Lưu ý, đối với một hiện tượng vật lý có nhiều cách tiếp cận thì giáo viên nêngiới thiệu và yêu cầu học sinh phân tích nên chọn hướng tiếp cận nào để cho ra kếtquả nhanh nhất, chẳng hạn đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2019
Trang 2Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, đầu tiên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy TS Đỗ Văn Năng đã tận tình hướng dẫn và động viên trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Chủ Nhiệm Khoa Vật Lý Trường Đại Học Sư Phạm – TP Hồ Chí Minh, các Thầy (Cô) và các em học sinh Trường THPT Chuyên
Lê Hồng Phong - TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để khóa luận tốt nghiệp này được thực hiện và thực nghiệm sư phạm.
Xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy (Cô) thuộc Khoa Vật Lý Trường Đại Học
Sư Phạm – TP Hồ Chí Minh đã giảng dạy những kiến thức chuyên môn, một phần giúp cho khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện.
TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 04 năm 2019
Sinh viên
Đinh Trung Hưng
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các cơ sở, dấu hiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị 17
Bảng 1.2 Tám cách thể hiện dữ kiện, thông số trên đồ thị 22
Bảng 2.1 Trình tự sắp xếp hệ thống bài tập trong chủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị 29 Bảng 2.2 Các câu hỏi và gợi ý trong các bước của quy trình hướng dẫn học sinh (trình độ trung bình yếu) giải bài tập vật lý dạng đồ thị 116
Bảng 2.3 Các câu hỏi và gợi ý trong các bước của quy trình hướng dẫn học sinh (trình độ trung bình khá) giải bài tập vật lý dạng đồ thị 118
Bảng 2.4 Các câu hỏi và gợi ý trong các bước của quy trình hướng dẫn học sinh (trình độ khá giỏi) giải bài tập vật lý dạng đồ thị 120
Bảng 3.1 Thống kê số học sinh đạt điểm số của bài kiểm tra đầu vào 138
Bảng 3.2 Thống kê số học sinh đạt điểm số của bài kiểm tra đầu ra 138
Bảng 3.3 Kết quả các thông số thống kê 139
Trang 4Sơ đồ 1.1 Phương pháp giải bài tập vật lý 11
Trang 5MỤC LỤC
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Đối tượng nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIẢI, HƯỚNG DẪN GIẢI VÀ HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÝ DẠNG ĐỒ THỊ Ở TRƯỜNG THPT 4
1.1 Bài tập vật lý 4
1.1.1 Bài tập vật lý 4
1.1.2 Vai trò của bài tập vật lý 4
1.1.3 Phân loại bài tập vật lý 6
1.1.4 Phương pháp giải bài tập vật lý 9
1.2 Bài tập vật lý dạng đồ thị 12
1.2.1 Đồ thị 12
1.2.2 Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý 13
1.2.3 Các cơ sở, dấu hiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị 14
1.2.4 Một số cách thể hiện các dữ kiện, thông số trên đồ thị trong bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược 18
1.3 Thực trạng hoạt động hướng dẫn giải, giải và hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị ở trường THPT 23
1.3.1 Thực trạng 23
1.3.2 Một số thuận lợi và khó khăn 26
1.3.3 Phương hướng khắc phục 27
Trang 62.1 Biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị 28
2.1.1 Tiêu chí biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị 28
2.1.2 Hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị 30
2.2 Quy trình hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý dạng đồ thị 110
2.2.1 Quy trình giải bài tập vật lý dạng đồ thị 110
2.2.2 Quy trình hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý dạng đồ thị 115
2.3 Vận dụng quy trình hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý dạng đồ thị 122
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 137
3.1 Mục tiêu thực nghiệm sư phạm 137
3.2 Phạm vi và đối tượng thực nghiệm sư phạm 137
3.2.1 Phạm vi thực nghiệm 137
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 137
3.3 Tiến trình thực nghiệm 137
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 137
3.3.2 Tổ chức thực nghiệm 137
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 137
3.4.1 Phương pháp định lượng 137
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 138
3.6 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 139
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 142
Trang 71 Lí do chọn đề tài
Giải bài tập vật lý là kĩ năng được rèn luyện chủ yếu và chiếm nhiều thời giannhất trong nhiều kĩ năng mà bộ môn vật lý bồi dưỡng cho học sinh, việc giải bài tậpvật lý mang lại nhiều tác dụng tích cực như giúp cho việc ôn tập, củng cố và mởrộng kiến thức, kĩ năng cho học sinh, bài tập có thể là khởi đầu cho một kiến thứcmới hoặc có thể phát triển năng lực tự lực làm việc của học sinh, phát triển tư duysáng tạo của học sinh,… [2]
Bài tập vật lý được phân loại rõ ràng để giáo viên dễ dàng lựa chọn và sử dụnghợp lí các bài tập vật lý trong dạy học, nếu phân loại dựa trên tiêu chí là phươngthức giải thì bài tập vật lý được chia ra làm bốn loại cơ bản là bài tập định tính, bàitập định lượng, bài tập thí nghiệm và bài tập đồ thị (bài tập vật lý dạng đồ thị) [3]
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề giải bài tập vật lý Nhìn chung cácnghiên cứu đã có, dựa trên nguyên tắc sử dụng một phần kiến thức cụ thể của vật lýhọc như “cơ học” hoặc “dao động cơ” hoặc “dòng điện xoay chiều”, từ đó phân loạicác dạng bài tập, nêu phương pháp giải, xây dựng quy trình hướng dẫn giải hoặcphát triển các năng lực khác của học sinh thông qua quá trình giải bài tập đó
Ưu điểm của các nghiên cứu đã có là giúp cho giáo viên, học sinh có nguồn bàitập để rèn luyện, giúp cho giáo viên áp dụng các tiến trình dạy học để hướng dẫn họcsinh giải bài tập vật lý logic và hiệu quả, ngoài ra thông qua việc giải bài tập vật lý màhọc sinh có thể nâng cao được các kĩ năng, năng lực khác Tuy nhiên các nghiên cứu đã
có vẫn còn dựa nhiều vào hai loại bài tập chính là định tính và định lượng mà chưa cónhiều nghiên cứu về hai loại bài tập thí nghiệm và bài tập đồ thị, đặc biệt là loại bài tập
đồ thị Trong khi đó đồ thị là một công cụ toán học quan trọng, đồ thị có nhiều ứngdụng trong các môn khoa học và đời sống, chẳng hạn như phát hiện ra các bệnh liênquan đến tim mạch dựa vào “điện tâm đồ”, tiên đoán được các tiên đề Bo dựa vào
“quang phổ”, phát hiện ra các đại lượng vật lý mới dựa vào việc vẽ đồ thị của các kếtquả thực nghiệm, đồ thị giúp giải quyết được dễ dàng các bài toán về chuyển độngtrong thực tế… Những điều đó được thể hiện rõ ràng hơn khi những năm gần đây, đềthi trung học phổ thông quốc gia (THPTQG) môn vật lý đã chú trọng
Trang 8đến các bài tập vật lý dạng đồ thị, điều đó đã gây không ít khó khăn cho học sinh khichỉ quen với cách giải hai loại bài tập định tính và định lượng, đa số học sinh không có
kĩ năng lấy dữ kiện, thông số từ đồ thị khi giải các bài tập vật lý dạng đồ thị
Hiện nay các bài tập vật lý dạng đồ thị vẫn còn rời rạc, chưa có hệ thống bàitập về đồ thị riêng biệt để giáo viên, học sinh có thể tham khảo, các bài tập vật lýdạng đồ thị chủ yếu là mảng nhỏ của kiến thức vật lý phổ thông như dao động điềuhòa, điện xoay chiều,…
Chính vì những lí do kể trên, việc nghiên cứu đề tài “Biên soạn và hướng dẫn học sinh giải hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị trung học phổ thông” là cần thiết.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Biên soạn được hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị
+ Xây dựng được quy trình hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý dạng đồ thị
3 Giả thuyết khoa học
+ Nếu biên soạn được hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị và hướng dẫn học sinhgiải được bài tập vật lý dạng đồ thị thì sẽ giúp cho học sinh có được nguồn bài tập vật
lý dạng đồ thị phong phú và nâng cao được khả năng giải bài tập vật lý dạng đồ thị
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập vật lý, nghiên cứu cơ sở lý thuyết về đồ
Trang 95 Đối tượng nghiên cứu
+ Bài tập vật lý dạng đồ thị
Trang 10+ Quy trình hướng dẫn giải bài tập vật lý dạng đồ thị.
+ Học sinh trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, quận 5, TPHCM
+ Thời gian: Khoảng 9 tháng
7 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu các sách, giáo trình, các tạp chí, các nghiên cứu liên quan đến đề
tài nghiên cứu
+ Nghiên cứu phần “Đồ thị - hàm số” trong Toán
+ Nghiên cứu kiến thức vật lý chương trình vật lý phổ thông
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra, thu thập ý kiến về thực trạng hoạt động giải, hướng dẫn giải bài tậpvật lý dạng đồ thị của giáo viên và học sinh
* Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
+ Thực nghiệm tại trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, quận 5, TPHCM
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIẢI, HƯỚNG DẪN GIẢI VÀ HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÝ DẠNG ĐỒ THỊ
Ở TRƯỜNG THPT1.1 Bài tập vật lý
1.1.1 Bài tập vật lý
Bài tập vật lý được hiểu là một yêu cầu đặt ra cho người học, được người họcgiải quyết dựa trên cơ sở các suy luận logic nhờ các phép tính toán, các thínghiệm, dựa trên những kiến thức về khái niệm, định luật và các thuyết vật lý [2]
1.1.2 Vai trò của bài tập vật lý
Bài tập vật lý giúp cho việc ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức
Trong các giờ lý thuyết trên lớp học, học sinh được trang bị những kiến thứctrừu tượng về khái niệm, định luật, thuyết vật lý,… Khi học sinh rèn luyện các bàitập vật lý thì học sinh phải vận dụng những kiến thức trừu tượng đó vào nhữngtrường hợp cụ thể, nhờ thế mà học sinh nắm được các biểu hiện cụ thể của chúngtrong thực tế
Ví dụ: Thông qua các bài tập vật lý liên quan đến định luật II Niuton thì học
sinh thấy được định luật này có thể áp dụng để xác định chuyển động của tất cả cácvật mà học sinh thấy hàng ngày, từ chuyển động của các hạt đến chuyển động của
xe hoặc thậm chí là chuyển động của các hành tinh [3]
Bài tập vật lý là điểm khởi đầu để dẫn dắt đến kiến thức mới
Ở bậc Trung học phổ thông, các kiến thức vật lý, công cụ toán học của học sinh
đã phát triển, khả năng phân tích hiện tượng của học sinh nhạy bén Nếu bài tập vật
lý được giáo viên biên soạn và sử dụng khéo léo trong quá trình dạy học thì có thểdẫn dắt học sinh tự tìm tòi ra một hiện tượng mới, thậm chí học sinh có thể xâydựng một khái niệm mới để giải thích cho hiện tượng mới đó
Ví dụ: Khi vận dụng định luật II Niuton để giải bài toán tính trọng lượng của
một bao gạo khi bao gạo được đặt trên một cái cân và cả hệ cân và bao gạo được đặttrong một thang máy đang di chuyển lên xuống Dựa vào bài tập này học sinh có thểđưa vào khái niệm tăng, giảm trọng lượng [3]
Trang 12Bài tập vật lý giúp rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức vào thực tiễn
Các bài tập vật lý có thể liên quan đến các lĩnh vực khác nhau trong thực tiễnnhư khoa học kĩ thuật, giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp,… Các bài tập loạinày giúp học sinh có thể liên hệ giữa lí thuyết và thực hành, giúp học sinh có thểvận dụng các kiến thức đã học vào đời sống
Ví dụ: Vì sao đường ray tàu hỏa không làm nối tiếp nhau mà có những khe nhỏ giữa các đoạn đường ray” Để trả lời được câu hỏi này học sinh phải dựa vào
các tính chất sự giản nở vì nhiệt của vật rắn, như vậy sau khi trả lời được câu hỏinày thì học sinh đã vận dụng kiến thức vật lý đã học vào trong thực tiễn [3]
Bài tập vật lý giúp phát triển tư duy sáng tạo
Khi giải bài tập vật lý, học sinh phải tìm hiểu đề bài, xem đề bài đã cho nhữnggiả thuyết gì, cần tìm những đại lượng gì, học sinh phải phân tích hiện tượng vật lý,vận dụng hàng loạt các thao tác tư duy để xác lập các mối quan hệ giữa các đạilượng, thậm chí là tiến hành một số thí nghiệm để cho ra kết quả chính xác và nhanhnhất Chính vì thế nếu giáo viên biết cách lựa chọn loại bài tập có thể tối đa hóa khảnăng sáng tạo và tính tò mò của học sinh thay vì những bài tập chỉ yêu cầu áp dụngcông thức đơn giản có thể phát triển được tư duy sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú họctập cho học sinh [3]
Bài tập vật lý giúp kiểm tra kiến thức, kĩ năng
Ở tất cả các trường THPT hiện nay, việc kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học
sinh đều thông qua các bài tập dưới hình thức các bài kiểm tra như kiểm tra 15 phút,kiểm tra 1 tiết,… Dựa vào các bài kiểm tra đó giáo viên có thể kịp thời chỉnh sửa sailầm của học sinh mắc phải Giải bài tập vật lý đang là thước đo chính xác nhất đểgiáo viên có thể kiểm tra được mức độ nắm vững được kiến thức, kĩ năng của họcsinh, từ đó giáo viên có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học nhằm giúpquá trình dạy học đạt được hiệu quả cao [3]
Trang 131.1.3 Phân loại bài tập vật lý
Tùy theo mục đích mà bài tập được phân loại theo nhiều cách khác nhau: phânloại theo nội dung, theo phương thức giải, theo yêu cầu định tính hay định lượngcủa việc nghiên cứu vấn đề, theo yêu cầu luyện tập kĩ năng hay phát triển tư duysáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, theo hình thức làm bài là tự luận haytrắc nghiệm khách quan [5]
* Phân loại theo hình thức làm bài
Phân loại theo hình thức làm bài thì bài tập vật lý gồm hai loại là bài tập tựluận và bài tập trắc nghiệm
Bài tập trắc nghiệm gồm bốn dạng là “trắc nghiệm đúng – sai”, “trắc nghiệmnhiều lựa chọn”, “trắc nghiệm điền khuyết” và “trắc nghiệm ghép đôi” [5]
Phân loại theo yêu cầu luyện tập kỹ năng, phát triển tư duy thì bài tập vật lý gồm hai loại là bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo
Bài tập sáng tạo gồm hai dạng là “bài tập nghiên cứu” và “bài tập thiết kế” [5]
Bài tập định tính
Bài tập định tính là bài tập mà khi giải, phải vận dụng các khái niệm, định luật,thuyết vật lý,… hoặc thông qua một số phép tính toán đơn giản để giải thích hiệntượng vật lý [5]
Ví dụ: Giải thích tại sao thành ngoài của một cốc đựng nước đá lại ướt, mặc dù
trước khi đổ nước đá vào cốc ta đã lau khô cốc cẩn thận?
Bài tập định lượng
Bài tập định lượng là bài tập mà khi giải, phải vận dụng các khái niệm, địnhluật, thuyết vật lý,… để thiết lập các phương trình từ hiện tượng vật lý của đề bài,thông qua một loạt các phép biến đổi các phương trình để cho kết quả ở dạng kíhiệu hoặc đáp số định lượng cụ thể
Bài tập định lượng gồm hai dạng là “bài tập cơ bản” và “bài tập tổng hợp” [5]
Trang 14Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là bài tập định tính hoặc định lượng nhưng phải làm thínghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết choviệc giải bài tập [5]
Ví dụ: Cầm đầu trên của một sợi dây cao su có một quả nặng buộc ở đầu dưới.
Sợi dây cao su sẽ dãn ra hay co lại nếu ta đột ngột nâng tay lên cao hay hạ tayxuống thấp? Hãy làm thí nghiệm kiểm tra [5]
Bài tập đồ thị (Bài tập vật lý dạng đồ thị)
Bài tập đồ thị hay bài tập vật lý dạng đồ thị sẽ được tìm hiểu kĩ hơn ở mục 1.2.Bài tập vật lý dạng đồ thị được chia làm hai dạng là dạng thuận và dạng nghịch:Dạng thuận là dạng mà phải vẽ đồ thị, tức dựa trên các cơ sở tìm được các dữkiện và mối quan hệ giữa các dữ kiện, cần chọn hệ trục tọa độ, chọn các tỉ xích thíchhợp và biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý trên đồ thị
Dạng nghịch là dạng mà đồ thị đã được cho trong giả thiết của bài tập, lúc nàycác thông số, dữ kiện sẽ được thể hiện trên đồ thị, muốn giải được dạng này, yêucầu phải biết xử lý các thông số, dữ kiện đó để xác lập các mối liên hệ và đưa ra kếtquả cần tìm
Ví dụ: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa li độ x và thời gian t
của một vật dao động điều hòa Viết phương trình li độ x của vật?
Trang 15* Phân loại theo nội dung
Theo các chủ đề của tài liệu vật lý
Dựa vào nội dung vật lý chia các bài tập thành Cơ học, Nhiệt học, Điện học,Quang học,… Sự phân chia này có tính chất quy ước vì có khi kiến thức sử dụngtrong giả thiết của một bài tập không phải chỉ lấy từ một phần nội dung của giáotrình vật lý [5]
Bài tập kĩ thuật tổng hợp
Bài tập kĩ thuật tổng hợp là các bài tập mà nội dung liên quan đến những tàiliệu về kĩ thuật, về sản xuất nông công nghiệp, về giao thông liên lạc,… các số liệuphải là số liệu thực [5]
Ví dụ: Tại sao ở những đoạn đường cua thì mặt đường ở phần ngoài thường cao hơn ở phần trong.
Bài tập có nội dung lịch sử vật lý
Bài tập có nội dung lịch sử vật lý là bài tập chứa đựng những kiến thức có đặcđiểm lịch sử, những dữ kiện về các thí nghiệm vật lý cổ điển, về những phát minh,sáng chế hay những câu chuyện có tính chất lịch sử [5]
Ví dụ: Vào năm 1662 Boyle (1627 – 1691) nhà vật lý người Anh và người phụ
tá Townly, đã làm thí nghiệm tìm ra một định luật cho biết mối liên hệ giữa thể tích
và áp suất của một khối lượng khí xác định khi nhiệt độ của khối khí không thayđổi Định luật đó hiện nay có tên là gì và hãy phát biểu định luật đó
Bài tập vật lý vui
Bài tập vật lý vui là những bài tập sử dụng các dữ kiện, hiện tượng kì lạ, lí thú.Việc giải các bài tập này sẽ làm cho tiết học của học sinh sinh động, nâng cao đượchứng thú học tập của học sinh [5]
Ví dụ: Vào những ngày mùa đông, tiết trời rất lạnh, vì thế thông thường người
đi bộ phải đi nhanh để đỡ bị cóng rét Tuy nhiên chim bay nhanh trong tiết trời lạnhthì chúng lại bị rét cóng và rớt xuống đất Tại sao có sự mâu thuẫn như vậy, em hãythử giải thích?
Trang 161.1.4 Phương pháp giải bài tập vật lý
Từng dạng bài tập vật lý đều có một cách giải riêng, tùy vào nội dung bài tập,trình độ học sinh hoặc mục đích do giáo viên đặt ra Tuy nhiên muốn giải được mộtbài tập vật lý nói chung, thông thường đều phải trải qua bốn bước, đó là: tìm hiểu đềbài, phân tích hiện tượng, xây dựng lập luận và biện luận kết quả [4]
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
Khi đọc kĩ đề bài sẽ giúp học sinh hiểu rõ được vấn đề của bài tập muốnhướng tới và xác định được các thuật ngữ quan trọng của đề bài
Trong quá trình đọc đề bài, phải xác định được những đại lượng mà đề bài đãcho và đại lượng mà đề bài yêu cầu tìm, sau đó tiến hành việc tóm tắt bằng cách ghilại đại lượng đề cho và đại lượng cần tìm ở dạng kí hiệu vật lý, đối với các đạilượng đề cho phải có kèm theo trị số và đơn vị
Trong quá trình tóm tắt nên đổi tất cả đơn vị thành một hệ đơn vị thống nhất,thông thường phải đổi thành đơn vị chuẩn SI
Đối với các bài tập phức tạp, sau khi tóm tắt đề bài thì cần có một sơ đồ hoặcmột hình vẽ mô tả một cách ngắn gọn về các giai đoạn diễn biến của hiện tượng vật
lý nêu trong đề bài Nhìn vào trong sơ đồ hoặc hình vẽ có thể giúp cho học sinh cócái nhìn tổng thể về hiện tượng vật lý, không bỏ sót các giai đoạn diễn biến của hiệntượng vật lý [4]
Bước 2: Phân tích hiện tượng
Đối với các bài tập đơn giản thì học sinh có thể tự xác định được hiện tượngvật lý của đề bài có những giai đoạn diễn biến nào, mỗi giai đoạn đó có liên quanđến khái niệm nào, định luật nào hoặc thuyết nào trong vật lý Đối với các bài tậpphức tạp hơn, khi hiện tượng vật lý được đề bài ẩn dấu kĩ lưỡng bởi các thuật ngữquan trọng, thì giáo viên phải là người giúp học sinh bằng cách chuẩn bị một hệthống câu hỏi gợi mở liên quan đến các thuật ngữ quan trọng đó
Tùy vào mỗi loại bài tập liên quan đến cơ học, nhiệt học, điện học, quang học,…
mà giáo viên phải có cách dẫn dắt học sinh để phân tích hiện tượng khác nhau Chẳnghạn các bài tập liên quan đến động lực học chất điểm thì phải phân tích được vật
Trang 17Lưu ý, đối với một hiện tượng vật lý có nhiều cách tiếp cận thì giáo viên nêngiới thiệu và yêu cầu học sinh phân tích nên chọn hướng tiếp cận nào để cho ra kếtquả nhanh nhất, chẳng hạn đối với các bài tập cơ học thì có thể giải theo hướngnăng lượng hoặc theo hướng định luật Niuton [4].
Bước 3: Xây dựng lập luận
Sau khi nắm được các hiện tượng vật lý của đề bài liên quan đến khái niệmnào, định luật nào hoặc thuyết nào trong vật lý thì học sinh sẽ thiết lập được cácbiểu thức, phương trình vật lý liên quan đến đại lượng đã cho và đại lượng cần tìm.Sau khi thiết lập được các biểu thức, phương trình vật lý thì giáo viên yêu cầuhọc sinh suy nghĩ kế hoạch giải các biểu thức, phương trình vật lý đó để tìm đạilượng đề bài yêu cầu ở dạng kí hiệu vật lý (bằng chữ) được biểu thị thông qua cácđại lượng đề bài đã cho và tiến hành thế những trị số (đã đổi cùng một hệ thống đơnvị) của đại lượng đề bài đã cho để ra kết quả Nếu kết quả là số thập thân thì giáoviên cần hướng dẫn học sinh biết cách làm tròn sao cho hợp lí [4]
Bước 4: Biện luận kết quả
Học sinh cần đối chiếu kết quả với các điều kiện của đề bài hoặc các điều kiệnthực tế Chẳng hạn khi tính vận tốc của một chất điểm v = 4.108 m/s, kết quả này là
vô lí vì nó lớn hơn vận tốc ánh sáng là 3.108 m/s hoặc khi tính gia tốc trọng trường
ở mặt đất g = 9 m/s2, kết quả này là vô lí vì nó quá nhỏ so với gia tốc trọng trườngthật sự là khoảng 9,81 m/s2 [4]
Trang 18Trên đây là các bước chung để giải một bài tập vật lý, tuy nhiên tùy vào mức
độ của bài tập mà có thể bỏ qua một số bước, vì thế giáo viên nên linh hoạt khi ápdụng quy trình trên để hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý
Trang 191.2 Bài tập vật lý dạng đồ thị
1.2.1 Đồ thị
Để hiểu rõ hơn bài tập vật lý dạng đồ thị, ở mục này tác giả nhắc lại khái niệm
về đồ thị, đầu tiên tác giả nhắc lại khái niệm về hàm số
Nếu x gọi là biến số và y gọi là hàm số thì thông thường người ta kí hiệu y = f (x ) Chẳng hạn y = f (x ) = 2x + 3
Có thể lấy một ví dụ trong vật lý như sau: Biểu thức của định luật Ohm cho
đoạn mạch có dạng: I = UR , R là điện trở và giả sử R có giá trị xác định Vì ứng với mỗigiá trị của hiệu điện thế U ta chỉ xác định được một giá trị của cường độ dòng điện I nêncường độ dòng điện I chính là hàm số và hiệu điện thế U chính là biến số và có thể kí hiệuhàm số này là I = f(U)=U
R
* Đồ thị
Đồ thị là tập hợp tất cả các điểm biểu diễn các
cặp giá trị tương ứng (x ; y) của hàm số y = f (x )
trên mặt phẳng tọa độ [1]
Ví dụ: Cho hàm số y=f (x )=2x+1 , hàm số
này có đồ thị được biểu diễn trên mặt phẳng tọa độ
như hình bên
Trang 201.2.2 Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý
Đồ thị được xây dựng dựa trên mối quan hệ của hai yếu tố tổng quát x và y.Đối với môn vật lý hai yếu tố đó chính là hai đại lượng vật lý, hai đại lượng vật lýnày có mối quan hệ với nhau bằng một biểu thức vật lý và dựa vào biểu thức vật lý
đó có thể vẽ lên một đồ thị biểu diễn mối quan hệ của hai đại lượng vật lý
Một bài tập vật lý dạng đồ thị luôn gắn liền với đồ thị và đó là “đồ thị biểudiễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý”
Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý có các đặc điểm cơ bảncần lưu ý sau:
được thể
hiện bằng kí hiệu
Như đã phân tích, hai đại lượng trên hai trục tọa độ chính là hai đại lượng vật
lý, hai đại lượng vật lý này có mối quan hệ với nhau thông qua một biểu thức vật lýnào đó, chẳng hạn I=f(U)=U
R và hai đại lượng này phải được thể hiện trên hai trục tọa độ bằng kí hiệu
Đối với bài tập vật lý dạng đồ thị định tính thì không cần thiết phải thể hiệnđơn vị trên hai trục tọa độ
Đối với bài tập vật lý dạng đồ thị định lượng thì việc có đơn vị đi kèm trên haitrục tọa độ là bắt buộc, tùy vào từng đại lượng vật lý cụ thể mà phải có đơn vị đikèm tương ứng trên hai trục tọa độ
Đơn vị được thể hiện trên đồ thị không nhất thiết phải là đơn vị chuẩn SI,chẳng hạn như đơn vị của thời gian là giây (s) thì chúng ta vẫn có thể thể hiện trêntrục tọa độ là mili giây (ms), micro giây ( s ) hoặc (10-3 s)
+ Đặc điểm ba: Không nhất thiết vẽ đủ bốn miền
Trong vật lý có những đại lượng vật
dương, điều này dẫn đến các hàm số, tức
kèm, điều này dẫn đến việc khi vẽ đồ thị
lý mang giá trị âm, dương hoặc cả âm vàbiểu thức vật lý sẽ có những điều kiện đibiểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng
Trang 21vật lý có những miền mà đồ thị không xuất hiện Vì thế nếu miền đồ thị không xuất hiện thì không cần vẽ miền đó trên mặt phẳng tọa độ
Ví dụ: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa hiệu điện
thế U và cường độ dòng điện I qua một đoạn mạch có điện
1.2.3 Các cơ sở, dấu hiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị
Để biên soạn được các bài tập vật lý dạng đồ thị thì cần biết các cơ sở, dấuhiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị Bài tập vật lý dạng đồ thị bao gồm haidạng là dạng thuận và dạng ngược
* Các cơ sở, dấu hiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị dạng thuận
+ Không có đồ thị đi kèm trong đề bài
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng thuận sẽ không có đồ thị đi kèm trong đề bài,nhìn chung một bài tập vật lý dạng đồ thị dạng thuận giống các bài tập vật lý dạngđịnh lượng thông thường, chỉ khác ở yêu cầu của đề bài
+ Có yêu cầu vẽ, dựng đồ thị
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng thuận thì các yêu cầu của đề bài sẽ là vẽ hoặcdựng lại đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý Việc vẽ, dựng đồ thịnhờ vào biểu thức vật lý thể hiện mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý và các số liệu
Trang 22tìm được từ các dữ kiện mà đề bài cho thông qua một hoặc nhiều các hiện tượng vậtlý.
Khi vẽ, dựng đồ thị phải đảm bảo đồ thị phải có ba đặc điểm như đã phân tích
ởtrên, đó là “đại lượng trên trục tọa độ là đại lượng vật lý và được thể hiện bằng kí hiệu”, “có đơn vị đi kèm trên trục tọa độ”, và “không nhất thiết vẽ đủ bốn miền”
Ví dụ: Lúc 9 giờ một ô tô khởi hành từ TPHCM chạy về hướng Đồng Nai với tốc
độ 60 km/h Sau khi đi được 45 phút thì xe dừng 15 phút rồi tiếp tục chạy với tốc
độ như lúc đầu Lúc 9 giờ 30 phút một tô tô thứ hai khởi hành từ TPHCM đuổi theo
ôtô thứ nhất với tốc độ 70 km/h Vẽ đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ vàthời gian của hai ô tô phù hợp với mô tả trên (thể hiện rõ số liệu trên đồ thị thờiđiểm và vị trí khi hai ô tô gặp nhau) [4]?
Sau khi tính toán thông thường thì có thể vẽ đồ thị như hình dưới đây:
+ Có đồ thị đi kèm trong đề bài
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược thì bắt buộc phải có đồ thị đi kèm (mộthoặc nhiều đồ thị) và đồ thị đó chính là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đạilượng vật lý Các dữ kiện, thông số sẽ được thể hiện hoặc ẩn dấu trên đồ thị biểudiễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý tùy vào từng kiến thức vật lý cụ thể
+ Đồ thị đi kèm thỏa ba đặc điểm của đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý
Như đã phân tích ở mục 1.2.2, đối với một bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược(định lượng) thì đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý phải có đủ bađặc điểm, đó là “đại lượng trên trục tọa độ là đại lượng vật lý và được thể hiện bằng kíhiệu”, “có đơn vị đi kèm trên trục tọa độ”, và “không nhất thiết vẽ đủ bốn miền”
Trang 23+ Phần dẫn đề bài có thể cho thêm giả thuyết
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược không phải lúc nào các dữ kiện, thông
số cũng được thể hiện hoàn toàn trên đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đạilượng vật lý, trong phần dẫn của đề bài có thể cho thêm nếu cần thiết
+ Có yêu cầu vẽ, dựng đồ thị, tính toán thông thường thông qua các dữ kiện, thông số được lấy từ đồ thị
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược thì đề bài cho một đồ thị biểu diễn mốiquan hệ giữa hai đại lượng vật lý và yêu cầu vẽ, dựng đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữahai đại lượng vật lý khác Yêu cầu này giống với yêu cầu của bài tập vật lý dạng đồ thịdạng thuận nhưng có thêm một công đoạn là phải lấy được dữ kiện, thông số đang đượcthể hiện trên đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý
Bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược cũng có thể yêu cầu tính toán thôngthường các đại lượng vật lý thông qua các dữ kiện, thông số đang được thể hiện trên
đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý
Một bài tập vật lý dạng đồ thị dạng thuận không nhất thiết phải có tất cả các cơ
sở, dấu hiệu nhận biết như vừa phân tích ở trên nhưng có thể cho một ví dụ có tất cảcác cơ sở, dấu hiệu nhận biết trên để có thể hiểu rõ hơn như sau:
Ví dụ: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa
vận tốc và thời gian của một vật chuyển động thẳng
Đồ thị bao gồm bốn giai đoạn (1), (2), (3), (4) Biết
tổng vận tốc của hai giai đoạn cuối là 30 m/s Tốc độ
trung bình của vật khi đi được 4 s bằng bao nhiêu?
Đầu tiên bài tập có một đồ thị đi kèm và có số liệu được thể hiện trên đồ thị
Trang 24Thứ hai đồ thị đã thỏa ba đặc điểm của đồ thị mối quan hệ giữa hai đại lượngvật lý, đó là “đại lượng trên hai trục tọa độ là đại lượng vật lý và được thể hiện bằng
kí hiệu”, “có đơn vị đi kèm trên trục tọa độ”, và “không nhất thiết vẽ đủ bốn miền”.Thứ ba phần dẫn của đề bài có thông báo đồ thị đang cho là đồ thị biểu diễnmối quan hệ giữa hai đại lượng nào “đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa vận tốc
và thời gian của một vật chuyển động thẳng”
Thứ bốn phần dẫn của đề bài có cho thêm giả thuyết “Tổng vận tốc của haigiai đoạn cuối bằng 30 m/s”
Thứ năm là đề bài yêu cầu tính “tốc độ trung bình của vật khi đi được 4s”
Bảng 1.1 Các cơ sở, dấu hiệu nhận biết bài tập vật lý dạng đồ thị
Bài tập vật lý dạng đồ thị
Dạng thuận
Dạng ngược
Trang 25Để có thể dễ dàng biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược thìviệc trình bày một số cách thể hiện các dữ kiện, thông số trên đồ thị là cần thiết.
* Cách 1: Khung lưới trên mặt phẳng tọa độ
Khung lưới được vẽ trên mặt phẳng tọa độ chia trục hoành và trục tung thànhnhững đoạn bằng nhau, khi biết tọa độ của một vị trí trên trục hoành hoặc trục tungthì có thể suy ra tọa độ của các vị trí khác trên trục hoành hoặc trục tung nhờ vàonhững đoạn bằng nhau đó
Ví dụ: Trên trục OI của đồ thị bên, khung lưới chia trục
OI thành bốn đoạn bằng nhau, khi ta biết vị trí của số 2 thì ta
có thể suy ra A = 1, B = 3 và C = 4 Suy ra tương tự cho trục
OU
* Cách 2: Đơn vị trên hai trục tọa độ
Đơn vị trên hai trục tọa độ không nên lúc nào cũng là đơn vị chuẩn SI, nên cónhiều hình thức thể hiện đơn vị trên hai trục tọa độ trong các bài tập vật lý dạng đồthị dạng ngược khi biên soạn
trường có vecto cảm ứng từ ⃗B vuông góc với mặt phẳng khung dây Đồ thị bên biểu diễn
mối quan hệ giữa độ lớn ⃗B và thời gian t Biết điện trở của khung dây bằng 2 Ω Cường
độ dòng điện I chạy qua khung dây trong khoảng thời gian 0 s đến 0,4 s bằng bao nhiêu
Ampe?
Trên trục OB, thay vì thể hiện đơn vị là “T” thì có thể thể hiện “10-3 T” như đồthị hoặc “mT”
Trang 26* Cách 3: Điểm đã biết tọa độ chính xác
Đây là cách thể hiện dữ kiện, thông số đơn giản nhất, được thể hiện trong cácbài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược ở mức độ đơn giản, không gây nhiều khó khănkhi lấy dữ kiện, thông số từ đồ thị Để thể hiện cách này cần chọn ra các điểm thuộc
đồ thị và chiếu vuông góc từ điểm đó đến hai trục tọa độ
Ví dụ: Hai đồ thị dưới biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời gian của một vật chuyển động thẳng.
* Cách 4: Hệ số góc
Hệ số góc của đường thẳng có hàm số b là giá trị a và ta có a = tanα, với
α là góc hợp với trục hoành như đồ thị bên. y = f(x) = ax + bởi đường thẳng
Trong vật lý, hệ số góc của đường thẳng có biểu thức vật lý Y = F(X) = AX
+ B là giá trị A và ta có A = y tanα , với là góc hợp bởi đường thẳng với trục
hoành như đồ thị bên, x là đơn vị của đại lượng vật lý X trên trục tung, y là đơn vị của
đại lượng vật lý Y trên trục hoành.
Ví dụ: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ x và
thời gian t của một vật chuyển động thẳng
Vì đồ thị có dạng là đường thẳng qua gốc tọa độ nên vật chuyển động thẳng đều với
phương trình x = vot Giá trị tốc độ vo được xác định: vo = cms tan45o = 1 cm/s = 0,01
m/s.
Trang 27* Cách 5 : Điểm kết thúc của đồ thị
Để thể hiện dữ kiện, thông số “điểm kết thúc của đồ thị” trên đồ thị yêu cầu biểu thức vật lý có điều kiện giới hạn đi kèm, chẳng hạn khi chiếu ánh sáng từ không khí vào môi trường có chiết suất n thì biểu thức định luật khúc xạ ánh sáng có dạng sini = nsinr, biểu thức vật lý này có điều kiện là 0o ≤ i ≤ 90o ứng với 0 ≤ sini ≤ 1, tại vị trí i = 90o hoặc sini = 1 có thể thể hiện được dữ kiện, thông số “điểm kết thúc của đồ thị”.
Ví dụ: Chiếu một chùm sáng hẹp song song từ không khí
vào mặt phân cách thứ nhất của bán trụ trong suốt với góc tới
i thì góc khúc xạ bằng r Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa
i và r Chùm sáng tiếp tục đi ra ngoài không khí ở mặt phân
cách thứ hai của bán trụ, để tia ló ra ngoài không khí bắt đầu
biến mất thì góc tới của chùm sáng ở mặt phân cách thứ hai xấp xỉ bằng bao nhiêuđộ?
Đồ thị trong bài tập này là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa góc tới i và góc
khúc xạ r khi chiếu chùm ánh sáng từ không khi vào bán trụ, ta có: sini = nsinr
(1).
Biểu thức (1) có điều kiện giới hạn là 0 o ≤ i ≤ 90 o , nên điểm A trên đồ thị là vị trí kết thúc của đồ thị, ứng với tung độ
i = 90 o
Để thể hiện dữ kiện, thông số “điểm cực trị của đồ thị” trên đồ thị yêu cầu đồ thị
đó phải có dạng là đường cong, tùy vào từng bài tập và kiến thức vật lý cụ thể mà
Trang 28tại điểm cực trị đó cần ghi rõ tọa độ hoặc không ghi rõ tọa độ để ẩn giấu đi dữ kiện
từ cách thể hiện này
Ví dụ: Trong các thí nghiệm về lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn đặt trong từ
trường đều Người ta cố định chiều dài của đoạn dây dẫn = 2 cm, cường độ dòng điện I =
300 A và thay đổi góc α hợp bởi dòng điện qua đoạn dây dẫn với vecto cảm ứng từ ⃗B và
đo độ lớn
lực từ F tác dụng lên dây dẫn Đồ thị bên biểu diễn một phần mối quan hệ giữa độ lớn lực từ F và góc α Độ lớn vecto cảm ứng từ ⃗B có giá trị bằng bao nhiêu Tesla?
Ta có lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn đặt trong từ trường đều có dạng = (1).
Bằng cách lập luận biểu thức (1), khi giải bài tập này học sinh cần
biết điểm A là điểm cực trị (cực đại) của đồ thị ứng với hoành độ bằng 90
và tung độ bằng
* Cách 7: Điểm thực nghiệm
Điểm thực nghiệm là giá trị đo được bằng thực nghiệm và được thể hiện trên
độ thị, điểm thực nghiệm sẽ chính xác khi càng gần với đường đồ thị lý thuyết
Để thể hiện dữ kiện, thông số “điểm thực nghiệm” trên đồ thị thì kiến thức vật
lý phải gắn liền với yếu tố thực nghiệm, chẳng hạn như đo góc tới i và góc khúc xạ rhoặc đo hiệu điện thế U và đo cường độ dòng điện I,…
Ví dụ: Trong giờ thực hành vật lý, một học sinh
dùng chùm sáng hẹp chiếu vào khối bán trụ và tiến hành
đo góc tới i và góc khúc xạ r Kết quả đo được học sinh
này biểu diễn ở đồ thị bên Chiết suất của khối bán trụ
bằng bao nhiêu?
Quan sát năm điểm thực nghiệm trong đồ thị này, ta thấy chỉ có điểm có tung độ = 25,5 là điểm nằm hoàn toàn trên đường đồ thị lý thuyết, bốn điểm còn lại thì bị lệch Vì thế khi giải bài tập này phải chọn điểm có = 25,5 để giải.
Trang 29khác
hoành độ cùng tung độ của hai hoặc nhiều hơn hai đồ thị
Các bài tập vật lý dạng đồ thị dạng ngược có hai hoặc nhiều hơn hai đồ thị làcác bài tập ở mức độ vận dụng và vận dụng cao Khi có hai hoặc nhiều hơn hai đồthị thì khả năng cao sẽ có điểm cắt nhau hoặc điểm cùng hoành độ khác tung độhoặc điểm khác hoành độ cùng tung độ của hai hoặc nhiều hơn hai đồ thị đó Việcthể hiện dữ kiện, thông số này giúp học sinh hiểu rõ bản chất của hiện tượng vật lý
Ví dụ: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa động
năng Wđ, thế năng Wt và thời gian chuyển động của một
vật khi thả vật đó từ độ cao xác định so với mặt đất Thời
gian kể từ lúc thả đến lúc vật chạm đất bằng bao nhiêu?
năng bằng thế năng, từ đó học sinh dễ dàng thiết lập các phương trình để giải.
Ở trên là tám cách thể hiện dữ kiện, thông số trên đồ thị, tùy vào mức độ bàitập, hình dạng đồ thị, kiến thức vật lý cụ thể mà phối hợp tám cách thể hiện này mộtcách hợp lí và hiệu quả
Bảng 1.2 Tám cách thể hiện dữ kiện, thông số trên đồ thị
Trang 301.3 Thực trạng hoạt động hướng dẫn giải, giải và hệ thống bài tập vật lý dạng
đồ thị ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động hướng dẫn giải, giải và hệ thống bài tập vật
lý dạng đồ thị ở trường THPT hiện nay, tiến hành phát phiếu khảo sát 15 giáo viêngiảng dạy vật lý và 56 học sinh thuộc các lớp khác nhau học tại trường THPTChuyên Lê Hồng Phong, quận 5, TPHCM
Nội dung và kết quả phiếu khảo sát của giáo viên và học sinh được trình bày ởphần phụ lục
1.3.1 Thực trạng
Trong tiết bài tập, đa số giáo viên dành nhiều thời gian để hướng dẫn học sinhgiải các bài tập vật lý dạng định tính và định lượng (65,22% giáo viên), trong khi đóchỉ có 15,22% giáo viên hướng dẫn học sinh giải các bài tập vật lý dạng thí nghiệm
và 19,56% giáo viên hướng dẫn học sinh giải các bài tập vật lý dạng đồ thị Khi giáoviên được hỏi là trong các đề kiểm tra trong lớp (đề kiểm tra 15 phút hoặc 1 tiết),thầy (cô) thường xuyên cho các bài tập vật lý dạng nào, thì kết quả là 40,54% giáoviên cho các bài tập vật lý dạng định lượng, 32,43% giáo viên cho các bài tập vật lýdạng định tính, 8,11% giáo viên cho các bài tập vật lý dạng thí nghiệm và 18,92%giáo viên cho các bài tập vật lý dạng đồ thị Quan sát kĩ hơn, tôi nhận ra, những giáoviên có hoạt động hướng dẫn và cho đề kiểm tra trong lớp bài tập vật lý dạng đồ thịchủ yếu là những giáo viên dạy những lớp chuyên Điều này cho thấy, việc hướngdẫn học sinh giải các bài tập vật lý dạng đồ thị vẫn có nhưng ít được chú trọng sovới các dạng bài tập vật lý dạng khác, trong các đề kiểm tra trong lớp giáo viêncũng ít cho các bài tập vật lý dạng đồ thị, trừ một số lớp chuyên cần giải bài tậpnhiều thì một số ít giáo viên có quan tâm đến bài tập dạng này
Phần lớn giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý dạng đồ thị khi kiếnthức vật lý có đại lượng vật lý biến đổi theo thời gian và kiến thức vật lý có liên quantrực tiếp đến thực nghiệm (81,48% giáo viên) Kết hợp với việc tìm hiểu các bài tập vật
lý dạng đồ thị trong các đề thi quan trọng như THPTQG, học sinh giỏi,… có thể
Trang 31kết luận rằng đa số giáo viên vẫn có quan niệm sai lầm về phạm vi kiến thức vật lýcho các bài tập vật lý dạng đồ thị, bất kì kiến thức vật lý nào cũng có thể liên quanđến bài tập vật lý dạng đồ thị nếu kiến thức vật lý đó có biểu thức vật lý thể hiệnmối quan hệ giữa hai đại lượng vật lý
Khi được hỏi về quy trình giải bài tập vật lý dạng đồ thị thì có 66,67% giáoviên có quy trình giải và từ đó hướng dẫn cho học sinh, có 33,33% giáo viên chưa
có quy trình giải nhưng cũng có thể giải được các bài tập vật lý dạng đồ thị và từ đóhướng dẫn cho học sinh khi, 80% giáo viên cũng cho rằng để giải được bài tập vật
lý dạng đồ thị thì cần tuân theo các bước tổng quát là “đọc đề, tóm tắt các dữ kiện,đổi đơn vị trên hai trục tọa độ, viết được biểu thức vật lý mô tả đúng hình dạng đồthị, tìm các điểm đặc biệt trên đồ thị, lập các phương trình từ các điểm đặc biệt, giảicác phương trình để cho ra kết quả và biện luận kết quả” Khi được hỏi về các lỗisai mà học sinh thường mắc phải khi giải bài tập vật lý dạng đồ thị thì có 15,79%giáo viên cho rằng “quên chú ý đến đơn vị trên hai trục tọa độ”, 34,21% giáo viêncho rằng “không viết được biểu thức vật lý ứng với dạng đồ thị”, 13,16% giáo viêncho rằng “không biết đồ thị mô tả hiện tượng vật lý như thế nào” và 36,84% giáoviên cho rằng “không biết cách lấy dữ kiện từ đồ thị” Điều này cho thấy, mặc dù đa
số giáo viên ít chú trọng các bài tập vật lý dạng đồ thị so với các bài tập vật lý dạngkhác nhưng về quy trình giải thì đa số giáo viên đã có, và có thể hướng dẫn đượccho học sinh của mình khi cần thiết
Có 95,24% giáo viên cho rằng việc giải bài tập vật lý dạng đồ thị là quan trọng
vì môn vật lý là môn khoa học thực nghiệm và đồ thị giúp mô tả hiện tượng vật lý
rõ ràng, trực quan, có 66,67% giáo viên cho rằng học sinh cảm thấy hứng thú trongviệc giải bài tập vật lý dạng đồ thị và đa số giáo viên cũng khẳng định rằng bài tậpvật lý dạng đồ thị đang càng ngày xuất hiện nhiều hơn trong các đề thi học kì, họcsinh giỏi và THPTQG Điều này cho thấy giáo viên nhận thức rõ tầm quan trọng củabài tập vật lý dạng đồ thị trong quá trình dạy và học
Khi được hỏi về các bài tập vật lý dạng đồ thị mà thầy (cô) đang có thì có46,67% giáo viên trả lời các bài tập rất đa dạng và phong phú, trải đều từ lớp 10 đến
Trang 32lớp 12, còn 53,33% còn lại thì chỉ có nhiều bài tập vật lý dạng đồ thị ở một số chủ
đề quan trọng như dao động điều hòa, dòng điện xoay chiều,… thậm chí là không
có nhiều, chỉ rãi rác ở một số chủ đề kiến thức vật lý
*Việc giải và hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị của học sinh
Khi được hỏi trong tiết bài tập, thầy (cô) dành thời gian để hướng dẫn em giải bàitập vật lý dạng nào, thì có 52,97% học sinh trả lời là bài tập vật lý dạng định lượng,32,53% học sinh trả lời là bài tập vật lý dạng định tính, 12,05% học sinh trả lời là bàitập vật lý dạng thí nghiệm và chỉ có 2,45% học sinh trả lời là bài tập vật lý dạng đồ thị,
có 2,17% học sinh thường xuyên, 17,39% học sinh thỉnh thoảng tìm thêm các bài tậpvật lý dạng đồ thị để tự rèn luyện thêm tại nhà và có đến 80,44% học sinh hiếm khihoặc chưa bao giờ tìm thêm các bài tập vật lý dạng đồ thị để tự rèn luyện thêm tại nhà.Điều này càng khẳng định giáo viên ít chú trọng các bài tập vật lý dạng đồ thị nên họcsinh không có động lực để tự tìm kiếm thêm bài tập vật lý dạng đồ thị
Khi được hỏi về hoạt động hướng dẫn giải bài tập vật lý dạng đồ thị của thầy(cô) thì có đến 81,64% học sinh trả lời thầy (cô) cho học sinh tự giải và sau một thờigian thầy (cô) tiến hành sửa lên bảng, chỉ có 18,36% học sinh trả lời thầy (cô) thôngbáo phương pháp giải cụ thể, nhấn mạnh một số đặc điểm khác biệt giữa bài tập vật
lý dạng đồ thị và dạng khác, điều này dẫn đến chỉ có 7,14% học sinh là đã cóphương pháp giải bài tập vật lý dạng đồ thị, còn 92,86% học sinh là vẫn còn gặpkhó khăn trong quá trình giải bài tập vật lý dạng đồ thị, học sinh giải bài tập vật lýdạng đồ thị theo kiểu “mò mẫm” Trong khi đó có đến 66,67% giáo viên đã có quytrình giải bài tập vật lý dạng đồ thị và hầu hết giáo viên đều có thể giải được các bàitập vật lý dạng đồ thị Điều này cho thấy quy trình giải của giáo viên có thể chưachuẩn hoặc giáo viên chưa làm nổi bật được các điểm khác biệt giữa bài tập vật lýdạng đồ thị và dạng khác để giúp học sinh cảm thấy dễ dàng hơn trong quá trìnhgiải bài tập vật lý dạng đồ thị
Đa số học sinh đều cảm thấy hứng thú khi giải các bài tập vật lý dạng đồ thị vớinhững lí do khác nhau như giúp giảm nhàm chán khi giải các bài tập vật lý tính toánthông thường, bài tập vật lý dạng đồ thị ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong các đề
Trang 33thi quan trọng như THPTQG, học kì hoặc học sinh giỏi, bài tập vật lý dạng đồ thị
mô tả hiện tượng một cách trực quan Điều này cho thấy học sinh nhận thức rõ tầmquan trọng của các bài tập vật lý dạng đồ thị
Khi được hỏi các em có mong muốn cung cấp một hệ thống bài tập vật lý dạng đồthị đầy đủ thì có đến 80,36% học sinh muốn, 10,71% học sinh rất muốn và 8,93% họcsinh cho rằng không cần thiết Có 51,47% học sinh mong muốn rằng thầy (cô) của các
em dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn các em giải bài tập vật lý dạng đồ thị nhằmđáp ứng được các đề thi quan trọng, đặc biệt là đề thi THPTQG
1.3.2 Một số thuận lợi và khó khăn
Kết quả khảo sát cho thấy một số thuận lợi và khó khăn trong hoạt động giải,hướng dẫn giải và hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị
* Thuận lợi
Hầu hết giáo viên và học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của các bài tập vật
lý dạng đồ thị với những lí do khác nhau trong quá trình dạy và học bộ môn vật lý,điều này còn được khẳng định hơn khi trong các đề thi quan trọng ngày càng xuấthiện nhiều
Hầu hết học sinh đều mong muốn được cung cấp một hệ thống bài tập vật lýdạng đồ thị đầy đủ, trải dài từ lớp 10 đến lớp 12 để các em có thể luyện tập
Hầu hết học sinh hứng thú khi giải các bài tập vật lý dạng đồ thị với những lí
do khác nhau và có nhiều học sinh mong muốn thầy (cô) dành nhiều thời gian hơn
để hướng dẫn các em giải bài tập vật lý dạng đồ thị
* Khó khăn
Hầu hết giáo viên ít chú trọng các bài tập vật lý dạng đồ thị so với dạng khác,điều này được thể hiện khi việc hướng dẫn học sinh giải các bài tập vật lý dạng đồthị chưa được đầu tư nhiều, trong các đề kiểm tra trong lớp ít có bài tập vật lý dạng
đồ thị
Hầu hết giáo viên đều có quy trình giải bài tập vật lý dạng đồ thị riêng và có thểgiải được các bài tập vật lý dạng đồ thị nhưng quy trình vẫn chưa được thống nhất,
Trang 34chưa chuẩn, còn mang tính tự phát, dẫn đến không hình thành được quy trình giảibài tập vật lý dạng đồ thị rõ ràng cho học sinh.
Còn nhiều giáo viên vẫn chưa có nhiều bài tập vật lý dạng đồ thị, bài tập vật lýdạng đồ thị mà giáo viên đang có chủ yếu tập trung ở một số chủ đề vật lý như daođộng điều hòa, điện xoay chiều,…
1.3.3 Phương hướng khắc phục
Để khắc phục được một số khó khăn trên, việc nghiên cứu quy trình giải vàquy trình hướng dẫn giải bài tập vật lý dạng đồ thị có ý nghĩa quan trọng trong việcnâng cao khả năng giải bài tập vật lý dạng đồ thị cho giáo viên và học sinh Bêncạnh đó việc biên soạn được hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị, trải dài từ lớp 10đến lớp 12 được phân loại theo từng chủ đề có ý nghĩa quan trọng trong việc giúpgiáo viên và học sinh có nguồn bài tập vật lý dạng đồ thị để giảng dạy và rèn luyện
Trang 35CHƯƠNG 2: BIÊN SOẠN HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÝ DẠNG ĐỒ THỊ VÀ QUY TRÌNH HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP VẬT
LÝ DẠNG ĐỒ THỊ2.1 Biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị
2.1.1 Tiêu chí biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị
Việc biên soạn hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị tuân theo một số tiêu chí sau:
* Đảm bảo phân loại theo chủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị
Hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị được biên soạn theo một số chủ đề theotrình tự các phần kiến thức có trong sách giáo khoa từ lớp 10 đến lớp 12 Chẳng hạnchủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị năng lượng trong chuyển động rơi tự do của vật,bài tập vật lý dạng đồ thị chương “khúc xạ ánh sáng”, bài tập vật lý dạng đồ thịchương “dao động điều hòa”
* Đảm bảo sắp xếp theo một trình tự trong các chủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị
Các bài tập vật lý dạng đồ thị trong từng chủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị đượcsắp xếp theo trình tự như bảng sau:
Trang 36Bảng 2.1 Trình tự sắp xếp hệ thống bài tập trong chủ đề bài tập vật lý dạng đồ thị
1 Bài tập vật lý dạng đồ thị định tính
Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: điểm đã biết
2
tọa độ chính xác Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: hệ số góc của
3
đồ thị Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: điểm kết thúc
4
của đồ thị Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: điểm cực trị
5
của đồ thị Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: điểm thực
6
nghiệm Bài tập vật lý dạng đồ thị có thể hiện dữ kiện, thông số: điểm cắt
7 nhau, điểm cùng hoành độ khác tung độ, điểm khác hoành độ cùng tung độ của hai hoặc nhiều hơn hai đồ thị.
Đảm bảo tính vừa sức
Hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị được biên soạn có các kiến thức toán lý, cáchđọc, lấy dữ kiện, thông số từ đồ thị phù hợp với trình độ phổ thông của học sinh
Đảm bảo học sinh được củng cố và ôn tập để khắc sâu kiến thức
Hệ thống bài tập vật lý dạng đồ thị giúp học sinh xác lập được các mối quan hệgiữa các đại lượng vật lý Mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý được học sinh xác lậpthông qua các quá trình, giai đoạn diễn biến của hiện tượng vật lý cụ thể được thể hiệntrên đồ thị, giúp học sinh hiểu rõ được bản chất của hiện tượng vật lý và từ đó có thểcủng cố và ôn tập để khắc sâu kiến thức đã được học trong tiết lý thuyết
Trang 37Câu 1: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Phương trình chuyển
động của vật có thể là
A x = -2t2 + 3t + 2 (m,s) B x = -3t2 – 3t + 3 (m,s).
C x = t2 + 3t + 5 (m,s) D x = 2t2 – 3t + 4 (m,s).
Câu 2: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Phương trình chuyển
động của vật có thể là
A x = t2 – t (m,s) B x = 2t2 + t + 1 (m,s).
C x = -t2 + t (m,s) D x = 2t2 (m,s).
Câu 3: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa gia tốc và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Chọn chiều dương là
chiều ngược chiều chuyển động của vật Trạng thái chuyển
động của vật trong hai giai đoạn (1) và (2) lần lượt là
A Nhanh dần đều, chậm dần đều B Chậm dần đều, nhanh dần đều.
C Nhanh dần đều, thẳng đều D Chậm dần đều, thẳng đều.
Câu 4: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Phát biểu nào dưới đây là
đúng.
A. Vật chuyển động nhanh dần đều cùng chiều dương
trong 0,75 giây, sau đó chuyển động đều ngược chiều dương
trong 0,25 giây và cuối cùng đứng yên
B. Vật chuyển động chậm dần đều cùng chiều dương trong 0,75 giây, sau đó
chuyển động nhanh dần đều ngược chiều dương trong 0,25 giây và cuối cùng chuyển động đều
Trang 38C. Vật chuyển động chậm dần đều cùng chiều dương trong 0,75 giây, sau đó
chuyển động đều ngược chiều dương trong 0,25 giây và cuối cùng đứng yên
D. Vật chuyển động nhanh dần đều cùng chiều dương trong 0,75 giây, sau đó
chuyển động chậm dần đều ngược chiều dương trong 0,25 giây và cuối cùng chuyểnđộng đều
Câu 5: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và
thời gian của một vật chuyển động thẳng Phát biểu nào
sau đây là đúng
A. Vật chuyển động chậm dần đều, sau đó chuyển
động nhanh dần đều và cuối cùng đứng yên
B. Vật chuyển động nhanh dần đều, sau đó chuyển
động chậm dần đều và cuối cùng đứng yên
C. Vật chuyển động chậm dần đều, sau đó đứng yên, sau đó chuyển động chậm dần đều và cuối cùng đứng yên
D Vật chuyển động chậm dần đều, sau đó đứng yên, sau đó chuyển động
nhanh dần đều và cuối cùng đứng yên.
Câu 6: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của hai vật chuyển động thẳng Mô tả nào dưới đây là
đúng
A. Hai vật xuất phát cùng một vị trí
B. Hai vật chuyển động ngược chiều nhau
C. Nếu hai vật chuyển động mãi mãi thì sẽ có 2 lần hai
vật cách nhau một khoảng xác định
Câu 7: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và
thời gian của hai vật chuyển động thẳng Mô tả nào dưới
đây là đúng
A. Vật (2) xuất phát trước vật (1)
Trang 39Câu 8: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa vận tốc và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Quãng đường vật đi
được trong 4 giây đầu tiên bằng
Câu 10: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của một vật chuyển động thẳng Phương trình chuyển
động của vật là
A x = -4t2 – 1t – 4 (m,s) B x = -3t2 – 2t – 3 (m,s).
C x = -2t2 – 3t – 2 (m,s) D. x = -t2 + 4t – 1 (m,s)
Câu 11: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và
thời gian của một vật chuyển động thẳng Phương trình
chuyển động của vật là
A x = 3t2 + 1,5t – 5 (m,s) B x = 3t2 + t – 5 (m,s).
C x = 3t2 + 2t – 5 (m,s) D x = -3t2 – 2t + 5 (m,s).
Trang 40Câu 12: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa vận tốc và
thời gian của hai vật chuyển động thẳng Biết khi hai vậtchưa chuyển động hai vật cách nhau 10 m và khi hai vậtgặp nhau thì vật (1) đã đi được 3 s Vận tốc của vật (2) là
A -2 m/s.
C -5 m/s.
Câu 13: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa gia tốc và
thời gian của hai vật chuyển động thẳng Biết khi vật (1)
bắt đầu chuyển động thì vật (1) có vận tốc bằng không, khi
vật (2) bắt đầu chuyển động thì vật (2) cách vị trí ban đầucủa vật (1) là 5 m và vận tốc bằng 2 m/s Thời gian
để hai vật gặp nhau là khi vật (1) đã đi được 3 s Giá trị của a là
A -1 m/s2
Câu 14: Đồ thị bên biểu diễn mối
thời gian của một vật chuyển động thẳng Tốc độ trung bìnhcủa vật trong 12 giây đầu tiên là
A 8,75 m/s.
C 9,17 m/s.
Câu 15: Đồ thị bên biểu diễn mối quan hệ giữa tọa độ và thời
gian của một vật bắt đầu chuyển động thẳng từ trạng thái
đứng yên Chuyển động được 2 giây thì vật thay đổi trạngthái chuyển động Biết trong giai đoạn (2) vật có độ lớn giatốc gấp hai lần độ lớn gia tốc trong giai đoạn (1) Tổng quãngđường đi được của vật trong 3 giây đầu tiên bằng
A 4,5 m