1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe nói trong dạy học phân môn kể chuyện cho học sinh lớp 2​

123 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 4,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Đặng Thị Kim Sơn XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHE - NÓI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN CHO HỌC S

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Kim Sơn

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHE - NÓI

TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN

CHO HỌC SINH LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Kim Sơn

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHE - NÓI

TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN

CHO HỌC SINH LỚP 2

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ LY KHA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có dẫn trích nguồn rõ ràng và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Đặng Thị Kim Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Hoàn thành đề tài luận văn Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói (KNNN) trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 đối

với tôi là một khó khăn và là trở ngại rất lớn tưởng chừng như bỏ cuộc Vượt qua cả

sự thách thức đó bằng sự cố gắng của bản thân, tôi đã hoàn thành việc viết luận văn

và nộp đúng thời hạn Trước hết, tôi xin chân thành gửi đến người Cô mà tôi rất trân trọng - PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha lời cảm ơn sâu sắc Cảm ơn Cô đã luôn đồng hành, động viên tôi vượt qua mọi khó khăn trong học tập và nghiên cứu, luôn luôn nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ thật tận tình trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Quý thầy cô giáo

đã giảng dạy cho chúng tôi (Lớp Cao học Khóa 27 - Giáo dục học (Tiểu học) đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Nhân đây, tôi cũng trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý thầy cô là cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học ở các Quận 2, Quận 5, Quận 6, quận Tân Phú, quận Tân Bình, quận Bình Tân, cùng các em học sinh tại hai trường (Trường TH Phạm Văn Chí - Quận 6 và trường TH An Lạc 1 - Quận Bình Tân) đã hỗ trợ cho chúng tôi trong quá trình khảo sát, dạy thử nghiệm đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Thu Lý, giáo viên dạy lớp 2 tại trường tiểu học Phạm Văn Chí, Quận 6, Tp Hồ Chí Minh đã tiến hành thử nghiệm thành công ba buổi dạy có sử dụng các bài tập rèn kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh của lớp mình

Cuối cùng, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình của tôi đã tạo điều kiện để tôi dồn hết tâm sức cho việc nghiên cứu Gửi lời cảm ơn đến tập thế lớp Cao học Giáo dục học (Tiểu học) Khóa 27 trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã chia sẻ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đặng Thị Kim Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục thuật ngữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8

1.1 Tổng quan về vấn đề rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 8

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 13

1.2 Cơ sở lý luận 15

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của học sinh lớp 2 15

1.2.2 Lý thuyết hội thoạivà ứng dụng trong dạy học 16

1.2.3 Lý luận dạy học ngôn ngữ thứ nhất 17

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

1.3.1 Chương trình, tài liệu rèn KNNN cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện 19

1.3.2 Thực trạng việc rèn KNNN qua dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 23

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHE - NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN 39

2.1 Căn cứ xây dựng bài tập 39

2.1.1 Yêu cầu, chuẩn kiến thức kĩ năng 40

Trang 6

2.1.2 Chương trình, tài liệu dạy học 43

2.1.3 Căn cứ vào thực trạng rèn KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 43

2.2 Các nguyên tắc xây dựng bài tập kể chuyện 44

2.2.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu dạy học 44

2.2.2 Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2 44

2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống 45

2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt 45

2.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tế và tính hiệu quả 45

2.3 Quy trình, phương pháp xây dựng bài tập 45

2.3.1 Quy trình xây dựng bài tập rèn KNNN 45

2.3.2 Phương pháp xây dựng bài tập 48

2.4 Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 48

2.4.1 Dạng 1: Rèn kỹ năng nghe - nói trong việc trả lời câu hỏi 48

2.4.2 Dạng 2: Bài tập rèn KNNN trong việc sử dụng mô hình trực quan 49

2.4.3 Dạng 3: Bài tập xử lý các tình huống liên quan đến nội dung bài học 49

2.4.4 Dạng 4: Thiết kế các “câu chuyện xã hội” để giáo dục HS 50

2.5 Hệ thống các bài tập mẫu rèn KNNN trong dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 2 51

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3 THỰC NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHE - NÓI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 2 56

3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 56

3.2 Tổ chức thực nghiệm 56

Trang 7

3.2.1 Nguyên tắc thực nghiệm 56

3.2.2 Mục đích thực nghiệm 57

3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 57

3.2.4 Quy trình thực nghiệm 57

3.3 Kết quả thực nghiệm, phân tích, đánh giá kết quả 58

3.3.1 Diễn biến thực tế và phân tích thực nghiệm 58

3.3.2 Đánh giá kết quả 72

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân phối chương trình Kể chuyện Lớp 2 21

Bảng 1.2 Các hoạt động dạy - học chủ yếu trong phân môn Kể chuyện lớp 2 24

Bảng 1.3 Nhận thức của Giáo viên đối với việc rèn luyện kĩ năng trong giờ học Kể chuyện 26

Bảng 1.4 Các hoạt động của HS liên quan đến việc rèn KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện 28

Bảng 1.5 Sự yêu thích môn học và khó khăn mà HS gặp phải 29

Bảng 1.6 Các hoạt động dạy học mà GV thường tổ chức trong giờ Kể chuyện 30

Bảng 1.7 Yếu tố tâm lý, nhận thức của học sinh lớp 2 đối với môn Kể chuyện 31

Bảng 1.8 Phương tiện mà GV thường dùng trong dạy học Kể chuyện 32

Bảng 1.9 Tiêu chí đánh giá kĩ năng kể chuyện của học sinh 33

Bảng 1.10 Nhận thức của CBQL về vấn đề rèn KNNN cho HS lớp 2 qua các phân môn Kể chuyện 34

Bảng 1.11 Các hoạt động rèn KNNN cho HS lớp 2 qua day học Kể chuyện 34

Bảng 1.12 Phương pháp – phương tiện được sử dụng để giúp HS rèn KNNN trong giờ học kể chuyện 35

Bảng 1.13 Những kĩ năng, năng lực được hình thành thông qua việc rèn KNNN trong giờ học kể chuyện 36

Bảng 1.14 CBQL đưa ra tiêu chí đánh giá KNNN 37

Bảng 2.1 Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Kể chuyện 40

Bảng 2.2 Tổng hợp các bài kể chuyện có trong SGK TV Lớp 2 46

Bảng 3.1 Cảm nghĩ của HS sau khi thử nghiệm 69

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát trước và sau thử nghiệm về sự yêu thích các phân môn trong môn Tiếng Việt lớp 2 72

Bảng 3.3 Các yếu tố góp phần làm cho bài tập đạt hiệu quả 74

Bảng 3.4 Hiệu quả của việc sử dụng mô hình The Story Grammar Marker 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình ICPALER 11

Hình 1.2 Mô hình cấu trúc cơ bản của hệ thống xử lý lời thoại 12

Hình 1.3 Sự yêu thích của GV qua việc HS kể, thuật lại câu chuyện 28

Hình 2.1 Mô hình The Story Grammar Marker® 51

Hình 2.2 Giới thiệu các biểu tượng trong mô hình (Buổi đầu) 52

Hình 2.3 Phiếu bài tập cá nhân hoặc nhóm 53

Hình 3.1 Kể chuyện “Phần thưởng” 60

Hình 3.2 Phiếu bài tập các nhóm 61

Hình 3.3 Mô hình giúp HS nhận diện cấu trúc bài Kể chuyện 62

Hình 3.4 Phiếu số 2 – Bài làm của nhóm 2 và nhóm 7 63

Hình 3.5 Phiếu số 3 – Bài làm của nhóm 4 và nhóm 5 64

Hình 3.6 Kể chuyện “Bím tóc đuôi sam” 65

Hình 3.7 Một số hình ảnh bài tập đóng vai “Bím tóc đuôi sam” 66

Hình 3.8 Câu chuyện xã hội 68

Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện sự yêu thích các phân môn trong môn TV lớp 2 73

Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện sự thích thú trong giờ học Kể chuyện 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ chương trình hiện hành, môn Tiếng Việt gắn với mục tiêu phát triển năng lực chung, trong khi đó, trong chương trình giáo dục phổ thông - chương trình tổng thể (7/2017) đã đề cập đến các phẩm chất và năng lực cho học sinh tiểu học trong việc hình thành và phát triển cho học sinh (HS) các năng lực cốt lõi bao gồm cả năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo) và năng lực chuyên môn (năng lực ngôn ngữ)

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu xây dựng hệ thống các bài tập nhằm rèn kĩ năng nghe - nói (KNNN) cho học sinh Việc trau dồi KNNN thường xuyên trong các tiết dạy kể chuyện sẽ giúp học sinh hình thành năng lực

ngôn ngữ và năng lực giao tiếp

Năng lực ngôn ngữ là một cấu trúc kết hợp những kĩ năng nghe, nói, đọc, viết với những thành phần kiến thức như ngữ pháp, từ vựng và ngữ âm (the skills and

components framework) (Lado,1961 & Caroll, 1961) Ở giai đoạn đầu cấp tiểu học, phần lớn giáo viên đều cho rằng cần tập trung quan tâm đến hai kĩ năng đọc và viết Riêng về kĩ năng nghe và nói thì vấn đề này rất ít được quan tâm ở các trường tiểu học hiện nay

Kĩ năng nghe - nói là một phần của năng lực sử dụng ngôn ngữ, phát triển kĩ năng nghe - nói được xem là một tất yếu trong nhà trường ở mọi cấp học nói chung

và cấp tiểu học nói riêng trong giai đoạn hiện nay Học sinh nếu được rèn kĩ năng nghe - nói thường xuyên sẽ luôn tự tin và chủ động trong giao tiếp Do đó, muốn nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh cần cung cấp cho các em các phương thức hoạt động trong các giờ học, đảm bảo để học sinh tiếp nhận trọn vẹn lời nói của người khác, từ đó biết tạo lập lời nói của bản thân để phù hợp với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho

Trang 12

học sinh lớp 2 nhằm phát triển năng lực giao tiếp, hình thành năng lực sử dụng

ngôn ngữ cho học sinh

2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu

Xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện, đề tài nhằm củng cố, phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục hướng đến hình thành năng lực giao tiếp và năng lực ngôn ngữ cho các em học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, chúng tôi cần tiến hành các nhiệm vụ cụ thể:

 Nghiên cứu cơ sở lý luận và tìm hiểu thực tiễn về vấn đề rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng;

 Khảo sát thực trạng việc rèn kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh;

 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hai hướng tiếp cận: theo chương trình hiện hành và chương trình sau năm 2018

 Thực nghiệm hệ thống bài tập đã xây dựng để rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

a Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung cho học sinh lớp 2

b Đối tượng nghiên cứu

Bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói cho HS lớp 2 trong dạy học phân môn Kể chuyện

5 Giả thuyết khoa học

Nếu hệ thống bài tập rèn kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 được xây dựng khoa học, phù hợp với đặc điểm, trình độ

Trang 13

nhận thức của học sinh, khơi gợi sự hứng thú của học sinh sẽ : (1) Góp phần cải thiện kĩ năng nghe - nói, đồng thời phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh; (2) Tạo nguồn tài liệu hữu ích cho GV và phụ huynh có thể vận dụng trong

việc giáo dục học sinh của mình

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

a Giới hạn nghiên cứu: Với điều kiện nghiên cứu có hạn, đề tài chỉ xây dựng

hệ thống bài tập rèn kĩ năng nghe - nói thông qua dạy học phân môn Kể chuyện trong cho học sinh lớp 2

b Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2 tại một trường tiểu học trên địa bàn

Thành phố Hồ Chí Minh

7 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Hướng tiếp cận

Đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học

phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2” được tiếp cận theo quan điểm:

Tiếp cận theo quan điểm hệ thống - cấu trúc: Đề tài xây dựng một hệ thống

bài tập nhằm rèn KNNN cho học sinh, tập trung nghiên cứu về quá trình dạy học gồm các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, các hoạt động của giáo viên và học sinh được thể hiện trong kế hoạch bài dạy

Tiếp cận phát triển: Đề tài nghiên cứu phải đảm bảo phù hợp với tâm lí lứa

tuổi và tâm lí nhận thức của các em học sinh lớp 2 Cho nên, việc xây dựng các

dạng bài tập rèn kĩ năng nghe - nói phải đảm bảo theo nguyên tắc phát triển năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ HS biết vận dụng những điều đã học vào thực tế Điều này giúp các em vượt qua được lực cản tâm lí góp phần tạo cho các

em sự tự tin, bình tĩnh, chủ động trong học tập

Tiếp cận theo quan điểm chức năng - giao tiếp: Việc rèn luyện KNNN sẽ hình

thành năng lực giao tiếp, năng lực ngôn ngữ cho HS, đây là một quá trình hoạt động phức hợp, biến hóa đa dạng theo hoạt động cá nhân của học sinh dưới sự chi phối của ngữ cảnh, của môi trường giao tiếp Các bài tập được xây dựng giúp học sinh phản ánh lại các sự kiện đã xảy ra trong đời sống hàng ngày, kết nối được các thành

Trang 14

viên trong lớp để thực hiện được các ý định giao tiếp của mình trong từng tình huống, từng hoàn cảnh Bên cạnh đó, học sinh cũng cần phải bộc lộ bản thân mình qua ngôn ngữ với một thái độ trung thực, lịch sự trong lời nói Thể hiện rõ văn phạm, tính ngữ pháp trong khi nói để tạo nên hiệu lực của lời nói

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, chúng tôi dùng các phương pháp sau:

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

7.2.1 Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu

Để có những kiến thức nền tảng làm cơ sở cho đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu, thu thập thông tin khoa học, nghiên cứu một số tài liệu có liên quan, các văn bản đã có từ trước nhằm hệ thống hóa nội dung cần trình bày trong luận văn

7.2.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến

đề tài rèn kĩ năng nghe - nói qua dạy học phân môn Kể chuyện cho HS lớp 2 Chúng tôi sẽ tiến hành các bước như sau:

- Thu thập các tài liệu, giáo trình, sách, tạp chí, luận văn, các đề tài nghiên cứu Khoa học, khóa luận tốt nghiệp

- Sau đó, phân tích và tổng hợp các tài liệu để hoàn thiện nội dung luận văn

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin bằng cách đưa ra hệ

Trang 15

thống các câu hỏi với người đối thoại liên quan đến việc tìm hiểu thực trạng về vấn

đề rèn kĩ năng nghe - nói cho HS ở lớp 2 trong dạy học phân môn Kể chuyện

Cách thức tiến hành phỏng vấn: thông qua việc khảo sát, thăm dò ý kiến đối với CBQL, GV, HS bằng bảng hỏi, trao đổi và thảo luận với CBQL, GV trong quá trình triển khai thực nghiệm ý tưởng đề tài

7.2.5 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi

Để tìm hiểu về thực trạng việc rèn luyện KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện, chúng tôi sử dụng phiếu câu hỏi để khảo sát một số nội dung liên quan đến

đề tài Trong luận văn chúng tôi sử dụng ba phiếu câu hỏi dành cho ba đối tượng: Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 2 Sau qua ba tuần thử nghiệm hệ thống bài tập rèn KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2, chúng tôi tiếp tục điều tra bằng phiếu câu hỏi cho đối tượng học sinh lớp 2 đang trực tiếp làm thử nghiệm Sau đó, tổng hợp và so sánh với kết quả với bảng khảo sát trước thử nghiệm

7.2.6 Phương pháp thực nghiệm

Chúng tôi sử dụng phương pháp này vì đây là một trong các phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học và có giá trị cao trong việc kiểm tra giả thuyết cũng như khẳng định tính khách quan của kết quả nghiên cứu

Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi tiến hành chọn mẫu gồm 42 HS tại một trường tiểu học trên địa bàn Quận 6 Việc chọn mẫu nghiên cứu được dựa trên các tiêu chí: trường được chọn làm thử nghiệm chấp thuận và tạo điều kiện cho người nghiên cứu thực hiện khảo sát và thử nghiệm, HS được chọn để khảo sát có

sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ, có trình độ tương đương nhau để làm nhóm thử nghiệm

Tổ chức phương pháp thử nghiệm sẽ tuân thủ các bước sau:

 Xác định đối tượng, giới hạn phạm vi thực hiện: khảo sát, phân tích kết

quả các buổi thử nghiệm

 Xây dựng nội dung bài tập trên cơ sở xác định nội dung rèn luyện kĩ năng

nghe - nói Thí điểm các bài tập, đánh giá ưu và khuyết điểm của từng bài tập để

Trang 16

đưa ra những lưu ý cần thiết cho việc xây dựng, cải tiến và thử nghiệm bài tập

 Thử nghiệm: tổ chức thử nghiệm tại một lớp qua ba buổi thử nghiệm, nhận

xét và đánh giá hiệu quả từng bài tập, qua đó rút ra các kết luận và đề xuất

 Phương pháp toán học

7.2.7 Phương pháp thống kê toán học

Đây là phương pháp đóng vai trò rất quan trọng, vì mục đích của phương pháp này là trình bày và mô tả các kết quả nghiên cứu, phân tích, xử lý số liệu đã thu thập trong quá trình điều tra và tiến hành thử nghiệm

Thực hiện phương pháp thống kê theo các bước sau:

Tổng hợp các phiếu khảo sát thực trạng về vấn đề rèn KNNN cho học sinh lớp

2 (học sinh, giáo viên, cán bộ quản lí); phiếu tự đánh giá kết quả thử nghiệm của giáo viên đứng lớp giảng dạy, để tiến hành xử lý các số liệu và trình bày dưới dạng biểu đồ, đồ thị Sau cùng kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp để hoàn thành nội dung luận văn

8 Đóng góp của đề tài

Luận văn mong muốn tạo nguồn tài liệu học tập hỗ trợ cho việc rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện, bắt kịp xu hướng dạy học phát triển năng lực của chương trình giáo dục phổ thông ban hành

9 Cấu trúc của luận văn

Phần Mở đầu gồm: Lí do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ, khách thể, đối

tượng, phạm vi, hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, giả thuyết khoa học,

dự đoán đóng góp của đề tài, cấu trúc của luận văn

Phần Nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thiết kế một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói cho

học sinh lớp 2 trong dạy học phân môn Kể chuyện

Chương 3: Thực nghiệm hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong

dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2

Trang 17

Phần Kết luận và đề xuất: gồm những kết quả đạt được, những đóng góp

và các kiến nghị của luận văn về vấn đề rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2

Phần phụ lục gồm các bảng hỏi dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và học

sinh lớp 2, bảng hỏi học sinh sau khi tham gia thử nghiệm, kế hoạch bài dạy, phiếu

hướng dẫn làm việc nhóm, kế hoạch thực hiện theo thời gian

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Tổng quan về vấn đề rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn

Kể chuyện cho học sinh lớp 2

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề rèn kĩ năng nghe - nói (KNNN) cho học sinh (HS) giai đoạn đầu cấp tiểu học là đề tài phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đã được rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập

Đầu tiên phải kế đến quyển sách “Dạy nghe và nói từ lý thuyết đến thực hành,

2008” (Teaching Listening and Speaking from theory to practise, 2008), Jack

Richards đã đưa ra quan điểm:

Nghe không chỉ để hiểu mà còn để học ngôn ngữ Vì nghe có thể cung cấp

nhiều đầu vào và người học phải nhận thức đầy đủ các dữ liệu đó Và nhận thức như thế nào còn tùy thuộc rất nhiều vào quá trình mà người học có thể kết hợp các từ ngữ mới vào các cấu trúc văn phạm để phát triển năng lực giao tiếp

Như vậy có thể nói, từ việc nghe để hiểu sẽ giúp cho người học có thể vận dụng các kĩ năng khác như nghe để nói, nghe để viết một cách có chủ ý hơn Góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp trong mọi tình huống giao tiếp

Trong tài liệu “Chương trình phát triển kỹ năng nghe và nói của học sinh lớp Một, 1997” (A Program to Develop the listening and speaking skill of children in a

first grade classroom, 1997), Wilson, Julie Anne đã cung cấp cho chúng ta một cái

nhìn chung về chương trình phát triển kĩ năng nghe và nói cho HS đầu cấp tiểu học Các tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng nghe - nói:

Những trẻ có thể diễn giải suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói sẽ có thể thành công hơn trong học tập Quan trọng hơn, những trẻ không phát triển khả năng nghe - nói có nguy cơ chịu ảnh hưởng cả đời bởi chính sự thiếu hụt kĩ năng này

Nhận thấy được tầm quan trọng của KNNN, đề tài rất mong muốn xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học phân môn Kể chuyện, giúp học sinh có cơ hội được rèn

Trang 19

luyện các kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng nghe - nói trong các tiết học kể chuyện Thực vậy, nếu học sinh được trải nghiệm trong một môi trường học tập có chú trọng đến việc rèn KNNN thì HS sẽ dễ dàng phát huy được năng lực sử dụng ngôn ngữ của mình và dẫn đến việc phát triển các năng lực khác như: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề

Tác giả V I Ca-pi-nôx khẳng định:

Động cơ nói năng không phải là hoạt động của lời nói mà là hoạt động thuộc bậc cao hơn - hoạt động giao tiếp Từ đó, chúng ta có thể nói về hoạt động nói năng nếu như chúng ta xem xét lời nói trong khuôn khổ của hoạt động giao

Đối với đề tài này, chúng tôi xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích cực, tạo nhiều hoạt động để học sinh có thể tham gia, thảo luận trong các nhóm, có cơ hội được trao đổi ý kiến với nhau Hơn hết, đó chính là môi trường để học sinh có thể rèn luyện KNNN cho bản thân mình

Tài liệu “Dạy nói và nghe trong trường tiểu học, 2000” (Teaching Speaking and Listening in the Primary School, 2000), Elizabeth Grugeon, Lyn Dawers, Carol Smith and Lorraine Hubbard đã cung cấp một cách nhìn tổng quan về vai trò và sự phát triển của KNNN trong nhà trường Đặc biệt, tài liệu còn khẳng định vai trò tổ chức và hướng dẫn, cách đặt câu hỏi và khuyến khích HS nói, cách lắng nghe và chia sẻ của GV đối với HS là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công Tài liệu cũng đưa ra một số hình thức tổ chức rèn kĩ năng nghe - nói thông qua một số phương tiện hiện đại: máy tính, phim truyền hình…

Qua tài liệu này, chúng tôi thiết nghĩ cần đưa vào hệ thống bài tập các hoạt động học tập đa dạng, tạo ra các tình huống dạy học mà ở đó học sinh được khuyến khích nói ra cảm nhận của bản thân về một vấn đề nào đó hay một nhân vật cụ thể trong tác phẩm truyện, được chia sẻ với GV và các bạn trong lớp của mình sẽ giúp cho các em học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp

Bài báo “Phát triển ngôn ngữ nói ở trẻ nhỏ” (Young Children's Oral Language Development), Celia Genishi cho rằng: “Sự phát triển của ngôn ngữ nói là một trong những thành quả tự nhiên và ấn tượng nhất của mỗi đứa trẻ” Trong bài báo

Trang 20

cũng nghiên cứu về thành phần ngôn ngữ nói gồm 3 yếu tố: ngữ âm, ngữ nghĩa và

cú pháp Và nhiệm vụ của mỗi giáo viên là giúp duy trì sự phát triển ngôn ngữ tự nhiên bằng cách cung cấp các môi trường đầy đủ để học sinh có cơ hội hình thành

kĩ năng nghe - nói trong giờ học kể chuyện

Cuốn “Giảng dạy ngôn ngữ nói” (Teaching oral language), Jonh Munro,

(Australian Council for Educational Resesrch), 2011, là cuốn sách rất đáng được chú ý Tác giả đã chỉ ra được tầm quan trọng của KNNN trong quá trình giao tiếp Trong cuốn sách này tác giả cũng đưa ra mô hình ICPALER Trong đó có hai yếu tố chính

Thứ nhất, “Người giao tiếp biết được điều gì” (What each communicator

knows), được giải thích rõ ràng và cụ thể thông qua các chữ I-C-P-A-L được hiểu là: Biết được ý tưởng truyền đạt; biết được cách thức để tương tác; biết được mục đích của việc giao tiếp và biết năng lực sử dụng ngôn ngữ như thế nào

Thứ hai, “Hình thức giao tiếp” (The form of the communication) được thể

hiện qua hai chữ cái E-R, đó chính là hai hình thức Nghe (thu nhận ý tưởng) - Nói (bày tỏ ý tưởng)

Thông qua hoạt động kể chuyện, thuật lại một tác phẩm văn học giúp học sinh nắm được đại ý của câu chuyện, biết được ý tưởng mà GV cần truyền đạt qua tác phẩm để từ đó định hướng trong việc tương tác với người khác, biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ ý tưởng của bản thân và thu nhận ý tưởng của người khác Một tiết học kể chuyện nếu đảm bảo được các yếu tố này sẽ làm cho học sinh đạt được kết quả cao

Trang 21

sử dụng ngôn ngữ hay chưa? Và cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh như thế nào? Bên cạnh đó, việc thu nhận ý tưởng và bày tỏ ý tưởng là hai hoạt động quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và giao tiếp của học sinh Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: bốn yếu tố trong “Người giao tiếp biết được điều gì”

là các yếu tố cơ bản cần phải đảm bảo để phù hợp với nội dung bài học, trình độ học sinh và năng lực của giáo viên, trong khi đó “Hình thức giao tiếp” là yếu tố quan trọng mà học sinh cần phải đạt được Do vậy, để rèn luyện KNNN cho học sinh lớp

2 trong dạy học phân môn Kể chuyện, giáo viên cần phải quan tâm đến hình thức tổ chức lớp học để phát huy tối đa việc học sinh có cơ hội được trình bày ý tưởng của mình

Trong một nghiên cứu “Khó khăn trong việc phát triển từ và xử lý ngữ âm” (Developmental word-finding difficulties and phonological processing), A., Stackhouse, J., & Wells, B (1997) đã nhấn mạnh: “Nếu như nghe là kĩ năng quan

Trang 22

trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin (Input), thì nói là kĩ năng quan trọng không kém của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin (Output)” Sự kết hợp nghe - nói được diễn ra hài hòa và đồng bộ thì việc phát triển ngôn ngữ sẽ ngày càng hoàn thiện hơn

Quyển sách “Khó khăn về ngôn ngữ và lời nói của trẻ em” (Children's Speech and Literacy Difficulties), A., Stackhouse, J., & Wells, B (2001) đã đưa ra mô hình

“cấu trúc cơ bản của hệ thống xử lý lời thoại” cho ta thấy: Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng xảy ra hai quá trình đó là: quá trình tiếp nhận lời nói (Kĩ năng nghe) và quá trình tạo lập lời nói (Kỹ năng nói)

Hình 1.2 Mô hình cấu trúc cơ bản của hệ thống xử lý lời thoại

Như vậy, theo mô hình này cho chúng ta thấy giữa kĩ năng nghe và nói có mối quan hệ tương quan lẫn nhau Người nghe cần phải có thính lực sắc bén để tiếp nhận rõ các thông tin, cụ thể là đi từ việc nhận diện các âm vị cấu thành, sau đó lưu trữ ở não bộ Tại đây, bằng vốn hiểu biết về ngôn ngữ, người nghe có thể giải mã và hiểu được những gì họ nghe thấy Từ đó sẽ lên kế hoạch vận động thể hiện bằng sự phát âm tạo ra lời nói Tiến trình này diễn ra khép kín và vận động theo quy luật chiều kim đồng hồ Do vậy, trong các tiết dạy kể chuyện, GV phải tổ chức làm sao

để có thể đánh giá được ngôn ngữ hiểu và ngôn ngữ diễn đạt của học sinh Bên cạnh

Trang 23

đó, xem việc rèn luyện KNNN qua dạy học Kể chuyện như là một hoạt động giao tiếp cần diễn ra xuyên suốt trong tiết học, học sinh có cơ hội tương tác với các bạn trong lớp trao đổi với nhau về những hiểu biết của bản thân đối với văn bản truyện, tương tác với thầy cô bằng cách kể lại truyện theo cảm nhận của mình đối với văn bản truyện Cách nhìn nhận hoạt động kể chuyện như trên góp phần phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ của các em học sinh

Từ những nghiên cứu trên đã giúp cho chúng tôi có cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn Để từ đó định hướng cho đề tài của chúng tôi trong việc xây dựng một hệ thống bài tập để rèn luyện KNNN cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện Hệ thống bài tập này nếu được xây dựng phù hợp với đặc điểm, tâm lý của học sinh lớp 2 và mang tính khả thi cao, có thể cho phép chúng ta xây dựng thêm hệ thống bài tập rèn luyện KNNN trong dạy học Kể chuyện ở các khối học khác phù hợp với đối tượng học sinh khối lớp 3, 4, 5 và thậm chí dành cho học sinh lớp 1

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tiểu học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Chúng tôi xin điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài:

Cuốn sách “Một số vấn đề dạy hội thoại cho HS tiểu học”, Nguyễn Trí,

2009, đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về hội thoại, giới thiệu nội dung chương trình hội thoại, giới thiệu các kiểu bài tập dạy học KNNN trong bộ SGK TV tiểu học, trong đó có kiểu bài tập rèn KNNN cho HS Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ý kiến: phương pháp đóng vai là phương pháp đặc trưng dạy các bài tập hội thoại và dạy KNNN cho HSTH

Trong đề tài Khoa học và Công nghệ “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn

kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt”, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Khánh Hà, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Kim Oanh và Lê Thanh Thủy,

2008, đã xác định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng

Trang 24

tăng cường thực hành, luyện tập Cũng trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nói độc thoại, nói hội thoại cho học sinh tiểu học, học sinh thuật lại câu chuyện theo sự sáng tạo của bản thân mà không làm thay đổi nội dung của văn bản Việc để học sinh phát huy sự sáng tạo của mình góp phần giúp học sinh chủ động vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống giao tiếp thực tiễn trong cuộc sống

Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn KN nói và viết theo hướng giao tiếp trong hai công trình “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu

học theo hướng giao tiếp” và “Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt” Qua đó, tác giả

nhấn mạnh vấn đề hội thoại theo hướng giao tiếp, đồng thời cho rằng: hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm theo mục đích đã được đặt ra Đặc biệt, tác giả Ngô Hiền Tuyên (2013) với đề tài “Rèn kĩ năng nghe nói cho

học sinh lớp 1 trong dạy học môn Tiếng Việt” đã đưa ra những nội dung và biện

pháp rèn kĩ năng nghe nói cho HS lớp 1 Những nội dung và biện pháp này được xác định một cách rõ ràng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập thực hành và thiết kế một số giờ dạy học mẫu, đề tài cũng đưa ra quy trình tổ chức rèn kĩ năng nghe - nói Đồng thời, đề tài còn chỉ rõ định hướng vận dụng vào thực tiễn dạy học Tiếng Việt hiện nay Những đề xuất này là tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thiết kế, xây dựng bài tập cũng như định hướng cho quá trình tổ chức dạy học rèn kĩ năng nghe - nói cho HS lớp 2 ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Gần đây nhất, trong tài liệu tập huấn cho giáo viên tiểu học về đánh giá hoạt động học tập môn Tiếng Việt của học sinh tiểu học theo định hướng phát triển năng lực, tác giả Nguyễn Thị Ly Kha, Phạm Hải Lê, 2015, đã đề xuất các nội dung, các tiêu chí đánh giá kĩ năng nghe - nói, thang độ đánh giá kĩ năng nghe - nói; hướng dẫn học sinh tự đánh giá kĩ năng kĩ năng nghe - nói Những nội dung và thang độ cùng các tiêu chí này được chúng tôi sử dụng để biên soạn các phiếu khảo sát,

Trang 25

phỏng vấn kĩ năng nghe - nói của HS Đồng thời đây cũng là căn cứ quan trọng để chúng tôi xây dựng các bài tập rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh

Những điều trên cho thấy, việc học Tiếng Việt nói chung và việc rèn KNNN nói riêng ở tiểu học cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ của trẻ để tiếp tục phát huy năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy bằng ngôn ngữ của các em Việc xây dựng bài tập rèn KNNN cho học sinh lớp 2 là một việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ cho các em học sinh có nền tảng cơ bản để tiếp tục học ở các bậc học cao hơn Một khi KNNN của học sinh được hình thành thì việc hình thành năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, cũng sẽ phát triển theo, đáp ứng với yêu cầu chương trình giáo dục sau năm 2018

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của học sinh lớp 2

Các nghiên cứu về tâm lý nhận thức của HS lớp Hai1 đã chỉ rõ tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, thường gắn với hành động trực quan Nhận thấy điều này nên đề tài của chúng tôi thiết kế các hoạt động nhằm thu hút học sinh bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với tiết dạy bình thường, khi đó sẽ kích thích học sinh cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác nội dung văn bản kể chuyện Qua đó, cũng tạo môi trường để học sinh được trải nghiệm việc rèn luyện kĩ năng nghe – nói

Học sinh lớp 2, chú ý có chủ định còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này học sinh chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có sử dụng đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập Dựa vào đặc điểm này, tác giả đã sử dụng mô hình trực quan cũng như tổ chức các hoạt động học tập sinh động với nhiều tranh ảnh, nhiều trò chơi và các hoạt động học tập khác trong tiết dạy Kể chuyện để giúp học sinh kiểm soát được nội dung rèn luyện KNNN

1 Nguồn: http://nt-foundation.com/index.php?option=com_content&task=view&id=693&Itemid=303

Trang 26

Dựa vào đặc điểm này, người nghiên cứu tiến hành hoạt động dạy học với

phương tiện trực quan phong phú: Sử dụng tranh ảnh, phim ảnh; mô hình trực quan sinh động; đặt ra một hệ thống câu hỏi như một khuôn khổ hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận để giúp học sinh xây dựng những hiểu biết về truyện cho riêng mình

Việc ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Chính vì thế, khi yêu cầu học sinh kể lại câu chuyện thì các em đọc thuộc lòng nội dung văn bản Tập đọc đã học tiết trước Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do các em học sinh lớp 2 mới bắt đầu làm quen với phân môn Kể chuyện.Trong khi đó tiêu chí đánh giá học sinh của giáo viên lại đưa ra khá gắt gao yêu cầu học sinh phải sáng tạo, sử dụng từ ngữ của chính mình nhưng không làm thay đổi nội dung văn bản Như vậy, làm thế nào để khắc phục thực trạng nêu trên? Bài tập được chúng tôi xây dựng sẽ góp phần khắc phục những lỗi này, giúp học sinh kể lại câu chuyện một cách tự nhiên hơn bằng lời kể của mình

Để phát huy sự ghi nhớ cho học sinh lớp 2 trong giờ học Kể chuyện, tác giả

đã thực hiện sáng tạo mô hình “con rối”, trên đó thể hiện đầy đủ các biểu tượng, giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn từng biểu tượng tương ứng với từng phần, từng đoạn của câu chuyện Học sinh sẽ dễ dàng định hình về cấu trúc của câu chuyện gồm bao nhiêu phần, chuyện kể về nhân vật nào, cảm xúc của nhân vật

1.2.2 Lý thuyết hội thoạivà ứng dụng trong dạy học

Riêng về phân môn kể chuyện, học sinh phải hình thành được kĩ năng độc thoại (kể lại câu chuyện đã đọc, đã nghe), kĩ năng đối thoại (thể hiện ở những vai diễn khác nhau, có kèm theo cử chỉ, nét mặt, điệu bộ ), kỹ năng nghe (theo dõi câu chuyện để kể tiếp hoặc đưa ra ý kiến, lời nhận xét để bổ sung) Nếu trong giờ Kể chuyện mà GV cho học sinh phát huy đầy đủ các kĩ năng nói trên thì sẽ đạt yêu cầu

về việc rèn luyện KNNN

Theo Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” Lý thuyết hội thoại chỉ rõ: giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói là phổ biến và chủ yếu Riêng môn Kể chuyện, nhân tố hội thoại

Trang 27

được thể hiện rõ nhất thông qua tình huống hội thoại, nhân vật hội thoại và môi trường hội thoại

+ Tình huống hội thoại: Là hoàn cảnh hội thoại cụ thể, xác định được các

nhân vật tham gia hội thoại có chủ ý và làm nảy sinh cuộc hội thoại

+ Nhân vật hội thoại: là những người tham gia hội thoại, hiểu và nắm rõ vai

hội thoại đối với các nhân vật khác khi tham gia hội thoại Đảm bảo giữa người nói

và người nghe có sự luân phiên thay đổi lượt lời

+ Môi trường hội thoại: Rất quan trọng vì nó có thể làm cho cuộc hội thoại

diễn ra thành công và suông sẻ Do vậy, hai yếu tố không gian và thời gian được chú trọng hơn trong việc xác lập một môi trường dạy học tích cực, có sự trao đổi luân phiên giữa thầy và trò trong bối cảnh xảy ra tình huống hội thoại

Do vậy, đề tài này hướng đến việc rèn luyện kĩ năng nghe - nói nhiều hơn, việc rèn luyện KNNN sẽ giúp cho học sinh đạt được kĩ năng giao tiếp, lâu dần sẽ hình thành năng lực giao tiếp Chính vì thế, kĩ năng độc thoại và hội thoại được chúng tôi sử dụng trong hầu hết các bài dạy Kể chuyện thông qua hoạt động cho học sinh đóng vai theo nhân vật Qua việc đóng vai chúng tôi sẽ đánh giá được trọn vẹn sự hài hoà về ngữ âm, giọng điệu trong khi nói và kể của từng học sinh, thấy được sự linh hoạt trong việc sử dụng từ ngữ để đối đáp với các nhân vật khác, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ cho học sinh Từ đó giúp học sinh rèn luyện KNNN trong giờ học Kể chuyện

1.2.3 Lý luận dạy học ngôn ngữ thứ nhất

Trên bình diện giáo dục, ở bậc học tiểu học, bốn kĩ năng nghe - nói - đọc - viết

đã được Nhà trường, giáo viên quan tâm sâu sắc trong việc rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho các em học sinh Giai đoạn đầu tiểu học (tính từ lớp 1 đến lớp 3) thì kĩ năng nghe - nói cũng được chú trọng và quan tâm hơn bởi lẽ việc giáo dục ngôn ngữ theo ông cha ta thời xưa thường rất xem trọng việc “học ăn học nói, học gói học mở”, “Ăn có nhai, nói có nghĩ” “Kim vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời” Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ

Trang 28

bản để học sinh tiếp tục học ở cấp học cao hơn Hơn hết là giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ biết nghe, nói, đọc, viết cũng như thiết lập một số hiểu biết về kĩ năng giao tiếp, hợp tác và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống

Xét từ góc độ tiến trình học tập, tiết kể chuyện có hai hoạt động chính mà người học cần thực hiện Đó là hiểu truyện và kể lại truyện Đây cũng là hai mục tiêu quan trọng của mỗi tiết học kể chuyện Dễ dàng thấy hai hoạt động này có quan

hệ mật thiết với nhau Hiểu chính là quá trình học sinh nhập nội dung truyện thành

hệ thống ý tưởng của bản thân và là tiền đề để học sinh thể hiện lại những ý tưởng

ấy qua lời kể của mình.2

Hoạt động hiểu truyện được học sinh nắm vững ở phân môn Tập đọc, trong khi hoạt động kể lại truyện được phân bổ ở phân môn Kể chuyện Chính vì thế mà

đề tài chúng tôi lựa chọn là để rèn KNNN qua hoạt động kể lại truyện Muốn học

sinh tích cực và sáng tạo trong việc kể đòi hỏi chúng ta phải tạo điều kiện cho các

em chủ động và hào hứng tìm hiểu truyện Đề tài cũng xây dựng một hoạt động giúp học sinh tìm hiểu truyện có hiệu quả, đó là hệ thống các câu hỏi trong phiếu bài tập nhóm, yêu cầu các nhóm trả lời dựa theo các biểu tượng hình ảnh: Câu chuyện nói đến nhân vật nào? Bối cảnh ra sao? Cú hích nào khiến nhân vật trở nên như vậy? Cảm xúc của nhân vật như thế nào? Nhân vật dự định sẽ làm gì? Kết quả,

hệ quả ra sao? Cách giải quyết để rút ra bài học là gì? Khi mỗi cá nhân học sinh trả

lời được hệ thống các câu hỏi nêu trên tức là đã thật sự hiểu truyện Và khi GV yêu cầu các em kể lại chuyện thì điều này sẽ trở nên rất dễ dàng đối với các em

Trong cuốn sách “Lý luận dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – Phần 2”, Hoàng Thị

Tuyết (2012) đã nói rõ:

Kể chuyện là hoạt động tạo lập một ngôn bản nói, học sinh tái tạo lại ý tưởng của truyện bằng cách vận dụng, phối hợp ngôn từ trong truyện với vốn ngôn ngữ riêng của mình để thuật truyện Đây là một trong những đặc điểm và cũng

là lợi thế của hoạt động kể chuyện trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao dần trình độ ngôn ngữ văn hóa và trình độ văn hóa ngôn ngữ cho học sinh tiểu học

2 Phương pháp – biện pháp dạy học Kể chuyện theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, Lý

luận dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – Phần 2, trang 286

Trang 29

Nội dung phát triển kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện bao gồm3:

Kĩ năng độc thoại: Kể lại câu chuyện đã học hay đã được nghe theo những

mức độ khác nhau cụ thể

+ Kể từng đoạn và kể toàn bộ câu chuyện + Kể theo lời lẽ trong văn bản và kể bằng lời của mình

Kĩ năng hội thoại: Tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau, bước đầu

biết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ)

Kĩ năng nghe: Theo dõi được câu chuyện bạn kể để kể tiếp hoặc nêu ý kiến bổ

sung, nhận xét

Nói tóm lại, hoạt động kể chuyện được xem là phương tiện giúp học sinh lớp 2 rèn luyện KNNN, sử dụng văn nói một cách tự nhiên trên cơ sở tiếp nhận thêm ngôn từ trong truyện, lâu dần sẽ hình thành hoạt động nói có ý thức Học sinh biết tạo lập lời nói cho riêng bản thân mình một cách có văn hóa, lễ phép và phù hợp với nội dung khi giao tiếp

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1 Chương trình, tài liệu rèn KNNN cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện

Sách Tiếng Việt lớp 2 bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ

điểm, học trong hai tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học ba tuần) Chương trình dạy

học Tiếng Việt lớp 2 bao gồm 6 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện; Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu; Tập làm văn

Về Tập đọc

Sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt 2 - tập 1 tập trung vào mảng “Học sinh –

Nhà trường – Gia đình” gồm 08 đơn vị học bao gồm:“Em là học sinh” (Tuần 1,2);

“Bạn bè” (Tuần 3, 4); “Trường học” (Tuần 5, 6); “Thầy cô” (tuần 7, 8); “Ông bà” (tuần 10, 11); “Cha mẹ” (tuần 12, 13) ; “Anh em” (tuần 14, 15); Bạn trong nhà”

3 Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) 2012 Sách giáo viên Tiếng Việt 2, NXB Giáo Dục Việt Nam

Trang 30

(Tuần 16,17) Trong đó, Tuần 9 dành để ôn tập giữa học kỳ II; tuần 35 ôn tập cuối

học kì II

SGK Tiếng Việt 2 – Tập 2 tập trung vào mảng “Thiên nhiên, Đất nước” bao

gồm 07 đơn vị học, với các chủ điểm sau:“Bốn mùa” (Tuần 19,20) ; “Chim chóc” (Tuần 21, 22); “Muông thú” (Tuần 23, 24); “Sông biển” (Tuần 25,26); “Cây cối” (Tuần 28,29); “Bác Hồ” (Tuần 30,31); “Nhân dân” (Tuần 32,33,34) Tuần 27 dành

để ôn tập giữa học kỳ II; tuần 35 – ôn tập cuối HK II

Về tập viết – Luyện từ và câu – Tập làm văn:

Học sinh được học 31 tiết trong cả năm học, tương ứng mỗi tuần 1 tiết, 16 tiết

ở học kỳ 1 và 15 tiết ở học kỳ 2

Như vậy, dựa vào kết quả thống kê và phân tích số liệu phân bố số tiết ở trên cho thấy chương trình môn Tiếng Việt đang chú trọng đến việc rèn kĩ năng đọc - viết, hơn là kĩ năng nghe - nói Phân môn Tập đọc chiếm số tiết cao nhất so với các phân môn còn lại (4 tiết/tuần) và phân môn Chính tả (2 tiết/tuần) trong khi đó, phân môn Kể chuyện chỉ dạy 1 tiết/1 tuần, nội dung văn bản kể chuyện được lấy từ văn bản tập đọc Thêm nữa, hệ thống các bài tập trong SGK còn quá đơn điệu về hình thức, chỉ xoay quanh đến việc cho học sinh kể lại một đoạn truyện hay kể hết bài

Hệ thống các bài dạy học Kể chuyện gắn liền với hệ thống các bài dạy học Tập đọc Bao gồm 31 văn bản tập đọc, tương ứng với 31 bài kể chuyện, mỗi chủ điểm được thiết kế 02 bài

Số lượng chữ trong mỗi bài Kể chuyện hoàn toàn phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 2, hệ thống bài tập được phân loại thành: Kể chuyện theo

Trang 31

tranh, kể chuyện theo dàn ý cho sẵn, kể chuyện phân vai, diễn lại một đoạn hoặc cả câu chuyện

a Kể theo tranh: Các tranh minh họa giúp HS nhớ lại nội dung bài tập đọc đã

học, đôi khi các tranh này còn đảo trật tự nhiệm vụ của HS là sắp xếp lại thứ tự các tranh cho đúng rồi mới kể

b Kể theo dàn ý cho sẵn: Trong Sách giáo khoa, có hệ thống câu hỏi có thể

cung cấp cho HS dàn ý hoặc giáo viên có thể đặt nhiều câu hỏi để học sinh hiểu và thành lập dàn ý cho bản thân mình khi yêu cầu thuật lại, kể lại câu chuyện

c Phân vai, diễn lại một đoạn hoặc cả câu chuyện: HS tiểu học rất thích đóng

kịch, qua hoạt động diễn kịch dần dần giúp các em phát triển kỹ năng nói, kỹ năng

kể, kỹ năng nghe để đưa ra những ý kiến phản hồi giúp các em hiểu sâu sắc hơn tính cách, tình cảm của nhân vật trong câu chuyện đã học

Tương ứng với mỗi hình thức kể đã được nêu trên, đề tài chúng tôi có xây dựng thêm một số bài tập khác để tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh Sản phẩm là

hệ thống các bài tập rèn KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2

Để xây dựng được hệ thống bài tập, chúng tôi căn cứ vào cơ sở thực tiễn về nội dung cũng như chương trình mà Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã ban hành Dưới đây là bảng phân phối chương trình Kể chuyện lớp 2

Bảng 1.1 Phân phối chương trình Kể chuyện Lớp 2

STT

ĐIỂM TÊN BÀI

1 1 - 2 Em là học

sinh

- Có công mài sắt

có ngày nên kim

- Ông Mạnh thắng thần Gió

2 3 - 4 Bạn bè - Bạn của 21 - 22 Chim - Chim Sơn

Trang 32

STT

ĐIỂM TÊN BÀI

Nai nhỏ

- Bím tóc đuôi sam

chóc ca và bông

cúc trắng

- Một trí khôn hơn trăm trí khôn

3 5 - 6 Trường học

- Chiếc bút mực

- Mảnh giấy vụn

23 - 24 Muôn

g thú

- Bác sĩ Sói

- Quả tim Khỉ

4 7 - 8 Thầy cô

Thầy cũ

- Người mẹ hiền

25 - 26 Sông

biển

- Sơn tinh Thủy tinh

- Tôm càng

và cá con

5 10 - 11 Ông bà

- Sáng kiến của bé Hà

- Bà cháu

28 - 29 Cây

cối

- Kho báu -Những quả đào

6 12 - 13 Cha mẹ

- Sự tích cây

vú sữa

- Bông hoa niềm vui

30 - 31 Bác

Hồ

- Ai ngoan sẽ được thưởng

- Chiếc rễ đa tròn

- Chuyện quả bầu

- Bóp nát quả cam

hàng xóm

- Tìm ngọc

Trang 33

Rõ ràng, SGK Tiếng Việt hiện nay đã tạo nhiều cơ hội cho HS luyện nói ở nhiều chủ đề khác nhau: Bạn bè, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em giúp học sinh có thể sắm vai qua các nhân vật, từ đó thể hiện tình cảm, lòng biết ơn và yêu thương chính bản thân mình, đến gia đình và xa hơn đến cộng đồng dân tộc Do vậy, từ chỗ phân tích này tác giả mong muốn trong các tiết dạy kể chuyện, cần tích hợp nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các câu chuyện cảm động được sưu tầm trên các trang mạng để giáo dục nhân cách cho học sinh Bởi lẽ, chỉ có thông qua hoạt động kể chuyện mới góp phần hình thành nhân cách, giáo dục cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh

1.3.2 Thực trạng việc rèn KNNN qua dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2

a Thực trạng Giáo viên rèn luyện KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện cho HS lớp 2 ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Để có được kết quả thăm dò đối với GV về việc rèn kĩ năng nghe nói cho HS lớp 2, chúng tôi tiến hành 4 bước khảo sát thăm dò:

Bước 1: Phát phiếu khảo sát GV (đang trực tiếp giảng dạy lớp 2 tại các trường

tiểu học) Khảo sát dựa vào các nội dung trong bảng hỏi

Bước 2: Thống kê, tổng hợp

Bước 3: Phân tích và nhận xét

Số liệu sẽ giúp cho chúng tôi mô tả và phân tích thực trạng việc giáo viên hiện nay có thật sự quan tâm đến việc rèn KNNN cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện hay không? Chúng tôi sử dụng phiếu khảo sát bao gồm 15 câu hỏi

và phát cho 55 giáo viên (đang giảng dạy lớp 2) tại 9 trường Tiểu học thuộc các Quận 2, quận 5, quận 6, quận Tân Phú, quận Tân Bình, quận Bình Tân Trong đó có

02 GV nam và 53 GV nữ, số năm công tác cao nhất là 30 năm, thấp nhất là 1 năm Dựa vào bảng hỏi chúng tôi nhóm các câu hỏi có nội dung liên quan đến việc

tổ chức các hoạt động cho học sinh tham gia trong giờ học Kể chuyện, bao gồm 4 mức độ sử dụng: “Rất thường xuyên”; “Thường xuyên”; “Thỉnh thoảng”; “Chưa

Trang 34

bao giờ” thành một bảng với tên gọi “Các hoạt động dạy - học chủ yếu trong phân môn Kể chuyện lớp 2”, kết quả thu được như sau:

Bảng 1.2 Các hoạt động dạy - học chủ yếu trong phân môn Kể chuyện lớp 2

CÁC MỨC ĐỘ SỬ DỤNG RẤT

THƯỜNG XUYÊN

THƯỜNG XUYÊN

THỈNH THOẢNG

CHƯA BAO GIỜ

1

GV có tổ chức các hoạt

động cho HS làm việc theo

cặp hoặc theo nhóm không?

động cho HS có cơ hội sử

dụng công nghệ thông tin

GV có bao giờ để HS tự giải

quyết vấn đề của mình rồi

trình bày trước lớp không?

Trang 35

TT CÁC HOẠT ĐỘNG

CÁC MỨC ĐỘ SỬ DỤNG RẤT

THƯỜNG XUYÊN

THƯỜNG XUYÊN

THỈNH THOẢNG

CHƯA BAO GIỜ

7

GV có cho học sinh sáng tác

một mẫu chuyện liên quan

đến nội dung kiến thức đang

Thầy/Cô có thường đánh giá

kỹ năng nghe - nói của học

sinh qua mỗi buổi học

không?

11

Thầy/ Cô có sử dụng

phương tiện trực quan để

giảng dạy trong tiết Kể

Trang 36

xuyên và liên tục sẽ giúp học sinh cải thiện và khắc phục những mặt hạn chế, duy trì

và phát triển những mặt ưu điểm, góp phần hình thành kỹ năng và năng lực cho HS

Và đây cũng là quy định đã được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cân nhắc trong văn bản Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT4 Ngoài ba hoạt động trên, GV còn tổ chức các hoạt động khác như: xây dựng kiến thức, xử lý tình huống, đóng vai hay diễn kịch, sáng tạo một câu chuyện tuy kết quả khảo sát không đạt tỉ lệ cao, song qua đó cho chúng tôi có cái nhìn tổng thể về thực trạng hiện nay

Nguyên nhân của thực trạng là một số ít GV đã mạnh dạn thay đổi hình thức tổ chức lớp học trong giờ dạy Kể chuyện, trong khi đó phần lớn GV còn thụ động do phải bám sách giáo khoa, và sách giáo viên Một phần nữa do cơ chế quản lý, áp lực khi phải tuân thủ theo các quy định của ngành làm cho GV không muốn phải tự đổi mới bản thân Ngay cả khi khảo sát giáo viên về câu hỏi “GV có tổ chức các hoạt động cho HS có cơ hội sử dụng công nghệ thông tin không?” thì tỉ lệ đạt được rất cao 43,64% ở mức độ sử dụng “thỉnh thoảng” Trong khi đó, hiện nay chúng ta đang đối mặt với cuộc cách mạng công nghệ lần 4.0 đầy nhiều thử thách mà việc không cho học sinh tiếp cận với công nghệ thông tin quả thật là một thiệt thòi cho các em học sinh Do vậy, trong đề tài này, người nghiên cứu mong muốn giáo viên cần thay đổi tư duy lẫn nhận thức trong việc thiết kế các hoạt động học tập đa dạng

và phong phú, làm cho học sinh yêu thích môn học Kể chuyện Có như thế, giáo viên mới lồng ghép việc rèn luyện KNNN cho học sinh lớp 2

Bảng 1.3 Nhận thức của Giáo viên đối với việc rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong giờ học Kể chuyện

4 Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh

tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 08 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo”

Trang 37

Qua bảng 1.3 cho chúng tôi thấy được, phần lớp giáo viên xem KNNN là kĩ năng quan trọng đối với các em HS lớp 2 trong giờ học Kể chuyện (chiếm tỉ lệ 81,82%) Xuất phát từ nhận định này nhưng khi so sánh kết quả khảo sát ở bảng 1.2 thì chúng tôi nhận thấy có sự không tương xứng Khi áp dụng vào thực tế dạy học, việc giáo viên có chú ý quan tâm, rèn luyện KNNN cho học sinh trong giờ Kể chuyện lại chỉ đạt 56,36% Chính vì điều này mà chúng tôi mong muốn có một hệ thống các bài tập dựa trên các hoạt động để giúp giáo viên tổ chức rèn luyện KNNN cho học sinh

Khi phỏng vấn giáo viên về quan điểm tích hợp trong dạy học Kể chuyện thì 100% GV đều cho rằng: “Kiến thức được xây dựng dựa trên sự tích hợp liên môn” Tức nghĩa là dạy học Kể chuyện không hẳn là thuật lại toàn bộ câu chuyện một cách máy móc, mà cần có sự linh hoạt, sự vận dụng hiểu biết vốn có của học sinh, từ đó

để giáo dục nhân cách sống, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học đạo đức, mĩ thuật để nhằm mục đích làm đẹp tâm hồn của các em Qua biểu đồ hình 1.1 cho ta thấy 83% GV không thích học sinh phải học thuộc lòng và kể lại nguyên

y văn bản kể chuyện mà trong tiết tập đọc các em đã học Điều này có ý nghĩa là học sinh cần phải sáng tạo, sáng tạo theo cách riêng của mình Nhưng khi chúng tôi

so sánh với kết quả ở bảng 1.2 thì kết quả ngược lại, (43,64% - 50,91%) GV “thỉnh

thoảng” tổ chức hoạt động cho HS được sáng tạo câu chuyện của mình Như vậy

giữa việc GV “muốn” và GV “hành động” lại không phù hợp với nhau Qua kết quả khảo sát cho chúng tôi thấy được sự không nhất quán giữa mục tiêu và hành động của GV trong việc rèn luyện KNNN cho học sinh trong giờ kể chuyện

Nguyên nhân có thể do đâu? Có thể xuất phát từ việc thi cử của học sinh, được biết phân môn kể chuyện là một môn phụ không tổ chức thi cử, nội dung thi cử chủ yếu là rèn luyện đọc, luyện viết chính tả Ngay từ đầu khi phân tích chương trình môn Tiếng Việt chúng ta cũng đã thấy rất rõ chương trình chú trọng đến việc rèn kĩ năng đọc - viết, xem nhẹ việc rèn KNNN Chính vì điểm này mà chúng tôi mong muốn sớm được cải thiện Học sinh nhất thiết phải rèn luyện KNNN để hình thành năng lực giao tiếp đáp ứng với yêu cầu tiến bộ của xã hội

Trang 38

Hình 1.3 Sự yêu thích của GV qua việc HS kể, thuật lại câu chuyện

b Thực trạng KNNN của HS lớp Hai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến học sinh dựa vào 14 câu hỏi trong bảng hỏi và phát cho 73 HS (đối tượng là HS lớp 2), trong đó có 36 HS nam và 37

HS nữ Thời gian phát phiếu khảo sát là cuối học kỳ 2 (năm học 2017 – 2018)

Kết quả khảo sát thu được như sau:

Bảng 1.4 Các hoạt động của HS liên quan đến việc rèn KNNN trong dạy học phân môn Kể chuyện

RẤT THƯỜNG XUYÊN

THƯỜNG XUYÊN

THỈNH THOẢNG

CHƯA BAO GIỜ

1

Mỗi năm, Trường em có tổ

chức cá chuyên đề, hội thi

Kể chuyện tại trường

không?

15,07% 20,55% 35,62% 30,14%

2

Trong giờ kể chuyện, GV

thường cho các em đóng vai

theo nhân vật trong truyện?

12,33% 19,18% 27,40% 41,10%

3

Trong giờ học Kể chuyện,

em có phát biểu ý kiến hay

nhận xét cho nhau không?

21,92% 31,51% 31,51% 16,44%

Trang 39

TT CÁC HOẠT ĐỘNG

RẤT THƯỜNG XUYÊN

THƯỜNG XUYÊN

THỈNH THOẢNG

CHƯA BAO GIỜ

4

Thầy/ Cô của các em có tổ

chức cho các em giải quyết

các tình huống diễn ra trong

lớp học không?

9,59% 24,66% 20,55% 46,58%

5

Em đã từng lên bảng trình

bày hay kể lại, thuật lại câu

chuyện nào chưa?

Qua bảng 1.4 thống kê lại các hoạt động mà GV và Nhà trường đã tổ chức để đánh giá và xem xét việc rèn luyện KNNN cho HS trong giờ học kể chuyện như thế nào, chúng tôi đánh giá, tỉ lệ cao nhất thường rơi vào tiêu chí đánh giá “không bao giờ”, cụ thể là 58,90% HS “chưa bao giờ”, lên bảng để trình bày hay kể lại, thuật lại câu chuyện, bên cạnh đó 46,58% “chưa bao giờ” Thầy/ Cô tổ chức cho các em giải quyết các tình huống diễn ra trong lớp học” và 41,10% “chưa bao giờ” cho các em đóng vai theo nhân vật trong truyện Qua bảng khảo sát này chúng tôi thấy rất rõ thực trạng việc rèn luyện KNNN trong nhà trường tiểu học hiện nay còn gặp khá nhiều bất cập Trong khi đó, khảo sát về sự yêu thích của các em đối với môn học

Kể chuyện thì chỉ đạt ở mức 19,18%, tỉ lệ này thấp hơn ở môn học Tập đọc và Chính tả

Bảng 1.5 Sự yêu thích môn học và khó khăn mà HS gặp phải

Trong môn Tiếng

Trang 40

Qua kết quả khảo sát thu nhận được từ bảng 1.4 và 1.5 cho ta thấy có sự tương quan giữa sự yêu thích môn học Kể chuyện với các hoạt động liên quan trong giờ học kể chuyện Nguyên nhân là vì: “Chưa bao giờ các em được tham gia đóng vai trong giờ học kể chuyện (41,10%); chưa bao giờ các em có cơ hội giải quyết các tình huống diễn ra trong lớp học (46,58%); chưa bao giờ các em lên bảng để trình bày hay kể lại, thuật lại câu chuyện nào (58,90) Vậy làm sao để học sinh yêu thích phân môn Kể chuyện? điều đó yêu cầu chúng ta phải giải quyết các nguyên nhân đã nêu ở trên để từ đó khắc phục Từ đó, xây dựng thêm các dạng bài tập đáp ứng cho học sinh

Bảng 1.6 Các hoạt động dạy học mà GV thường tổ chức trong giờ Kể chuyện

HS tham gia diễn kịch lại chiếm tỉ lệ 0%, nghĩa là GV chưa hề cho các em tham gia hoạt động trải nghiệm diễn kịch về những câu chuyện mà các em đã học

Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc xem môn Kể chuyện là môn phụ, bảng khảo sát cho thấy thực trạng hiện nay giáo viên chưa thực sự quan tâm đúng mức vấn đề rèn KNNN cho học sinh trong giờ học Kể chuyện Điều này, chúng tôi sẽ ghi nhận và tìm hướng khắc phục khi lên kế hoạch dạy học môn Kể chuyện

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w