
trường THPT Bùi Thị Xuân, TP HCM
cao
9 Điểm mới của đề tài
xuất lên mạng
phục vụ cho phương pháp học webquest
phần đánh giá HS
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Năm 1995 Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đãxây dựng Webquest trong dạy học Phương pháp này được tiếp tục phát triển bởi TomMarch (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ)
Bernie Dodge nhận thấy rằng Internet ngày càng phổ biến và việc thu thập, xử
lý thông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu, học tập cũng nhưtrong hầu hết các ngành nghề Tuy nhiên, việc truy cập thông tin một cách tự do trênmạng để đáp ứng yêu cầu trong dạy học của HS có những hạn chế như mất nhiều thờigian để tìm kiếm thông tin có chất lượng, HS dễ bị chệch hướng khỏi đề tài do lượngthông tin quá nhiều Để khắc phục nhược điểm, ông đã đề ra phương pháp webquest
và ý tưởng về WebQuest Đồng hành cùng với ông là Tom March - cũng là giảng viêntại trường đại học San Diego State Cả hai ông cùng nhau tạo ra những WebQuest vàcùng tiến hành thực nghiệm với các sinh viên (SV), cải tiến phương pháp, khắc phụcnhững nhược điểm Kể từ khi ra đời, WebQuest đã nhanh chóng trở thành một lànsóng phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt Brazil, Tây Ban Nha, TrungQuốc, Australia, Hà Lan, Mỹ là những nước rất quan tâm và phát triển mạnh phươngpháp này Bernie Dodge cũng đã tạo một trang web riêng (WebQuest.org) nhằm giớithiệu phương pháp webquest và cho phép mọi người tạo ra các WebQuest miễn phí tạiđây
Sau đó, Tom March nhận thấy rằng, việc GV xây dựng một WebQuest chấtlượng tốn rất nhiều thời gian và công sức trong khi việc dạy học phải đảm bảo sự liêntục Thấu hiểu điều trên, ông đã lập ra một trang web gọi là “BestWebQuest.com”, tậphợp tất cả những WebQuest trên thế giới và ông phân ra theo lĩnh vực, GV có thể vàođây chia sẻ và sử dụng các WebQuest như là một nguồn tài nguyên chung CácWebQuest đã được ông cùng các cộng sự kiểm tra về mặt nội dung để đảm bảo HS sẽphát triển được các mức tư duy theo thang phân loại của Bloom
Một đại diện khác của WebQuest nữa mà nếu không nhắc đến ông có lẽ là mộtthiếu sót lớn, đó chính là Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ông là một giáo sư về giáo dụctruyền thông tại Đại học Zurich và là giáo sư danh dự của ngành giáo dục và nghiêncứu tại Đại học Kassel Bernie Dodge và Tom March sáng tạo ra phương phápwebquest nhưng các ông chỉ dừng lại việc xây dựng các WebQuest cho từng bài riêng
Trang 13biệt, một chủ đề riêng mang tính lịch sử hoặc tính thời sự Đến Heinz Moser, ông đãđưa ra thêm một ý tưởng nữa vào năm 2000, đó chính là việc áp dụng WebQuest chonhiều bài trong cùng một chương, nhiều chương liên tiếp theo cách học xoắn ốc nhằmphát triển tri thức một cách vừa củng cố vừa liên tục Cuốn sách “Abenteuer Internet:Lernen mit WebQuests” có nội dung gồm những hiểu biết và khái niệm về WebQuest
do Heinz Moser biên soạn được tiếp nhận nồng nhiệt tại Đức
Riêng ở Việt Nam, khái niệm WebQuest cũng theo trào lưu du nhập vào nước ta
từ khoảng 2007 Có một số GV và một vài khóa luận đề cập đến phương phápwebquest Điển hình như các thầy cô trong nhóm thành viên của VVOB Việt Nam đãđưa vào trang web của mình một chuyên mục giới thiệu về WebQuest Các chị TrầnThị Tuyết Nhung, Phạm Thị Nhạn lớp CH K20 - SPKT trường đại học Sư Phạm HàNội cũng thiết kế riêng một trang web (music.easyvn.com) giới thiệu khá đầy đủ và cókèm ví dụ về WebQuest Ngoài ra còn có một vài khóa luận cũng nghiên cứu vềWebQuest:
- Vận dụng kỹ thuật WebQuest vào dạy học chương “Động lực học chất điểm” vật lý 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp (khuyết danh).
ở trường THPT”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia
Hà Nội
Đặc biệt, có một số giảng viên đại học đã áp dụng phương pháp webquest vàodạy học trên đối tượng SV và thu được những kết quả nhất định [6] Kết quả cácnghiên cứu đã cho thấy rằng phương pháp này ngày càng nhận được nhiều sự quantâm của nhà giáo dục Tuy nhiên, nó vẫn còn mới mẻ và chưa có sự phát triển rộng rãi
những ưu điểm của phương này cũng như cách thức và công cụ để tạo nên mộtWebQuest nhưng chưa tác giả nào tạo được một WebQuest một cách hoàn chỉnh, hoặc cótác giả đã tạo được nhưng lại chỉ lưu hành nội bộ Và một điều đặc biệt là các tác giả tạoWebQuest từ các phần mềm Microsoft Word, PowerPoint hay trên công cụ xây dựngweb: Microsoft Frontpage Nếu dùng Word, PowerPoint thì không mô tả hết tinh thầncủa WebQuest, còn dùng Frontpage thì đòi hỏi người thiết kế phải biết ngôn ngữ HTLM,rất khó khăn và tương đối phức tạp Nếu tìm trên mạng một WebQuest thì rất
Trang 14nhiều nhưng một WebQuest bằng tiếng Việt hoàn chỉnh thì hầu như không có, nhất làtrong lĩnh vực hóa học.
1.2 Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường
THPT
1.2.1. Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một “tập hợp đa dạng các công
cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin” [30].Các công nghệ này bao gồm phần cứng và mạng máy tính, các
phần mềm cần thiết, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến) và điện thoại.Thuật ngữ ICT ra đời vào năm 1997, trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửichính phủ Anh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của chương trìnhgiảng dạy của quốc gia Anh vào năm 2000
Riêng CNTT - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm
1995 và sau đó được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay, thật khó có thểhình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụngCNTT Nhiều chương trình đào tạo ở các trường đại học và phổ thông của các nước cónền giáo dục tiên tiến từ lâu đã sử dụng những chức năng của công nghệ vào tronggiảng dạy Đổi mới PPDH bằng CNTT cũng là một chủ đề lớn được UNESCO đưa rathành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cáchcăn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT
thị số 55/2008/CT - BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về tăngcường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 –
2012 Năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mớiquản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, Bộ Giáo dục và Đàotạo đã nêu rõ:
cập Tin học trong nhà trường
theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phương phápgiảng dạy, học tập ở các môn học
Trang 15Qua tham khảo các tài liệu [3],[28], tính đến năm 2009, đã có 20% GV trunghọc, 30% trường THPT, 25% trường THCS ứng dụng CNTT Trong đó, từ 2–5% sốbài giảng được sử dụng phần mềm dạy học và có ứng dụng CNTT.
Ứng dụng CNTT trong giảng dạy, không chỉ phát triển mạnh ở các thành phốlớn mà còn phát triển ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đãgóp phần đẩy nhanh tiến trình công bằng trong giáo dục Với sự trợ giúp của CNTT,việc dạy và học đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là các môn xã hội cho nhữngvùng ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin
Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nốimạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức Một số trường còn trang bị thêmthiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máyquét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụngvào quá trình dạy học của mình
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, đặc biệt là các phần mềm mã nguồn mởphục vụ cho giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể: Phần mềm văn phòng(OpenOffice.org), thư viện số (Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio), quản lýmạng lớp học (Mythware, i–Talc của Intel),… ngoài ra còn có hệ thống quản lý E-learning (Moodle, Dokeos) và các phần mền đóng gói, tiện ích khác
Qua tìm hiểu, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở nước ta trong những nămvừa qua đã có những ưu điểm và hạn chế nhất định.[24]
Ưu điểm
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh đoạn phim, ảnh chụp trênmáy quay… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo giáo
án vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
nhiên, xã hội con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhàtrường
việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet… có thể được khai thác để tạo
Trang 16nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập tronghoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặctrong giao lưu.
chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS cóthể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớncủa ICT trong quá trình đổi mới PPDH
Có thể khẳng định rằng, môi trường ICT chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới
sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
một mức độ nào đó, công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong cácbài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn
bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dungngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuậnlợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy
sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” nhưkhi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi GV phải kếthợp với phấn trắng bảng đen và các PPDH truyền thống mới rèn luyện được kỹ năng choHS
đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, PPDH cũ vẫncòn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong mộtthời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp
tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách
tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa cácPPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạn chế những nhược điểm củaPPDH truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã được
Trang 17đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và hiệu quả của nó.
ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập,chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổimới PPDH sử dụng CNTT (phương tiện chiếu projector,…) còn thiếu, chưa đồng bộ vàchưa hướng dẫn sử dụng nên khó triển khai rộng khắp, hiệu quả
dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền chậm Công tác đàotạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin họcnên GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng CNTT trong lớphọc một cách có hiệu quả
1.2.2 Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học
Hiện nay trên thế giới, người ta phân biệt rõ ràng hai hình thức ứng dụng ICTtrong dạy và học, đó là Computer Base Training (CBT: dạy dựa vào máy tính) và E-learning (học dựa vào máy tính).[3]
như máy chiếu, các thiết bị đa phương tiện để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến HS, kết hợpvới phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh, các tưliệu phim ảnh, sự tương tác giữa người và máy
soạn sẵn, hoặc xem những đoạn phim về tiết dạy của các GV hay trao đổi trực tuyến với
GV thông qua mạng Internet
Điểm khác biệt giữa E-learning và CBT là E-learning lấy người học làm trungtâm, người học tự làm chủ quá trình học tập của mình Còn CBT là hình thức hỗ trợcho GV, lấy người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ Ởnước ta hiện nay, ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH đã được nghiên cứu và thửnghiệm, trong đó có một số mô hình được đánh giá là thành công như “Teaching andLearning with computer” của công ty IBM và “Teaching to the Future” của công tyIntel
Trang 18Căn cứ vào tình hình thực tiễn và những thành tựu nêu trên, có thể nhận địnhrằng ngành giáo dục phổ thông nước ta chỉ đang phát triển ở hình thức CBT Vì vậy,phương hướng phấn đấu và phát triển tiếp theo sẽ là tích hợp ICT vào quá trình dạyhọc Đồng thời đổi mới dần PPDH và xây dựng một mô hình giáo dục hiện đại mới
phù hợp hơn, trong đó việc phát triển và đẩy mạnh sử dụng E-learning trong giáo dục
là mục tiêu cần đạt được Tuy nhiên, việc học theo E-learning (học thông qua mạng
Internet) lại còn quá mới mẻ so với HS THPT và không giúp HS hiểu được cặn kẽ vấn
đề Phương pháp webquest chính là sự kết hợp cả hai cách ứng dụng ICT trên, vừagiúp HS tự tiếp cận kiến thức thông qua mạng Internet và trang WebQuest, vừa giúp
HS hiểu sâu sắc vấn đề khi GV tổng kết, giải quyết những vấn đề HS hiểu lệch hoặcchưa hiểu tới ngay tại buổi báo cáo của HS
1.3 Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest
1.3.1 Khái niệm về phương pháp webquest
Từ khi ra đời cho đến nay, webquest được sử dụng rộng rãi trên thế giới, tronggiáo dục phổ thông cũng như đại học Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khácnhau về webquest Theo nghĩa hẹp, webquest được hiểu như một PPDH Theo nghĩarộng, webquest được hiểu như một mô hình, một quan điểm về dạy học có sử dụngmạng Internet Ở đây, chúng tôi xây dựng webquest theo nghĩa hẹp, tức là xem đâynhư một PPDH và gọi chung là “phương pháp webquest”
Từ đó, ta có thể định nghĩa như sau: “Phương pháp webquest là một PPDH,
trong đó HS tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS trình bày và đánh giá”[5] Song
song với phương pháp này, WebQuest cũng là bản thân đơn vị nội dung dạy học đượcxây dựng để sử dụng và là công cụ hỗ trợ cho phương pháp webquest chính là trangWebQuest được đưa lên mạng Như vậy, trong khóa luận này, chúng tôi thống nhất sửdụng thuật ngữ như sau:
Trang 19Trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc cách dùng thuật ngữ thống nhất chokhái niệm này Trong tiếng Anh, “Web” ở đây nghĩa là mạng, “Quest” là tìm kiếm,khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi phương phápwebquest là phương pháp “khám phá trên mạng” Như vậy, phương pháp webquest làmột dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet, thông qua các trangWebQuest và là một PPDH phức hợp.
Phương pháp webquest có thể chia thành hai loại: loại sử sụng các trangWebQuest lớn và loại sử dụng các trang WebQuest nhỏ WebQuest lớn xử lý một vấn
đề phức tạp trong một thời gian dài (có thể kéo dài đến 1 tháng), có thể coi như là một
dự án dạy học WebQuest nhỏ xử lý vấn đề trong thời gian ngắn, khoảng một vài tiếthọc (ví dụ 1 đến 2 tiết), HS xử lý một đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin
và xử lý chúng cho bài trình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lậpcấu trúc theo các tiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước của các em
Phương pháp webquest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học.Điều kiện chủ yếu là HS phải có kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý các thôngtin dạng văn bản Bên cạnh đó, HS cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tácvới máy tính và Internet Phương pháp webquest có thể sử dụng trong mọi môn học.Ngoài ra, phương pháp này còn rất thích hợp cho việc dạy học liên môn
1.3.2 Khái niệm trang WebQuest
WebQuest là một công cụ hỗ trợ cho phương pháp webquest, cũng là một thànhphần không thể thiếu khi dạy học theo phương pháp webquest HS sẽ thông qua trangWebQuest để tiếp cận chủ đề, nhiệm vụ cần thực hiện cũng như lấy thông tin qua cácđường dẫn liên kết và từ đó hoàn thành nhiệm vụ cùng nhóm của mình
Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào HS cũng có thể truy cập mạng Internet vàkhông phải GV nào cũng biết cách tạo một trang web thông qua các ngôn ngữ lập trìnhweb Chính vì thế, trong quá trình phát triển, tùy điều kiện mà các trang WebQuest cóthể thực hiện trên Microsoft Word, Excel, PowerPoint, hay trên Microsoft Frontpage,Microsoft Publisher,… Điều quan trọng là phải có các liên kết với những tài liệu khác,
và tài liệu này không nhất thiết phải là các trang web mà là bất kì nguồn tài liệu nàođược GV kiểm định có thể hỗ trợ để HS hoàn thành nhiệm vụ, chẳng hạn như các tàiliệu dạng tập tin pdf, word, đĩa CD, sách… Tuy nhiên, những trang WebQuest trênđược gọi là “WebQuest tĩnh”, chúng không thể xuất lên mạng mà chỉ lưu hành nội bộ,
Trang 20nằm dưới dạng tập tin đưa cho HS Và vì vậy, nó vẫn chưa mô tả hết tinh thần củawebquest, vẫn chưa phải là phương pháp dạy và học tích cực.
Như vậy, trang WebQuest vừa là một website vừa lại không phải là website Làmột website bởi lẽ, nó cũng có thể được đưa lên mạng, được dùng công cụ tạo web đểthiết kế Nó không phải là website bởi xét về mục đích, website là để mọi người truycập, tìm kiếm thông tin, còn WebQuest là công cụ để hỗ trợ cho HS khi học vớiphương pháp webquest
1.3.3. Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest
Dạy học với phương pháp webquest có những đặc điểm riêng khác với cácphương pháp khác:
- Chủ đề dạy học: chủ đề phải gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức
hợp, có thể là những tình huống lịch sử mang tính điển hình, hoặc những tình huống cótính thời sự Những tính huống này có thể được xem xét dưới nhiều phương diện khácnhau và có thể có nhiều quan điểm để giải quyết
- Định hướng hứng thú HS: Nội dung của chủ đề và PPDH phải định hướng
vào hứng thú, tích cực hoá động cơ học tập của HS
- Tính tự lực cao của người học: Quá trình học tập là quá trình tự điều khiển,
HS cần tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự điều khiển và tham gia vào quá trìnhkiểm tra, đánh giá HS sẽ chủ động tiếp cận và lĩnh hội kiến thức, tự giác hơn trong họctập, GV chỉ đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn
- Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc truy cập
mạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong phương pháp webquest HS cần lấy và
xử lý thông tin thông qua trang WebQuest nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra (tích cực) HScần có quan điểm riêng dựa trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề(kiến tạo)
- Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc trong
webquest chủ yếu là làm việc nhóm, do đó việc học tập mang tính xã hội và tương tác
HS có thể rèn luyện tính cộng đồng, biết trình bày quan điểm và lắng nghe phản hồi cũngnhư nhận xét quan điểm của bạn bè và của chính mình
- Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải quyết vấn
đề đặt ra HS cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểu nghiên cứu và khám phá.Những hoạt động điển hình của HS trong phương pháp webquest là tổng
Trang 21kết, đánh giá, hệ thống hóa, trình bày trong sự trao đổi với những HS khác HS cầnthực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy như: so sánh, phân loại, suy luận,kết luận, phân tích sai lầm, chứng minh…
1.3.4 Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest
Có nhiều dạng nhiệm vụ trong WebQuest, nhưng Bernie Dodge phân biệtnhững loại nhiệm vụ sau:
Tái hiện thông tin các thông tin (bài tập tường thuật): HS tìm kiếm những
thông tin, xử lý thông tin đó để trả lời các câu hỏi riêng rẽ và phải chứng tỏ được rằng
HS hiểu những thông tin đó Kết quả tìm kiếm thông tin sẽ được trình bày theo cách đaphương tiện (ví dụ bằng chương trình PowerPoint) hoặc thông qua các áp phích, cácbài viết ngắn,… (tùy theo yêu cầu của GV) Nếu chỉ là cắt dán mà không xử lý cácthông tin đã tìm được như tóm tắt, hệ thống hóa thì không phải phương phápwebquest
Tổng hợp thông tin: HS có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
và sau đó xử lý, liên kết, tổng hợp chúng trong một sản phẩm chung
Giải điều bí ấn: Việc đưa vào một điều bí ẩn là phương pháp làm cho người
học quan tâm, hứng thú hơn với đề tài Vấn đề là thiết kế một bí ẩn mà HS không thểtìm thấy lời giải của nó trên Internet, để giải nó HS sẽ phải thu thập thông tin từ nhữngnguồn khác nhau, lập ra các mối liên kết và rút ra kết luận
Bài tập báo chí: HS được giao nhiệm vụ với tư cách nhà báo tiến hành lập báo
cáo về những hiện tượng hoặc những cuộc tranh luận hiện tại cùng với những bối cảnhnền và tác động của chúng Để thực hiện nhiệm vụ này họ phải thu thập thông tin và
xử lý chúng thành một bản tin, một bài phóng sự, một bài bình luận hoặc một dạng bàiviết báo kiểu khác
Lập kế hoạch và thiết kế (nhiệm vụ thiết kế): HS phải tạo ra một sản phẩm
hoặc phác thảo kế hoạch cho một dự định Những mục đích và hướng dẫn chỉ đạo sẽđược miêu tả trong đề bài
Lập ra các sản phẩm sáng tạo (bài tập sáng tạo): Nhiệm vụ của người học là
chuyển đổi những thông tin đã xử lý thành một sản phẩm sáng tạo, ví dụ một bứctranh, một tiết mục kịch, một tác phẩm châm biếm, một tấm áp phích, một trò chơi,một nhật ký mô phỏng hoặc một bài hát…
Trang 22Lập đề xuất thống nhất (nhiệm vụ tạo lập sự đồng thuận): Những đề tài
nhất định sẽ được thảo luận theo cách tranh luận Mọi người sẽ ủng hộ các quan điểmkhác nhau trên cơ sở các hệ thống giá trị khác nhau, các hình dung khác nhau vềnhững điều kiện và hiện tượng nhất định, dẫn đến sự phát triển một đề xuất chung chomột nhóm thính giả cụ thể (có thực hoặc mô phỏng)
Thuyết phục những người khác (bài tập thuyết phục): Người học phải tìm
kiếm những thông tin hỗ trợ cho quan điểm lựa chọn, phát triển những ví dụ có sứcthuyết phục về quan điểm tương ứng Ví dụ bài trình bày trước một ủy ban, bài thuyếttrình trong phiên xử tại tòa án (mô phỏng), viết các bức thư, các bài bình luận hoặc cáccông bố báo chí, lập một áp phích hoặc một đoạn phim, trong khi đó vấn đề sẽ luônluôn là thuyết phục những người được đề cập
Tự biết mình (bài tập tự biết mình): Những bài tập kiểu này đòi hỏi người
học xử lý những câu hỏi liên quan đến bản thân cá nhân mình mà các câu hỏi đó không
có những câu trả lời nhanh chóng HS có thể suy ra từ việc xem xét các mục tiêu cánhân, những mong muốn về nghề nghiệp và các triển vọng của cuộc sống, các vấn đềtranh cãi về đạo lý và đạo đức, các quan điểm về các đổi mới kỹ thuật, về văn hoá vànghệ thuật
Phân tích các nội dung chuyên môn (bài tập phân tích): Người học phải xử
lý cụ thể hơn với một hoặc nhiều nội dung chuyên môn, để tìm ra những điểm tươngđồng và các khác biệt cũng như các tác động của chúng
Đề ra quyết định (bài tập quyết định): Để có thể đưa ra quyết định, phải có
thông tin về nội dung cụ thể và phát triển các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyết định.Các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyết định có thể được cho trước, hoặc người họcphải phát triển các tiêu chuẩn của chính mình
Điều tra và nghiên cứu (bài tập khoa học): HS tiến hành một nhiệm vụ
nghiên cứu thông qua điều tra hay các phương pháp nghiên cứu khác Ở kiểu bài tậpnày, cần tìm ra một nhiệm vụ với mức độ khó khăn phù hợp
1.3.5. Cấu trúc chung của WebQuest
Một WebQuest thường có cấu trúc chung gồm sáu mục:
Trang 23Hình 1.1 Cấu trúc chung của một WebQuest
Giới thiệu: GV giới thiệu chủ đề của bài học, việc giới thiệu phải tạo một động
lực để kích thích HS
Nhiệm vụ: GV giới thiệu tình huống và nhiệm vụ của từng nhóm Nhiệm vụ
phải thú vị, có ý nghĩa Tạo nhiệm vụ chính là phần mang tính sáng tạo nhất củaWebQuest và cũng là phần khó khăn nhất
Tiến trình: GV đưa ra các bước cơ bản HS cần thực hiện để hoàn thành nhiệm
vụ và hệ thống câu hỏi định hướng HS tìm hiểu để đi đến giải quyết nhiệm vụ củamình
Nguồn tư liệu: GV tìm các trang tài liệu có liên quan đến chủ đề, giúp HS có
thể giải quyết được vấn đề
Đánh giá: GV đưa ra các tiêu chí đánh giá, hình thức đánh giá (đánh giá theo
nhóm, đánh giá cá nhân, tự đánh giá, GV đánh giá…) và cách thức để HS đánh giá.Các tiêu chí đánh giá cần rõ ràng, cụ thể và bám sát vào nội dung sản phẩm mà HSthực hiện
Kết luận: GV chốt lại vấn đề của bài học.
1.3.6. Quy trình thiết kế một WebQuest
Qua tham khảo tài liệu [5], chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế một WebQuest như sau:
Trang 241 TẠO KHUNG TRANG WEBQUEST
2.CHỌN CHỦ ĐỀ
6.THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH
8.TRÌNH BÀY TRANG WEB
9.THỰC NGHIỆM
10.ĐÁNH GIÁ, SỬA CHỮA
Hình 1.2 Sơ đồ quy trình thiết kế trang WebQuest
- Bước 1: Tạo khung trang WebQuest Tạo trang web và cấu trúc chung của một
WebQuest Có thể dùng nhiều công cụ như: Microsoft Word, Excel, PowerPoint,Microsoft Frontpage, Microsoft Publisher, các công cụ tạo website miễn phí, các dịch vụtạo website…
- Bước 2: Chọn chủ đề Chủ đề cần phải có mối liên kết rõ ràng với những nội
dung được xác định trong chương trình dạy học Chủ đề có thể là một vấn đề quan trọngtrong xã hội, đòi hỏi HS phải tỏ rõ quan điểm Quan điểm đó không thể được thể hiệnbằng những câu trả lời như “đúng” hoặc “sai” một cách đơn giản mà cần lập luận quanđiểm trên cơ sở hiểu biết về chủ đề Những câu hỏi sau đây cần trả lời khi quyết định chủđề:
Trang 25• Chủ đề có gắn với tình huống, vấn đề thực tiễn không ?
Sau khi quyết định chọn chủ đề, cần mô tả và giới thiệu chủ đề với HS Đề tàicần được giới thiệu một cách ngắn gọn, dễ hiểu để HS có thể làm quen với một đề tàikhó
- Bước 3: Xác định mục đích Cần xác định một cách rõ ràng những mục tiêu,
yêu cầu đạt được trong việc thực hiện WebQuest Các yêu cầu cần phù hợp với HS và cóthể đạt được, đồng thời phải mang tính giáo dục
- Bước 4: Tìm nguồn tài liệu học tập GV tìm các trang web, các tài liệu có liên
quan đến chủ đề, lựa chọn những tài liệu thích hợp để đưa vào liên kết trong WebQuest.Đối với từng nhóm bài tập riêng rẽ cần phải tìm hiểu, đánh giá và hệ thống hóa cácnguồn đã lựa chọn thành dạng các địa chỉ Internet (URL) Giai đoạn này thường đòi hỏinhiều công sức Bằng cách đó, người học sẽ được cung cấp các nguồn trực tuyến để ápdụng vào việc xử lý và giải quyết các vấn đề Những nguồn thông tin này được kết hợptrong tài liệu WebQuest hoặc có sẵn ở dạng các siêu liên kết tới các trang web bên ngoài.Ngoài các trang web, các nguồn thông tin tiếp theo có thể là các thông tin chuyên mônđược cung cấp qua Email, CD hoặc các ngân hàng dữ liệu kỹ thuật số (ví dụ các từ điểntrực tuyến trong dạy học ngoại ngữ) Điều quan trọng là phải nêu rõ nguồn tin đối vớitừng nội dung công việc và trước đó các nguồn tin này phải được GV kiểm tra về chấtlượng để đảm bảo tài liệu đó là đáng tin cậy
- Bước 5: Xác định nhiệm vụ Để đạt được mục đích của hoạt động học tập, HS
cần phải giải quyết một nhiệm vụ hoặc một vấn đề có ý nghĩa và vừa sức Vấn đề hoặcnhiệm vụ phải cụ thể hóa đề tài đã được giới thiệu Nhiệm vụ học tập cho các nhóm làthành phần trung tâm của WebQuest Nhiệm vụ định hướng cho hoạt động của HS, cầntránh những nhiệm vụ theo kiểu ôn tập, tái hiện thuần túy Như vậy, xuất phát từ một vấn
đề chung cần phải phát biểu những nhiệm vụ riêng một cách ngắn gọn và rõ ràng Nhữngnhiệm vụ cần phong phú về yêu cầu, về phương tiện có thể áp dụng, các dạng làm bài.Thông thường, chủ đề được chia thành các tiểu chủ đề nhỏ hơn để từ đó xác định nhiệm
vụ cho các nhóm khác nhau Các nhóm cũng có thể có nhiệm vụ giải quyết vấn đề từnhững góc độ tiếp cận khác khau
- Bước 6: Thiết kế tiến trình Sau khi đã xác định nhiệm vụ của các nhóm HS,
cần thiết kế tiến trình thực hiện nhiệm vụ Trong đó đưa ra những chỉ dẫn, hỗ trợ cho
Trang 26quá trình làm việc của HS Tiến trình thực hiện nhiệm vụ thường có: xem chủ đề, xácđịnh nhiệm vụ và trả lời các câu hỏi hướng dẫn, xem nguồn thông tin, thực hiện vàtrình bày sản phẩm.
- Bước 7: Thiết kế đánh giá Gồm thiết kế hình thức đánh giá, tiêu chí đánh giá
và cách thức đánh giá Các tiêu chí đánh giá phải rõ ràng, đầy đủ, thuộc nhiều hình thứcđánh giá (đánh giá theo cá nhân, theo nhóm…) để phần đánh giá được chính xác Phầnđánh giá cá nhân có thể dùng bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận… để rèn luyện khả nănggiải bài tập của HS Cần có thời hạn đánh giá cụ thể Về cách thức đánh giá, có thể cho
HS văn bản có sẵn các tiêu chí đánh giá, HS hoàn tất và gửi lại GV sau buổi báo cáo hoặcdùng các cách thức đánh giá trực tuyến hay trao đổi qua thư điện tử, lập một diễn đàn…
- Bước 8: Trình bày trang WebQuest Các nội dung đã được chuẩn bị trên đây
có thể thiết kế dưới dạng văn bản, bây giờ cần sử dụng để trình bày WebQuest TrangWebQuest đã được chuẩn bị sẵn về cấu trúc, các nội dung đã hoàn tất chỉ cần chép vàdán trực tiếp vào trang web Sau đó là chỉnh sửa các liên kết, kiểu chữ, màu sắc chữ, chènthêm hình ảnh cho trang WebQuest thêm sống động và ấn tượng hơn
- Bước 9: Thực nghiệm WebQuest Sau khi đã hoàn tất lần thứ nhất về trang
WebQuest, tiến hành khảo sát với các GV và giáo sinh, thực nghiệm với HS để đánh giá
và sửa chữa…
- Bước 10: Đánh giá, sửa chữa Dựa trên kết quả phản hồi, tiến hành sửa chữa
WebQuest để hoàn chỉnh hơn
1.3.7 Tiến trình thực hiện dạy học bằng phương pháp webquest
Tiến trình dạy học với phương pháp webquest gồm sáu bước:
- Nhập đề: GV giới thiệu chủ đề Thông thường, một WebQuest bắt đầu với việc
đặt ra tình huống có vấn đề thực sự đối với người học, tạo động cơ cho người học sao cho
họ tự muốn quan tâm đến đề tài và muốn tìm ra một giải pháp quyết vấn đề
- Xác định nhiệm vụ: HS được giao các nhiệm vụ cụ thể Cần có sự thảo luận
với HS để HS hiểu nhiệm vụ, xác định được mục tiêu riêng, cũng như có những bổ sung,điều chỉnh cần thiết Tính phức tạp của nhiệm vụ phụ thuộc vào đề tài và trước tiên làvào nhóm đối tượng Thông thường, các nhiệm vụ sẽ được xử lý trong các nhóm
Trang 27- Hướng dẫn nguồn thông tin: GV hướng dẫn nguồn thông tin để xử lý nhiệm
vụ, chủ yếu là những trang trong mạng Internet đã được GV lựa chọn và liên kết, ngoài ra
có thể có những chỉ dẫn về các tài liệu khác
- Thực hiện: HS thực hiện nhiệm vụ trong nhóm GV đóng vai trò tư vấn HS có
thể tham khảo ý kiến của GV khi cần
- Trình bày: HS trình bày các kết quả của nhóm trước lớp, sử dụng PowerPoint
hoặc tài liệu văn bản,… (tùy theo yêu cầu của GV trong mục “nhiệm vụ”), có thể đưa lênmạng
- Đánh giá: Đánh giá kết quả, tài liệu, phương pháp và thái độ học tập thông qua
các phiếu đánh giá trực tuyến trong WebQuest Có thể sử dụng các hình thức ghi lại quátrình thực hiện để hỗ trợ, sử dụng đàm thoại, phiếu điều tra… HS cần được tạo cơ hội suynghĩ và đánh giá một cách có phê phán Việc đánh giá tiếp theo do GV thực hiện
1.3.8 Các tiêu chí để đánh giá nội dung một WebQuest
Chất lượng của WebQuest phụ thuộc vào ý tưởng Vì vậy khi thiết kế, phải kiểm tra xem các tiêu chí sau có đạt được hay không:
thú, phức tạp, thách thức, là phiên bản thu nhỏ của các công việc mà người lớn đang thựchiện ngoài xã hội
các kỹ năng tư duy ở mức độ cao như tổng hợp, phân tích, giải quyết tình huống, sáng tạo
và đưa ra quyết định chứ không chỉ đơn thuần là làm những bài tập đã có sẵn đáp án haychỉ đọc bài rồi trả lời đúng sai
Nguồn trong một Webquest phải dựa trên các thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vựctrong cuộc sống và được cập nhật thường xuyên Trong điều kiện không có Internet, GV
có thể tải các trang web này về sẵn trong máy tính, hoặc sử dụng các nguồn tư liệu khác(Word, Excel, sách, báo chí, CD ) Điều quan trọng là các tư liệu này là các tư liệu
“sống” chứ không phải chỉ là các bài giảng của GV hay những bài đã được kiểm định kỹcàng trong sách giáo khoa (SGK) WebQuest là một dạng bài tập giao cho HS, HS phảinghiên cứu nguồn tài liệu “sống” do GV cung cấp và vận dụng những kỹ năng tư duy ởmức độ cao để hoàn thành nhiệm vụ mà GV đưa ra
Trang 281.4 Giới thiệu một số công cụ tạo website trực tuyến
Có hai cách phổ biến để tạo một website Cách thứ nhất, người dùng mua vàđăng kí một Web Host, sau đó tự làm các trang web dựa vào ý thích Muốn lập đượcweb theo cách này, người sử dụng phải biết tương đối kiến thức về ngôn ngữ lập trìnhweb Cách thứ hai, người dùng sử dụng các trang (công cụ) cung cấp sẵn để đăng kýmột website, hoặc có thể chọn cho mình các mẫu web có sẵn mà một số trang cungcấp Đối với những người chưa học qua về ngôn ngữ lập trình web thì cách thứ hai đơngiản và tiện lợi hơn nhiều Trong khóa luận này, chúng tôi xin trình bày một số công
cụ tạo web trực tuyến miễn phí, phù hợp với đối tượng không chuyên
1.4.1. Google Sites (https:// site s google com/)
Hình 1.3 Biểu tượng của Google Sites
Google Sites là một ứng dụng của Google dùng để tạo một trang web miễn phí,xuất hiện lần đầu vào ngày 28 tháng 02, năm 2008 Nó được thay thế cho Google PageCreator - một dịch vụ cho phép tạo các trang đơn giản trước đây của Google Người sửdụng có thể tạo một trang web cho cá nhân (giáo viên, nhà văn, nhà thơ, sinh viên ),một tập thể như lớp học hay một câu lạc bộ, thậm chí cho một cơ quan Trang web lậptrên Google Sites có ưu điểm là rất dễ lập và chạy rất nhanh, tồn tại mãi với tài khoảnGmail của người tạo Một tài khoản của Google có thể tạo được rất nhiều trang web,mỗi trang web Google Sites cung cấp 100MB dung lượng Hơn nữa, việc tạo một trangweb dễ dàng như chỉnh sửa tài liệu, cho phép chèn hình ảnh, đoạn phim và các tiện íchvào web giúp sinh động hơn, chẳng hạn: Google Calendar, Google NewsShow, Clock
Flash động vào web thông qua tiện ích Include gadget (Iframe) Ngoài ra, dịch vụ còn
cung cấp tính năng HTML để người dùng có thể chỉnh sửa trang web theo ý muốn nhưng
tính năng này vẫn còn giới hạn, tức là không cho phép nhúng vào các đối tượng: frame,
embed, styles, scrip Một kinh nghiệm giúp tăng dung lượng lưu trữ là đăng ký nhiều tài
khoản tại đây rồi tạo ra một mẫu web cho các tài khoản ấy và liên
Trang 29kết chúng với nhau Tác giả luôn có thể kiểm soát truy cập áp dụng cho chính bảnthân, nhóm của mình, hoặc toàn bộ tổ chức Trang web tạo ra có thể xuất trên thế giới,mọi người sẽ truy cập được từ bất kì máy tính nào có kết nối Internet và bất kì lúc nào.Ngoài ra, quản trị viên có thể quản lý quyền chia sẻ, truy cập trang web trong cùngnhóm cũng như thu hồi quyền truy cập web ở bất kỳ thời điểm nào.
Tuy nhiên, Google Sites vẫn có một số hạn chế nhất định Các giao diện đượccung cấp sẵn và rất phong phú nhưng không thể chỉnh sửa, tác động hoặc thay đổi.Người tạo chỉ có thể thay đổi những thứ đơn giản như kiểu chữ, màu sắc… nhưng kiểuchữ và cỡ chữ cũng khá hạn chế Các giao diện phong phú nhưng giao diện đẹp và ấntượng thì lại không nhiều
1.4.2. Wix.com ( http://wix.com )
Wix thật sự là một công cụ tạo web flash cực tốt cho cả các đối tượng cá nhânlẫn doanh nghiệp Các thao tác sử dụng (hỗ trợ kéo - thả) vô cùng đơn giản, load flashcực nhanh, có thể tạo nhiều trang tùy ý và cho phép chèn vô số các đối tượng đaphương tiện như hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim, văn bản, google maps…
Hình 1.4 Biểu tượng của Wix.com
Trang 301.4.3. DevHub ( http://www.devhub.com/ )
Hình 1.5 Biểu tượng của DevHub
DevHub là công cụ đa năng cho phép người dùng tạo website một cách đơngiản nhất có thể không cần nhiều kiến thức về lập trình HTLM vẫn có thể làm được.Điểm đặc sắc của DevHub so với các dịch vụ khác là người quản trị có thể kiếm tiền
từ trang web của mình Bên cạnh đó là chức năng nhập thông tin, bài viết có mộtkhông hai từ tài khoản của người sử dụng ở các dịch vụ blog nổi tiếng như: wordpress,Blogger, Typepad hay Tumblr về trang web của chính người dùng ở DevHub
1.4.4 SnapPages ( http://www.snappages.com/learnmore )
Đây là dịch vụ được giới chuyên môn đánh giá là dịch vụ tạo website trực tuyến
có thao tác dễ dàng nhất
Hình 1.6 Giao diện của SnapPeges
Chỉ cần kéo và thả các đối tượng vào một trang có sẵn sao cho vừa ý, sau đóxuất ra website thành phẩm Tuy nhiên, SnapPages không hỗ trợ tiếng Việt và chỉ tạođược tối đa 5 trang nhỏ trong một trang web chính
Trang 311.4.5. Webnode ( http://www.webnode.com/ )
Hình 1.7 Giao diện của Webnode
Tương tự các dịch vụ trên, Webnode cung cấp một ứng dụng xây dựng websitetrực tuyến trực quan, sinh động với 3 tùy chọn tạo trang chỉ trong khoảng 5 phút là:Personal website (web cá nhân), Business website (web doanh nghiệp) và E-Commerce (web bán hàng - thương mại điện tử) Với mỗi nhóm chức năng tạo trangriêng biệt được xây dựng với độ hoàn thiện cao nhất, Webnode không hề thua kém bất
kỳ các dịch vụ nào kể trên Tính đến nay đã có hơn 2000000 cá nhân, doanh nghiệp đủmọi ngành nghề tham gia xây dựng web trên Webnode cũng đủ để thầy tiềm năng pháttriển của dịch vụ này
Webnode có một giao diện mà có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với Microsoft Word
và nó cực kỳ dễ sử dụng Nếu quen với sử dụng Word, có thể dễ dàng làm quen vớiWebnode trong vài phút Webnode là chương trình trực quan có nội dung quản lý hệthống mạnh mẽ và hấp dẫn người sử dụng với một giao diện thân thiện
1.4.6. WordPress ( www.wordpress.com )
Hình 1.8 Giao diện của WordPress
Trang 32WordPress là một mã nguồn mở miễn phí Tác giả của WordPress có một câuslogan nổi tiếng là “Viết code như làm thơ” Câu nói đó phần nào phản ảnh cách thứchoạt động của WordPress và tác động của nó đối với người sử dụng Trên thế giới hiện
có hơn 200 triệu blog, website sử dụng mã nguồn này
Tuy nhiên, WordPress thích hợp nhất vào việc xuất bản nội dung kiểu nhómnhỏ (viết Blog) Với mã nguồn nhỏ gọn, tinh giản tối đa khiến nó gặp khó khăn khiđáp ứng các yêu cầu mở rộng như sự tương tác giữa các thành viên, quản lý thànhviên, diễn đàn,…
1.5 Sử dụng Google Sites để thiết kế WebQuest
Có khá nhiều công cụ tạo web miễn phí nhưng chúng tôi chọn Google Sites đểtạo WebQuest vì nó có những ưu điểm nổi bật sau:
vào Gmail của tác giả là ở ngôn ngữ nào
liệu hướng dẫn sử dụng, chỉnh sửa càng đầy đủ và chi tiết bao nhiêu thì việc sử dụng vàphát triển web càng dễ dàng bấy nhiêu Khi cần tra cứu, yếu tố này sẽ giúp tiết kiệmnhiều công sức, thời gian
bên liên kết các nội dung lại với nhau
Để tạo một website bằng Gogole Sites, cần thực hiện ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Tạo tài khoảng Google (dành cho người chưa có gmail) Để tạo trang web
trên Google Sites cần phải đăng kí tài khoảng trên Google Điều này có thể thực hiệnthông qua việc tạo một tài khoản theo địa chỉ: www.mail.google.com
Bước 2: Tạo trang web.
- Trước hết, truy cập vào link này để tạo một website:
http://www.google.com/sites/help/intl/en/overview.html
Trang 33Hình 1.9 Giao diện của công cụ Google Sites
Tiếp tục chọn vào “Get Started” để bắt đầu đăng kí Khi màn hình hiện ra một cửa sổ mới, nhập tài khoảng gmail, sau đó chọn “đăng nhập” Sau khi chọn “đăng nhập”, một cửa sổ sẽ hiện ra với danh sách tất cả các website mà người dùng đã từng tạo (hoặc trống nếu chưa tạo website trước đó) Nhấn nút “Tạo” để tạo một website
mới
Hình 1.10 Giao diện đăng nhập tài khoản Gmail
Hình 1.11 Giao diện tạo website mới
Trang 34Điền tên trang web muốn tạo vào ô: “Đặt tên trang web của bạn” Khi đó, tên
website sẽ có dạng: https://sites.google.com/site/ “ten site” Tên trang web này hoàntoàn có thể thay đổi được Có thể chọn giao diện trống (Blank Template) hoặc theomột mẫu cho trước bằng cách lựa chọn các mẫu được liệt kê trên giao diện, hay vào
“Duyệt qua thư viện để xem thêm” chọn giao diện mà mình thích Sau đó, nhập mã
mà trang web hiển thị để hoàn tất
Cuối cùng, nhấn vào ô “Tạo” để kết thúc việc tạo website.
Bước 3: Chỉnh sửa Site.
Khi chọn giao diện, trang web hiện ra là một trang web hoàn chỉnh của một tácgiả nào đó đã thực hiện Người tạo phải tiến hành chỉnh sửa để phù hợp với nội dungmong muốn
Hình 1.12 Giao diện ban đầu của trang web
web” Lúc này màn hình hiện lên một cửa sổ của quản lý trang web, gồm nhiều
mục:
+ Hoạt động gần đây: Hiển thị tất cả những thay đổi mà người quản trị đã thao
tác
+ Trang: Bao gồm các trang đã tạo hoặc sẵn có và bố cục sắp xếp của nó Người
tạo có thể giữ chuột để di chuyển vị trí của các trang
+ Tài liệu đính kèm: Bao gồm các tập tin, hình ảnh có trong trang web.
Trang 35+ Mục đã xóa: Bao gồm những trang đã xóa, có thể khôi phục lại hoặc xóa nó
vĩnh viễn
+ Chung: Phần này hỗ trợ cho phép thay đổi tên trang web, mô tả sơ lược về
trang web, hiện cảnh báo dành cho người lớn hay nếu không thích có thể xóa trang webnày đi Người làm cũng có thể chỉnh sửa ngôn ngữ hiển thị của trang web, cho phép đốitượng có thể truy cập vào trang web hay chọn những người quản trị trang web
+ Chia sẻ quyền: Mục này cho phép chia sẻ trang web với bạn bè trong nhóm
hoặc xuất ra trên Internet, thay đổi người quản trị trang web
+ Bố cục trang web: Bao gồm đầu trang, thanh bên và chân trang hệ thống.
cùng của trang web
Chọn “chỉnh sửa” để thay đổi nội dung hiển thị Chọn “thêm mục thanh bên” để đưa
thêm một thanh hiển thị bên khác
+ Màu và phông chữ: Cho phép chỉnh sửa màu sắc, kiểu chữ, kích cỡ chữ…
+ Chủ đề: Mục này cho phép thay đổi giao diện, có nhiều giao diện khác nhau hiển thị, nếu không thêm giao diện, chọn vào “duyệt các chủ đề khác”.
Hình 1.13 Giao diện quản lý trang web
Trang 36- Tạo trang mới Chọn biểu tượng ở thanh công cụ, tại đây sẽ cho phép tạo
trang mới, đặt tên và chọn vị trí của trang mới, nhấn nút “tạo” sau đó nhấn nút
“lưu” để hoàn tất.
Hình 1.14 Giao diện tạo trang mới
- Sửa đổi nội dung trên một trang bất kì Chọn trang cần chỉnh sửa, nhấp vào biểu
nội dung cũ…
- Sử dụng thanh menu trong soạn thảo văn bản Thanh menu gồm 4 mục:
lục, bảng tính…
lề
- Sử dụng thanh công cụ khi soạn thảo Thanh công cụ có các nút: Hoàn tác,
Làm lại, Ô chọn phông chữ, Ô chọn cỡ chữ, Đậm, Nghiêng, Gạch dưới, Màu văn bản,Màu nền văn bản, Thêm hoặc xóa liên kết, Danh sách được đánh số, Danh sách có dấuđầu dòng, Tăng thụt lề, Giảm thụt lề, Canh trái, Canh giữa, Canh phải, Xóa định dạng,Chỉnh sửa nguồn HTML
Trang 37Sau khi hoàn tất văn bản, nhấn chọn “lưu” để lưu nội dung hoặc “hủy” để hủy
bỏ
Hình 1.15 Giao diện soạn thảo văn bản
1.6 Nội dung, phương pháp dạy học chương “Nhóm Oxi”
1.6.1 Giới thiệu nội dung chương “Nhóm Oxi”
1.6.1.1 Mục tiêu chung của chương
tự nhiên (ô nhiễm không khí, đất, nước, sự phá hủy tầng ozon, mưa axit,…)
phương pháp cân bằng electron hoặc cân bằng Oxi hóa
Tình cảm, thái độ
1.6.1.2 Cấu trúc chương “Nhóm Oxi”
Khái quát về nhóm
Trang 38Vị trí nhóm Oxi trong BHTTTCấu tạo nguyên tử củacác nguyên tốTính chất của các nguyên tố
trong nhómCấu tạo phân tử
Tính chất vật lý,trạng thái tự nhiênTính chất hóa họcỨng dụng, điều chế
Ozon Cấu tạo phân tử
Hydro
Tính chất
Ứng dụngpeoxit
Cấu tạo phân tửTính chất vật lý,Ảnh hưởng của nhiệt
độ Tính chất hóa họcỨng dụng
Sản xuất lưu huỳnhCấu tạo phân tửTính chất vật lýTính chất hóa họcTrạng thái tự nhiên, điều chếTính chất của muối sunfuaLưu
Cấu tạo phân tửhuỳnh
Tính chất vật lýTính chất hóa học
Lưu huỳnh
trioxit Ứng dụng
Trang 401.6.2 Nguyên tắc sư phạm khi giảng dạy chương “Nhóm Oxi”
Chương 6 “Nhóm Oxi” tập hợp những bài giảng về các nguyên tố và chất hóa học, khi giảng dạy cần bảo đảm các nguyên tắc sư phạm cơ bản sau:
Quá trình nhận thức của HS được thực hiện theo con đường từ trực quan sinh động đếnbiểu tượng và hình thành khái niệm Chỉ từ sự quan sát các chất thực, các mẫu chất, môhình, thí nghiệm, hình vẽ sinh động, HS mới có thể biểu tượng hóa đúng đắn và hiểu đầy
đủ về tính chất của các chất và quá trình biến đổi chúng Nhờ đó kiến thức được khắc sâuvào trí óc của HS
theo sự biến đổi qua lại lẫn nhau Các chất chỉ thể hiện tính chất của mình thông qua sựbiến đổi, tương tác với các chất khác
hiểu sâu sắc các kiến thức, đồng thời thông qua đó rèn luyện các thao tác tư duy Nhiệm
vụ chính của GV cần làm rõ các mối quan hệ:
tăng ý thức và kinh nghiệm bảo vệ môi trường và thiên nhiên
Chương 6 “Nhóm Oxi” là chương cuối cùng nghiên cứu về các chất cụ thểtrong chương trình Hóa học 10 và cũng là chương đặc biệt có các kiến thức kế thừa từ
phải nắm được các kiến thức mà HS đã được học để tiếp tục phát triển cao hơn tránhtrùng lặp Đồng thời, GV cần triệt để khai thác các lý thuyết chủ đạo, vận dụng cáckiến thức về nguyên tử, liên kết hóa học,… hướng dẫn HS tìm hiểu các nội dung trongchương Phương pháp trực quan kết hợp với phương pháp dùng lời được xem là kinhđiển khi giảng dạy các bài về chất Sự phối hợp thường xuyên các phương pháp nàytheo hình thức minh họa hoặc nghiên cứu là để góp phần tích cực hóa hoạt động nhậnthức và tăng hứng thú học tập cho HS Từ kinh nghiệm của nhiều thầy cô, việc phốihợp các phương pháp sau sẽ phù hợp để giảng dạy các kiến thức trong chương: