1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng việt

116 159 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một vấn đề vô cùng thú vị, thôi thúc chúng tôi cố gắng tìm hiểu về bộ phận thành ngữ chứa các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết, để từ đó thấy được đặc trưng văn hóa dân tộc Việ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Trung Kiên

THÀNH NGỮ CÓ TỪ NGỮ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA THỜI TIẾT

TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Trung Kiên

THÀNH NGỮ CÓ TỪ NGỮ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA THỜI TIẾT

TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Dư Ngọc Ngân - người đã gợi mở, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

1.1 Vấn đề thành ngữ trong tiếng Việt 8

1.1.1 Khái niệm thành ngữ 8

1.1.2 Nguồn gốc của thành ngữ 9

1.1.3 Đặc điểm của thành ngữ 13

1.1.4 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác 19

1.1.5 Phân loại thành ngữ 21

1.2 Trường nghĩa 22

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 25

1.4 Thành ngữ chứa các yếu tố thuộc TNTT trong tiếng Việt 27

1.4.1 Trường nghĩa thời tiết 27

1.4.2 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT 29

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA THÀNH NGỮ CÓ TỪ NGỮ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA THỜI TIẾT TRONG TIẾNG VIỆT 32

2.1 Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt 32

2.1.1 Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ đối có từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt 34

Trang 6

2.1.2 Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ so sánh có từ ngữ thuộc

TNTT trong tiếng Việt 39

2.1.3 Cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ thường có từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt 42

2.2 Chức năng ngữ pháp của thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt 45

2.2.1 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT làm thành phần phụ trong cụm từ 45

2.2.2 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT làm thành phần nòng cốt của câu 48

2.2.3 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT làm thành phần phụ của câu 50

2.2.4 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT làm thành phần biệt lập của câu 52

2.3 Vị trí của thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT trong câu 53

2.3.1 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT đứng đầu câu 53

2.3.2 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT đứng giữa câu 54

2.3.3 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT đứng cuối câu 54

2.4 Khả năng kết hợp của thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT trong câu 56

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ CÓ TỪ NGỮ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA THỜI TIẾT TRONG TIẾNG VIỆT 60

3.1 Ý nghĩa của thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT 60

3.1.1 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa chỉ các hiện tượng thời tiết 60

3.1.2 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những khó khăn trong cuộc sống 63

3.1.3 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những nguy hiểm- thách thức 65

Trang 7

3.1.4 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho cuộc sống lam lũ

và những thân phận nổi trôi 67

3.1.5 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những cơ hội- thuận lợi 69

3.1.6 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những vận xui 71

3.1.7 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng chỉ trạng thái tâm lý của con người 71

3.1.8 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những hành động của con người 75

3.1.9 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những hành vi ứng xử của con người 76

3.1.10 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho tính cách con người 78

3.1.11 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho những tình thế trong cuộc sống 80

3.1.12 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho tốc độ 81

3.1.13 Nhóm thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh 83

3.1.14 Nhóm thành ngữ biểu thị những ý nghĩa biểu trưng khác 84

3.2 Một vài nét văn hóa Việt Nam qua thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT 85

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CDT : Cụm danh từ CĐT : Cụm động từ

CN : Chủ ngữ CTT : Cụm tính từ

DT : Danh từ

ĐT : Động từ STT : Số thứ tự

TT : Tính từ TNTT : Trường nghĩa thời tiết TTP : Thành phần phụ

VN : Vị ngữ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt 33 Bảng 2.2 Thành ngữ đối có từ ngữ thuộc TNTT chia theo số lượng âm

tiết 35 Bảng 2.3 Thành ngữ so sánh có chứa từ ngữ thuộc TNTT chia theo dạng

thức {t} như B 42 Bảng 3.1 Số lượng thành ngữ theo ý nghĩa biểu trưng 84

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng như đặc trưng riêng cho ngôn ngữ đó Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của mỗi ngôn ngữ, bởi

nó có đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa, đồng thời phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Khá nhiều bộ phận thành ngữ, vấn đề trong thành ngữ đã được nghiên cứu một cách sâu rộng, chẳng hạn như: thành ngữ chỉ tính cách con người, thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm, thành ngữ chứa các từ chỉ động vật, thực vật, màu sắc, bộ phận cơ thể con người, hàm ý khen chê trong thành ngữ Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy trong thành ngữ có một số lượng lớn thành ngữ có những từ ngữ liên quan đến thời tiết, mà vấn đề này lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nó Các thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết chỉ thấy xuất hiện xen kẽ, lác đác trong các bài viết về tính cách con người, về hàm ý khen chê, chứ chưa được xem xét, tìm hiểu một cách có hệ thống trong mối tương quan giữa các thành ngữ chứa các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết Ngôn ngữ (trong đó có thành ngữ) luôn phát triển cùng xã hội, gắn với cuộc sống của con người, đặc biệt gắn liền với môi trường sinh sống, một trong những yếu tố của môi trường sống đó chính là thời tiết Và chắc chắn rằng, ông cha ta đã sử dụng các từ thuộc trường nghĩa thời tiết để diễn đạt rất nhiều ý nghĩa biểu trưng khác nhau Đây là một vấn đề vô cùng thú vị, thôi thúc chúng tôi cố gắng tìm hiểu về bộ phận thành ngữ chứa các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết, để từ đó thấy được đặc trưng văn hóa dân tộc Việt Nam được thể hiện như thế nào qua bộ phận thành ngữ này

Trang 11

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt

Khi tìm hiểu về tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng đã đặt vấn đề tìm hiểu về thành ngữ Tuy nhiên, trong một thời gian dài, thành ngữ thường được đánh đồng với tục ngữ mà không có một ranh giới để phân biệt chúng

Đầu thế kỉ XX, Phạm Quỳnh có bản báo cáo mang tên “Tục ngữ ca dao” đăng trên Tạp chí Nam Phong (1921) Trong bài viết này, ông quan niệm tất cả

các cụm từ cố định đều là tục ngữ

Công trình “Tục- ngữ phong- dao” của Nguyễn Văn Ngọc (1928) được xem là hợp tuyển thành ngữ tiếng Việt đầu tiên Công trình gồm 2 tập, ghi chép 6.500 câu tục ngữ, 850 bài ca dao được sưu tập trong dân gian và sách cổ Tác giả cũng chưa có sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, trong 6500 câu tục ngữ mà tác giả sưu tầm có rất nhiều câu là thành ngữ

Tuy nhiên, những công trình kể trên dù có bước đầu đề cập đến vấn đề

thành ngữ nhưng có thể nói nghiên cứu về thành ngữ ở thời điểm đó vẫn chưa được quan tâm Nó còn là một “khoảng đất trống” trên lãnh địa của Ngôn ngữ học

Đến giữa thế kỉ XX, tác giả Dương Quảng Hàm trong sách “Việt Nam văn

học sử yếu” (1943) đã tách khái niệm thành ngữ ra khỏi tục ngữ Cuốn sách

của học giả Dương Quảng Hàm được xem là “dấu mốc” quan trọng trong nghiên cứu thành ngữ Từ đây, thành ngữ bắt đầu được xem xét như một đối tượng riêng rẽ, độc lập trên các bình diện cấu tạo, ý nghĩa và cú pháp

Vào những năm 70 của thế kỉ XX, thành ngữ trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học thực sự Cũng từ giai đoạn này, các nghiên cứu về thành ngữ gặt hái được nhiều thành tựu Tuy nhiên, đó mới chỉ dừng lại ở việc: xác định khối lượng của thành ngữ, phân xuất các thành ngữ trong tiếng Việt, nghiên cứu các thuộc tính của thành ngữ và cách thức khu biệt chúng với những đơn vị khác của ngôn ngữ như: ngữ định danh, quán ngữ, hoặc với tục

Trang 12

ngữ Các bài viết này chủ yếu đăng trên tạp chí ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu về thành ngữ với cách tiếp cận đa dạng từ nhiều góc nhìn của ngữ

âm học, từ vựng học và cú pháp học với các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Văn

Tu (1968); Nguyễn Văn Mệnh (1986); Cù Đình Tú (1973); Nguyễn Thiện Giáp (1975; 2003); Hồ Lê (1976); Hoàng Văn Hành (1973, 1979); Trương Đông San (1985);

Nhiều khuynh hướng nghiên cứu thành ngữ đã xuất hiện Những tác giả

có thiên hướng nghiên cứu thành ngữ ở phương diện nguồn gốc, sự phát triển gắn với các bình diện văn hóa là: Bùi Khắc Việt (1978); Đỗ Hữu Châu (1999), Nguyễn Đức Dân (1986); Nguyễn Văn Khang (2005); …

Các tác giả như Trương Đông San (1985), Hoàng Văn Hành (1979) thì đi sâu vào nghiên cứu một tiểu loại nhỏ của thành ngữ tiếng Việt là thành ngữ so

sánh Tác giả Nguyễn Văn Hằng (1999) với công trình “ Thành ngữ bốn yếu tố

trong tiếng Việt hiện đại” đã góp một tiếng nói quan trọng vào việc nghiên cứu

thành ngữ đối chiếu Các tác giả như Phan Xuân Thành, Trịnh Cẩm Lan, … thì

đi vào nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng của thành ngữ Những năm gần đây, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành, các luận văn thạc

sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về thành ngữ có một số lượng không nhỏ Đó là những nghiên cứu đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và có chiều sâu

Trang 13

Tuy nhiên thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt lại là một đề tài chưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Thành ngữ tiếng Việt có số lượng lớn lên đến mấy nghìn đơn vị Không những thế nó còn đa dạng về đề tài và chủ đề Đứng trước kho tàng thành ngữ rộng lớn, chúng tôi xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là nhóm thành ngữ có các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết Đó là: trường

nghĩa chỉ các hiện tượng thời tiết: gió (phong), mưa (vũ), nắng, sương, sấm,

sét, thiên lôi, chớp, tuyết, băng, thủy triều (triều), bão, giông/dông, nạn hồng thủy, lũ, trường nghĩa chỉ các yếu tố thời tiết trên biển: sóng, biển (bể); trường

nghĩa chỉ các yếu tố liên quan đến bầu trời: trăng, mây, sao, trời; trường nghĩa chỉ nhiệt độ không khí: nóng, mát, lạnh, giá, rét, buốt

Tư liệu chính phục vụ cho việc nghiên cứu là nhóm thành ngữ có các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết được thống kê trong các tài liệu sau:

Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông, Nguyễn Như Ý (chủ biên),

Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002

Từ điển thành ngữ học sinh, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan

Xuân Thành, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009

Thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Nxb Khoa học xã

hội, 2009

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định mục đích của luận văn là chỉ được ra một số đặc điểm

về ngữ pháp, ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt Từ đó luận văn cố gắng liên hệ, chỉ ra một vài nhận xét và kiến giải về mối quan hệ của nhóm thành ngữ này với những đặc trưng trong

tư duy và văn hóa của người Việt

Để đạt được mục đích đó, luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

Trang 14

- Thống kê những thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt

- Xác định được cấu tạo, chức năng ngữ pháp của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết

- Xác định được các loại ý nghĩa của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết, trong đó chú ý đến ý nghĩa biểu trưng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: Người viết tìm ra những thành ngữ có chứa từ

ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt, sau đó thống kê số lượng thành ngữ có từ ngữ chỉ các hiện tượng thời tiết, từ ngữ chỉ các yếu tố thời tiết

trên biển, từ ngữ chỉ các yếu tố liên quan đến bầu trời, từ ngữ chỉ nhiệt độ

không khí Từ ngữ liệu đó, người viết thống kê và xác định tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ thời tiết trong trong thành ngữ

- Phương pháp miêu tả: Sau khi thống kê, chúng tôi tiến hành miêu tả các

trường hợp điển hình về vị trí, cách kết hợp, chức năng ngữ pháp của các thành ngữ trong phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Chúng tôi tiến hành phân tích ngữ

nghĩa chủ yếu là nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong thành ngữ

- Phương pháp hệ thống: Khi tập hợp các từ ngữ thuộc trường nghĩa thời

tiết, người viết sắp xếp chúng theo những tiêu chí nhất định về ý nghĩa biểu trưng và khả năng kết hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn cung cấp thêm tư liệu về thành ngữ tiếng Việt, đặc biệt là thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết

- Luận văn góp phần làm rõ đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của thành ngữ, đặc biệt là nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT

Trang 15

- Qua phần phân tích ngữ nghĩa, luận văn có thể trình bày một vài kiến giải về mối quan hệ giữa nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT với văn hóa Việt

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề lý thuyết về thành ngữ tiếng Việt, cụ thể là khái niệm thành ngữ, nguồn gốc thành ngữ, đặc điểm thành ngữ (đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa), phân loại thành ngữ, phân biệt thành ngữ với tục ngữ và với các đơn vị ngôn ngữ khác (như quán ngữ, ngữ định danh) Chúng tôi cũng tập trung làm rõ lý thuyết trường nghĩa, chỉ ra những trường nghĩa thời tiết chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, làm cơ sở cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thành ngữ có các từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt và văn hóa của người Việt Nam

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt

Trong chương 2 này, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại, miêu tả các thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT về mặt cấu trúc cú pháp: cấu trúc cú

pháp của thành ngữ đối có các từ ngữ thuộc TNTT, cấu trúc cú pháp của

thành ngữ so sánh có các từ ngư thuộc TNTT, cấu trúc cú pháp của thành ngữ thường (là thành ngữ mà không phải là thành ngữ đối cũng không phải là thành

ngữ so sánh) có các từ ngữ thuộc TNTT

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt

Trong chương 3, chúng tôi sẽ tìm hiểu nghĩa biểu trưng của thành ngữ có

từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt Ngoài ra, chúng tôi sẽ cố

Trang 16

gắng so sánh đối chiếu thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết tiếng Việt với đơn vị tương đương trong một vài ngôn ngữ khác, để từ đó làm nổi bật đặc trưng văn hóa của người Việt

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Vấn đề thành ngữ trong tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Cũng vì thế mà có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ Các quan niệm về thành ngữ được cụ thể dần cùng với lịch sử nghiên cứu vấn đề thành ngữ trong tiếng Việt Ban đầu, chưa có một quan niệm cụ thể cho thành ngữ vì còn có sự đồng nhất giữa thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác như tục ngữ, quán ngữ … Từ những năm bốn mươi của thế kỉ XX trở lại đây, khái niệm thành ngữ mới được trình bày độc lập để phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác Sau đây là một số quan niệm về thành ngữ của các nhà nghiên cứu:

- “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn và chỉ

bảo điều gì; nghĩa là thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý nghĩa gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè.” (Dương Quảng

Hàm, 2005)

- “Thành ngữ là loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt

chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế.” (Nguyễn Văn Mệnh, 1986)

- “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập

đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.” (Nguyễn Văn Tu, 1968)

- “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thức - cấu

trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy, về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ.” (Hoàng Văn Hành, 2004)

Trang 18

- “Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được

sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hay quan hệ.” (Hồ Lê, 1976)

- “Thành ngữ là đơn vị ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy

nghĩ đặc thù của mỗi dân tộc Thành ngữ phản ánh các khái niệm và các hiện tượng.” (Nguyễn Đức Dân, 1986)

- “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc ý nghĩa Nghĩa

của chúng có tính hình tượng và gợi cảm.” (Mai Ngọc Chừ, 2007)

- “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ

nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.” (Nguyễn Như Ý, 1998)

Có thể nói, mỗi nhà nghiên cứu đều có một cách kiến giải riêng về thành ngữ tiếng Việt Các khái niệm được đưa ra có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có cả những điểm khác biệt Đây cũng là một khó khăn để đi đến việc tìm

ra một khái niệm thống nhất cho thành ngữ tiếng Việt Tiếp thu các quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra một khái niệm chung về

thành ngữ tiếng Việt như sau: Thành ngữ tiếng Việt là những ngữ cố định có

cấu trúc tương đối ổn định, bền vững, có ngữ nghĩa trọn vẹn và mang tính biểu trưng

1.1.2 Nguồn gốc của thành ngữ

Thành ngữ cũng giống như các đơn vị ngôn ngữ khác, chúng có quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc Vấn đề đi tìm nguồn gốc của thành ngữ là một vấn đề khá nan giải và phức tạp

Vì nguồn gốc của thành ngữ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Xét một cách tổng quát, thành ngữ được hình thành từ các nguồn cơ bản sau đây:

a Thành ngữ được hình thành từ đời sống lao động

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, hoạt động lao động chủ yếu của

Trang 19

người Việt là cày cấy, trồng trọt, chăn nuôi Khi xưa, người nông dân làm việc dựa vào sức mình là chính, không có các loại máy móc, phương tiện hiện đại

hỗ trợ như ngày nay, vì vậy họ phải làm việc rất vất vả, cực nhọc Đời sống lao động vất vả đã ăn sâu vào tiềm thức của người nông dân Nhiều sự kiện thuộc đời sống lao động sản xuất hay những công việc mưu sinh đã trở thành chất liệu cấu tạo nên nhiều thành ngữ tiếng Việt Đó là hình ảnh những người nông

dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, thức khuya dậy sớm,

cháy mặt lấm lưng, dầm sương dãi nắng, đâm sấp rập ngửa, buôn thúng bán mẹt, v.v Tâm lí lo lắng, sắp đặt công việc sao cho hợp lí được phản ánh trong

thành ngữ liệu bò đo chuồng Cái nhìn thiển cận, lối làm ăn manh mún, thiếu tính toán là cơ sở ra đời thành ngữ tham bát bỏ mâm Đời sống đói kém của người nông dân giữa hai vụ lúa được phản ánh trong thành ngữ tháng ba ngày

tám…

Một số thành ngữ tiêu biểu: liệu cơm gắp mắm, trông gió bỏ buồm, bờ xôi

ruộng mật, cày sâu cuốc bẫm, chăn trâu cắt cỏ, chiêm khê mùa thối, cưa đứt đục suốt, dãi gió dầm sương, đắp đập be bờ, đầu ghềnh cuối bãi, đầu gio mặt muội, êm chèo mát mái…

b Thành ngữ được hình thành từ đời sống sinh hoạt hàng ngày

Trong đời sống hàng ngày, đối với người Việt Nam, ăn uống được coi

là vấn đề quan trọng hàng đầu Ăn không chỉ đơn thuần là thỏa mãn nhu cầu của cái đói mà còn thể hiện rõ đạo lí, triết lí sống của con người Việt Nam

Điều này được thể hiện rất rõ trong thành ngữ: chém to kho mặn, thái to bung

dừ, đầu trôi môi mè, chuối sau cau trước, say như điếu đổ, cơm gà cá gỏi, cơm chiêm mắm mặn, cơm hẩm cà thiu, cơm sung cháo dền, cơm tẻ mẹ ruột, tương

cà mắm muối, da bánh mật, má bánh đúc, bánh chưng ra góc, bánh đúc bày sàng, trơn như đổ mỡ

Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng và mùa lạnh được phân biệt rõ rệt nên chuyện ăn mặc của người Việt cũng rất được coi

Trang 20

trọng Với những người nông dân chân lấm tay bùn thì ăn mặc xuềnh xoàng: áo vải quần nâu, áo thô giày cỏ, thậm chí áo mảnh quần manh, quần

manh áo vá, váy vận yếm mang, cởi trần đóng khố, lưng đen khố bện Với

những người giàu có thì áo dài khăn đóng, áo dài khăn lượt, áo the khăn xếp,

quần chùng áo dài, quần chân áo chít, quần hồ áo cánh, khăn đóng áo chùng, khăn thâm áo vải Và với những cô thiếu nữ thì lại phải áo lụa quần hồng, mớ

ba mớ bảy,

c Thành ngữ hình thành từ đời sống tâm linh (tập tục, tín ngưỡng)

Là một dân tộc thiên về việc trọng tình, trọng nghĩa, người Việt Nam nói chung đặc biệt coi trọng việc tang ma, thờ cúng tổ tiên Một số thành ngữ tiêu

biểu: cha đưa mẹ đón; cha gậy tre, mẹ gậy vông; trẻ làm ma, già làm hội;chôn

sấp, liệm ngửa; giữ như giữ mả tổ, rước voi về giày mả tổ, đào mồ cuốc mả, chửi ủng mồ ủng mả, mồ yên mả đẹp, vén áo tay sô, đốt nhà táng giấy…

Bên cạnh đó, còn có những thành ngữ được ra đời từ quan niệm tín

ngưỡng, tôn giáo của người Việt: ăn chay niệm Phật; ăn mày cửa Phật; hiền như Bụt; của ít lòng nhiều; ở hiền gặp lành; gieo gió gặt bão; Phật nhà chẳng cầu đi cầu Thích Ca ngoài đường… Để chỉ những kẻ giả dối, cha ông ta dùng

cách nói miệng nam mô, bụng một bồ dao găm hay miệng Phật tâm xà; chỉ thói

ích kỉ, của người khác thì phung phí, của mình thì chặt chẽ, người Việt dùng

thành ngữ của người Bồ tát, của mình lạt buộc …

Trong thế giới quan tôn giáo của người Việt, thuyết Vật linh luận cũng rất được coi trọng Người ta tin rằng, trong tất cả các vật (hữu tri, vô tri) đều có

sự trú ngụ của những linh hồn Linh hồn ngự trị trong cây (thần cây đa, ma cây

gạo), trong đá, trong các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, sấm, chớp (ông

Đùng, bà Đoàng) và đặc biệt là ở con người Người ta tin rằng con người có

linh hồn Có lẽ đây là cơ sở để cho ra đời một loạt các thành ngữ như: hồn vía

lên mây, hồn lìa khỏi xác, ba hồn chín vía, ba hồn bảy vía, hết hồn hết vía, hồn xiêu phách lạc, thần hồn nát thần tính, táng đởm kinh hồn, hồn về chín suối,

Trang 21

hồn điên phách đảo, kinh hồn mất vía, hú hồn hú vía, bay hồn bạt vía, sợ mất vía

d Thành ngữ có cơ sở hình thành từ văn học

Truyện cổ tích dân gian, truyện ngụ ngôn, truyện cười Việt Nam là cơ sở

hình thành của nhiều thành ngữ tiếng Việt: con Rồng cháu Tiên, con Lạc cháu

Hồng, đẽo cày giữa đường, nói dối như Cuội, vắt cổ chày ra nước oan Thị Kính, công dã tràng, há miệng chờ sung, rồng đến nhà tôm, thầy bói xem voi, phù thủy đền gà, dốt có đuôi/ chuôi, đồ Lí Thông, nói nhăng nói cuội, nói dối như cuội, con rồng cháu tiên, trời đánh thánh vật, gan cóc tía

Bên cạnh đó, những nhân vật điển hình trong tác phẩm văn học cũng là

cơ sở cho sự ra đời của nhiều thành ngữ Việt: máu ghen Hoạn Thư, đồ Sở

Khanh, xấu như Thị Nở…

e Thành ngữ được hình thành từ thế giới động vật

Vì Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều nên nước

ta là môi trường sinh sống của rất nhiều loài động vật Đặc biệt, những động vật gần gũi, quen thuộc đối với con người như: chim, cá, rắn, rết, sâu bọ, các con vật nuôi như chó, mèo, trâu, ngựa, lợn, gà, vịt đều được phản ánh trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, trở thành nguồn chất liệu phong phú để tạo nên

nhiều thành ngữ: mất hút con mẹ hàng lươn, chuồn chuồn đạp nước, đười ươi

giữ ống, nước mắt cá sấu, te tái như gà mái nhảy ổ, cổ ngẳng như cổ cò, giãy nảy như đỉa phải vôi, xác như vờ, xơ như nhộng, rối như gà mắc đẻ, giấu như mèo giấu cứt, chó cái giữ con, dai như đỉa, mèo già hóa cáo, khỏe như voi …

f Thành ngữ được hình thành từ thế giới thực vật

Bên cạnh động vật, các loài thực vật với những đặc tính điển hình của

chúng cũng trở thành chất liệu để tạo nên thành ngữ: đen như củ súng, đen như

củ tam thất, xanh như tàu lá, tươi như hoa, đỏ như gấc, đỏ như hoa vông, đỏ như quả bồ quân, trắng như ngó cần, trắng như bông, rối như canh hẹ, rách như xơ mướp, rẻ như bèo, chát như sung

Trang 22

g Thành ngữ có cơ sở hình thành từ các hiện tượng tự nhiên

Việt Nam vốn là một đất nước nông nghiệp, nền sản xuất thiên về trồng trọt, canh tác Vì vậy yếu tố thiên nhiên có tác động to lớn đối với hoạt động

sản xuất, sinh hoạt của con người Việt Nam: ào ào như thác lũ, cao như núi,

dâng lên như nước thủy triều, như rồng gặp mây, tan như mây, như mặt trăng mặt trời, như sao hôm sao mai, vắng trăng có sao, nước chảy hoa trôi, nước chảy chỗ trũng, nước sâu sào ngắn, sóng cả gió to, sóng yên biển lặng, sông

có khúc, người có lúc, thay ngựa giữa dòng, nước nổi bèo nổi…

h Nguồn gốc từ việc vay mượn của tiếng nước ngoài

Một bộ phận không nhỏ thành ngữ tiếng Việt có nguồn gốc ngoại lai Điều này đã phản ánh quá trình tiếp xúc, tiếp nhận một cách mềm mại và linh hoạt của tiếng Việt nói chung và thành ngữ tiếng Việt nói riêng đối với những ảnh hưởng từ bên ngoài đối với ngôn ngữ của dân tộc

Theo số liệu của Nguyễn Thị Tân (2003) trong bài viết “Nhận diện thành

ngữ gốc Hán trong tiếng Việt” thành ngữ tiếng Việt có tới 2714 đơn vị thành

ngữ gốc Hán Con số này cho thấy thành ngữ gốc Hán chiếm khoảng gần 30% tổng số thành ngữ tiếng Việt và chiếm khoảng 98% thành ngữ có gốc ngoại lai

Một số thành ngữ tiêu biểu: xuất khẩu thành chương, chúng khẩu đồng từ,

đồng tâm hiệp lực, xuất đầu lộ diện, khẩu Phật tâm xà…

1.1.3 Đặc điểm của thành ngữ

Thành ngữ với tư cách là đơn vị tương đương với từ, bản thân nó mang những đặc điểm riêng về cấu tạo cũng như về ngữ nghĩa Cụ thể như sau:

a Đặc điểm về cấu tạo

a¹/ Đặc điểm về mặt ngữ âm:

- Trong nhiều thành ngữ thanh điệu hài hòa theo luật bằng – trắc, và trầm

– bổng, ví dụ: một vốn, bốn lời (một vốn: cao – thấp; trắc – trắc / bốn lời: cao

– thấp ; trắc – bằng; và giữa một - bốn: trầm-bổng, và giữa vốn- lời là bổng -

trầm)

Trang 23

- Nhiều thành ngữ cũng được cấu tạo theo luật hợp vần, một vốn, bốn lời;

được voi đòi tiên ; dửng dưng như bánh chưng ngày tết;

a²/ Đặc điểm về mặt ngữ pháp: Ta thấy có hai kiểu cấu tạo thành ngữ:

- Thành ngữ có cấu trúc so sánh:

Trong thành ngữ so sánh hầu hết là so sánh ngang Rất hiếm khi có so

sánh hơn, chỉ một vài thành ngữ thuộc kiểu này, ví dụ: cửu đại hơn ngoại

nhân, hay một giọt máu đào hơn ao nước lã Các từ ngữ dùng để so sánh chủ

yếu là như, đôi khi là bằng ( ví dụ: hai đấm cũng bằng một đạp; hai thưng

cũng bằng một đấu; bé bằng con kiến; cưới không bằng lại mặt; ), hoặc tầy

(tày) (ví dụ: Gương tầy liếp, Tội tày đình)

Khác với cấu trúc so sánh bình thường, trong thành ngữ so sánh có thể

vắng vế A, nhưng người sử dụng và tiếp nhận vẫn hiểu đúng A, ví dụ: (giống

nhau) như hai giọt nước, (chắc) như đinh đóng cột, (vui) như nở từng khúc ruột; Vế A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng, hoặc trạng

thái hành động của sự vật

Có khi A là một thành phần của câu nói, và là phần đề Còn thành ngữ là vế

B, làm phần thuyết trong câu nói Như vậy vế A có tính chất tùy nghi Song, theo chúng tôi, nó vẫn bị khống chế, bị chi phối bởi nghĩa của B (tức của thành ngữ)

Trang 24

Vế B luôn luôn hiện diện, có thể là một từ , ví dụ: nhanh như sóc, nhẹ như

bấc, , có thể là một cụm từ , ví dụ: nóng như lửa đốt, nói như đấm vào tai,

mắng như tát nước vào mặt, thì thụt như chuột ngày, nhớ như chôn vào ruột, tối như cửa địa ngục, thin thít như thịt nấu đông, ., có thể là một kết cấu chủ-vị, ví dụ: te tái như gà mái mắc đẻ, lừ đừ như ông từ vào đền, vênh váo như khố rợ phải lấm, ú ú cạc cạc như vịt nghe sấm, như rựa chém xuống đá, như Từ Hải chết đứng, như chim sổ lồng, ngáy như bò rống, lộp bộp như gà

mổ mo, lúng túng như chó ăn vụng bột, lầm rầm như thầy bói nhẩm quẻ, lanh

chanh như hành không muối, khư khư như ông từ giữ oản,

- Thành ngữ không có cấu trúc so sánh Ở kiểu cấu tạo này, ta cũng thấy

có hai loại nhỏ:

+/ Thành ngữ được cấu tạo theo qui tắc đối và điệp giữa các thành tố,

kiểu như: trên đe dưới búa, lừa thầy phản bạn, một nắng hai sương, hứa

hươu hứa vượn, ba cọc ba đồng Các thành ngữ kiểu này có nghĩa biểu trưng

hóa nhờ phép ẩn dụ Hoàng Văn Hành gọi kiểu này là thành ngữ ẩn dụ hóa đối

xứng

+/ Thành ngữ được tạo nên nhờ phương thức ghép từ thông thường, ví

dụ: vạch áo cho người xem lưng, theo voi hít bã mía, theo đóm ăn tàn Loại

thành ngữ này không cấu tạo theo kiểu so sánh, cũng không dùng phép đối ứng

để ghép nối các thành tố; mà nó cố định hóa, hay đúng hơn là thành ngữ hóa một đoạn tác ngôn, vốn được cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thường trong tiếng Việt, sử dụng phép ẩn dụ hóa để tạo nghĩa biểu trưng Hoàng Văn Hành

gọi loại này là thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng

b) Đặc điểm về ngữ nghĩa

Khi nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ, các nhà Việt ngữ học đã chỉ ra thành ngữ mang tính cụ thể, tính hình tượng, tính dân tộc, tính truyền cảm, và đặc biệt các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh về tính biểu trưng của thành ngữ

Trang 25

- Thành ngữ có tính cụ thể: Các hình ảnh được thành ngữ sử dụng rất cụ

thể Ví dụ: trứng để đầu đẳng, thành ngữ này miêu tả rất rõ ràng vị trí của quả trứng là ở đầu gậy Thành ngữ đèn treo trước gió miêu tả rất rõ ràng vị trí của cây đèn được treo ở chỗ có gió thổi Thành ngữ ngàn cân treo trên đầu sợi tóc

miêu tả rất rõ vị trí của vật nặng ngàn cân được treo ở đầu sợi tóc, sự đối lập cực điểm về lượng và lực ở đây rất rõ ràng

- Thành ngữ có tính hình tượng: Những hình ảnh cụ thể mà thành ngữ

miêu tả bao giờ cũng có một đích hướng tới để đại diện cho một đặc trưng, một trạng thái của sự vật khác, hay của sự kiện khác Nghĩa là nó nhằm đến việc biểu thị một khái niệm khác Ví dụ hình ảnh vật ngàn cân được treo ở đầu sợi tóc không nhằm miêu tả vật ấy nặng chính xác là bao nhiêu, còn sợi tóc dài hay ngắn, dày hay mảnh, mà nhằm biểu thị tính chất nguy hiểm ở mức độ rất cao của hiện tượng hay sự kiện nào đó

- Thành ngữ có tính dân tộc: ngôn ngữ được xem là linh hồn của dân tộc

mà thành ngữ lại là một bộ phận của ngôn ngữ Vì thế, cố nhiên thành ngữ

cũng mang tính dân tộc Hơn nữa, thành ngữ còn là sự chọn lựa các từ ngữ trong vốn từ vựng của dân tộc để xây dựng thành một kết cấu bền vững Cho nên, nó chứa đựng trong mình là trí tuệ, văn hóa và những đặc điểm riêng của từng cộng đồng dân tộc Dân tộc Việt Nam vốn là những cư dân nông nghiệp

Họ sống gắn bó với tự nhiên Coi các yếu tố của tự nhiên từ động thực vật đến các đồ vật trong cuộc sống thường ngày như những vật gần gũi, thân thuộc

Điều này đã “hắt bóng” vào thành ngữ Trong thành ngữ ta tìm thấy những

hình ảnh rất thân quen trong đời sống hàng ngày của cộng đồng ngôn ngữ Đó

là dòng sông, con suối, cái khe, đó là những con vật sống trong nhà với người: chó, mèo, gà, vịt, thậm chí là chuột, kiến, ; đó là cái lá khoai, cái chum, vại

- Thành ngữ có tính truyền cảm mạnh: Tác giả Nguyễn Thiện Giáp

(2003) cho rằng: “bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm

theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định; hoặc là kính trọng tán thành;

Trang 26

hoặc là chê bai, khinh rẻ; hoặc là ái ngại xót thương” Các thành ngữ ra đời

bao giờ cũng hàm chứa trong đó là thái độ, tình cảm của người sử dụng Chẳng hạn:

Khóm chuối nhà tao mọc lấn sang nhà mày một tí, sao mày cũng lòng lang dạ thú, đào mất của tao để mà ăn

Thành ngữ lòng lang dạ thú được dùng với sắc thái khinh rẻ, coi thường

Thành ngữ biểu thị khái niệm bằng hình ảnh theo phương thức ẩn dụ, so sánh cho nên nó có sức gợi cảm rất mạnh Nếu biết sử dụng thành ngữ đúng cách, đúng chỗ thì lời ăn tiếng nói của chúng ta trở nên uyển chuyển, sinh động, giàu sức truyền cảm, có sức lôi cuốn người nghe

- Thành ngữ mang tính biểu trưng

Các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt đều khẳng định: thành ngữ mang tính biểu trưng Tuy nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa

ra những cách hiểu khác nhau về tính biểu trưng trong thành ngữ

Trong “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt”, khi phân

tích cấu trúc hình thái của thành ngữ so sánh T như B (đẹp như tiên, chậm như

rùa) Hoàng Văn Hành (1976) đã xem B (tiên, rùa) có tính biểu trưng Ở đây,

các yếu tố này được xem là không hiển ngôn, bởi vì phép so sánh được tạo lập không phải đem cái được so sánh để so sánh với cái so sánh, mà chỉ so sánh qua đặc tính được các sự vật đó biểu trưng

Bùi Khắc Việt (1978) xuất phát từ quan niệm “biểu trưng là kí hiệu mà

quan hệ với quy chiếu (referent) là có nguyên do” cho rằng tính biểu trưng của

thành ngữ Việt biểu hiện ở chỗ: hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể miêu tả trong thành ngữ là nhằm nói về những ý niệm khái quát hóa Tác giả cũng nhấn mạnh cần phải phân biệt tính biểu trưng và tính hình ảnh Tác giả dẫn ra quan niệm của V.G Giắc-cơ, cơ sở của tính hình ảnh là sự cảm thụ đồng thời của hai bức tranh, một bức tạo nên nghĩa bóng của từ hoặc của thành ngữ, một bức tương ứng với nghĩa đen, nghĩa gốc của nó Nghĩa đen là cơ sở, từ nghĩa

Trang 27

đen sẽ phát sinh ra nghĩa bóng, nghĩa bóng là sự phản chiếu của nghĩa đen Khái niệm tính biểu trưng rộng hơn khái niệm tính hình ảnh Do sự vật hoặc tính hình ảnh có một số phẩm chất nào đó chung với điều nó biểu hiện nên biểu trưng gợi cho ta một ý niệm về nội dung biểu hiện Mối quan hệ giữa sự vật hoặc hình ảnh với ý nghĩa biểu trưng trong trường hợp này có tính chất ước

lệ Căn cứ vào mức độ biểu trưng hóa, tác giả chia ra làm hai loại biểu trưng:

biểu trưng toàn bộ (ví dụ giẫm chân tại chỗ, bật đèn xanh) và biểu trưng bộ

phận, trong đó một vài thành tố có nghĩa biểu trưng rõ rệt, một số không có

nghĩa biểu trưng (ví dụ voi, chuột, chó trong đầu voi đuôi chuột, lên voi xuống

chó có ý nghĩa biểu trưng)

Phan Xuân Thành (1990) trong “Tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt”

cho rằng: “tính biểu trưng ở đây được biểu hiện là nghĩa sâu xa được bộc lộ

thông qua những nghĩa thường gặp của mỗi yếu tố trong thành ngữ Thông qua một thành ngữ có vài yếu tố có tính biểu trưng cao, như chìa khóa của thành ngữ, mà theo đó, giải mã được chúng thì cũng đồng thời hiểu được nghĩa tổng hòa của cả tổ hợp chứa chúng” Tác giả chia biểu trưng thành biểu trưng đơn

giản và biểu trưng phức tạp, biểu trưng trực tiếp và biểu trưng gián tiếp Biểu

trưng đơn giản thường gặp ở những thành ngữ so sánh như: trắng như tuyết,

nhát như cáy…Ở biểu trưng phức tạp, các yếu tố cấu tạo bao giờ cũng tiềm ẩn

tri thức dân gian sâu sắc, chẳng hạn từ lửa trong nóng như lửa Biểu trưng gián tiếp thể hiện ở tính nhiều bậc trong biểu trưng ngữ nghĩa Chẳng hạn trong thành

ngữ nhạt phấn phai hương (chỉ sự tàn phai nhan sắc theo tuổi ngày một già của người phụ nữ) thì hương, phấn trước tiên được coi là phấn, hương của bông hoa,

rồi bông hoa mới là cái biểu trưng cho người phụ nữ

Nguyễn Đức Dân (1986) trong “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ - sự vận

dụng” lại cho rẳng nghĩa của thành ngữ được khái quát trên nghĩa đen của nó,

chính là nghĩa biểu trưng Nếu như nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của một câu thì nghĩa của thành ngữ được hình thành qua biểu

Trang 28

trưng ngữ nghĩa của cụm từ Đồng thời các yếu tố trong thành ngữ cũng có giá

trị biểu trưng Chẳng hạn như trong thành ngữ được voi đòi tiên, voi và tiên

biểu trưng cho hai sự vật tốt, cái sau tốt hơn cái trước Mặt khác nghĩa biểu

trưng của thành ngữ còn được hình thành qua khuôn cú pháp: được A đòi B

Tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu, theo chúng tôi, bản thân thành

ngữ là đơn vị định danh bậc hai Vì thế mà lớp nghĩa chính thành ngữ hướng

tới không phải là lớp nghĩa đen mà là lớp nghĩa bóng - nghĩa biểu trưng Thành ngữ sử dụng những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế… Lớp nghĩa biểu trưng được suy ra từ lớp nghĩa đen của thành ngữ Có hai hình thức biểu trưng của thành ngữ là hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm) Tuy nhiên, đây chỉ là hai hình thức phổ biến của thành ngữ vì trong một số trường hợp thành ngữ vẫn được sử dụng theo nghĩa đen

1.1.4 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác

1.1.4.1 Thành ngữ và tục ngữ

Thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hóa lẫn nhau, song về bản chất thì khác nhau cả về hình thức cấu trúc, cả về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Có thể nhận thấy những nét tương đồng và dị biệt của hai đơn vị này qua bảng tóm tắt sau đây:

Khác

biệt

năng tương đương với từ

- Câu hoàn chỉnh, câu cố định biểu thị phán đoán

2 Ngữ nghĩa

- Đơn vị định danh bậc hai của ngôn ngữ, miêu tả sự vật, sự việc

- Phán đoán thể hiện kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử

3 Khả năng sử dụng

- Không thể dùng độc lập một mình, khi hành chức nó phải được đặt trong câu

- Có thể dùng độc lập một mình, diễn đạt được một thông điệp trọn vẹn

Trang 29

Tuy nhiên, ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ không phải lúc nào cũng

rõ ràng và dễ xác định Các tác giả của “Từ điển thành ngữ Việt Nam” (Nguyễn Như Ý chủ biên) đã thừa nhận trong 8000 đơn vị thành ngữ đã thống

kê, trong đó cũng có “một vài đơn vị chưa xác định rõ là thành ngữ hay tục ngữ, một vấn đề còn bỏ ngỏ trong Việt ngữ học” (Nguyễn Như Ý, 2002) Chu Xuân Diên (1975) cũng nhấn mạnh: “Với tư cách là một hiện tượng ngôn ngữ, tục ngữ còn có những đặc điểm rất gần với thành ngữ Điều đó khiến cho tục ngữ và thành ngữ đã nhiều khi xảy ra hiện tượng không có sự phân biệt, không những về cách dùng mà còn về quan niệm nữa”

1.1.4.2 Thành ngữ và quán ngữ

Thành ngữ và quán ngữ cũng đều là ngữ cố định (cụm từ cố định) Song tính chất cố định của quán ngữ thấp hơn Về cấu tạo, quán ngữ thường không

có vần điệu, không có sử dụng phép đối điệp Nó chỉ là những kết hợp từ thông

thường nhưng được dùng quen mà thành cố định, ví dụ: nói tóm lại, phải

chăng là, nói nào ngay, rõ như ban ngày, Về ngữ nghĩa, cấu tạo nghĩa của

thành ngữ là một tích hợp tạo thành một thể thống nhất, nên muốn hiểu nghĩa của thành ngữ phải hiểu cả khối Còn nghĩa của quán ngữ là một tổng số nghĩa của các thành tố như cấu trúc nghĩa của cụm từ tự do Chính vì vậy mà người gọi quán ngữ là đơn vị trung gian giữa cụm từ tự do và cụm từ cố định

Mặt khác cũng phải thấy có một số quán ngữ ít nhiều cũng có tính hình ảnh Có thể xem đó là những đơn vị trung gian giữa quán ngữ và thành ngữ, ví

dụ: nói sát bờ sát góc, nói hết nước hết cái, nói có vong linh ,

Xét về chức năng, thành ngữ định danh sự vật bằng hình ảnh, gợi tả Còn quán ngữ có chức năng nối ý, đưa đẩy làm liền mạch ngôn bản/ văn bản và nhấn mạnh

1.1.4.3 Thành ngữ và ngữ định danh

Thành ngữ và ngữ định danh cũng đều là ngữ cố định, tính chất cố định, nói chung, tương đương nhau Nhưng ở ngữ định danh chức năng làm tên gọi

Trang 30

sự vật nổi bật hơn, nhưng tính chất gợi tả, biểu cảm thì thấp hơn thành ngữ Ví

dụ: mắt một mí, mặt trái xoan, ; kỷ luật sắt, ; quân sư quạt mo,

1.1.5 Phân loại thành ngữ

Việc phân loại thành ngữ là một vấn đề được các nhà nghiên cứu đặt ra

từ lâu Tuy nhiên, do số lượng thành ngữ lớn; lại phong phú, đa dạng về ý nghĩa cho nên để tìm ra một cách phân loại thống nhất là điều không đơn giản Mỗi nhà nghiên cứu dựa trên một điểm nhìn khác nhau về thành ngữ lại có những cách phân loại khác nhau Sau đây là một số cách phân loại thành ngữ tiêu biểu:

Nguyễn Thiện Giáp dựa vào cơ chế cấu tạo nên thành ngữ, ông đã chia thành ngữ thành hai loại là thành ngữ hòa kết và thành ngữ hợp kết

Thành ngữ hòa kết có cơ chế cấu tạo tương tự cơ chế cấu tạo của ngữ

định danh hòa kết, được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ Chẳng

hạn ta có thành ngữ bỏ ngoài tai có ý nghĩa chung là biểu thị sự không quan

tâm, mặc kệ dư luận Ý nghĩa này được thể hiện thông qua một quá trình

chuyển hóa thành đơn vị hậu nghĩa khác Đơn vị hậu nghĩa này được biểu

hiện trong các đơn vị ngữ âm cụ thể Do đó mà các ý nghĩa của các từ (bỏ,

ngoài, tai) chỉ có tác dụng trực tiếp cấu thành đơn vị hậu ngữ nghĩa chứ không

trực tiếp phản ánh những thuộc tính của khái niệm “không quan tâm, mặc kệ

dư luận” (đối tượng đang cần được diễn đạt) Như vậy, ý nghĩa của chúng đã hòa vào nhau để biểu thị một khái niệm mới và do hiểu ý nghĩa của chúng

Một số ví dụ về thành ngữ hợp kết như: ăn thịt người không tanh, bở hơi tai,

chết rũ xương,…

Thành ngữ hợp kết có cơ chế cấu tạo tương tự với cơ chế cấu tạo của

ngữ định danh hợp kết, được hình thành do sự kết hợp của một số thành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố khác biểu thị thuộc tính riêng của đối tượng hoặc nó có thể được hình thành nhờ sự kết hợp của hai thành tố nghĩa biểu thị những mặt riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn

Trang 31

đạt Ví dụ: chân lấm tay bùn, vụng miệng biếng chân, trăm tai nghìn mắt,…

Nguyễn Công Đức (1995) khi căn cứ vào cấu trúc hình thái ngữ nghĩa đã chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại là thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường Quan điểm này được Hoàng Văn Hành ủng hộ, ông cho

rằng “Nếu tạm gác lại tính logic, tính hệ thống chặt chẽ trong việc phân loại

thành ngữ, mà chú ý nhiều đến tính chất tiện lợi cho việc miêu tả, chúng ta có thể chia toàn bộ vốn thành ngữ tiếng Việt ra ba loại lớn là: Thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường.” (Hoàng Văn Hành, 2004)

Ở những góc nhìn khác, tác giả Hoàng Văn Hành cũng đề xuất hai hướng phân loại nữa Căn cứ vào cấu trúc của thành ngữ chia thành hai loại lớn là thành ngữ đối xứng và thành ngữ phi đối xứng Căn cứ vào phương thức tạo nghĩa có thể chia thành hai loại là thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hóa Tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi cho rằng khi phân loại thành ngữ cần quan tâm đến cùng lúc cả hai tiêu chí là cấu trúc và ngữ nghĩa Đó cũng là lí do chúng tôi tán đồng cách phân loại của Nguyễn Công Đức và Hoàng Văn Hành Theo đó, thành ngữ tiếng Việt được chia làm

ba loại lớn là thành ngữ so sánh, thành ngữ đối, thành ngữ thường Sau đây là bảng phân loại:

Thành ngữ

Thành ngữ so sánh Thành ngữ đối Thành ngữ thường

1.2 Trường nghĩa

Các đơn vị từ vựng không tồn tại tách rời, biệt lập với nhau trong hệ thống ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, mà chúng luôn có những mối quan hệ nhất định Một trong những mối quan hệ quan trọng giúp con người hiểu sâu hơn và

sử dụng ngôn ngữ hiệu quả hơn đó là quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, các từ ngữ đồng nhất về

Trang 32

mặt nghĩa được tập trung thành các nhóm và được gọi là “trường nghĩa” hay là

trường ngữ nghĩa; trường từ vựng - ngữ nghĩa (semantic field, lexical field)

Theo tác giả người Nga, Ju.X Xtepanov: “trong vốn từ của một ngôn ngữ

có các kiểu nhóm từ có quan hệ chặt lỏng khác nhau, như loạt đồng nghĩa, loạt trái nghĩa; các nhóm nội dung như “nhóm từ tính cách”, “nhóm các động từ chuyển động của người” …là biểu hiện của một hiện tượng gọi là trường từ vựng hay trường ngữ nghĩa” (dẫn theo Đỗ Việt Hùng, 2013)

Năm 1896, nhà bác học người Nga M.M Pokrovxki đã khẳng định: “Từ

và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức của chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp với chúng về nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các

từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa

và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong tổ hợp cú pháp giống nhau” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 1998)

Như vậy, những quan niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa đã manh nha xuất hiện ở vào nửa cuối thế kỷ XIX Song khái niệm trường và lí thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 của thế

kỉ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W Humboldt và F.De Saussure Sau đó các nhà nghiên cứu khác như G Ipsen(1924), A.Jolles(1934),

W Porzig(1934),…và đặc biệt là J.Trier (1934), theo đánh giá của S Ullmann:

lịch sử ngữ nghĩa học đã mở ra một giai đoạn mới J.Trier là người đầu tiên

đưa ra thuật ngữ “trường” vào ngôn ngữ học Nhưng ông không dùng khái

niệm trường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng Theo J Trier, trường khái niệm là một hệ thống rộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm Mỗi

Trang 33

trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm J Trier đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ

nghĩa Ông cho rằng: “trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị

của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng “trường”

là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với trường của mình” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 1998) Mặc dù còn có những điểm chưa rõ

ràng, cần tranh luận như sự không phân biệt ý nghĩa của từ với khái niệm, hay quan niệm quá dứt khoát về ranh giới giữa các trường khái niệm và các “vùng” khái niệm của từ với nhau…nhưng những đề xuất của J Trier thực sự là nền móng quan trọng cho những nghiên cứu về trường từ vựng – ngữ nghĩa sau này

Quan tâm nhiều tới mối quan hệ trường nghĩa giữa các đơn vị từ vựng, Tác giả L Weisgerber đưa ra một quan điểm rất đáng chú ý về các trường:

“cần phải tính đến các “góc nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hoá một lĩnh vực nào đó của cuộc sống” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 1998)

Các trường kiểu của J Trier và L Weisgerber là những trường có tính chất đối vị, gọi tắt là trường trực tuyến (trường nghĩa dọc)

Khắc phục những hạn chế trong quan niệm của J.Trier và L Weisgerber,

W Porzig - nhà ngôn ngữ học người Đức đã phân chia trường nghĩa theo những nguyên tắc khác Từ năm 1934, W Porzig đã đề nghị nguyên tắc liên tưởng Theo quan niệm của W Porzig, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến sự tồn tại của những từ khác Chẳng hạn như từ “ăn uống” sẽ gợi đến

sự tồn tại của từ “miệng”, nhưng quan hệ ngược không xảy ra vì miệng không nhất thiết là phải ăn – uống mà còn thực hiện một số hoạt động khác như

“nói”, “mắng”,…dựa trên cơ sở này, từ vựng được chia ra thành “các trường

Trang 34

nghĩa cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ hoặc tính từ, tức là chúng thường làm vị ngữ trong câu

Mối quan hệ về nghĩa tạo nên trường từ vựng ngữ nghĩa cũng trở thành một trong những vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó, Đỗ Hữu Châu là một trong những tác giả Việt Nam đã

có công giới thiệu khái niệm “trường nghĩa” đối với ngôn ngữ học nước nhà

Ông định nghĩa trường nghĩa: “ Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một

trường nghĩa Đó là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa.”( Đỗ Hữu Châu,

1998) Quan niệm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc phân lập

trường nghĩa Đây là quan niệm có tính chất định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ học sau ông

Luận văn này chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Thuật ngữ “văn hóa” có nguồn gốc từ chữ Latin cultus xuất hiện từ thời

cổ đại có nghĩa là trồng trọt Về sau, theo phương thức ẩn dụ, ý nghĩa của từ ấy được mở rộng ra Nhưng thực chất từ văn hóa trong các ngôn ngữ khác nhau

đều có nhiều nghĩa Và có thể hiểu một cách cơ bản nhất: “Văn hóa là hệ thống

hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.” (Nguyễn Đức Tồn, 2002)

Văn hoá là nền tảng xã hội, là động lực thúc đẩy dân tộc phát triển Văn hoá thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống Các phương thức biểu hiện, lưu giữ và truyền đạt văn hoá rất phong phú và đa dạng Trong số đó, nổi bật và tiêu biểu là phương thức ngôn ngữ biểu đạt văn hóa Nếu hiểu một cách cơ bản văn hoá là những giá trị vật chất và tinh thần, có tính biểu trưng và tồn tại lâu

Trang 35

đời do con người tạo ra, thì dân tộc nào cũng có văn hoá, cộng đồng nào cũng

có văn hoá Có những giá trị văn hoá mang tính hằng thể chung cho cả nhân loại, lại có những giá trị văn hoá mang tính đặc thù, chỉ có ở cộng đồng này mà không thấy rõ ở cộng đồng kia và ngược lại Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính là đặc trưng văn hoá Sự khác biệt tạo ra đặc trưng; ở phạm trù văn hoá, đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc trước hết được minh định dựa trên sự khác biệt giữa văn hoá dân tộc này với văn hoá dân tộc khác

Có thể hiểu, đặc trưng văn hoá là những nét trội về một hay một số mặt nào đó của văn hoá một dân tộc hay một cộng đồng Những nét trội này làm thành các giá trị văn hoá cơ bản, tiêu biểu, có tính bền vững, cùng với các giá trị khác, chúng làm thành nền văn hoá Như vậy, đặc trưng văn hoá của một dân tộc chính là những giá trị tiêu biểu về tinh thần và vật chất mà dân tộc đã tích lũy trong quá trình lịch sử, nó có tính bền vững, có ý nghĩa lâu dài, có giá trị khu biệt Có như thế, đặc trưng văn hoá mới làm thành bản sắc văn hoá Tìm hiểu văn hoá dân tộc chính là tìm hiểu cái bản sắc ấy, tức cũng là xác định nét khác biệt

Như đã nói, đặc trưng văn hóa dân tộc được lưu giữ và truyền tải bằng những hình thức khác nhau trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng thể hiện văn hoá “Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con người… Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc - tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh” (W Humbold; dẫn theo Nguyễn Nhã Bản, 2003) “Ngôn ngữ đã chứa đựng trong mình toàn bộ

di sản văn hoá của các thế hệ trước, xác định hành vi của những con người hiện tại, trong một mức độ nào đó, ngôn ngữ còn làm tiền đề cho con người trong tương lai, có nghĩa chính ngôn ngữ sản sinh và sáng tạo ra con người” (M Kheydegger, dẫn theo Nguyễn Nhã Bản, 2003) Vì lẽ đó ngôn ngữ vừa là

Trang 36

điều kiện tồn tại, vừa là sản phẩm văn hoá nhân loại Nhưng ta cũng cần thấy rằng, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt và lưu giữ văn hóa, mà nó còn là sản phẩm văn hóa của nhân loại giống như những sản phẩm văn hóa

khác như E D Sapir đã từng khẳng định: “Ngôn ngữ là sản phẩm văn hóa mà

không phải là thực thể chức năng.” (Dẫn theo Nguyễn Văn Chiến, 2004)

Nguyễn Văn Chiến trong “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” cũng

quan niệm: “Ngôn ngữ nói chính xác hơn là một hiện tượng văn hóa Văn hóa

có ngoại diên lớn, trong khi đó, ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn, nhưng có nội hàm rộng hơn Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau.”

(Nguyễn Văn Chiến, 2004)

Điều đó cũng có nghĩa là mọi nghiên cứu về văn hoá cũng không thể không nghiên cứu chất liệu ngôn ngữ Tất cả những gì con người tạo ra đều có tính văn hoá, đều có dấu ấn của ngôn ngữ, vậy giải mã văn hoá có thể căn cứ vào nhiều thông số, nhưng chiếc chìa khoá rất quan trọng, để có thể giải mã văn hoá của dân tộc, đó chính là ngôn ngữ của dân tộc ấy Tóm lại, ngôn ngữ

và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Ngôn ngữ là phương tiện truyền tải, lưu giữ và phản ánh bộ mặt văn hóa đặc trưng của dân tộc Ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng hàng đầu mang sắc thái dân tộc rõ ràng nhất Và ngược lại, đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc lại ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngôn ngữ dân tộc

1.4 Thành ngữ chứa các yếu tố thuộc TNTT trong tiếng Việt

1.4.1 Trường nghĩa thời tiết

Trước khi tìm hiểu thành ngữ chứa các yếu tố thuộc trường nghĩa thời tiết, chúng ta phải có một cách hiểu chính xác về thời tiết và các yếu tố của nó Theo “Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam”, thời tiết là “trạng thái tổng hợp của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển ở một thời điểm hay trong khoảng thời gian xác định Những đặc trưng quan trọng nhất của thời

Trang 37

tiết là các yếu tố khí tượng: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển, gió, độ ẩm và các hiện tượng thời tiết: giáng thuỷ, sương mù, giông tố, vv Những đặc điểm chung của thời tiết trong nhiều năm quy định loại hình khí hậu”

Trong “Oxford Advanced learners dictionary” (1995), thời tiết được hiểu

là “the condition of the atmosphere at a particular place and time, such as the

temperature, and if there is wind, rain, sun, etc” (điều kiện khí quyển tại một

địa điểm và thời gian cụ thể, chẳng hạn như nhiệt độ, và nếu có gió, mưa, mặt trời…)

Thời tiết trong “The Hutchinson Paperback Encyclopedia” (1994) được

định nghĩa là: “Day-to-day variation of climate and atmospheric conditions at

any one place, or the state of these conditions at a place at any one time Such conditions include humidity, precipitation, temperature, cloud cover visibility and wind To a meteorologist, the term “weather” is limited to the state of the sky, precipitation and visibility as affected by fog and mist”.( Thời tiết và

những điều kiện thời tiết diễn ra hàng ngày ở bất cứ nơi nào Các điều kiện đó bao gồm độ ẩm, lượng mưa, nhiệt độ, khả năng hiển thị che phủ đám mây và gió Đối với một nhà khí tượng học, thuật ngữ "thời tiết" bị giới hạn ở trạng thái bầu trời, lượng mưa và khả năng hiển thị bị ảnh hưởng bởi sương và sương mù) Rõ ràng, khi nói về thời tiết, ngoài các hiện tượng thời tiết cơ bản như gió, mưa, nhiệt độ, độ ẩm, sương, chúng ta cũng quan tâm đến trạng thái cũng như các yếu tố của bầu trời

Thuật ngữ thời tiết thường nói về hoạt động của các hiện tượng khí tượng trong các thời kì ngắn (ngày hoặc giờ), khác với thuật ngữ "khí hậu" - nói về các điều kiện không khí bình quân trong một thời gian dài

Thời tiết bị chi phối bởi sự chênh lệnh áp suất không khí giữa nơi này và nơi khác Sự khác biệt về áp suất và nhiệt độ có thể xảy ra do góc chiếu của ánh sáng tại một điểm đang xét, giá trị này thay đổi theo vĩ độ tính từ vùng

Trang 38

nhiệt đới Sự tương phản mạnh về nhiệt độ không khí giữa vùng nhiệt đới và cực làm sản sinh dòng chảy không khí mạnh

Như vậy, các yếu tố thời tiết bao gồm: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển, gió (hướng gió, tốc độ), độ ẩm Các hiện tượng thời tiết bao gồm: nắng, mưa, tuyết, sấm sét, giông bão, sương mù, giáng thủy Bên cạnh các hiện tượng chúng tôi vừa nêu, trên các bản tin dự báo thời tiết, chúng tôi còn thấy những thông tin liên quan đến thời tiết biển, và một trong những hiện tượng được nhắc đến đó chính là “sóng’’ Sóng biển là các sóng bề mặt xuất hiện tại tầng trên cùng của biển hay đại dương, một dạng chuyển đổi năng lượng từ nơi này đến nơi khác Sóng được tạo ra do tác dụng của gió hoặc do các hoạt động địa chấn Ngoài “sóng”, chúng tôi cũng nhận thấy có một hiện tượng nữa được đưa vào các bản tin thời tiết, đó chính là “thủy triều” Thủy triều là mực nước dâng lên hạ xuống dưới tác động của lực tạo triều Trong đó lực tạo triều gây

ra bởi sức hút của mặt trăng và mặt trời lên lớp nước trên bề mặt trái đất kết hợp với lực ly tâm của trái đất

Như vậy, chúng tôi xác định trường nghĩa thời tiết là tập hợp những từ ngữ liên quan đến thời tiết bao gồm:

- Những từ ngữ chỉ các hiện tượng thời tiết: gió (phong), mưa (vũ), nắng, sương, sấm, sét, thiên lôi, chớp, tuyết, băng, thủy triều (triều), bão, giông/dông, nạn hồng thủy, lũ

- Những từ ngữ chỉ các yếu tố thời tiết trên biển: sóng, biển (bể)

- Những từ ngữ chỉ các yếu tố liên quan đến bầu trời: trăng, mây, sao, trời

- Những từ ngữ chỉ nhiệt độ không khí: nóng, mát, lạnh, giá, rét, buốt

1.4.2 Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT

Khi đã xác định được các yếu tố và các hiện tượng của thời tiết, chúng nghiên cứu thành ngữ trong những trường nghĩa nhỏ sau:

Trang 39

- Thành ngữ chứa từ ngữ chỉ các hiện tượng thời tiết: gió (phong), mưa

(vũ), nắng, sương, sấm, sét, thiên lôi, chớp, tuyết, băng, thủy triều (triều), bão, nạn hồng thủy,hạn, lũ Ví dụ: Nắng dãi mưa dầu, một nắng hai sương, tắm mưa gội gió, góp gió thành bão, bạt phong long địa, trắng như tuyết, ngáy như sấm, như hạn chờ mưa, triều dâng bão tố, đi buôn gặp nạn hồng thủy, mưa nguồn chớp bể, tin sét đánh,

- Những từ ngữ chỉ các yếu tố thời tiết trên biển: sóng, biển (bể) Ví dụ: Sóng yên biển lặng, sóng to gió lớn

- Những từ ngữ chỉ các yếu tố liên quan đến bầu trời: trăng, mây, sao, trời Ví dụ: Trời quang mây tạnh, trở trời trái gió,gió đục mây vần, vằng vặc như trăng đêm rằm

- Những từ ngữ chỉ nhiệt độ không khí: nóng, mát, lạnh, giá, rét, buốt Ví

dụ: Nóng chảy mỡ, gió mát trăng thanh, bụng đói cật rét, mưa dầm gió buốt,

lạnh như băng, mùa đông tháng giá Tuy nhiên, có những thành ngữ bản thân

nó không chứa từ ngữ chỉ nhiệt độ không khí nhưng vẫn thể hiện được nhiệt độ

không khí chúng tôi vẫn xếp vào nhóm này, chẳng hạn như thành ngữ cắt da

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Từ việc tìm hiểu những vấn đề lí thuyết về thành ngữ, về trường nghĩa, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:

1 Thành ngữ là những đơn vị từ vựng có sẵn, có cấu tạo ổn định và có giá

trị biểu trưng cao về mặt ý nghĩa Sự hình thành nên các thành ngữ bao giờ cũng gắn liền với thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của nhân dân Đặc điểm là tính

cố định tức là sự bất biến về hình thức Tuy nhiên, thực tiễn sử dụng cho thấy thành ngữ vẫn có những biến thể nhất định Về ngữ nghĩa, thành ngữ nổi bật ở các đặc điểm là tính cụ thể, tính biểu trưng, tính truyền cảm, tính dân tộc

2 Việc phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác không phải là một việc

dễ dàng, nhất là phân biệt thành ngữ với tục ngữ Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ trong một vài trường hợp khó có thể xác định rõ ràng Vì thế, có những trường hợp có nhà nghiên cứu cho là thành ngữ, nhưng lại có nhà nghiên cứu lại cho đó là tục ngữ, có nhà nghiên cứu lại có ý kiến trung hòa cho rằng vừa là thành ngữ, vừa là tục ngữ Thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT cũng có nhiều trường hợp như vậy

3 Trường nghĩa thời tiết là tập hợp những từ ngữ chỉ các hiện tượng thời tiết, các yếu tố của thời tiết, tính chất của thời tiết Chúng tôi xác định thành ngữ có chứa những từ chỉ hiện tượng, yếu tố, tính chất thời tiết đó sẽ là đối tượng khảo sát của luận văn

4 Nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT mang đầy đủ những đặc điểm

của thành ngữ nói chung Điểm nổi bật của nhóm thành ngữ này là đã phản ánh một cách khá đầy đủ về quan niệm cũng như “phản ứng” của người Việt trước các hiện tượng thời tiết Nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT này cũng gợi

mở để chúng tôi tìm hiểu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ở chương

3

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w