1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ

35 680 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả và Thảo luận về Tình hình Huy động Vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Cần Thơ
Trường học Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng qua các năm là do tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán tăng không ngừng qua các năm, tiền gửi thanh toán năm 2007 đã tăng lên đáng

Trang 1

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG SACOMBANK

CẦN THƠ 4.1 Tình hình nguồn vốn và huy động vốn

4.1.1 Tình hình nguồn vốn

Việc huy động vốn trong nền kinh tế chiếm vị trí quan trọng, góp phần ổn định đồng tiền trong nước, tạo điều kiện phát triển đất n ước Mặc dù trong những năm qua đứng trước tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến động và diễn biến phức tạp nhưng Sacombank Cần Thơ luôn bám sát định hướng của NHNN cũng như Ban lãnh đạo của Sacombank để có biện pháp chỉ đạo thiết thực, nhằm giữ mức tăng trưởng về vốn Trong 3 năm qua cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh thay đổi như sau:

Bảng 1 : Tình hình nguồn vốn của ngân hàng

Vốn huy động tăng, năm 2006 là 312.501 triệu đồng, 2007 đạt mức 431.469 triệu đồng, qua 2008 là 499.275 triệu đồng Đây là điểm mạnh của ngân hàng, nó

Trang 2

góp phần vào việc dự trữ, bổ sung kịp thời nguồn vốn cho ngân hàng Đồng thời,

nó cũng đánh giá được sự nổ lực của các cấp lãnh đạo trong công tác mở rộng nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Sacombank Cần Thơ Nguyên nhân là do hàng năm ngân hàng đều đưa ra nhiều đợt huy động vốn với nhiều kì hạn và lãi suất hấp dẫn, các hình thức huy động tiết kiệm bậc thang, dự thưởng khuyến mãi nhân các ngày lễ, tết, kỉ niệm… được tổ chức thường xuyên Qua đó, cho thấy Ngân hàng đã có những chính sách để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế để đảm bảo hoạt động kinh doanh cho Chi nhánh, l àm giảm bớt sự phụ thuộc của mình vào Hội Sở về nguồn vốn kinh doanh Tuy nhiên, nguồn vốn huy động từ dân cư vẫn không đủ đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của Ngân hàng nên Ngân hàng phải nhận vốn điều chuyển từ Hội Sở Ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là năm 2007 lượng vốn điều chuyển tăng so với năm 2006 là 11,79%, về số tuyệt đối là 46.367 triệu đồng, năm 2008 tiếp tục tăng lên 22,81% so với năm 2007, số tuyệt đối là 100.290 triệu đồng.Cho thấy chi nhánh chưa chủ động được nguồn vốn cho vay, điều này dẫn đến lợi nhuận hàng năm của chi nhánh sẽ giảm do lãi suất điếu chuyển vốn từ Hội Sở chính luôn cao hơn với lãi suất vốn huy động bình quân của chi nhánh Vì vậy, Ngân hàng cần phải có biện pháp để nâng cao hơn nữa nguồn vốn huy động

Để đánh giá cụ thể về tình hình nguồn vốn, ta xem xét các chỉ tiêu sau:

*Chỉ tiêu vốn huy động trên tổng nguồn vốn

Bảng 2: Vốn huy động trên tổng nguồn vốn

và thực hiện theo chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ Qua năm 2008 cùng với việc NHNN tăng dự trữ bắt buộc, áp dụng cơ chế lãi suất trần, lãi suất liên

Trang 3

ngân hàng đạt đỉnh điểm 32%/năm, điều đó đã làm cho cuộc chạy đua lãi suất huy động của các ngân hàng diễn ra mạnh hơn để đảm bảo tính thanh khoản Mặc

dù lãi suất tăng nhưng lượng vốn huy động của ngân hàng chưa tăng cao, tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn chưa có sự thay đổi lớn Vốn huy động tốt nhất nên chiếm tỷ trọng từ 60 – 70% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Ngân hàng cần triển khai các chiến lược khách hàng, lãi suất linh hoạt, kịp thời, hiệu quả để nâng cao nguồn vốn huy động sao cho hợp lý để có được nguồn vốn với chi phí thấp đem về cho chi nhánh ở mức hiệu quả nhất

*Chỉ tiêu vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn

Bảng 3: Vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn

tỷ lệ này đang có xu hướng tăng giảm không đều, tuy nhiên vốn điều chuyển vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn Điều này là vì nhu cầu vay vốn ngày càng nhiều nhưng nguồn vốn để đáp ứng cho nhu cầu này hầu như không

đủ do nguồn vốn huy động từ nền kinh tế gặp khó khăn do tình hình lạm phát hiện nay và cạnh tranh trong ngành ngân hàng trên địa bàn ngày càng gay gắt nên chi nhánh phải thường xuyên nhận vốn điều chuyển từ Hội sở Chi nhánh cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp tăng vốn huy động để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, hạn chế nhận vốn điều chuyển đến mức thấp nhất

4.1.2 Tình hình huy động vốn

Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nguồn vốn huy động càng dồi dào sẽ giúp ngân hàng càng tự chủ trong kinh doanh và mở rộng qui mô tín dụng Vì vậy ngân hàng đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi

từ dân cư và các TCKT trên địa bàn Tỉnh nhằm tạo nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế

Trang 4

4.1.2.1 Tiền gửi thanh toán

Bảng 4: Tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế

Số tiền

Tỷ lệ (%) Tiền gửi thanh toán 134.469 193.819 250.973 59.350 44,14 57.154 29,49

đồng tăng 59.350 triệu đồng tức 44,14%, đến năm 2008 đạt mức 250.973 triệu đồng tăng so với năm 2007 là 29,49% Nhìn chung, nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng qua các năm là do tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán tăng không ngừng qua các năm, tiền gửi thanh toán năm 2007 đã tăng lên đáng kể, sang năm 2008 tuy tốc độ tăng chậm lại nhưng vẫn giữ mức tăng ổn định Mục đích của loại tiền gửi này đối với các doanh nghiệp là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi trả lương cho nhân viên của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền, nắm rõ được những lợi ích đó nên

số lượng doanh nghiệp gửi tiền càng tăng lên

Năm 2006 tiền gửi thanh toán không kỳ hạn là 125.969 triệu đồng, năm

2007 tiền gửi thanh toán không kỳ hạn đạt mức 179.082 triệu đồng, đã tăng 53.113 triệu đồng tức là 42,16% so với năm 2006 Nguyên nhân là do năm 2006 nước ta chính thức gia nhập WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, qua năm 2007 các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, quy

mô được mở rộng nên việc trao đổi mua bán ngày càng nhiều Từ đó việc gửi tiền vào Ngân hàng nhằm mục đích thanh toán và chi trả tiền hàng là một phương tiện thanh toán an toàn và hiệu quả Mặc khác, do Ngân hàng mở rộng mạng lưới thanh toán, chuyển tiền điện tử, đáp ứng nhanh, kịp thời cho việc chi trả tiền

Trang 5

hàng, thuận tiện cho việc thanh toán không dùng tiền mặt nên đã thu hút rất nhiều doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán Điều này cho thấy khả năng huy động vốn từ các tổ chức này ngày càng khả quan hơn, uy tín của Ngân hàng ngày càng

được nâng lên, nhiều tổ chức kinh tế tín nhiệm gửi tiền vào Bước sang năm 2008

tiền gửi thanh toán không kỳ hạn là 223.286 triệu đồng tăng 44.204 triệu đồng tức là 22,68% so với năm 2007 Tuy tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, loại tiền gửi này vẫn giữ mức ổn định là do ngân hàng đã có chính sách đa dạng hoá hình thức tiền gửi thanh toán kết hợp với các chương trình dự thưởng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng

Tiền gửi thanh toán có kỳ hạn năm 2007 đạt 14.737 triệu đồng, tăng 6.237 triệu đồng tương ứng với 73,38% so với năm 2006, năm 2008 đạt 27.687 triệu đồng, tăng 12.950 triệu đồng, tương ứng tăng 87,87% so với năm 2007 Sở dĩ có được kết quả như vậy là nhờ vào sự chỉ đạo linh hoạt của ban lãnh đạo trong công tác huy động vốn Công tác tiếp thị các doanh nghiệp, công ty mới thành lập thông qua danh sách doanh nghiệp, công ty do sở Kế hoạch đầu tư cung cấp kết hợp với tiếp thị khách hàng hiện hữu thực hiện thanh toán thông qua tài khoản mở tại Sacombank được triển khai tốt góp phần thúc đẩy tiền gửi thanh

toán có kỳ hạn trong năm 2007 và 2008

50.000 100.000 150.000 200.000 250.000

Trang 6

* Tình hình phát hành và kinh doanh thẻ tại Sacombank Cần Thơ

Bảng 5: Tình hình phát hành thẻ tại Sacombank Cần Thơ

từ 2006 – 2008

Tổng số thẻ phát hành 977 100 2.395 100 6.708 100 + Thẻ thanh toán 846 86,59 2.228 93,03 6.458 96,27 + Thẻ tín dụng 131 13,41 167 6,97 250 3,73

là do đối tượng chủ yếu của ngân hàng là cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ

do đó thẻ mà khách hàng sử dụng chủ yếu là để thanh toán cho việc mua bán hàng hoá… thẻ tín dụng hầu như không tăng bao nhiêu do hình thức thẻ tín dụng

Trang 7

vẫn còn xa lạ với đại đa số người dân Như vậy, tuy sản phẩm thẻ còn khá mới

mẻ, số lượng thẻ còn phát hành chưa nhiều nhưng lĩnh vực này cũng đem lại lợi nhuận đáng khích lệ, tạo tiền đề cho sự phát triển xa hơn ở lĩnh vực này

4.1.2.2 Tiền gửi tiết kiệm

Bảng 7: Tiền gửi tiết kiệm

Số tiền

Tỷ lệ (%) Tiền gửi tiết kiệm 160.032 209.507 207.089 49.475 30,92 -2.418 -1,15

2008 kinh tế khó khăn nhu cầu gửi tiết kiệm của ng ười dân cũng giảm Mặt khác,

hị trường vàng diễn biến phức tạp, giá vàng lên cao cộng với lạm phát cao, nên không ít người sử dụng tiền mua vàng đầu cơ, tích trữ, đây là kênh huy động vốn cạnh tranh với ngân hàng, do đó đã làm cho tiền gửi tiết kiệm trong năm này giảm đi

Tiền gửi tiết kiệm gồm hai loại: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn Loại tiền gửi mà khách hàng ưa chuộng nhất vẫn là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và đây được xem là sản phẩm truyền thống của các ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn xác định thời gian hoàn trả cho khách hàng nên nó tạo ra nguồn

Trang 8

vốn ổn định cho Ngân hàng, và Ngân hàng có thể chủ động đầu tư cho vay trung

và dài hạn Do đó, loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tăng nhanh và đạt 155.782 triệu đồng vào năm 2006; sang năm 2007 là 198.089 triệu đồng tăng 42.307 triệu đồng hay tăng 27,16% so với năm 2006 Để có những kết quả đó, trong năm

2007 nhiều chương trình khuyến mãi huy động tiết kiệm dự thưởng lớn và nhiều hình thức huy động tiết kiệm hấp dẫn kết hợp với công tác chăm sóc khách hàng VIP tiếp tục được triển khai Thêm vào đó, chi nhánh luôn theo sát diễn biến tình hình huy động vốn trên địa bàn, nhằm điều chỉnh mức lãi suất phù hợp, hấp dẫn, chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp Hơn nữa, sự nhận thức về vai trò quan trọng của ngân hàng ngày càng được người dân quan tâm và tiếp cận, do vậy ngân hàng đã thu hút ngày càng nhiều lượng nguồn vốn nhàn rỗi của dân chúng Đến cuối năm 2008 là 199.836 triệu đồng tăng 1.747 triệu đồng hay tăng

0,88% so với năm 2007 Ta thấy năm 2008 tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 0,88%

giảm 26,28% so với năm 2007 nguyên nhân là do cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ngày càng gay gắt, hiện nay có hơn 30 tổ chức tín dụng có trụ sở tại Cần Thơ, ngoài ra còn có các công ty bảo hiểm, tiết kiệm bưu điện cũng là những kênh cạnh tranh huy động vốn đối với ngân hàng Bên cạnh đó có thể nói năm

2008 ngành ngân hàng là ngành chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế, hầu hết các tổ chức tín dụng nói chung và Sacombank Cần Thơ nói riêng đã co cụm về qui mô, mặc dù trong năm ngân hàng đã cố gắng hết sức tung ra hàng loạt các hình thức khuyến mãi nhưng vẫn gặp không ít khó khăn từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai đặc biệt là cạnh tranh về lãi suất, chất lượng dịch vụ và tiện ích ngân hàng

Còn đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì loại tiền này còn nhiều biến động qua các năm Cụ thể, năm 2006 là 4.250 triệu đồng, năm 2007 là 11.418 triệu tăng 7.168 triệu đồng so với năm 2006, điều này chứng tỏ ngân hàng cũng

có những biện pháp tích cực đưa sản phẩm này đến với người dân; sang năm

2008 giảm 4.165 triệu đồng hay giảm 36,48% so với năm 2007 Nguyên nhân là

do loại tiền này mang lại cho khách hàng lãi không cao, nên nếu họ có vốn nhàn rỗi tạm thời thì họ gửi hình thức tiền gửi thanh toán không kỳ hạn như sử dụng thẻ để thuận tiện hơn trong việc rút tiền Do đó, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Trang 9

của chi nhánh chủ yếu là các khoản ký quỹ tiền vay của khách hàng nhằm tránh tình trạng quá hạn đối với hoạt động tín dụng của chi nhánh

Số tiền

Tỷ lệ (%) Tiền gửi của các

TCTD 18.000 28.143 41.213 10.143 56,35 13.070 46,44

( Nguồn: Phòng Hành Chánh )

Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2006 là 18.000 triệu đồng, năm 2007 tăng lên mức đáng kể là 28.143 triệu đồng, tăng 10.143 triệu đồng tương ứng tăng 56,35% so với năm 2006, năm 2008 tiền gửi của các TCTD đạt 41.213 triệu đồng, tăng 46,44% tương đương 13.070 triệu đồng so với năm 2007 Loại tiền gửi này tăng chứng tỏ cho thấy mối quan hệ của ngân hàng với các TCTD trên địa bàn ngày càng được mở rộng tạo nhiều thuận lợi cho ngân hàng trong quan hệ hợp tác thanh toán vốn lẫn nhau Cùng với sự phát triển của nền kinh tế là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các TCTD trên địa bàn TPCT do

đó nhu cầu giao dịch thanh toán cũng ngày tăng lên Với sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hiện đại trên lĩnh vực công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các TCTD thuận tiện hơn Các TCTD có thể thanh toán

bù trừ hoặc thanh toán liên ngân hàng bằng hình thức chuyển tiền điện tử do đó

đã rút ngắn thời gian giao dịch rất nhiều Qua đó, ta thấy bên cạnh đầu tư phát

Hình 3:Tiền gửi tiết kiệm

50.000

Trang 10

triển các sản phẩm, dịch vụ thì mở rộng mối quan hệ với các khách hàng là các tổ chức tín dụng cũng vô cùng cần thiết Đó là một trong những mục tiêu hướng tới

sự phát triển bền vững của Ngân hàng

5.000 10.000 15.000 20.000 25.000 30.000 35.000 40.000 45.000

Triệu đồng

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng

Để hiểu rõ hơn về cơ cấu vốn huy động, ta sẽ tìm hiểu về tỷ trọng của từng phương thức huy động trên tổng vốn huy động của ngân hàng:

Bảng 9: Tỷ trọng của từng phương thức huy động trên tổng vốn huy động

Tỷ trọng

1 Tiền gửi thanh toán 134.469 43,03 193.819 44,92 250.973 50,27

Trang 11

từ các TCTD… Cơ cấu vốn huy động thay đổi rất linh hoạt, nó phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định

+ Tiền gửi thanh toán: Về tỷ trọng, TGTT của các tổ chức kinh tế chiếm

một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn huy động, cụ thể năm 2006 chiếm 43,03% tổng nguồn vốn huy động, năm 2007 là 44,92% và tăng lên 50,27% ở năm 2008 Qua ba năm tiền gửi thanh toán đã tăng lên và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động Tiền gửi thanh toán cũng là một thế mạnh của ngân hàng cần khai thác do số lượng các doanh nghiệp giao dịch v à gửi tiền ngày càng tăng

Trong những khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế thì tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao hơn, năm 2006 tiền gửi thanh toán không kỳ hạn chiếm 40,31%, năm 2007 tăng lên 41,51%, qua 2008 là 44,72% vì khách hàng chủ yếu là các công ty, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, họ cần tiền để xoay trở thường xuyên nên rút vốn liên tục, đó là lý do tại sao lãi suất tiền gửi thanh toán không kỳ hạn thấp mà lại thu hút nhiều khách hàng đến gửi Sự gia tăng đáng kể của tiền gửi thanh toán không kỳ hạn còn do ngân hàng tiến hành áp dụng đã cải tiến các dịch vụ của Ngân hàng thông qua nhiều kênh phân phối, bao gồm mạng ATM, Phonebanking, mobilebanking, internetbanking…, phát huy tính ưu việt cũng như tạo cho khách hàng sự thoải mái, nhanh chóng, chính xác khi giao dịch với Ngân hàng Riêng tiền gửi thanh toán có kỳ hạn tuy chỉ chiếm

tỷ trọng nhỏ (năm 2006 là 2,72%, 2007 là 3,42%, 2008 là 5,55%) nhưng đều tăng qua các năm cũng góp phần làm tăng nguồn vốn huy động của chi nhánh

+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm cũng chiếm tỷ trọng cao trong

tổng nguồn vốn huy động Năm 2006, loại tiền gửi này huy động được 160.032 triệu đồng, chiếm 51,21% tổng vốn huy động Sang năm 2007 tăng lên 209.507 triệu đồng nhưng chỉ chiếm 48,56% Năm 2008 là 207.089 triệu đồng chiếm tỷ trọng 41,48% Về mặt cơ cấu, tiền gửi tiết kiệm giảm qua 3 năm nguyên nhân chủ yếu trong sự thay đổi là sự tăng lên của tỷ trọng tiền gửi thanh toán Trong

đó tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ lệ cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Nguyên nhân như đã nói ở trên khách hàng ngày càng tin tưởng ở ngân hàng với hàng loạt chương trình tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn Tuy nhiên, ngân hàng cần đầu tư hơn nữa đến công tác tiếp thị, quảng bá ngân hàng mình cũng như mở

Trang 12

nhiều phòng giao dịch hơn để gần gũi với người tiêu dùng hơn nữa để mở rộng thị phần

+ Tiền gửi từ các TCTD: loại tiền gửi này qua 3 năm vẫn tăng trưởng ổn định vào năm 2006 là 5,76%; năm 2007 là 6,52% và năm 2008 là 8,25 % Tuy tiền gửi này chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn huy động nhưng loại tiền gửi này thường là tiền gửi không kỳ hạn do đó lãi suất thấp có thể sử dụng một phần đáp ứng nhu cầu tín dụng, đóng góp một phần vào lợi nhuận của ngân hàng

Tóm lại, qua xem xét các tỷ số trên ta thấy khả năng huy động vốn của

ngân hàng tương đối cao Sacombank đã và đang cố gắng hơn nữa nâng cao các

tỷ trọng này để huy động được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của khách h àng Nhìn chung các hình thức huy động của Sacombank chưa đồng bộ, đa phần dân cư thích gửi tiết kiệm có kỳ hạn, còn các thành phần kinh tế thích gửi không kỳ hạn, với hai sở thích trái ngược nhau của khách hàng tạo nên một sự hài hòa trong cơ cấu nguồn vốn huy động Ngân hàng cũng chưa khai thác hết nguồn vốn nhàn rỗi thông qua các hình thức huy động của mình do đó việc mở rộng mạng lưới và đưa ra nhiều sản phẩm huy động đa dạng, áp dụng cơ chế điều hành lãi suất linh hoạt là điều cần thiết cộng với vị thế và uy tín của Sacombank sẽ giúp cho nguồn vốn huy động của ngân hàng liên tục đạt được mức tăng trưởng rất cao

4.2 Tình hình sử dụng vốn

Chức năng cơ bản của hoạt động ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian, điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Do đó, sau khi huy động vốn, chi nhánh sẽ nhanh chóng tìm các biện pháp sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả bằng cách cho vay Hoạt động tín dụng là hình thức đầu tư chủ yếu của Sacombank Cần Thơ Ngân hàng cung cấp tín dụng dung để bù đắp vốn tạm thời thiếu hụt của các hộ sản xuất kinh doanh, đáp ứng vốn cho việc thành lập doanh nghiệp mới, mở rộng qui mô sản xuất… đồng thời đáp ứng nhu cầu cho tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân trên địa bàn

4.2.1 Doanh số cho vay

* Doanh số cho vay theo thời hạn

Trang 13

Bảng 10: Doanh số cho vay theo thời hạn

Năm 2006, doanh số cho vay là 589.454 triệu đồng, tăng 24,93% vào năm

2007 là 736.392 triệu đồng, sau đó lại tăng 11,54 % vào năm 2008 là 821.352 triệu đồng Nhìn chung, doanh số cho vay tại chi nhánh tăng qua ba năm Năm

2007 nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng mười năm qua nên nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp và cá nhân là rất lớn Bên cạnh đó đối với mảng cho vay liên kết, hiện nay Sacombank đã tiến hành liên kết với nhều đơn vị kinh doanh bất động sản cũng như các doanh nghiệp bán xe, đây là một lợi thế khi giới thiệu sản phẩm đến cho khách hàng Hơn nữa trong năm 2007, cán bộ tín dụng đã ký kết hợp đồng cho vay với rất nhiều trường học, các sở ban ngành trong địa bàn thành phố để khuyến khích cán bộ công nhân viên vay vốn cũng góp phần ổn định doanh số cho vay Năm 2008 tốc độ tăng của doanh số cho vay chỉ đạt 11,54% giảm 13,39% so với 2007 vì trong năm 2008 hoạt động kinh tế của thành phố Cần Thơ gặp không ít khó khăn do biến động về giá cả thị trường nông sản, nguyên nhiên vật liệu, bất động sản bị đóng băng,… đã tác động đến công tác cho vay của ngân hàng

Trong hoạt động của tín dụng Sacombank Cần Thơ, doanh số cho vay được tạo thành từ hai khoản mục: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung và dài hạn Trong đó tín dụng ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao và tăng qua các năm (năm

2006 là 59,84%, năm 2007 chiếm 65,3% và năm 2008 chiếm 67,35% trong doanh số cho vay) còn tín dụng trung và dài hạn thì có phần thu hẹp lại (năm

2006 là 40,16%, năm 2007 là 34,7%, đến năm 2008 chỉ còn 32,65%) Sự biến động của tỷ trọng tín dụng ngắn hạn và trung, dài hạn trong doanh số cho vay nguyên nhân là do cho vay ngắn hạn có thủ tục đơn giản, tính thanh khoản cao, lại ít rủi ro hơn so với trung và dài hạn Hơn nữa vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn nên đầu tư vốn tín dụng ngắn hạn nhiều thì vòng quay

Trang 14

tín dụng sẽ nhanh hơn, khả năng xoay vòng vốn cao và rất an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong năm 2006 doanh số cho vay ngắn hạn là 352.729 triệu đồng, năm 2007 là 480.829 triệu đồng tăng hơn so với 2006 là 128.100 triệu đồng tức là 36,32%, qua năm 2008 là 553.210 triệu đồng tăng trưởng 15,05% so với 2007 Trong năm đầu gia nhập WTO hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều thuận lợi, hoạt động xuất nhập khẩu được đẩy mạnh Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế của địa bàn thành phố Cần Thơ và khách hàng mục tiêu của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần vốn để sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, hoặc phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, luân chuyển hàng hóa thích hợp cho vay ngắn hạn Ngân hàng còn phát triển hình thức tín dụng góp chợ đặc trưng phù hợp với điều kiện kinh tế Cần Thơ góp phần làm tăng trưởng tín dụng ngắn hạn nói riêng và doanh số cho vay nói chung Qua năm

2008 tăng trưởng kinh tế phát triển chậm lại do tác động suy thoái của nền kinh

tế thế giới làm giảm khả năng vay vốn của các doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu cũng gặp nhiều khó khăn, điều đó giải thích tại sao tăng trưởng tín dụng ngắn hạn năm 2008 chỉ đạt 15,05% giảm 21,27% so với 2007

Còn doanh số cho vay trung và dài hạn năm 2006 là 236.725 triệu đồng, năm

2007 là 255.563 triệu đồng tăng 18.838 triệu đồng tức là tăng 7,96% so với 2006,

2008 là 268.142 triệu đồng tăng 12.579 triệu đồng hay 4,92% so với 2007 Để hạn chế lạm phát và tăng giá, NHNN Việt Nam đã nâng mức dự trữ bắt buộc và thắt chặt cho vay chứng khoán và bất động sản nên tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay trung và dài hạn của ngân hàng năm 2007 giảm 3,04% so với 2007 Thêm vào đó là sự xuất hiện của nhiều TCTD khác trên địa bàn TPCT, thị phần trên địa bàn thành phố cũng như khách hàng vay vốn cũng sẽ bị chia nhỏ ra bởi các TCTD này Doanh số cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi nhân tố này nên tăng trưởng chậm là điều dễ hiểu Trong năm 2008 tuy tình hình kinh tế khó khăn nhưng với những nổ lực của các cán bộ tín dụng

và toàn thể ban lãnh đạo của Sacombank Cần Thơ thì ngân hàng vẫn giữ được

mức tăng trưởng tín dụng ổn định đảm bảo mục tiêu an toàn – hiệu quả đã đề ra

Trang 15

* Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn:

Bảng 11: Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn

+ Doanh số cho vay sản xuất kinh doanh:

Xét về mặt cơ cấu, ta thấy tỷ trọng cho vay sản xuất kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn

và tăng dần qua các năm, cụ thể là năm 2006 cho vay sản xuất kinh doanh chiếm 52,47%, năm 2007 là 53,22%, năm 2008 tiếp tục tăng lên 56,17%, nguyên nhân

là vì đây là lĩnh vực mà chi nhánh tập trung phát triển, khách hàng mục tiêu là

các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên nhu cầu vốn để phục vụ sản xuất là rất lớn

Doanh số cho vay sản xuất kinh doanh năm 2006 l à 309.269 triệu đồng, năm

2007 là 391.927 triệu đồng tăng 82.658 triệu đồng, về số tương đối là tăng 26,73% so với năm 2006; năm 2008 là 461.320 triệu đồng tăng 69.393 triệu đồng, về số tương đối là tăng 17,71% so với năm 2007 Thành phố Cần Thơ là một trong những trung tâm thương mại lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long do đó nhu cầu cho vay để bổ sung vốn, mở rộng qui mô ở các doanh nghiệp là cần thiết

Hình 5: Doanh số cho vay theo thời hạn

100.000

Trang 16

Đặc biệt là tại chi nhánh có loại hình cho vay góp chợ - loại hình tín dụng đăc trưng của Sacombank đang được triển khai khá hiệu quả với lợi ích thời gian thu hồi vốn nhanh và phân tán rủi ro, vì vậy doanh số cho vay sản xuất kinh doanh luôn tăng trong ba năm qua Về tỷ lệ tăng trưởng thì năm 2008 chỉ tăng 17,71% thấp hơn năm 2007 là 26,73%, do trong năm 2008 sản xuất kinh doanh chật vật bởi lãi suất cao, chi phí nguyên vật liệu cũng tăng vọt, khó khăn về đầu ra – sức cầu giảm góp phần làm suy yếu sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp dẫn đến việc tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng cũng không phải dễ dàng

+ Doanh số cho vay tiêu dùng:

Trong khi đó vay tiêu dùng cũng biến động cụ thể là: năm 2006 vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng 37,16%, năm 2007 là 33,8% và 2008 giảm còn 31,77% trong tổng doanh số cho vay Cho vay tiêu dùng chủ yếu là cho vay cán bộ nhân viên tại các cơ sở y tế, trường học… và các khoản cho vay để xây dựng, sửa chữa, mua sắm bất động sản, mua xe ô tô, mua sắm thiết bị phục vụ ngành nghề

cá nhân, cho vay học tập, du học Doanh số cho vay tiêu dùng tăng là do xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng lên Năm

2006 cho vay tiêu dùng là 219.047 triệu đồng, năm 2007 là 248.952 tăng 29.905 triệu đồng tức là 13,65% so với 2006, năm 2008 là 260.971 triệu đồng tăng 12.019 triệu đồng hay 4,83% so với 2007 Với định hướng trở thành ngân hàng bán lẻ - đa năng trên địa bàn, chi nhánh đang mở rộng loại hình cho vay này nhưng không phải là lĩnh vực mục tiêu nên doanh số chỉ tăng nhẹ Năm 2008 nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế giảm dần, lạm phát cao ở đầu năm làm cho lãi suất thay đổi theo chiều hướng tăng dần, thị trường bất động sản trong tình trạng ngủ đồng kéo theo lượng vay tiêu dùng giảm dần nên tỷ lệ tăng của cho vay tiêu dùng chỉ đạt 4,83% giảm so với năm 2007 là 13,65%

+ Doanh số cho vay nông nghiệp:

Năm 2006 vay nông nghiệp chỉ chiếm 10,37% trong toàn doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn, đạt 61.138 triệu đồng Mặc dù vậy, đến năm

2007 là 95.513 triệu đồng, chiếm 12,97% Năm 2008 là 99.061 triệu đồng, chiếm 12,06% Trong các mục đích vay vốn thì cho vay nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhất Ngân hàng chỉ cho vay trong việc trồng trọt, chăn nuôi, nông lâm, thủy sản và các dịch vụ phục vụ cho hoạt động nông nghiệp Nhìn chung, xu hướng

Trang 17

tín dụng của chi nhánh giảm bớt hoạt động cho vay nông nghiệp vì nó chứa nhiều rủi ro như phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, giá cả thị trường và đối thủ cạnh tranh rất lớn trong lĩnh vực này là ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng ảnh hưởng đến công tác cho vay trong lĩnh vực này

4.2.2 Doanh số thu nợ

* Doanh số thu nợ theo thời hạn

Bảng 12: Doanh số thu nợ theo thời hạn

Tỷ

lệ (%) Doanh số

nợ đúng hạn thì xem như số lượng vốn đó được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả, từ đó cho thấy đồng vốn có thể luân chuyển một cách dễ dàng Theo nguyên tắc vay vốn trong hoạt động tín dụng là vốn vay phải được thu hồi cả vốn gốc và lãi theo đúng thời hạn đã ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, từ đó có thể nói

Hình 6: Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn

100.000 200.000 300.000 400.000 500.000

Ngày đăng: 25/10/2013, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Tình hình nguồn vốn của ngân hàng - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 1 Tình hình nguồn vốn của ngân hàng (Trang 1)
Hình 2: Tình hình tiền gửi thanh toán của các TCKT - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 2 Tình hình tiền gửi thanh toán của các TCKT (Trang 5)
Bảng 8: Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 8 Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng (Trang 9)
Bảng 9: Tỷ trọng của từng phương thức huy động trên tổng vốn huy động - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 9 Tỷ trọng của từng phương thức huy động trên tổng vốn huy động (Trang 10)
Bảng  10: Doanh số cho vay theo thời hạn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
ng 10: Doanh số cho vay theo thời hạn (Trang 13)
Bảng 11: Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 11 Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn (Trang 15)
Bảng  12: Doanh số thu nợ theo thời hạn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
ng 12: Doanh số thu nợ theo thời hạn (Trang 17)
Bảng 13: Doanh số thu nợ theo mục đích sử dụng vốn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 13 Doanh số thu nợ theo mục đích sử dụng vốn (Trang 19)
Hình 8: Doanh số thu nợ theo mục đích sử dụng vốn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 8 Doanh số thu nợ theo mục đích sử dụng vốn (Trang 20)
Hình 9: Dư nợ theo thời hạn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 9 Dư nợ theo thời hạn (Trang 23)
Hình 10: Dư nợ theo mục đích sử dụng vốn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 10 Dư nợ theo mục đích sử dụng vốn (Trang 25)
Hình 11: Nợ xấu theo thời hạn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 11 Nợ xấu theo thời hạn (Trang 28)
Bảng 20: Nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Bảng 20 Nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn (Trang 28)
Bảng  21: Nợ xấu trên tổng dư nợ - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
ng 21: Nợ xấu trên tổng dư nợ (Trang 30)
Hình 13: Kết quả hoạt động kinh doanh của - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ
Hình 13 Kết quả hoạt động kinh doanh của (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w