Trái ngược với trắc nghiệm phi chuẩn hóa, trắc nghiệm chuẩn hóa được sử dụng rộng rãi hơn nhiều vì mang tính khoa học cao, được định dạng và được xác định độ khó, tính có ý nghĩa… Băn kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lương Nguyễn Mỹ Huyền
ỨNG DỤNG TRẮC NGHIỆM HÌNH HỌC VAN HIELE CỦA USISKIN VÀO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC TƯ DUY HÌNH HỌC
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lương Nguyễn Mỹ Huyền
ỨNG DỤNG TRẮC NGHIỆM HÌNH HỌC VAN HIELE CỦA USISKIN VÀO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC TƯ DUY HÌNH HỌC
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN THỊ THU HIỀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn hoàn toàn mang tính trung thực và chưa từng được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Lương Nguyễn Mỹ Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp.HCM cùng quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy cho tác giả nói riêng cũng như các bạn học Cao học Giáo dục mầm non nói chung Nhờ những kiến thức mà quý thầy cô đã truyền đạt trong quá trình dạy học
đã giúp tác giả có nền tảng quan trọng để hoàn thành luận văn này
Quý thầy cô phòng sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể tham gia học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Phan Thị Thu Hiền, giáo viên hướng dẫn đã nhiệt tận hướng dẫn và góp ý cũng như luôn động viên cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình ảnh
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TRẺ MẦM NON VÀ ĐÁNH GIÁ BẰNG TRẮC NGHIỆM HÌNH HỌC VAN HIELE CỦA USISKIN 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về TDHH của trẻ mầm non 6
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về TDHH trên thế giới 6
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về TDHH ở Việt Nam 10
1.2 Khái niệm công cụ 12
1.2.1 Tư duy hình học 12
1.2.2 Trắc nghiệm 12
1.2.3 Đánh giá 12
1.2.4 Ứng dụng 13
1.3 Đổi mới GDMN và tầm quan trọng của đánh giá trẻ 14
1.3.1 Đổi mới GDMN 14
1.3.2 Tầm quan trọng của đánh giá trẻ trong mầm non 15
1.3.3 Các phương pháp đánh giá trong GDMN 16
1.4 Sử dụng trắc nghiệm TDHH Van Hiele của Usiskin trong đánh giá 19
1.4.1 Lý thuyết TDHH Van Hiele 19
1.4.2 Trắc nghiệm khả năng TDHH Van Hiele của Usiskin 20
1.5 Trắc nghiệm và cải biên Trắc nghiệm 24
1.5.1 Trắc nghiệm 24
1.5.2 Quy trình cải biên Trắc nghiệm 27
Trang 61.6 Đặc điểm tư duy của trẻ 5-6 tuổi 28
1.7 Nội dung hình thành biểu tượng toán về hình dạng của trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 31
1.7.1 Nội dung hình thành các biểu tượng về hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi 31
1.7.2 So sánh nội dung hình thành các biểu tượng về hình dạng cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam với lý thuyết TDHH của Van Hiele 32
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC TƯ DUY HÌNH HỌC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ điều tra thực trạng 36
2.2 Phương pháp tìm hiểu thực trạng đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 36
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 36
2.2.2 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu 37
2.2.3 Phương pháp điều tra 38
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.3 Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 40
2.3.1 Kết quả tìm hiểu đánh giá của GVMN về khả năng TDHH ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 40
2.3.2 Thực trạng việc sử dụng các công cụ / phương pháp / biện pháp được GVMN sử dụng để đánh giá khả năng TDHH ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 56
2.3.3 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố các bảng hỏi giáo viên 64
2.3.4 Kết quả phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý 80
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRẮC NGHIỆM HÌNH HỌC VAN HIELE CỦA USISKIN VÀO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TƯ DUY HÌNH HỌC CHO TRẺ MẦM NON 5 – 6 TUỔI 84
Trang 73.1 Bối cảnh trường và lớp thử nghiệm 84
3.2 Định hướng cải biên trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin để đánh giá kết quả giáo dục TDHH của trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 85
3.2.1 Quy trình cải biên trắc nghiệm được đề xuất trong đề tài bao gồm các bước sau 87
3.2.2 Cách tiến hành trắc nghiệm 90
3.3 Kết quả cải biên trắc nghiệm TDHH Van Hiele của Usiskin 91
3.3.1 Kết quả góp ý cho bản trắc nghiệm lần 1 về TDHH theo Van Hiele của Usiskin 91
3.3.2 Kết quả kiểm tra độ tin cậy và độ hiệu lực của trắc nghiệm cải biên lần 1 94
3.3.3 Kết quả kiểm tra độ tin cậy và độ hiệu lực của trắc nghiệm cải biên lần 2 98
3.3.4 Kết quả đánh giá trẻ về khả năng TDHH Van Hiele của Usiskin 99
Tiểu kết chương 3 111
ĐỀ XUẤT 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các trường hợp/ tiêu chí tính kết quả trắc nghiệm Van Hiele của
Usiskin 22
Bảng 1.2 Bảng chuyển từ tiêu chí qua điểm thưởng trong trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin 22
Bảng 1.3 Xác định cấp độ theo TDHH của Van Hiele 23
Bảng 1.4 So sánh giữa trắc nghiệm định mức tham chiếu và trắc nghiệm tham chiếu tiêu chuẩn 25
Bảng 2.1 Khả năng nhận biết của trẻ về các hình phẳng: hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật 40
Bảng 2.2 Khả năng gọi tên được các hình phẳng: hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật 41
Bảng 2.3 Khả năng gọi tên của trẻ hình dựa vào lời mô tả các đặc điểm của các hình hình học 43
Bảng 2.4 Trẻ sử dụng ngôn ngữ để nói lên đặc điểm các hình 44
Bảng 2.5 Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa các hình hình học 47
Bảng 2.6 Phân loại các hình hình học dựa vào các đặc điểm của hình 47
Bảng 2.7 Kết quả về kể tên các đồ vật xung quanh trẻ có dạng hình hình học 49
Bảng 2.8 Kể tên và tìm các đồ vật xung quanh trẻ có cùng hình dạng 49
Bảng 2.9 Kết quả trẻ tìm các đồ vật xung quanh có hình dạng giống với lời mô tả về đặc điểm các hình hình học 50
Bảng 2.10 Tìm đúng hình để xếp theo mẫu 54
Bảng 2.11 Vẽ giống hình mẫu 54
Bảng 2.12 Mức độ quan tâm của cô đến việc đánh giá khả năng TDHH 56
Bảng 2.13 Cơ sở để đưa ra các công cụ / phương pháp / bài đánh giá khả năng TDHH cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 57
Bảng 2.14 Các công cụ / phương pháp / bài đánh giá này được thiết kế dựa trên tình hình đặc điểm của trẻ tại lớp hay trẻ trong toàn trường theo lứa tuổi 58
Bảng 2.15 Tập trung đánh giá vào các nội dung kiến thức 59
Trang 10Bảng 2.16 Đánh giá khả năng TDHH của trẻ tại các thời điểm 61
Bảng 2.17 Mức độ sử dụng các công cụ / phương pháp / bài đánh giá khả năng TDHH cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 62
Bảng 2.18 Hình thức đánh giá khả năng TDHH cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi 62
Bảng 2.19 Mức độ cần thiết phải sử dụng các công cụ đánh giá khả năng TDHH 63
Bảng 2.20 Các mức độ của hệ số Cronbach’s Alpha 64
Bảng 2.21 Độ tin cậy 65
Bảng 2.22 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 68
Bảng 2.23 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 69
Bảng 2.24 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 69
Bảng 2.25 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 70
Bảng 2.26 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 71
Bảng 2.27 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 72
Bảng 2.28 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 72
Bảng 2.29 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 73
Bảng 2.30 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 74
Bảng 2.31 Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha 75
Bảng 2.32 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 76
Bảng 2.33 Độ tin cậy Cronbach’s Alpha 77
Bảng 2.34 Tổng phương sai trích 77
Bảng 2.35 Ma trận xoay nhân tố 78
Bảng 2.36 Độ tin cậy Cronbach’s Alpha 78
Bảng 2.37 Tổng phương sai trích 79
Bảng 2.38 Ma trận xoay nhân tố 79
Bảng 3.1 Tóm tắt trường và lớp thử nghiệm 85
Bảng 3.2 Kết quả số giáo viên góp ý bản trắc nghiệm lần 1 92
Bảng 3.3 Minh họa kết quả góp ý của giáo viên cho trắc nghiệm lần 1 93
Bảng 3.4 Bảng mô tả kết quả thống kê kiểm tra 30 trẻ 95
Bảng 3.5 Hệ số Alpha – độ tin cậy của bảng hỏi 95
Bảng 3.6 Ma trận Correlation Matrix – Hệ số tương quan giữa các câu hỏi 96
Trang 11Bảng 3.7 Bảng xét mối tương quan các câu 96
Bảng 3.8 Mối tương quan của các câu trong trắc nghiệm cải biên lần 1 97
Bảng 3.9 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 97
Bảng 3.10 Hệ số Alpha – độ tin cậy của bảng trắc nghiệm cải biên lần 2 98
Bảng 3.11 Hệ số KMO – Độ hiệu lực của bảng hỏi 98
Bảng 3.12 Xác định hình vuông của các trường 99
Bảng 3.13 Xác định hình tam giác của các trường 99
Bảng 3.14 Xác định hình chữ nhật 101
Bảng 3.15 Xác định hình vuông 102
Bảng 3.16 Xác định hình bình hành 103
Bảng 3.17 Kết quả các câu từ câu 6 đến câu 10 104
Bảng 3.18 Kết quả các câu từ câu 11 đến câu 15 105
Bảng 3.19 Kết quả kiểm tra trẻ theo các mức độ TDHH Van Hiele 107
Bảng 3.20 So sánh sự khác biệt giữa trường mầm non A và trường mầm non B 107
Bảng 3.21 So sánh sự khác biệt giữa trường mầm non A và trường mầm non C 108
Bảng 3.22 So sánh sự khác biệt giữa trường mầm non B và trường mầm non C 108
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Minh họa chuyển câu hỏi số 1 từ bản gốc sang bản cải biên lần 1 88
Hình 3.2 Minh họa chuyển câu hỏi số 6 từ bản cải biên lần 1 sang bản cải biên lần 2 89
Hình 3.3 Câu hỏi số 2 trong bài trắc nghiệm cải biên lần 2 100
Hình 3.4 Nhận dạng hình tam giác 101
Hình 3.5 Câu hỏi số 3 trong bài trắc nghiệm cải biên lần 2 102
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, do đó đòi hỏi chúng ta cần có sự quan tâm sâu sát hơn về bậc học này Trải qua hơn 20 năm trong việc hình thành và phát triển, ngày nay GDMN của nước ta đã có những bước tiến rõ rệt hơn trong quan điểm và phương hướng đào tạo: việc dạy học không còn xuất phát từ giáo viên nữa mà đã tập trung vào trẻ, xuất phát từ nhu cầu và hứng thú của trẻ, trẻ được xem là trung tâm của quá trình dạy học; chuyển từ phương pháp giáo dục đồng loạt sang hướng tiếp cận cá nhân, giáo viên biết xác định vùng phát triển hiện tại của trẻ để từ đó hướng tới vùng phát triển gần nhất; nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá đúng khả năng và năng lực của trẻ để từ đó hướng tới vùng phát triển gần nhất của trẻ và thông qua đó để xây dựng thiết kế được mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục thích hợp [9]
Đánh giá là một khâu không thể thiếu trong giáo dục, vì nó xác định các mục tiêu giáo dục có đang được đáp ứng hay không, tức là xác định kết quả học và sự phát triển của trẻ; đồng thời đánh giá sự phát triển của trẻ giúp giáo viên sàng lọc và lựa chọn thiên hướng phát triển so với chuẩn phát triển theo độ tuổi [1]
Cho đến nay, có nhiều cách tiếp cận nhằm đánh giá giáo dục Theo Stiggins và các
cộng sự [51], nghiên cứu thì có nhiều nhóm phương pháp đánh giá – trong đó có phương pháp sử dụng trắc nghiệm Ngoài ra, các tác giả này khẳng định rằng một phương pháp đánh giá hiệu quả là khi được chọn lựa thích hợp với mục tiêu, nội dung đánh giá, khi người thiết kế trắc nghiệm xây dựng được một hệ thống đánh giá mới và mang tính phát triển Việc thiết kế trắc nghiệm cũng phụ thuộc rất lớn vào trình độ cũng như khả năng chuyên môn của người soạn thảo
Trắc nghiệm có vai trò nhất định trong việc đánh giá kết quả giáo dục trẻ em, chúng ta có thể sử dụng trắc nghiệm để đánh giá trẻ theo từng giai đoạn trong quá trình dạy học hoặc đánh giá sau khi kết thúc quá trình giáo dục Cách đánh giá này sẽ giúp giáo viên có cách nhìn nhận chính xác về khả năng của trẻ ở từng lứa tuổi cũng như có thể chỉnh sửa các phương pháp, hình thức và chương trình giáo dục cho phù hợp với trẻ ở các giai đoạn tiếp theo Nhưng các nhà giáo dục nên cẩn trọng trong quá trình sử
Trang 14dụng phương pháp đánh giá này vì quy trình để tiến hành trắc nghiệm phải luôn tuân thủ theo yêu cầu sử dụng của từng loại trắc nghiệm nhất là trong việc sử dụng trắc nghiệm để đánh giá trẻ em
Trắc nghiệm khác nhau về cách thức thiết kế, động nghiêm ngặt/chính xác nên thường chia thành trắc nghiệm được chuẩn hóa và trắc nghiệm phi chuẩn hóa Trái ngược với trắc nghiệm phi chuẩn hóa, trắc nghiệm chuẩn hóa được sử dụng rộng rãi hơn nhiều vì mang tính khoa học cao, được định dạng và được xác định độ khó, tính
có ý nghĩa…
Băn khoăn với các câu hỏi: “Giáo viên mầm non (GVMN) đang sử dụng những cách thức, công cụ nào để đánh giá kết quả tư duy hình học (TDHH) của trẻ em mẫu giáo 5- 6 tuổi?”, “Liệu có thể ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
để trợ giúp việc đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ 5 – 6 tuổi hay không?” Xuất phát từ những lý do trên, đề tài sau đây được chọn để nghiên cứu: “Ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin vào đánh giá kết quả giáo dục tư duy hình học cho trẻ 5 – 6 tuổi”
2 Mục đích nghiên cứu
Bước đầu tìm hiểu khả năng ứng dụng trắc nghiệm TDHH Van Hiele của Usiskin trong đánh giá kết quả giáo dục TDHH của trẻ 5-6 tuổi (thông qua cải biên và thử nghiệm trắc nghiệm)
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin như là một công cụ đánh giá sự phát
triển TDHH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin vào đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Đề tài được nghiên cứu với giả thuyết rằng việc ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin cho phép đánh giá kết quả giáo dục TDHH của trẻ 5-6 tuổi một
Trang 15cách tin cậy và có giá trị, làm cơ sở khoa học cho việc lên kế hoạch và điều chỉnh hoạt động hình thành biểu tượng toán cho trẻ trong độ tuổi này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Nghiên cứu cơ sở lí luận: Tìm hiểu và hệ thống hoá cơ sở lý luận về việc đánh
giá trẻ mầm non nói chung và đánh giá bằng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin nói riêng
Nghiên cứu thực trạng: Khảo sát thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
thông qua việc phát phiếu điều tra cho các GVMN với 2 nội dung: “Tìm hiểu đánh giá của GVMN về khả năng TDHH của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” và “Tìm hiểu thực trạng việc đang sử dụng các công cụ / phương pháp / biện pháp được GVMN sử dụng để đánh giá khả năng TDHH ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các CBQL với những vấn đề liên
quan được đề cập ở 2 phiếu điều tra thực trạng trên
Bước đầu Thử nghiệm ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
để đánh giá TDHH của trẻ 5-6 tuổi (bao gồm bước đầu cải biên và thử
nghiệm)
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu bước đầu cải biên trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin để tìm hiểu tính khả thi của việc sử dụng trắc nghiệm vào đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ 5 – 6 tuổi
Do sự hạn chế về mặt thời gian và với quy mô của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tiến hành thử nghiệm trên 75 trẻ thuộc 3 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: tìm hiểu tài liệu, phân tích, hệ thống hóa nội dung lý thuyết để xây dựng cơ sở về đánh giá trẻ mầm non và ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin vào việc đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ 5-6 tuổi
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 16 Bảng điều tra nhằm thăm dò ý kiến GVMN về cách thức và công cụ đánh giá khả năng TDHH của trẻ đang được sử dụng, về mức độ phát triển tư duy của lớp nói chung và của một số trẻ đại diện thuộc mẫu nghiên cứu nói riêng (điều tra trên 42 GVMN)
Phỏng vấn BGH để làm rõ các vấn đề chưa xác định từ kết quả điều tra qua bảng hỏi ý kiến (5 CBQL)
Thử nghiệm trắc nghiệm đã cải biên như là công cụ đo:
* Bước đầu cải biên và ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
* Do giới hạn về mặt thời gian và tiếp cận trẻ, chúng tôi tiến hành thử nghiệm trắc nghiệm đã cải biên lần 1 trên nhóm trẻ được lựa chọn ngẫu nhiên của 3 trường mầm non (30 trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi)
Thử nghiệm trắc nghiệm đã cải biên lần 2 trên nhóm trẻ được lựa chọn ngẫu nhiên của 3 trường mầm non trên, tuy nhiên loại trừ ra 30 trẻ đã làm thử nghiệm lần 1 (75 trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi)
Biện luận, đánh giá kết quả giáo dục TDHH của trẻ 5-6 tuổi dựa theo trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
Phương pháp xử lý dữ liệu: Các phiếu điều tra, phiếu kiểm tra TDHH của trẻ theo các bài trắc nghiệm đã cải biên sau khi thu thập được mã kí hiệu lại và nhập liệu trong phần mềm SPSS Chúng ta sẽ dùng phương pháp thống kê mô
tả để phân tích các phiếu khảo sát, các bài trắc nghiệm về TDHH, dùng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố, hệ số KMO để đánh giá độ tin cậy, độ hiệu lực của phiếu khảo sát và bài trắc nghiệm Dùng kiểm định T-Test kiểm tra sự khác biệt về mức độ TDHH của trẻ trong các trường Mầm non tiến hành thử nghiệm
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bao gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về đánh giá trẻ mầm non và đánh giá bằng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
Trang 17Chương 2: Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Chương 3: Bước đầu tìm hiểu khả năng ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin vào đánh giá kết quả giáo dục TDHH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
9 Đóng góp đề tài
Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về đánh giá, công cụ trắc nghiệm trong đánh giá nói chung và trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin nói riêng để đánh giá về khả năng TDHH của trẻ 5-6 tuổi Bên cạnh đó, đề tài muốn đưa lý thuyết TDHH Van Hiele với đặc điểm đặc trưng là 5 cấp độ TDHH không phân biệt độ tuổi đến gần với trẻ mầm non nói riêng và người học toán hình hình học của Việt Nam nói chung với mong muốn tạo được nhiều điểm tích cực hơn trong việc học toán cho mọi người
Đề tài góp phần bước đầu đưa bộ trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin sau khi đã cải biên vào sử dụng trong việc đánh giá khả năng TDHH của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, từ đó giúp cho nhà trường và giáo viên tìm được định hướng rõ ràng hơn trong công tác giáo dục trẻ đồng thời điều chỉnh kịp thời các kế hoạch dạy học cho trẻ
Trang 18Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TRẺ MẦM NON
VÀ ĐÁNH GIÁ BẰNG TRẮC NGHIỆM HÌNH HỌC
VAN HIELE CỦA USISKIN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về TDHH của trẻ mầm non
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về TDHH trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc học toán của trẻ mầm non Kết quả nghiên cứu cho thấy những năm đầu đời rất quan trọng để thiết lập các cơ sở cho việc học toán của trẻ, trong đó có thái độ của trẻ đối với việc học toán
[29], [26] Một trong những nội dung quan trọng trong toán học là hình học Nhưng cần dạy trẻ học hình học như thế nào để có hiệu quả? Quan điểm của Van Hiele sau đây rất đáng được quan tâm: Tầm quan trọng không phải chỉ ở sự lĩnh hội những điều
cơ bản của hình học, mà là ở khả năng ứng dụng toán hình học vào thế giới thực Hình học không chỉ được học trên lớp, mà còn ở ngay chính trong đời sống, hình học đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho trẻ những phương pháp và kỹ năng sống hàng ngày ngoài việc phát triển ý thức về không gian và suy luận hình học, hình học tạo rất nhiều cơ hội cho trẻ tư duy logic, tưởng tượng tích cực về không gian…Trẻ được tiếp cận với hình học ngay từ khi còn rất sớm, trẻ bắt đầu bằng việc kết nối mối tương quan giữa những đồ vật quen thuộc xung quanh trẻ với các hình hình học mà trẻ được tiếp cận Khi trẻ khám phá các dạng hình học khác nhau, chúng thường quan sát
và so sánh về đặc điểm của các hình hình học với nhau, giống và khác nhau như thế nào Việc này cung cấp cho trẻ một nền tảng vững chắc về các khái niệm của hình hình học và từ đó trẻ biết vận dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất [25]
Ngoài ra, có một số minh chứng khoa học cho thấy trẻ em bắt đầu hiểu biết về hình dạng trong những năm đầu đời, sự hiểu biết của trẻ về hình dạng trở nên khá ổn định khi lên 6 tuổi [33] và thời điểm tốt nhất để trẻ tìm hiểu về hình hình học là từ 3 đến 6 tuổi [28] Tuy nhiên thực tế giáo dục mầm non (GDMN) nhiều nước cho thấy việc dạy về hình hình học vẫn chưa được quan tâm và đầu tư đúng mực [30] Do chưa được nhìn nhận chính xác về việc dạy hình hình học cho trẻ ngay từ lức tuổi mầm non,
và vì vậy nên nền tảng về hình hình học như là những khái niệm cơ bản về hình hình
Trang 19học, các mối quan hệ tương quan giữa các hình hình học và việc vận dụng trong thực tiễn của trẻ không vững chắc sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc học toán của trẻ khi trẻ bước chân vào các bậc học cao hơn ở phổ thông [40],[52]
Xuất phát từ thực tiễn của việc người học nói chung và trẻ mầm non nói riêng gặp nhiều vấn đề khó khăn trong việc học hình hình học, hai nhà toán học người Hà Lan là Van Hiele và Dina van Hiele - Geldof đã đề ra một lý thuyết có tên là Lý thuyết TDHH Van Hiele Trong lý thuyết này đề cập đến các cấp độ TDHH từ thấp đến cao, từ đó thiết kế các bài kiểm tra đánh giá người học và nội dung dạy học ứng với từng cấp độ Mỗi cấp độ của lý thuyết TDHH Van Hiele mô tả cách mà người học
tư duy về khái niệm hình học, cách cảm nhận, phân tích các tính chất và phân loại hình Van Hiele tìm thấy 5 lĩnh vực kỹ năng học hình học, xếp vào 5 cấp độ TDHH -
từ thấp nhất là cấp độ 1 - có kỹ năng nhận biết, có kỹ năng hình dung trong trí não (Recognition or Visualization), đến cao nhất là cấp độ 5 - có kỹ năng nhận thức chính xác và kỹ năng vận dụng các hình hình học (Rigor)
Đến năm 1992, Clements và Battista [27] đã khám phá ra rẳng còn tồn tại một cấp độ khác - thấp hơn cấp độ 1, được gọi là “Tiền nhận thức” (Pre-recognition), mà một ví dụ điển hình cho việc này là trẻ chưa thể phân biệt hình 3 cạnh với hình 4 cạnh Cấp độ này được các nhà nghiên cứu cho rằng tương ứng với độ tuổi cũng như khả năng nhận biết của trẻ em thuộc lứa tuổi mầm non [20]
Điểm đặc biệt của lý thuyết về TDHH Van Hiele này đã được các tác giả chứng minh rằng các cấp độ vể tư duy này không phụ thuộc vào độ tuổi, mà chủ yếu có mối quan hệ với kinh nghiệm của người học Chính đây là sự khác biệt với lý thuyết của Piaget về sự phát triển nhận thức (Piaget khẳng định rằng có sự phụ thuộc độ tuổi)
Theo đó, một trong những cách thức giúp trẻ chuyển từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn
là phụ thuộc vào việc trẻ thu thập được đủ hay nhiều kinh nghiệm về kiến thức và biểu tượng hình hình học, trong các hoạt động khám phá tích cực, trong hoạt động chia sẻ trao đổi thông tin thu thập được qua quá trình quan sát các hình hình học và phân tích các thuộc tính của chúng, chỉ ra các mối quan hệ giữa chúng với nhau Nếu không có kinh nghiệm về hình hình học trong các hoạt động đó thì ngay cả người lớn (trong đó
có cả người giáo viên) cũng chỉ ở cấp độ 1 trong lý thuyết Van Hiele
Trang 20Tính phổ biến và khả năng sử dụng lý thuyết TDHH Van Hiele cũng là một vấn
đề cần xác định Lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong việc thiết kế nội dung chương trình giáo dục (cho trẻ mẫu giáo và các bậc học cao hơn) ở nhiều nước trên thế giới Một số nghiên cứu về việc sử dụng lý thuyết về hình hình học này trên thế giới: Vojkuvkova [55] tìm hiểu kiến thức của trẻ 5-6 tuổi về hình tam giác, trong đó trẻ được học vẽ hình tam giác theo trí nhớ, xác định hình tam giác với các dạng, kích thước, ở các vị trí và tư thế nhìn khác nhau Abdullah [15] qua nghiên cứu kiểm tra tính hiệu quả của các giai đoạn TDHH theo Van Hiele cho thấy các hoạt động của trẻ theo quan điểm Van Hiele có tác động tích cực vào sự phát triển TDHH và dẫn lên các cấp độ cao hơn Một số hướng nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của lý thuyết TDHH Van Hiele đến việc hình thành khái niệm hình học, thái độ đối với hình học [18] Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng hầu như những người học hình học ở cấp độ thấp trong thang đánh giá của lý thuyết TDHH Van Hiele đều gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động học hình học Thành quả này càng nâng giá trị và tầm ảnh hưởng của lý thuyết Van Hiele đối với các chương trình giáo dục về TDHH ở nhiều nước trên thế giới Ở Mỹ, lý thuyết này ảnh hưởng rất lớn lên mảng dạy học về hình học của Hội đồng giáo viên dạy toán toàn quốc gia Nhiều tác giả đánh giá cao lý thuyết Van Hiele bởi ý tưởng cho rằng việc dạy học hình học cần được thiết kế theo cấp độ tư duy [24]
Để đạt được mức độ chính xác và hiệu quả cao trong việc phân loại trẻ dựa vào các cấp độ TDHH Van Hiele, có rất nhiều phương pháp để đánh giá mức độ TDHH của trẻ Sau đây chúng tôi xin tóm tắt một số các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá mức độ TDHH của trẻ bằng cách đánh giá mức độ lý luận về khả năng TDHH Van Hiele của trẻ, sẽ giúp cho nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn nữa khả năng hình học của trẻ:
Pegg và Davey [47] đã đưa ra ba hoạt động để đánh giá khả năng học của trẻ từ lớp 5 đến lớp 10 theo lý thuyết TDHH Van Hiele Ba hoạt động được đặt tên là
"Description ", "Minimum " và "Class Inclusion" được liên kết với các nghiên cứu về
tứ giác như hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành và hình thoi Những hoạt động
Trang 21này sẽ giúp cho giáo viên hiểu về nhận thức về hình hình học của trẻ một cách rõ ràng hơn
Mason và Delano [43] đã tiến hành nghiên cứu phân tích 120 trẻ tài năng toán học từ lớp 6 đến lớp 8 với bài kiểm tra TDHH Van Hiele nhiều sự lựa chọn đã được phát triển từ dự án CDASSG Bên cạnh đó, khoảng một nửa số trẻ (64 trẻ) cũng tham gia vào một cuộc phỏng vấn cá nhân khoảng 30-35 phút theo nội dung Van Hiele từ Mayberry [44] Từ nghiên cứu cho thấy rằng trẻ có năng khiếu về toán (một nhóm nhỏ trẻ) có thể có được một kết quả tốt hơn so với các trẻ trung học Nghiên cứu này sẽ đưa ra một ý tưởng như Pusey [48] đã đề cập, cấp độ TDHH của trẻ "không phụ thuộc vào độ tuổi trẻ, và có thể thay đổi qua mục tiêu nội dung hình học" Hai nghiên cứu ở trên để giải thích cho việc dù sử dụng một bài kiểm tra (dạng nhiều sự lựa chọn) phù hợp với lý thuyết TDHH Van Hiele thực sự có thể mô tả cách một trẻ thực hiện việc giải quyết vấn đề hình học
Khác với bài kiểm tra TDHH Van Hiele với nhiều sự lựa chọn, Gutierrez, Jaime, Burger và Shaughnessy [23] đã tiến hành một nghiên cứu để đánh giá mức độ của trẻ trong hình học và nghiên cứu gồm 2 phần Trước tiên, Gutierrez và Jaime [35] đã phát triển một bài trắc nghiệm với các câu hỏi mở để đánh giá mức độ TDHH Van Hiele của trẻ trong hình học Trẻ cần phải hoàn tất bài kiểm tra câu hỏi mở với giấy và bút chì và sau đó họ được gán cho một mức độ bằng cách sử dụng những gì Pusey [48] đề cập đến rằng, "Đo lường mức độ thu nhận" Thứ hai, Burger và Shaughnessy [23] tiến hành cuộc phỏng vấn để khám phá mức độ TDHH của trẻ Mục đích của cuộc phỏng vấn là để có được ý tưởng thêm về cách trẻ suy nghĩ về hình học Cuối cùng, một so sánh giữa các kiểm tra hình học (ở định dạng câu hỏi mở) và cuộc phỏng vấn được tổng hợp Từ nghiên cứu này, hai cách tiếp cận khác nhau cho thấy một ý tưởng cụ thể hơn để hiểu và mô tả phản ứng của trẻ thực hiện trong hình học Ngoài ra, hai phương pháp này bù đắp sự không rõ ràng và hạn chế của các kết quả khác
Gutierrez, Jaime và Fortuny [34] đã đề xuất một phương pháp khác để đánh giá trẻ là "ở giữa" các cấp độ hình hình học dựa trên lý thuyết TDHH Van Hiele Phương pháp này sử dụng cách định lượng và định tính để biết mức độ cụ thể của trẻ Trẻ được phân loại thành bốn dạng khác nhau, đó là "không tiếp nhận", "tiếp nhận thấp", "tiếp
Trang 22nhận cao" và "tiếp nhận hoàn toàn" Bốn dạng này chủ yếu tập trung vào mối quan tâm
về mức độ hình hình học của trẻ với hoạt động kiến thức và kỹ năng hình học ở cấp
độ
Usiskin [53] đã tiến hành một nghiên cứu để đo lường đánh giá mức độ TDHH Van Hiele của trẻ Một bài kiểm tra nhiều sự lựa chọn và một bài kiểm tra chứng minh hình học được xây dựng và tổ chức bởi Usiskin để nhằm vào sự phát triển nhận thức
và thành tích trong dự án hình học của trường trung học (CDASSG) Bài trắc nghiệm được phát triển dựa trên lý thuyết TDHH Van Hiele Nghiên cứu bao gồm 2900 trẻ lớp
10 và các dữ liệu được sử dụng để so sánh với cấp độ TDHH Van Hiele của trẻ và khả năng hình hình học của họ Kết quả cho thấy rằng hầu hết các trẻ lớp 10 không được chuẩn bị tốt để học các chủ đề hình học thêm từ trường
Trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới nhằm đánh giá khả năng TDHH của mọi đối tượng từ trẻ nhỏ đến người trưởng thành liên quan đến việc học toán hình hình học Sau khi thử nghiệm bài trắc nghiệm này vào việc đánh giá khả năng TDHH của người học, đa phần bài trắc nghiệm của Usiskin được đánh giá khả thi vì dễ dàng kiểm tra được trình độ năng lực của người học Vì bài trắc nghiệm TDHH Van Hiele của Usiskin đảm bảo được độ tin cậy và độ giá trị nên được nhiều nơi trên thế giới quan tâm sử dụng như Mỹ [21],[56], [38]; Thổ Nhĩ Kỳ [49], [42]; Úc [22]; Nam Phi [19]; Cộng hoà Séc [37]; Hàn Quốc [39] Tuy nhiên, hầu hết đối tượng được đánh giá đều có độ tuổi từ trẻ tiểu học trở lên, đối tượng trẻ mầm non vẫn chưa được mọi người quan tâm đến với đánh giá về khả năng TDHH
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về TDHH ở Việt Nam
Trong luận án của tác giả Trương Thị Xuân Huệ về “ Xây dựng và sử dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành các biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi” [5] đã
đề cập đến khái niệm trò chơi phát triển và vai trò của trò chơi phát triển trong việc hình thành biểu tượng hình dạng và phát triển tư duy ở trẻ 5-6 tuổi Tác giả đã xây dựng hệ thống các trò chơi mang tính tích hợp trong các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non
Trong một bài báo khoa học “Nghiên cứu phát triển các thao tác tư duy trong quá trình hình thành biểu tượng toán học cho trẻ mầm non” [6] của tác giả Đỗ Thị Minh
Trang 23Liên cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho trẻ trong quá trình hình thành biểu tượng toán
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn về “Phát triển tư duy hình học cho trẻ mẫu giáo lớn và học sinh tiểu học qua một số hoạt động hình học” [13] đã nói
rõ tầm quan trọng của việc phải phát triển TDHH cho trẻ thông qua việc tổ chức một
số hoạt động hình học cho trẻ mẫu giáo lớn và học sinh tiểu học Tác giả nhấn mạnh rằng hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy nên nếu đánh giá được các mức độ TDHH của trẻ mẫu giáo lớn và học sinh tiểu học và thiết kế, tổ chức các hoạt động hình học thích hợp trong dạy học thì TDHH của trẻ sẽ được phát triển tốt hơn Trong luận án tác giả cũng đề cập đến và làm rõ các cấp độ về TDHH của Van Hiele Đồng thời, tác giả cũng có một số công trình nghiên cứu về TDHH như “Vận dụng quan điểm của Van Hiele trong hình thành biểu tượng các hình hình học của trẻ mẫu giáo và học sinh những năm đầu tiểu học” [12], “Rèn luyện tư duy hình học cho trẻ mẫu giáo lớn và học sinh những năm đầu tiểu học” [11]
Qua một số nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các nhà giáo dục đã rất quan tâm đến việc phát triển tư duy cho trẻ mầm non nói chung và phát triển TDHH nói riêng thông qua nhiều hoạt động và lĩnh vực Bên cạnh đó, lý thuyết TDHH Van Hiele tuy đã ra đời rất lâu và đã được nhiều nước trên thế giới đưa vào giảng dạy nhưng đối với Việt Nam thì vẫn còn khá mới mẻ, qua tìm hiểu thì chúng tôi được biết rằng hiện nay chỉ có Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tuấn là tìm hiểu khá kỹ về lý thuyết TDHH Van Hiele Đi song song với lý thuyết TDHH Van Hiele thì các nhà nghiên cứu thường ứng dụng trắc nghiệm hình học Van Hiele do Usiskin thiết kế để đánh giá khả năng TDHH của người học ở các lứa tuổi từ nhỏ đến trưởng thành Trắc nghiệm này được sử dụng khá nhiều ở khắp nơi nhưng đối tượng thử nghiệm chỉ tập trung vào trẻ tiểu học trở lên, chưa thấy thử nghiệm trên trẻ mầm non, điều này làm chúng tôi mong muốn thực hiện nghiên cứu này ở Việt Nam để xem xét mức độ khả thi của lý thuyết và bài trắc nghiệm về TDHH Van Hiele
Trang 241.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Tư duy hình học
Tư duy hình học là quá trình xác định và suy ra các thuộc tính của một đối tượng hình học bằng cách sử dụng các tính chất nội tại của đối tượng đó, mối quan hệ của nó với các đối tượng hình học khác, và các quy tắc suy luận ràng buộc tính chất đó cùng nhau trong một không gian hình học (Euclidean) Hai hoạt động chính trong lý luận hình học được xác định tính chất và xác định các lớp của đối tượng [13]
Dựa vào khái niệm trên, cho thấy rằng đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, việc xác định được các thuộc tính của một đối tượng hình hình học có nghĩa là việc trẻ phải biết được các đặc điểm đặc trưng của các hình hình học như số góc, số cạnh, lăn được, không lăn được thông qua việc khảo sát sờ và lăn hình, đồng thời nhận dạng được các hình hình học trong thực tế thông qua các đồ vật gần gũi xung quanh trẻ
1.2.2 Trắc nghiệm
Theo Airasian [17], trắc nghiệm là một hình thức kiểm tra có hệ thống, thường được sử dụng để đánh giá thông qua việc thu thập thông tin dưới dạng làm kiểm tra trên giấy với những câu hỏi có sẵn với nhiều sự lựa chọn Kubiszyn & Borich [41]: trắc nghiệm và đánh giá là những thuật ngữ đồng nghĩa và có thể được sử dụng để thay thế cho nhau
Ngoài khái niệm về trắc nghiệm như trên,chúng tôi sẽ làm rõ thêm các vấn đề về trắc nghiệm ở mục 1.5.1
1.2.3 Đánh giá
Theo định nghĩa rộng nhất, đánh giá trong giáo dục liên quan đến tất cả các khía cạnh của giáo dục hay nói khác đi mọi khía cạnh liên quan đến giáo dục đều là đối
tượng của đánh giá
Đánh giá trong giáo dục là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả giáo dục dựa vào sự phân tích những thông tin thu thập được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra để đi đến những kết luận thích hợp nhằm điều chỉnh công việc, cải thiện thực trạng và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục trẻ
Đánh giá là quá trình đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng từ các phép đo Đánh giá
Trang 25cũng là quá trình thu thập thông tin về năng lực và phẩm chất của một cá nhân và sử dụng những thông tin đó đưa ra quyết định về mỗi cá nhân và dạy học trong tương lai Đánh giá trong giáo dục nói chung và đánh giá trong GDMN nói riêng là việc điều tra xem xét, xác định chất lượng của đối tượng được đánh giá, trên cơ sở thu thập
và xử lí thông tin một cách có hệ thống về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu giáo dục để đề xuất những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo
Đánh giá trong GDMN bao gồm việc đánh giá tổng hợp các thành tố cơ bản: sản phẩm đầu ra của GDMN – trẻ em (mức độ phù hợp với mục tiêu và đáp ứng nhu cầu), các yêu tố đầu vào (cơ sở vật chất, chương trình, năng lực của giáo viên) và quá trình giáo dục (phương pháp hoạt động, cách thức tổ chức, hình thức tương tác, cách thức quản lý…) tạo ra sản phẩm giáo dục [1]
1.2.4 Ứng dụng
Một kiến thức hay lý thuyết cho dù có hay đến mấy mà người học chưa ứng dụng được vào thực tiễn thì kiến thức ấy cũng trở nên vô ích Sự ứng dụng vùa là mục đích vừa cần thiết trên các phương diện đối với người học, ứng dụng được hiểu như việc vận dụng các kiến thức đã biết vào việc giải quyết những vấn đề mới trong cuộc sống hat công việc
Ứng dụng kiến thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày như làm bài tập, bài thực hành, làm thí nghiệm, xử lí các tình huống, giải thích các hiện tượng tự nhiên
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ngay trong chính thực tiễn cuộc sống, hoặc người học phải biết vận dụng kiến thức đã có để nghiên cứu, khám phá thêm kiến thức mới [3]
Tóm lại, theo chúng tôi nhận thấy, ứng dụng là kỹ năng lựa chọn, sử dụng thông
tin và chuyển đổi kiến thức đã biết vào một hoàn cảnh mới để giải quyết vấn đề
Trang 261.3 Đổi mới GDMN và tầm quan trọng của đánh giá trẻ
1.3.1 Đổi mới GDMN
“Phát triển Giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Đây là quan điểm chỉ đạo đổi mới về giáo dục của nước ta hiện nay và có thể thấy được quan điểm này tập trung nhấn mạnh vào việc phát triển tối đa phẩm chất năng lực của người học Đa dạng hoá các phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực, chủ động, sáng tạo đồng thời khả năng biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào những điều kiện hoàn cảnh thực tế Ngoài ra, hình thức học tập cũng được mở rộng hơn, từ học chủ yếu trên lớp được đẩy mạnh ra môi trường học tập bên ngoài như tham gia các hoạt động xã hội, ngoại khoá [59]
Hiện nay, GDMN Việt Nam đã “Tiếp tục đổi mới và chuẩn hoá nội dung GDMN, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách” Chương trình GDMN đã xác định rằng các nội dung của 5 lĩnh vực giáo dục chủ yếu được tổ chức theo hướng tích hợp theo các chủ đề gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ, phù hợp với từng hoàn cảnh địa phương nơi trẻ sinh sống nhằm mục đích phát triển toàn diện các lĩnh vực cho trẻ
Xu hướng mới trong GDMN hiện nay nhấn mạnh nhiều vào việc trẻ “Học như thế nào” hơn là việc “Trẻ học cái gì” Do đó, “Học thông qua chơi” là cách học đúng với bản chất học của trẻ dưới 6 tuổi nhất nhằm tạo ra điều kiện học với tâm thế thoải mái nhất cho trẻ Việc học được diễn ra một cách tự nhiên, gây được nhiều hứng thú cũng như kích thích sự tò mò, ham hiểu biết, lòng say mê và sự tích cực ở trẻ; trẻ được
tự do tiếp nhận tri thức từ cuộc sống thông qua nhiều cách thức trải nghiệm khác nhau, làm cho việc học của trẻ trở nên phong phú và đa dạng hơn Và môi trường đóng một vai trò vô cùng trong cách học này, trẻ học được rất nhiều thông qua môi trường vật chất và môi trường tâm lý - xã hội Cần cho trẻ được tự do tương tác giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với cô giáo, thông qua việc tương tác đó trẻ học được nhiều điều mới lạ trong
Trang 27cuộc sống theo cách riêng của từng trẻ Hãy cho trẻ có quyền được sai và chấp nhận việc mình sai, vì trẻ sẽ học được nhiều cái đúng từ những cái sai như vậy, kiến thức trong trẻ sẽ được lưu giữ lâu hơn thông qua việc trực tiếp trải nghiệm hơn là nhớ máy móc Trẻ mầm non theo xu hướng mới hiện nay không còn là những đứa trẻ ngồi trong lớp để chờ được biết thêm kiến thức mới mà trẻ đã được tham gia rất nhiều hoạt động bên ngoài như bơi lội, đi công viên, xem biểu diễn nghệ thuật, các khu vui chơi định hướng nghề Tất cả điều đó làm nâng cao sự hiểu biết và lòng ham học hỏi ở trẻ Cùng với việc đổi mới trong việc dạy và học, cùng với các phương pháp và hình thức tổ chức ngày càng đa dạng hơn trong việc giáo dục trẻ mầm non, bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải nhắc đến vấn đề đánh giá trẻ trong giai đoạn hiện nay Không còn nữa kiểu đánh giá truyền thống chỉ tập trung vào kiến thức và kỹ năng của trẻ như thế nào, vào việc chỉ đánh giá kết quả giữa năm học và cuối kỳ, việc đánh giá chỉ tập trung vào trẻ và những sản phẩm cuối cùng mà trẻ tạo ra Đánh giá trong giai đoạn hiện nay tập trung nhiều vào việc đánh giá quá trình hoạt động của trẻ thông qua việc thường xuyên tổ chức các nhiệm vụ học tập cho trẻ để đo đạc khả năng của trẻ, đồng thời chú trọng nhiều hơn đến các kinh nghiệm cũng như sự tiến bộ theo từng giai đoạn của trẻ Việc đánh giá theo quá trình như vậy nhằm mục đích thu thập những thông tin
về năng lực của trẻ cũng như chất lượng giảng dạy của giáo viên, để từ đó điều chỉnh
kịp thời các kế hoạch giáo dục nhằm giúp trẻ tiến bộ hơn trong quá trình học tập.[59]
1.3.2 Tầm quan trọng của đánh giá trẻ trong mầm non
Qua việc nhìn nhận được các vấn đề đổi mới của GDMN trong giai đoạn hiện nay, chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng đánh giá là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục Đánh giá sự phát triển của trẻ trong giáo dục mầm non nhằm xác định mức độ phát triển của trẻ so với mục tiêu của từng độ tuổi để có biện pháp thích hợp giúp trẻ tiến bộ
Tuỳ từng mục đích để phục vụ cho việc giáo dục mà chúng ta sẽ có những cách thức đánh giá khác nhau, có thể đánh giá sự phát triển của trẻ qua các hoạt động, qua các giai đoạn:
Ðánh giá trẻ thường xuyên giúp giáo viên có được các thông tin về sự tiến bộ của trẻ trong một thời gian dài
Trang 28 Xác định được những khó khăn, những nguyên nhân cụ thể trong sự phát triển của trẻ làm cơ sở để giáo viên đưa ra các quyết định giáo dục tác động phù hợp đối với trẻ
Giúp giáo viên biết được hiệu quả của các hoạt động, mức độ kết quả đạt được theo dự kiến, làm sáng tỏ những vấn đề nhất định đòi hỏi phải có kế hoạch bổ sung
Ðánh giá là cơ sở để xác định những nhu cầu giáo dục cá nhân đứa trẻ, căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch tiếp theo
Làm cơ sở để trao đổi, đưa ra những quyết định phối hợp trong giáo dục trẻ với cha mẹ trẻ, với giáo viên nhóm/lớp hoặc cơ sở giáo dục khác nơi sẽ tiếp nhận trẻ tiếp theo
Làm cơ sở đề xuất đối với các cấp quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhóm/ lớp/ trường/ địa phương
1.3.3 Các phương pháp đánh giá trong GDMN
Tuỳ theo nội dung đánh giá, người đánh giá sẽ lựa chọn phương pháp nào cho phù hợp Có thể đưa ra một số phương pháp phổ biến trong đánh giá giáo dục mầm non hiện nay như sau:
Phương pháp đánh giá qua quan sát [16]
Trong đánh giá giáo dục, phương pháp quan sát là một phương pháp quan trọng
vì thông qua quan sát giúp giáo viên theo sát được diễn biến quá trình và kết quả học tập của trẻ
Ưu điểm
* Cung cấp thông tin cần đánh giá thông qua các hoạt động cũng như biểu hiện của đối tượng một cách chính xác
* Giữ được tính tự nhiên của đối tượng trong quá trình quan sát
* Thực hiện đơn giản
Nhược điểm
* Tốn nhiều thời gian
* Không quan sát được nhiều trẻ cùng một lúc
Trang 29* Người quan sát dễ bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan như cảm xúc, tình cảm, tâm trạng tại thời điểm quan sát
* Đòi hỏi việc xây dựng phiếu quan sát để quan sát có tính hướng đích cao hơn [57]
Phương pháp đánh giá qua sản phẩm
Đây là phương pháp đánh giá dựa trên các sản phẩm hoạt động của trẻ (các sản phẩm vẽ, nặn, cắt, dán, xếp hình…), để xem xét, phân tích, đánh giá ý tưởng, mức độ sáng tạo, khả năng thẩm mỹ của trẻ; sự tiến bộ của trẻ Thông qua sản phẩm của trẻ có thể đánh giá được mức độ kiến thức, kĩ năng, trạng thái xúc cảm, thái độ của trẻ
Ưu điểm
* Cung cấp thông tin về trẻ trong suốt quá trình thực hiện và sản phẩm cuối cùng
* Dễ thu thập thông qua các hoạt động của trẻ
* Đánh giá được sự tiến bộ của trẻ theo thời gian
Nhược điểm
* Dễ dàng nhầm lẫn giữa việc so sánh kết quả cuối cùng với quá trình hoạt động
* Khó khăn trong việc lưu trữ sản phẩm của trẻ.[10],[57]
Phương pháp đánh giá qua trò chuyện
Phương pháp đánh giá trẻ thông qua trò chuyện là cách tiếp cận trực tiếp với trẻ thông qua sự giao tiếp bằng lời nói Trong trò chuyện, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi, gợi mở kéo dài cuộc trò chuyện để có thể thu thập các thông tin theo mục đích đã định
Ưu điểm
* Tạo điều kiện cho trẻ thể hiện ý kiến của mình
* Kích thích trẻ trong việc tư duy để trả lời câu hỏi của cô
Nhược điểm
* Tốn thời gian trong việc chuẩn bị nôi dung và hệ thống câu hỏi
* Trẻ dễ dàng bắt chước câu trả lời của nhau nếu trò chuyện theo nhóm
* Giáo viên phải khéo léo trong cách xử lý tình huống xảy ra [10].
Trang 30 Phương pháp đánh giá qua Portfolio
Đây là phương pháp đánh giá dựa vào hồ sơ thu thập sản phẩm hoạt động của
cá nhân trẻ hay các ghi chép của giáo viên về trẻ để chứng minh cho sự tiến bộ và thành quả của trẻ đạt được ở các hoạt động học tập theo từng giai đoạn cụ thể Phương pháp này giúp trẻ gia tăng khả năng đánh giá và tự đánh giá những sản phẩm cụ thể của riêng bản thân trẻ cũng như của các bạn cùng lớp [50]
* Tốn nhiều thời gian trong việc thu thập và tổng hợp
* Khó khăn về việc lưu trữ
* Nếu giáo viên quá xem trọng đến việc ghi chép và bảo quan tài liệu thì dẫn đến việc xem nhẹ quá trình học của trẻ.[45], [57]
Phương pháp đánh giá qua bài tập, trắc nghiệm
Trắc nghiệm là những bài tập dựa theo tiêu chuẩn, ngắn gọn soạn ra để xác định đặc điểm hay mức độ phát triển của đối tượng Trắc nghiệm thực hiện cho trẻ em có kèm theo lời chỉ dẫn đã được tiêu chuẩn hoá Đáp án của các bài tập cũng đã định trước, chúng được đánh giá theo tiêu chuẩn thảo ra trước Những bài tập này là nhiệm
vụ giao cho trẻ để trẻ tự giải quyết, thực hiện nhằm xác định xem kiến thức và kỹ năng của trẻ đã đạt được đến mức độ nào Bài tập có thể được thực hiện với từng cá nhân trẻ hoặc một nhóm trẻ
Ưu điểm
* Đánh giá được nhiều trẻ trong cùng một thời gian
* Cho ra kết quả chính xác về kiến thức và kỹ năng của trẻ
* Ít tốn công sức chấm vì đã có sẵn hệ thống đáp án được soạn thảo sẵn
Nhược điểm
* Tốn thời gian trong việc soạn thảo bài trắc nghiệm
Trang 31* Chất lượng của bài trắc nghiệm phụ thuộc rất lớn vào trình độ và kỹ năng của người thiết kế
Điều lưu ý đối với giáo viên, trong quá trình cho trẻ làm bài tập, giáo viên nên tránh can thiệp hoặc gây ảnh hưởng đến việc trẻ thực hiện làm bài tập, vì những yêu tố gây nhiễu tác động từ bên ngoài dễ ảnh hưởng đến kết quả bài làm của trẻ [4]
1.4 Sử dụng trắc nghiệm TDHH Van Hiele của Usiskin trong đánh giá
1.4.1 Lý thuyết TDHH Van Hiele
Đây là lý thuyết nói về các cấp độ của TDHH do hai nhà giáo dục người Hà Lan
là Pierre van Hiele và vợ Dina van Hiele hình thành Lý thuyết này bao gồm ba lĩnh vực: các cấp độ của lý thuyết, đặc điểm của lý thuyết và các giai đoạn học tập Trong giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nói về các cấp độ có trong lý thuyết, các cấp độ này được sắp xếp theo thứ bậc từ đơn giản đến phức tạp: Nhận biết trực quan, Phân tích, Sắp thứ tự, Suy diễn và Nhận thức chính xác [54]
Cấp độ 1: Nhận biết trực quan: Trẻ nhận biết được các hình đơn lẻ Trẻ nhận
biết được tam giác, hình vuông, hình bình hành và nhận biết các hình trong thực tế khi
so sánh chúng với hình dạng của các hình vẽ mẫu Ở cấp độ này, trẻ chưa xác định
được tính chất của các hình mà chủ yếu dựa vào trực giác
Cấp độ 2: Phân tích: Học sinh bắt đầu phân tích được các tính chất của các hình,
xem một hình tương ứng với một tập hợp các tính chất Học sinh có thể nhận ra và biết tên của tính chất các hình nhưng không thấy mối liên hệ giữa các tính chất đó Khi diễn tả một đối tượng, học sinh ở cấp độ này có thể liệt kê tất cả các tính chất các em biết, nhưng không phân biệt được tính chất nào là cần thiết và những cái nào là đủ để
diễn tả đối tượng
Cấp độ 3: Sắp thứ tự: Học sinh nhận thức được mối liên hệ, trật tự logic giữa
các tính chất và giữa các hình Ở cấp độ này, học sinh có thể tạo ra các định nghĩa có ý nghĩa và đưa ra các thông số theo cách hiểu của các em để khẳng định cho suy luận của mình Các em hiểu những ứng dụng logic và các lớp bao hàm (kiểu như hình vuông là một dạng hình chữ nhật), nhưng chưa hiểu vai trò và dấu hiệu của các suy
diễn hình thức
Trang 32Cấp độ 4: Suy diễn: Học sinh có thể thiết lập các chứng minh, hiểu vai trò của
các tiên đề, định nghĩa và định lý, mối liên hệ bên trong giữa các định lý, biết điều
kiện cần và đủ
Cấp độ 5: Vững chắc: Học sinh ở cấp độ này hiểu được các khía cạnh hình thức
của suy diễn như thiết lập và so sánh các hệ thống toán học Học sinh hiểu việc sử dụng gián tiếp các chứng minh và chứng minh bằng phản chứng, có thể hiểu hệ thống hình học phi Euclide
Dựa trên lý thuyết TDHH của Van Hiele, về sau một số nhà nghiên cứu đã hình thành thêm một cấp độ TDHH, đó là cấp độ 0, hay còn được gọi là tiền nhận thức
Theo họ, trẻ em tại cấp độ này chỉ ghi nhớ được một tập con các tính chất trực quan của các hình, dẫn đến việc khó khăn trong phân biệt các hình Chẳng hạn, trẻ em có thể phân biệt tam giác và tứ giác, nhưng khó khăn trong phân biệt hình thoi với hình bình hành[54]
1.4.2 Trắc nghiệm khả năng TDHH Van Hiele của Usiskin
Dựa vào lý thuyết TDHH của Van Hiele, nhà giáo dục Zalman Usiskin đã thiết
kế ra bài trắc nghiệm TDHH Van Hiele và đạt hiệu quả rất cao trên thực tế, về sau bài trắc nghiệm này được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng để đánh giá khả năng TDHH của người học ở mọi lứa tuổi từ trẻ nhỏ đến người trưởng thành [53] Trắc nghiệm khả năng TDHH Van Hiele của Usiskin [53] đươc thiết kế bao gồm
25 câu hỏi kiểm tra tương ứng với 5 cấp độ về TDHH Van Hiele và ở mỗi cấp độ có 5 câu hỏi với nhiều sự lựa chọn Các câu hỏi được sắp xếp tuần tự tương ứng với các mức độ: Đạt mức độ 1 nếu trẻ trả lời được các câu hỏi từ 1 – 5, mức độ 2 dành cho câu hỏi từ 6 – 10, mức độ 3 từ câu hỏi 11 – 15, mức độ 4 từ câu hỏi 16 – 20, và các câu hỏi
từ 21 – 25 đạt được mức độ 5
Mỗi trường hợp có thể được sử dụng trong việc xác định sự hiểu biết dựa trên cấp độ liên tiếp cao nhất mà trẻ đạt được và rằng trẻ không bỏ ngang cấp Nói cách khác, một trẻ được xác định là đang ở cấp độ 2 nếu trả lời một cách chính xác cho các câu hỏi trong hai mức độ đầu tiên, câu hỏi từ 1-5 và 6-10, nhưng không trả lời một cách chính xác số các câu hỏi trong bất kỳ các mức độ còn lại (11-15 câu hỏi, câu hỏi 16-20 và câu hỏi 21-25) Nếu trẻ trả lời một cách chính xác số lượng được phân bổ các
Trang 33câu hỏi trong hai mức độ đầu tiên và cũng có thể trả lời một cách chính xác số lượng được phân bổ các câu hỏi ở mức độ thứ tư và / hoặc mức độ thứ năm thì trẻ được xác định là không phù hợp các tiêu chí và do đó không phù hợp với mô hình lý thuyết Trường hợp đầu tiên, xác định theo trường hợp cổ điển (C), dựa trên đó là năm cấp độ khác nhau Trường hợp thứ hai, xác định theo trường hợp thay đổi (M), được dựa trên bốn cấp độ khác nhau Xét ví dụ trên, nếu trẻ trả lời một cách chính xác số lượng được phân bổ các câu hỏi trong hai mức độ đầu tiên và cũng có thể trả lời một cách chính xác số lượng được phân bổ các câu hỏi trong mức độ thứ năm thì trong trường hợp cổ điển trẻ được xác định là không phù hợp tiêu chuẩn Tuy nhiên, trong trường hợp thay đổi trẻ được xác định là có một sự hiểu biết ở cấp 2 Để xác định có bao nhiêu câu hỏi, trong một mức độ của năm câu hỏi, phải được trả lời một cách chính xác được xác định là có mức độ hiểu biết, các nhà giáo dục phát triển dựa trên lý thyết TDHH của Van Hiele kiểm tra quy định cụ thể việc sử dụng một trong hai tiêu chí Những tiêu chí dựa vào việc nghiên cứu muốn giảm lỗi loại I hoặc Sai lầm loại II Như đã trình bày trước đây, việc kiểm tra bao gồm năm mức độ với 5 câu hỏi trong từng mức độ Lỗi loại I được xác định bởi Coladarci, Cobb, minium, & Clarke [31] là “nhận được kết quả đáng kể về mặt thống kê khi bạn không nên” Với mục đích của bài kiểm tra này
sẽ được gán một đối tượng một mức độ hiểu biết cao hơn đạt được Việc này được thực hiện bằng cách yêu cầu 4 - 5 câu hỏi trong một mức độ cần được trả lời một cách chính xác để đạt được mức đó Lỗi thứ II được mô tả bởi Coladarci, Cobb, minium, & Clarke [31] là “thất bại trong việc khẳng định rằng có một sự khác biệt tồn tại trong khi thực tế không có” Theo mục đích của thử nghiệm này sẽ được đặt quá nghiêm ngặt một yêu cầu để đạt được một mức độ hiểu biết Việc này được thực hiện bằng cách yêu cầu 3 của 5 câu hỏi trong một mức độ cần được trả lời một cách chính xác để đạt được mức độ đó Bốn trường hợp / tiêu chí tùy chọn và từ viết tắt của họ sử dụng
để xác định được trình bày trong bảng sau:
Trang 34Bảng 1.1 Các trường hợp/ tiêu chí tính kết quả trắc nghiệm Van Hiele của Usiskin
C3 C4 M3 M4
Trường hợp cổ điển, 3 trong số 5 đúng Trường hợp cổ điển, 4 trong số 5 đúng Trường hợp thay đổi, 3 trong số 5 đúng Trường hợp thay đổi, 4 trong số 5 đúng
Quá trình được sử dụng để xác định mức độ TDHH Van Hiele của trẻ bằng cách
sử dụng dự án CDASSG Trắc nghiệm khả năng TDHH Van Hiele của Usiskin đầu tiên gán cho trẻ một trọng điểm số dựa trên việc trả lời một cách chính xác số lượng được phân bổ các câu hỏi trong mỗi mức độ như thể hiện trong bảng:
Bảng 1.2 Bảng chuyển từ tiêu chí qua điểm thưởng trong trắc nghiệm hình học Van Hiele của Usiskin
Câu hỏi 1-5 (Mức độ 1) Câu hỏi 6-10 (Mức độ 2)
Trang 353 (1 + 2 + 0 + 0 + 0) Nếu trẻ trả lời ít nhất 4 câu hỏi một cách chính xác cho mức 1, mức 2 và mức 5 thì sinh viên sẽ được trao một số điểm trọng số 19 (1 + 2 + 0 + 0 + 16)
Tuy nhiên, nếu trẻ cũng đã trả lời ít nhất 4 câu hỏi một cách chính xác ở mức 3 bất kể có hay không họ đã trả lời ít nhất 4 câu hỏi một cách chính xác ở mức 4 thì trẻ
sẽ được xác định là không phù hợp lý thuyết TDHH Van Hiele Dựa trên hệ thống này,
và sử dụng các trường hợp thay đổi, việc xác định mức độ của trẻ hiểu biết được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.3 Xác định cấp độ theo TDHH của Van Hiele
Trên đây là cách xác định kết quả trẻ đạt được tương ứng với các cấp độ trong TDHH Van Hiele và được tính theo các số điểm Như đã trình bày ở mục 1.1.1 chương 1, bài kiểm tra về TDHH Van Hiele của Usiskin được thiết kế dựa theo lý thuyết TDHH Van Hiele, tức là dựa theo 5 cấp độ về TDHH, do đó bài kiểm tra này có thể kiểm tra để đánh giá khả năng của người học ở các lứa tuổi từ trẻ nhỏ cho đến người trưởng thành Nhưng theo nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đa phần trên thế giới các nhà giáo dục chỉ mới quan tâm kiểm tra đánh giá khả năng TDHH Van Hiele của người học ở các cấp học như tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và tiến tới đó là các sinh viên cao đẳng, đại học
Trang 361.5 Trắc nghiệm và cải biên Trắc nghiệm
1.5.1 Trắc nghiệm
Khái niệm trắc nghiệm
Theo Airasian [17], trắc nghiệm là một hình thức kiểm tra có hệ thống, thường được sử dụng để đánh giá thông qua việc thu thập thông tin dưới dạng làm kiểm tra trên giấy với những câu hỏi có sẵn với nhiều sự lựa chọn
Kubiszyn & Borich [41]: trắc nghiệm và đánh giá là những thuật ngữ đồng nghĩa và có thể được sử dụng để thay thế cho nhau Trắc nghiệm / Đánh giá thường đề cập đến các biện pháp nhất định mang lại kết quả tại một thời điểm cụ thể
Một bài trắc nghiệm hay bài kiểm tra được sử dụng để kiểm tra kiến thức của một đối tượng về vấn đề mà đối tượng được kiểm tra đã biết hay đã học Trắc nghiệm
để đo lường mức độ kỹ năng hay kiến thức đã được đạt tới
Trắc nghiệm [8] là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá dùng để đo lường một cách khách quan một hay một số mặt phát triển của trẻ thông quạ những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác
Các tiêu chuẩn của một trắc nghiệm: Có độ tin cậy cao, nghĩa là kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tượng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau Có tính hiệu lực (ứng nghiệm) là trắc nghiệm phải đo được chính hiện tượng cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm Tính tiêu chuẩn hoá - cách thức tiến hành, xử lí kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn Trắc nghiệm trọn bộ thường bao gồm bốn phần: văn bản trắc nghiệm, hướng
dẫn quá trình tiến hành, hướng dẫn đánh giá, bản chuẩn hoá
Phân loại trắc nghiệm
Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo: giáo viên tự soạn thảo trắc nghiệm, thang đánh giá và điểm số tương ứng Những bài trắc nghiệm này thường có có sự linh hoạt
và đa dạng về cấu trúc và cách tính điểm số Các bài trắc nghiệm đạt chuẩn thường được phát triển bởi các chuyên gia xây dựng thử nghiệm qua thời gian dài Quá trình phát triển thường bao gồm các thử nghiệm nhỏ, và sau đó được cải biên nhiều lần và thông qua nhiều lần đánh giá trước khi trở thành một bài trắc nghiệm hoàn chỉnh và đưa vào thực tiễn [58]
Trang 37Trắc nghiệm định mức tham chiếu và trắc nghiệm tham chiếu tiêu chuẩn: Trắc nghiệm định mức tham chiếu cung cấp các thông tin về trẻ và xếp hạng so sánh với kết quả đạt được của những trẻ khác Trong khi đó, trắc nghiệm tham chiếu tiêu chuẩn cho chúng ta biết về trình độ, kỹ năng, mức độ nhận thức của trẻ so với những tiêu chuẩn
đã đề ra trước đó Dưới đây là bảng so sánh giữa trắc nghiệm định mức tham chiếu và trắc nghiệm tham chiếu tiêu chuẩn [58]:
Bảng 1.4 So sánh giữa trắc nghiệm định mức tham chiếu và trắc nghiệm tham chiếu tiêu chuẩn
Nội dung so sánh Trắc nghiệm định mức
Mở rộng mục tiêu Thu hẹp, bao gồm vài mục tiêu
Tính toàn diện của nội dung
được lấy mẫu
Thường chỉ có 1-2 mục cho mỗi mục tiêu
Mang tính toàn diện, thường
có 3 hoặc nhiều hơn các mục cho mỗi mục tiêu
Sự biến đổi Sự biến đổi nhiều Sự biến đổi có thể là tối thiểu
Ưu - hạn chế của trắc nghiệm
Ưu điểm cơ bản của trắc nghiệm :[8]
Tính chất ngắn gọn
Tính tiêu chuẩn hoá
Đơn giản về thiết bị và kĩ thuật
Định lượng được kết quả nghiên cứu
Hạn chế cơ bản của trắc nghiệm : [8]
Trắc nghiệm chỉ quan tâm đến kết quả thống kê cuối cùng, không chú ý đến quá trình dẫn đến kết quả
Khó soạn thảo một bộ trắc nghiệm đảm bảo tính tiêu chuẩn hoá
Trang 38 Không tính đến các nhân tố đa dạng có thể ảnh hưởng đến kết quả trắc nghiệm
Những vấn đề cần lưu ý khi thiết kế trắc nghiệm
Thiết kế trắc nghiệm là một phần quan trọng trong việc đánh giá trình độ nhận thức của người học cũng như khả năng áp dụng các kiến thức đã học vào các lĩnh vực nhất định Trước khi thiết kế trắc nghiệm, người đánh giá cần xem xét một số vấn đề
sau đây nhằm làm rõ hơn nội dung muốn thiết kế để kiểm tra/ đánh giá:
Xem xét mục đích của việc kiểm tra / đánh giá:
Nội dung/ Lĩnh vực muốn đánh giá: Kiến thức / Kỹ năng / Thái độ / Niềm tin
Nếu là bài kiểm tra giữa kỳ, sẽ đánh giá được trình độ hiện tại của người học để kịp thời điều chỉnh phương pháp giáo dục và chương trình giáo dục
Duy trì tính nhất quán giữa các mục tiêu của khoá học, phương pháp giảng
dạy, và các bài kiểm tra dùng để đo đạt được mục tiêu Ví dụ, nếu mục tiêu của khoá học là để nhấn mạnh việc xem xét và ghi nhớ thông tin, sau đó có thể kiểm tra bằng những câu hỏi nhằm khơi gợi lại kiến thức đã; nếu mục tiêu của khoá học nhằm nhấn mạnh việc phân tích và tổng hợp thì bài kiểm tra có thể được thiết kế để chứng minh cách thức mà người học đã tiếp thu những kiến thức đó tốt như thế nào
Sử dụng các phương pháp thử nghiệm phù hợp với mục tiêu học tập: Ví
dụ, một bài kiểm tra nhiều lựa chọn có thể hữu ích cho việc chứng minh nhớ lại, hoặc một bài viết hoặc giải quyết vấn đề mở cho người học để chứng minh sự phân tích độc lập hoặc tổng hợp
Trang 39 Giúp trẻ chuẩn bị: Hầu hết trẻ sẽ giả sử rằng trắc nghiệm được thiết kế để
đánh giá những điều quan trọng nhất mà họ đã học được trong khóa học Bạn
có thể giúp trẻ chuẩn bị cho bài kiểm tra bằng việc làm rõ mục tiêu khóa học cũng như xem xét các tài liệu Điều này sẽ cho phép các bài kiểm tra tập trung vào những gì bạn muốn người học lưu lại lâu nhất có thể
Sử dụng các ngôn ngữ phù hợp: (trong mục tiêu, giảng dạy trong lớp học, và
bằng văn bản các câu hỏi kiểm tra) để mô tả các kết quả mong đợi Nếu bạn muốn sử dụng các từ như giải thích hoặc thảo luận, chắc chắn rằng bạn sử dụng chúng một cách nhất quán và người học biết vì sao bạn sử dụng những thuật ngữ ấy
Thiết kế các mục kiểm tra cho phép trẻ trình bày vốn kiến thức của trẻ: Có
nghĩa là nếu người học đã không hoàn toàn nắm bắt được tất cả mọi kiến thức
trong khóa học vẫn có thể chứng minh được những cái họ đã học
1.5.2 Quy trình cải biên Trắc nghiệm
Theo Hướng dẫn dịch thuật và Thích nghi bộ công cụ của Uỷ ban Bộ công cụ Quốc tế (International Test Commission – ITC), có tổng cộng 7 bước tiến hành cho một bài cải biên trắc nghiệm[2]
Bước 1: Lập hội đồng cải biên
Hội đồng cải biên được thành lập bao gồm những thành viên là những người bản
xứ cũng như những chuyên gia Việt Nam am hiểu về giáo dục học, tâm lý học, thống kê nhằm mục đích:
Định hướng việc cải biên và chuyển ngữ, đồng thời đề xuất và phê duyệt các thay đổi
Thiết kế và giám sát quá trình thu thập số liệu để xử lý thông tin
Phân tích hoặc tư vấn việc phân tích số liệu
Bước 2: Chuyển ngữ
Dịch bản trắc nghiệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt: yêu cầu người dịch có khả năng tiếng Anh tốt
Trang 40Chuyển ngữ bản dịch theo đúng thuật ngữ chuyên ngành: yêu cầu người dịch có khả năng tiếng Anh tốt và hiểu biết về chuyên ngành liên quan đến Trắc nghiệm và trẻ mầm non
So sánh bản dịch đã chuyển ngữ với bản gốc tiếng Anh: so sánh bảng dịch với bản gốc để rà soát những sai xót trong quá trình dịch
Điều chỉnh bản dịch: điều chỉnh lại những sai sót lần cuối trong quá trình chuyển ngữ đồng thời xem xét sự phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ cũng như văn hoá địa
phương (Phiên bản 1)
Bước 3: Nghiên cứu thử nghiệm (Lấy ý kiến người dân) bằng bản dịch Phiên
bản 1: Sử dụng bản dịch để thử nghiệm đánh giá trẻ, đồng thời đề nghị những
người liên quan đến trẻ (Phụ huynh, giáo viên, CBQL) nhận xét về bản dịch và
đưa ra các góp ý cải thiện
Bước 4: Cải biên: Sau khi thử nghiệm đánh giá trẻ và thu thập ý kiến của
những người liên quan đến việc chăm sóc - giáo dục trẻ, hội đồng cải biên phân tích sự phù hợp văn hoá địa phương của hệ thống các câu hỏi đã được dịch và
tiến hành đưa ra các đề xuất về cải biên (Phiên bản 2)
Bước 5: Nghiên cứu thí điểm (Pilot): nghiên cứu trên nhóm nhỏ trẻ để xem
xét mức độ khả thi của bài trắc nghiệm sau khi đã dịch, quan sát quá trình trẻ làm bài trắc nghiệm gặp những khó khăn gì về mặt từ ngữ hay hình ảnh để từ
đó tiếp tục đưa vào điều chỉnh bản trắc nghiệm (Phiên bản 3)
Bước 6: Tiếp tục điều chỉnh bảng hỏi sau khi nghiên cứu thí điểm để đưa vào
sử dụng rộng rãi trên diện rộng
Bước 7: Sử dụng bài trắc nghiệm đã cải biên trên diện rộng: Đưa phiên bản
cải biên 3 vào thử nghiệm trên diện rộng để lấy số liệu thực tiễn cho việc phân
tích
1.6 Đặc điểm tư duy của trẻ 5-6 tuổi
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh đã giúp trẻ giải quyết một số bài toán thực tiễn Nhưng trong thực tế, những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che giấu không thể hình dung được bằng hình ảnh Kiểu tư duy này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát