1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 4 tuổi thông qua đồng dao

165 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 9,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp quan sát Quan sát công tác phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và thực trạng sử dụng đồng dao trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ tại một số trường mầm nonthành ph

Trang 1

Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 2

Nguyễn Thị Huyền Anh

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

THÔNG QUA ĐỒNG DAO

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ PHAN THU HƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

do tác giả tự thu thập, phân tích một cách trung thực, khách quan và chưatừng công bố ở trong bất kì nghiên cứu khoa hoc học nào khác Mọi thôngtin trích dẫn trong luân văn đã được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố.

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 4

trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạytrong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu khoa học tại trường.

Tôi cũng xin được cảm ơn quý Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại họctrường Đại học Sư phạm TP.HCM; Ban Giám hiệu, các giáo viên đang côngtác tại các trường MN Họa mi 1 (Quận 5), trường MN 19/5 Thành phố (Quận

1) và trường MN Nhật Quỳnh (Gò Vấp) đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Võ Phan Thu Hương – Giảng viên KhoaGiáo dục mầm non, trường Đại học Sài Gòn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận vănnày Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo, các giảngviên, đồng nghiệp đang công tác tại khoa Giáo dục mầm non trường Đại họcSài Gòn đã tạo điều kiện, giúp đỡ, chia sẻ và luôn động viên trong suốt quátrình tôi thực hiện luận văn này

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Anh

MỤC LỤC

Trang 5

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục những chữ viết tắt trong đề tài

Danh mục các bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Khái niệm phát triển vốn từ 11

1.2.2 Đồng dao 14

1.2.3 Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao 15

1.3 Vai trò của đồng dao trong quá trình giáo dục trẻ 16

1.4 Đồng dao và sự phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi 20

1.4.1 Đặc điểm đặc trưng của thể loại đồng dao 20

1.4.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 -4 tuổi ở trường mầm non 23

1.4.3 Đặc điểm tiếp nhận đồng dao của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi 29

1.4.4 Những tác động tích cực của đồng dao đối với việc phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 31

Tiểu kết Chương 1 33

Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỒNG DAO NHẰM PHÁT

TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

Trang 6

2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 34

2.1.1 Mục đích khảo sát 34

2.1.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát 34

2.1.3 Nội dung khảo sát 35

2.1.4 Phương pháp khảo sát 35

2.1.5 Thời gian điều tra 36

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 36

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi trong hoạt động chăm sóc – giáo dục ở trường mầm non 36

2.2.2 Thực trạng sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 -4 tuổi ở trường mầm non 41

Tiểu kết Chương 2 46

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO Ở TRƯỜNG MẦM NON 47

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 47

3.1.1 Lựa chọn và sử dụng đồng dao trong quá trình phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 - 4 tuổi cần phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non nói chung và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ nói riêng 47

3.1.2 Lựa chọn và sử dụng đồng dao phải phù hợp với đặc điểm phát triển, đặc điểm vốn từ của trẻ MG 3-4 tuổi 48

3.1.3 Nguyên tắc phát triển vốn từ cho trẻ phải đảm bảo tính trực quan, cụ thể 48

3.2 Các biện pháp 49

3.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng hệ thống các bài đồng dao phù hợp mục đích phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 49

Trang 7

dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 51

3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng các trò chơi kết hợp với đồng dao nhằm củng cố, làm giàu vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 53

3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 56

3.3.1 Tổ chức khảo sát 56

3.3.2 Kết quả khảo sát 57

3.4 Tổ chức thử nghiệm biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao tại trường mầm non 59

3.4.1 Mục đích thử nghiệm 59

3.4.2 Mẫu và thời gian thử nghiệm 59

3.4.3 Nội dung, cách thức thực hiện 59

3.4.4 Điều kiện tổ chức thử nghiệm 60

3.4.5 Tiêu chí và thang đánh giá 61

3.4.6 Cách tiến hành thử nghiệm 68

3.4.7 Kết quả thử nghiệm 68

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 2.1 Mức độ cần thiết của việc PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi 36

Bảng 2.2 Quan điểm của giáo viên về mức độ cần thiết trong việc sử dụng

đồng dao nhằm PTVT cho trẻ 39

Bảng 2.3 Mục đích sử dụng đồng dao trong các hoạt động CS – GD trẻ 3 –

4 tuổi ở trường mầm non 42

Bảng 2.4 Số lượng bài đồng dao được sử dụng trong các hoạt động phát

triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non 44

Bảng 2.5 Những khó khăn của giáo viên trong việc sử dụng đồng dao nhằm

phát triển vốn từ cho trẻ 45

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp phát triển vốn

từ cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao 57

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển vốn từ

cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao 58

Bảng 3.3 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi cả hai nhóm TN và ĐC

Bảng 3.6 Điểm trung bình của các nhóm trước và sau thử nghiệm 77

Bảng 3.7 Kiểm định kết quả thử nghiệm của các nhóm trước và sau TN 82

Trang 10

Mức độ cần thiết của các loại vốn từ cần cung cấp cho trẻ 37Biện phápPTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi 38 Tần xuất sử dụng đồng dao trong các hoạt động phát triển vốn

từ trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầm non 41

Mức độ sử dụng các biện pháp giáo viên dùng để dạy đồngdao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi trong trườngmầm non 43

Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 - 4 tuổi cả hai nhóm

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ nói đặc biệt quan trọng đối với trẻ trong việc tạo các mối quan hệ

xã hội và kiểm soát hành vi của bản thân Song vốn từ là một trong những thành tốquan trọng, là chất liệu cơ bản của ngôn ngữ Đối với trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, lĩnhhội vốn từ là điều kiện quan trọng để giúp trẻ dễ dàng giao tiếp với những ngườixung quanh, đồng thời giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng,hình thành khái niệm, phát triển trí tuệ Đặc điểm nổi bật của trẻ mẫu giáo là khảnăng nắm bắt nghĩa của từ gắn liền với sự phát triển nhận thức tư duy Đó là quátrình phát triển liên tục, lâu dài cùng với các hoạt động giao tiếp Do đó, phát triểnngôn ngữ cho trẻ không chỉ giúp cho tư duy của trẻ phát triển mà còn là phươngtiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách - đạo đức Tác giả Đinh HồngThái cũng đã khẳng định: “Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiếtnhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất” [27]

Vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ như thế nào cho hiệu quả bền vững là nhiệm

vụ hàng đầu của giáo viên mầm non Dạy trẻ một cách cứng nhắc, ồ ạt là mộtphương pháp giáo dục không phù hợp đối với trẻ mẫu giáo, trẻ không tiếp thu vì trẻvừa học vừa chơi Dó đó, đề tài nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ, tìm rabiện pháp hiệu quả đề trẻ nhớ lâu, bền vững thông qua nguồn ngữ điệu đồng daohoàn toàn phù hợp với trẻ mẫu giáo

Ở trường mầm non hiện nay, việc giáo dục ngôn ngữ nói chung và phát triểnvốn từ cho trẻ mẫu giáo nói riêng rất được quan tâm thông qua các hoạt động vớinhiều phương tiện khác nhau Việc sử dụng đồng dao trong các hoạt động vui chơicủa trẻ ở trường mầm non vẫn được tổ chức thường xuyên Tuy nhiên, việc tận dụngkho tàng đồng dao như một phương tiện nhằm cung cấp vốn từ cho trẻ mẫu giáo tronghoạt động giáo dục ngôn ngữ vẫn chưa được các giáo viên thực hiện một cách có hiệuquả

Trang 12

Với những lý do nêu trên, đề tài: “Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu

giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao” được lựa chọn nghiên cứu nhằm xây dựng các

biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo một cách hiệu quả và bền vững thôngqua kho tàng đồng dao Việt Nam

Quá trình giáo dục nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao

Phát triển vốn từ là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển ngônngữ cho trẻ MN nói chung và trẻ MG 3-4 tuổi Đồng dao là thể loại gần gũi với trẻthơ, đã được sử dụng khá phổ biến ở trường MN, song việc sử dụng đồng dao nhưmột phương tiện phát triển vốn từ cho trẻ vẫn chưa được quan tâm thích đáng, việc

sử dụng đồng dao chưa hỗ trợ nhiều cho nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ Nếuxây dựng được hệ thống cơ sở lý luận khoa học, tin cậy; tìm hiểu, đánh giá đúngthực trạng sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 ở trường MN,

sẽ xây dựng được các biện pháp phù hợp, giúp giáo viên MN dễ dàng sử dụng đồngdao trong việc phát triển vốn từ cho trẻ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề làm cơ sở lý luận cho đề tài

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng việc sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từcho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ ChíMinh

Trang 13

5.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi thông quađồng dao; tổ chức khảo sát, thử nghiệm nhằm bước đầu đánh giá hiệu quả của cácbiện pháp đề xuất.

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại một số trường mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minhthuộc khu vực: nội thành, ngoại thành và ven thành phố

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóanhững nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng khung lýluận của đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát công tác phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và thực trạng

sử dụng đồng dao trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ tại một số trường mầm nonthành phố Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ cho quá trình thực nghiệm

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng phiếu hỏi thu thập ý kiến của giáo viên mầm non trực tiếp dạy trẻ 3 –

4 tuổi nhằm tìm hiểu về thực trạng phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi ; thực trạnggiáo viên mầm non sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 -4 tuổi

7.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm nghiệm một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4tuổi thông qua đồng dao và đánh giá hiệu quả của những biện pháp đó

7.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý các số liệu thu thập được trong điều tra bằng phương pháp thống kê toánhọc

- Hệ thống cơ sở lý luận về việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao

Trang 14

- Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao.

- Bộ sưu tập các bài đồng dao và mục đích sử dụng; bộ câu hỏi sử dụng đồng daonhằm PTVT cho trẻ và bộ trò chơi – đồng dao nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi

Trang 15

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một bộ phận quan trọng trong giáo dụchọc mầm non, đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo được xem là một trongnhững nhiệm vụ cơ bản trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Cùng với sự hình thành

và phát triển của khoa học giáo dục mầm non, ngày càng có nhiều các nhà khoa họcthuộc các lĩnh vực khác nhau: tâm lý học, xã hội học, giáo dục học… quan tâm vàtham gia nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Với những quanđiểm khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu ở các lứa tuổi khác nhau và các góc

độ khác nhau

Theo Nguyễn Đức Dân dẫn trong tác phẩm “Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnhvực – khái niệm”, trường phái ngôn ngữ học miêu tả Mỹ bắt đầu từ L.Bloomfield với

công trình nổi tiếng “Language” – 1933 được xây dựng trên thuyết hành vi trong tâm

lý học của J B Watson Quan điểm ngôn ngữ học của ông cho rằng “mọi hành

vi ngôn ngữ của con người đều tùy thuộc vào những chuỗi nguyên nhân và hậu quả

có kích thích có phản ứng”, ngôn ngữ của trẻ được “hình thành thông qua sự bắtchước” [35]

Nhà giáo dục học người Nga - E.I.Tikhêva (1867 – 1943) đã mất rất nhiều nămcho việc nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo một

cách có hệ thống Tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em (dưới tuổi đến trường phổ

thông)” là một thành tựu to lớn cho nền GDMN nói chung và cho sự nghiệp phát triển

NN của trẻ MG nói riêng Bà cho rằng để mở rộng vốn từ cho trẻ không có con đường

nào khác ngoài con đường kinh nghiệm và quan sát bởi lẽ ứng với một từ là một khái

niệm, một biểu tượng Do đó, các phương pháp để giúp trẻ phát triển NN

Trang 16

dễ dàng nhất là phương pháp trực quan bao gồm tham quan, quan sát vật thật, tranhảnh, đọc thơ, kể chuyện v.v và biện pháp sử dụng trò chơi Thông qua việc làm quenvới vật thể và các đặc tính của nó rồi nhân đó cho các em nhớ những từ chỉ vật thể vàđặc tính của nó [30] Theo E.I.Tikhêva, việc mở rộng khối lượng từ cho các em trướchết là từ - biểu tượng chứ không phải là từ - âm thanh Vì vậy càng cung cấp cho trẻnhiều biểu tượng bao nhiêu thì NN của trẻ càng phát triển bấy nhiêu.

Tiếp tục kế thừa và phát triển công trình của bà, các nhà giáo dục trên thế giớibắt đầu quan tâm, nghiên cứu về các đặc điểm về vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp theotừng lứa tuổi và bước đầu xây dựng những phương pháp, biện pháp cho từng nhiệm

vụ trong quá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ như A Xôkhina với tác phẩm “Pháttriển lời nói cho trẻ mẫu giáo”, M M Kônxôva với “Dạy trẻ nói trước tuổi học”.Mối quan hệ giữa đặc điểm phát triển ngôn ngữ và đặc điểm giao tiếp của trẻmầm non được tác giả E Smirnôva đề cập đến trong bài viết “Phát trển lời nói chotrẻ - Nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên” Tác giả cho rằng trẻ lĩnh hội cácchuẩn mực ngôn ngữ, tiếp thu và mở rộng vốn từ thông qua việc giao tiếp vớingười lớn Tuy nhiên, những từ ngữ trẻ nghe thấy có thể trở nên thụ động và khôngbao giờ được sử dụng Chính việc giao tiếp với bạn giúp cho vốn từ thụ động củatrẻ trở nên tích cực thông qua những tình huống cụ thể nhất định

Theo Chomsky (1965) và một số tác giả khác cho rằng trẻ có khả năng lĩnhhội ngôn ngữ bẩm sinh Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ phát triển một cách hiệu quảtrong suốt những năm đầu đời của trẻ với tốc độ khá nhanh, vốn từ vựng mà trẻ tiếpnhận gia tăng từ 5 – 10 từ đến khoảng 24 tháng tuổi, mặc dù ngay tại thời điểm ấytrẻ chỉ mới nói được vài từ có nghĩa Nhiều vấn đề khác liên quan đến sự phát triểnngôn ngữ của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi đã được đề cập trong quyển “Trẻ em vàthế giới của chúng ta” do Đỗ Thanh Hương dịch của tác giả Kak – Hai – Nơdich.Phân tích về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, nhà tâm lý học Thụy Sĩ, JeanPiaget cho rằng ngôn ngữ và tư duy có sự tác động qua lại lẫn nhau, sự phát triển ngônngữ của trẻ đi từ lời nói có tính cá nhân đến lời nói có tính xã hội [4] Theo Piaget,những thao tác vận động của trẻ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển

Trang 17

của tư duy và ngôn ngữ Có thể thấy, ông đề cao vai trò của các hành động thực tiễnđối với sự phát triển tư duy của trẻ Tuy nhiên, đóng góp to lớn của ông trong việcnghiên cứu ngôn ngữ của trẻ đó là J Piaget cho ngôn ngữ của trẻ ở thời kì đầu có tính

“duy kỉ”, là thứ ngôn ngữ mang tính cá nhân và dần dần mới được “xã hội hóa”

Đồng quan điểm với J Piaget, nghiên cứu về việc hình thành và phát triển lời

nói, nhà tâm lí học người Nga L.S Vygotski (1896-1934) cũng đã xác định rằng tư duy và ngôn ngữ tuy có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau nhưng chúng không đồng nhất, giữa chúng có sự độc lập tương đối [4] Nhưng trong phát sinh lời nói

cá thể, L.S.Vygotski cho rằng ngôn ngữ của trẻ ngay từ đầu đã mang tính “xã hội”.

Ông đề cao vai trò của ngôn ngữ trong quá trình phát triển tư duy của trẻ Thuyết

“Vùng phát triển gần nhất”, giáo dục đảm bảo việc đi trước và đón đầu sự phát triểncủa trẻ là một trong những đóng góp quan trọng cho ngành giáo dục nói chung vàgiáo dục ngôn ngữ cho trẻ MN nói riêng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về vấn đề phát triển NN đã được quan tâm từ rấtlâu Điển hình là những nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Huy Cẩn, Nguyễn XuânKhoa, Đinh Hồng Thái, Hà Nguyễn Kim Giang, Lã Thị Bắc Lý, Lê Thị Ánh Tuyết,Nguyễn Thu Thủy, Ngô Thị Thái Sơn ; trong những năm gần đây đã xuất hiện

những luận án tiến sĩ về lĩnh vực nghiên cứu này của các tác giả Lưu Thị Lan, Võ Phan Thu Hương, Hồ Lam Hồng, Trần Nguyễn Nguyên Hân

Tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của Nguyễn

Xuân Khoa đề cập đến một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là những nội dung PTVT cho trẻ từ 3 – 6 tuổi.Theo ông, việc mở rộng vốn từ cho trẻ cần phải có một hệ thống các phương pháp,biện pháp để phát triển từ ngữ cho trẻ MG ở trường mầm non

Dựa trên những thành tựu nghiên cứu trước đây và cập nhật những kết quảnghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này, tác giả Đinh Hồng Thái đã cho thấy vai trò

của việc phát triển NN đối với sự phát triển của trẻ trong giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” Trong nội dung hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ

Trang 18

mẫu giáo, tác giả yêu cầu cần nắm vững những đặc điểm, nhiệm vụ, mội dung vànhững biện pháp, hình thức phát triển vốn từ cho trẻ MG ở từng độ tuổi.

Trong bài viết “Mở rộng vốn từ và dạy học nghĩa từ cho học sinh tiểu học” của tác giả Vũ Thị Ân trên tạp chí khoa học trường ĐHSP TP HCM bàn về việc

mở rộng vốn từ trong sự tích hợp với việc dạy học nghĩa từ, tác giả cho rằng “quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ nói chung là một quá trình liên tục, từ đơn giản

đến phức tạp”, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và “sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vịngôn ngữ nằm trong quy luật ấy” Vì vậy, tác giả nhận định việc “vận dụng linhhoạt các cách thức cụ thể với thao tác đơn giản trong mở rộng vốn từ và dạy nghĩacủa từ là những vấn đề mà giáo viên cần quan tâm một cách thường xuyên, liên tục

và tích hợp trong dạy học các môn học khác nói chung” [1]

TPVH được nhiều tác giả cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục trẻ Với

những tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của Nguyễn Thu Thủy, giáo trình “Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học” của Ngô Thị Thái Sơn, giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học” của Lã Thị Bắc Lý và Lê Thị Ánh Tuyết các tác giả đã cho thấy văn học có vai trò quan trọng trong việc góp phần mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, đồng thời góp phần phát triển năng lực trí tuệ Có thể nói rằng, quá trình lĩnh hội và tiếp nhận TPVH cũng giúp trẻ phát triển khả năng nghe, nói và phát triển vốn từ cả về số lượng và chất lượng [24].

Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong “Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” đã khái quát những nét đặc trưng trong việc tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo, những nguyên tắc, hình thức, phương pháp cơ

bản tổ chức hoạt động làm quen với TPVH, trong đó có đề cập đến việc tổ chứchoạt động dạy trẻ học ca dao, tục ngữ, đồng dao

Có thể nhận thấy rằng, phát triển NN cho trẻ mẫu giáo là một nhiệm vụ rất quantrọng và cần thiết ở trường mầm non hiện nay thông qua những thành tựu nghiên cứucủa các nhà khoa học từ trước đến nay Đồng thời, các công trình đóng góp đã kháiquát những đặc điểm, nguyên tắc, sử dụng đa dạng các phương tiện và vận dụng hệ

Trang 19

thống những phương pháp, biện pháp hiệu quả trong việc giáo dục NN nói chung vàPTVT cho trẻ mẫu giáo nói riêng.

Lịch sử nghiên cứu về thể loại đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Có thể nói Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những tác giả nghiên cứu và sưutầm đồng dao sớm nhất ngay từ năm 1943, ông đã đưa ra định nghĩa, bản chất đặc

trưng của thể loại đồng dao, trong bài viết Trẻ con hát trẻ con chơi, ông không

dùng thuật ngữ “đồng dao” mà gọi là “Trẻ con hát trẻ con chơi”

Năm 1968, Dương Quảng Hàm cũng đã bàn về thể loại đồng dao trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” và đồng nhất với Nguyễn Văn Vĩnh “đồng dao là các bài hát trẻ con”.

Năm 1969, tác giả Doãn Quốc Sỹ cũng đã đăng tải những nghiên cứu về đồng

dao trong “Ca dao nhi đồng” Tác giả không chỉ đưa ra định nghĩa về đồng dao mà

còn đưa ra cách phân loại đồng dao dựa trên nội dung phản ánh và hình thức thểhiện Theo tác giả, đồng dao phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau và bao gồm nhiềuthể loại như ca dao, tục ngữ, câu đố… của cả tác giả dân gian lẫn có tên

Chỉ từ sau cách mạng tháng Tám 1945, đồng dao mới được để ý hơn Sau sưu

tầm của Vũ Ngọc Phan, cuốn “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – Văn học dân gian”

(1972) đã in 17 trang dành cho hai mục: Hát vui chơi trẻ em và Hát ru em [22, tr277-293]

Có những nghiên cứu tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu một bài đồng dao cụ thể, như

trong bài viết “Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh

đăng trên Tạp chí Văn học số 4 (1977), tác giả chủ yếu nghiên cứu về ý nghĩa lịch

sử của bài đồng dao “Chi chi chành chành” [11].

Công trình tập thể của Viện Văn hóa dân gian – “Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt” đi sâu phân loại và đánh giá khá đầy đủ về đồng dao và trò chơi trẻ em

người Việt Công trình được các tác giả tập hợp và hệ thống lại các bài đồng dao từ

39 quyển sách cũng như các bài nghiên cứu về đồng dao được công bố trên các tạpchí, sách báo Chỉ riêng số lượng đồng dao cổ đã lên đến 577 bài [15]

Trang 20

Năm 1997, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra cuốn “Đồng dao Việt Nam” (tái bản

lần hai năm 2004) đã giới thiệu 176 bài đồng dao và chia thành năm chủ đề lớn.(Trần Gia Linh, Tái bản lần 2 năm 2004) Đến năm 2007, tác giả Trần Gia Linh

tuyển chọn và giới thiệu trong quyển “Kho tàng đồng dao Việt Nam” gồm 279 bài

đồng dao được biên soạn trước đó với sáu chủ đề lớn: đồng dao về thiên nhiên, đấtnước; đồng dao với trò chơi của tuổi thơ; đồng dao – những bài ca tập làm ngườilao động; đồng dao – cái nhìn ngộ nghĩnh của trẻ thơ; đồng dao – những câu đó lýthú và cuối cùng là những bái hát ru [14]

Luận án tiến sĩ Văn hóa học “Nghiên cứu, ứng dụng trò chơi - đồng dao người Việt cho trẻ em lứa tuổi mầm non và tiểu học” của tác giả Đỗ Thị Minh Chính đã khái quát những đặc điểm cơ bản của trò chơi – đồng dao xưa của người

Việt, đồng thời tìm hiểu sự kế thừa và phát huy các khúc hát đồng dao trong sángtác các bài hát đồng dao, trò chơi đồng dao cho trẻ em [5]

Trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu đồng dao trong hệ thống nghiên cứu thơ cho nhi đồng”, Lã Thị Bắc Lý cũng dựa trên sự khảo sát về nhịp điệu, tiết tấu cũng như việc phân tích nội dung, rút ra ý nghĩa quan trọng của đồng dao Từ đây tác giả

cho rằng cần phổ biến rộng rãi những bài đồng dao truyền thống cho các em, đồngthời phải dựa trên nền cũ để sáng tác thêm nhiều đồng dao mới cho các em [16].Liên quan đến vấn đề sử dụng đồng dao như thế nào trong việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ mầm non, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã đề cập trong bài viết

“Đồng dao

– nhìn từ góc độ dạy tiếng” một cách rõ ràng và khái quát “dạy tiếng kết hợp với tròchơi, với học hát là cách dạy phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp với trình độ, gâyđược hứng thú, không làm cho trẻ khó chịu, mệt mỏi” Điều đáng lưu ý là tác giả chorằng, thông qua đồng dao việc dạy từ gắn với dạy câu và qua hệ thống từ vựng màphát triển tri thức vốn sống

Ngoài ra, luận văn thạc sĩ “Thể loại đồng dao ở Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Thị Mười đã tìm hiểu về những đặc điểm thể loại đồng dao Việt Nam, tìnhhình thực trạng sử dụng đồng dao ở một số trường mầm non Tác giả cho rằng đây

là thể loại có triển vọng trong việc giáo dục trẻ mầm non

Trang 21

Có thể nói, những công trình này đã thể hiện sự quan tâm rất lớn đến việc giáodục ngôn ngữ cho trẻ và thể loại đồng dao dành cho trẻ nhỏ Có những nghiên cứu

đi sâu tìm hiểu những đặc trưng ngôn ngữ của đồng dao, phân loại đồng dao thànhnhững mảng nội dung lớn, nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể về việc sửdụng đồng dao trong giáo dục trẻ MN, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ cho trẻ MG 3-

4 tuổi

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm phát triển vốn từ

1.2.1.1 Từ trong hệ thống ngôn ngữ

Các nhà khoa học đứng trên nhiều phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa

ra những định nghĩa khác nhau về “từ” trong một ngôn ngữ Xem xét trên phươngdiện ngôn ngữ học, “từ” có sự phối hợp về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa được chấpnhận hơn cả

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ramột số định nghĩa về từ tiếng Việt như sau:

Theo Nguyễn Thiện Giáp, từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩadùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời” [9]

Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa “Từ là đơn vị nhỏ nhất có

nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [23]

Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan

niệm chung về từ tiếng Việt, đó là: Từ là đơn vị cơ bản nhưng cũng là thành phần

có cấu tạo phức tạp trong hệ thống tiếng Việt, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững và hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, được vận dụng một cách sáng tạo để tạo nên câu.

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ bắt đầu từ việc trẻ học và nhớ từng từ riêng lẻ, từ

là đơn vị ngôn ngữ tồn tại độc lập, có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ, là một chỉnh thểbao gồm hai mặt, mặt biểu hiện (âm thanh) và mặt được biểu hiện (ý nghĩa) Vì vậy,việc trẻ lĩnh hội từ ngữ có nghĩa là trẻ cần phải lĩnh hội được cả hai mặt nói trên

Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Đâycũng là một trong những khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài

Trang 22

nghiên cứu Nếu vỏ âm thanh được hiểu là hình thức biểu hiện bên ngoài của từ thìnghĩa chính là những thuộc tính căn bản bên trong từ biểu hiện sự vật, hiện tượng

đó Vì vậy, dạy trẻ 3-4 tuổi hiểu nghĩa của từ chính là dạy trẻ gọi tên và đặc điểmtính chất của đồ vật, hiện tượng quen thuộc xung quanh trẻ

1.2.1.2 Vốn từ

Tìm hiểu định nghĩa về vốn từ, các nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra nhiều

cách định nghĩa khác nhau: mỗi con người có được một ngôn ngữ nào đó chính là ở

họ đã có được những tập hợp từ hay nói cách khác là họ có một vốn từ vựng củamột ngôn ngữ

Luận án tiến sĩ “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh tiểuhọc” mặc dù nghiên cứu vấn đề của học sinh tiểu học nhưng trong mối liên hệ với

ngôn ngữ học, tác giả Lê Hữu Tĩnh có đề cập đến vốn từ vựng của cá nhân là toàn

bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được cá nhân lưu giữ trong trí óc và được cá nhân sử dụng trong giao tiếp [31].

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học đều có quan điểm chung về vốn

từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngônngữ đó”

Vốn từ mà mỗi cá thể trong cộng đồng ngôn ngữ đó có được phụ thuộc vào sựphát triển trí tuệ, nhận thức và kinh nghiệm lịch sử- văn hóa – xã hội của mỗi cánhân Vốn từ của mỗi cá nhân luôn thay đổi và phát triển theo độ tuổi, môi trườngsống và những hoạt động của cá nhân ấy Vì thế, khi phát triển vốn từ cho trẻ cầngắn liền với việc phát triển trí tuệ và nhận thức của trẻ

Nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non, Đinh Hồng Thái chorằng vốn từ của trẻ MN là “tập hợp các từ cần thiết đủ để trẻ giao tiếp được với bạn

bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu” [27]

Như vậy, trong giáo dục ngôn ngữ cho trẻ, vốn từ được hiểu là số lượng từ hay tập hợp các từ cần thiết được trẻ ghi nhớ và sử dụng trong giao tiếp cũng như

để tiếp thu các tri thức ban đầu.

1.2.1.3 Phát triển

Trang 23

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự giatăng thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng; đồngthời, nó cũng xem sự phát triển của quá trình tiến lên liên tục, không trải qua nhữngbước quanh co phức tạp.

Tuy nhiên, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạmtrù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Sự phát triển chính

là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập

Theo tác giả Hoàng Phê phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [23].

1.2.1.4 Phát triển vốn từ

Vốn từ của mỗi cá nhân có thể có được do quá trình tích lũy tự nhiên trongcuộc sống hằng ngày (giao tiếp với mọi người, tự đọc sách…) tức là từ được hìnhthành từ con đường vô thức và cũng có thể do con người tích lũy một cách có ýthức Trong một hệ thống ngôn ngữ, mỗi cá nhân có một vốn từ riêng, nghĩa là kho

từ của người này không thể trùng hợp với người khác một cách tuyệt đối Cá nhânnắm được một từ là phải nắm được cả mặt âm và mặt nghĩa của từ đó

Phát triển vốn từ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi vì từ là đơn vị

có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âm thanh và

ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũngnhư các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùngvới việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là haimặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau

Đối với trẻ mẫu giáo, những từ trẻ hiểu nhưng không nói được, nói được màkhông hiểu được, dùng từ chưa chính xác hay sai nghĩa trong ngữ cảnh giao tiếp là

từ thụ động Vốn từ tích cực - những từ trẻ hiểu và sử dụng được trong giao tiếp íthơn vốn từ thụ động [27] Vì vậy, việc giúp trẻ tiếp nhận và sử dụng vốn từ mộtcách tích cực là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục ngôn ngữ

Nói cách khác, phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo là cung cấp cho trẻ vốn từ

Trang 24

cần thiết về những gì có ở xung quanh, liên quan đến cuộc sống cá nhân của trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp.

mà những khi trông coi con em mình, người lớn hát trước, rồi trẻ em hát theo; hay

có khi ru trẻ ngủ, người mẹ hay người chị cũng dùng để hát, tuy những bài trongmục này không hẳn là những bài hát ru em Nhiều bài hát giống như những bàihọc thường thức, nhưng lại vần vè và nội dung thường vui, phần nhiều ngộ nghĩnh,làm cho trẻ em thích thú muốn nghe” [22]

Đồng dao cũng được hiểu là những bài hát truyền miệng của trẻ em lứa tuổinhi đồng và thiếu niên Vốn là những sáng tác dân gian không rõ tên tác giả, về sau

từ vần điệu của loại hình này, một số người sáng tác những bài thơ cho trẻ em hát

có tên tác giả, cũng được các nhà nghiên cứu gọi là đồng dao [15]

Riêng tác giả Vũ Tiến Phúc trong “Việt Nam văn học giảng minh” cho rằng

“Đồng dao là những câu ca dao theo thể thơ lục bát hay những câu hát 3 chữ, 4 chữ,

5 chữ… do trẻ em ca hát, chơi đùa với nhau Có những câu rất ngây thơ nghĩa lývừa đủ dạy những hiểu biết tầm thường… Nhưng bên cạnh những kiến thức sơđẳng ấy còn có những câu liên quan đến thời thế lịch sử” [29, 105-109]

Tác giả Nguyễn Văn Vĩnh không dùng thuật ngữ “đồng dao” mà gọi là “Trẻcon hát trẻ con chơi”, theo ông, những “câu hát trẻ con” bao gồm những câu vừahát vừa chơi, sau là những câu hát không phải có cuộc chơi và tiếp nữa là đếnnhững câu hát ru trẻ ngủ [34]

Bài nói chuyện “Đồng dao với trẻ thơ” trên VTV2 (2001), Nguyễn Ánh

Tuyết phát biểu “đồng dao là những câu vè, ngắn gọn có vần điệu, nhịp điệu đượctrẻ con thích và hát trong khi chơi, trong sinh hoạt cộng đồng”

Theo Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” cho biết “đồng

Trang 25

dao là các bài hát trẻ con” với nghĩa của từ “dao là bài hát không có chương khúc”.Trong định nghĩa này ông không xác định rõ đồng dao thuộc thể loại văn học dângian nào và gồm những loại tác phẩm nào [10].

Trong lời mở đầu tập “Ca dao nhi đồng”, Doãn Quốc Sỹ xác định đồng dao là ca

dao nhi đồng Tuy nhiên trong quá trình phân loại đồng dao, tác giả lại chia chúng làmnhiều lĩnh vực khác nhau, thuộc diện rộng: những bài hát luân lý, những bài hát vuichơi, những bài hát nói về nếp sống nông nghiệp và tập tục xưa, những bài hát với tròchơi trẻ con, câu đố Như vậy, tuy gọi là “ca dao nhi đồng” nhưng lại trải rộng thêmnhiều thể loại như ca dao, tục ngữ, câu đố… của cả tác giả dân gian lẫn có tên

[25]

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đồng dao được hiểu là những câu ca dao theo thể thơ lục bát hay những câu hát 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ… do trẻ em ca hát, chơi đùa với nhau; là những câu vè, ngắn gọn có vần điệu, nhịp điệu được trẻ con thích và hát trong khi chơi, trong sinh hoạt cộng đồng.

1.2.3 Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao

- Biện pháp: Theo Từ điển Tâm lí học, biện pháp là “cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [7] Theo Từ điển Tiếng Việt “biện pháp là cách làm, cách

giải quyết một vấn đề cụ thể” [23] Như vậy, trong mối quan hệ với quá trình giáo

dục, biện pháp được xem là những tác động sư phạm của giáo viên nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục.

- Biện pháp phát triển vốn từ: dựa trên những định nghĩa cơ bản về “biện pháp”, có thể hiểu “biện pháp phát triển vốn từ là những cách thức, những tác động sư

phạm của giáo viên nhằm cung cấp những vốn từ cần thiết về những gì có ở xungquanh, liên quan đến cuộc sống cá nhân của trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ vàbiết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp”

- Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao: được hiểu là những cách thức sử dụng đồng dao nhằm cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ cần thiết trong giao tiếp và liên quan đến cuộc sống xung quanh trẻ.

Trang 26

1.3 Vai trò của đồng dao trong quá trình giáo dục trẻ

“Đồng dao Việt Nam” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân cho rằng bằng phươngthức “chơi mà học, học mà chơi”, đồng dao có chức năng giáo dục trẻ em một cáchnhẹ nhàng và sinh động Tức là nói đến tác dụng chung trong việc hình thành vàphát triển nhân cách trẻ Xét tác dụng cụ thể, những lời hát đồng dao giáo dục các

em trong quan hệ với thiên nhiên, xã hội, trước hết là trong môi trường hoạt độngvui chơi của trẻ, qua đó rèn luyện ngôn ngữ, tiếp xúc với nhiều từ ngữ mới [6].Thể loại đồng dao mang đến cho những hiểu biết về đời sống con người, nhữnggiá trị văn hóa được cộng đồng thừa nhận và thực hiện từ thế hệ này sang thế hệ khác.Đối với trẻ, những ấn tượng từ những hình ảnh, âm thanh ngôn ngữ và nhịp điệu sẽ tạodấu ấn trong tâm hồn các em Bản chất của trẻ vốn giàu xúc cảm nên trẻ có thể cảmnhận được mọi vẻ đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc sống Đồng dao là nền tảng giúptrẻ xác lập được mối quan hệ tích cực với môi trường xung quanh

Trong giáo dục mầm non, đồng dao đã thực hiện nhiều chức năng, trong đó

chức năng nhận thức có vị trí quan trọng hàng đầu Đồng dao cung cấp những khái

niệm đầu tiên về sự vật hiện tượng - những kiến thức đơn giản đầu tiên về thế giới

xung quanh trẻ [19] Cùng với việc phát triển nhận thức, đồng dao còn phát triểnngôn ngữ cho trẻ thông qua việc cung cấp vốn từ gọi tên, mô tả đặc điểm, chứcnăng của các sự vật quen thuộc:

“Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái

Con gái có duyên

Đồng tiền có lỗ

Bánh ổ thì ngon

Cái cày làm ruộng Cái xuổng đắp bờ Cái lờ thả cá Cái ná bắn chim Cái kim may áo…”

Cái kéo thơ may

Có những bài đồng dao nội dung chằng liên quan gì nhau, có những câu chẳng

có ý nghĩa gì mới với người lớn nhưng lại là bài học nhận thức, là mẫu ngôn ngữcho trẻ học nói:

Trang 27

“…Đòn gánh có mấu Con cá có vây

Nhiều bài đồng dao còn là bài học dạy trẻ làm toán theo con đường cụ thể

hóa rất phù hợp với tư duy trực quan – hình ảnh của các em, mỗi con số tương ứng

với một hình ảnh [19] Các bài Đếm sao, Đếm ông tát bể, đào sông… là những bài

dạy đếm cho trẻ Khái niệm về số lượng qua những lần hát vui chơi sẽ đến với trẻmột cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không nặng nề như một bài học, bên cạnh kiến thứctoán học đầu đời, những bài đồng dao này cũng là nguồn cung cấp, làm giàu vốn từ

về lĩnh vực này cho trẻ

Đến với đồng dao, trẻ được xây dựng những ý thức đầu tiên về lao động nghềnghiệp Đôi khi chỉ là vài câu hát gợi lên những hành động lao động sơ đẳng:

“…Tay dệt vải

Tay vãi rau

Tay buông câu

Tay chặt củi

Tay đắp núi

Tay đào sông”

[Phụ lục 3, P15]

Trang 28

Những nghề nghiệp truyền thống qua đồng dao cũng đã góp thêm vào vốn kiến thức đầu tiên của trẻ:

sự to lớn kì dị, ngộ nghĩnh… con voi cùng với câu hát đồng dao đã trở thành bạncủa những đứa trẻ Đi từ những sự việc quen thuộc, gần gũi, đồng dao dần dần đưatrẻ đến với những vần đề xã hội có ý nghĩa hơn, rèn luyện cho trẻ những thói quen

và hành vi văn hóa trong xã hội [19] Những câu nói “nựng” thường mang ý nghĩagiáo dục đối với trẻ:

“Chìa la chìa lít

Bà cho ăn quit

Bà đánh đau tay Chắp tay lạy bà”

Nó lấy mất cưa Lấy gì mà kéo”

[14, 62]

Trang 29

Với vai trò đồng dao là phương tiện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trước hết,

đồng dao là bài tập rèn luyện ngữ âm cho trẻ [19] Nhằm giúp trẻ nghe rõ cách cấu

âm của một số yếu tố ngôn ngữ, người lớn bắt chước hòa theo cách phát âm của trẻbằng cách thêm vào một số tiếng đệm tạo ra một ngữ mở đầu cho các bài đồng dao

như: túng phình tùng phang, chè la chè lít, nu nan nu nống, dung dăng dung dẻ, sên sển sền sên, xu xoa xu xuýt, quặc quặc quạc quạc, rì rì rà rà… Qua tác phẩm

“Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của tác giả Nguyễn Thu Thủy đã đưa ra

một số

ý kiến về đồng dao và khẳng định đồng dao có tác dụng tốt trong việc rèn luyện bộmáy phát âm của trẻ, giúp trẻ cảm nhận được nhịp điệu, gợi cho trẻ cảm xúc vui tươiphù hợp với tâm hồn và cuộc sống của trẻ [28]

Dựa trên đặc trưng: đồng dao phản ánh sự vật, hiện tượng bằng phương pháp liệt

kê, đồng dao thật sự là một kho từ vựng phong phú, đa dạng về số lượng và từ loại,đặc biệt là vốn từ định danh Đối với trẻ nhỏ, đồng dao giúp trẻ dễ nhận biết những từgọi tên, chức năng, hoạt động,… của các sự vật hiện tượng quen thuộc với môi trườngsống của trẻ, những từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinhhoạt hàng ngày của trẻ; điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý của trẻ MG

[6]

“Con gà cụ tác lá chanh Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng”

[Xem phụ lục 3, P15]

Ngoài ra, đồng dao còn thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ [6] Nội dung đồng

dao thường phản ánh thế giới xung quanh trẻ và chính nhờ có vui chơi mà trẻ hiểusâu sắc hơn cuộc sống xung quanh Vui chơi với tư cách là hoạt động thực tiễn,giúp trẻ hiểu chính xác các biểu tượng về sự vật, sự việc Trong lúc chơi, trẻ có thểbiến các khái niệm trong lời đồng dao thành các hành động vui chơi

“Kéo cưa lừa xẻ

Trang 31

Về ăn cơm vua Ông thợ nào thua

Về bú tí mẹ…”

[14, 62]

Trong lúc đọc đồng dao, trẻ ngồi từng đôi đối diện nhau, nắm tay nhau, làmđộng tác kéo cưa theo nhịp bài đồng dao Qua hành động chơi, khái niệm về haingười cầm hai đầu cưa xẻ gỗ sẽ hiện ra Bên cạnh đó, trẻ còn học cách trao đổi tưtưởng, cách thỏa thuận, cách thương lượng cùng nhau Vì thế ngôn ngữ đóng vaitrò to lớn trong khi trẻ dùng đồng dao để vui chơi và ngược lại, vui chơi cùng đồngdao tạo cơ hội, môi trường thuận lợi cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ

Theo nhà giáo dục Nguyễn Thụy Anh, đồng dao kết hợp với trò chơi còn làphương tiện giúp bố mẹ giao tiếp với con và dạy con kỹ năng sống Bố mẹ/ngườilớn có thể qua đó để dạy con (đếm, phân biệt màu sắc, phát triển vốn từ vựng, tạo

sự nhạy cảm với ngôn ngữ, dạy trẻ những giá trị sống như đoàn kết, hợp tác, chia

sẻ, tạo sự khéo léo trong hành động chân tay…), cũng có thể qua đó mà hiểu con(con đang quan tâm đến điều gì, con thích gì, ghét gì, cách phản ứng của con đốivới một số sự việc thông qua trò chơi, nhu cầu của con…) từ đó mà tìm ra tiếng nóichung, cách tiếp cận con tốt nhất để có thể thật sự làm bạn cùng con

Tóm lại, đồng dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện chức năngnhận thức, chức năng giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non Với những chức năng vànhững nhiệm vụ nêu trên, đồng dao giữ một vai trò quan trọng trong đời sống củatrẻ em người Việt

1.4 Đồng dao và sự phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi

1.4.1 Đặc điểm đặc trưng của thể loại đồng dao

1.4.1.1 Nội dung phản ánh

Nội dung các bài đồng dao thường là vô nghĩa, hoặc ý nghĩa rời rạc, đang nóichuyện này lại nhảy sang chuyện khác; điều này khiến đồng dao thiếu tính nhất quán,giá trị nội dung phản ánh không cao; song lại phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi– trí tưởng tượng tự do, bay bổng của trẻ, do vậy có sức thu hút trẻ em mãnh liệt

Trang 32

Trong đồng dao, nội dung phản ánh là cái đẹp, sự phong phú của thiên nhiên, từ đó

cung cấp cho trẻ những khái niệm đầu tiên về thiên nhiên, xã hội và con người Thế

giới xung quanh phản ánh trong đồng dao là thế giới vừa rất quen thuộc, vừa rấtmới lạ, kích thích sự háo hức tìm tòi, khám phá của trẻ

Tóm lại, đồng dao chứa đựng một thế giới tự nhiên mà trẻ mẫu giáo luôn tò

mò, khám phá và một xã hội với những mối quan hệ giữa người và người mà trẻluôn khao khát được trải nghiệm

1.4.1.2 Đặc điểm nghệ thuật

Phép trùng lặp là đặc trưng nổi bật của đồng dao, từ ngôn từ, điệu thức đến

hành động kèm theo đều có sự lặp đi lặp lại mang tính chu kỳ; gây thích thú cho trẻ

em khi hát và chơi Các bài đồng dao như: Chi chi chành chành, Nu na nu nống, Lúa ngô là cô đậu nành, … trẻ lặp đi lặp lại bài đồng dao trong quá trình đọc và chơi, gần như không có điểm dừng, trẻ chỉ dừng đọc, dừng chơi khi đã thỏa mãn

nhu cầu chơi

Bút pháp: đồng dao sử dụng thể thơ 2, 3, 4 và 5 tiếng, thể thơ lục bát truyền

thống:

Cái mốt Cái mái Con trai Con hến …

[6, 291]

Tay dệt vải Tay vãi rau Tay buông câu…;

Trang 33

Cái tôm cái tép đi đưa bà còng …

[Sưu tầm]

Tuy nhiên, thể thơ 4, 5 tiếng là thể thơ phổ biến nhất trong đồng dao Nhữngcâu thơ ngắn, sinh động rất phù hợp đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em, trẻ dễ nhớ, dễthuộc đồng thời dễ kết hợp với những trò chơi dân gian

Cấu trúc phổ biến trong đồng dao là cấu trúc vòng tròn, thể hiện trong câu,

đoạn hay cả bài, cả tổ hợp, như Chi chi chành chành, Chồng lộng chồng cà, Chuyền thẻ, …

Tính vần, tính nhịp trong đồng dao: do phổ biến là thể thơ 2,3,4,5 tiếng, đa phần các bài đồng dao đều có vần lưng và vần chân tạo nên sự cân đối, nhịp nhàng.

Nhịp trong đồng dao có nhịp chẵn, nhịp lẻ và cả nhịp chẵn lẻ phối hợp Nhịp trongđồng dao 3 tiếng chủ yếu là nhịp ½, nhịp trong đồng dao 4 tiếng là nhịp 2/2- loạinhịp rất phổ biến, còn đồng dao 6 tiếng thuần túy là nhịp 2/2/2 [6] Nhịp trong đồngdao có cấu trúc gần với nhịp thở và phù hợp với thanh âm của các từ ngữ trong câu,bài đồng dao Tính vần tính nhịp đã tạo ra sự liền mạch xuyên suốt khiến cho đồngdao khi đọc lên có vần có nhịp như hát; trẻ đọc đi đọc lại bài đồng dao vẫn cảmthấy hào hứng, thích thú

Câu trong đồng dao ngắn và có nhiều nhịp nghỉ, tạo nên sự đều đặn, thuậnmiệng giúp trẻ có thể đọc liên tục hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần, vừa có tác dụng thỏamãn nhu cầu vui chơi, vừa giúp củng cố nội dung, ghi nhớ nội dung, sự kiện và từngữ được sử dụng trong bài

1.4.1.3 Đặc điểm về ngôn ngữ

Ngôn ngữ trong đồng dao giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, vui tươi, phùhợp cách nói cách nghĩ của trẻ em Đó là ngôn ngữ gồm những từ vựng cụ thể về tựnhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinh hoạt hàng ngày của trẻ [6]

Úp lá khoai Mười hai chong chóng Đứa mặc áo trắng Đứa mặc áo xanh

Trang 34

1.4.1.4 Hình thức và môi trường diễn xướng của đồng dao

Đồng dao thường kèm theo động tác, các trò chơi Trẻ em thường đọc đồng daokhi chơi, đồng dao có tác dụng giữ nhịp cho trò chơi Khi chơi, khi đọc đồng dao, trẻ

có thể chơi một mình, nhưng thường là chơi theo nhóm Ví dụ các trò chơi theo nhóm

kết hợp đồng dao: Nu na nu nống, Rồng rắn lên mây, Chi chi chành chành, Lộn cầu

vồng, Chuyền thẻ, … Thông qua trò chơi kết hợp đồng dao, giúp trẻ nhận biết thế giới

xung quanh; làm quen với những tình huống và kỹ năng ứng xử trong xã hội Trongquá trình chơi, trẻ được học lẫn nhau, rèn luyện khả năng hoạt động tập thể, vui chơicùng bạn bè và được bộc lộ cảm xúc và giao tiếp với bạn bè cùng chơi qua đó mọinăng lực của trẻ được kích thích phát triển, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ

1.4.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 -4 tuổi ở trường mầm

Trang 35

1.4.2.1 Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 -4 tuổi

Nhà giáo dục người Nga, E.I.Tikheeva là người đầu tiên đưa việc phát triểnvốn từ thành vấn đề nghiên cứu riêng Theo bà phải dạy trẻ hiểu nội dung những từ

mà trẻ lĩnh hội, phải mở rộng vốn từ cho trẻ bằng các từ cụ thể, các từ phù hợp vớinội dung nhận thức của trẻ Đó là những từ chỉ tên gọi của các sự vật, hiện tượngxung quanh trẻ [30] Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cho rằng, việc phát triển vốn từphải dựa trên cơ sở làm quen môi trường xung quanh, từ sự hiểu biết cuộc sống gầngũi tới những khái niệm mang tính chất xã hội, những sự kiện của đất nước [12]

Cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ về cuộc sống riêng hay những từ vựng gắn

với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ, đây là vốn từ ngữ phản ánh cuộc sống sinhhoạt, gắn với các hoạt động và môi trường mà trẻ được làm quen, tiếp xúc hàng ngày

nên có tần số và tỉ lệ cao hơn Việc cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ phản ánh cuộc sống

xã hội chính là cho trẻ làm quen với môi trường xã hội Trẻ cần có sự hiểu biết về

những việc làm của người lớn, trước hết là tên gọi những công việc, nghề nghiệp quenthuộc xung quanh trẻ, sau đó là những hoạt động lao động trẻ vẫn chưa có cơ hội tiếpxúc hay những thói quen văn hóa ẩm thực (tên gọi món ăn, nguyên liệu, thao tác thực

hiện…) Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên là một trong những nhóm từ quan trọng

cần cung cấp cho trẻ như tên gọi của một số loại quả, ví dụ: quýt, cam, chuối, hồng, ổi,

… tên gọi các loại rau, củ: mùi, hành, tía tô và một số loại xà lách, cải, su hào,… Chotrẻ gọi tên những động vật như gà, vịt, ngan; chó, mèo, lợn; trâu, bò, ngựa; chuồnchuồn, bươm bướm… Cung cấp cho trẻ những động từ chỉ sự vận động của các loàivật, ví dụ: trâu, bò, lợn… đi; ếch, thỏ… nhảy; cua, kiến, rắn… bò; chim, gà… mổ(thóc); trâu, bò… gặm (cỏ) Cho trẻ tìm hiểu về các hiện tượng thiên nhiên nghĩa làcung cấp cho trẻ những từ ngữ liên quan đến thời tiết, mặt trời, mặt trăng, nắng, mưa…

đó là cả một thế giới bí ẩn đối với trẻ

Trong Chương trình Giáo dục mầm non được Bộ GD&ĐT ban hành theo thông

tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 và thông tư số 28/2006/TT-BGDĐT ngày

Trang 36

30/12/2016, nội dung phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi đã được xác định cụ thể[2]:

- Nói rõ các tiếng

- Sử dụng được các từ thông dụng chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm …

- Sử dụng được câu đơn, câu ghép

Gọi tên những sự vật, hành động chính là hình thức đầu tiên để trẻ bắt đầu làmquen và nhận thức những đối tượng trong thế giới xung quanh Vì vậy việc PTVTcho trẻ không chỉ thực hiện mục tiêu giáo dục ngôn ngữ mà còn tác động động tíchcực đến sự phát triển toàn diện của trẻ

1.4.2.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi

Ngôn ngữ của trẻ ở lứa tuổi này phát triển rất nhanh, đặc biệt là vốn từ của trẻ.Đây được xem là giai đoạn vàng của quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ, xét về

cả tốc độ tích lũy và số lượng từ tích cực mà trẻ được tiếp nhận

 Vốn từ xét về mặt số lượng

Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề vốn từ của trẻ, nhưng rất khó có thể đưađược số lượng từ vựng chính xác mà trẻ ở độ tuổi này tích lũy được Tuy nhiên, một sốnhà khoa học đã có những nghiên cứu có giá trị về vấn đề này, cụ thể về số lượng từtrẻ tích lũy tăng lên một cách đáng kể chiếm 107%, nhưng ở lứa tuổi từ 4 đến 6 tuổi sựtăng lên về số lượng từ cuối năm tuổi so với đầu năm tuổi của trẻ ít chênh lệch hơn[13] Trong một nghiên cứu khác, tác giả cũng đã chỉ ra rằng vốn từ của trẻ tăng gấpnăm lần so với lứa tuổi trước đó Trẻ có khả năng sử dụng trung bình khoảng 1000 từ[20] Vốn từ của trẻ từ tháng thứ 6 đến cuối năm thứ hai có thể đạt đến 600 từ, và đếnnăm thứ ba, trẻ đã có thể sử dụng 1300 từ Ở trẻ 4 tuổi số lượng từ trẻ có được vàokhoảng từ 1900 đến 2000 từ, trẻ 5 tuổi có thể sử dụng được 2500 đến 2600 từ, còn trẻ

6 tuổi có khoảng 3000 đến 4000 từ [12] Từ những con số thống kê theo từng độ tuổi,

có thể nhận thấy tốc độ gia tăng vốn từ của trẻ mầm non là rất nhanh, đặc biệt là giaiđoạn từ năm thứ ba đến cuối năm 4 tuổi, số lượng trung bình mỗi năm có thể lên đến

700 từ và giảm dần ở những năm kế tiếp Các nhà nghiên

Trang 37

cứu gọi đó là “thời kì phát cảm ngôn ngữ” của trẻ, do đây là giai đoạn đứa trẻ có thể tiếp nhận được vốn từ vựng nhiều nhất, với tốc độ nhanh nhất và chất lượng nhất.

 Vốn từ xét về mặt cơ cấu loại từ

Các từ mà trẻ sử dụng có thể phân chia một cách ước lệ như sau: 60% là danh

từ, 20% là động từ, 10% là danh từ riêng và 10% là các loại từ khác như tính từ, đại

từ [20] Hay nói cách khác, xét về từ loại, hầu hết xuất hiện ở độ tuổi này là danh

từ, động từ, còn tính từ và các từ loại khác trẻ còn ít sử dụng Giai đoạn 3 – 4 tuổi,

về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ, trong đó tỉ lệ danh từ và động từcao hơn những loại từ khác

 Khả năng lĩnh hội ý nghĩa của từ

Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm bắt được những từ mang ý nghĩa cụ thể nhưnhững từ chỉ tên gọi các đồ vật trong gia đình (bát, đĩa, bàn ghế…), tên gọi độngvật, thực vật (lợn, chó, gà, vịt, cây chuối, quả na…)[12, 136-137] Có thể thấy được

sự nhận biết của trẻ ở giai đoạn này chủ yếu là các đồ vật, hành động và những hiệntượng thiên nhiên quen thuộc, gần gũi xung quanh trẻ, do đó vốn từ của trẻ phầnlớn là danh từ, động từ chỉ tên gọi sự vật, hiện tượng, hành động Trẻ lĩnh hội ýnghĩa của tính từ khó hơn danh từ Do đó, cần chú ý đến tỷ lệ các từ loại khác nhaukhi dạy cho trẻ, chọn lựa loại từ phù hợp với lứa tuổi

Trẻ 3 – 4 tuổi NN của trẻ phát triển theo lối tư duy mang tính chất cụ thể trựcquan, trình độ khái quát còn hạn chế, nên trẻ chỉ dựa vào đặc điểm bên ngoài hoặcdựa vào kinh nghiệm cụ thể của bản thân Để có được bước phát triển nhảy vọt nàytrẻ đã qua một bước chuyển tiếp từ lời nói bắt chước đến việc trẻ hiểu dần các từngữ đó liên quan đến các sự vật, hành động trong sinh hoạt của trẻ [13]

Như vậy, vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi tuy hạn chế về mặt cơ cấu từ loại, songdựa vào những đặc điểm trên, đây là giai đoạn giúp trẻ có thể tích lũy và lĩnh hội sốlượng lớn vốn từ ngữ liên quan đến những sự vật, sự việc, hành động và hiện tượngquen thuộc, gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ một cách hiệu quả Nói cáchkhác, PTVT cho trẻ trong giai đoạn này là hoàn toàn phù hợp và mang tính khả thi

1.4.2.3 Phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi

Trang 38

Đối với việc phát triển vốn từ, theo E.I.Tikheeva vốn từ của trẻ phát triển bằngcon đường trực quan cụ thể vì mỗi từ ngữ gắn với biểu tượng trực quan phải đượcthu nhận bằng thị giác, phải được phát thành âm và để mỗi từ đó ghi sâu vào trí nhớphải được lặp đi, lặp lại nhiều lần bằng thính giác và trong ý thức của trẻ [30] Việctích lũy và lĩnh hội vốn từ ngữ cần thiết là cơ sở để giúp trẻ có khả năng sử dụnglinh hoạt vốn từ đó vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Từ đó, giáo viên cónhững phương tiện, biện pháp phù hợp để thực hiện những nhiệm vụ PTVT cho trẻmẫu giáo một cách hiệu quả.

Do nội dung phát triển vốn từ cho trẻ rất đa dạng và phong phú, nhưng lạigần gũi và quen thuộc với cuộc sống của trẻ, nên cần lựa chọn các phương pháp,biện pháp phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Có thể sử dụng các phươngpháp cơ bản sau:

Hướng dẫn trẻ quan sát trong các hoạt động PTVT

Cho trẻ quan sát vật thật, đồ chơi: Dạy trẻ quan sát là dạy trẻ biết xem xét,phân tích, so sánh để tìm ra những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng quan sát, vềcác mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh Trong quá trình quan sát, cácgiác quan được huy động (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ…) Quá trình hướng dẫn trẻquan sát là quá trình có mục đích, có kế hoạch, thứ tự đi từ sự phân tích mặt nàyđến sự phân tích mặt khác, vừa đưa ra từ mới, vừa củng cố từ cũ

Muốn học nói, trước hết trẻ phải được nghe, được nhìn người khác nói Trẻ

em nghe và phân biệt các âm khác nhau, nhìn các cử động, quan sát khẩu hình môi,miệng của người lớn nói chuyện và bắt chước dần dần Chính vì vậy khi dạy trẻnói, người lớn phải ngồi đối diện với trẻ, và trò chuyện với trẻ để trẻ có thể nhìnthẳng vào mặt, vào môi, vào thái độ, tình cảm…của người cùng nói chuyện Chính

vì vậy mà ngay từ nhỏ, gia đình, nhà trẻ cần chú ý bảo vệ và rèn luyện cơ quanthính giác, bộ máy phát âm của trẻ Tạo điều kiện và khuyến khích trẻ phát âm vànói, điều đó có tác dụng nhất định đến qua trình phát triển lời nói của trẻ

Xem tranh ảnh, đồ dung trực quan là hoạt động mà trẻ có thể quaan sát nhữngđặc điểm thuộc tính của đối tượng – là những sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc

Trang 39

với trẻ, để từ đó trẻ có thể gọi tên đối tượng một cách chính xác Khi miêu tả các bứctranh, hình ảnh hay vật thật trẻ vừa được tiếp thu thêm những từ mới đồng thời huyđộng cả vốn từ cũ Có thể sử dụng các tranh vẽ kết hợp cho trẻ quan sát và đàm thoạitheo nội dung bức tranh để cho trẻ hiểu được từ, đặc biệt là các từ khái niệm…

Sử dụng biện pháp đàm thoại, trò chuyện để phát triển vốn từ cho trẻ

Trong quá trình tổ chức hoạt động, cô có thể trò chuyện với trẻ, qua đó cô “nóimẫu” để trẻ nghe cách phát âm chuẩn của cô và trẻ nói lại cho chính xác

Trong thời gian trò chuyện cùng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng từ đãbiết, chú ý củng cố vốn từ cho trẻ Ví dụ: Khi trò chuyện với trẻ về các loại hoa, cóthể hướng dẫn trẻ dùng các từ thơm phức, thơm ngào ngạt…

Cho trẻ quan sát kết hợp với lời giải thích hoặc sử dụng lời kể của cô để giúptrẻ hiểu nghĩa của từ một cách chính xác Ví dụ: Khi quan sát bể cá, trẻ sẽ thấy vànói được các từ cá quẫy đuôi, ngoi lên, lặn xuống, đớp mồi…

Đối với trẻ 3 – 4 tuổi, trong giao tiếp tự do, cô có thể sử dụng câu đố để củng

cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ hiểu rõ ý nghĩa của từ Cũng ở dạng đố, cô

có thể tổ chức dưới dạng trò chơi Ví dụ: Quả gì cong cong Xếp thành một nải/ Nảixếp thành buồng /Khi chín vàng thơm/ Ăn ngon ngọt lắm? (Quả chuối) Ở câu đốnày, trẻ sẽ học được các từ cong cong, nải, buồng, vàng thơm, ngon ngọt

Sử dụng trò chơi để phát triển vốn từ cho trẻ:

Trong khi trẻ chơi, bằng cách đưa thêm đồ chơi, nội dung chơi vào cho trẻ đểđưa thêm từ mới cho trẻ làm quen, chú ý cách dùng từ và sửa sai cho trẻ Ví dụ:Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề Gia đình, cô giáo đưa thêm đồ chơi như quần

áo, bàn là (bàn ủi)… và gợi ý trẻ biết các thao tác giặt, vò vắt, phơi, ủi…áo quần

Cô tăng cường tổ chức các trò chơi với từ, nội dung chơi phong phú hơn sovới trẻ 2-3 tuổi Ví dụ: Trò chơi Hãy kể đủ 3 thứ (trẻ phải kể 3 thứ có tên gọikhông trùng với bạn khác)

Sử dụng các trò chơi học tập

Trang 40

Cô giáo sử dụng các trò chơi học tập cho trẻ chơi Trong khi chơi, trẻ sẽđược phát triển khả năng khái quát hoá, giúp trẻ hiểu nghĩa khái quát của từ, biết sửdụng đúng những từ ngữ đó đồng thời phát triển tư duy cho trẻ.

Phát triển vốn từ cho trẻ là một nội dung quan trọng trong việc phát triển ngônngữ Nó là cơ sở thành lập câu và phát triển ngôn ngữ mạch lạc Việc phát triển vốn

từ phải được thực hiện trong tất cả các hình thức dạy nói cho trẻ và phải có kếhoạch cụ thể trong từng ngày, từng tuần

1.4.3 Đặc điểm tiếp nhận đồng dao của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian, mang những nét đặc trưngcủa một tác phẩm văn học Do đó, việc tiếp nhận đồng dao của trẻ cũng dựa trên cơ

sơ trẻ tiếp nhận những tác phẩm văn học khác

Trước hết, hứng thú văn học của trẻ lứa tuổi mẫu giáo một mặt được tạo điềukiện bởi những cái gần gũi, quen thuộc với trẻ, mặt khác là sự tìm kiếm những nộidung xa xôi, ngược hẳn so với thực tế cuộc sống đem đến những ngạc nhiên, bấtngờ [8] Trẻ MG 3 – 4 bắt đầu xuất hiện những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mẫugiáo nhưng vẫn còn ảnh hưởng bởi hoạt động chủ đạo của thời kì trước Trẻ luôn cónhu cầu khám phá đối tượng mới, khả năng tri giác vẫn phát triển mạnh và luôn tò

mò về thế giới xung quanh Ở giai đoạn này, hành động của trẻ vẫn gắn trực tiếpvới đối tượng cụ thể Vì vậy, những bài đồng dao kể vật, kể việc với đặc trưng ngônngữ gồm những từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi trong đời sống, sinhhoạt hàng ngày của trẻ rất phù hợp với trẻ lứa tuổi này

Trẻ từ 2 tuổi rất nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu thể hiện trong tác phẩm, cho

nên những bài thơ, câu chuyện giàu âm thanh, nhịp điệu, thể hiện nội dung cụ thể, gầngũi với nhịp sống của trẻ có ý nghĩa rất lớn đối với việc hiểu từ ngữ, cảm nhận ngônngữ nghệ thuật của trẻ Và trẻ có thể nhắc lại rất đúng những từ được phát âm [8] Sựnhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu của trẻ ở độ tuổi này chính là điều kiện thuận lợi đểcác nhà giáo dục tận dụng đồng dao như một phương tiện hiệu quả để rèn luyện, bồidưỡng tiếng nói cho trẻ thông qua việc phát triển khả năng ngôn ngữ và cụ thể làPTVT cho trẻ Những câu đồng dao ngắn gọn tạo nên ngữ điệu đơn giản,

Ngày đăng: 21/12/2020, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w