Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD – ĐT ban hành tháng 08/2015 [21], đã đề cập đến quan niệm DHTH như sau “dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS p
Trang 1HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH KHOA
VẬT LÝ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Vật lý
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến Th.s Lê Hải Mỹ Ngân,người đã luôn ở bên cạnh em trong suốt thời gian vừa qua, tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ vàđộng viên để em có thể hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường THPT chuyên Lê Hồng PhongTp.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình hỗ trợ cho tôi nghiên cứu khi thực tập
sư phạm tại trường sở tại
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã nhiệt tình tham gia phỏngvấn, thực hiện khảo sát, cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết trong quá trình tôinghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Cuối cùng, tôi sẽ không thể nào hoàn thành luận văn nếu thiếu sự đồng hànhcủa gia đình và bạn bè của tôi, tập thể sinh viên lớp Lý 4B khóa 38, luôn tạo động lựcgiúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm
2016
Sinh viên
Trần Thanh Thảo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU vii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 1
1.1 Khái niệm 1
1.1.1 Tích hợp 1
1.1.2 Dạy học tích hợp 1
1.1.3 Năng lực – Phẩm chất 2
1.1.4 Chủ đề tích hợp 4
1.2 Tình hình vận dụng dạy học tích hợp 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 5
1.3 Ưu điểm của dạy học tích hợp 6
1.3.1 Đối với học sinh 6
1.3.2 Đối với giáo viên 10
1.4 Khó khăn của dạy học tích hợp 11
1.4.1 Nội dung chương trình 11
1.4.3 Đối với giáo viên 12
1.4.4 Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam 12
1.5 Nguyên tắc của dạy học tích hợp 13
1.6 Các mức độ của dạy học tích hợp 14
1.6.1 Truyền thống 14
1.6.2 Kết hợp, lồng ghép 15
1.6.3 Nội môn 15
1.6.4 Đa môn 15
1.6.5 Liên môn 16
1.6.6 Xuyên môn 16
1.7 Kết luận 16
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT SUY NGHĨ CỦA SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 18
Trang 42.3 Tình hình thực hiện của giáo viên 20
2.3.1 Ở bậc trung học phổ thông 20
2.3.2 Ở bậc Đại học 21
2.4 Thực hiện khảo sát sinh viên và giáo viên 21
2.4.1 Mục tiêu khảo sát 21
2.4.2 Đối tượng, cách thức và thời gian khảo sát 21
2.4.3 Nội dung khảo sát 22
2.4.4 Kết quả khảo sát và nhận xét 23
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP – MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 27
3.1 Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp 27
3.1.1 Rà soát chương trình 27
3.1.2 Lựa chọn chủ đề 28
3.1.3 Xác định vấn đề – Tạo tình huống thực tiễn 29
3.1.4 Xác định kiến thức của chủ đề 30
3.1.5 Xây dựng mục tiêu của chủ đề 30
3.1.6 Xây dựng tiến trình giảng dạy cho chủ đề 30
3.1.7 Tổ chức dạy học và đánh giá lại chủ đề 31
3.2 Một số chủ đề tích hợp 31
3.2.1 Chủ đề 1: Bóng đá – Hành trình bí ẩn 31
3.2.2 Chủ đề 2: Triều cường – Người bạn khó tính 36
3.2.3 Chủ đề 3: Sản phẩm ống nhòm – Thương trường khốc liệt 40
CHƯƠNG 4: TIẾN TRÌNH GIẢNG DẠY CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 44
CHỦ ĐỀ 1: BÓNG ĐÁ – HÀNH TRÌNH BÍ ẨN 44
CHỦ ĐỀ 2: TRIỀU CƯỜNG – NGƯỜI BẠN KHÓ TÍNH 48
CHỦ ĐỀ 3: SẢN PHẨM ỐNG NHÒM – THƯƠNG TRƯỜNG KHỐC LIỆT 51
KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 57
PHỤ LỤC 1 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 1 58
PHỤ LỤC 2 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 2 126
PHỤ LỤC 3 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 3 142
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6Bảng 4.2 Tiến trình giảng dạy chủ đề 2.
Bảng 4.3 Tiến trình giảng dạy chủ đề 3.
Trang 8- Nghị quyết số 29 NQ-TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấphành Trung ương Đảng khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.
- Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/06/2014 của Chính phủ về “Đổi mới chươngtrình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo”, khuyến khích cá nhân, tổ chức thamgia biên soạn SGK (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông
đã được Bộ GD – ĐT phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc; xây dựng hệ thốngngân hàng bài giảng điện tử để GV và HS tham khảo trong quá trình dạy và học
- Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông”
- Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/03/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông”
Điểm đáng lưu ý của Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội là: “Từ nămhọc 2018 – 2019, bắt đầu triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông và SGKmới theo hình thức cuốn chiếu đối với cấp tiểu học, THCS và THPT” Theo dự kiến, lộtrình triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông và SGK mới như sau:
- Năm học 2018 – 2019: Lớp 1, lớp 6 và lớp 10
- Năm học 2019 – 2020: Lớp 2, lớp 7 và lớp 11
- Năm học 2020 – 2021: Lớp 3, lớp 8 và lớp 12
- Năm học 2021 – 2022: Lớp 4, lớp 9
Trang 9Xuất phát từ những lý do trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Xây dựng chủ
đề tích hợp chương trình Vật lý lớp 10 và 11 THPT”
- Nghiên cứu và hệ thống lý thuyết các quan điểm về DHTH
- Xây dựng một số chủ đề tích hợp theo chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình Vật lý lớp 10 và 11 THPT
- Đề xuất tiến trình giảng dạy cho một số chủ đề tích hợp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: DHTH môn Vật lý và các môn khác liên quan
- Phạm vi nghiên cứu: chương trình Vật lý lớp 10 và 11 THPT
Nếu xây dựng được các chủ đề tích hợp hợp lý, phù hợp với chuẩn và mục tiêuđào tạo, đáp ứng được các yêu cầu sư phạm khi giảng dạy thì có thể giúp HS tiếp thutốt các kiến thức, rèn luyện kỹ năng đồng thời phát triển được các năng lực cần thiết
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài gồm những nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Tìm hiểu và hệ thống các lý thuyết, quan điểm về DHTH
- Khảo sát, phỏng vấn về suy nghĩ của SV năm cuối học ngành sư phạm củatrường ĐHSP Tp.HCM, của các GV ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Tp.HCM vềquan điểm DHTH mức độ liên môn của Bộ GD – ĐT
- Nghiên cứu nội dung, chuẩn kiến thức kĩ năng một số chương trong chương trình phổ thông lớp 10 và 11 để xây dựng một số chủ đề tích hợp
- Đề xuất tiến trình giảng dạy của một số chủ đề tích hợp
6 Cấu trúc khóa luận
Trang 10- Chương 1: Tổng quan về dạy học tích hợp
- Chương 2: Khảo sát suy nghĩ của sinh viên và giáo viên về dạy học tích hợp
- Chương 3: Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp – Một số chủ đề tích hợp
- Chương 4: Tiến trình giảng dạy của một số chủ đề tích hợp
- Phụ lục: Phiếu học tập của một số chủ đề tích hợp
Đề tài này là một cơ hội để tôi tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết về DHTH, đồngthời hệ thống lại các kiến thức Vật lý cho bản thân Mục đích đề tài là xây dựng cácchủ đề tích hợp, tìm tòi và khai thác các kiến thức Vật lý trong chủ đề đó, hy vọng đây
sẽ là một nguồn tài liệu bổ ích cho các GV tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP1.1 Khái niệm
1.1.1 Tích hợp
Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, nối kết các thành phần
của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [1, tr.121].
Theo từ điển giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [2, tr.383].
Theo từ điển giáo dục học có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc (vertical
integration) và tích hợp ngang (horizontal integration) Tích hợp dọc là “tích hợp dựa
trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề
[2, tr.384-385]
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộphận riêng lẻ Nên tích hợp có thể được hiểu là sự phối hợp các hoạt động khác nhau,các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mụctiêu hoạt động của hệ thống ấy
Vì thế, trong dạy học, tích hợp có thể định nghĩa là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, nội dung học tập khác nhau vào cùng một kế hoạch giảng dạy mà vẫn bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu giáo dục tốt hơn.
1.1.2 Dạy học tích hợp
Tháng 09/1968, “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” đã được Hộiđồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ
của UNESCO Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình
bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của
tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”[3] Định nghĩa của UNESCO nhấn mạnh quan điểm cần giảm
Trang 12thiểu việc tách riêng các kiến thức, các lĩnh vực khoa học khác nhau Quá trình DHTHbao gồm những hoạt động tích hợp, xuất phát từ những tình huống thực tế, tạo cơ hội
để HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống, từ
đó hình thành những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Nói mộtcách khác, DHTH là hướng dẫn, định hướng cho HS cách sử dụng kiến thức, kỹ năngcủa mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích pháttriển năng lực người học
Theo Xavier Roegiers, “Lý thuyết sư phạm tích hợp là một quan niệm về quátrình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS nhữngnăng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho cácquá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động Lý thuyết
sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [4] Xavier Roegierscòn cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang pháttriển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tíchhợp
Các định nghĩa trên cũng đã nêu rõ mục tiêu chính của việc DHTH là hình thành và phát triển năng lực của người học.
Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD – ĐT ban
hành tháng 08/2015 [21], đã đề cập đến quan niệm DHTH như sau “dạy học tích hợp
là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề” Và quan điểm xây dựng của chương trình là “trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hòa đức, trí, thể, mỹ; mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặc thù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”.
1.1.3 Năng lực – Phẩm chất
Trang 13Năng lực là “khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất
định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…” [21] Năng lực của cá nhân được đánh giá qua
phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc
sống Năng lực đặc thù môn học là “năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành
và phát triển” Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau.
Phẩm chất là “những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức,
lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm, của con người” Phẩm chất cùng với
năng lực tạo nên nhân cách con người
Schneckenberg và Wildt cho rằng việc hình thành năng lực phải trải qua mộtquá trình có nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau [5] Quá trình
đó có thể được mô hình hóa bằng sơ đồ “bậc thang” như sau: (Hình 1.1)
- Bước 1: Thu thập, tiếp nhận thông tin
- Bước 2: Xử lý thông tin để hình thành kiến thức
- Bước 3: Áp dụng kiến thức vào những bối cảnh cụ thể để hình thành khả năng
- Bước 4: Khả năng kết hợp với thái độ (động cơ, niềm tin, …) để hình thành hành động có ý nghĩa
- Bước 5: Hành động có ý nghĩa phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định sẽ hình thành năng lực
Để hình thành sự chuyên nghiệp và năng lực nghề nghiệp thì còn cần kết hợpthêm một số yếu tố khác:
- Bước 6: Năng lực kết hợp với tính trách nhiệm sẽ dẫn đến sự chuyên nghiệp, thành thạo
- Bước 7: Sự chuyên nghiệp kết hợp với học hỏi kinh nghiệm sẽ hình thành năng lực nghề nghiệp
Trang 14Năng lực nghềChuyên nghiệp
Chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 sẽ được cấu trúc lại theo
định hướng nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 phẩm chất và 8 năng lực chủ yếu
sau: (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các phẩm chất và năng lực cơ bản.
Sống yêu thương Năng lực tự học
Sống tự chủ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Do mục tiêu giáo dục không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thức mà là
tập trung, chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho HS
nên việc thay đổi quan điểm giáo dục là điều tất yếu Và quan điểm DHTH là phù hợp
việc đáp ứng được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ở HS, nhất là năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo – năng lực cần thiết nhất trong thời buổi hội nhập, năng
lực mà trong quan điểm dạy học truyền thống chưa được tập trung chú trọng
1.1.4 Chủ đề tích hợp
Trang 15nhiều mảng khác nhau của một môn học; hai hay nhiều môn học khác nhau, thể hiện ở
sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội
Trang 16Các chủ đề tích hợp cần phải gắn với thực tiễn nên sinh động, và cụ thể đối với
HS, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS Với các chủ đề tíchhợp, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huốngthực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩmchất của HS được hình thành và phát triển Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp giúpcho HS tăng cường sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thứctổng hợp vào thực tiễn [7]
1.2 Tình hình vận dụng dạy học tích hợp
1.2.1 Trên thế giới
Không chỉ hiện tại, từ những năm giữa thế kỉ 20, chương trình đào tạo củanhiều nước đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp, đặc biệt là ở các cấp tiểu học
và trung học cơ sở Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến 1974 trên thế giới
đã có 208 chương trình dạy các môn khoa học theo quan điểm tích hợp ở những mức
độ khác nhau Và các nước có nội dung chương trình thể hiện rõ quan điểm này làPháp, Nga, Hoa Kì, … Từ năm 2006, các chủ đề hội tụ được Bộ giáo dục Quốc giaPháp chính thức đưa vào chương trình học cho HS cấp THCS trên toàn quốc Các chủ
đề hội tụ ở Pháp là những đề tài rất thiết thực, gắn liền với thực tiễn đời sống, và được
Bộ giáo dục và đào tạo Pháp chọn lựa rất kĩ lưỡng [22] Hầu hết các nước trong khuvực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp để dạy các kiến thức về tự nhiên và
xã hội ở cấp tiểu học và THCS với những mức độ nhất định Điển hình có thể đề cậpđến, trong chương trình của Singapore, Thái Lan, môn “Khoa học” gồm những chủ đềnhất định xuyên suốt từ tiểu học tới THCS (lớp 9 hoặc lớp 10) [8]
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng DHTHvào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục Trong quá trình đổi mới chươngtrình và SGK những năm 90, nhóm Trung tâm nghiên cứu nội dung và phương pháp nay
là Trung tâm nghiên cứu giáo dục phổ thông nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng môn họctích hợp như môn “Khoa học”, môn “Khoa học Xã hội”, “Khám phá thế giới”… ở một sốnước trên thế giới và kết quả nghiên cứu là các kiến thức lịch sử, địa lý, khoa học tựnhiên đã được tích hợp trong môn “Tự nhiên và Xã hội” lớp 1, 2, 3; môn “Khoa học” lớp
4, 5; môn “Lịch sử và Địa lý” lớp 4, 5
Trang 17Ở cấp THCS cũng có đề tài nghiên cứu tích hợp các môn Khoa học Tự nhiên vàKhoa học Xã hội là của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Phương ở Viện khoa học giáo dục
Việt Nam với đề tài cấp bộ B98 – 49 – 65: “Nghiên cứu thử nghiệm bước đầu tài liệu
tích hợp một số môn Khoa học Tự nhiên – Khoa học Xã hội trong nhà trường THCS”.
Tuy nhiên, DHTH vẫn chỉ là nghiên cứu, thực tế vẫn chưa được áp dụng ở cấp THCS vàTHPT
Gần đây nhất, tháng 8 năm 2015, trường ĐHSP Hà Nội đã đón đầu đổi mớichương trình đào tạo GV, triển khai biên soạn và xuất bản các bộ sách bồi dưỡng GV,
trong đó có bộ sách “DHTH phát triển năng lực HS”, gồm hai quyển: Quyển 1: Khoa học Tự nhiên; Quyển 2: Khoa học Xã hội Bộ sách giúp GV có tài liệu để tham khảo,
giúp GV chủ động, tự tin, sáng tạo hơn trong việc lựa chọn nội dung tích hợp, chủ đềtích hợp, góp phần tích cực vào việc cải cách giáo dục ở trường phổ thông Tuy nhiên,hạn chế của bộ sách này là nội dung của các chủ đề tích hợp chỉ áp dụng được với HStrình độ THCS, nghĩa là các GV ở cấp THPT vẫn chưa có tài liệu hỗ trợ về DHTH phùhợp
1.3 Ưu điểm của dạy học tích
hợp 1.3.1 Đối với học sinh
1.3.1.1 Thực hiện hiệu quả các mục tiêu giáo dục.
Mục tiêu giáo dục thiên niên kỷ của UNESCO
Văn bản Bốn trụ cột của giáo dục (The four pillars of education) của UNESCO(1996) đề xuất, nhấn mạnh việc giáo dục phải xoay quanh 4 mục đích chính sau:
Học để biết – Learning to know: Học để biết các tri thức của nhân loại; biết thunhận, xử lý thông tin, biết tạo lập và sử dụng thành thạo các tri thức Để tiếp thu trithức một cách hiệu quả, thì không thể chỉ “học” mà còn phải biết “cách học” để tự traudồi và phát triển, học tri thức thì chỉ biết tri thức nhưng học phương pháp, kĩ năng thì
sẽ biết cách chiếm lĩnh tri thức DHTH tạo điều kiện thuận lợi để HS tiếp cận tri thứcbằng các phương pháp học tích cực, chủ động
Học để làm – Learning to do: Học để làm việc, để có kỹ năng, có năng lực nghềnghiệp đáp ứng được nhu cầu của xã hội, có khả năng lao động hiệu quả trong nềnkinh tế toàn cầu, hội nhập và phát triển này Mục đích trên tương đồng với quan điểmcủa DHTH, giúp HS hình thành và phát triển các năng lực, nhất là năng lực giải quyếtvấn đề và sáng tạo
Trang 18Học để chung sống – Learning to live together, learning to live with others: Học
để hiểu nhau hơn, biết cách tôn trọng người khác, biết cách giải quyết xung đột, mâuthuẫn trong hòa bình, thúc đẩy sự tiến bộ, văn minh của xã hội DHTH cũng chú trọngvấn đề này, HS sẽ được hình thành và phát triển các phẩm chất: sống yêu thương, sống
tự chủ và sống trách nhiệm khi tham gia các hoạt động tích hợp, làm việc nhóm cũngnhư khi thực hiện các dự án của riêng mình
Học để khẳng định – Learning to be: Học để phát triển toàn diện, tự hoàn thiệnnhân cách, biết hành động tự chủ và phát huy tối đa tiềm năng của chính mình DHTHđưa ra các tình huống, chia nhóm để mọi người thảo luận, cùng nhau tổng hợp cáckiến thức, đưa ra phương án để giải quyết vấn đề, tạo cơ hội cho người học nâng caovai trò cá nhân trong tập thể, tinh thần trách nhiệm, cũng như kỹ năng lắng nghe, khảnăng giao tiếp và hợp tác
Mục tiêu giáo dục toàn diện của chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam
Chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp HS phát triển khả năng vốn có củabản thân, hình thành tính cách và thói quen; phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần;trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốtđời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành người công dân
có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo
Chương trình giáo dục cấp THPT nhằm giúp HS hình thành phẩm chất và nănglực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốctrên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấpTHCS; có khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, có những hiểu biết và khả nănglựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh củabản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động
1.3.1.2 Thể hiện được bản chất thống nhất của giới tự nhiên, mối liên
hệ giữa các tri thức khoa học.
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, giới tự nhiên được nghiên cứu theo tư duy phântích, mỗi khoa học nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất.Nhưng bản chất của giới tự nhiên là một thể thống nhất nên sang thế kỷ XX, khoa họcnghiên cứu đã chuyển từ phân tích cấu trúc sang tổng hợp hệ thống, làm xuất hiện các
Trang 19khoa học liên ngành (như sinh thái học, tự động hóa, ), giao ngành, hình thành cáclĩnh vực tri thức đa ngành, liên ngành.
Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri thức của HS xácthực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổng hợp hóa các tri thức,đồng thời thay thế “tư duy cơ giới cổ điển” bằng “tư duy hệ thống” Theo XaviersRoegirs [4], nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách rời rạc,thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các “suy luận theo kiểu khép kín”, hình thành nhữngcon người “mù chức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không
1.3.1.4 Làm cho quá trình học tập trở nên có ý nghĩa.
Bằng cách đặt quá trình học tập vào các hoàn cảnh, tình huống thực tế cuộcsống, DHTH giúp HS nhận thấy ý nghĩa của các kiến thức, kỹ năng và năng lực cầnlĩnh hội Khi đó "không còn hai thế giới riêng biệt, thế giới nhà trường và thế giới cuộcsống Trái lại người ta tìm cách hòa nhập thế giới nhà trường vào thế giới cuộc sống"[4, tr.73] Từ đó, tạo được động cơ học tập, hứng thú cho HS, gắn việc học với cuộcsống xung quanh, tận dụng được vốn kinh nghiệm sẵn có của HS
Việc giảm tải học tập không chỉ được thực hiện bằng cách giảm về khối lượngkiến thức, giảm về số môn học, giảm về thời lượng giáo dục mà còn bằng cách pháttriển hứng thú học tập, một biện pháp giảm tải tinh thần và tâm lý cho HS Làm HSthấu hiểu được ý nghĩa của các kiến thức, từ đó tạo cảm xúc, thái độ đối với các trithức khiến HS nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn và việc học tập trở thành niềm vui,hứng thú cho HS
Trang 20Hiện nay, internet xuất hiện giúp HS tìm kiếm thông tin, tiếp thu kiến thức mộtcách dễ dàng, nhanh chóng dẫn đến sự độc quyền của nhà trường về việc truyền đạt trithức đã bị phá vỡ Điều này khiến cho các kiến thức truyền dạy ở nhà trường trở nênđơn giản đến nhàm chán, rời rạc, tốn thời gian và HS có thể đã tự tìm hiểu trước ở nhà.Chính vì thế mà chương trình giáo dục phổ thông cần phải thay đổi về việc tổ chức nộidung, tạo ra tri thức “mới” bằng cách tích hợp kiến thức các môn học, kết hợp với cáctình huống, vấn đề thực tiễn buộc HS phải có đủ kiến thức, kỹ năng để giải quyết Từ
đó, HS học được tri thức và phát triển các năng lực, phẩm chất mà việc tự học ở nhàhay quan điểm dạy học truyền thống không thể làm được
DHTH còn tạo cơ hội cho HS sử dụng các kiến thức trong tình huống cụ thể,tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các vấn đề, giúp HS ít phải ghinhớ kiến thức một cách máy móc
1.3.1.6 Ưu thế của dạy học tích hợp so với dạy học truyền thống
Dẫn theo [9], các tác giả Zhbamova, Rule, Montgomery và Nielsen [10] sau khitiến hành khảo sát và nghiên cứu về DHTH dọc, đã đưa ra bảng so sánh, đối chiếu giữaDHTH dọc và dạy học theo kiểu truyền thống (dạy một môn học đơn thuần) như bảng1.2 dưới đây:
Trang 21Bảng 1.2 So sánh giữa DHTH dọc và dạy học truyền thống.
Hoạt động Làm việc theo nhóm Làm việc cá nhân
Phương pháp Các phương pháp dạy Giảng dạy trực tiếp, ít sử dụng
học tích cực kết hợp
phương tiện kỹ thuật
Phương pháp Nhiều phản hồi
Được lựa chọn, giải
Theo hướng dẫn của GV, ghi nhớquyết tình huống, là
Một ưu điểm khác nữa là khuyến khích HS có động cơ học tập Marshall chorằng chương trình tích hợp chú trọng nhu cầu tiếp thu kiến thức phù hợp với nhu cầucủa HS; HS sẽ được học cái mình cần và yêu thích người ta gọi đó là “động cơ nộitại” (intrinsic motivation) Chính vì có động cơ nội tại mà việc học trở nên nhẹnhàng và thích thú hơn Và để đáp ứng động cơ nội tại của HS, GV cần có nhữngphản hồi tích cực (positive feedback) đối với HS, giúp HS có thêm nhiều trạng tháitích cực trong học tập chương trình DHTH giúp HS có nhiều cơ hội làm việc theo
Trang 22nhóm, việc học tập và làm việc theo nhóm tạo nên bầu không khí thân thiện, đoànkết, học hỏi lẫn nhau (share – learning) [12].
1.3.2 Đối với giáo viên
Trang 23DHTH làm cho việc dạy học cũng trở nên có ý nghĩa, các nội dung kiến thức,khái niệm khoa học không còn là lý thuyết hàn lâm mà đã trở thành công cụ, giúp cho
HS giải quyết các tình huống thực tiện GV không còn là người truyền thụ kiến thức
mà sẽ là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của HS Việc dạychương trình DHTH tạo điều kiện cho GV nâng cao trình độ, trau đồi kiến thức chuyênmôn, kiến thức tích hợp, các kỹ năng sư phạm, cũng như là cơ hội cho các GV bộ môn,tương tác, trao đổi chuyên môn lẫn nhau
Ngoài ra, chương trình DHTH có độ phức hợp cao hơn so với chương trình dạyhọc truyền thống Cho nên, như đã phân tích ở trên, vai trò của GV trở nên năng động
và quan trọng hơn Bên cạnh đó, GV không còn gò bó, rập khuôn dạy theo tiến trìnhcủa SGK mà có thể sáng tạo tích hợp các nội dung kiến thức cho phù hợp và hiệu quả
1.4 Khó khăn của dạy học tích hợp
1.4.1 Nội dung chương trình
Chương trình DHTH chỉ phù hợp, áp dụng được cho các kiến thức đơn giản ởbậc tiểu học, còn ở bậc THPT từng môn riêng rẽ, kiến thức chuyên sâu, khó có thể liênkết, tổng hợp thành một chủ đề bao hàm tất cả các kiến thức
Một hạn chế của DHTH là nội dung kiến thức, kỹ năng chuyên ngành của từngmôn không còn đảm bảo được sâu sắc và đầy đủ như trước
Từ đó ta nhận thấy quan điểm tích hợp đối lập với cách làm truyền thống cũngnhư tâm lý của đại đa số GV, HS, cán bộ quản lý, phụ huynh nên sẽ gặp rất nhiều khókhăn cả về công sức và tiền bạc Vì thế xây dựng chương trình và SGK DHTH là mộtquá trình đầu tư lâu dài, chúng ta cần có thời gian để từng bước thực hiện
1.4.2 Đối với học sinh
Quan điểm DHTH còn mới đối với HS; các em chưa quen được với sự đổi mới,
có thể sẽ dẫn đến chất lượng học tập bị giảm sút Bên cạnh đó, để chuẩn bị cho tiếthọc, thảo luận nhóm, thực hiện các dự án, HS sẽ phải tốn nhiều thời gian, công sức,tiền bạc hơn Mặt khác, khi làm việc nhóm, đôi khi chỉ có một hoặc hai thành viêngánh vác mọi công việc, dần dần HS hình thành thói quen ỷ lại vào người khác, thiếutinh thần trách nhiệm
Hạn chế của việc học kết hợp với tham gia các hoạt động tích hợp là sẽ làm HS
bị phân tâm, không xem việc học tri thức là việc chính; việc chỉ học kiến thức để giải
Trang 24quyết các tình huống khiến HS không hiểu rõ và đầy đủ bản chất của kiến thức, chỉhọc được bề nổi của vấn đề
Một vấn đề nữa là nguồn tài liệu tham khảo chính của HS không còn ở SGK mà
là nguồn thông tin trên internet dẫn đến tính chính xác, độ tin cậy của các kiến thức mà
HS tiếp nhận sẽ không được đảm bảo
1.4.3 Đối với giáo viên
Yêu cầu của DHTH là GV phải dạy kiến thức tích hợp của nhiều môn trong khi
GV chỉ được đào tạo để dạy môn chuyên ngành; GV tự nghiên cứu cũng sẽ khó hiểuhết mối liên hệ kiến thức giữa các môn Đồng thời, nếu GV tự sáng tạo đưa kiến thứcmới vào giảng dạy thì cũng không bảo đảm tính đúng đắn, tính khoa học
Thực trạng hiện nay là đội ngũ GV chưa được tập huấn, chưa được định hướng
rõ ràng, đầy đủ về quan điểm DHTH cũng như kỹ năng giảng dạy Trong dạy họctruyền thống, vai trò người GV tương đối đơn giản với việc soạn giáo án Còn đối vớiDHTH, vai trò của GV nặng nề hơn rất nhiều vì phải thực hiện nhiều công đoạn,không chỉ soạn giáo án mà còn phải thiết kế nội dung dạy học như thế nào để tạo sựliên kết các môn học một cách phù hợp theo nhu cầu của HS, tốn nhiều thời gian vàcông sức của GV hơn
Chúng ta thấy rằng quan điểm DHTH không những mới mẻ với HS mà còn gâynhiều khó khăn với GV, vậy thì phải làm sao để GV thích nghi với DHTH? Câu hỏinày được các nhà khoa học giáo dục như Virtue, Wilson, Ingram [13] nghiên cứu vàđưa ra các giải pháp như sau: Nếu như GV chưa quen với DHTH, GV cần bắt đầu vớinhững bài giảng ngắn, liên kết vài vấn đề đơn giản từ các môn học Dựa trên đánh giácủa HS, GV tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn chương trình DHTH của mình với độphức hợp cao hơn
1.4.4 Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam
Chương trình giáo dục ở nước ta phần nào thể hiện tính chưa sự đồng bộ giữamục tiêu giáo dục và hình thức đánh giá, kiểm tra giáo dục của nước ta trong nhữngnăm qua góc độ nào đó còn chú trọng thi cử, quan tâm đến dung lượng và mức độđồng hóa kiến thức HS đôi khi chưa nhận thấy được sự vận dụng của các kiến thức đãhọc trong thực tế Hiện trạng thực tế của việc đánh giá HS còn chú trọng nhiều đánhgiá kết quả, chưa cụ thể hóa quan tâm đến quá trình thực hiện cũng như không đánhgiá sự tiến bộ của HS, do đó việc DHTH không giúp ích cho HS đạt kết quả cao tại các
Trang 25kỳ thi Đây là nguyên nhân chính khiến các GV không đồng tình, còn e ngại với quanđiểm DHTH, cảm thấy việc tích hợp là thiếu tính khả thi và thực tế.
Nguyên nhân nữa gây khó khăn cho việc áp dụng DHTH là điều kiện kinh tế xãhội, cơ sở vật chất tại các trường phổ thông giữa các vùng miền trên cả nước là khácnhau, chênh lệch lớn Nếu muốn xây dựng chương trình DHTH cần quan tâm đến 4loại trường phổ thông mang tính đặc thù sau: các trường ở khu vực thành thị, thànhphố; các trường ở khu vực nông thôn, xa thành thị; kế đến là các trường dành cho HScon em người dân tộc (các trường dân tộc nội trú) và các trường dành riêng cho HSkhuyết tật [14] Các trường ở khu vực thành thị, thành phố, có đầy đủ điều kiện, trangthiết bị để thực hiện DHTH nhưng đối với các trường ở khu vực nông thôn, xa thànhthị thì đời sống còn nhiều khó khăn, khó có thể áp dụng Tuy nhiên, nếu chúng ta biếtcách áp dụng DHTH phù hợp thì hiệu quả đạt được là rất lớn Việc DHTH giúp cho
HS ở khu vực này tiếp thu một lượng kiến thức tổng hợp trong một thời gian nhấtđịnh, cũng như định hướng cho HS tiếp tục con đường của mình trong tương lai saukhi tốt nghiệp THCS hoặc tốt nghiệp THPT
Đối với các trường dân tộc nội trú ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyênthì việc thực hiện DHTH lại càng khó khăn chương trình DHTH cần đặc biệt chútrọng đến việc dạy học ngôn ngữ Tiếng Việt và khả năng tiếp nhận kiến thức, kỹ năngcác môn học Ngoài ra, DHTH còn phải nâng cao việc truyền đạt sự giao thoa văn hóagiữa người đồng bào với cộng đồng xã hội người Việt
Đối với các trường dành riêng cho HS khuyết tật, chương trình DHTH phải pháthuy được việc tích lũy kiến thức cho HS và đặc biệt chú trọng đến việc định hướngcho HS học tiếp một ngành nghề phù hợp sau khi tốt nghiệp
1.5 Nguyên tắc của dạy học tích hợp
Theo [15] và [16], tích hợp các môn học cần tuân theo nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính mục tiêu: Việc sắp xếp lựa chọn, liên kết các kiến thức và kỹnăng phải nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục của các nội dung cần giáo dục, của môn học,của cấp học và cả của mục tiêu giáo dục chung
- Đảm bảo sự phù hợp: Thể hiện giữa nội dung giáo dục và phương pháp giáodục; giữa nội dung giáo dục và yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực; giữa mức độ kiếnthức và trình độ HS; giữa khối lượng nội dung và thời lượng học tập
Trang 26- Đảm bảo tính khoa học, hiện đại: Các kiến thức được tích hợp phải khách quan,phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng, có ý nghĩa và phù hợp tâm sinh lý nhận thứccủa từng lứa tuổi HS
- Đảm bảo tính khả thi: Người học có đủ trình độ, thời gian, phương tiện cho việchọc; người dạy có đủ điều kiện, kiến thức, kỹ năng để tổ chức, hướng dẫn, định hướngviệc học tập của người học Điều này có thể hiểu là vừa sức đối với cả GV và HS
- Đảm bảo tính ứng dụng: Người học có thể nhận thức và vận dụng được kiếnthức, kỹ năng tích hợp trong các nhiệm vụ môn học và cao hơn nữa là có thể giải quyếtđược những tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày
1.6 Các mức độ của dạy học tích hợp
Có nhiều quan điểm về cách phân mức độ tích hợp các môn học, theo
D'Hainaut (1977) thì có 4 quan điểm sau: [3]
- Quan điểm "đơn môn": có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thốngnội dung của một môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
- Quan điểm "đa môn": một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan vớinhững kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục đượctiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung
- Quan điểm "liên môn": nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn
đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kỹ năng củanhững môn học khác nhau
- Quan điểm "xuyên môn": nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹnăng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giảiquyết những tình huống khác nhau
Dựa vào các quan điểm trên và một số quan điểm khác [17], dựa trên cách tiếp cận kiến thức các môn học, có thể trình bày lại các mức độ tích hợp thành 6 mức độ:
1.6.1 Truyền thống
HS tiếp cận kiến thức các môn học một cách biệt lập, riêng rẽ; các GV bộ môn chỉ dạy đúng nội dung môn học của mình, nêu ra vấn đề và HS chỉ vận dụng kiến thức
Trang 27của bộ môn đó để giải quyết Trong hình thức dạy học này, các môn học có thể quá tải,hoặc trùng lặp nội dung cũng thông tin liên hệ thực tế ở các môn.
VD: GV Vật lý dạy bài “Thế năng” chỉ dạy kiến thức về thế năng, nêu ra vấn đề về
nhà máy thủy điện và HS chỉ cần vận dụng kiến thức về thế năng để giải quyết Songsong đó, GV Địa lý lại dạy về nhà máy thủy điện, dẫn đến chồng chéo kiến thức ở HS
1.6.2 Kết hợp, lồng ghép
HS vẫn tiếp cận kiến thức các môn học một cách độc lập, riêng rẽ Tuy nhiên,
GV được khuyến khích lồng ghép nội dung của các môn học vào với nhau, có thể kếthợp với giáo dục các vấn đề xã hội Đây là mức độ tích hợp mà hầu hết GV hiện nayđang thực hiện Mức độ này không phải là tích hợp liên môn như Bộ GD – ĐT mongmuốn
VD: GV Vật lý dạy bài “Thế năng” có thể liên hệ đến các kiến thức của môn Địa lý về
nhà máy thủy điện
1.6.3 Nội môn
HS tiếp cận kiến thức của một môn học thông qua các chủ đề Ở mức độ nàyđòi hỏi GV phải hệ thống, tổng hợp nội dung các kiến thức liên quan để xây dựng
thành các chủ đề tích hợp, đặt câu hỏi xoay quanh chủ đề đó và yêu cầu HS tổng hợp
các kiến thức ở nhiều mảng khác nhau của cùng một môn để giải quyết vấn đề Nghĩa
là nội dung của một môn học được cấu trúc lại thành các chủ để tích hợp nội môn.
Đây là mức độ còn tranh cãi, nhiều ý kiến cho rằng đây không phải là mức độ của tíchhợp vì nó không thỏa được mục tiêu của DHTH là phát triển năng lực tổng hợp kiếnthức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, trong giai đoạn cải cách giáo dục hiệnnay thì đây là mức độ tích hợp vừa phải, GV có thể nghiên cứu, thực hiện; đây cũng là
cơ hội để GV tiếp cận với quan điểm tích hợp cũng như trau dồi thêm vốn kiến thức,
kỹ năng tích hợp cho bản thân
VD: GV Vật lý không dạy bài “Thế năng” riêng lẻ nữa mà xây dựng một chủ đề chung
về “Năng lượng”, cung cấp kiến thức và yêu cầu HS tổng hợp các kiến thức về độngnăng, thế năng, … để giải quyết vấn đề
1.6.4 Đa môn
HS tiếp cận kiến thức một vấn đề theo cách đa chiều, cùng lúc ở nhiều môn, tìmhiểu vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở mức độ này, GV không cần thay đổi nội
Trang 28dung giảng dạy nhưng lại yêu cầu HS phải tự tạo mối liên hệ giữa các môn học Đây làmức độ nền tảng của mức độ liên môn
VD: GV Vật lý dạy bài “Thế năng” yêu cầu HS tìm hiểu về nhà máy thủy điện (cấu
tạo, nguyên lý hoạt động) Song song đó, HS cũng học ở môn Địa lý về nhà máy thủyđiện nhưng tìm hiểu về vị trí của nhà máy, lợi ích hay tác hại của nhà máy thủy điệnđối với đời sống con người HS là người tự tạo mối liên hệ giữa các môn với nhau
mức độ mà Bộ GD – ĐT đang hướng đến và triển khai thực hiện
VD: GV Vật lý dạy bài “Thế năng” và GV Địa lý dạy kiến thức về nhà máy thủy điện
thì sẽ họp lại cùng nhau xây dựng thành một chủ đề, thiết kế giáo án với nội dung,phân bố kiến thức và thời gian phù hợp giữa hai môn
1.6.6 Xuyên môn
HS tiếp cận kiến thức bắt đầu từ bối cảnh thực tế cuộc sống HS tự đặt vấn đề,tìm hiểu và tự giải quyết Các vấn đề thường là các sự kiện xã hội, tin thức thời sựđược quan tâm nhiều trên thế giới Đây là mức độ cao nhất của tích hợp, kiến thứckhông còn gói gọn ở bất kỳ môn nào nhưng với hiện trạng thực tế giáo dục ở Việt Namthì rất khó để thực hiện
VD: HS đọc một bài báo nói về mặt trái của việc xây dựng đập thủy điện HS sẽ tự đặt
vấn đề, tìm hiểu và lên kế hoạch, phương án giải quyết
1.7 Kết luận
DHTH là quan điểm dạy học, trong đó GV là người tổ chức, hướng dẫn, địnhhướng, đặt vấn đề để HS tổng hợp các kiến thức, kỹ năng thuộc các lĩnh vực khác nhaunhằm giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ học tập; từ đó HS sẽ hình thành được các kiếnthức, kỹ năng mới; đồng thời phát triển được các năng lực cần thiết, nhất là năng lựcgiải quyết vấn đề, biết vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống thực tiễn, hoàncảnh khó khăn, bất ngờ
Trang 29Về bản chất, quan điểm DHTH là thay đổi mục tiêu và nội dung của tiến trìnhdạy học Mục tiêu có tính tích hợp sẽ không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thứcvới khối lượng lớn mà tập trung phát triển khả năng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, pháttriển các năng lực cần thiết cho HS Do đó, nội dung các môn học sẽ phải được cấutrúc lại để có sự liên kết, hòa trộn với nhau, cùng nhau giải quyết một vấn đề Từ đódẫn đến phải có sự lựa chọn khác về phương pháp, phương tiện Vì nếu vẫn dạy họctheo phương pháp truyền thống thì HS khó có thể phát triển được các năng lực nhưDHTH mong muốn Phương tiện, cơ sở vật chất cũng phải được đầu tư đổi mới phục
vụ cho các phương pháp dạy học tích cực
Bên cạnh đó, việc đổi mới giáo dục luôn phải có sự đồng bộ Mục tiêu và nộidung dạy học thay đổi dẫn đến cách kiểm tra đánh giá HS cũng phải thay đổi Nếu vẫngiữa lại cách kiểm tra đánh giá truyền thống thì cải cách giáo dục, cải cách nội dungvẫn chỉ là lý thuyết suông, không có tính khả thi Đây cũng chính là băn khoăn lớnnhất của GV khi thực hiện quan điểm DHTH Như vậy, cải cách giáo dục theo quanđiểm DHTH phải được thể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học,phương pháp kiểm tra đánh giá và hình thức tổ chức dạy học
Trang 30CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT SUY NGHĨ CỦA SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN
VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP2.1 Quan điểm sai lầm về dạy học tích hợp
2.1.1 Về mục tiêu
GV lồng ghép, liên hệ nhiều kiến thức của các môn khác nhưng khi đưa ra vấn
đề, HS chỉ cần vận dụng kiến thức của bộ môn đó để giải quyết
VD: GV Vật Lý dạy bài “Thế năng”, liên hệ nhiều kiến thức của môn khác như nhà
máy thủy điện, lũ quét, xói mòn đất, bạc màu đất,… nhưng mà lại cho HS giải bài tập
về thế năng, về công suất của nhà máy thủy điện chứ không đưa ra các vấn đề để HStổng hợp các kiến thức để giải quyết như làm sao để hạn chế lũ quét, bạc màu đất(trồng rừng, làm ruộng bậc thang,…), hay đặt câu hỏi ngược lại vì sao người ta lại làmruộng bậc thang, làm ruộng bậc thang như thế nào, …
2.1.2 Về nội dung
GV nhầm lẫn hai khái niệm “kiến thức” và “năng lực”
VD: GV Vật Lý dạy bài “Thế năng” áp dụng giảng dạy bằng máy chiếu, cho HS
thuyết trình có sử dụng công nghệ là tích hợp môn Tin học (ở đây là “năng lực côngnghệ thông tin”), dùng ngoại ngữ để giảng dạy hoặc cho bài tập bằng ngoại ngữ là tíchhợp môn Ngoại ngữ (ở đây là “năng lực ngoại ngữ”), cho HS tính toán nhiều, phức tạpnghĩa là tích hợp môn Toán (ở đây là “năng lực tính toán”) Thực chất HS không đượchọc bất kỳ kiến thức mới về môn Tin học, môn Ngoại ngữ hay môn Toán
Nội dung tích hợp phải là kiến thức mới, phù hợp với trình độ HS, nằm trongchuẩn kiến thức của Bộ GD – ĐT, HS dùng kỹ năng tổng hợp các kiến thức đó để giảiquyết vấn đề một cách hiệu quả
2.1.3 Về phương pháp
GV áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhưng không thay đổi nội dunggiảng dạy, các vấn đề và giải quyết vấn đề chỉ sử dụng kiến thức bộ môn đó
VD: GV Vật Lý dạy bài “Thế năng” áp dụng phương pháp dạy học theo trạm với các
trạm Nhận biết thế năng, Công của trọng lực, Thế năng của vật, … mà không tích hợpthêm kiến thức của các môn khác
DHTH là cải cách nội dung chứ không phải là cải cách phương pháp
Trang 312.1.4 Về cách thức đánh giá
GV vẫn đánh giá HS qua kết quả của các bài kiểm tra mà không xét đến quátrình mà HS thực hiện, không xét đến kỹ năng, năng lực của HS khi giải quyết vấn đề,không đánh giá đến sự tiến bộ của HS Do mục tiêu của DHTH là phát triển kỹ năng,năng lực nên việc đánh giá cũng phải đồng bộ GV phải đánh giá quá trình, đánh giá về
kỹ năng, năng lực của HS khi giải quyết vấn đề
2.2 Khảo sát thực trạng về dạy học tích hợp
2.2.1 Định hướng của Bộ GD – ĐT
Bộ GD – ĐT đã cho ban hành nhiều công văn về công tác triển khai mô hìnhDHTH; công tác tổ chức tập huấn cho các GV ở bậc THCS, THPT cũng như các giảngviên ở bậc Đại Học
Từ năm học 2013-2014, các trường THPT được giao quyền tự chủ trong việcxây dựng và triển khai kế hoạch giáo dục dựa vào mục tiêu giáo dục nhằm góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của nhà trường theotinh thần của các văn bản chỉ đạo sau:
- Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/05/2013 về việc “Hướng dẫn triểnkhai thực hiện phương pháp Bàn tay nặn bột và các phương pháp dạy học tích cực khác”
- Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/06/2013 về việc “Hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông”
- Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 về việc “Hướng dẫn sinhhoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo
định hướng phát triển năng lực HS; tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng”
- Và mới đây, vào ngày 29/07/2015, Bộ GD – ĐT vừa ban hành Công văn số
3790/BGDĐT-GDTrH về việc “Tổ chức cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn
để giải quyết các tình huống thực tiễn và cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợpcho HS và GV” Theo đó, thay cho việc dạy học theo từng bài/tiết trong SGKnhư hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và SGK hiệnhành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và
các chủ đề tích hợp liên môn phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học
tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường Trong năm học 2015-2016, nếu
Trang 32có điều kiện thuận lợi, nhà trường có thể giao cho các tổ/nhóm chuyên môn xâydựng và thực hiện một vài chủ đề tích hợp liên môn phù hợp Trong trường hợpchưa có điều kiện thực hiện trong năm học 2015-2016, các nhà trường cần tổchức xây dựng kế hoạch giáo dục trong đó có các chủ đề tích hợp liên môn đểthực hiện từ năm học 2016-2017 [Dẫn theo 7]
Từ đó cho thấy rằng quan điểm DHTH đang dần được phổ biến rộng rãi và việcđổi mới giáo dục đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, bước tiến quan trọng,đáng để chúng ta kỳ vọng về tính khả thi của nó
2.3 Tình hình thực hiện của giáo viên
2.3.1 Ở bậc trung học phổ thông
Phần lớn GV chưa được đào tạo hay tập huấn về DHTH, chỉ có GV trẻ tích cựctìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện nhưng chưa thành công vì thiếu kinh nghiệm, thiếutính đồng bộ, thống nhất giữa các môn học
Một số ít GV đã được đi tập huấn về DHTH nhưng vẫn còn mơ hồ, gặp nhiềukhó khăn khi áp dụng vào thực tế dạy học do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Nhiều GV vẫn còn các quan điểm sai lầm về DHTH như trình bày ở trên, cũngnhư nghi ngờ về tính khả thi của quan điểm DHTH
Riêng tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Tp.HCM, vào tháng 03/2016,
tổ Vật lý đã thực hiện Hội thảo về phương pháp “Bàn tay nặn bột” với bài dạy mẫuchủ đề “Đường truyền của tia sáng trong các môi trường” có sử dụng phương pháp dạyhọc tích cực này Hội thảo đã thu hút rất nhiều GV của các trường phổ thông trongthành phố đến tham dự Mặc dù hội thảo không đề cập đến quan điểm DHTH nhưngviệc các GV quan tâm đến vấn đề cải cách phương pháp dạy học cũng là tín hiệu khởiđầu tốt, là nền tảng cho việc cải cách nội dung giáo dục trong tương tai
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu giáo dục ĐHSP Tp.HCM [20], việc quanđiểm DHTH chưa được thực hiện là do GV chưa được bồi dưỡng đầy đủ về kiến thức,
kỹ năng cũng như tư tưởng về DHTH Đồng thời, GV thiếu các tài liệu tham khảo hỗtrợ nội dung, chủ đề DHTH (bảng 2.1)
Trang 33Bảng 2.1 Các yếu tố thúc đẩy việc thực hiện DHTH.
Trong phiếu khảo sát Viện Nghiên cứu có yêu cầu 249 GV lựa chọn các cáchthức thúc đẩy việc thực hiện DHTH và chừa chỗ trống để GV đề xuất các cách thứckhác nhưng rất ít GV đưa ra ý kiến khác Kết quả khảo sát ở phần nội dung này chothấy một số hiện tượng rất đáng chú ý
Thứ nhất là, tỷ lệ GV chọn thúc đẩy DHTH thông qua "thay chương trình,SGK" là thấp, chưa đến 30% GV chọn yếu tố này Đây là một kết quả đáng để Bộ GD– ĐT và Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, SGK phổ thông sau năm 2015 quan tâm
Thứ hai là, để có thể thực hiện đổi mới chương trình phổ thông một cách có hệthống thì đào tạo tại trường SP phải thay đổi để tạo ra một đội ngũ GV có thể triểnkhai thành công chương trình mới Tuy nhiên, GV ít coi trọng yếu tố này, tỷ lệ đồngtình của GV chiếm 26,1%
Thứ ba là, tỷ lệ GV cho rằng "thay đổi cách kiểm tra đánh giá HS" sẽ thúc đẩyDHTH chiếm tỷ lệ khá cao với con số 36,1% Điều này cho thấy rằng GV tỏ ra e ngạivới quan điểm DHTH là do nghi ngờ tính khả thi và thực tiễn của nó
2.3.2 Ở bậc Đại học
Ở các trường Đại học, Cao đẳng có ngành sư phạm, chương trình đào tạo SV –các GV tương lai – cũng chưa thay đổi, SV sư phạm sắp ra trường cũng chưa được bồidưỡng kiến thức hay kỹ năng về DHTH
2.4 Thực hiện khảo sát sinh viên và giáo viên
2.4.1 Mục tiêu khảo sát
- Khảo sát mức độ quan tâm về DHTH ở mức độ liên môn
- Khảo sát mức độ nhận thức về DHTH ở mức độ liên môn
- Khảo sát mức độ chuẩn bị về DHTH ở mức độ liên môn
2.4.2 Đối tượng, cách thức và thời gian khảo sát
Trang 34- Đối tượng khảo sát: SV năm cuối học ngành sư phạm của trường ĐHSP
Tp.HCM, một số GV ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Tp.HCM
- Cách thức khảo sát: Phỏng vấn trực tiếp, phiếu khảo sát (online)
- Thời gian khảo sát: Tháng 3 năm 2016 trong HK 2 của năm học 2015 – 2016
2.4.3 Nội dung khảo sát
Phỏng vấn trực tiếp (11 người gồm có 5 GV và 6 SV ở các môn Toán –
Lý – Hóa – Sinh – Văn – Địa)
- Câu 1: Bạn đã nghe đến việc DHTH liên môn chưa?
- Câu 2: Thầy/cô, anh/chị hiểu DHTH liên môn là gì?
- Câu 3: Về bản chất, DHTH liên môn là thay đổi về nội dung, mục tiêu, phươngpháp, phương tiện hay cách đánh giá? (Có thể chọn nhiều phương án, nêu lý do) VậyDHTH là cải cách về phương pháp hay cải cách về nội dung?
- Câu 4: Tình huống nào đang giảng dạy theo quan điểm DHTH liên môn?
a) Sử dụng tiếng Anh để giảng dạy, cho bài tập, đề kiểm tra bằng tiếng
Anh nghĩa là tích hợp môn Anh văn, cho HS thuyết trình bằng máy chiếu, sử dụng bảng tương tác là tích hợp môn Tin học
b) Dạy cho HS kiến thức về một loài cây, cấu tạo của cây, cách trao đổichất trong cây, sau đó, cho chiều cao của cây và đặt tình huống có một con khỉ leo lênngọn cây, yêu cầu HS tính thế năng của con khỉ Như vậy có được xem là DHTH mônSinh học và môn Vật lý không?
c) Dạy cho HS về hệ tuần hoàn của máu trong cơ thể, dạy về áp suấtthủy tĩnh, sau đó yêu cầu HS tính áp suất máu lên thành mạch, mở rộng đến kiến thức vềbệnh cao huyết áp có được xem là DHTH liên môn Lý – Sinh?
- Câu 5: Theo thầy/cô, anh/chị thấy việc DHTH có khả thi không? Vì sao?
- Câu 6: Năm 2018, Bộ GD – ĐT sẽ đổi SGK và áp dụng quan điểm DHTH liên môn thì thầy/cô, anh/chị lo lắng điều gì? Vì sao?
- Câu 7: Nếu được thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá HS, thầy/cô, anh/chị sẽ thay đổi như thế nào?
- Câu 8: Thầy/cô, anh/chị đã nghe đến cụm từ “dạy học phát triển năng lực HS” bao giờ chưa? Và mong muốn sẽ phát triển năng lực gì ở HS?
Trang 35Phiếu khảo sát online, có xác nhận thông tin của người trả lời (36 SV tham gia gồm 31 SV Lý, 2 SV Hóa, 1 SV Toán, 1 SV Địa và 1 SV Tin)
- Câu 1: Bạn đã nghe đến việc DHTH liên môn chưa?
- Câu 2: Theo bạn hiểu DHTH liên môn là gì?
- Câu 3: Về bản chất, DHTH là thay đổi về nội dung, mục tiêu, phương pháp, phương tiện hay cách đánh giá? (Có thể chọn nhiều phương án, nêu lý do)
Vậy DHTH là cải cách về phương pháp hay cải cách về nội dung?
- Câu 4: Tình huống nào đang giảng dạy theo quan điểm DHTH liên môn?
a) Sử dụng tiếng Anh để giảng dạy, cho bài tập, đề kiểm tra bằng tiếngAnh nghĩa là tích hợp môn Anh văn, cho HS thuyết trình bằng máy chiếu, sử dụng bảngtương tác là tích hợp môn Tin học
b) Dạy cho HS kiến thức về một loài cây, nguồn gốc, cấu tạo của cây,cách trao đổi chất trong cây, sau đó, cho chiều cao của cây và đặt giả thuyết có một conkhỉ leo lên ngọn cây, yêu cầu HS tính thế năng của con khỉ Như vậy có được xem là tíchhợp môn Sinh học không?
c) Dạy cho HS về hệ tuần hoàn của máu trong cơ thể, dạy về áp suấtthủy tĩnh, sau đó yêu cầu HS tính áp suất máu lên thành mạch, mở rộng đến kiến thức củabệnh cao huyết áp có được xem là DHTH liên môn Lý – Sinh?
- Câu 5: Theo bạn thấy việc DHTH có khả thi không? Vì sao?
- Câu 6: Năm 2018, Bộ GD – ĐT sẽ đổi SGK và áp dụng quan niệm DHTH thì bạn lo lắng điều gì? Vì sao?
- Câu 7: Nếu được thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá HS, bạn sẽ thay đổi như thế nào?
- Câu 8: Bạn đã nghe đến cụm từ “dạy học phát triển năng lực HS” bao giờ chưa?Bạn mong muốn sẽ phát triển năng lực gì ở HS?
- Câu 9: Nếu bạn học môn Vật Lý theo chủ đề thì bạn hứng thú với chủ đề như thế nào?
2.4.4 Kết quả khảo sát và nhận xét
Sau khi trao đổi, trò chuyện với 11 người tham gia phỏng vấn; tổng hợp các phiếu trả lời online của 36 bạn, tôi đã thu được các kết quả sau đây:
Trang 36Phương pháp 70%
Hình 2.2 Thống kế đáp án câu 3:
“DHTH là cải cách về mặt phương pháp hay nội dung”.
Đầu tiên là, chỉ có 2/47 người (chiếm 4,3%) đã có nghiên cứu về DHTH, kếtquả này là điều không mong đợi khi mà thời gian triển khai quan điểm DHTH khôngcòn xa Hầu hết GV và SV chỉ nghe về DHTH, chỉ có 3/47 người (chiếm 6,4%) nêuđúng chính xác mục tiêu của DHTH liên môn là giúp HS tổng hợp các kiến thức thuộcnhiều lĩnh vực từ đó hình thành và phát triển năng lực Và điều đáng chú ý là có đến33/47 người (chiếm 70,2%) nghĩ rằng bản chất của DHTH là cải cách về mặt phươngpháp, nghĩa là GV sẽ chú trọng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như dạyhọc nêu vấn đề, dạy học theo trạm, dạy học dự án, phương pháp Bàn tay nặn bột,…chứ không phải là thay đổi về mặt nội dung Từ đó chúng ta có thể nhận thấy GV ởtrường phổ thông và SV sắp ra trường tiếp nhận cải cách đổi mới chương trình giáodục phổ thông theo hướng thay đổi phương pháp Và nguyên nhân họ có suy nghĩ này
là do chương trình, SGK vẫn chưa thay đổi; tính ỳ của GV còn cao với “thói lệ thuộc”vào SGK, xem SGK là pháp lệnh, GV không dám sáng tạo, chủ động thay đổi nội
Trang 37dung kiến thức Giải pháp cho vấn đề này là không ngừng khuyến khích GV tự biên
soạn giáo án riêng, cũng như tham gia xây dựng ngân hàng bài giảng điện tử đúng với
chủ trương Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/06/2014 của Chính phủ Trong các GV
tham gia phỏng vấn có thầy Đoàn Hồng Hà – tổ phó tổ Vật lý trường THPT chuyên Lê
Hồng Phong Tp.HCM – thầy có nêu ý kiến về việc khuyến khích mỗi nơi sử dụng các
SGK khác nhau để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội đặc thù của vùng miền và
“trong tương lai Cục khảo thí sẽ được thay thế bằng Trung tâm kiểm định chất lượng
SGK của các nơi tự biên soạn”
“Trường hợp nào đúng với quan điểm DHTH?”
Thứ hai là, có đến gần 40% (18/47 người) nhầm lẫn “năng lực” và “kiến thức”
Tình huống tính thế năng của con khỉ trên ngọn cây hoàn toàn không thỏa quan điểm
DHTH mà vẫn có 5 người chọn; có 17 người cho rằng tình huống kết hợp tiếng Anh,
Tin học vào giảng dạy là đúng Thực ra tiếng Anh, Tin học chỉ được xem là công cụ,
không thể xem là đang tích hợp liên môn, trừ khi khi các kiến thức đó là nội dung của
bài, nằm trong mục tiêu kiến thức
Tiếp theo là, có lẽ do chưa thực sự hiểu rõ về quan điểm DHTH nên chưa có
đến 50% người tham gia khảo sát cho rằng việc áp dụng DHTH là khả thi Và điều lo
lắng lớn nhất của GV và SV khi việc DHTH được áp dụng là người học và người dạy
chưa quen (31,9%), kiến thức chuyên môn, kỹ năng về tích hợp không đủ (25,5%),
GV chưa được đào tạo, tập huấn (19,2%)
Kết quả khả quan nhất trong cuộc khảo sát là có đến hơn 70% GV và SV muốn
thay đổi cách thức đánh giá, từ đánh giá kết quả sang đánh giá quá trình và đánh giá
Trang 38năng lực; năng lực mà đến 33 trên tổng số 47 người mong muốn HS phát triển là nănglực tư duy, sáng tạo và giải quyết vấn đề Điều này tương đồng với mục tiêu củaDHTH nên chúng ta có thể kỳ vọng vào tính khả thi của việc cải cách cũng như sựđồng tình lớn hơn của GV khi hiểu rõ về lợi ích của DHTH
Trong kết quả khảo sát với SV, điều đáng quan tâm là chỉ có duy nhất 1 SVkhoa Sinh đã có học về DHTH ở trường ĐHSP Tp.HCM, còn hầu hết các bạn SV khoa
Lý nói riêng và SV các khoa khác nói chung đều chưa được đào tạo Do đó, vấn đề cấpthiết nhất tại thời điểm này là các bạn SV năm cuối sắp ra trường phải tự cập nhật, tựtìm hiểu, nghiên cứu và trang bị cho mình vốn kiến thức, kỹ năng về DHTH
Bên cạnh đó, khi khảo sát thêm về chủ đề Vật Lý mà SV hứng thú thì có đến42,4% SV muốn học chủ đề Vật lý và ứng dụng trong đời sống, dùng kiến thức Vật lý
để giải thích các hiện tượng tự nhiên, từ đó cho thấy rằng, các kiến thức Vật lý trongSGK hiện tại đang thiếu tính thực tế, không áp dụng được vào cuộc sống; HS học rấtnhiều kiến thức về mạch điện nhưng thậm chí còn không sửa được bóng đèn hư trongnhà mình Tiếp đến là, chủ đề Thiên văn và Vũ trụ chiếm đến 24,2% phiếu bầu của cácbạn SV, có lẽ do sự huyền bí của vũ trụ cũng như trong chương trình Vật lý phổ thôngkhông đề cập nhiều về chủ đề này Đây là một số liệu đáng để cho các nhà giáo dụcviết sách quan tâm Ngoài ra, còn một số chủ đề mà các bạn SV hứng thú là Vật lý vàthực nghiệm, chế tạo các thiết bị, mô hình; chủ đề về Quang học, thấu kính, tật khúc
xạ về mắt; chủ đề về Cơ học trong giải quyết tai nạn giao thông,…
Các kết quả khảo sát trên còn nhiều hạn chế do đối tượng khảo sát đa phần là
SV năm cuối khoa Vật lý trường ĐHSP Tp.HCM và GV đang làm việc tại trườngTHPT chuyên Lê Hồng Phong Tp.HCM, số lượng mẫu khảo sát không nhiều, các câuhỏi cũng chưa phản ánh hết được suy nghĩ cũng như thực trạng của việc DHTH.Nhưng tôi vẫn hy vọng, kết quả trên thể hiện được phần nào tình hình chung của việctriển khai đổi mới chương trình giáo dục mà Bộ GD – ĐT đang thực hiện
Trang 39CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP3.1 Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp
Dựa theo [7], [18] và một số tài liệu khác, quy trình xây dựng chủ đề tích hợp gồm có 7 bước cơ bản sau:
- Bước 1: Rà soát chương trình
- Bước 2: Lựa chọn chủ đề
- Bước 3: Xác định vấn đề – Tạo tình huống thực tiễn
- Bước 4: Xác định kiến thức của chủ đề
- Bước 5: Xây dựng mục tiêu của chủ đề
- Bước 6: Xây dựng tiến trình giảng dạy cho chủ đề
- Bước 7: Tổ chức dạy học và đánh giá lại chủ đề
Đọc hàng dọc
Là đọc chương trình một môn học từ trên xuống dưới Việc này có tác dụng xácđịnh tính liên tục, tính logic của mỗi môn học; sự phát triển của kiến thức trong tổngthể chương trình Từ đó, chúng ta có thể chọn lựa kiến thức để DHTH sao cho khi dạyđộc lập kiến thức đó thì tính logic, tính toàn vẹn không bị phá vỡ; mặc khác còn có thểgiúp kiến thức đó hoàn thiện hơn khi tích hợp thêm các môn học khác có liên quan.Đồng thời, việc “đọc hàng dọc” còn giúp chúng ta xác định được mức độ yêu cầu, mụctiêu cần đạt được của kiến thức đó
Đọc hàng ngang
Là để song song chương trình các môn học và đọc ngang từ môn học này sangmôn học khác Việc này có tác dụng xác định mối liên hệ giữa các môn học; sự pháttriển theo chiều ngang của kiến thức Từ đó, chúng ta có thể tìm thấy các kiến thức có
Trang 40tính tích hợp, các vấn đề được đề cập ở các môn học theo các khía cạnh khác nhau Vàviệc “đọc hàng ngang” còn giúp chúng ta thiết lập mục tiêu tích hợp sao cho phù hợpvới mức độ yêu cầu cần đạt của kiến thức ở các môn học thành phần Ngoài ra, ở bướcnày, chúng ta nên đánh dấu lại địa chỉ cụ thể của từng kiến thức muốn tích hợp
Các kiến thức cần chú ý khi đọc chương trình:
- Kiến thức được lặp lại nhiều lần trong một môn học hoặc trong nhiều môn học
- Kiến thức có tính ứng dụng, tính khám phá, tính huyền bí, tính thách thức và kích thích người học
- Kiến thức mang tính vùng miền, có liên quan mật thiết đến địa phương nơi đangsống
- Kiến thức có khối lượng không tương xứng với thời lượng giảng dạy (chú ý đếnkiến thức có khối lượng ít hơn thời lượng, chúng ta có thể dùng thời lượng dư để tích hợpthêm các kiến thức có liên quan)
- Kiến thức không cần thiết của môn học này nhưng lại bổ trợ, làm rõ cho kiến thức của môn học khác
- Kiến thức vượt quá khả năng tư duy HS nếu tiếp cận theo cách truyền thống
- Kiến thức có tính thời sự, tính phổ biến, gắn với vốn sống của HS
Tính phù hợp
Chủ đề và mức độ kiến thức tích hợp phải phù hợp với trình độ, vốn kiến thức
có sẵn và hứng thú của HS; đồng thời phải tương đồng với trang thiết bị, kỹ thuật củatrường học, với điều kiện giảng dạy, sỉ số HS, với kinh tế và văn hóa của địa phươngnơi đang sống
Tính hiệu quả
DHTH theo chủ đề phải hiệu quả hơn khi dạy học truyền thống HS có thể hiểubài tốt hơn, kích thích sự hứng thú và phát huy được các năng lực cũng như tính chủ