1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyền thống và hiện đại trong kịch lưu quang vũ

141 103 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể thấy, Lưu Quang Vũ là tác giả của thời hiện đại hóa về nhiều mặt, nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trong kịch của ông có sự hài hòa đan xen những nét truyền thống dân tộc vào những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hải Vân

TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hải Vân

TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BÙI TRẦN QUỲNH NGỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 03 năm 2018

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Hải Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS.Bùi Trần Quỳnh Ngọc – người hướng dẫn nhiệt tình và tận tụy đã định hướng nghiên cứu và giúp đỡ, chỉ dẫn tôi trong suốt khoảng thời gian làm luận văn

Tôi xin cảm ơn khoa Ngữ Văn và phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, cũng như gia đình, người thân đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành Luận Văn này Trân trọng

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 03 năm 2018

Ký tên

Nguyễn Thị Hải Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ “TRUYỀN THỐNG”, “HIỆN ĐẠI” VÀ VỊ TRÍ CỦA LƯU QUANG VŨ TRONG VĂN HỌC KỊCH NHỮNG NĂM 80 THẾ KỈ XX 13

1.1 Vài nét về vấn đề “truyền thống” và “hiện đại” 13

1.1.1 Khái niệm “truyền thống” và “hiện đại” 13

1.1.2 Vấn đề “truyền thống” và “hiện đại” trong kịch Việt Nam nói chung 17

1.2 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch những năm 80 thế kỉ XX 23

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 23

1.2.2 Diện mạo Văn học và Văn học kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX 28

1.2.3 Lưu Quang Vũ – một “hiện tượng” của kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX 30

Chương 2 TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36

2.1 Thể hiện qua đề tài 36

2.1.1 Đề tài gắn với văn học truyền thống 36

2.1.2 Đề tài gắn với đời sống hiện đại 40

2.2 Thể hiện qua cốt truyện 44

2.2.1 Cốt truyện từ văn học truyền thống 45

2.2.2 Cốt truyện từ đời sống hiện đại 52

Trang 6

2.3 Thể hiện qua nhân vật kịch 59

2.3.1 Cái nhìn mới mẻ về những nhân vật trong truyện dân gian, lịch sử 60

2.3.2 Phát triển những tuyến nhân vật đời thường 67

Chương 3 TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ THỂ HIỆN QUA PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 83

3.1 Thể hiện qua sự “đan xen thể loại” trong kịch Lưu Quang Vũ 83

3.2 Thể hiện qua ngôn ngữ kịch 91

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 91

3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 104

3.3 Yếu tố kì ảo trong kịch Lưu Quang Vũ 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Truyền thống và hiện đại là một vấn đề cơ bản và quan trọng trong tiến trình của lịch sử văn học nói chung và lí luận văn học nói riêng Khi những yêu cầu đổi mới về mọi mặt trở nên bức thiết, thì vấn đề này càng trở nên thời sự, nóng hổi Cùng với sự phát triển của xã hội, văn học nghệ thuật cũng phải thay đổi theo để đáp ứng những đòi hỏi mà xã hội đặt ra Những yếu tố truyền thống

sẽ dần được thay thế bằng những yếu tố hiện đại hơn, mới mẻ hơn Tuy nhiên, những giá trị truyền thống không phải vì thế mà biến mất hoàn toàn, mà sẽ được

kế thừa và phát huy những điều tốt đẹp, loại bỏ những cái đã không còn phù hợp với thời cuộc Vừa tiên tiến, vừa gìn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống sẽ tạo nên một nền văn học nghệ thuật phát triển toàn diện Một nền nghệ thuật

“đến hiện đại từ truyền thống”

1.2 Kịch nói là loại hình nghệ thuật “sinh sau đẻ muộn” ở nước ta Trước

thế kỉ XX nước ta chỉ phổ biến những loại hình kịch hát như chèo, tuồng; ở miền Nam thì có cải lương… Đến khoảng năm 1920, văn hóa phương Tây xâm nhập vào nước ta, theo đó, kịch nói xuất hiện và dần khẳng định được vị trí riêng của mình Như bao loại hình nghệ thuật khác, kịch nói Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình “hiện đại hóa” qua thời gian để phù hợp với những phát triển của xã hội

1.3 Nói đến kịch nói Việt Nam, không thể bỏ qua cái tên Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài, trên mỗi phương diện ông đều có những đóng góp nhất định, từ thơ, truyện, kịch đến phê bình sân khấu Ở thể loại nào ông cũng để lại những thành tựu Trước khi viết kịch, Lưu Quang Vũ là một nhà thơ tiêu biểu của thời chống Mỹ rất được yêu thích, nhưng ông lại được chú ý và đánh giá cao ở mảng kịch Riêng trong những năm 80 của thế kỉ XX, Lưu Quang Vũ được xem như một hiện tượng hiếm có của sân khấu kịch Việt Nam

Trang 8

Tuy cuộc đời ngắn ngủi (1948-1988) và chỉ vỏn vẹn 10 năm cống hiến cho sân khấu, nhưng ông đã để lại hơn 50 vở kịch Kịch của ông được hầu hết các đoàn kịch lớn, có tiếng trong cả nước dàn dựng và đạt nhiều huy chương tại các kì Hội diễn sân khấu toàn quốc Nhiều vở kịch được dàn dựng nhiều lần và cho đến tận bây giờ vẫn rất được yêu mến Không quá khi nói rằng kịch Lưu Quang Vũ thời kỳ đổi mới (từ năm 1986) là một sự kiện của văn học nghệ thuật Việt Nam Không chỉ lớn về số lượng, mà tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ còn mang giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn sâu sắc, đặc biệt nhiều nhà phê bình đánh giá kịch Lưu Quang Vũ là những tác phẩm tiên phong trong vấn đề đổi mới Để có được những thành tựu đó, Lưu Quang Vũ đã ý thức kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả tính truyền thống và tính hiện đại trong các tác phẩm kịch của mình

1.4 Tác phẩm của Lưu Quang Vũ trong thời đại văn học nghệ thuật chuyển mình mạnh mẽ mang tính thời đại rất lớn, nói lên nhiều vấn đề nóng hổi trong xã hội Có thể thấy, Lưu Quang Vũ là tác giả của thời hiện đại hóa về nhiều mặt, nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trong kịch của ông có sự hài hòa đan xen những nét truyền thống dân tộc vào những nét hiện đại, thể hiện ở nhiều mặt từ

đề tài, cốt truyện, nhân vật hay ngôn ngữ… Vị trí của Lưu Quang Vũ trong nền kịch nói hiện đại Việt Nam đến nay khó ai có thể thay thế được Đã gần 30 năm

kể từ ngày ông mất, nhưng những vở kịch của ông vẫn luôn được đón nhận nồng nhiệt mỗi dịp công chiếu Không chỉ phổ biến trên các sân khấu, những vở kịch của Lưu Quang Vũ với những giá trị về nội dung và nghệ thuật sâu sắc đã được đưa vào chương trình sách giáo khoa phổ thông và chương trình, giáo trình các trường đại học Việc đưa những tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ vào chương trình dạy học càng khẳng định những giá trị mà kịch của ông mang lại cần được các thế hệ trẻ tiếp nhận và phát huy Và cũng một lần nữa khẳng định Lưu Quang Vũ mà cái tên tiêu biểu cho kịch nói Việt Nam hiện đại, là một nhà tiên phong của thời kì đổi mới, đã đạt được những thành tựu và đóng góp tích cực cho diện mạo văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX

Trang 9

Từ những lý do trên, việc đi vào tìm hiểu đề tài Truyền thống và hiện đại

trong kịch Lưu Quang Vũ là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Lịch sử vấn đề

a Những công trình nghiên cứu về truyền thống và hiện đại trong văn học nghệ thuật

Vấn đề truyền thống và hiện đại trong việc phát triển nghệ thuật nước nhà

là vấn đề quan trọng và cấp thiết Rất nhiều những nhà nghiên cứu văn hóa đã dành mối quan tâm sâu sắc cho vấn đề này Công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất

có thể kể đến là công trình Đến hiện đại từ truyền thống của Trần Đình Hượu

Bàn về văn hóa truyền thống dân tộc trong sự phát triển của xã hội hiện đại,

Trần Đình Hượu rất coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc, ông viết: “Trong sự sáng tạo văn hóa, mỗi dân tộc hình như từ lâu đã có những thói quen, những ưa thích, những sở trường, những khuyết tật làm nên đặc sắc của nó Nắm vững những cái đó, bước đi ở hiện tại sẽ ít mù quáng hơn và cũng nhờ thế có thể phần nào dự đoán để định hướng cả bước đi trong tương lai” [74, tr.1] Như vậy,

những giá trị truyền thống rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội, bởi nó là

sự hội tụ, kết tinh những phẩm giá, bản lĩnh, cốt cách, tâm hồn dân tộc Trần Đình Hượu đã định hướng nhìn nhận đúng đắn về văn hóa truyền thống, coi văn hóa truyền thống là cội nguồn, việc xây dựng văn hóa hiện tại và tương lai là không tách rời những giá trị truyền thống

Một số những công trình khác lí giải khái niệm và khẳng định lại giá trị của văn hóa dân tộc, văn hóa truyền thống trong sự phát triển của đời sống xã hội, cũng như định hướng những hướng đi đúng đắn trong việc kế thừa và phát

huy những giá trị truyền thống Có thể kể đến bài viết Văn hóa dân tộc trong

truyền thống và hiện đại của Nguyễn Văn Dân; Văn hóa cổ truyền, văn hóa truyền thống và truyền thống văn hóa của Nguyễn Xuân Kính; bài Tính truyền thống và yêu cầu đổi mới trong thiên niên kỷ tới của Lê Đăng Doanh…

Riêng đối với văn học, việc xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện

Trang 10

đại cũng vô cùng quan trọng Bài viết Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn

học nghệ thuật thời kỳ đổi mới của Cao Thị Hồng in trong Tạp chí Khoa học

xã hội Việt Nam, số 1/2015 đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng của hai khái niệm

trên, cũng như chỉ rõ “vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trở thành mục tiêu hàng đầu trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời đại mới”

[68, tr.1] Hiện đại hóa văn học cũng không thể tách rời khỏi những giá trị mà văn học truyền thống đã mang lại, phản ánh đứng thực tế nhưng bản sắc dân tộc vẫn phải được gìn giữ và nâng cao Nhấn mạnh hơn về mối quan hệ giữa hai

khái niệm “truyền thống” và “hiện đại”, Vũ Duy Thông trong bài Chuyển biến

nhận thức về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật đã khẳng định: “tính dân

tộc và tính hiện đại là một thực thể văn hóa động, luôn luôn đào thải và bồi đắp; quan hệ giữa hai phạm trù đó là sống động, biện chứng và luôn bổ sung cho nhau; Tính dân tộc và tính hiện đại không hề xung đột, mâu thuẫn nhau” [81,

tr.1]

Một số bài viết, bài nghiên cứu về kịch nói, kịch truyền thống, dù mang hơi hướng nghệ thuật biểu diễn nhiều hơn, nhưng cũng là tham khảo nguồn tư liệu hữu ích để tìm hiểu thêm về sự tác động của sân khấu truyền thống trong sự

phát triển của sân khấu kịch hiện đại Có thể điểm qua một số bài như: Giữ gìn

bản sắc dân tộc của sân khấu truyền thống: Cần có hướng đi đúng (Nguyễn

Phan Thọ); Âm nhạc truyền thống và kịch nói (Nguyễn Thị Bích Phượng); luận

án Mối tương tác giữa nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống với kịch nói

Việt Nam (Đỗ Thị Hương)…

b Những công trình nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ

Trước năm 1980, giới nghiên cứu văn học biết đến Lưu Quang Vũ như một tài năng thơ, một cây bút truyện ngắn và một nhà báo Với tác phẩm kịch

đầu tay: Sống mãi tuổi 17 (1979) và hàng loạt các vở kịch xuất hiện sau năm

1980 trên sân khấu đã gây được tiếng vang, chính thức đưa Lưu Quang Vũ trở thành nhà viết kịch đại tài của sân khấu Việt Nam Khái quát về con đường sáng

Trang 11

tác của Lưu Quang Vũ, tác giả Lý Hoài Thu trong Lưu Quang Vũ về tác gia và

tác phẩm đã chỉ ra rằng: “Lưu Quang Vũ có hai mươi năm vui buồn cùng thơ và

mười năm cuối đời song hành cùng kịch, nhưng trong mười năm ấy tài năng của Lưu Quang Vũ đã tỏa sáng và tạo cho mình một phong cách, một “kịch pháp”

và trở thành một hiện tượng nổi bật nhất của sân khấu Việt Nam thời kì đổi mới” [45, tr.42] Giới nghiên cứu bắt đầu chú ý đến kịch Lưu Quang Vũ, ban

đầu là những bài phê bình của các nhà nghiên cứu sân khấu như: Vũ Đình Phòng, Nguyễn Thị Minh Thái, Hồng Diệu, Vũ Quang Vinh Tùy theo quan điểm tiếp nhận mà có những ý kiến khen chê khác nhau, nhưng đa phần đều công nhận những đóng góp của Lưu Quang Vũ cho nền sân khấu kịch nước nhà

Sự ra đi bất ngờ của Lưu Quang Vũ trong lúc tài năng đang tỏa sáng nhất

đã tác động một cách mạnh mẽ và sâu sắc đến giới nghiên cứu văn học cũng như giới phê bình sân khấu Họ quan tâm nhiều hơn đến di sản văn học mà Lưu Quang Vũ để lại Trên các báo, tạp chí xuất hiện nhiều bài viết bày tỏ niềm tiếc

thương vô hạn đối với một tài năng Phong Lê trong bài Văn xuôi Lưu Quang

Vũ – cầu nối giữa thơ và kịch đã thốt lên rằng: “Thương xót quá, nhưng biết

làm sao, âu đó là số phận thường dành cho những tài năng – tài năng chân chính bao giờ cũng là sự quên mình Cũng bởi lẽ, như bất cứ sự hi sinh nào khác, chính trong sự quên mình, sự đem cho mà họ được bù đắp” [47, tr.132]

Vài tháng sau ngày Lưu Quang Vũ mất, nhà xuất bản Thông tin cho ra

cuốn sách Lưu Quang Vũ – Một tài năng, một đời người do hai nhà nghiên cứu

Ngô Thảo và Vũ Hà biên soạn Cuốn sách đã bước đầu giúp người đọc có cái

nhìn tổng quát về con đường sáng tác của Lưu Quang Vũ Trong bài viết Con

đường sáng tạo của một tài năng, Ngô Thảo đã khẳng định: “Đã có một phong

cách kịch Lưu Quang Vũ”, cụ thể ở đây, Ngô Thảo đã chỉ ra “nét quán xuyến trong toàn bộ sáng tác, làm nên phong cách và âm hưởng chủ yếu trong sự nghiệp của Vũ, chính là tính hiện đại trong chủ đề tư tưởng của vở diễn” [12,

tr.82] Kịch Lưu Quang Vũ hiện đại, dù có nói tới cái cũ, cái xưa thì cũng là cái

Trang 12

cớ để nói chuyện ngày nay, chuyện thời hiện đại Lưu Quang Vũ luôn thể hiện trách nhiệm của mình đối với con người và cuộc sống, dùng kịch để quan tâm, cảnh tỉnh và nhắc nhở mọi người

Các bài nghiên cứu viết về kịch Lưu Quang Vũ sau ngày ông mất, ít phê bình những vở kịch lẻ như trước, mà chủ yếu là những bài khái quát về từng vấn

đề một cách có hệ thống nhằm khẳng định những giá trị về nội dung và nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ Các nhà nghiên cứu rất chú tâm vào hai mảng đề tài lớn trong kịch Lưu Quang Vũ, đó là đề tài khai thác truyện dân gian và đề tài viết về cuộc sống thời kì đổi mới, từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét về tài

năng nghệ thuật của ông Trong bài Kịch pháp Lưu Quang Vũ viết trong Tạp

chí Tia sáng số 5/1996, nhà nghiên cứu Phan Ngọc khi nói về những vở kịch

thuộc đề tài khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ đã có nhận xét:

“Không ai bằng Vũ trong biệt tài làm nên cái muôn thuở trong cái đời thường, biến cổ tích, huyền thoại thành truyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thô lỗ để khẳng định cái cao quý” [45, tr.266] Trong bài nhận xét về vở

kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, tác giả Cao Minh đã có những nhận xét:

“Từ một truyện cổ dân gian mang tính triết lý cao, Lưu Quang Vũ đã sáng tác

vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Vở kịch đi thẳng vào người xem vấn đề muôn thuở của con người cũng là vấn đề cấp bách của cuộc sống hiện đại” [45,

tr.322] Đề tài hiện đại luôn là cốt lõi trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ Lưu

Khánh Thơ trong bài viết Đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền văn học

kịch Việt Nam được in trong cuốn Lưu Quang Vũ – Tác phẩm đạt giải thưởng

Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tiếng nói tiên phong của tác giả trong những vở

kịch mang đề tài hiện đại: “Kịch của Lưu Quang Vũ là tiếng nói trẻ trung, dũng cảm trong phong trào đổi mới nước ta Đó là kết quả của nhiệt tâm, sức lực, sự hiểu biết cuộc sống của người nghệ sĩ đồng thời cũng là kết quả của một tình yêu của lòng say mê và khát vọng nghệ thuật” [46, tr.285] Nhà nghiên cứu

Phan Trọng Thưởng đã nhìn thấy sức sống lâu bền của các vở kịch mang đề tài

Trang 13

hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ, thể hiện ở chỗ: “Cảm hứng chủ đạo trong kịch Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái đẹp, cái thiện… khát vọng chính của anh là khát vọng hoàn thiện cuộc sống, hoàn thiện con người Cho nên vượt qua những đề tài có tính chất thời sự, kịch của anh hướng tới những giá trị nhân đạo bền vững lâu dài” [45, tr.291]

Để lí giải về sức hấp dẫn trong kịch Lưu Quang Vũ cũng có khá nhiều bài viết, phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có nhấn mạnh đến tính thời sự trong kịch Nói đến sức hấp dẫn của kịch Lưu Quang Vũ, Phan Trọng

Thưởng đã khái quát trong bài viết Kịch Lưu Quang Vũ – những trăn trở về lẽ

sống lẽ làm người: “Có những người từ góc độ xã hội học cho rằng kịch Lưu

Quang Vũ hay bởi nó đáp ứng yêu cầu thời sự được cả xã hội quan tâm, đưa được lên sân khấu những vấn đề quan thiết, nóng bỏng của thực tiễn cuộc sống Những người từ những góc độ nghề nghiệp sân khấu khác nhau thì cho rằng kịch của anh dễ dàn dựng, dễ diễn và dễ ăn khách Cũng có những người từ góc

độ sáng tác mà cho rằng Lưu Quang Vũ đã gặp đất Lại có không ít người từ phía chủ thể nghệ sĩ cho rằng đó là kết quả của tư chất thông minh, của tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần mẫn, của trách nhiệm người nghệ sĩ – công dân” [56, tr.140] Và nhà phê bình cũng đưa ra đánh giá của riêng mình:

“Cái quan trọng nhất của anh vẫn là ý thức nhà văn, là vốn học tập tích lũy, là khả năng lao động, khả năng đồng hóa thực sự” [56, tr.140]

Bài viết nghiên cứu, đánh giá về kịch Lưu Quang Vũ khá nhiều, từ đánh giá chung cho đến những bài phê bình tác phẩm, đánh giá từng khía cạnh nhỏ lẻ

Năm 2007, nhà xuất bản Giáo dục phát hành cuốn sách Lưu Quang Vũ về tác

gia và tác phẩm do hai nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu và Lưu Khánh Thơ sưu tầm

và tuyển chọn từ các bài viết in trên báo và các tạp chí hoặc đã in thành sách trong thời gian trước đó Đây là công trình tổng lược một cách hoàn chỉnh về con đường sáng tác của Lưu Quang Vũ từ nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đến nhà viết kịch hàng đầu như Tất Thắng, Phan Trọng Thưởng, Ngô Thảo, Phan

Trang 14

Ngọc, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ Cùng với đó là những đánh giá kịch của ông về nhiều mặt từ nhiều nhà phê bình khác nhau để người đọc có cái nhìn đa chiều về con đường sáng tác của ông Ngoài ra một số cuốn sách khác mang tính

chất tổng hợp như: Lưu Quang Vũ, tài năng và lao động nghệ thuật, Lưu

Quang Vũ – tác phẩm đạt giải thưởng Hồ Chí Minh Nhìn chúng, các nhà phê

bình đều khẳng định rằng Lưu Quang Vũ là một tác giả tài năng, có sức sáng tạo đặc biệt, kịch của ông lôi cuốn và bắt kịp xu hướng của cuộc sống, xứng đáng là

“Molie ở Việt Nam” [45, tr.313]

Bên cạnh đó, một số luận văn, luận án đã nghiên cứu một cách có hệ

thống về tác giả, tác phẩm Lưu Quang Vũ Có thể kể đến: Luận án Những giá

trị nội dung xã hội và nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ (Phan Trọng

Thành), luận án Giá trị tư tưởng và nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ (Lê Hương Giang), luận văn Nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ (Nguyễn Nhị Nương), luận văn Đặc điểm kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ (Mai Thị Tâm), luận văn Thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ (Bùi Thùy Linh), luận văn Kịch Lưu Quang Vũ qua một số tác phẩm viết về đề tài

đổi mới (Đỗ Thị Hạnh), luận văn Liên văn bản trong kịch Lưu Quang Vũ

(Nguyễn Hồng Yến)…

Điểm qua những công trình nghiên cứu kể trên, có thể nhận thấy vấn đề truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ đã được đề cấp tới trong các bài nghiên cứu, các nhận định của nhiều tác giả Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào thực sự quan tâm đúng mức đến vấn đề này Các nhận định vẫn còn

đơn lẻ, chưa mang tính hệ thống và được phân tích, lí giải đầy đủ Luận văn Đặc

điểm kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ của Mai Thị Tâm

có nêu lên được một nét truyền thống trong kịch Lưu Quang Vũ, hay luận văn

Kịch Lưu Quang Vũ qua một số tác phẩm viết về đề tài đổi mới của Đỗ Thị

Hạnh thì ngược lại, tập trung vào những vở kịch mang hơi hướng hiện đại hóa

nhiều hơn Nguyễn Thị Minh Thái có bài viết Tính hiện đại - linh hồn kịch

Trang 15

Lưu Quang Vũ lại chỉ nhấn mạnh vào sức sống bền bỉ của kịch Lưu Quang Vũ

qua thời gian Cũng chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Truyền thống và

hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ, từ việc tiếp thu những ý kiến, nhận định

của những công trình nghiên cứu trước đó, với hi vọng có thể nghiên cứu một cách có hệ thống sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại trong những tác phẩm của nhà viết kịch tài ba; để thấy được sự kế thừa, vận dụng những nét đẹp truyền thống dân tộc và phát triển thành những tác phẩm mang hơi thở thời đại Việc làm này góp phần khẳng định một lần nữa những giá trị mà Lưu Quang Vũ đã đóng góp cho nền nghệ thuật kịch Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang

Phạm vi nghiên cứu: Lưu Quang Vũ sáng tác trên 50 vở kịch Tuy nhiên,

do giới hạn của một luận văn Thạc sĩ và phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu, khảo sát 10 kịch bản tiêu biểu, đã được dàn dựng nhiều lần trên sân khấu kịch:

- Hồn Trương Ba, da hàng thịt

- Ông vua hóa hổ

- Ngọc Hân công chúa

- Tôi và chúng ta

- Nếu anh không đốt lửa

- Nguồn sáng trong đời

- Mùa hạ cuối cùng

- Lời thề thứ 9

- Điều không thể mất

Trang 16

- Trái tim trong trắng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích - tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để

phân tích tác phẩm của tác giả ở những khía cạnh như đề tài, xung đột kịch, các kiểu nhân vật kịch, ngôn ngữ thoại kịch… từ đó có những đánh giá về sự hòa phối giữa truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ

Phương pháp lịch sử - xã hội: Người viết sẽ tìm hiểu đến bối cảnh lịch

sử - xã hội kịch nói có mặt ở nước ta vào khoảng những năm đầu thế kỉ XX cho đến những năm 80 của thế kỉ XX - cũng như bối cảnh gắn bó với những sáng tác của Lưu Quang Vũ Từ đó suy ra được con đường hình thành và phát triển của kịch nói Việt Nam, cũng như những ảnh hưởng của bối cảnh xã hội đến những sáng tác của Lưu Quang Vũ

Phương pháp so sánh đối chiếu: người viết sẽ so sánh kịch nói Việt

Nam các giai đoạn khác nhau, so sánh những loại hình sân khấu cũ và mới, so sánh kịch Lưu Quang Vũ với kịch của một số tác giả khác, cũng như so sánh những tác phẩm của Lưu Quang Vũ, từ đó thấy được sự phát triển của kịch qua từng thời kì, cũng như tìm ra được sự khác biệt, đặc sắc nghệ thuật và cá tính sáng tác riêng của Lưu Quang Vũ

Phương pháp loại hình: xem xét, phân tích tác phẩm kịch theo lí thuyết

loại hình (kịch), người viết sẽ chú trọng đến những đặc trưng như xung đột kịch, nhân vật kịch, ngôn ngữ kịch… để hiểu một cách toàn diện tác phẩm

Ngoài ra luận văn còn sử dụng những phương pháp khác như thống kê, cấu trúc – hệ thống, liên ngành… để làm nổi lên nét truyền thống và nét hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ

5 Mục đích của luận văn

Làm rõ khái niệm truyền thống và hiện đại, đồng thời chỉ ra mối quan hệ của chúng trong văn học nghệ thuật Khái quát vấn đề truyền thống và hiện đại trong văn học nói chung cũng như trong kịch nói Việt Nam nói riêng

Trang 17

Luận văn nhắm tới việc chỉ ra được sự đan xen giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ, từ đó thấy được cách mà tác giả đã

kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống để tạo nên những kịch bản xuất sắc, mang lại nhiều giá trị từ nội dung đến nghệ thuật

Khẳng định hơn những thành công và đóng góp của tác giả Lưu Quang

Vũ Đồng thời cũng thấy được tầm ảnh hưởng và vị trí khó thay thế của một con người tài ba trong nền kịch nói nước nhà

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung được triển khai thành các chương

- Chương 1 Vài nét về vấn “truyền thống”, “hiện đại” và vị trí của

Lưu Quang Vũ trong văn học kịch Việt Nam những năm 80 (thế kỉ XX

Chương này chúng tôi sẽ khái quát lại một vài vấn đề về lý thuyết, giải thích các khái niệm “truyền thống”, “hiện đại” Tóm tắt lại tình hình chung của vấn đề truyền thống và hiện đại trong văn học kịch cũng như sân khấu kịch trong nước, sự vận động thay đổi của văn học nghệ thuật, ảnh hưởng của các yếu

tố truyền thống đến hiện đại Cuối cùng là nêu những khái quát chung về tác giả Lưu Quang Vũ: tiểu sử, quá trình sáng tác và đặc biệt là vị trí của ông của văn học kịch hiện đại Việt Nam

- Chương 2 Truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ nhìn

từ phương diện nội dung

Chương này chúng tôi chỉ ra sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ thể hiện qua 3 phương diện nội dung: đề tài, cốt truyện và nhân vật là những vấn đề cốt lõi quan trọng nhất tạo nên nội dung hoàn chỉnh của một vở kịch

Quang Vũ, từ những đề tài có sẵn trong lịch sử, văn học dân gian hay những đề tài mới mẻ, nóng hổi, phù hợp với thời đại

Trang 18

 Về cốt truyện: đi vào tìm hiểu cách xây dựng cốt truyện của Lưu Quang

Vũ thông qua những xung đột hấp dẫn – một yếu tố quan trọng tạo nên “độ căng”, sự kịch tính cho vở kịch Quan trọng là tìm hiểu cách xây dựng cốt truyện của Lưu Quang Vũ có gì mới mẻ và có gì là kế thừa từ truyền thống

và phong phú của tác giả, cách phát triển những tuyến nhân vật có sẵn, quen thuộc và đặc biệt là thấy được cách đánh giá khác của tác giả về những nhân vật trong văn học truyền thống hoặc có thật trong lịch sử

- Chương 3 Truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ nhìn

từ phương diện nghệ thuật

Chương này tập trung nghiên cứu sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ qua các phương diện: thể loại và ngôn ngữ kịch, đồng thời tìm hiểu về những yếu tố kì ảo được sử dụng trong một số vở kịch của mình

những ảnh hưởng từ thể loại kịch hát truyền thống tạo nên kiểu kịch nói phù hợp với thị hiếu thưởng thức nghệ thuật của người Việt, của riêng người Việt Đồng thời cũng cho thấy được sự hiểu biết của tác giả về văn hóa dân gian cũng như niềm yêu thích đối với sân khấu truyền thông Việt Nam của Lưu Quang Vũ

quan trọng bậc nhất của kịch - ở cả 2 loại là đối thoại và độc thoại Chỉ ra được đặc điểm ngôn ngữ trong kịch Lưu Quang Vũ tự nhiên đơn giản nhưng lại nhiều sức gợi, đặc biệt là khả năng đối thoại lại với chính khán giả của mình

biến trong văn học dân gian – vào trong kịch nói là một thể loại thiên về tả thực

Từ đó thấy được một thể nghiệm mới rất xuất sắc của Lưu Quang Vũ trong nghệ thuật viết kịch của mình

Trang 19

Chương 1 VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ “TRUYỀN THỐNG”, “HIỆN ĐẠI” VÀ VỊ TRÍ CỦA LƯU QUANG VŨ TRONG VĂN HỌC

KỊCH NHỮNG NĂM 80 THẾ KỈ XX

1.1 Vài nét về vấn đề “truyền thống” và “hiện đại”

1.1.1 Khái niệm “truyền thống” và “hiện đại”

Luận văn tìm hiểu hai khái niệm “truyền thống” và “hiện đại”, chỉ ra bản chất cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố này trong văn học nghệ thuật nhằm tạo cơ sở luận cho những phân tích cụ thể ở các chương sau

Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt, “truyền thống” có nghĩa là “thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [36, tr.1017- tr.1018]; “hiện đại” nghĩa là “thuộc về thời ngày nay” [36, tr.422] Dựa vào khái niệm nền tảng này, người viết đi tìm hiểu

“truyền thống” và “hiện đại” văn học nghệ thuật nói chung và trong kịch Lưu Quang Vũ nói riêng

Từ cách lý giải của Hoàng Phê, có thể hiểu truyền thống trong văn học dùng để chỉ những đặc trưng văn học được chắt lọc, lưu giữ, truyền từ đời này sang đời khác Truyền thống thể hiện ở việc sử dụng kế thừa vào phát huy đề tài,

tư tưởng, quan điểm, các hình tượng, biểu tượng quen thuộc trong văn học truyền thống Phải nói thêm rằng, ở một góc độ nhất định, truyền thống gắn liền

với bản sắc “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” [65, tr.1]

trộn và liên kết giữa ba lớp văn hóa chính: Lớp văn hóa bản địa (Nền văn hóa Nam Á và Đông Nam Á); Lớp thứ hai chịu sự ảnh hưởng của khu vực (Văn hóa Trung Hoa); Lớp thứ ba là sản phẩm của sự chuyển mình đầy mạnh mẽ và dữ

Trang 20

dội (Văn hóa phương Tây) Trong lớp văn hóa bản địa nền, chính nghề nông trồng lúa nước đã có sự chi phối đến mọi mặt như đời sống vật chất (phương thức và kĩ thuật nông nghiệp, địa hình đất đai sông hồ quyết định giao thương…), đời sống tinh thần (tính cộng đồng, tính khép kín trong bộ phận làng, xã…), nhận thức (tư duy tổng hợp, tư duy biện chứng với triết lí âm dương và lối sống quân bình trọng ổn định, âm tính…), sự năng động và linh hoạt của con người trên nền tảng cơ bản là sự ổn định

Về sau, lớp tính cách bản địa chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, tiếp thu từ cưỡng chế đến chọn lọc những văn hóa vật chất (kĩ thuật luyện sắt, làm thuốc…), lĩnh vực tinh thần (ngôn ngữ và Hán tự, cách tổ chức chính quyền,

tư tưởng…), về tôn giáo – nghệ thuật (Nho, Phật, Đạo,…), một số phong tục tập quán cũng thâm nhập và bén rễ ở nước ta

Từ khi nền văn hóa phương Tây thâm nhập đất nước ta trên mọi nẻo đường, cùng lúc là sự suy thoái của nền văn hóa Trung Hoa, thì chính nền văn hóa bản địa Việt lớp thứ hai có sự chuyển mình đầy mạnh mẽ, trên mọi hướng tích cực và tiêu cực Nền văn hóa Việt lớp thứ ba này có sự hòa trộn và ảnh hưởng đến từ Đông – Tây, kim – cổ trong từng nếp sinh hoạt, ăn ở, nếp sống, nếp nghĩ Qua sự sàng lọc của thời gian và trí tuệ, có nhiều yếu tố đã bị loại bỏ, nhưng cũng có nhiều yếu tố đã được giữ lại và cải biên vừa mang nét truyền thống vừa mang nét hiện đại

Hiện đại là một phạm trù văn hoá và văn học có nhiều nghĩa “Tính hiện đại trong sáng tác văn học là sự hình thành những nguyên tắc sáng tác mới trong các trường phái văn học nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa Trong văn hoá, xã hội học, chính trị học, triết học tính hiện đại là một sự phản tư về các giá trị hiện đại Nhìn chung, tính hiện đại là sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành một giai đoạn văn hóa mới trong đời sống dân tộc và nhân loại Tuỳ theo bối cảnh của mỗi nền văn hóa mà tính hiện đại có nội dung khác nhau” [78, tr.1] Cần hiểu rằng, hiện đại không chỉ đơn thuần là những yếu tố du

Trang 21

nhập từ phương Tây, mà nó gắn liền với nhu cầu cụ thể của xã hội đương thời Hiện đại là nền tảng của sự phát triển, bao gồm toàn bộ những đặc trưng, yêu cầu của một xã hội hiện đại, ví dụ như: tự do, dân chủ, cá nhân, cái tôi, đối thoại, Văn học hiện đại đi vào khai thác những khái niệm, phạm trù ấy

Vấn đề xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại là vô cùng cần thiết để có thể phát triển một nền văn học nghệ thuật phát triển và mang dấu ấn dân tộc Quá trình hiện đại hoá văn hoá, văn học cần có thời gian để hoàn thành Điều cần làm là tiếp nhận những tư duy mới, hiện đại, khắc phục những cái cũ

kỹ, không hợp thời, nhưng đồng thời cũng phải nâng cao ý thức dân tộc, gìn giữ

và phát huy sáng tạo những giá trị dân tộc lên ngang tầm thời đại

Nói rõ hơn về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, hai khái niệm này vốn không đối lập, mà ngược lại, có quan hệ gắn bó, kế thừa và phát triển Trên một phương diện nào đó, mối quan hệ ấy là biểu hiện của tính dân tộc trong thơ

ca, vì “Tính hiện đại thực chất cũng là tính dân tộc hình thành từ truyền thống, mang đặc điểm và giá trị văn hóa truyền thống với những bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc, nhưng nó đã được phát triển, hiện đại hóa cho phù hợp với nhu cầu

xã hội mới” [67, tr.1] Như đã giải thích ở trên, truyền thống là những nét đặc

trưng, giàu bản sắc của từng dân tộc, xét rộng ra, truyền thống là một phần của

tính dân tộc “Nếu như tính dân tộc là diện mạo tinh thần trong văn học của một dân tộc thì tính truyền thống là những nét đặc trưng và đặc sắc nhất trong diện mạo tinh thần của dân tộc ấy Nó không chỉ được bảo lưu mà còn luôn tiếp biến

và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với tính hiện đại” [67, tr.1] Không chỉ

nói riêng trong đời sống hay văn học trong bất cứ lĩnh vực nào, nếu hiện đại phủ nhận truyền thống sẽ đánh mất đi cái riêng bản sắc của một dân tộc, ngược lại truyền thống cần được tiếp biến và phát triển cho phù hợp với đời sống hiện đại

Truyền thống và hiện đại như vậy, không hề xung đột, mâu thuẫn nhau “Tính dân tộc luôn luôn là động lực bên trong của tính hiện đại và tính hiện đại là hệ giá trị, phương hướng nâng cao tính dân tộc” [78, tr.1] Theo quy luật tự nhiên,

Trang 22

văn học vẫn phát triển theo phương châm truyền thống và hiện đại song đôi Người nghệ sĩ hiểu được mối quan hệ giữa hai yếu tố này sẽ tạo động lực cho sự đổi mới

Những năm cuối của thế kỉ XX, hiện đại hóa diễn ra trên mọi phương diện của cuộc sống Trong bối cảnh vô cùng phức tạp của hội nhập quốc tế, văn hóa phương Tây du nhập ào ạt vào Việt Nam bằng nhiều con đường và chi phối nhiều mặt, trong đó có văn học nghệ thuật Với định hướng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, các nghệ sĩ có thể tự tin trong sáng tạo, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời khai thác triệt để tinh hoa truyền thống để làm nên những tác phẩm mới hơn, có giá trị hơn

Từ những phân tích về truyền thống và hiện đại trong văn học, người viết

đi vào lí giải khái niệm truyền thống và hiện đại trong kịch Kịch là một thể loại mới trong tiến trình phát triển văn học của nước ta, chỉ mới xuất hiện từ những năm 20 của thế kỉ XX, nên trong lịch sử từ văn học dân gian đến trung đại, không có sự xuất hiện của thể loại kịch Những ảnh hưởng từ truyền thống đến kịch đều bắt nguồn từ những loại hình biểu diễn sân khấu dân gian như tuồng, chèo,… Chính bởi những sự khác biệt từ hình thức đến nội dung khiến kịch Việt Nam trở nên đặc sắc, mang bản sắc dân tộc, khác với kịch của phương Tây Về khía cạnh văn học, truyền thống thể hiện ở việc kế thừa vào phát huy đề tài, tư tưởng, quan điểm, các hình tượng quen thuộc trong văn học truyền thống, tất nhiên tác giả kịch đã có sự sáng tạo cho phù hợp hơn với thể loại và thời đại Những biểu hiện của hiện đại trong kịch, về nội dung, thể hiện qua việc phát triển đề tài mới mẻ, những tuyến nhân vật mới, thể hiện quan niệm về hiện thực đương thời Còn dưới góc độ nghệ thuật, hiện đại thể hiện qua cách xây dựng ngôn ngữ kịch, phương thức biểu diễn, yếu tố thẩm mĩ của tác giả Như vậy, hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ vừa chứa những biểu hiện của hiện đại trong kịch hiện đại Việt Nam nói chung, lại vừa có những sáng tạo riêng của tác giả

Trang 23

Từ những khái niệm đã được giải thích ở trên, nhiệm vụ của luận văn là chỉ

ra được những giá trị đặc sắc của kịch Lưu Quang Vũ trong tiến trình vận động

từ truyền thống đến hiện đại Ngoài chỉ ra được biểu hiện của truyền thống và hiện đại, còn phải thấy được sự gắn kết hài hòa giữa hai yếu tố trên Chỉ ra được truyền thống trong kịch Lưu Quang Vũ để thấy rằng, kịch của ông dù rất mới

mẻ, hiện đại, đề cấp đến những vấn đề nóng hổi, nhưng chưa bao giờ mất đi bản sắc Và cũng chính từ những nét truyền thống ấy, ông đã biến tấu, vận dụng tinh

tế để không bị cũ mòn, nhàm chán mà ngược lại còn chứa đựng được nhiều vấn

đề của cuộc sống đương thời Đặc điểm kịch của Lưu Quang Vũ có rất nhiều cái đặc sắc, nhưng trong giới hạn của luận văn này, người viết sẽ chỉ tập trung vào những nét tiêu biểu trong nội dung và nghệ thuật mà theo người viết, ở đó thể hiện được sự thừa hưởng truyền thống và phát triển phù hợp với hiện đại của Lưu Quang Vũ Nhấn mạnh rằng những đặc trưng này hoàn toàn không phải chỉ

có trong kịch Lưu Quang Vũ, đó là những đặc trưng chung của văn học đổi mới, nhưng điều người viết muốn truyền tải đến qua luận văn là cái tài của Lưu Quang Vũ khi đã sử dụng nhuần nhuyễn để tạo nên những kịch bản hấp dẫn, thu hút, không giới hạn trong bất kì đề tài nào, từ đó khẳng định kịch Lưu Quang Vũ mới mẻ, phù hợp với tiếng nói chung của thời đại, nhưng vẫn không lãng quên những giá trị tốt đẹp vốn có của truyền thống dân tộc

1.1.2 Vấn đề “truyền thống” và “hiện đại” trong kịch Việt Nam nói chung

Để tìm hiểu về “truyền thống” và “hiện đại” trong kịch Việt Nam, trước hết, chúng ta phải hiểu rõ khái niệm kịch Kịch là một trong ba phương thức phản ánh hiện thực của văn học, tuy nhiên, kịch khác biệt vì nó là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố: kịch bản (lĩnh vực văn học), đạo diễn, diễn viên, âm nhạc,… (lĩnh vực sân khấu) Kịch bản văn học là tác phẩm văn học, có đầy đủ đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ Tuy nhiên kịch bản chỉ là một bộ phận nhỏ trong kịch, được viết ra là để biểu diễn sân khấu, vì thế không

Trang 24

thể tách rời kịch bản văn học ra khỏi nghệ thuật sân khấu Luận văn phân tích chủ yếu kịch bản văn học, nhưng đồng thời cũng quan tâm đến những yếu tố khác trong kịch để hiểu rõ đặc trưng cũng như giá trị của tác phẩm

Đầu thế kỉ XX, văn hóa phương Tây - mà cụ thể là văn hóa Pháp - du nhập vào Việt Nam, tạo tiền đề cho sự ra đời của thể loại kịch nói Trước đó, ở nước

ta chỉ phát triển những loại hình kịch hát truyền thống như chèo, tuồng Như vậy, kịch nói như một làn gió mới thổi vào nền sân khấu nghệ thuật nước nhà Kịch đại diện cho cái mới, hiện đại và cũng là thử thách đối với những loại hình sân khấu cũ Mang trong mình đặc điểm của tính truyền miệng, tính quy phạm, điển phạm và tính ước lệ của một nền văn học nghệ thuật trung đại cổ điển,

không khó để nhận thấy rằng loại hình nghệ thuật tuồng, chèo “đã trở nên xơ cứng trước nhịp độ phát triển linh hoạt của đời sống và nhu cầu tinh thần đa dạng của con người” [60, tr.87] Suốt chiều dài lịch sử dân tộc mấy ngàn năm,

loại hình diễn xướng dân gian đi từ mộc mạc đến cầu kì, và đến hôm nay, nó tiếp nhận những yếu tố cách tân trên nền truyền thống cũ, để cho ra đời những loại hình vừa truyền thống vừa hiện đại: kịch nói là một trong số những loại hình

đó Kịch với những ưu điểm của mình phù hợp hơn với hoàn cảnh đất nước, nên ngày càng phát triển và được ưa chuộng

Trong những năm 1920 - 1945, kịch hình thành và phát triển một cách mờ nhạt và hạn hẹp, chủ yếu phục vụ tầng lớp trí thức Từ 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một trang sử mới, không chỉ là cho đất nước mà còn cho văn học nghệ thuật nói chung và kịch nói riêng Những vở kịch trong thời gian đầu chủ yếu xây dựng hình tượng những con người yêu nước trong quá khứ

và xoay quanh đề tài cách mạng, như: Quán Thăng Long (Lưu Quang Thuận),

Bắc Sơn (Nguyễn Huy Tưởng), Lối sống và mười chín tháng tám (Thâm

Tâm)… Dung lượng các vở kịch ngắn, phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến Kịch nói thời kháng chiến góp phần trong việc động viên, giác ngộ quần chúng nhân dân Người nghệ sĩ đã dần chứng minh được vai trò của mình trong những

Trang 25

tác phẩm viết ra phục vụ cho cuộc sống, phục vụ nhân dân Người sáng tác thực

sự đã nhập cuộc, họ góp phần khẳng định thêm giá trị cho kịch nói nước nhà Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mĩ, kịch nói Việt Nam dần khẳng định được chỗ đứng Nhiều tác giả, tác phẩm mới ra đời, đáp ứng nhu cầu thời

sự, với nhiều đề tài vẫn xoay quanh hiện thực chiến tranh và cổ vũ chiến đấu Những nhà viết kịch tiêu biểu giai đoạn này như: Đào Hồng Cẩm, Lộng Chương, Tất Đạt, Xuân Trình… Trong vòng 30 năm (1945 – 1975), kịch nói đã viết nên những trang sử riêng cho mình Kịch ra đời ở Việt Nam có phần muộn

so với những thể loại khác, nhưng lại rất nhanh chóng đạt được những thành công đáng kể Cùng với văn học nghệ thuật nói chung, chủ nghĩa anh hùng cách

mạng vẫn là tư tưởng chính trong giai đoạn này, có ý kiến nhận xét rằng: “So với văn, thơ và nhạc, kịch kháng chiến tuy không để lại được nhiều những đỉnh cao

dễ nhìn nhận nhưng nó để lại khá nhiều tác phẩm, một phong trào sáng tác rộng lớn, góp phần tạo dựng những tên tuổi trong tương lại” [30, tr.573] Thông qua

kịch, nhiệm vụ chính trị được tuyên truyền đã trở nên sinh động hơn Kịch trong

30 năm phát triển đã mang tính chuyên nghiệp và tính dân tộc đậm đà, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế về việc xây dựng nhân vật, xung đột hay đề tài chưa đa chiều

Cho đến những năm 80 của thế kỉ XX, kịch bước vào giai đoạn cực thịnh của mình Sự gia tăng về số lượng cũng như chất lượng những vở kịch, thêm đó

là những sáng tạo mới mẻ tạo nên một diện mạo kịch hiện đại phong phú hơn trước rất nhiều Những hạn chế của kịch giai đoạn trước đã được các tác giả rút kinh nghiệm và khắc phục Lúc này đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành khuynh hướng sáng tác chủ đạo, những nhà viết kịch đã tạo nên những cuộc đối thoại với công chúng về các vấn đề nóng bỏng của xã hội Những nhà viết kịch của giai đoạn trước tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí của mình, một số vở

kịch tạo được ấn tưởng sâu sắc, như: Tiếng hát (Đào Hồng Cẩm), Đỉnh cao ước

mơ (Tất Đạt), Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ)… Đặc biệt sự xuất hiện của

Trang 26

Lưu Quang Vũ được coi như “một hiện tượng đặc biệt” trong nền kịch nói Việt Nam giai đoạn bấy giờ Có thể nói, chỉ trong vòng khoảng 10 năm từ những năm

80 của thế kỉ XX, một khoảng thời gian không quá dài, nhưng kịch đã tạo nên

những tiếng vang nhất định “Nhìn sang kịch nói, có thể khẳng định được sự phát triển mạnh mẽ và tương đối đồng bộ của loại hình sân khấu đang chiếm vị trí chủ đạo… Mỗi vở diễn đã thực sự góp một tiếng nói riêng bởi trong đó thể hiện đầy đủ thái độ, lập trường, tình cảm và quan niệm của người nghệ sĩ trước hiện thực đời sống Các nghệ sĩ đã tỏ ra năng động, sáng tạo, mạnh dạn khi nhìn về cái thiện, cái ác, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Một số vở đã có tiếng nói kịp thời và tích cực về vấn đề phải thay đổi cơ chế quản lý, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá con người trong xã hội mới.” [59, tr.684] Dù đã đạt

được những thành công lớn như vậy, nhưng từ đầu những năm 90 cho đến nay, kịch nói Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu kịch bản hay để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội Nhưng dù vậy, kịch nói Việt Nam cũng đã ngày càng chuyên nghiệp hơn, hình thành đội ngũ tác giả, diễn viên tài năng được đào tạo chính quy và ngày càng sáng tạo hơn

Vốn là thể loại bám sát hiện thực nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân, nội dung tư tưởng của kịch phải luôn được đổi mới để bắt kịp với cuộc sống nhiều biến chuyển, đặc biệt là cuộc sống những năm 80 sau chiến tranh Nhiều vấn đề cần đề cập hơn, nhiều đề tài cần phải được khai thác Những vấn đề cũ nhanh chóng bị lãng quên khi đổi mới trở thành tiêu điểm trên mọi lĩnh vực Tuy nhiên những người nghệ sĩ giàu tâm huyết đều hiểu rằng đổi mới không có nghĩa là lãng quên cái cũ Nhất là với một đất nước giàu truyền thống như Việt Nam thì nền văn hóa - lịch sử nghìn năm như một kho báu để khai thác đưa vào nội dung kịch Các nhà viết kịch cũng hiểu được sứ mệnh kết nối truyền thống với hiện đại, từ đó ý thức tìm về với những giá trị ngàn xưa để khẳng định bản sắc dân tộc Tất nhiên, trên tinh thần xưa để nói đến chuyện ngày nay, với một cái nhìn khác, mới mẻ hơn, những giá trị truyền thống sẽ được lưu giữ, tiếp

Trang 27

nối và phát triển Những giá trị cũ, những nhân vật quen thuộc, những quan niệm truyền thống, những đề tài quen thuộc trong văn học được các nhà viết kịch khắc họa trở lại nhưng mang dấu ấn cá nhân và tinh thần của thời đại mới

Họ ý thức được việc mỗi giá trị sẽ trở nên khác đi qua từng thời đại, “mượn cổ

để nói kim”, dùng cái cũ để nói lên những cái mới, người viết kịch sẽ mang đến những nét nghĩa, cái nhìn mới về cuộc sống, khẳng định giá trị cũ đồng thời bổ sung quan điểm mới, khiến người xem vừa thấy quen thuộc nhưng lại hấp dẫn

hơn, hợp thời hơn Những vở kịch tiêu biểu và gây được tiếng vang như: Nhân

chứng và lịch sử (Hoài Giao), Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lời nói dối cuối cùng (Lưu Quang Vũ), Đỉnh cao phía trước (Tào Mạt), Đại đội trưởng của tôi

(Đào Hồng Cẩm),…

Kịch Việt Nam đã đi một chặng đường dài với nhiều cố gắng, bứt phá để tạo nên những dấu ấn Nhưng nếu so với phương Tây, kịch nói ở Việt Nam vẫn còn non trẻ Trong khi kịch Việt Nam vẫn chỉ trong quá trình hình thành thì kịch tại phương Tây đã trên con đường tìm kiếm một cách biểu đạt mới mẻ hơn Và kịch phương Tây đã gặp gỡ và bị thu hút với phương thức biểu đạt của sân khấu truyền thống phương Đông Trong giai đoạn kịch Việt Nam phục vụ kháng chiến thì kịch phương Tây đã có những ứng dụng mang tinh thần của phương Đông Đến những năm 80 của thế kỉ XX, kịch Việt Nam đã phát triển một cách chuyên nghiệp Trong vòng một thế kỉ, kịch Việt Nam đã có thể có chỗ đứng trong lòng khán giả, đồng thời, bản thân Việt Nam là một nước giàu bản sắc dân tộc, kịch Việt Nam còn tồn tại song song với hai hình thức kịch hát truyền thống tại Việt Nam là tuồng và chèo, đó là một lợi thế để kịch nói Việt Nam phát triển theo hướng riêng của mình Hơn nữa, hiện thực đất nước càng lúc càng thay đổi, kịch cũng bắt buộc phải đổi mới mình, không chỉ ở nội dung mà ngay cả hình thức thể hiện để trở nên không nhàm chán, nhu cầu đổi mới luôn luôn là cấp thiết

Cùng tồn tài song hành bên nhau, thì việc tác động, tương tác qua lại lẫn

Trang 28

nhau giữa kịch nói và kịch hát truyền thống là điều tất yếu sẽ xảy ra Thời gian đầu, có thể kịch nói chỉ chịu sự tác động một cách bị động để có thể làm quen, thâm nhập vào một đất nước vốn đã quen với loại hình sân khấu vốn mạnh cả về phần nghe lẫn phần nhìn như tuồng – chèo Nhưng qua thời gian, sự ảnh hưởng

là hoàn toàn có ý thức và có hiệu quả hơn nhiều Kịch hát truyền thống có những yếu tố hoàn toàn có thể áp dụng vào kịch nói để tạo nên một phương thức không đơn điệu như của bản thân kịch nói, lại giúp cho kịch Việt Nam phát triển theo hướng đi vừa hiện đại lại vừa truyền thống Với hướng đi ấy, kịch Việt Nam cũng sẽ tháo gỡ được sự phụ thuộc hoàn toàn vào kịch phương Tây, chúng ta cũng rút ngắn được khoảng cách giữa kịch hát và kịch nói, các thể loại có thể cùng nhau phát triển nhờ một mạch liên kết là văn hóa dân tộc Kịch nói đổi mới bằng cách học hỏi từ truyền thống là một hướng đi đúng đắn, kịch Việt Nam có thể phát triển theo một hướng đi riêng, đó cũng là mong muốn của những nhà soạn kịch có tâm huyết từ những ngày đầu kịch hình thành

Sự học hỏi bắt đầu từ việc thay đổi cách viết kịch bản Kịch những thời đầu viết theo lối tả thực phương Tây Về sau kịch mang tính tự sự, trào lộng (học hỏi chèo) hoặc trữ tình hơn, cũng do nhu cầu biểu đạt, muốn phá bỏ sự gò bó của loại sân khấu tả thực như kịch Một số vở giai đoạn đầu học hỏi truyền thống

như: Quẫn (Lộng Chương), Bình minh đó trái tim anh, Đỉnh cao mơ ước (Tất

Đạt),… Sau đó là sự thay đổi về ngôn ngữ cũng như hình thức biểu diễn trên sân khấu của kịch nói Trong nghiên cứu của mình, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra được rằng, xét về mặt văn học, kịch nói hoàn toàn có những ưu thế hơn so với kịch hát, nhưng nếu xét về mặt biểu diễn sân khấu, kịch nói lại không đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của người xem, nhất là với đối tượng bình dân, ở nông thôn, nên không thể thay thế được tuồng, chèo Kịch nói chỉ thỏa mãn được phần nghe, không như tuồng chèo có thêm sự phụ trợ của hát, múa, của phục trang, đạo cụ,… thỏa mãn được cả phần nhìn, chính vì vậy chỉ hợp với tầng lớp trí thức Tây học hoặc dân thành thị Để giải quyết được vấn đề này, níu

Trang 29

chân được khán giả ở lại rạp đến phút cuối cùng, các nhà soạn kịch hay đạo diễn kịch thường phải cho đan xen những đoạn hát, tấu hài kiểu chèo cổ…ứng dụng truyền thống ngay trên sâu khấu biểu diễn

Ngược lại, bản thân kịch hát truyền thống cũng cần học hỏi kịch nói để tồn tại Kịch hát truyền thống vốn là di sản nghệ thuật của dân tộc, nhưng trước làn sóng phát triển mạnh mẽ của kịch nói, kịch hát đang có phần yếu thế hơn Vấn

đề hiện đại hóa tuồng, chèo thực sự trở nên cấp bách Kịch nói có những thế mạnh mà kịch hát không có được, những “khuôn mẫu” cũ của kịch hát không còn phù hợp với khán giả thời đại Nên việc học hỏi từ kịch nói là điều tất yếu

để phát triển kịch hát, giúp kịch hát có thể tiếp tục tồn tại và phát triển Tình hình phát triển song hành và ảnh hưởng lẫn nhau giữa kịch hát và kịch nói như trên khá tương đồng với khái niệm “hiện tượng đan xen” của Trần Quốc Vượng

Ra đời cùng khoảng thời gian với tiểu thuyết và thơ mới, nhưng mối quan

hệ của kịch nói và truyền thống có những điểm khác biệt, cũng do đặc trưng thể loại Cũng có thể đó là lí do khiến kịch dù ra đời sớm hơn cả tiểu thuyết và thơ mới, nhưng phải đến sau 1945 mới gặt hái được những thành công đang kể và phát triển rực rỡ Nhưng đổi lại, tốc độ phát triển của kịch lại rất nhanh chóng và

có thể nói, kịch đã tìm thấy một hướng đi đúng đắn trong việc tìm ra bản sắc riêng cho kịch Việt Nam

Bước sang thế kỉ XXI, kịch giờ đây đã không còn giữ được vị thế của mình nữa, kịch gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển và tiếp cận khán giả do

sự đổ bộ của truyền hình, điện ảnh cũng như những công nghệ tiên tiến hơn Chính vì vậy, kịch càng cần phải có những cách tân, đổi mới sao cho phù hợp với xu hướng của thời đại và thu hút được khản giả đến rạp mà vẫn giữ được giá trị của riêng mình

1.2 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch những năm 80 thế kỉ XX 1.2.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau 1975

Sau chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975,

Trang 30

miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam thống nhất về mặt lãnh thổ Nó đã mở ra một chân trời mới, một kỷ nguyên mới cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam kỷ nguyên độc lập, tự do, Đây là một điều kiện chính trị cơ bản để đất nước ta có thể phát huy hết sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo tiền đề

để phát triển kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước,

mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế cũng như trong việc đi lên Xã hội chủ nghĩa Đất nước đã thống nhất, nhưng chúng ta lại đứng trước những khó khăn, thử thách mới Vẫn còn đó những tổn thất nghiêm trọng cùng những vấn đề nan giải ở cả hai miền đất nước cần được nhanh chóng xử lý về kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục Trải qua chiến tranh, tổn thất về người là vô cùng lớn Vô số người mang thương tật suốt và đặc biệt là bị nhiễm chết độc hóa học Khắp nơi trên cả nước còn rất nhiều bom mìn sót lại sau chiến tranh chưa được xử lý Môi trường sinh thái, rừng cũng như đất đai bị nhiễm độc nghiêm trọng Vấn đề đặt

ra là phải nhanh chóng chữa lành vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế, đảm bảo được cuộc sống cơ bản của người dân

Sau hơn 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975), miền Bắc đã được một số thành tựu nhất định tạo nền tảng để bước những bước đầu trong quá trình đi lên Chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam Nhưng trải qua hai cuộc chiến tranh, di chứng để lại khá nặng nề, nên nền kinh tế ở miền Bắc vẫn chủ yến là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bắt đầu xuất hiện sự khủng hoảng về quan hệ sản xuất Phải đến cuối năm

1976 miền Bắc mới cơ bản hoàn thành công việc khắc phục hậu do hai cuộc chiến tranh tàn phá để lại Ở miền Nam hậu quả chiến tranh của người Mỹ để lại còn nặng nề hơn Ngoài thiệt hại về kinh tế và con người, miền Nam còn đối diện với những vấn nạn như mù chữ, tệ nạn xã hội…

Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm (1976-1980) được đề ra với những mục tiêu là: sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phát triển công nghiệp nặng, áp dụng chế

độ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tập trung phát triển mô hình hợp tác xã, xóa

Trang 31

bỏ tư sản mại bản Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp vốn, vật tư cho xí nghiệp và xí nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu, nhà nước độc quyền về phân phối hàng hóa, hạn chế việc trao đổi tiền mặt, thị trường tự

do bị xem làm bất hợp pháp Xây dựng các trạm kiểm soát để điều khiển sự lưu thông hàng hóa trên cả nước

Ban đầu kế hoạch 5 năm đã mang lại những thành tựu nhất định như: Diện tích nông nghiệp được tăng lên, việc khai hoang đất trống, thâm canh tăng vụ và quá trình hợp xã được tiến hành nhanh chóng Hàng trăm công trình, nhà máy xí nghiệp được sửa chữa, mở rộng và xây dựng mới cơ sở vật chất của nền kinh tế nước ta được tăng cao so với trước Hệ thống giao thông được xây mới và phục hồi, hệ thống đường sắt Bắc - Nam được thông suốt một lần nữa sau 30 năm gián đoạn Văn hóa, y tế, giáo dục cũng được quan tâm đầu tư, các bệnh viện được tranh bị những thiết bị mới Phong trào bình dân học vụ xóa mù chữ được đẩy mạnh, hệ thống giáo dục từ mầm non, phổ thông, đại học đều được phát triển toàn diện Truyền thông báo chí cùng với văn học cũng được khai thác triệt

để trong việc tham gia tích cực trong các hoạt động cổ vũ cho kế hoạch của Chính phủ

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều những hạn chế, thống nhất về đơn vị tiền tệ nhưng tem phiếu trong giai đoạn này vẫn có vai trò quan trọng hơn Tiền lương vốn là yếu tố quan trọng trong đời sông cán bộ, công nhân viên chưa được giải quyết thỏa đáng, tiền lương trả dưới hình thức tem phiếu dẫn đến sự thiếu thốn,

eo hẹp, không đảm bảo cuộc sống hàng ngày Những sai lầm và sự nóng vội trong việc nhận định thực trạng tình hình của 2 miền, quá trình thực hiện kế hoạch diễn ra mạnh mẽ nhưng với sự quản lý yếu kém và bảo thủ Ngoài ra còn

do yếu tố khách quan từ những thiên tai năm 1977, 1978, cùng với 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc năm 1979 Dẫn đến kết quả của kế hoạch 5 năm (1976-1980) chưa xứng đáng với kỳ vọng và chỉ tiêu được đề ra

Trang 32

Kết thúc kế hoạch 5 năm (1976-1980) những khủng hoảng bắt đầu bùng phát, sự mất cân đối của nền kinh tế ngày càng trầm trọng, thị trường không ổn định, cơ chế "sinh - cho" được manh nha hình thành và bùng phát, chế độ hợp tác xã dẫn đến tình trạng "cha chung không ai khóc" từ đó không tạo được sự kích thích lao động dẫn đến sự thua lỗ nặng của nền kinh tế tập thể Sản lượng của nông nghiệp và công nghiệp đểu giảm mạnh dẫn đến thu nhập bình quân đầu người của cả nước giảm mạnh so với năm 1976 Vấn đề lạm phát tăng vọt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế nước ta trong thời kỳ này

Ngoài những hậu quả của kinh tế, thì xã hội, văn hóa, giáo dục cũng chịu những ảnh hưởng nặng nề của thời kỳ này, nó được người dân gọi với các tên

"Thời Bao Cấp" thời mà ai cũng đều khổ như nhau Hình thức hộ khẩu được hình thành trong thời kỳ này để phân phối lương thực Do mục tiêu nền giáo dục của Việt Nam phải bắt kịp với các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới dẫn đến bệnh thành tích trong giáo dục xuất hiện đã làm cho chất lượng giáo dục đi xuống trầm trọng Với những công việc khác nhau dẫn đến chế độ đãi ngộ khác nhau tạo nên sự bất bình trong nhân dân và càng ngày những mâu thuẫn xã hội này càng tăng lên Vì vấn đề an ninh người dân bị hạn chế tiếp xúc với người nước ngoài Văn hóa phương Tây bị xem là điều tối kỵ Văn học, báo chí, nghệ thuật đều được nhà nước kiểm soát, văn học giai đoạn này chủ yếu là văn học cánh tả, hiện thực phê phán, hiện thực xã hội chủ nghĩa, lãng mạn tích cực, văn học cổ điển, văn học chủ nghĩa xã hội và văn học Nga Các sản phẩm văn hóa nghệ thuật đều giống nhau về quan điểm tư tưởng, hình thức có khác là đối tượng phục vụ Hầu hết các văn nghệ sĩ đều phải sinh hoạt trong các cơ quan nhà nước

Kinh tế - xã hội đã khó khăn, chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn về mặt tinh thần Rất nhiều những giá trị đã thay đổi, có những điều không còn như trước, vấn đề đạo đức nhân sinh, những giá trị của đạo đức con người trong xã hội có nguy cơ đảo lộn, con người thời hậu chiến dễ rơi vào những hụt

Trang 33

hẫng, hoang mang và sự nghi ngờ bản thân Cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, thiện và ác, thật và giả, đặc biệt là cuộc đấu tranh với chính mình để tìm ra hướng đi cho bản thân trở nên ngày càng quyết liệt hơn Đời sống tinh thân của con người vì thế mà càng trở nên phức tạp

Kế hoạch của thời kỳ đổi mới 1976 -1980 không thu lại kết như mong đợi, tuy trong giai đoạn 1981 - 1985 đã có vài thay đổi cục bộ về các chính sách của Đảng và nhà nước những vẫn chưa thể tạo nên sự chuyển biến tích cực nào to lớn Ngoài ra do ảnh hưởng của việc cấm vận từ Mỹ, sự viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa giảm sút, cộng thêm 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc Kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục đều vẫn lâm vào khủng hoảng, nó trở nên gay gắt và bị đẩy lên cao trào vào những năm giữa thập niên 1980 đã làm cho lòng tin của nhân dân với Nhà nước bị lung lay

Trước tình hình đó bắt buộc Đảng và Nhà nước phải có những thay đổi những toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế để thoát khỏi khủng hoảng của kinh tế - xã hội Mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện này là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng với những mục tiêu và nhiệm

vụ mới được đề ra trong kỳ Đại hội này Tiếp tục mục tiêu đi lên xã hội chủ nghĩa Ổn định kinh tế, thực hiện sản xuất nông nghiệp và công nghiệp một cách hợp lý, hình thành và phát triển mối quan hệ sản xuất mới, các trạm kiểm soát hàng hóa bị bãi bỏ, từng bước từ bỏ chính sách kinh tế hợp tác xã, kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và kinh tế sản xuất tư nhân được kích thích trở lại, môi trường kinh doanh được cải thiện Ổn định xã hội, tổ chức lại cơ cấu quản lý của

cơ quan chính quyền các cấp, vai trò của cơ quan lập pháp được nâng cao đảm bảo sự công bằng xã hội được chú trọng hơn trước

Văn hóa giáo dục y tế cũng có những chuyển biến tốt hơn, với việc xác định vị trí và vai trò của cách lĩnh vực này trong công cuộc quá độ lên xã hội chủ nghĩa đã giúp Đảng và Nhà nước có những cái nhìn mới và được chú trọng đầu tư hơn trước Văn học, nghệ thuật, báo chí tuy vẫn bị kiểm soát bởi Nhà

Trang 34

nước về tư tưởng và nội dung nhưng người dân có thể tiếp xúc với những cái mới, những nền văn học nước ngoài mà trước kia bị hạn chế Văn hóa phương Tây bước đầu có cơ hội xâm nhập vào Việt Nam Từ bỏ nạn chạy theo thành tích giáo dục ở các địa phương, chương trình nội dung dạy và học cũng được chú trọng cải cách, đổi mới Đời sống về vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện Những vấn đề an sinh xã hội cũng rất được quan tâm, cải thiện

Tuy những bước đầu của đường lối đổi mới cũng đạt được một số thành công nhất định tình trạng khủng hoảng tạm thời được kiểm soát, mâu thuẫn xã hội cơ bản được giải quyết Nhưng vẫn còn đó những hạn chế và thử thách khó khăn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân phải giải quyết để đất nước có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra

1.2.2 Diện mạo Văn học và Văn học kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX

Tình hình đất nước có nhiều thay đổi đòi hỏi văn học phải đổi mới để phù hợp với thời đại Từ năm 1975 và nhất là đến năm 1986, văn học bước sang một giai đoạn mới với nhiều chuyển biến tích cực Khoảng thời gian từ 1975 – 1986

có thể xem là giai đoạn chuyển tiếp, 10 năm để nền văn học đi tìm hướng đi đúng đắn Văn học giai đoạn này vẫn giữ vai trò chính trị của mình, các tác giả vẫn giữ lối viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng anh hùng ca, đề tài chủ yếu vẫn là

đề tài lịch sử Tuy nhiên, các tác giả cũng ý thức được việc không thể cứ mãi viết như cũ, các tác phẩm giai đoạn này dù vẫn giữ tinh thần chung của văn học thời trước, nhưng phần nào đã đi vào khai thác về cuộc sống đời thường hay nỗi đau của con người phải trải qua trong chiến tranh, không còn chú trọng xây dựng những hình tượng được lý tưởng hóa Nhưng nhìn chung, văn học giai đoạn này vẫn chưa có sự thay đổi lớn, các tác giả còn khá dè dặt trong việc nói lên những vấn đề còn chưa hoàn thiện trong cuộc sống hiện tại, tô hồng hiện thực và né tránh những nỗi đau, các tác phẩm rơi vào tình trạng một màu, đơn điệu

Trang 35

Từ năm 1986 bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố cánh cổng Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra, văn nghệ sĩ được cởi trói Văn học thời kì đổi mới đã đi theo hướng dân chủ hóa, văn học phát triển với nhiều đề tài, phong phú về bút pháp, đa dạng về thể loại Văn học giai đoạn này đề cao tính sáng tạo của tác giả, tiếp cận cuộc sống bằng góc nhìn đa chiều, quan tâm tới thế giới nội tâm phức tạp của mỗi con người Thơ ca phát triển mạnh thể loại trường ca, văn xuôi cũng gặt hái được những thành công

đáng kể, nhiều những sáng tác đặc sắc tiêu biểu, tiểu thuyết có Đứng trước biển,

Cù lao chàm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc

Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),……; truyện ngắn có Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp),…

So với thơ và văn xuôi, kịch của những năm 80 thế kỉ XX đã có một cuộc bứt phá táo bạo Nổi bật trong giai đoạn này là đề tài xây dựng xã hội chủ nghĩa, những nhà viết kịch có tiếng trong thời chống Mỹ vẫn tiếp tục khẳng định được

vị trí của mình với nhiều vở kịch gây ấn tượng với công chúng: Tiếng hát (Đào Hồng Cẩm), Nhân chứng và lịch sử (Hoài Giao), Mùa hè ở biển (Xuân Trình),

Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt), Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ),… Nhà nghiên

cứu Vũ Ngọc Vinh đã nhận xét về tình hình kịch nói của nước ta những năm 80

là “thời kì phát triển nhất, khởi sắc nhất của kịch nói, nếu đem so với hai thời kì trước (1954-1964 và 1965-1975) Với sự tăng tiến cả về số lượng và chất lượng các tiết mục, cũng như sự mạnh dạn và phong phú trong những đổi mới, tìm tòi sáng tạo, nên chúng ta vui mừng vì đã có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh” (Vài nét về sự phát triển kịch nói ba mươi năm (1954-1984), Tạp chí

Nghiên cứu nghệ thuật số 1, 1985)

Kịch phát triển nhanh chóng, có phần lấn án những loại hình nghệ thuật truyền thống Nhiều đoàn kịch miền Bắc đã vào nam biểu diễn, tiêu biểu là năm

Trang 36

vở: Tôi và chúng ta, Nữ kí giả (Lưu Quang Vũ), Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt),

Mùa hè ở biển (Xuân Trình), Nhân chứng và lịch sử (Hoài Giao) Điều này đã

giúp cho nhân dân miền Nam hiểu và nhận thức rõ ràng hơn về kịch nói Kịch dần chiếm được tình cảm của nhân dân miền Nam, nơi vốn là mảnh đất của cải lương Phá bỏ thế độc tôn của cải lương, kịch đã mang đến cho nghệ thuật miền Nam một luồng gió mới, điều này giai đoạn trước 1975 hầu như là không thể

Có thể nói đổi mới đã giúp mang đến những dấu hiệu tích cực cho kịch nói, nghệ sĩ được thực hiện quyền dân chủ của bản thân, có ý thức hơn để trau dồi vốn sống, tìm tòi sáng tạo để tạo ra được những kịch bản hay Đặc biệt là đề tài khai thác gần gũi hơn với người dân, đối thoại được nhiều với người xem, mở rộng được hơn đối tượng khán giả, đó cũng là một trong nhưng lí do giúp kịch thâm nhập được vào “kinh đô cải lương” Nam bộ Kịch trước đây hầu như chỉ làm cho giới trí thức và chỉ diễn ở những thành phố lớn, hầu như không để lại được ấn tượng gì trong đời sống nghệ thuật của công chúng lúc bấy giờ Nhưng kịch giờ đây đã khởi sắc, nếu so với giai đoạn trước là cả một bước tiến dài, mùa của kịch nói chưa bao giờ sôi nổi hơn lúc này, như nhà nghiên cứu Phan Trọng

Thưởng đã nhận định: “Mãi đến năm 1985, nghĩa là sau khi giải phóng miền Nam mười năm, cũng là thời kì kịch nói cực thịnh” [21, tr.17]

Trong một khoảng thời gian không quá dài, nhưng kịch nói đã đạt được những thành tựu vang dội, những thành tựu mà kịch đạt được trong những năm

80 sau giải phóng là một dấu son sáng chói nhất trong tiến trình vận động và phát triển của kịch nói Và sự phát triển cực thịnh ấy của kịch có công lao không nhỏ của tác giả Lưu Quang Vũ Phải nói rằng, Lưu Quang Vũ đã đến với kịch nói rất đúng thời điểm, điều đó một phần giúp ông phát huy được hết tài năng của mình

1.2.3 Lưu Quang Vũ – một “hiện tượng” của kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ

Trang 37

Hòa, tỉnh Vĩnh Phúc Nhà viết kịch Lưu Quang Thuận – bố Lưu Quang Vũ đã sớm phát hiện tài năng của con trai và mong muốn con theo đuổi đam mê với sân khấu Từ nhỏ, Lưu Quang Vũ đã có năng khiếu thơ văn, đạt giải nhất môn Văn toàn thành phố, sớm có thơ đăng trên các báo Nhân Dân, Văn nghệ quân

đội,… Tập thơ đầu tiên của Lưu Quang Vũ là tập Hương cây – Bếp lửa, in

chung với Bằng Việt vào năm 1968 Đây là tập thơ chứa đựng cái nhìn lạc quan, hồn nhiên yêu đời của anh bộ đội Lưu Quang Vũ trẻ trung, yêu đời và trái tim đầy tình yêu thương với Tổ quốc Mỗi chặng hành quân đều lưu lại trên những

vần thơ, những vần thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ “là tiếng nói thiết tha yêu quê hương và gửi lời trao tin cậy trước cuộc đời” [45, tr.25] Những tập thơ sau

như Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Lưu Quang Vũ – thơ và

đời đều được sáng tác trong giai đoạn đầy thăng trầm và biến động của cuộc đời

tác giả: hôn nhân tan vỡ, sau khi rời khỏi quân ngũ cuộc sống trở nên chật vật, phải làm nhiều nghề để mưu sinh Thời cuộc biến động với đầy những mất mát

và đau thương đã hằn lên trái tim đa cảm của người nghệ sĩ, phả vào tác phẩm của ông hơi thở của sự hoài nghi và hoang mang trước cuộc đời

Lưu Quang Vũ đã bén duyên với sân khấu từ đầu những năm 80, nhưng lúc này ông chưa viết kịch mà là phóng viên của một tạp chí sân khấu Những bài

viết của ông thể hiện rõ sự am hiểu đối với sân khấu, trong cuốn Diễn viên và

sân khấu (viết chung với Vương Trí Nhàn và Xuân Quỳnh) đã tập hợp những

bài viêt của Lưu Quang Vũ về chân dung các nghệ sĩ

Tác phẩm kịch đầu tay của Lưu Quang Vũ - Sống mãi tuổi 17 (viết năm

1980) đã nhận huy chương vàng tại Hội diễn sân khấu toàn quốc Đây là động lực khích lệ sự nghiệp sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ, cũng như củng cố niềm tin của người cha, người thầy đáng kính Lưu Quang Thuận về tài năng của con trai Ngay sau đó, cái chết đột ngột của cha đã để lại một nỗi đau và khoảng lặng trong lòng ông Nhưng cũng chính trong lúc này Lưu Quang Vũ đã thực sự nhận thức được con đường đi của mình, sự quyết tâm cùng với khao khát được tiếp

Trang 38

nối cha đã nâng bước cho ông trên con đường kịch nghệ

Lưu Quang Vũ đã bước vào làng kịch rất đúng lúc - Ngô Thảo nhận xét:

“Nếu nói trong đời Vũ có một lần gặp may mắn thì chính là thời điểm Vũ bước vào làng sân khấu lúc thời tiết chính trị của đất nước đổi mới đã tạo cho anh một khoảng gian rộng bao la để sáng tạo nghệ thuật, đồng thời số lượng các đoàn nghệ thuật có nhu cầu kịch bản mới phù hợp với tình hình, đáp ứng nhu cầu của công chúng là thêm một điều kiện khác tác động đến sức sáng tạo của Lưu Quang Vũ” [12, tr.52] Như đã nói, năm 1986 đánh dấu bước chuyển lớn

lao của văn học nghệ thuật, các nghệ sĩ được “cởi trói”, sáng tác đánh mạnh vào thực tiễn xã hội nhiều hơn, nhưng trên thực tế, từ năm 1980, Lưu Quang Vũ đã

có những sáng tác gây xôn xao dư luận như: Cô gái đội mũ nồi xám (1981),

Người trong cõi nhớ (1982), Nguồn sáng trong đời (1984), Tôi và chúng ta

(1984), Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984), Người tốt nhà số 5 (1984), Lời

nói dối cuối cùng (1985), Khoảnh khắc và vô tận (1986) Các sáng tác của Lưu

Quang Vũ đã “đi trước một bước” và mang những dự cảm về sự thay đổi trong tương lai Trong bối cảnh thiếu những kịch bản mới mẻ để dàn dựng, Lưu Quang Vũ thực sự đã trở thành nhân vật chính trong nền kịch nghệ những năm

80 Tại buổi Hội diễn sân khấu năm 1985, tài năng của Lưu Quang Vũ được khẳng định khi trong 8 vở được dàn dựng có đến 6 vở được huy chương vàng và

2 vở đạt huy chương bạc Các sáng tác của ông đều được hoan nghênh và ủng

hộ Có thể nói rằng, Lưu Quang Vũ đã “làm mưa làm gió” trên sân khấu Việt Nam lúc bấy giờ

Giai đoạn sau 1986, không khí đổi mới trở nên mạnh mẽ, diện mạo của nền kịch nói vốn thịnh lại càng khởi sắc nhiều hơn Sức sáng tạo của Lưu Quang Vũ thật sự rất phi thường Chỉ trong vòng 10 năm đến với kịch, ông đã viết hơn 50

vở kịch với nhiều đề tài khác nhau Dù các vở kịch đều xoay quanh những vấn

đề đổi mới nhưng Lưu Quang Vũ rất biết cách tạo bất ngờ cho khán giả

Với mục đích hướng tới Chân – Thiện – Mĩ trong sáng tác nghệ thuật, Lưu

Trang 39

Quang Vũ đã luôn học hỏi, điều chỉnh bản thân, đánh giá lại những sáng tác để làm đẹp thêm những đứa con tinh thần của mình Từ những sáng tác đầu tiên

như vở Mùa hạ cuối cùng, bản thân tác giả đã nhận ra những hạn chế khi tác

phẩm mang tính luận đề quá rõ, và có những thay đổi, chỉnh sửa về kịch bản Đã từng là một nhà văn, nhà thơ, dấu ấn văn học trong kịch Lưu Quang Vũ thể hiện qua những chi tiết, lớp lang kịch đa nghĩa, nhiều tầng, thoát khỏi hoàn toàn cách viết kịch đơn giản Hơn nữa nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ ngày càng có cá tính, tâm lý phức tạp và gần gũi với cuộc sống, người xem hoàn toàn có thể tìm thấy bản thân mình trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ Trong hơn 50 sáng tác của Lưu Quang Vũ, không phải vở nào cũng đều xuất sắc, nhưng phần lớn đều được dàn dựng và có tác động sâu sắc Không thể phủ nhận rằng Lưu Quang Vũ

đã trở thành một “hiện tượng” của sân khấu Việt Nam

Những sáng tác của Lưu Quang Vũ có thể được chia làm ba loại: loại thứ

nhất là những tác phẩm dựa vào cốt truyện dân gian (Hồn Trương Ba da hàng

thịt, Nàng Sita, Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá,…); loại thứ hai là dựa vào

cốt truyện hiện đại (Đôi dòng sữa mẹ, Hẹn ngày trở lại, Chết cho điều chưa

có,…) và loại thứ ba, chiếm đa phần trong số tác phẩm là những vấn đề hiện đại,

đó cũng là những vở kịch khẳng định tên tuổi của ông Tác phẩm là nơi Lưu Quang Vũ gửi gắm quan điểm nghệ thuật - cũng như quan điểm về cuộc sống Viết nhanh, viết nhiều, chất lượng tác phẩm tất nhiên không thể đồng đều nhau, nhưng trong mỗi tác phẩm đều gửi gắm đôi điều muốn nói Tất cả những gì mà ông thể hiện trong tác phẩm của mình đã tạo nên một phong cách kịch Lưu

Quang Vũ, mà như giáo sư Phan Ngọc là khẳng định rằng “Có một kịch pháp Lưu Quang Vũ” [45, tr.264] Với ảnh hưởng từ người cha, với thế mạnh từng có

trong viết văn, làm thơ đã được Lưu Quang Vũ vận dụng để tạo nên cái riêng, cái độc đáo trong kịch mà vẫn mang đậm dấu ấn của thời đại

Tính hiện đại là một phần không thể thiếu tạo nên phong cách kịch của Lưu Quang Vũ Tính hiện đại được thể hiện qua chủ đề tư tưởng được nảy sinh ra từ

Trang 40

góc nhìn mới mẻ của tác giả hay thể hiện qua cách đánh giá lại những đề tài hay

tư tưởng có từ trước đó Đó là do sự nhạy cảm, thấu hiểu của bản thân tác giả đối với các vấn đề trong đời sống, khiến ông có thể đưa vào kịch một cách rất tự nhiên Từ những sự kiện thô đã trở nên những tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn, từ cách tạo nên những tình huống kịch, xung đột kịch đến cách tạo nên một thế giới nhân vật kịch có đời sống nội tâm và chiều sâu trong suy nghĩ, cùng với đó là hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, hàm súc nhưng cũng đầy tính triết lý Các vở kịch trở nên rất chân thật, thu hút người xem và khiến khán giả nhớ mãi Tính hiện đại còn thể hiện ở sự nguyên vẹn về giá trị của kịch Lưu Quang Vũ dù cho thời gian

đã trôi qua hơn 30 năm, dù cho xã hội có nhiều biến đổi Nghệ sĩ nhân dân

Hoàng Dũng, cựu giám đốc nhà hát kịch Hà Nội đã nói: “Kịch của Lưu Quang

Vũ không hề cũ Thậm chí tôi thấy những cái gì anh viết còn đúng hơn rất nhiều

so với thời điểm cách đây vài chục năm Khi ấy những vấn đề về sự xuống cấp đạo đức trong mỗi gia đình, mỗi con người chưa được đặt ra một cách nghiêm trọng như bây giờ” [72, tr.1] Kịch Lưu Quang Vũ không hề cũ cũng là nhận

định của nhiều người, được kiểm chứng qua việc nhiều vở kịch của ông đến bây giờ vẫn được dàn dựng lại và nhận được sự quan tâm của nhiều khán giả, dù cho kịch nói hiện nay đã không còn ở thế độc tôn Nhiều vấn đề được nói đến trong kịch Lưu Quang Vũ hoàn toàn có thể nhìn thấy trong cuộc sống ngày này, các vấn đề vẫn luôn nóng hổi, chạm đến những góc khuất trong mỗi người Có thể nói, kịch của Lưu Quang Vũ có tính dự báo khiến cho nó luôn luôn mới và có sức sống vượt thời gian

Tuy hiện đại, mới mẻ nhưng Lưu Quang Vũ vẫn luôn ý thức được việc phát triển những cái mới không có nghĩa là hoàn toàn phủ nhận những cái cũ Khi những giá trị mới lên ngôi, những vấn đề cũ thường bị lãng quên và dần mờ nhạt

đi Nhưng Lưu Quang Vũ luôn biết cách để dung hòa, thừa hưởng những yếu tố truyền thống và phát huy tốt những đề tài, quan điểm, giá trị cũ Mặt khác, do được thừa hưởng từ người cha của mình là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, ông

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w