BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Lương Văn Kiệt VẤN ĐỀ MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC TỪ QUAN ĐIỂM CỦA IU.M.LOTMAN VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT LUẬN VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lương Văn Kiệt
VẤN ĐỀ MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
TỪ QUAN ĐIỂM CỦA IU.M.LOTMAN
VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lương Văn Kiệt
VẤN ĐỀ MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
TỪ QUAN ĐIỂM CỦA IU.M.LOTMAN
VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành : Lí luận văn học
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN LƯƠNG HẢI KHÔI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, mọi dẫn
liệu đều đã được trích dẫn nguồn Nội dung trình bày trong luận văn là kết quả
làm việc của tôi và chưa được công bố ở bất cứ công trình nào
Học viên
Lương Văn Kiệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Lương Hải Khôi Người Thầy đã luôn tin tưởng, tận tình chỉ dẫn và truyền niềm đam mê nghiên cứu cũng như các giá trị khoa học để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thầy Hoàng Phong Tuấn, Cô Phạm Ngọc Lan với những kiến thức nghiên cứu khoa học mà Thầy, Cô đã nhiệt tình chỉ dẫn cho tôi; quý Thầy/ Cô Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Hà Hội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong thời gian học tập Đồng gửi lời cảm ơn đến quý cán bộ Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa học
Và tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người
đã luôn động viên và ủng hộ sự lựa chọn của tôi trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng tri ân!
Tp Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2018
Lương Văn Kiệt
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC 15
1.1 Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học và phương pháp nghiên cứu của Iu.M.Lotman 15
1.1.1 Sự ra đời của Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học 15
1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học 20
1.1.3 Iu.M.Lotman và phương pháp cấu trúc - ký hiệu học 23
1.2 Nền tảng xây dựng Mô hình văn bản văn học 28
1.2.1 Văn bản, văn bản nghệ thuật và văn bản văn học 28
1.2.2 Khởi nguồn của vấn đề Mô hình văn bản văn học 31
1.2.3 Về các thuật ngữ phục vụ cho việc xây dựng Mô hình văn bản văn học 35
1.3 Mô hình văn bản văn học như là một chỉnh thể 40
1.3.1 Phương diện cấu hình của Mô hình văn bản văn học 41
1.3.2 Phương diện tính chất của Mô hình văn bản văn học 45
1.3.3 Sự tương tác giữa các yếu tố cấu hình và tính chất như một nguyên tắc vận động của mô hình 48
Tiểu kết chương 1 52
Chương 2 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC - VẤN ĐỀ CẤU HÌNH 53
2.1 Khung khổ 53
2.1.1 Khung khổ như là một yếu tố phân định phạm vi kể chuyện 53
2.1.2 Khung khổ trong mối quan hệ với không gian 56
2.1.3 Khung khổ trong mối quan hệ với thời gian 59
Trang 62.2 Không gian nghệ thuật 63
2.2.1 Không gian nghệ thuật và vấn đề “Ký hiệu quyển” 64
2.2.2 Thuyết nhị nguyên như là một nguyên tắc phân định không gian 67 2.2.3 Ranh giới giữa các không gian đối lập 72
2.3 Nhân vật 75
2.3.1 Nhân vật và tính cách nhân vật 75
2.3.2 Nhân vật trong mối quan hệ với không gian nghệ thuật 80
2.3.3 Nhân vật trung gian như là một sự phân hóa về mặt chức năng 83
Tiểu kết chương 2 86
Chương 3 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC - VẤN ĐỀ TÍNH CHẤT 87
3.1 Cốt truyện 87
3.1.1 Về thuật ngữ Cốt truyện 88
3.1.2 Biến cố như là một yếu tố cấu thành cốt truyện 92
3.1.3 Biến cố như là cơ sở phân loại cốt truyện 95
3.2 Điểm nhìn 99
3.2.1 Điểm nhìn như là một yếu tố mang tính định hướng 99
3.2.2 Mối quan hệ giữa điểm nhìn và tính chân thực 103
3.2.3 Từ kỹ thuật điện ảnh đến tiến trình di chuyển điểm nhìn trong văn bản văn học 108
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình sản xuất VAC khép kín 46
Hình 1.2 Qui luật cấu tạo hình tam giác 49
Hình 2.1 Một số chức năng của 2 bán cầu não 69
Hình 3.1 Ảnh hưởng của khoảng cách đối với nội dung bức ảnh 110
Hình 3.2 Băng phim 112
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự ra đời của Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) đã mở ra một hướng đi mới
trên con đường nghiên cứu văn học Các nhà cấu trúc luận hướng đến việc khám phá giá trị văn học trong chính tổ chức nội tại của văn bản văn học Xuất phát từ chủ nghĩa cấu trúc, chúng tôi cho rằng việc phân tích cấu trúc văn bản văn học bằng phương pháp cấu trúc - ký hiệu học của Iu.M.Lotman là một con đường đắc dụng để tiếp cận thế giới văn học Với vai trò “chủ soái” của trường phái cấu trúc - ký hiệu học Tartu, Iu.M.Lotman được xem là người có đóng góp rất lớn đối với Chủ nghĩa cấu trúc cũng
như Ký hiệu học ở Liên Xô nói riêng và trên thế giới nói chung Công trình Cấu trúc
văn bản nghệ thuật (1970) của Iu.M.Lotman được R.Vroon (nguời đã dịch Cấu trúc văn bản nghệ thuật từ tiếng Nga sang tiếng Anh) nhìn nhận với tư cách là một đóng
góp đáng kể của Liên Xô cho Chủ nghĩa cấu trúc và Ký hiệu học trên thế giới Các
công trình khác của Iu.M.Lotman về Ký hiệu học văn hóa cũng tạo được sự quan tâm
rộng rãi trong giới nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của Iu.M.Lotman chủ yếu được đặt trên nền tảng cơ bản của Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) trong sự kết hợp với Ký hiệu học (Semiotic)
Theo Bogusław Żyłko (2014), “Điều quan trọng hơn là Lotman kết nối chủ nghĩa
cấu trúc của mình với ký hiệu học, và kết quả là tạo ra một ghép nối có dạng cấu trúc
- ký hiệu học” Mặt khác, việc gắn liền văn học với hiện thực dựa trên quan điểm “phản ánh hiện thực, mô tả hiện thực”, theo Trịnh Bá Đĩnh (2011) vẫn còn sức ảnh hưởng
đối với Iu.M.Lotman và các nhà cấu trúc luận Nga Từ quan điểm đó, Iu.M.Lotman xem văn bản nghệ thuật như là một mô hình (model) của thế giới hiện thực với các đặc
tính cấu trúc của riêng nó: “tác phẩm nghệ thuật là mô hình hữu hạn của thế giới vô
hạn” (Lotman, Iu M., 2004) Trong công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật (1970),
Iu.M.Lotman đặt ra vấn đề văn bản nghệ thuật (trong đó có văn học) đã mô hình hóa
(modeling) thế giới khách quan như thế nào Ông nhìn nhận cấu trúc của văn bản nghệ thuật như là một tổ chức thông tin, từ đó nghiên cứu bằng cách nào có thể khám phá cấu trúc của văn bản nghệ thuật, đặc biệt là văn học nghệ thuật, trong mối liên hệ với yếu tố văn hóa và đặt trong bối cảnh văn hóa
Trang 9Đặt quan điểm của của Iu.M.Lotman về cấu trúc văn bản nghệ thuật vào trọng tâm nghiên cứu của luận văn, vấn đề tiếp theo mà chúng tôi quan tâm là hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu của Iu.M.Lotman về việc văn học (một bộ phận của nghệ
thuật) đã mô hình hóa thế giới khách quan như thế nào Từ đó, chúng tôi rút ra vấn đề
Mô hình văn bản văn học dựa trên các ý niệm của Iu.M.Lotman về vài trò mô hình
hóa của văn học đối với thế giới khách quan cùng với các nghiên cứu của ông về cấu trúc văn bản nghệ thuật Xét đến tính khả thi của một hướng nghiên cứu có phần nào đóng góp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, với những lý do và mục đích trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
VẤN ĐỀ MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
TỪ QUAN ĐIỂM CỦA IU.M.LOTMAN
VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
2 Mục đích nghiên cứu
Trong Cấu trúc văn bản nghệ thuât, Iu.M.Lotman xem “Tác phẩm nghệ thuật là
một mô hình nhất định của thế giới, một thông báo nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật”
hay “tác phẩm nghệ thuật là mô hình hữu hạn của thế giới vô hạn” (Lotman, Iu M., 2004),…Theo đó, có thể cho rằng Iu.M.Lotman hẳn đã đề cập đến vấn đề mô hình trong mối liên hệ giữa tác phẩm nghệ thuật với thế giới thực tại Tuy nhiên, vấn đề mô
hình ấy vẫn chưa được minh định một cách rõ ràng và cụ thể, ở chỗ mô hình đó được
tạo thành từ đâu? Nó hoạt động như thế nào và có tính chất ra sao? Trên cơ sở đó, mục
đích hướng đến của việc nghiên cứu là làm rõ vấn đề mô hình và Mô hình văn bản văn
học dựa trên các định hướng của Iu.M.Lotman và quan điểm của ông về cấu trúc văn
bản nghệ thuật Hướng nghiên cứu này ấp ủ việc tìm ra một con đường mới cho việc khám phá cơ chế vận động nội tại ẩn chứa sau lớp ngôn từ của văn bản văn học, từ đó
có thể tạo điều kiện cho những nghiên cứu sâu hơn về sau Nghiên cứu văn bản văn học theo quan điểm của Iu.M.Lotman là một con đường khách quan và thú vị trong việc khám phá những mối quan hệ nội tại còn đang ẩn mình dưới lớp ngôn từ hiển lộ
ở bề mặt văn bản văn học dựa trên phương pháp cấu trúc - ký hiệu học của ông Thứ
mà theo chúng tôi, đã tạo thành một mô hình vận động của văn bản với tư cách như là một cơ chế sinh nghĩa Dựa trên các công trình nghiên cứu của Iu.M.Lotman, chúng
Trang 10tôi tiến hành hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu của ông thành những luận điểm chính trong việc xây dựng Mô hình văn bản văn học Bằng con đường đó, việc khám phá ý nghĩa, giá trị của các văn bản văn học hẳn sẽ mang đến những kiến giải thú vị
và có cơ sở khách quan khoa học chứ không chỉ dừng lại ở sự cảm nhận chủ quan của người đọc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề Mô hình văn bản văn học mà Iu.M.Lotman đã có những ý niệm nền tảng trong các công trình nghiên cứu của ông
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo thống kê của nhóm dịch giả Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn
Thu Thủy (2004) trong bản dịch thuật công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật, tính
đến thời điểm hiện tại, có thể tập hợp các công trình của Iu.M.Lotman thành ba nhóm chính xoay quanh các lĩnh vực văn học, ký hiệu học, cấu trúc luận, văn hóa học
Văn học Nga Các công trình về thơ ca của A.Pushkin,
M.Lermontôv, F.T.Chiuchev…
Lý thuyết mô hình hóa
(Ký hiệu học, cấu trúc luận)
Các bài giảng về thi pháp cấu trúc (1967) Câu trúc văn bản nghệ thuật (1970) Phân tích văn bản thơ (1972)
Văn hóa học Kí hiệu học văn hóa Nga (1984)
Văn hóa và sự bùng nổ (1992)
Khi tiến hành thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về mặt lý thuyết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu quan điểm lý luận của
Iu.M.Lotman thông qua công trình: Cấu trúc văn bản nghệ thuật (1970) và Ký hiệu
học văn hóa của Iu.M.Lotman Trong đó, công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật
(1970) (nguyên bản tiếng Nga) đã được dịch sang tiếng Việt (nhóm dịch giả Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy) và tiếng Anh (dịch giả Ronal Vroon) Chúng tôi quyết định sử dụng cả 2 bản dịch để tạo cơ sở đối sánh về mặt dịch thuật
Trang 11giữa nhiều dịch giả hơn, đồng thời có cái nhìn sâu sát hơn về cách hiểu các thuật ngữ
mà Iu.M.Lotman sử dụng trong công trình của mình Công trình Ký hiệu học văn hóa
gồm 29 công trình nghiên cứu xoay quanh các vấn đề lý thuyết và lịch sử ký hiệu học văn hóa do nhóm các dịch giả: Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử tuyển dịch (2016) Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu của
Iu.M.Lotman thành những luận điểm chính trong việc xây dựng Mô hình văn bản văn
học
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1 Tình hình vận dụng Chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học
Theo Bogusław Żyłko trong Vài ghi chú về chủ nghĩa cấu trúc của Yuri Lotman,
quan điểm về cấu trúc đã bắt đầu chiếm ưu thế ở các ngành hóa học, sinh học và di
truyền học từ thế kỷ XIX Huỳnh Như Phương trong công trình Trường phái hình thức
Nga cũng đề cập đến việc toán học, logic học, vật lý học, sinh vật học và nhiều ngành
khoa học xã hội từ lâu đã quan tâm đến khái niệm “cấu trúc” và vận dụng phương pháp nghiên cứu theo hướng chủ nghĩa cấu trúc
Theo Trịnh Bá Đĩnh trong công trình Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học (công
trình được xem là một tổng thuật về chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học), việc vận dụng các phương pháp của chủ nghĩa cấu trúc trong lĩnh vực nghiên cứu văn học có thể được chia thành ba khuynh hướng chính:
Thứ nhất, Thi pháp học học cấu trúc Nga và Czech Theo nhiều nhà nghiên cứu,
nền móng của việc nghiên cứu theo hướng cấu trúc có thể được xem như là bắt nguồn
từ công trình Hình thái học truyện cổ tích của Vladimir Propp Trong công trình này,
V.Propp tập trung nghiên cứu chức năng của các nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ Trên cơ sở đó, Propp đưa ra 31 chức năng trong truyện cổ tích Số lượng chức năng
tuy hữu hạn, nhưng việc áp dụng vào các nhân vật là vô hạn Như vậy, “các truyện kể
thực tế được coi là những biến thể khác nhau của một cái duy nhất” (Trịnh Bá Đĩnh,
2011) Tư tưởng này của Propp được xem là gợi ý quan trọng đối với các nhà cấu trúc luận sau này Trong số đó có thể kể đến J.Mukarovski, R.Jakobson và Iu.M.Lotman J.Mukarovski cùng với R.Jakobson được xem là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho chủ nghĩa cấu trúc Czech Hoạt động nghiên cứu của ông gắn liền
Trang 12với câu lạc bộ ngôn ngữ học Praha J.Mukarovski nhìn nhận “tác phẩm văn học như
một cấu trúc ” (Trịnh Bá Đĩnh, 2011) Vấn đề mà ông đặc biệt quan tâm trong các
nghiên cứu của mình là chức năng thơ (mỹ học) Ngoài ra, J.Mukarovski cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và phạm vi ngoài văn học: một mặt, “nội
dung tác phẩm văn học (chủ đề) bao giờ cũng thể hiện một điều gì đó ngoài xã hội”
(Trịnh Bá Đĩnh, 2011); mặt khác, “ở bất kỳ cấp độ ngôn ngữ nào cũng thấy có màu
sắc ngữ nghĩa xã hội nào đấy dù gián tiếp hay trực tiếp” (Trịnh Bá Đĩnh, 2011) Với
công trình Nghệ thuật như một thực tại ký hiệu học (1936), J.Mukarovski xem tác
phẩm văn học như là một ký hiệu trung gian giữa tác giả và người đọc
R.Jakobson được biết đến như là nhà ngôn ngữ học và thi học tiêu biểu của thế
kỷ XX Trong bài diễn văn nổi tiếng Ngôn ngữ học và thi pháp học, R.Jakobson đã
trình bày những nhân tố hữu cơ của việc giao tiếp ngôn ngữ dựa trên việc phân xuất hành động nói thành các yếu tố cấu tạo và xác định chức năng riêng của chúng bằng
mô hình sau (Theo Ngôn ngữ học và thi pháp học, Cao Xuân Hạo dịch, Hoàng Dũng
R.Jakobson đặc biệt chú ý đến chức năng thi ca, theo ông: “Thi pháp học hiểu theo
nghĩa rộng quan tâm đến chức năng thi ca không phải chỉ trong thơ ca, là nơi mà chức năng này chiếm ưu thế so với các chức năng khác của ngôn ngữ, mà cả bên ngoài thơ
ca, là nơi mà một chức năng này hay một chức năng khác chiếm ưu thế so với chức năng thi ca” (Jakobson, R.) Ông nghiên cứu cấu trúc thơ ca dựa trên hai kiểu sắp xếp
cơ bản trong cách sử dụng ngôn ngữ: sự tuyển chọn (trục đối vị) và sự kết hợp (trục
tiếp nối) Mô hình giao tiếp do R.Jakobson đề xướng về sau được Iu.M.Lotman kế
Trang 13thừa tuy có một số điểm mà Iu.M.Lotman cũng không đồng ý với R.Jakobson Cách đọc văn bản dựa trên trục đối vị và trục tiếp nối của R.Jakobson cũng được
Iu.M.Lotman vận dụng trong công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật của mình
Iu.M.Lotman được biết đến như là “chủ soái” của trường phái cấu trúc - ký hiệu học Tartu Một trường phái hoạt động khoa học sôi nổi vào những năm 1960 - 1980 trong nhiều lĩnh vực: văn học, ký hiệu học, văn hóa học Iu.M.Lotman tiếp thu tư tưởng của Trường phái hình thức Nga trên cơ sở mở ra một hướng đi mới Các nghiên
cứu của Iu.M.Lotman đều dựa trên việc lấy văn bản làm trung tâm Ông cho rằng: “văn
bản không phải là một cái bọc đựng nghĩa một cách thụ động, mà là tổ chức truyền đạt, lưu giữ và sáng tạo thông tin” (Lotman, Iu M., 2016) Không đơn thuần chỉ theo
đuổi phương pháp cấu trúc, Iu.M.Lotman đã kết nối chủ nghĩa cấu trúc với ký hiệu
học để tạo ra phương pháp cấu trúc - ký hiệu học Theo đó, ông nhìn nhận văn bản với
tư cách là một ký hiệu và nhấn mạnh vai trò của việc tiếp cận văn bản theo cách ký
hiệu học Với công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật (1970), Iu.M.Lotman đã cho
thấy quan điểm của ông trong việc tiếp cận cấu trúc tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm văn học nghệ thuật bằng phương pháp cấu trúc - ký hiệu học
Thứ hai, Trường phái cấu trúc - ký hiệu học Paris Theo Trịnh Bá Đĩnh trong
Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, trường phái này được biết đến với các đại diện tiêu
biểu như: R.Barthes, A.J.Greimas, Tz.Todorov, Vấn đề được quan tâm đối với các nhà cấu trúc này là tác phẩm đã được tổ chức như thế nào
R.Barthes trong các công trình nghiên cứu của mình như: Độ không của lối viết,
S/Z, Cơ sở của ký hiệu học cũng vận dụng các quan điểm từ ngôn ngữ học Saussure
để nghiên cứu văn học Ông xem ký hiệu học là một bộ phận của ngôn ngữ học Dựa
trên cặp đối lập ngôn ngữ - lời nói của Saussure, R.Barthes đề xuất khái niệm biệt ngữ Biệt ngữ là “hiện tượng trung gian giữa ngôn ngữ và lời nói” (Trịnh Bá Đĩnh, 2011)
Phong cách nhà văn được xem là một loại biệt ngữ như vậy Đối với mô hình cái biểu đạt - cái được biểu đạt, R.Barthes đưa ra trường hợp khi cái biểu đạt không phải là một
ký hiệu mà là một hệ thống ký hiệu và văn học chính là một trường hợp như vậy
A.J.Greimas, dựa trên kết quả nghiên cứu của V.Propp, trong công trình Ngữ
nghĩa học cấu trúc: nghiên cứu và phương pháp (1966) đã hệ thống hóa bảy vai trò
Trang 14của nhân vật chức năng thành ba cặp đối lập: chủ thể - khách thể, người cho - người
nhận, người giúp - kẻ hại Ba cặp đối lập này được xây dựng cho việc “mô tả ba mô
hình cơ bản mà theo A.J.Greimas, luôn được lặp lại trong các văn bản tự sự (không chỉ trong truyện cổ tích mà ở cả các thể loại tự sự khác):1 Mong muốn, tìm hiểu hay nhắm tới (chủ thể/khách thể), 2 Giao lưu (người cho/người nhận), 3 Giúp đỡ hay gây khó dễ (người giúp/kẻ hại)” (Trịnh Bá Đĩnh, 2011)
Tz.Todorov, theo Trịnh Bá Đĩnh (2011) “là người đưa ra cách phân tích văn bản
tự sự toàn diện hơn cả Ông đã tổng kết và hệ thống hóa những thành tưu mà nhiều nhà nghiên cứu đã đạt được ở lĩnh vực này” Tz.Todorov đưa ra sự phân biệt giữa hệ
thống cơ sở và hệ thống thứ cấp của văn bản Trong đó, hệ thống cơ sở là từ ngữ, còn
hệ thống thứ cấp là các thực thể hư cấu của văn bản Theo đó, văn bản văn học có thể được xem xét từ ba phương diện: từ, cú pháp, ngữ nghĩa Tz.Todorov đề xuất việc lấy
mệnh đề làm đơn vị nhỏ nhất của truyện kể Sự phối hợp giữa các mệnh đề sẽ tạo thành
các đơn vị lớn hơn là tiết đoạn và văn bản của truyện kể
Thứ ba, thi pháp học cấu trúc của Jonathan Culler So với các khuynh hướng nghiên cứu cấu trúc đã nêu, J.Culler chuyển trọng tâm từ văn bản văn học sang phía
độc giả Theo Trịnh Bá Đĩnh (2011), J.Culler tin rằng “có thể xác định được các quy
luật chi phối việc giải thích các văn bản, bởi vì thực nghiệm cho thấy khi đưa ra một văn bản dường như các “độc giả thành thạo” đều biết cách lẩy ra những ý nghĩa của nó” Theo đó, cấu trúc ở đây không phải là hệ thống nằm dưới văn bản mà chính là hệ
thống nằm dưới hành động giải thích của độc giả Trịnh Bá Đĩnh cho rằng lý thuyết của J.Culler gặp trở ngại căn bản trọng việc bằng cách nào có thể tìm ra được các quy luật chi phối sự đa dạng của những cách đọc
Dựa trên các khuynh hướng vận dụng chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn
học mà Trịnh Bá Đĩnh đã đưa ra trong công trình Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học,
có thể cho rằng Iu.M.Lotman với di sản khoa học đồ sộ của mình cũng đã có những đóng góp lớn lao trong việc kế thừa và phát huy phương pháp cấu trúc trong nghiên
cứu văn học Theo các dịch giả của công trình Ký hiệu học văn hóa: “Các tài liệu viết
về tiểu sử của Iu.M.Lotman đều ghi nhận, ông là tác giả của hơn 800 công trình ghiên
Trang 15cứu lớn nhỏ Điều quan trọng là ngay từ khi còn sống, Iu.M.Lotman đã trở thành tác giá kinh điển” (Lotman, Iu M., 2016)
4.2 Tình hình nghiên cứu quan điểm của Iu.M.Lotman
Tác giả Phùng Quý Sơn trong luận án tiến sĩ Loại hình truyện kể: Qua văn xuôi
Việt Nam 1930 - 1945 (bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đã vận
dụng hệ thống luận điểm lý thuyết của Lotman về: bức tranh thế giới, sự kiện, nhân
vật, khung, hệ thống điểm nhìn; cùng với việc nghiên cứu văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945, tác giả đã thiết lập 3 mô hình truyện kể:
1930 - 1945 Luận án đã đóng góp một cái nhìn toàn cảnh về văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, chúng tôi sẽ dựa trên những nhận định, đánh giá về quan điểm lý luận của Lotman trong việc xây dựng mô hình lý thuyết truyện kể (“Mô hình Lotman”) của tác giả Phùng Quý Sơn trong luận án trên để có những phân tích sâu sát hơn trong việc vận dụng những luận điểm của Lotman để xây dựng mô hình văn bản văn học
Trong luận văn thạc sỹ “Tìm hiểu cốt truyện phiêu lưu trong tiểu thuyết “Những
cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn” của Mark Twain (theo quan điểm cốt truyện
của Iu.M.Lotman)” (bảo vệ năm 2011 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) tác giả Nguyễn Thị Nhu đã vận dụng quan điểm về cốt truyện của Iu.M.Lotman để nghiên
cứu cốt truyện phiêu lưu trong tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry
Finn” của Mark Twain nhằm chỉ ra những sáng tạo, cách tân độc đáo của Mark Twain
trong việc xây dựng cốt truyện Từ định hướng đó, tác giả luận văn đã tiến hành khảo
sát các vấn đề: biến cố, không gian, nhân vật trên cơ sở lý thuyết của Lotman Trên cơ
sở đó, tác giả đề xuất hướng tiếp cận cốt truyện phiêu lưu từ cấu trúc nội tại văn bản,
tức biến cố khi có hành động vượt qua ranh giới của nhân vật hành động” (Nguyễn
Trang 16Thị Nhu, 2011) Với những nghiên cứu của mình, tác giả luận văn kết luận “cốt truyện
phiêu lưu là cốt truyện phân đoạn Các phân đoạn được tạo bởi thứ tự các biến cố, không gian kế tiếp nhau Mỗi một phân đoạn hình thành một câu chuyện nhỏ với một không gian xác định và những biến cố, những hành động của nhân vật phiêu lưu Quan
hệ giữa các phân đoạn của cốt truyện tương đối lỏng lẻo” (Nguyễn Thị Nhu, 2011)
Có thể nói, luận văn của tác giả Nguyễn Thị Nhu đã có những ý kiến góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Iu.M.Lotman về các vấn đề: không gian nghệ thuật, nhân vật, cốt truyện Chúng tôi sẽ dựa trên cơ sở tiếp thu những đóng góp đáng giá của tác giả Nguyễn Thị Nhu, cùng với những nhận định của mình trong việc nghiên cứu quan điểm lý thuyết của Iu.M.Lotman để góp phần minh định quan điểm của Iu.M.Lotman trong việc xây dựng mô hình văn bản văn học
Trong bài viết Truyện ngắn Thạch Lam: Nhìn từ lý thuyết mô hình văn bản nghệ
thuật cuả Iu.Lotman trên tạp chí Văn hóa Nghệ An (đăng ngày 08/01/2012), tác giả
Trần Thị Thanh Xuân đã tiến hành nghiên cứu truyện ngắn Thạch Lam từ lý thuyết
mô hình hóa của Iu.M.Lotman ở 3 vấn đề:
- Mở đầu và kết truyện
- Không gian nghệ thuật như một mô hình cấu trúc
- Truyện kể và điểm nhìn trong sáng tác Thạch Lam
Xuất phát từ những gợi ý của công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật như chính
tác giả đã giới thiệu ở phần đầu bài viết, bài viết đã đề cập đến một số khái niệm của
Iu.M.Lotman như: Khung khổ, Không gian nghệ thuật, Cốt truyện Với dung lượng
của bài viết này, chúng tôi cho rằng những phân tích của tác giả tuy có những đóng góp và giá trị nhất định nhưng chưa thật sự là những phân tích sâu sắc cũng như chưa
làm rõ được những vấn đề lý luận mà Iu.M.Lotman đặt ra trong công trình Cấu trúc
văn bản nghệ thuật
Tác giả bài viết kết luận, việc phân tích cấu trúc nội tại của tác phẩm “là chìa
khóa cho người đọc đi sâu tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn một cách chính xác nhất, khoa học nhất” (Trần Thị Thanh Xuân, 2012) Thêm nữa, tác giả bài viết cho
rằng “tìm hiểu truyện ngắn theo mô hình kết cấu của Lotman là một cách tìm hiểu tác
phẩm theo chủ nghĩa cấu trúc ký hiệu học nhanh gọn, dễ nắm được “cái thần” của tác
Trang 17phẩm” (Trần Thị Thanh Xuân, 2012) Trong bối cảnh hiện thời của việc nghiên cứu
văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng, chúng tôi cho rằng những kết luận của tác giả chưa thật sự xác đáng và phù hợp với tình hình hiện tại Chúng tôi sẽ dựa trên những phân tích cơ bản của tác giả Trần Thị Thanh Xuân trong bài viết trên, kết hợp với việc vận dụng thêm một số khái niệm khác của Iu.M.Lotman để nghiên cứu một cách sâu sát hơn, hoàn thiện hơn hệ thống luận điểm của Lotman khi đưa ra vấn đề Mô hình văn bản văn học
Bogusław Żyłko trong bài viết Vài ghi chú về Chủ nghĩa cấu trúc của Yuri
Lotman (Notes on Yuri Lotman’s structuralism) đã đưa ra một tổng thuật về mối liên
hệ giữa Chủ nghĩa cấu trúc với các ngành khoa học, trong đó có văn học Ngoài ra, Bogusław Żyłko cũng đưa ra các nhận định về phương pháp nghiên cứu của trường phái cấu trúc theo hướng của Lotman Ông cho rằng:
Điều quan trọng hơn là Lotman kết nối chủ nghĩa cấu trúc của mình với ký hiệu học, và kết quả là tạo ra một ghép nối có dạng cấu trúc - ký hiệu học Các đối tượng văn hoá đối với ông là các cấu trúc có ý nghĩa (toàn bộ văn hoá là một ngôn ngữ phức tạp), mà chúng ta có thể áp dụng những thuật ngữ trong các nghiên cứu giao tiếp: ký hiệu; thông báo (văn bản); mã (ngôn ngữ); người phát; người nhận; ý nghĩa; mô hình (Żyłko, B., 2014)
Ngoài ra, Bogusław Żyłko còn cho rằng Iu.M.Lotman có tham vọng làm cho chủ nghĩa cấu trúc trở thành một công cụ nghiên cứu linh hoạt với mục đích khám phá các đối tượng phức tạp khác như tác phẩm nghệ thuật hay phong cách hành vi con người Ông đưa ra các vấn đề trong các nghiên cứu của Lotman như: Bản chất đối thoại của văn hoá, Sự sản sinh ý nghĩa, Văn hoá và sự bùng nổ Theo đó, Bogusław Żyłko cũng đưa ra kết luận về Lotman như sau:
Các sản phẩm của văn hoá là những cấu trúc có ý nghĩa và trong bối cảnh của chúng người ta có thể tận dụng các quan niệm về cấu trúc, mô hình và ký hiệu - đây là cách đơn giản nhất để mô tả quan điểm của Lotman Ông vẫn trung thành với nguyên tắc này từ tác phẩm đầu tiên cho đến những tác phẩm cuối cùng của ông Chúng ta có thể nói rằng trong suốt cuộc đời của mình, ông đã làm việc với
mô hình cấu trúc luận - ký hiệu học (Żyłko, B., 2014)
Trang 18Winfried Nöth trong bài viết Đặc trưng về Ký hiệu quyển của Yuri Lotman (The
topography of Yuri Lotman’s semiosphere) cho rằng các nghiên cứu của Iu.M.Lotman
về Ký hiệu quyển đã dự đoán được một sự biến đổi không gian trong nghiên cứu văn hóa Winfried Nöth đặt các nghiên cứu của Iu.M.Lotman về không gian ký hiệu trong
sự so sánh với các nghiên cứu về không gian địa lý:
“Mô hình văn hoá của Lotman như là một không gian ký hiệu khác với những mô
hình của hầu hết các đại diện khác về biến đổi không gian trong nghiên cứu văn hoá Trong khi những nghiên cứu gần đây chủ yếu liên quan đến việc nghiên cứu các địa điểm và không gian thực, chẳng hạn như lục địa, cảnh quan, thành phố, không gian nông thôn hoặc đô thị trong văn học, tranh vẽ và phim ảnh hoặc trên bản đồ, thì ký hiệu quyển của Lotman là một không gian mang tính tinh thần nhiều hơn và thường không phải là các không gian địa lý (Nöth, W., 2015)
Theo đó, Winfried Nöth khẳng định những mô tả của Iu.M.Lotman về ký hiệu quyển đầy ắp những ẩn dụ mang tính không gian Các địa điểm trong ký hiệu quyển thực chất là sự phóng chiếu mang tính ẩn dụ của các giá trị văn hoá lên không gian địa
lý Một điểm đáng chú ý là các giá trị văn hóa được phóng chiếu đều được đặt trên một trục đối lập nhị nguyên Dựa trên các nghiên cứu của Iu.M.Lotman về Ký hiệu quyển, Winfried Nöth cho rằng không gian ảo và Web cũng tồn tại như là một ký hiệu quyển trong tính bản chất của nó
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi triển khai thực hiện một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
- Phương pháp hệ thống: xem văn bản văn học như một hệ thống các yếu tố, phương pháp mô hình hóa cho phép tách từ hệ thống các mối quan hệ mang tính quy
luật và các yếu tố cấu thành để xây dựng Mô hình văn bản văn học Để tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng Mô hình văn bản văn học, phương pháp hệ thống được vận dụng chủ yếu ở chương 1 với việc xác lập khái niệm mô hình và đề xuất việc
nghiên cứu các phương diện cấu hình, tính chất, cơ chế hoạt động dựa trên chức năng
của các yếu tố cấu thành Mô hình văn bản văn học
Trang 19- Phương pháp phân tích: dựa trên các công trình nghiên cứu của Iu.M.Lotman,
đặc biệt là Cấu trúc văn bản nghệ thuật, cùng với nền tảng lý luận của chủ nghĩa cấu
trúc, chúng tôi tiến hành phân tích các quan điểm của Iu.M.Lotman về cấu trúc văn bản nghệ thuật Từ đó tiến hành thao tác tổng hợp để đưa ra cái nhìn chung và khách quan về hệ thống quan điểm của ông đối với khái niệm văn bản nghệ thuật cũng như
vai trò mô hình hóa của văn bản văn học và cách xây dựng Mô hình văn bản văn học
Trong chương 2 và chương 3, chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để tiếp cận các yếu tố của mô hình văn bản học một cách sâu sát nhất có thể
- Thao tác sơ đồ hóa: nhằm minh họa và giải thích một số vấn đề khoa học sao cho sinh động và đắc dụng, trong chương 1, chúng tôi sẽ sử dụng theo tác sơ đồ hóa khi cần thiết để thuận tiện hơn cho việc tiếp cận vấn đề
6 Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học:
Tiếp sau công trình của các tác giả đã đi trước, luận văn góp một phần nhỏ vào việc vận dụng hệ thống quan điểm lý luận về cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu.M.Lotman trong việc tiếp cận văn bản văn học Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra vấn
đề Mô hình văn bản văn học từ việc hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu của
Iu.M.Lotman
Bên cạnh đó, luận văn ấp ủ việc mở rộng ứng dụng cũng như phổ biến những đóng góp từ các công trình khoa học đồ sộ của nhà nghiên cứu Iu.M.Lotman mà nền tảng là việc vận dụng các phương pháp của chủ nghĩa cấu trúc trong lĩnh vực nghiên cứu văn học
Về mặt thực tiễn
Xây dựng Mô hình văn bản văn học dựa trên quan điểm của Iu.M.Lotman về cấu
trúc văn bản nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu các tác phẩm văn học hẳn sẽ mang đến những kiến giải mới mẻ và đa chiều hơn khi người đọc “giao tiếp” với tác phẩm
Mô hình văn bản văn học cũng có thể được sử dụng như một công cụ phục vụ
cho việc nghiên cứu mô hình chung của các giai đoạn văn học, các thể loại văn học
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục và phần Tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 3 chương theo trình tự sau:
Chương 1 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC (38 trang)
Chương này có nhiệm vụ là hệ thống hóa các ý niệm và quan điểm của
Iu.M.Lotman trong công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật và vai trò mô hình hóa thế
giới hiện thực của tác phẩm nghệ thuật
Trên cơ sở tìm hiểu quan điểm của Iu.M.Lotman về vai trò mô hình hóa thế giới hiện thực của văn bản nghệ thuật với nền tảng lý luận của chủ nghĩa cấu trúc và phương pháp cấu trúc - ký hiệu học của Iu.M.Lotamn, chúng tôi tiến hành xây dựng Mô hình văn bản văn học và hệ thống hóa các thuật ngữ lý luận của Iu.M.Lotman thành hai
phương diện chính là cấu hình và tính chất của Mô hình văn bản văn học
Nội dung kiến thức được trình bày ở chương 1 sẽ tạo cơ sở lý luận vững chắc cho chúng tôi triển khai hiệu quả chương 2 và chương 3 của luận văn
Chương 2 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
- VẤN ĐỀ CẤU HÌNH (34 trang)
Dựa trên cơ sở lý luận của chương 1, chúng tôi tiến hành phân tích vấn đề cấu
hình của mô hình văn bản văn học theo quan điểm lý luận và một số thuật ngữ của
Iu.M.Lotman
Nét phổ quát trong lý thuyết cấu trúc - ký hiệu học của Lotman là việc xem xét văn bản nghệ thuật, đặc biệt là văn học nghệ thuật như một mô hình hữu hạn của thế
giới vô hạn Trong đó, sự tồn tại của các yếu tố cấu hình là minh chứng xác đáng cho
việc mô hình hóa thế giới vô hạn Bởi các yếu tố cấu hình được nhìn nhận với tư cách
là các yếu tố cấu thành của Mô hình văn bản văn học Việc xác định cấu hình của mô
hình văn bản văn học được thực hiện qua các thao tác xác định khung khổ, không gian
Trang 21phá tính chất của mô hình văn bản văn học đã được định hình bằng các yếu tố cấu hình
ở Chương 2 Nói cách khác, Chương 3 đặt ra vấn đề xác định tính chất và nội dung mô
hình hóa thế giới hiện thực của văn bản văn học thông qua hai yếu tố: cốt truyện và
điểm nhìn
Trang 22Chương 1 MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC
Nghiên cứu văn học theo khuynh hướng của Chủ nghĩa cấu trúc nhìn chung đã
đạt được những thành tựu đáng kể Theo Nguyễn Hưng Quốc: “Cấu trúc luận, vốn
thịnh hành trong thập niên 1960 và nửa đầu thập niên 1970, được xem là một cuộc cách mạng, thậm chí, là cuộc cách mạng lớn nhất trong lãnh vực nghiên cứu văn học cũng như các ngành nhân văn và khoa học xã hội nói chung trong thế kỷ 20” (Nguyễn
Hưng Quốc, n.d.) Bên cạnh những tên tuổi như: J.Mukarovski, R.Jakobson, R.Barthes, A.J.Greimas, Tz.Todorov, Iu.M.Lotman được xem là người có đóng góp không nhỏ cho Chủ nghĩa cấu trúc và cả Ký hiệu học ở Nga nói riêng và trên thế giới nói chung Có thể cho rằng Iu.M.Lotman luôn theo đuổi lập trường của phương pháp cấu trúc trong các nghiên cứu của ông Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, nỗ lực của ông
là kết nối phương pháp cấu trúc với ký hiệu học nhằm làm cho nó trở nên linh hoạt hơn Với sự kết nối cấu trúc - ký hiệu học, Iu.M.Lotman đã có những bước tiến xa hơn
so với những gì mà chủ nghĩa cấu trúc đã đạt được Là “chủ soái” của trường phái cấu trúc - ký hiệu học Tartu, hoạt động khoa học của Iu.M.Lotman xoay quanh nhiều lĩnh
vực: văn học, ký hiệu học, văn hóa học… Xem “văn bản không phải là một cái bọc
đựng nghĩa một cách thụ động, mà là tổ chức truyền đạt, lưu giữ và sáng tạo thông tin” (Lotman, Iu M., 2016), ông nhìn nhận văn bản với tư cách là một ký hiệu và nhấn
mạnh vai trò của việc tiếp cận văn bản theo cách ký hiệu học
1.1 Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học và phương pháp nghiên cứu của Iu.M.Lotman
Nền tảng phương pháp luận của Iu.M.Lotman bắt nguồn từ Chủ nghĩa cấu trúc Hơn hết, Iu.M.Lotman kêu gọi việc xây dựng nghiên cứu văn học thành một ngành khoa học cũng từ cơ sở của phương pháp cấu trúc Điều này từng là nguyên nhân của một cuộc bút chiến xoay quanh việc nghiên cứu bằng phương pháp cấu trúc Do đó, chúng tôi cho rằng tìm hiểu sự ra đời cũng như đối tượng nghiên cứu cụ thể của chủ nghĩa cấu trúc trong văn học là nền tảng để hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu của Iu.M.Lotman trong sự kết nối cấu trúc luận với ký hiệu học để tạo ra một “phép lai”: cấu trúc - ký hiệu học
1.1.1 Sự ra đời của Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học
Trang 23Có thể nói, sự xuất hiện của Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) đã mở ra một
hướng đi mới trên con đường nghiên cứu văn học Các nhà cấu trúc luận, với phương pháp nghiên cứu của mình, đều có tham vọng khám phá được bản chất của đối tượng nghiên cứu mà Chủ nghĩa cấu trúc hướng đến Cái bản chất ấy, nói theo các nhà ngôn ngữ học thì chính là một thứ “ngôn ngữ” của văn học Trên tiến trình của sự phát triển,
có thể cho rằng Chủ nghĩa cấu trúc là sự tiếp nối trên con đường mà Chủ nghĩa hình thức đã vạch ra Nói về Chủ nghĩa hình thức, Jean-Yves Tadié1 cho rằng “trường phái
cách tân nhất thế kỷ XX này cũng là trường phái có số phận kỳ lạ nhất” (Huỳnh Như
Phương, 2007) Dù đứng giữa những luồng nhận định mà phần lớn là phê phán và chỉ trích, thậm chí có lúc lên án, song chính Trường phái hình thức Nga đã đánh một dấu mốc quan trọng trên tiến trình phát triển của lĩnh vực nghiên cứu văn học ở Nga nói riêng và trên thế giới nói chung Nó tồn tại trong vị thế đối đầu với những giáo điều truyền thống vốn đã được áp đặt từ lâu, và cả với những tranh luận về nghiên cứu văn học đường thời Kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình, Chủ nghĩa hình thức Nga lại trở thành cơ sở để mở ra nhiều hướng tiếp cận đối với lĩnh vực nghiên cứu văn học Như một nghịch lý, các khuynh hướng nghiên cứu khác, dù có thể không kế thừa những thành tựu mà Chủ nghĩa hình thức để lại, nhưng bản thân Chủ nghĩa hình thức cũng trở thành động lực cho các khuynh hướng nghiên cứu ấy phát triển, trên cơ sở chống lại nó
Với các dấu ấn mà Trường phái hình thức Nga để lại, Chủ nghĩa cấu trúc Tiệp Khắc được hình thành trên cơ sở câu lạc bộ ngôn ngữ học Praha (thành lập tháng 10 năm 1926) Ở đó, R.Jakobson - một trong những người tiên phong của Chủ nghĩa hình thức - được xem như một dấu gạch nối Đó cũng là khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa cấu trúc Một cột mốc quan trọng đánh dấu sự thịnh hành của
Chủ nghĩa cấu trúc là năm 1960, khi Claude Lévi-Strauss công bố luận văn Cấu trúc
và hình thức: những phản ánh trong tác phẩm của Vladimir Propp “Tác phẩm của
Vladimir Propp” được đề cập ở đây chính là công trình Hình thái học truyện cổ tích
1 Jean-Yves Tadié: nhà nghiên cứu người Pháp, tác giả chuyên luận Phê bình văn học thế kỷ
XX, giáo sư ngành kiến trúc Trung Cổ và ngôn ngữ hiện đại tại Đại học Oxford Sau đó, cho
đến khi nghỉ hưu, ông giảng dạy tại Đại học Paris-Sorbonne
Trang 24Bằng việc nghiên cứu các quy luật vận động nội tại của truyện cổ tích thần kỳ, Hình
thái học truyện cổ tích được xem như đã đặt bước chân đầu tiên trên con đường nghiên
cứu văn học bằng phương pháp cấu trúc
Cũng từ đây, Chủ nghĩa cấu trúc bắt đầu thực hiện sứ mệnh của nó trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Tuy nhiên cần nói rằng trước đó tư tưởng cấu trúc đã được vận dụng trong các ngành khoa học tự nhiên Theo Bogusław Żyłko2, quan điểm về cấu trúc đã bắt đầu chiếm ưu thế ở các ngành hóa học, sinh học và di truyền học từ thế
kỷ XIX Huỳnh Như Phương trong công trình Trường phái hình thức Nga cũng đề cập
đến việc toán học, logic học, vật lý học, sinh vật học và nhiều ngành khoa học xã hội
từ lâu đã quan tâm đến khái niệm cấu trúc và vận dụng các phương pháp của Chủ
nghĩa cấu trúc trước khi Claude Lévi-Strauss xuất hiện Dưới góc nhìn của Chủ nghĩa cấu trúc, các đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học tự nhiên như: vật thể hóa học, sinh thể, đặc điểm di truyền không còn được xem xét chỉ như là một tổng thể
của các bộ phận Theo đó, khái niệm cấu trúc không thể tách rời mối quan hệ giữa bộ
phận với toàn thể Khi phương pháp cấu trúc được áp dụng trong Vật lý học, nó giả
định rằng: “thế giới được cấu thành từ các vật thể khó có thể quan sát được, trong đó
các mối quan hệ nhất định được đặt vào, và chúng ta chỉ có thể tiếp cận với những mối quan hệ đó” (Bogusław Żyłko, 2014) Như vậy, có thể thấy rằng ngay từ lĩnh vực
Vật lý thì phương pháp cấu trúc đã nhấn mạnh đến các mối quan hệ nội tại được đặt
vào các vật thể, và nhà nghiên cứu cũng chỉ có thể tiếp cận các mối quan hệ ấy
Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, chúng tôi cho rằng Chủ nghĩa cấu trúc được
xây dựng dựa trên ba nền tảng chính
Thứ nhất, Chủ nghĩa cấu trúc bắt nguồn từ lý thuyết ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure Saussure đặt ngôn ngữ trong phạm vi nghiên cứu của Ký hiệu học (Semiotic), ông cho rằng ngôn ngữ (language) là một hệ thống ký hiệu (sign system) Trong đó, mỗi ký hiệu (sign) là sự thống nhất của hai mặt không thể tách rời,
Trang 25cũng như hai mặt của một tờ giấy: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) Sự thống nhất của hai mặt này được thiết lập dựa trên nguyên tắc võ đoán, tức là không có lý do, không có mối liên hệ tự nhiên nào giữa chúng Xem ngôn ngữ
là một hệ thống ký hiệu, Saussure đưa ra sự phân biệt giữa ngôn ngữ (language) và lời
nói (speech) Nếu ngôn ngữ có tính chất xã hội: “đó là sản phẩm được kế thừa từ các
thế hệ đi trước và nó phải được chấp nhận như nó vốn có” (Huỳnh Như Phương,
2010), thì lời nói có tính chất cá nhân: “là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ một cách
thích hợp trong hoàn cảnh riêng của từng con người cụ thể” (Huỳnh Như Phương,
2010) Xét theo khía cạnh này thì tác phẩm văn học được xem như một dạng lời nói,
đó là lời văn nghệ thuật được nhà văn vận dụng kho tàng ngôn ngữ mà sáng tạo nên Như vậy, đằng sau dạng lời nói của tác phẩm văn học là sự chi phối nhất quán của một ngôn ngữ nào đó Với các nhà cấu trúc luận, văn học là một hệ thống ký hiệu đặc thù được thể hiện thông qua văn bản văn học Chủ nghĩa cấu trúc, theo hướng đó tập trung vào việc nghiên cứu “ngôn ngữ” của văn bản văn học, tức cái cấu trúc bất biến ẩn tàng
bên dưới bề mặt văn bản ngôn từ
Thứ hai, từ công trình Hình thái học truyện cổ tích của V.Propp, phương pháp
cấu trúc đã được vận dụng vào lĩnh vực folklore học để nghiên cứu thể loại truyện cổ
tích thần kỳ và trở thành một đột phá trong giới folklore học Trong Trường phái hình
thức Nga, Huỳnh Như Phương (2007) cho rằng: “phát kiến của Propp chứng minh rằng ngay trong lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc truyện, người ta cũng có thể rút ra được
những quy luật chặt chẽ” Trong bài viết Cấu trúc truyện cổ tích, Propp nêu rõ:
Chúng tôi tiến hành việc so sánh các truyện cổ tích này về mặt đề tài, và để so sánh, chúng tôi tách ra những bộ phận cấu thành của truyện cổ tích thần kì theo những thủ pháp riêng, sau đó chúng tôi so sánh các bộ phận cấu thành của các truyện cổ tích Kết quả, chúng tôi có được hình thái học tức là sự miêu tả truyện
cổ tích theo các bộ phận cấu thành và theo mối quan hệ của những bộ phận ấy
đối với nhau cũng như đối với cái toàn thể (Đỗ Lai Thúy, 1998)
Trong công trình này, V.Propp mô tả chức năng của các nhân vật trong truyện
cổ tích thần kỳ như là những đại lượng bất biến (hằng số), còn nhân vật là đại lượng khả biến (biến số) Điều này có nghĩa là nhân vật có thể thay đổi, dù là nhân vật này
Trang 26hay nhân vật khác, nhưng chức năng của chúng thì vẫn được giữ nguyên Chẳng hạn,
người em cho con chim lạ ăn khế, con chim lạ trả ơn cho người em (Ăn khế trả vàng); hay Thạch Sanh cứu con trai vua Thủy, vua Thủy trả ơn cho Thạch Sanh (Thạch Sanh),
về mặt chức năng, việc trả ơn là không thay đổi còn nhân vật thì biến đổi liên tục Trên
cơ sở đó, V.Propp đưa ra 31 chức năng trong truyện cổ tích Số lượng chức năng tuy
hữu hạn, nhưng việc áp dụng vào các nhân vật là vô hạn Như vậy, “các truyện kể thực
tế được coi là những biến thể khác nhau của một cái duy nhất” (Trịnh Bá Đĩnh, 2011)
Tư tưởng này của Propp được xem như là một gợi ý quan trọng đối với các nhà cấu
trúc luận sau này
Thứ ba, xuất phát từ việc nhìn nhận lại đối tượng của khoa học về văn học mà R.Jakobson đã đặt ra Theo đó, văn học không phải là đối tượng của khoa học về văn
học, mà chính là tính văn học Nó cho phép nhìn nhận văn bản văn học như là một tổ
chức cần được nghiên cứu với những đặc tính riêng biệt của chính nó, từ bỏ lối giải thích mang tính chất chủ quan dựa trên những yếu tố bên ngoài văn bản Theo Huỳnh
Như Phương: “R.Jakobson, Chủ tịch câu lạc bộ Ngôn ngữ Moskva, cho rằng nhiệm vụ
trước tiên của thi pháp học là trả lời câu hỏi: “Cái gì khiến cho một thông điệp ngôn
từ trở thành một tác phẩm nghệ thuật?”” (Trần Đình Sử, 2017) Điều này liên quan
đến các nghiên cứu của R.Jakobson trong việc phân xuất hành động nói thành các yếu
tố cấu tạo và xác định chức năng riêng của chúng, R.Jakobson trong bài diễn văn nổi
tiếng Ngôn ngữ học và thi pháp học đã trình bày những nhân tố hữu cơ của việc giao
tiếp ngôn ngữ bằng mô hình sau:
BỐI CẢNH NGƯỜI GỬI THÔNG ĐIỆP NGƯỜI NHẬN
KÊNH
MÃ
Theo mô hình trên, khi người gửi muốn gửi một thông điệp cho người nhận thì cần phải xét đến một bối cảnh nền mà ở đó thông điệp được đưa ra Trong bối cảnh này, thông điệp được mã hóa bằng ngôn ngữ chung cho cả người gửi và người
Trang 27nhận (hay cho người lập mã và người giải mã) Theo đó, một tác phẩm văn học cũng
có thể được xem là một thông điệp được gửi từ tác giả đến người đọc Cuối cùng, việc truyền thông điệp đòi hỏi một kênh giao tiếp, hay nói cách khác là một sự tiếp xúc về mặt vật lý hoặc tâm lý giữa người gửi và người nhận nhằm xác lập và duy trì quan hệ giao tiếp Điều này mở ra nhiều khía cạnh mà theo quan điểm của Iu.M.Lotman liên quan đến bản chất giao tiếp cũng như ngôn ngữ của văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung
Dựa trên mô hình của R.Jakobson, Huỳnh Như Phương trong Trường phái hình thức Nga đã mô phỏng một sơ đồ nhằm định vị những lý thuyết (LT) văn học như sau:
vai trò của hai yếu tố: Thông điệp và Mã mà chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở phần sau
1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học
Theo Bogusław Żyłko, vấn đề cấu trúc đã trở nên phức tạp hơn khi nó vượt ra khỏi lĩnh vực của các ngành khoa học tự nhiên để thâm nhập vào lĩnh vực của các ngành khoa học xã hội, trong đó có nghiên cứu văn học Những người ủng hộ phương pháp cấu trúc tin rằng sự giải thích mang tính cấu trúc về các vấn đề trong cả hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là hữu ích Họ đồng thời mong muốn có thể kết nối khoa học tự nhiên và khoa học xã hội bằng phương pháp cấu trúc Điều này tạo tiền đề cho việc đề xuất ý tưởng “nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học” trong
Trang 28một bài báo cùng tên được Iu.M.Lotman công bố vào năm 1967 Nói về điều mà các
nhà cấu trúc luận quan tâm, Bogusław Żyłko viết:
Các nhà tư tưởng cấu trúc (chúng ta có thể nói thêm “ở mọi sự mô tả” - Althusser, Foucault, Lacan) nhấn mạnh vai trò của các cấu trúc ngôn ngữ, phân tâm học và sinh học, theo cách này làm giảm ý nghĩa của chủ đề và những lựa chọn có ý thức của nó đến mức tối thiểu: “Chủ thể con người cuối cùng cũng bị gạch bỏ, bởi vì được giảm một cách khách quan đến các cấu trúc (nghĩa là nó được hiểu riêng
về mặt cấu trúc) [ ] Mô hình về việc hiểu biết sự tồn tại của con người không phải là một thực thể có ý thức, mà là một cấu trúc vô thức” (Krąpiec, 1971: 569)
(Żyłko, B., 2014)
Theo đó, đối với các nhà cấu trúc luận, chủ thể con người giờ đây không còn chiếm giữ vị trí trung tâm nữa Họ, các nhà cấu trúc luận, cho rằng những gì mà con người nhận thức được bằng tư duy vốn không phải là một thực thể có ý thức của riêng
nó, mà từ bản chất, đó chỉ là mô hình (model) của những cấu trúc
Dù được vận dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, song các nhà cấu trúc luận đều hướng đến một mục tiêu giống nhau, đó là: CẤU TRÚC Về thuật
ngữ cấu trúc, Jean Piaget viết:
Gần như đây là lần đầu tiên chúng ta có thể nói rằng một cấu trúc là một hệ thống của những sự biến đổi Vì nó là một hệ thống chứ không chỉ là một tập hợp các yếu tố với những đặc tính của chúng, những chuyển đổi này liên quan đến các quy luật: cấu trúc được bảo tồn hoặc làm phong phú bởi sự tương tác trong các quy luật biến đổi của nó, nó không bao giờ tạo ra kết quả bên ngoài hệ thống cũng không sử dụng các yếu tố bên ngoài Tóm lại, quan điểm về cấu trúc bao gồm ba ý tưởng chính: ý tưởng về tính toàn vẹn, ý tưởng về tính chuyển đổi và ý
tưởng về tính tự điều chỉnh (Żyłko, B., 2014)
Theo Trịnh Bá Đĩnh trong Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, khái niệm cấu
trúc được các nhà cấu trúc luận đặt trong sự phân biệt rạch ròi với khái niệm kết cấu
Kết cấu cũng có thể được xem là cấu trúc, nhưng là cấu trúc theo nghĩa thông thường, cấu trúc thường nghiệm Đó không phải là đối tượng của chủ nghĩa cấu trúc, đối tượng
của chủ nghĩa cấu trúc là thứ cấu trúc bề sâu, cấu trúc siêu nghiệm Điều đó lý giải
quan điểm chung của các nhà cấu trúc rằng: bên dưới mỗi sự vật, hiện tượng là một hệ
Trang 29thống với những yếu tố cấu thành và các mối quan hệ giữa chúng Các mối quan hệ này không hề tồn tại một cách rời rạc mà kết thành một hệ thống, hay nói hình tượng
lực của tác giả và các yếu tố ảnh hưởng đến tư tưởng của tác giả
Không quan tâm đến ý nghĩa nội dung của từng tác phẩm cụ thể, các nhà cấu trúc luận say mê tìm tòi một thứ “ngữ pháp” của văn chương:
[…] ở Roland Barthes, dẫn đến lý thuyết về các ‘mã’ (codes) chi phối cách ‘vận
hành’ của tiểu thuyết; ở Tzvetan Todorov và Gérard Genette, sự phát triển của thi pháp học, tự sự học (narratology) và lý thuyết về các thể loại; ở Claude Levi- Strauss, lý thuyết về huyền thoại và văn hoá dân gian nói chung; ở Vladimir Propp
và đặc biệt, ở A J Greimas, lý thuyết về truyện dân gian; ở Roman Jakobson, lý thuyết về sự chuyển hoá từ trục lựa chọn sang trục kết hợp và từ phong cách ẩn
dụ sang phong cách hoán dụ trong thơ; ở Jonathan Culler, lý thuyết về khả lực (competence) và tính khả thức (intelligibility) của văn học, tức những điều kiện
và quy luật chi phối cách thức diễn dịch để chúng ta có thể hiểu và cảm các tác phẩm văn học, bằng cách đó, nới rộng phạm vi của khái niệm cấu trúc: nó không chỉ nằm trong tác phẩm mà còn nằm cả trong động tác diễn dịch của người đọc
(Nguyễn Hưng Quốc, n.d.)
Trong lĩnh vực văn học, cấu trúc của một văn bản văn học được xem là một đối tượng có tổ chức một cách chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể bao gồm 2 lớp ngôn ngữ:
ngôn ngữ xác thực và ngôn ngữ tượng trưng (cấu trúc) Một chỉnh thể được tạo nên
bởi hệ thống các mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành, chứ không phải là sự tổng cộng các yếu tố Nói cách khác, một chỉnh thể cấu trúc của văn bản văn học giống như một con cá, mà ở đó các bộ phận của nó được đặt trong sự liên kết bởi những mối quan
hệ nhất định nhằm giúp con cá đó bơi được Phân tích cấu trúc văn bản dưới góc nhìn của cấu trúc luận cần phải tìm được mô hình liên kết chung nhất giữa các yếu tố cấu
Trang 30thành Nó là một thứ siêu cấu trúc, nhà văn không chủ đích nói ra, song nó luôn tồn tại khách quan trong tác phẩm
1.1.3 Iu.M.Lotman và phương pháp cấu trúc - ký hiệu học
Trong bài viết “Nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học”, để trả lời cho câu
hỏi: Liệu việc nghiên cứu văn học theo phương pháp cấu trúc - ký hiệu học có mở ra
những viễn cảnh mới mẻ cho khoa học hay không? Lotman trả lời rằng: “V.Kôzinốp
nói rằng: Không! còn chúng tôi nói rằng: Có!” (Trương Đăng Dung & Nguyễn Cương,
1990) Cũng trong bài viết này, Iu.M.Lotman hướng tới việc vận dụng các phương pháp và thành tựu của các ngành “khoa học chính xác” vào việc nghiên cứu văn học, khước từ những mơ hồ cảm tính còn tồn tại trong nghiên cứu văn học Theo ông, làm được điều đó, nghiên cứu văn học mới có thể tiến gần hơn đến việc trở thành một ngành khoa học
Trong bài viết “Nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học”, Iu.M.Lotman đã
trình bày quan điểm của ông về những nguyên tắc cơ bản của việc nghiên cứu theo
phương pháp cấu trúc Tuy nhiên, việc này không nhằm tranh luận với bài viết “Liệu
có thể có thi pháp cấu trúc không?” của V.Kôzinốp, như Iu.M.Lotman đã nói:
“V.Kôzinốp có một nét rất đáng quý là tác giả đã chân thành mong muốn tìm hiểu những điều mà mình nghiên cứu” (Trương Đăng Dung & Nguyễn Cương, 1990)
Thứ nhất, quan điểm của Iu.M.Lotman về cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa cấu trúc là phép biện chứng Chủ nghĩa cấu trúc không phân tích theo cách liệt kê máy móc các dấu hiệu Thứ mà nó quan tâm là hệ thống chức năng, nói cách khác: cấu trúc3 Người nghiên cứu không chủ đích liệt kê ra những dấu hiệu mà kiến tạo mô hình
của các mối quan hệ Theo cách đó, cấu trúc không phải là tổng số các thành tố, mà là
một thể thống nhất hữu cơ giữa những thành tố được xây dựng theo kiểu hệ thống Xét đến văn học, cấu trúc văn bản không phải là một tập hợp các thành tố cấu thành mà là một mô hình các mối quan hệ giữa các thành tố, được tổ chức có hệ thống Ý niệm về
3 Trong bài viết Nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học của Iu.M.Lotman, Tuấn Ảnh dịch là “kết
cấu”, trong một bản dịch khác của bài viết này, Lã Nguyên dịch là “cấu trúc” Bằng việc so sánh sự thống nhất về mặt thuật ngữ giữa hai bản dịch và phạm vi kiến thức có liên quan đến chủ nghĩa cấu trúc, chúng tôi đồng thuận với việc sử dụng thuật ngữ “cấu trúc”
Trang 31mô hình các mối quan hệ mà Iu.M.Lotman đã đề cập trong bài viết của ông là cơ sở
quan trọng để chúng tôi rút ra vấn đề Mô hình văn bản văn học và xây dựng cái gọi là
Mô hình văn bản văn học
Thứ hai, từ cội nguồn khoa học - đạo đức của mỗi khuynh hướng nghiên cứu, Iu.M.Lotman cho rằng chủ nghĩa cấu trúc không hề “phi nhân bản” như những lời buộc tội đã gán cho nó Bởi sự chính xác trong nghiên cứu khoa học xã hội không có mối liên hệ gì với tính “phi nhân bản” Mà trái lại, chính sự thiếu chính xác trong nghiên cứu khoa học mới là cánh cửa mở đường cho thói tráo trở, cơ hội và dối trá Theo Iu.M.Lotman, bản chất của khoa học là thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm chân lý của con người Nó nhân bản trước hết ở việc mở rộng tầm hiểu biết cho con người Thêm nữa, sự ngán ngẩm từ việc những điều mơ hồ vẫn cứ được chứa đựng trong cái vỏ bọc khoa học khiến các nhà nghiên cứu, trong ý thức của mình, tìm đến các phương pháp luận chính xác
Thứ ba, Iu.M.lotman khẳng định phương pháp luận của chủ nghĩa cấu trúc được đặt trên hai cơ sở Một là, nó chống lại sự “hòa tan” văn học nghệ thuật vào lịch sử, tư tưởng xã hội bởi nó phát hiện những đặc trưng của ý thức xã hội trong văn học nghệ thuật Hai là, nó đặt ra nhiệm vụ khám phá tư tưởng tác phẩm như là sự thống nhất của các yếu tố mang nghĩa Khi xem xét từng yếu tố của cấu trúc nghệ thuật thì câu hỏi xuất hiện đó là: Nó mang ý nghĩa gì? Giá trị của nó như thế nào? Cách nhìn truyền thống tiếp cận với các yếu tố của văn bản nghệ thuật như là những yếu tố “hình thức” Tuy nhiên, các nhà cấu trúc cho rằng không thể nắm bắt ý nghĩa của các yếu tố này khi tách rời ra khỏi hệ thống Điều này đòi hỏi việc đặt các yếu tố “hình thức” ấy trong một hệ thống các mối quan hệ tương tác lẫn nhau, dưới góc nhìn cấu trúc - ký hiệu học mới có thể xác định ý nghĩa của yếu tố và cả hệ thống Ngoài ra, Iu.M.Lotman cũng nhấn mạnh, mối quan hệ giữa tư tưởng nghệ thuật với cấu trúc văn bản khiến người ta liên tưởng đến mối quan hệ giữa sự sống với cấu trúc sinh học của tế bào Giữa chúng,
tư tưởng nghệ thuật và cấu trúc văn bản, tồn tại một mối liên hệ vô cùng mật thiết Vấn đề tiếp theo mà Iu.M.Lotman đề cập là việc xác định các yếu tố mang nghĩa
cơ bản nhất của hệ thống Đó là những yếu tố được đặt trong sự đối lập Ông cho rằng chỉ có trong sự đối lập, bản chất của yếu tố mới được làm rõ thông qua việc phát hiện
Trang 32cái gì đối lập với nó, chứ không phải thông qua sự miêu tả một cách riêng lẻ bản thân
yếu tố đó Theo ông, thuật ngữ “đối lập” là “một phương tiện hữu dụng để xây dựng
những mô hình (model) của những cấu trúc khác nhau” (Trương Đăng Dung &
Nguyễn Cương, 1990)
Không đơn thuần chỉ theo đuổi phương pháp cấu trúc, Iu.M.Lotman đã kết nối chủ nghĩa cấu trúc với ký hiệu học để tạo ra phương pháp cấu trúc - ký hiệu học
Iu.M.Lotman khẳng định: “mỗi một văn bản nghệ thuật được tạo lập nên với tư cách
là ký hiệu đơn nhất, ad hoc (triệt để) được xây dựng cho một nội dung đặc biệt”
(Lotman, Iu M., 2004) Nhìn nhận văn bản với tư cách là một ký hiệu, ông nhấn mạnh vai trò của việc tiếp cận văn bản theo phương pháp ký hiệu học
Tuy nhiên, trước khi nói rõ hơn về bản chất của việc tiếp cận ký hiệu học đối với văn bản, đề cập đến vấn đề nghĩa trong văn bản nghệ thuật, Iu.M.Lotman phủ nhận những khẳng định cho rằng việc nghiên cứu cấu trúc - ký hiệu học đối với văn học sẽ
xa rời vấn đề nội dung, nghĩa, giá trị xã hội - đạo đức của nghệ thuật Bởi mục đích cốt yếu của hoạt động ký hiệu chính là truyền đạt một nội dung xác định Cái nội dung xác định ấy, hay nói cách khác chính là ý nghĩa, là thứ không thể tách rời vấn đề ký hiệu Ký hiệu, với tư cách là một hoạt động trung gian, truyền đạt ý nghĩa từ văn bản
tới người tiếp nhận: “Chính việc nghiên cứu là cái gì “có ý nghĩa”, tức là cái gì là
hành vi giao tiếp và vai trò xã hội mà nó đóng ra sao - cấu thành nên bản chất của việc tiếp cận ký hiệu học” (Lotman, Iu M., 2004) Theo Iu.M.Lotman, ý nghĩa xuất
hiện trong trường hợp có hai chuỗi cấu trúc: một chuỗi với tư cách là bình diện biểu đạt, một chuỗi với tư cách là bình diện nội dung Sự giao thoa giữa hai chuỗi này tạo
ra tính ký hiệu Theo đó, ông khẳng định “vấn đề nội dung bao giờ cũng là vấn đề
chuyển mã” (Lotman, Iu M., 2004), sự chuyển mã từ bình diện biểu đạt sang bình diện
nội dung Từ đây, Iu.M.Lotman xét lại yếu tố Mã (Code) trong mô hình các yếu tố
giao tiếp của R.Jakobson
Về vấn đề chuyển mã, Iu.M.Lotman xem nó như là một cách thức tạo lập ý nghĩa Ông nhìn nhận các hệ thống mô hình hóa thứ cấp, trong đó có văn học, với tư cách là những cấu trúc được tạo nên từ nền tảng của ngôn ngữ tự nhiên Tiếp đến, cấu trúc này nhận được sự bổ trợ mang tính ý thức hệ, đạo đức, nghệ thuật… nhằm tạo ra ý nghĩa
Trang 33của cấu trúc Trên cơ sở đó, Iu.M.Lotman đưa ra hai cách thức tạo lập ý nghĩa dựa trên
sự chuyển mã hướng nội và sự chuyển mã hướng ngoại
Về sự chuyển mã hướng nội, Iu.M.Lotman dẫn ra một phương trình đại số trong
toán học: a = b + c Có thể thấy rằng ký hiệu “a” mang một nội dung xác định Tính nội dung của “a” không có liên hệ với bất kỳ yếu tố nào ngoài phương trình Hay nói cách khác, nội dung của “a” trong trường hợp này được xác định bằng mối quan hệ
nội tại “b + c” Điều này liên hệ mật thiết với bình diện kết học 4 (syntactics) của ký
hiệu học Nếu trong tiếng Việt: tao đánh mày (sự kết hợp giữa chủ thể - hành động - đối tượng) là một cấu trúc có nghĩa thì ngược lại, trong tiếng Nhật: tao mày đánh mới
là một cấu trúc có nghĩa Điều đó cho thấy các nguyên tắc kết hợp hoạt động như một
cơ chế tạo nghĩa trong ngôn ngữ Cần nhấn mạnh rằng điều mà ngôn ngữ học quan tâm về phương diện này là mối quan hệ kết hợp chứ không phải quan hệ tuyến tính Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ về hai mối quan hệ này:
Rắn là loài bò sát không chân
Trong trường hợp này, quan hệ tuyến tính không mang đến một cơ chế tạo nghĩa chính xác Trong khi đó, sự hoạt động như một nguyên tắc kết nối của quan hệ kết hợp
mới có thể tạo ra ý nghĩa chính xác cho câu: rắn là loài bò sát không chân Đề cập đến
điều này, chúng tôi nhấn mạnh sự kết hợp giữa các yếu tố trong một mô hình với tư cách như là quy luật vận động nội tại nhằm tạo ra ý nghĩa cho mô hình đó
Về sự chuyển mã hướng ngoại, theo Iu.M.Lotman đó là sự xích lại gần của các
cấu trúc độc lập với tính tương đương Sự chuyển mã này cho phép ý nghĩa đi ra khỏi ranh giới của một hệ thống hoạt động nội tại Điều này có giá trị đặc biệt to lớn bởi
“tính tương đương của các yếu tố trên các cấp độ khác nhau là một trong những
4 Kết học (syntactics) là một trong ba bình diện của Ký hiệu học, nó nghiên cứu mối quan hệ giữa ký
hiệu với ký hiệu, từ đó ý nghĩa được tạo ra trong quan hệ kết hợp giữa các ký hiệu ngôn ngữ
Quan hệ tuyến tính
Quan hệ kết hợp
Trang 34nguyên tắc tổ chức cơ bản của thơ ca và rộng hơn, của cấu trúc nghệ thuật nói chung”
(Lotman, Iu M., 2004) Dựa trên phương trình mà Iu.M.lotman đã dẫn ra, chúng tôi
có thể thiết lập một phương trình tương đương dựa trên nguyên tắc chuyển mã hướng ngoại như sau:
a = b + c <=> a’ = b’ + c’ (<=>: tương đương)
Trong đó: a <=> a’, b <=> b’, c <=> c’
Đề cập đến tính tương đương giữa các yếu tố như một cơ chế chuyển mã hướng
ngoại Iu.M.Lotman quan tâm đến hai bình diện nghĩa học 5 (semantics) và dụng học 6
(pragmatics) trong ký hiệu học Ông xem các cặp từ “ăn” - “ngấu nghiến” và “ngủ” -
“đánh một giấc” là những cặp từ tương đương về mặt ngữ nghĩa ở bình diện nghĩa học Tuy nhiên, đối với bình diện dụng học, khi thông báo về mặt ngữ nghĩa bao hàm cả phong cách của người nói và mối quan hệ giữa người nói với hành vi của đối tượng được nói đến thì các cặp từ “ăn” - “ngủ” và “ngấu nghiến” - “đánh một giấc” tương đương với nhau từng đôi một Trên thực tế, trong văn học, sự chuyển mã hướng ngoại hoạt động như một cơ chế phức tạp kết hợp giữa sự chuyển mã mang tính ngữ nghĩa học với sự chuyển mã mang tính ngữ dụng học
Có thể nói, những ý nghĩa được tạo lập từ sự chuyển mã hướng nội được xem như mang tính chất cú đoạn học Bên cạnh đó, những ý nghĩa được tạo lập từ sự chuyển
mã hướng ngoại được xem như mang tính chất hệ biến hóa Iu.M.Lotman khẳng định:
“khi xem xét nội dung của văn bản nghệ thuật chỉ ở trình độ thông báo ngôn ngữ,
chúng ta đã đi trượt qua bên cạnh hệ thống phức tạp của những nghĩa, những cái được tạo nên một cách dành riêng cho cấu trúc nghệ thuật” (Lotman, Iu M., 2004) Trên
cơ sở đó, Iu.M.Lotman đưa ra việc phân loại các ý nghĩa được tạo thành từ hệ thống
mô hình hóa thứ cấp của nghệ thuật theo hai kiểu:
5 Nghĩa học (semantics) là một trong ba bình diện của Ký hiệu học, nó nghiên cứu mối quan hệ giữa
ký hiệu với hiện thực, từ đó ý nghĩa được tạo ra trong sự kết nối với hiện thực
6 Dụng học (pragmatics) là một trong ba bình diện của Ký hiệu học, nó nghiên cứu mối quan hệ giữa
ký hiệu với người sử dụng, từ đó ý nghĩa được tạo ra trong sự kết nối với hoàn cảnh, phong cách của người sử dụng
Trang 35Thứ nhất, mô hình thiết lập sự tương đương giữa những yếu tố có nghĩa thích hợp cho việc xây dựng lý thuyết cấu trúc cho các phép chuyển nghĩa, và rộng hơn, cho các nghĩa nghệ thuật nói chung
Thứ hai, mô hình thiết lập sự chuyển mã mang tính chất ngữ nghĩa học và ngữ dụng học thích hợp cho việc trình bày những vấn đề phong cách học dưới ánh sáng của tư tưởng ký hiệu học
Như vậy, có thể kết luận rằng trong nỗ lực nghiên cứu cấu trúc của văn bản văn học với tư cách của một nhà cấu trúc luận, Iu.M.Lotman cũng đồng thời nhìn nhận nó như là một ký hiệu với con mắt của một nhà ký hiệu học Điều này từng bước đưa Iu.M.Lotman tiến xa hơn so với phương pháp của Chủ nghĩa cấu trúc khi nó được đặt trên nền tảng ngôn ngữ học Saussure
1.2 Nền tảng xây dựng Mô hình văn bản văn học
1.2.1 Văn bản, văn bản nghệ thuật và văn bản văn học
Một trong những nền móng để xây dựng mô hình văn bản văn học chính là việc trả lời cho câu hỏi: Văn bản văn học là gì? Xuất phát từ vấn đề này, chúng tôi nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt giữa Văn bản, Văn bản nghệ thuật và Văn bản
văn học dựa trên quan điểm của Iu.M.Lotman
Thứ nhất, về Văn bản Có thể khẳng định các nghiên cứu của Iu.M.Lotman đều
hướng đến việc lấy văn bản làm trọng tâm nghiên cứu Lã Nguyên cho rằng Iu.M.Lotman đã trao cho khái niệm “văn bản” một nội hàm mới mẻ, từ đó làm thay
đổi cách hiểu về bản chất của sự giao tiếp Theo quan điểm của Iu.M.Lotman: “một
thông báo nào đó để có thể được xem là một “văn bản”, ít nhất, nó phái có hai lần được mã hóa” (Lotman, Iu M., 2016) Ông đưa ra ví dụ về sự khác biệt giữa một thông
báo được xem là một “đạo luật” với đoạn miêu tả trường hợp phạm tội hình sự nào đó Trong trường hợp thứ nhất, thông báo vừa thuộc ngôn ngữ tự nhiên, vừa thuộc ngôn ngữ pháp luật, nó là sự tổ chức của chuỗi ký hiệu ngôn ngữ tự nhiên nhằm đạt được cả
ý nghĩa pháp luật Trong trường hợp thứ hai, đoạn miêu tả chỉ là sự tổ chức của các ký hiệu ngôn ngữ tự nhiên với ý nghĩa duy nhất Như vậy, hai lần mã hóa có thể được
hiểu là “ở ngôn ngự tự nhiên và ở thứ siêu ngôn ngữ miêu tả trên bình diện cú pháp
của ngôn ngữ tự nhiên ấy” (Lotman, Iu M., 2016) Với Iu.M Lotman, văn bản là một
Trang 36tổ chức phức tạp, lưu giữ, truyền đạt và thậm chí có thể sáng tạo ra những thông tin
mới, nó được nhìn nhận như là một tổ chức trí tuệ Roland Barthes trong bài viết Từ
tác phẩm đến văn bản cho rằng: “Văn bản là đa nghĩa Đó không phải đơn giản là có vài ba ý nghĩa, mà nó đạt tới sự đa nghĩa thực sự - một cái đa nghĩa không thể quy giản (không đơn thuần là cái duy nhất có thể chấp nhận)” (Trịnh Bá Đĩnh, 2017) Theo
đó, việc người tiếp nhận “giải mã” văn bản nên được thay thế bằng việc người tiếp
nhận “giao tiếp” với văn bản Lã Nguyên cho rằng: “trong hệ thống lí thuyết của Iu.M
Lotman, “văn bản” – “cá nhân” – “văn hoá” là những phạm trù đồng hình, đẳng cấu Khái niệm “văn bản” vì thế có nội hàm rất rộng Viện sĩ M.L Gasparov, một cộng sự gần gũi của Iu.M Lotman, có lần thốt lên: “Cuộc đời chúng ta nếu không phải là văn
bản, thì còn là cái gì nữa đây!”” (Lã Nguyên, 2016) Như vậy, theo quan điểm của
Iu.M.Lotman, văn bản được nhìn nhận như là một tổ chức có phẩm chất ký hiệu, một
cỗ máy thông tin Theo đó, một vũ điệu, một bài múa, một ca khúc, một bức tranh, một bộ phim, một bài thơ, một truyện ngắn, một tiểu thuyết…đều có thể được xem là
văn bản
Thứ hai, về Văn bản nghệ thuật và Văn bản văn học Trước hết, cần làm rõ luận điểm “nghệ thuật có thể được mô tả như là một ngôn ngữ thứ sinh nào đó, còn việc
sản xuất nghệ thuật - như là văn bản về ngôn ngữ đó” (Lotman, Iu M., 2004) của
Iu.M.Lotman Cơ sở của luận điểm này xuất phát từ việc Iu.M.Lotman nhìn nhận nghệ thuật với tư cách là một thứ ngôn ngữ, một phương tiện giao tiếp Iu.M.Lotman (2004)
khẳng định: “Nghệ thuật - một trong những phương tiện giao tiếp Không cần phải
tranh luận, nó hiện thực hóa mối quan hệ giữa nới chuyển và nơi nhận” Thêm nữa,
ông cho rằng: “bất kỳ một hệ thống nào phục vụ cho những mục đích giao tiếp giữa
hai hay nhiều cá thể đều có thể được xác định như là một ngôn ngữ” Theo đó, nghệ
thuật có thể được xác định với tư cách là một thứ ngôn ngữ có tổ chức dưới dạng đặc biệt Có thể sơ đồ hóa vấn đề này như sau:
Nơi chuyển Nơi nhận
Nghệ thuật (phương tiện giao tiếp) Ngôn ngữ có tổ chức dưới dạng đặc biệt
Trang 37Trên cơ sở đó, Iu.M.Lotman chia ngôn ngữ thành 3 loại:
- Ngôn ngữ tự nhiên (natural languages): tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…
- Ngôn ngữ nhân tạo (artificial languages): các ngôn ngữ khoa học (toán học, hóa
học, vật lý…), các ngôn ngữ của các tín hiệu ước định (biển báo, đèn tín hiệu giao thông…) và những gì tương tự
- Ngôn ngữ thứ sinh (secondary languages): hội họa, âm nhạc, điện ảnh, văn
học…, chỉ chung cho nghệ thuật
Theo Iu.M.Lotman, nghệ thuật là hệ thống mô hình hóa thứ sinh (secondary
modelling system) Ngôn ngữ thứ sinh của nghệ thuật là một thứ ngôn ngữ đặc biệt
Iu.M.Lotman khẳng định: “Thứ sinh trong mối quan hệ với ngôn ngữ cần phải hiểu
không chỉ như là dùng ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là chất liệu” (Lotman, Iu M.,
2004) Bởi lẽ trong phạm vi của nghệ thuật nói chung còn có sự góp mặt của các loại hình “nghệ thuật không lời”, hay nói cách khác là các loại hình nghệ thuật không sử dụng ngôn ngữ tự nhiên với tư cách chất liệu, như: hội họa, âm nhạc, nhảy múa… Theo đó, một bức họa, một bài múa, một giai điệu âm nhạc… đều được xem là một dạng văn bản nghệ thuật Iu.M.Lotman kết luận ngôn ngữ nghệ thuật hoạt động như là một ngôn ngữ thứ sinh, và đại diện cho việc sản xuất nghệ thuật chính là văn bản bằng ngôn ngữ thứ sinh đó
Về các hệ thống mô hình hóa thứ sinh, Lotman cho rằng ý thức của con người là
ý thức mang tính ngôn ngữ, nó diễn giải mọi thứ được tư duy tiếp nhận bằng ngôn ngữ,
do đó mọi dạng mô hình được xây chồng lên trên ý thức đều có thể được xem như là
các hệ thống mô hình hóa thứ sinh, trong đó có văn học nghệ thuật “Văn học có tính
nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai Bởi vậy mà người ta xác định nó như là hệ thống mô hình hóa thứ hai” (Lotman, Iu M., 2004) Như vậy, theo quan
điểm của Iu.M.Lotman, văn học là một loại hình nghệ thuật mà ngôn ngữ của nó được xây chồng lên trên chất liệu của ngôn ngữ tự nhiên, đó chính là ngôn ngữ văn học Nghệ thuật dưới dạng văn học chính là nghệ thuật ngôn từ Đại diện cho việc sản xuất
Trang 38văn học nghệ thuật chính là văn bản văn học Như vậy, nội hàm của khái niệm văn bản
nghệ thuật mà Iu.M.Lotman dùng trong trong công trình Cấu trúc Văn bản nghệ thuật
bao chứa cả khái niệm văn bản văn học mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này bởi văn học là một loại hình của nghệ thuật Nếu chất liệu của hội họa là đường nét, của
âm nhạc là giai diệu, của kiến trúc là hình khối thì chất liệu của văn học là ngôn từ Văn bản văn học theo đó, về bản chất là tập hợp của các ký hiệu ngôn ngữ tự nhiên
Đỗ Văn Hiểu cho rằng: “Văn bản văn học là hình thái hiện thực của tồn tại văn học,
văn bản văn học lấy ngôn ngữ sách vở hoặc khẩu ngữ để khách quan hóa ý thức thẩm
mĩ của nhà văn thành thực thể ngôn ngữ làm cho nó trở thành đối tượng để người khác
có thể cảm nhận” (Đỗ Văn Hiểu, 2014)
Thứ ba, cần có sự phân biệt giữa văn bản văn học với tác phẩm văn học Cơ sở
để làm sáng tỏ điều này theo chúng tôi xuất phát từ quan điểm cho rằng một văn bản văn học chỉ trở thành tác phẩm văn học khi nào nó đã được tiếp nhận bởi độc giả, thực hiện chức năng giao tiếp với độc giả Hay nói cách khác, nó thực sự “sống” trong đời sống văn học Trước khi có tác phẩm văn học, cần phải có văn bản văn học Lê Thời Tân (2012) cho rằng:
Chỉ lúc văn bản tác phẩm đi vào giao lưu tiếp nhận (hoặc nói tiêu thụ), kinh qua
sự đọc, tác phẩm mới được tổ chức, xây dựng lại bởi một hoạt động tư duy tiếp nhận có tính chất tái kết cấu đối tượng trong đọc Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm bằng việc đọc, có sự tồn tại của hoạt động tương hỗ giữa kết cấu văn bản trần thuật và kết cấu hình tượng tác phẩm Văn bản tác phẩm kinh qua sự đọc trở thành văn bản được kết cấu”
đọc-Như vậy, ở một phương diện nhất định, giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học không có sự khác biệt về mặt bản chất Theo Đỗ Văn Hiểu, đối tượng mà “văn bản” và “tác phẩm” hướng đến là không khác nhau Việc sử dụng các thuật ngữ có sự
thay đổi bắt nguồn từ những thay đổi về quan niệm văn học của mỗi giai đoạn: “sở dĩ
lí luận văn học và phê bình văn học dùng khái niệm “văn bản” làm mới đối tượng từng được gọi là “tác phẩm” là vì chúng ta có những lí giải và nhận thức mới về đối tượng này” (Đỗ Văn Hiểu, 2014)
1.2.2 Khởi nguồn của vấn đề Mô hình văn bản văn học
Trang 39Theo Iu.M.Lotman, tác phẩm nghệ thuật (trong đó có văn học) “là một mô hình
nhất định của thế giới, một thông báo nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật…” (Lotman,
Iu M., 2004) Thế giới hiện ra trong tác phẩm là một thế giới đã được mô hình hóa từ thế giới thực tại bằng ngôn ngữ thứ sinh của nghệ thuật “Một mô hình nhất định của
thế giới, một thông báo nào đó” là thứ được biểu thị trên văn bản bằng một tập hợp
các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên Từ văn bản, người đọc tiếp nhận được thông báo hay mô hình thế giới bất kỳ Trên cơ sở đó, văn bản được đặt trong mối quan hệ giữa người phát (tác giả) với người nhận (độc giả), nó thực hiện chức năng giao tiếp và truyền thông tin từ người phát tới người nhận như một khâu trung gian Dựa trên sơ
đồ giao tiếp của R.Jakobson, Lotman xem xét lại 2 yếu tố thông tin và mã Trong đó,
thông tin đề cập đến văn bản, còn mã đề cập đến ngôn ngữ:
Ngữ cảnh Thông tin (Văn bản) Người phát……… Người nhận
Mã (Ngôn ngữ)
Sự tiếp xúc Thực hiện chức năng thông tin bằng mã ngôn ngữ thứ sinh của nghệ thuật, văn bản được xem là một cấu trúc mang tính ký hiệu học Bàn về khái niệm “văn bản”
trong Cấu trúc văn vản nghệ thuật, Iu.M.Lotman (2004) cho rằng thứ đặc trưng cho văn bản là tính cấu trúc, tức là “tính tổ chức nội tại, làm chuyển hóa nó ở cấp độ cú
đoạn học thành một cái toàn vẹn mang tính cấu trúc” Tuy nhiên, không dừng lại ở
đó, tình hình trở nên phức tạp hơn khi văn bản được đặt trong một bối cảnh ký hiệu
mà Lotman gọi là Ký hiệu quyển (semiosphere) Bởi ông cho rằng: “các hệ thống rạch
ròi và đơn nghĩa về mặt chức năng không thể tồn tại tự nó, ở dạng biệt lập Được tách
ra riêng rẽ, không một hệ thống nào có khả năng hoạt động thực sự Chỉ khi nào được bao bọc trong một màng lưới kí hiệu học đầy ắp những cấu trúc kí hiệu học thuộc những dạng khác nhau và tồn tại ở những cấp độ tổ chức khác nhau nào đó, chúng
mới hoạt động” (Lotman, Iu M., 2016)
Từ góc độ này, Lotman cho rằng một văn bản không chỉ là một thông tin đơn giản được truyền đi giữa người phát và người nhận Mà hơn nữa, nó còn gia nhập vào
Trang 40các mối quan hệ phức tạp với bối cảnh bao bọc quanh nó, lẫn người nhận (độc giả) Trong quan niệm của Iu.M.Lotman, cái bối cảnh bao bọc văn bản và cả người nhận (độc giả) chính là một bối cảnh ký hiệu học Mà trong đó văn hóa cũng chính là một
đối tượng của nó Trong bối cảnh đó, văn bản “có được những phẩm chất của một tổ
chức trí tuệ: nó không chỉ chuyển tải một thông tin được đưa từ bên ngoài vào đó, mà làm thay đổi thông tin và tạo ra những thông tin mới” (Lotman, Iu M., 2016) Theo
Bogusław Żyłko (2014), “Lotman có thể đã đồng ý với tuyên bố của Paul de Man rằng
mỗi lần đọc là một sự đọc sai, với điều kiện là “sự sai lệch” của việc đọc được hiểu với ý nghĩa là tính mới mẻ của nó” Điều đó cho phép chúng ta nhìn nhận văn bản như
là một khối rubic tạo nghĩa, mỗi sự thay đổi trong cách tiếp cận văn bản cũng tương
tự như khi ta xoay khối rubic, hệ quả là tạo ra các hình thái khác nhau của cùng một
khối rubic
Vấn đề tiếp theo mà chúng tôi quan tâm: Liệu văn bản đã được tạo ra như thế nào?
Trong bài viết Đằng sau văn bản: Mấy ghi chú về phông triết học của ký hiệu
học Tartu, M.Iu.Lotman7 cho rằng hệ hình chủ nghĩa cấu trúc - ký hiệu học Tartu chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi triết học Kant Chỉ có thể nghiên cứu đối tượng VĂN BẢN khi
đặt nó trong nền móng triết học Kant: Văn bản chính là “vật tự nó” (Lotman, Iu M.,
2016) Do đó, việc phân tích hệ thống nội tại của văn bản như một tập hợp các cấu trúc
và chức năng càng trở nên quan trọng Xem xét điều này, M.Iu.Lotman đề cập đến phương pháp “hộp đen” trong lý thuyết hệ thống Đây là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm hiểu cấu trúc hay cơ chế hoạt động nội tại của hệ thống khi chỉ biết được
đầu vào và đầu ra của hệ thống đó: “chúng ta biết được cái gì đang đi qua lối vào hệ
thống và sẽ nhận được cái gì ở lối ra, nhưng hoàn toàn không thể nhìn vào phía bên trong của nó” (Lotman, Iu M., 2016) M.Iu.Lotman nhận định các công trình nghiên
cứu theo hướng cấu trúc - ký hiệu học, mà Iu.M.Lotman là một đại diện, thường dựa trên những kiểu kiến tạo tương tự theo cách đó Trong trường hợp nghiên cứu văn bản,
7 Mikhail Iurevich Lotman - sinh năm 1952, nhà nghiên cứu văn học, nhà ký hiệu học, Giáo sư Trường Đại học tổng hợp Tallin, nước cộng hòa Estonia, con trai trưởng của Iuri Mikhalovich Lotman