Đấy là lý do chúng tôi chọn đề tài “Truyền Đi sâu vào nghiên cứu truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến, để thấy được những sáng tác của nhà thơ luôn có s
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác gi ả luận án
Hà Ng ọc Hòa
Trang 4
M ỤC LỤC
M ỤC LỤC 4
M Ở ĐẦU 7
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 7
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7
3 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8
3.1 Giai đoạn trước năm 1945 8
3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 9
3.3 Giai đoạn sau năm 1975 11
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
4.1 Phương pháp hệ thống 15
4.2 Phương pháp lịch sử - xã hội 15
4.3 Phương pháp so sánh 16
5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI VẤN ĐỀ 16
5.1 Đối tượng nghiên cứu 16
5.2 Ph ạm vi vấn đề 16
6 K ẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 16
Chương 1: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TRUYỀN THONG TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN 17 1.1 Tìm hi ểu văn bản tác phẩm Nguyễn Khuyến 17
1.2 Quá trình chuy ển biến tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến 24
1.2.1 Nh ận diện sự trống rỗng, vô nghĩa của tầng lớp trí thức đương thời 25
1.2.2 Ph ản ánh cuộc sống, con người nông thôn 35
Trang 51.3 Nh ững ảnh hưởng truyền thông trong thơ Nguyễn Khuyến 40
1.3.1 Tìm hi ểu truyền thông bác học và truyền thông bình dân 40
1.3.2 S ự kết hợp của những yếu tố truyền thống trong thơ Nguyên Khuyến 45
Ti ểu kết chương I 50
Chương 2: TRUYỀN THỐNG BÁC HỌC VÀ TRUYỀN THÔNG BÌNH DÂN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN XÉT TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VE CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 52 2.1 Quan ni ệm nghệ thuật về con người 52
2.1.1 Con người ưu tư 53
2.1.2 Con người tự trào 60
2.1.3 Con người của cuộc sống nông thôn 68
2.2 Không gian ngh ệ thuật 74
2.2.1 Không gian tâm tr ạng 76
2.2.2 Không gian sinh ho ạt 83
2.3 Th ời gian nghệ thuật 91
2.3.1 Th ời gian tâm trạng 92
2.3.2 Th ời gian sự kiện 102
Ti ểu kết chương 2 107
Chương 3: TRUYỀN THỐNG BÁC HỌC VÀ TRUYỀN THONG BÌNH DÂN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN XÉT TỪ NGÔN NGỮ VÀ THỂ LOẠI 109
3.1 Ngôn ng ữ 109
3.1.1 Ngh ệ thuật sử dụng điển cố, thi liệu Hán học 110
3.1.2 Ngh ệ thuật sử dụng ca dao, thành ngữ, tục ngữ 118
3.2 Th ể loại 124
Trang 63.2.1 Truy ền thống và sáng tạo trong thơ Nôm Đường luật 125
3.2.2 Truy ền thống và sáng tạo trong thơ hát nói 136
3.2.3 Truy ền thống và sáng tạo trong câu đối 142
Ti ểu kết chương 3 147
KẾT LUẬN 148
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 151
Ti ếng Việt 151
Ti ếng Pháp 161
NH ỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 162
Các bài báo 162
Sách 162
Trang 7M Ở ĐẦU
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Trải qua mười thế kỷ xây dựng và phát triển, văn học trung đại Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn trong việc xây dựng nền văn học mang đậm bản sắc dân tộc và khẳng định vị trí của mình so với các nước láng giềng phương Đông Để có được những thành tựu ấy, các nhà thơ trong quá trình sáng tác vừa biết kế thừa, tiếp thu truyền thống, vừa cách tân, đưa văn học đi xa hơn trong việc thực hiện những nhiệm vụ lớn lao của đất nước, hạnh phúc của con người Vì thế, kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật là điều kiện không thể thiếu và không thể tách rời nhau trong quá trình phát triển văn học
Văn học Việt Nam dường như ở giai đoạn nào cũng có sự tác động của truyền thống bác
học và truyền thống bình dân Cố nhiên, cách tác động và sự tiếp thu của các giai đoạn, các tác
giả có khác nhau Nguyễn Khuyến (1835 -1909) là một trong những nhà thơ lớn của văn học
Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tác phẩm của ông để lại phong phú
và đa dạng trên nhiều thể loại như thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, câu đối, hát nói, văn tế Thơ Nguyễn Khuyến không chỉ có ý nghĩa phản ánh hiện thực như các nhà thơ đương thời, mà còn
có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của lịch sử văn học nói chung Sự xuất hiện của nhà thơ đã góp phần đưa thơ ca Việt Nam từ trung đại chuyển dần sang cận đại Những thành công
của nhà thơ về nội dung và hình thức phản ánh, thể hiện sự kế thừa một cách sáng tạo truyền
thống bác học và truyền thống bình dân Vì vậy, để hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về thơ Nguyễn Khuyến, không thể không tiếp cận những truyền thống này và qua đó xem xét lại cách tiếp cận truyền thống của các giai đoạn văn học trước Đấy là lý do chúng tôi chọn đề tài “Truyền
Đi sâu vào nghiên cứu truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến, để thấy được những sáng tác của nhà thơ luôn có sự kết hợp, sáng tạo tài tình tính uyên bác của truyền thống bác học với tính nôm na giản dị của truyền thống bình dân Từ đó, rút ra kết luận về những đóng góp có giá trị của nhà thơ cho nền văn học nước nhà
Trang 8Thơ văn Nguyễn Khuyến từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và thu được
những thành tựu to lớn Tuy nhiên các công trình ấy hầu như chỉ xoay quanh vấn đề "Con người thơ" Nguyễn Khuyến Ở đó, các nhà nghiên cứu lý giải tiếng cười trào phúng, phân tích
tư tưởng yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, tâm hồn thơ gắn liền với người dân, với làng cảnh Việt Nam, giải quyết bi kịch xuất - xử theo từng cảm hứng riêng lẻ mà ít nhận thấy tất cả đều
thống nhất trên hành trình tư tưởng của nhà thơ Mải miết đi vào thế giới con người, các nhà nghiên cứu chưa để ý đến cái làm nên tâm hồn nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến chính là mảnh đất truyền thống của văn học Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về Nguyễn Khuyến, chúng tôi cố gắng đi vào toàn bộ sáng tác của ông, và so sánh đối chiếu với thơ ca của các nhà thơ lớn trong từng giai đoạn văn học cụ thể, để có những đánh giá chính xác về con người và tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến
3 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Có thể thấy rằng, gần một thế kỷ qua "Nguyễn Khuyến - Đời và thơ" luôn được các nhà nghiên cứu ở cả hai miền Nam - Bắc quan tâm và định vị Dường như cứ mỗi chặng đường nghiên cứu, lại phát hiện thêm đôi điều mới lạ về nhà thơ Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì do tính chất mục đích của các công trình nghiên cứu chi phối, nên đến nay vẫn chưa có công trình, bài viết nào chuyên sâu tìm hiểu truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến Để thấy được quá trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi chia thành ba giai đoạn như sau:
3.1 Giai đoạn trước năm 1945
Các công trình nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Khuyến chưa nhiều Năm 1925, tác phẩm
"Quốc văn trích diễm" của Dương Quảng Hàm giới thiệu 7 bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến Đến năm 1934, trong tác phẩm "Nam thi hợp tuyển", nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc đã có
những nhận xét tinh tế về Nguyễn Khuyến "Ông là một bậc văn hay có tiếng, văn nôm ông thì
đủ các lối ca, từ, thi, phú mà lối nào cũng lỗi lạc hơn người Xét riêng thơ ông, thì ông là người thuộc nhiều ca dao, tục ngữ, bài nào khí văn cũng dồi dào, ý tứ cũng kín đáo." [98; 313] Và đến năm 1943, trong "Việt Nam văn học sử yếu", nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm đã xếp nhà thơ Nguyễn Khuyến vào "khuynh hướng về trào phúng": "Ông cũng hay giễu cợt người đời, chỉ trích thói đời một cách nhẹ nhàng kín đáo, rõ ra một bậc đại nhân quân tử muốn dùng
Trang 9lời văn trào phúng để Khuyến răn người đời." [38; 398] Ngoài ra trong giai đoạn này còn có hai bài viết trao đổi về bài thơ "Ông phỗng đá " của Việt Thường và "về bài của ông Việt Thường" của Nguyễn Phường trên báo Tri tân năm 1942, khẳng định bài thơ "Ông phỗng đá"
và bài hát nói cùng tên là của Tam Nguyên Yên Đổ
3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Đất nước bị chia cắt thành hai miền: miền Nam và miền Bắc Thời kỳ này thơ văn Nguyễn Khuyến đã được in và phổ biến rộng rãi Các nhà nghiên cứu bắt đầu tiếp cận thơ Nguyễn Khuyến với những cảm quan, nhận định khác nhau
- Ở miền Nam: Giai đoạn này có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến như
Nguyễn Văn Mùi "Luận đề về Nguyễn Khuyến" (1959); Lam Giang, Vũ Ký "Giảng luận về Nguyễn Khuyến" (1960); Minh Văn, Xuân Tước "Luận về Nguyễn Khuyến" (1960); Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu "Khảo luận về Nguyễn Khuyến" (1960); Phạm Văn Diêu "Việt Nam văn học giảng bình" (1961) với những ý kiến, nhận xét khác nhau Đáng chú ý hơn cả là
những nhận xét về đề tài nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến Nhóm các nhà nghiên cứu Lê Kim Ngân, Nguyễn Tường Minh và Võ Thu Tịnh trong "Văn học Việt Nam thế kỷ XIX" (1961) cho rằng "Ta chưa thấy một thi sĩ Việt Nam nào tha thiết với đồng quê của đất nước nhà
bằng Nguyễn Khuyến Ông như sống hẳn với nông dân, cũng có cái lo lắng, băn khoăn, cái tính chất phác, chân thật của họ." [97; 397]; nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ trong tác phẩm
"Việt Nam văn học sử giản ước tân biên" (1965 Tập 3) nhận định "Thơ ông phản ánh được cụ
thể phong tục và cảnh sắc quê hương, thơ ông có tính chất dân tộc đậm đà, một tính chất mới
phảng phất trong thơ Xuân Hương và vắng thiếu trong thơ Trung Quốc." [102; 51] Với những
nhận định tương tự, trong tác phẩm "Bảng lược đồ văn học Việt Nam" (1967), nhà nghiên cứu Thanh Lãng cho rằng Nguyễn Khuyến " còn là ông tổ của lối thơ bình dân, bình dân trong
những đề tài bình thường, bình dân với những tình cảm hồn nhiên, chất phác, bình dân với
những hình ảnh thôn quê, đồng ruộng." [76; 28] Trên cơ sở những bài thơ viết về nông thôn, nhà nghiên cứu Hà Như Chi đã phát hiện ra nhà thơ Nguyễn Khuyến đã "dung hòa được cái cao nhã của nhà nho với cái xuề xòa chất phác của người dân đồng ruộng." Trong tác phẩm
"Việt Nam thi văn giảng luận" (1967) nhà nghiên cứu Hà Như Chi tiếp tục đánh giá cao Nguyễn Khuyến "Tuy học rộng đỗ đạt cao, con người cụ luôn luôn tỏ ra điều hòa cân đối
Trang 10không thiên lệch và nhất là không xa lìa gốc gác dân tộc Tóm lại, cụ là một "nhà nho Việt Nam" với đầy đủ ý nghĩa của danh từ ấy." [13; 765]
Như vậy, ở miền Nam, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến, đều đánh giá cao tính cách bình dân trong những đề tài viết về nông thôn của nhà thơ
- Ở miền Bắc: So với miền Nam, thì công việc sưu tầm, khảo dị, nghiên cứu về thơ Nguyễn Khuyến lại mang tính hệ thống và liên tục Trong tác phẩm "Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX" (1952), hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sủng xếp nhà thơ vào "khuynh hướng trào phúng" cùng với Nguyễn Văn Lạc, Trần Tế Xương "Tuy tiêu cực, yên vui với thiên nhiên nơi thôn giã nhưng vẫn không quên đánh thức lòng ái quốc của đồng bào và dùng lời châm biếm để chỉ trích bọn tham quan lại nhũng hại dân, bán nước." [114; 129]
Cùng chung nhận định, Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Lê Trí Viễn trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" (1957) đã xem nghệ thuật trào phúng và trữ tình của nhà thơ làm nên sắc thái mới đầy giá trị hiện thực cho văn học giai đoạn này
Gần hai năm sau, nhà nghiên cứu Văn Tân với "Nguyễn Khuyến, nhà thơ Việt Nam kiệt
xuất", vận dụng quan điểm và phương pháp nghiên cứu mới đã phần nào định vị lại thơ văn Nguyễn Khuyến Thành công của tác giả là đã nhìn thấy phần tích cực của tư tưởng Nho giáo chính thống trong nhà thơ và cuộc sống gần gũi với nhân dân đã làm nên "Tư tưởng yêu nước
của Nguyễn Khuyến nhất trí với tư tưởng yêu nước của nhân dân." [115; 36]
Thời kỳ này, bên cạnh "Nguyễn Khuyến, nhà thơ Việt Nam kiệt xuất" còn có "Văn học trào phúng Việt Nam" (1958) của Văn Tân; "Lịch sử văn học Việt Nam (Sơ giản)" (1961) của Nguyễn Hồng Phong, Văn Tân; "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" (1964) của Viện Văn học, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận tư tưởng trung quân yêu nước của một nhà nho chính thống, tố cáo hiện thực xã hội bằng tiếng cười trào phúng
Một cái mốc quan trọng trong giai đoạn này là sự ra đời tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" (1971) với bài tiểu luận của Xuân Diệu ở đầu sách Việc sưu tầm một khối lượng thơ
chữ Hán và chữ Nôm tương đối lớn trong tập sách đã giúp cho các nhà nghiên cứu nhìn nhận, đánh giá Nguyễn Khuyến một cách thỏa đáng và uyển chuyển hơn Bên cạnh một Nguyễn
Trang 11Khuyến, nhà thơ yêu nước đã có một Nguyễn Khuyến, nhà thơ trữ tình Đặc biệt, bài tiểu luận
"Đọc thơ Nguyễn Khuyến của Xuân Diệu" có những nhận định mới lạ và làm sáng tỏ đôi điều
"mù mờ" (Trần Đình Hượu) Với Xuân Diệu, lần đầu tiên Nguyễn Khuyến đi vào văn học với
cụm từ "nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam" Cũng trong năm này, giáo trình "Văn
học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX" (1971) của nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã khẳng định
"dòng sông" dân gian tạo nên sự phong phú cho thơ Nguyễn Khuyến trong cái nhìn truyền
thống "Nguyễn Khuyến tiếp tục học tập ca dao, tục ngữ của những nhà thơ Nôm những thế kỷ trước, nhưng ông có cách phát triển riêng của mình Cho nên tắm mình trong dòng sông ấy, ngôn ngữ thơ ca của Nguyễn Khuyến không những phong phú trong cách nói, mà còn mỹ lệ,
gợi cảm, và có trường hợp nhà thơ có những sáng tạo về ngôn ngữ rất đặc biệt." [82; 763] Ngoài ra trong giai đoạn này còn có các bài trao đổi, các công trình nghiên cứu khác về Nguyễn Khuyến như "Thơ văn yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX" (1970) của nhiều tác
giả; "Thơ văn trào phúng Việt Nam" (1974) của Văn Tân; "Về cuốn "Thơ văn Nguyễn Khuyến" và bài tiểu luận của Xuân Diệu" (1972) của Thêu Dương; "Về cuốn "Thơ văn Nguyễn Khuyến" (1972) của Nguyễn Công Hoan Nhìn chung những công trình này vẫn chưa có phát
hiện gì mới và nói như nhà nghiên cứu Vũ Thanh "Việc nghiên cứu văn học theo quan điểm xã
hội, lịch sử đã đem lại nhiều thành công nhưng đồi khi được đẩy lên quá cao dẫn đến việc coi
nhẹ giá trị nghệ thuật của tác phẩm "[134; 25]
Tóm lại, những công trình nghiên cứu thơ văn Nguyễn Khuyến trong giai đoạn này ở
miền Bắc đã đạt nhiều kết quả khả quan và đem đến cho người đọc bức chân dung khá hoàn
hảo về Nguyễn Khuyến Đã có nhiều bài viết tiếp cận phong cách thơ Nguyễn Khuyến, ngôn
ngữ thơ Nguyễn Khuyến, sự kết hợp hài hòa giữa phong cách bác học và bình dân Tất cả
những thành tựu trên sẽ được người đi sau kế thừa và tiếp tục phát huy
3.3 Giai đoạn sau năm 1975
Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến tiếp tục được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu
bằng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau
Chưa tách mình ra khỏi quan điểm xã hội, lịch sử, nên các tác phẩm "Lịch sử văn học
Việt Nam" (Tập 4A 1976) của Lê Hoài Nam và "Văn tuyển văn học Việt Nam" (1981) của hai
Trang 12tác giả Nguyễn Đình Chú và Nguyễn Khâm vẫn "đứng yên", chưa có gì đổi mới so với giai đoạn trước
Nhưng chỉ một thời gian ngắn, Trần Thanh Xuân với bài viết "Mối quan hệ giữa thơ trào phúng và thơ trữ tình trong thơ Nguyễn Khuyến" (1983) đã báo hiệu sự chuyển mình từ quan điểm xã hội sang tiếp cận thi pháp học, bằng những nhận xét sâu sắc "Nhìn chung, con người thi nhân qua hai tấm gương thơ, có khi là một hình ảnh cùng song song xuất hiện, có khi là
những nét đơn nhất mâu thuẫn với nhau, song tất cả đều hòa hợp lại để khắc họa lại một chân dung khá trọn vẹn" [166; 95] và đã nhìn thấy cả hai mảng thơ trào phúng, trữ tình đều là "biểu
hiện của trạng thái tính cách bi kịch"
Nếu như nhà nghiên cứu phê bình Engux Uylxơn khẳng định "Tôi không tin rằng trong nghệ thuật nhất định phải có sự tiến bộ" thì trong nghiên cứu văn học sự "tiến bộ" là điều đáng quan tâm Sự đổi mới trong cách tiếp cận đã ghi nhận sự thành công đáng trân trọng của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền trong bài viết "Nguyễn Khuyến rất quen mà còn rất lạ" (1982)
và đặc biệt là cuốn sách "Nguyễn Khuyến tác phẩm" (1984) Cho đến nay đây vẫn là một cuốn sách giới thiệu một cách đầy đủ nhất thơ văn của Nguyễn Khuyến Không còn là những định
ngữ ước lệ như các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả đã "khai thác" từng mảng thơ riêng lẻ trong
từng thời kỳ nhất định để làm rõ tư tưởng nhà thơ và hệ thống lại vấn đề "Khi nghiên cứu về ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết, người ta thấy ở các nhà thơ lớn, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho đến Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du đều chịu ảnh hưởng
lớn của văn học dân gian Nguyễn Khuyến cũng như thế." [52; 81]
Nhưng việc nghiên cứu cuộc đời, thơ văn Nguyễn Khuyến một cách đầy đủ và toàn diện
nhất đã diễn ra nhân dịp kỷ niệm lần thứ 150 ngày sinh Nguyễn Khuyến (15/11/1985) Viện văn học đã cùng Sở Văn hóa thông tin và Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh phối hợp tổ
chức Hội nghị khoa học lớn về nhà thơ 70 tham luận của Hội nghị thông qua nhiều mảng tài
liệu mới đã lấp đi nhiều khoảng còn trống trong sưu tầm, nghiên cứu về Nguyễn Khuyến Và cũng từ 70 tham luận ấy, Viện văn học đã tuyển chọn được 27 tiểu luận để hình thành tác phẩm
"Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ" Phần lớn những tiểu luận này đã được giới thiệu trên
Tạp chí văn học số 4 - 1985 và về sau được nhà nghiên cứu Vũ Thanh tuyển chọn lại trong công trình "Nguyễn Khuyến - về tác gia và tác phẩm" (2001) Đây là những tiểu luận nghiên
Trang 13cứu áp dụng phương pháp phân tích thi pháp tác giả như "Sự đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách" của Nguyễn Huệ Chi; "Dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc" của Nguyễn Huệ Chi; "Vấn đề xuất xử của nhà nho và sự lựa chọn của nhà thơ" của Trần Đình Hượu; "Tính bi kịch trong thơ Nguyễn Khuyến" của Vũ Đức Phúc; "Đề tài thiên nhiên và quan điểm thẩm mỹ" của Đặng Thị Hảo; "Nhân vật trữ tình trong thơ chữ Hán"
của Trần Thị Băng Thanh; "Thái độ trào lộng đối với con người và các hình thái biểu hiện của nhân vật trào lộng" của Nguyễn Phạm Hùng Những tiểu luận này đã đóng góp thêm cho văn
học trung đại Việt Nam "hình ảnh một Nguyễn Khuyến sống thực, rất nhiều vẻ nhưng cũng sáng tỏ hơn, nhất quán hơn." [11; 8] Trong số hàng chục tiểu luận nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Khuyến giai đoạn này, chúng tôi thấy có những bài viết đề cập đến sự "chuyển động" trong tư duy thơ Nguyễn Khuyến từ bác học về với dân gian Trong bài viết "Bước ngoặt quyết định tạo nguồn cảm hứng cho thơ", nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi cho rằng "ở bước ngoặt
đó, Nguyễn Khuyến không chỉ đơn thuần cởi chiếc áo thụng xanh ra, mà còn cởi theo được nhiều ràng buộc khác để từng bước nhận thức lại giá trị chân chính của đời sống, xác định lại ý nghĩa sự sống trên một bình diện mới, cũng tức là tìm thấy lại bản lĩnh và nhân cách của mình." [11; 46] Nếu nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi nhìn thấy tâm hồn thơ Nguyễn Khuyến "phục sinh" từ bước ngoặt quyết định thì nhà nghiên cứu Trần Đình Sử với "Quan niệm con người trong sáng tác Nguyễn Khuyến" lại nhìn thấy Nguyễn Khuyến ở một phương diện khác "Ông là nhà thơ cổ điển đầu tiên thấy cái rỗng không của con người lý tưởng truyền thống, là nhà thơ
mở đầu sự đổi thay các ý nghĩa tượng trưng của hệ thống thi pháp cổ xưa." [123; 139] Cùng
nằm trên trường nhìn ấy, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết "Vấn đề xuất xử của nhà nho và sự lựa chọn của nhà thơ" nhận định "Ông đã đưa văn chương nhà nho sang một nẻo đường khác, và vì nhiều tài năng nên dầu không có ý định thay đổi gì cả mà phương hướng mới cũng đã rõ nét: thơ gắn với cuộc sống, gắn với vận mệnh đất nước." [55; 226] Khác với các nhà nghiên cứu trên, nhà nghiên cứu Lê Chí Dũng trong bài viết "Sáng tạo trong thơ luật Đường" đã đánh giá cao vai trò của văn học dân gian đối với Nguyễn Khuyến trong quá trình sáng tác "không những chỉ khiến cho nhà thơ khai thác kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ, cải
tạo chúng lại trong cơ cấu của thơ Đường luật, đồng thời làm cho thơ Đường luật mất đi cái vẻ đường bệ trang trọng của mình." [11; 302] Rõ ràng, những tiểu luận trên đều đánh giá cao
Trang 14những dấu hiệu chuyển mình trong thơ Nguyễn Khuyến khi nhà thơ quay trở về cuộc sống đời thường, với ngôn ngữ văn học dân gian, làm nên diện mạo mới cho thơ
Ngoài những tiểu luận trên, trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX còn có nhiều bài
viết khác, đem lại những kết quả mới về thơ văn Nguyễn Khuyến như "Nguyễn Khuyến với
thời gian" (1985) của Nguyễn Đình Chú; "Thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến" (1985) của Trần
Ngọc Vương; "Địa vị Nguyễn Khuyến trong lịch sử văn học Việt Nam" (1985) của Nguyễn Văn Hoàn; "Sự kết hợp phức điệu trào phúng với trữ tình" (1992) của Nguyễn Hữu Sơn; "Nét riêng trong hát nói" (1992) của Đức Mậu; "Tam nguyên Yên Đổ trên hành trình tư tưởng thẩm
mỹ của văn học trung đại ở giai đoạn cuối cùng." (1996) của Biện Minh Điền
Như vậy, nhờ những phương pháp tiếp cận, nghiên cứu mới mà cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến sau năm 1975 đã được nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan Điều quan
trọng hơn là một số bài viết đã khai thác cuộc sống đời thường trong thơ Nguyễn Khuyến, tìm
hiểu những ảnh hưởng của ngôn ngữ văn học dân gian đến sáng tác của nhà thơ và những mối liên hệ, tác động qua lại giữa văn học dân gian với văn học bác học nhằm khẳng định vị trí
của nhà thơ trong nền văn học nước nhà
Điểm qua các công trình nghiên cứu, các nhận định, đánh giá về thơ văn Nguyễn Khuyến
ở cả hai miền Nam - Bắc trong gần một thế kỷ, chúng tôi nhận thấy:
- Thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu trước năm 1975 đều tập trung nghiên cứu thơ văn Nguyễn Khuyến trên các bình diện tư tưởng yêu nước, khuynh hướng trào phúng và
cảnh sắc, con người nông thôn
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu sau năm 1975, chủ yếu tiếp cận thơ văn Nguyễn Khuyến trên các bình diện sự đổi mới về tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người, về thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ trữ tình
- Thứ ba, nghiên cứu sự ảnh hưởng qua lại giữa văn học bác học và văn học dân gian trong thơ Nguyễn Khuyến, hầu hết các bài viết đều tập trung vào ảnh hưởng của văn học dân gian đối với Nguyễn Khuyến trong quá trình sáng tác Ảnh hưởng ấy không chỉ đối với thơ chữ Nôm, câu đối mà còn đối với thơ chữ Hán
Trang 15Những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu theo chúng tôi là khá thuyết phục và đáng tin cậy Tuy nhiên, do mục đích và giới hạn của các công trình nghiên cứu, nên chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu, phân tích những ảnh hưởng của truyền thống văn học đối với Nguyễn Khuyến Mọi công trình chỉ dừng lại ở những nhận xét chung nhất
Trong quá trình thực hiện luận án, những nhận định trên sẽ là những tài liệu quý báu cho chúng tôi tham khảo Để giải quyết tốt vấn đề, chúng tôi có cách tiếp cận và thao tác riêng Cụ
thể, phân tích truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến từ quan
niệm nghệ thuật, ngôn ngữ và thể loại So sánh, đối chiếu thơ Nguyễn Khuyến với các nhà thơ khác trong từng giai đoạn tiêu biểu, để thấy được những đóng góp của Nguyễn Khuyến cho nền văn học nước nhà
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận án "Truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến", chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:
Nội dung của đề tài nhằm đi tìm những yếu tố tiếp thu từ truyền thống và những sáng tạo trong thơ Nguyễn Khuyến, phải thấy được quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến vừa tiếp nối thi pháp truyền thống nhưng lại vừa có những yếu tố mới của cuộc sống, xã hội đương thời Toàn bộ tác phẩm thơ văn của Nguyễn Khuyến được chúng tôi xem xét trong một hệ thống để thấy tính thống nhất và
sự biến chuyển tư tưởng của nhà thơ
Vận dụng phương pháp hệ thống sẽ tạo thuận lợi cho chúng tôi phân tích tổng hợp các
vấn đề liên quan đến nội dung đề tài Thông qua đấy, chúng tôi dễ dàng khái quát một cách hệ
thống các bình diện nghiên cứu
Văn học là hình thái kiến trúc thượng tầng, luôn ghi nhận và phản ánh cuộc sống hiện
thực Không có một tác phẩm nào được khai sinh, mà bản thân lại không bắt đầu từ cuộc sống,
xã hội đương thời Tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến có cội nguồn từ hiện thực lịch sử
và thời đại mà nhà thơ đang sống Cho nên phương pháp lịch sử - xã hội luôn được chúng tôi
Trang 16vận dụng trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu thái độ, tình cảm và những chuyển biến tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng khi phân tích tác phẩm, thông qua những dấu
hiệu và đặc điểm nghệ thuật mang tính nội dung để so sánh, đối chiếu Nguyễn Khuyến với các nhà thơ khác, từ đó tìm được những yếu tố mới lạ trong thơ Nguyễn Khuyến Khác với phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp này "hiện diện" trong toàn bộ luận án và gắn liền với quá trình lựa chọn, phân tích, so sánh các vấn đề
Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyền thống bác học và truyền thống bình dân được
thể hiện trong thơ Nguyễn Khuyến Vì vậy, đối tượng để khảo sát, tìm hiểu chính là tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến và những tác giả khác có liên quan đến đề tài
5.2 Ph ạm vi vấn đề
Tìm hiểu, so sánh ảnh hưởng của truyền thống văn học đối với các nhà thơ lớn trong từng giai đoạn văn học cụ thể và đối với Nguyễn Khuyến Từ đó, tìm hiểu sâu hơn về Nguyễn Khuyến - Thơ và đời
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được trình bày thành ba chương chính:
Chương 1 Quá trình chuyển biến tư tưởng nghệ thuật và những ảnh hưởng truyền thống
trong thơ Nguyễn Khuyến
Chương 2 Truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến xét
từ quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
Chương 3 Truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến xét
từ ngôn ngữ và thể loại
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án
Trang 17Chương 1: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT
VÀ NH ỮNG ẢNH HƯỞNG TRUYỀN THONG TRONG THƠ
NGUYỄN KHUYẾN
1.1 Tìm hi ểu văn bản tác phẩm Nguyễn Khuyến
Tính từ năm 1917, khi Nam Phong tạp chí số 4, 5, 6 giới thiệu và công bố những bài thơ
của Nguyễn Khuyến trong mục "Thơ cụ Yên Đổ" (theo Vũ Thanh) [134; 383] cho đến nay, đã
có nhiều tuyển tập và hợp tuyển sưu tầm, giới thiệu thơ Nguyễn Khuyến Việc sưu tầm, giới thiệu thơ Nguyễn Khuyến với những bản dịch khác nhau ở các tuyển tập, vô tình làm cho thơ Nguyễn Khuyến trở nên sai lệch ít nhiều so với nguyên bản và tạo ra những khó khăn nhất định cho người làm công tác nghiên cứu Tuy có nhiều tuyển tập và hợp tuyển khác nhau ở cả hai
miền Nam - Bắc như vậy, nhưtig tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" của Nxb Văn học in lần đầu năm 1971, tái bản năm 1979 với lời bình của nhà thơ Xuân Diệu, vẫn được các nhà nghiên
cứu đánh giá cao, xem đấy là tài liệu đáng tin cậy với những bản dịch hay và chuẩn mực Tác
phẩm này được hình thành trên tư liệu của hai tuyển tập "Văn thơ Nguyễn Khuyến" của Hoàng
Ngọc Phách, Lê Thước, Lê Trí Viễn do Bộ Giáo dục xuất bản năm 1957 và "Nguyễn Khuyến, nhà thơ Việt Nam kiệt xuất" của Văn Tân do Nxb Văn Sử Địa in năm 1959 Sau khi sửa chữa,
bổ sung, tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" đã giới thiệu được 87 bài thơ chữ Nôm, kèm 18 bài phụ lục đợi xác minh thêm, 18 câu đối và 166 bài thơ chữ Hán Bên cạnh "Thơ văn Nguyễn Khuyến" thì tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" của Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch
do Nxb Khoa học Xã hội in năm 1984, được các nhà nghiên cứu xem là tuyển tập giới thiệu thơ văn Nguyễn Khuyến đầy đủ nhất từ trước đến nay (Tuyển tập bao gồm 86 bài thơ chữ Nôm,
267 bài thơ chữ Hán, 6 bài thơ dịch, 67 câu đối và 6 bài văn) Hầu hết các trích dẫn trong các bài báo, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến đều được lấy từ hai tuyển tập trên Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi lấy tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" làm văn
bản chính để tham khảo và trích dẫn Nhưng, vì sự cẩn trọng cần thiết, chúng tôi vẫn khảo sát văn bản, vẫn tiếp tục sưu tầm thơ văn Nguyễn Khuyến trong các tuyển tập, hợp tuyển khác,
nhằm xác định những tác phẩm, những bản dịch theo chúng tôi là chính xác hơn cả Với nguồn
tư liệu có được và bằng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, chúng tôi nhận thấy:
Trang 181 Tác phẩm "Nam thi hợp tuyển" của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, giới thiệu 20 bài thơ
chữ Nôm của Nguyễn Khuyến Đối chiếu với tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" và những tuyển tập khác, chúng tôi thấy có 5 bài thơ Nôm trong "Nam thi hợp tuyển": "Cái hỏa lò đun nước"; "Dỗ người lấy lẽ"; "Cắt tóc"; "Rượu say"; "Nhân sinh thích chí" không có trong các tuyển tập khác 15 bài thơ còn lại, chúng tôi đều tìm thấy trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến", mặc dầu có những tựa đề khác nhau, cụ thể:
- Bài thơ "Tượng sành đứng trên non bộ" (Nam thi hợp tuyển) là bài thơ "Ông phỗng đá" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Lụt năm Ất Tị 1904" (Nam thi hợp tuyển) là bài thơ "Vịnh lụt" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Thằng bán tơ trong truyện Kiều" (Nam thi hợp tuyển) là bài thơ "Kiều bán mình" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
-Bài thơ "Cảm hứng tuổi già" (Nam thi hợp tuyển) là bài thơ "Tự thuật" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
2 Tác phẩm "Việt Nam thi văn hợp tuyển" của Dương Quảng Hàm, giới thiệu 5 bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến Cả 5 bài thơ trên, chúng tôi đều tìm thấy trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
3 Tác phẩm "Văn học Việt Nam" của Dương Quảng Hàm, giới thiệu 10 bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, cả 10 bài thơ trên, chúng tôi đều tìm thấy trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến", trong đó có 5 bài thơ có tựa đề khác, cụ thể:
- Bài thơ "Tuổi già" (Văn học Việt Nam) là bài thơ "Than già" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Mậu Thân tự thọ" (Văn học Việt Nam) là bài thơ "Đại lão" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Làm mộng" (Văn học Việt Nam) là bài thơ "Chốn quê" (Thơ văn Nguyễn Khuyến) và là "Nhà nông than thở" (Nguyễn Khuyến tác phẩm)
Trang 19- Bài thơ "Lên núi An Lão" (Văn học Việt Nam) là bài thơ "Vịnh núi An Lão" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Vương ông mắc oan" (Văn học Việt Nam) là bài thơ "Kiều bán mình" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
4 Tác phẩm "Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX" của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu sủng, giới thiệu 11 bài thơ chữ Nôm và 1 câu đối Nôm của Nguyễn Khuyến Trong 11 bài thơ ấy, có 10 bài in trong tuyển tập "Thơ văn Nguyễn Khuyến" Riêng bài thơ "Chợ trời chùa Thầy", chúng tôi tìm thấy trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" Câu đối Nôm
"Cáo quan về dạy học" trong "Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX" là "Thú quê" trong
"Thơ văn Nguyễn Khuyến" và là "Cảnh về vườn" trong "Nguyễn Khuyến tác phẩm"
5 Tác phẩm "Văn học Việt Nam thế kỷ XIX" của Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tường Minh, giới thiệu 32 bài thơ chữ Nôm và 3 câu đối Nôm của Nguyễn Khuyến Trong 32 bài thơ ấy, có 30 bài in trong tuyển tập "Thơ văn Nguyễn Khuyến" Bài thơ "Chợ trời chùa
Thầy" in trong "Nguyễn Khuyến tác phẩm" Riêng bài thơ "Vào hè", nhiều nhà nghiên cứu xác định không phải của Nguyễn Khuyến Tác giả bài thơ ấy là nhà thơ Dương Bá Trạc (Xin xem
Cần Mẫn "Dứt khoát không phải của Nguyễn Khuyến", TC Văn học số 2, 1977) Chúng tôi cũng tìm thấy bài thơ "Vào hè" nằm trong tác phẩm "Dương Bá Trạc - Con người và thơ văn", Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2004, tr 133 Trong những bài thơ còn lại, có 10 bài thơ có tựa đề khác,
cụ thể:
- Bài thơ "Ngán đời" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Ngẫu hứng" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Phường chèo nói chuyện với vợ" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ
"Lời vợ anh phường chèo" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Vương ông mắc oan" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Kiều bán mình" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Gái góa" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Lời gái góa" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
Trang 20- Bài thơ "Đêm mùa hạ" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Than mùa hè" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Mùa hè ngẫu hứng" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Vịnh mùa hè" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Viếng cụ Nghè Vân Đình Dương Khuê " (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Khóc Dương Khuê" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Suông tình" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Bạn đến chơi nhà" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Cảnh già " (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Than già" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
- Bài thơ "Mậu Thân tự thọ " (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là bài thơ "Đại lão" (Thơ văn Nguyễn Khuyến)
Trong 3 câu đối Nôm, câu đối "Cáo quan về dạy học" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX) là
"Thú quê" (Thơ văn Nguyễn Khuyến) và là "Cảnh về vườn" (Nguyễn Khuyến tác phẩm) Riêng câu đối "Tự trào" (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX), chúng tôi không tìm thấy trong các tuyển
tập và hợp tuyển khác về thơ văn Nguyễn Khuyến
6 Hợp tuyển "Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX" của nhiều tác giả, giới thiệu 12 bài thơ của Nguyễn Khuyến (5 bài thơ chữ Nôm, 6 bài thơ chữ Hán và 1 câu đối Nôm) Cả 12 bài thơ trên, đều có trong "Thơ văn Nguyễn Khuyến" Câu đối Nôm "Cảm đề thời thế" (Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX) là "Tặng người quen" (Thơ văn Nguyễn Khuyến) và là "Làm chơi" (Nguyễn Khuyến tác phẩm) Trong 6 bài thơ chữ Hán, có bài thơ "Giáp thân Trung thu
ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô" (Cảm nghĩ nhân dịp tiết Trung thu năm Giáp thân ở Hà Nội, viết gửi cho bạn đồng niên là ông cử họ Ngô) do Nguyễn Khắc Hanh dịch là có
sự khác biệt so với tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" (Bài này do Nguyễn Văn Tú dịch)
7 Tác phẩm "Việt Nam thi văn giảng luận" của Hà Như Chi, giới thiệu 18 bài thơ chữ Nôm và 2 câu đối Nôm của Nguyễn Khuyến Ngoại trừ bài thơ "Vào hè" của Dương Bá Trạc (chúng tôi đã chú thích ở trên), những bài thơ và câu đối còn lại, đều có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
Trang 218 "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam" tập IV, quyển 1 của nhiều tác giả, giới thiệu 31 bài thơ
của Nguyễn Khuyến (21 bài thơ chữ Nôm, 8 bài thơ chữ Hán và 2 câu đối chữ Nôm) Tất cả đều có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
9 Tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" của Nguyễn Văn Huyền, giới thiệu 86 bài thơ
chữ Nôm của Nguyễn Khuyến (chúng tôi thống kê có 63 bài trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"), 47 câu đối chữ Nôm (16 câu đối có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"), 20 câu đối chữ Hán và 267 bài thơ chữ Hán (loi bài có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến") Trong loi bài thơ chữ Hán này, có 7 bài được giới thiệu bằng bản dịch khác so với tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến", cụ thể:
- Bài thơ "Thu sơn tiêu vọng", trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Hoàng
Tạo dịch với đầu đề "Đêm thu trên núi trông", còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" là do Nguyễn Văn Huyền dịch với đầu đề "Đêm thu trên núi ngắm cảnh"
- Bài thơ "Điệu quyên" (Viếng con cuốc), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
là Nguyễn Văn Tú dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" là do Nguyễn Văn Huyền dịch
- Bài thơ "Độc La ngạn Đỗ Đình nguyên từ Bắc phiên thư" (Đọc bức thư từ chối chức
Bố chánh Bắc ninh của Đình nguyên họ Đỗ ở La ngạn), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Nguyễn Văn Tú dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác
phẩm" là do Nguyễn Văn Huyền dịch
- Bài thơ "Tức sự" (Tức sự), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Hoàng Tạo
dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" là do Ngô Linh Ngọc dịch
- Bài thơ "Hung niên III" (Năm mất mùa III), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Nguyễn Văn Tú dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" là
do Nguyễn Văn Huyền dịch
- Bài thơ "Ngẫu tác" (Ngẫu tác), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Đỗ
Ngọc Toại dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" là do Nguyễn Văn Huyền dịch
Trang 22- Bài thơ "Sất xỉ" (Mắng cái răng), trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là Hoàng Tạo dịch, còn trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm " là do Nguyễn Văn Huyền dịch
10 Tác phẩm "Thơ văn trào phúng Việt Nam" của Vũ Ngọc Khánh, giới thiệu 6 bài thơ
chữ Nôm của Nguyễn Khuyến, cả 6 bài chúng tôi đều tìm thấy trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
11 Tác phẩm "Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ" do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, giới thiệu 25 bài thơ chữ Nôm Cả 25 bài thơ này, chúng tôi đều tìm thấy trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" và "Nguyễn Khuyến tác phẩm" Riêng về thơ chữ Hán, "Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ" giới thiệu 42 bài thơ, trong đó có 3 bài "Sơ hạ" (Đầu mùa hạ); "Hạ nhật tân tình" (Ngày hè hửng nắng); "Điền gia tức sự ngâm" (Chuyện nhà người nông phu) không
có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" nhưng lại có trong tuyển tập "Nguyễn Khuyến tác phẩm" Ở đây, có 6 bài thơ chữ Hán được giới thiệu bằng bản dịch khác so với tác phẩm
"Thơ văn Nguyễn Khuyến ", cụ thể:
- Bài thơ "Dục Thúy sơn" (Núi Dục Thúy) do Băng Thanh dịch Trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Hoàng Tạo dịch
- Bài thơ "Túy Hậu" (Sau khi say) do Nguyễn Huệ Chi dịch Trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Đỗ Ngọc Toại dịch
- Bài thơ "Xuân dạ liên nga" (Đêm xuân thương con thiêu thân) do Nguyễn Huệ Chi
dịch Trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Hoàng Tạo dịch
- Bài thơ "Thoại tăng" (Nói chuyện với sư) do Băng Thanh dịch Trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Nguyễn Văn Tú dịch
- Bài thơ "Ký Châu Giang Bùi Ân Niên" (Gửi Bùi Ân Niên ở Châu Giang) do Băng Thanh dịch Trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Đỗ Ngọc Toại dịch
- Bài thơ "Nhân tặng nhục" (Có người cho thịt) do Nguyễn Huệ Chi dịch Trong tác
phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là do Đỗ Ngọc Toại dịch
12 Tác phẩm "Thơ Nôm Đường luật" của Lã Nhâm Thìn, giới thiệu 28 bài thơ chữ Nôm
của Nguyễn Khuyến, cả 28 bài thơ này, đều có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
Trang 2313 "Tổng tập văn học Việt Nam", tập 16 do Đặng Đức Siêu chủ biên, giới thiệu 44 bài thơ chữ Nôm, 9 bài thơ chữ Hán, 3 câu đối chữ Nôm và 1 câu đối chữ Hán của Nguyễn Khuyến Ngoài bài "Văn tế Ri-vi-e" (Henri Rivière), số còn lại đều có trong tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" Theo nhiều nhà nghiên cứu bài "Văn tế Ri-vi-e" không phải của Nguyễn Khuyến [116; 284] và chúng tôi cũng không tìm thấy bài này trong các tuyển tập, hợp tuyển khác về thơ văn Nguyễn Khuyến
Từ những kết quả trên, chúng tôi có thể nhận định:
1 Thơ chữ Nôm của Nguyễn Khuyến tồn tại nhiều dị bản Có những bài thơ được các nhà nghiên cứu xác định không phải của Nguyễn Khuyến
2 Phần lớn các hợp tuyển thơ văn Nguyễn Khuyến ở miền Nam trước năm 1975, chỉ tuyển chọn và giới thiệu thơ chữ Nôm mà ít chú ý đến thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến
3 Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến hầu như không có dị bản Phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ chữ Hán ít có sự thay đổi (Thống kê cho thấy có 14 bài thơ chữ Hán là có
những bản dịch khác nhau)
4 Các hợp tuyển, các công trình nghiên cứu thơ văn Nguyễn Khuyến ở cả hai miền Nam
- Bắc sau năm 1975, hầu hết đều trích dẫn, tuyển chọn lại từ tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến"
Tiếp thu kết quả của những người đi trước và qua việc khảo sát văn bản tác phẩm Nguyễn Khuyến, chúng tôi nhận thấy tác phẩm "Thơ văn Nguyễn Khuyến" là nguồn tư liệu chính xác, đáng tin cậy cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án Mọi trích dẫn về văn bản thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Khuyến, chúng tôi đều lấy từ tác phẩm này Xin được nói thêm trong 18 bài thơ chữ Nôm nằm ở phần phụ lục đợi xác minh thêm, chúng tôi thấy có 7 bài có trong "Nguyễn Khuyến tác phẩm" và có trong những tuyển tập khác Vì thế, chúng tôi sẽ tính thêm 7 bài thơ này trong quá trình nghiên cứu Chỉ khi nào cần thiết và thiếu tư liệu để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi mới tham khảo các tuyển tập khác Có như vậy mới tạo nên sự thống
nhất về mặt văn bản và sự chính xác trong việc phân tích, đánh giá thơ Nguyễn Khuyến
Trang 241.2 Quá trình chuy ển biến tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến
Văn học nghệ thuật là một hoạt động tư tưởng Không thể nào tiếp cận một tác phẩm văn
học, mà người nghiên cứu lại "lơ đễnh" quên đi tư tưởng chủ nhân của nó Có thể xem tư tưởng
là "kim chỉ nam" định hướng cho sự nghiệp sáng tác của nhà văn và chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của họ Vì thế, trong "Từ điển thuật ngữ văn học" các nhà nghiên cứu Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi đã cho rằng "Tư tưởng tác phẩm văn học là nhận thức, lý
giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học cũng như
những vấn đề nhân sinh đặt ra ở trong đó là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của
những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời" [41; 262]
Để làm rõ khái niệm tư tưởng nghệ thuật, trong một bài viết về Puskin, nhà phê bình văn
học Nga Bielinxky nhận định "Một tư tưởng nghệ thuật không phải là một tam đoạn luận, một giáo điều hay một quy tắc, đó là một say mê mãnh liệt, một nhiệt hứng Trong tâm trạng nhiệt
hứng, tư tưởng xâm chiếm nhà thơ một cách đắm say như một người tình xinh đẹp bằng xương
bằng thịt mà ông ta chiêm ngưỡng, không phải bằng lý trí, bằng ngộ tính, bằng tình cảm hay
một năng lực nào đó của tâm hồn, mà bằng toàn bộ con người tinh thần của mình với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó, vì thế, tư tưởng trong thơ không phải là một
tư tưởng trừu tượng hay một hình thái chết, mà là một sáng tạo sống động" [92; 9] Như vậy tư tưởng nghệ thuật là hình thái hoạt động tinh thần, thể hiện trong cách nhận thức, lý giải của nhà văn bằng toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn
của nó
Tuy mỗi nhà văn đều có một vùng đối tượng thẩm mỹ riêng ghi đậm dấu ấn của chủ thể sáng tác, nhưng tư tưởng nghệ thuật không phải là một vấn đề cố định, bất biến mà luôn luôn
vận động, biến đổi trong cuộc đời sáng tác của nhà văn Ở đó, tư tưởng nghệ thuật vừa thể hiện
sự thống nhất, xuyên suốt cuộc đời sáng tác, vừa thể hiện sự khác nhau trong từng giai đoạn do
chịu sự chi phối của lịch sử, xã hội Với cách hiểu như trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi mới chứng minh được sự thống nhất và cả quá trình chuyển biến tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến
Trong cuộc đời làm quan, làm dân, Nguyễn Khuyến để lại cho văn học nước nhà một
khối lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú và đa dạng trên nhiều thể loại như thơ chữ Hán, thơ chữ
Trang 25Nôm, câu đối, hát nói, văn tế Mỗi thể loại đều gắn liền với những chặng đường sáng tác và
những diễn biến phức hợp trong tâm hồn nhà thơ Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi "Sự tinh tế của trạng thái tâm hồn, thông qua con mắt nhìn ngoại cảnh, dễ thường trừ Nguyễn Du
ra, cũng chưa ai vượt được Nguyễn Khuyến" [11; 37] Vì thế, tiếp cận thơ Nguyễn Khuyến và
tư tưởng nghệ thuật của ông, các nhà nghiên cứu thường đưa ra những khái niệm khác nhau như: Nhà thơ trào phúng, Nhà thơ trào phúng - hiện thực, Nhà thơ yêu nước, Nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam Những khái niệm ấy đều phản ánh đúng bản chất và tâm hồn thơ Nguyễn Khuyến, nhưng để tái tạo chân dung một con người - theo chúng tôi còn phải hội tụ nhiều yếu tố khác nữa
Để thấy được quá trình chuyển biến tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, chúng tôi tìm hiểu không chỉ một vài tác phẩm, một vài chặng đường sáng tác, mà trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ như một hệ thống thẩm mỹ Sự yếu đuối, nhu nhược và bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn, cùng với việc đất nước mất hẳn vào tay giặc và sự bế tắc cùng cực không lối thoát
dẫu hành đạo hay ẩn dật của tầng lớp trí thức nho sĩ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến, ở nhà thơ thiếu vắng tấm lòng "cuồn cuộn triều đông" với vua với nước của Nguyễn Trãi, thiếu vắng cái khí phách ngang tàng "đứng trong trời đất" của Nguyễn Công Trứ, thiếu vắng lời nguyền "quỷ thiêng giết giặc" của Nguyễn Quang Bích nhưng lại
thừa im lặng và tâm trạng cô đơn Sự nhạt màu ngôn chí, làm nên hiện tượng cá biệt, lẻ loi, so
với thơ ca đương thời Nhưng cũng chính sự nhạt màu ngôn chí cùng với quãng đời còn lại ở
"vườn Bùi chốn cũ", nhà thơ Nguyễn Khuyến, người đi trước thời đại mới làm nên một bước chuyển mình báo hiệu cho thơ ca Việt Nam trên con đường từ trung đại sang cận đại
Mang tư tưởng Nho giáo đi vào cuộc "kinh bang tế thế", Nguyễn Khuyến không có quan
niệm nào khác là phải thực hiện bổn phận tôi trung "thượng trí quân, hạ trạch dân" (Trên thì giúp vua, dưới thì chăm dân), giúp vua giúp nước thái bình thịnh trị Nhưng những biến cố của
lịch sử dân tộc xảy ra, không cho phép nhà thơ thực hiện vai trò mẫu mực của một ông quan, không đi trọn con đường mà gần nửa cuộc đời mình đã khao khát lựa chọn Tiếng súng của
thực dân Pháp vang lên khắp hai miền Nam Bắc, những hàng ước liên tiếp được ký kết và sự
yếu đuối nhu nhược của triều đình Tự Đức đã thức tỉnh tâm hồn nhà thơ cũng như tầng lớp trí
Trang 26thức nho sĩ đương thời Lịch sử buộc họ phải có sự chọn lựa trước "ba bè bảy mối", trước ngã năm ngã bảy của cuộc đời Mỗi người đều có một con đường đi riêng tùy theo hoàn cảnh cụ
thể, và - những con đường đi đó, những số phận cụ thể đó tất yếu sẽ dẫn đến những định hướng khác nhau sau này Trừ những người không thoát khỏi bả vinh hoa phú quý, bán nước làm tay sai cho Pháp, mà quan phó bảng Trần Tán Bình đã châm biếm sâu cay:
Đem thân khoa bảng làm tôi Pháp, Cũng tại nhà nho học chữ Tàu [11; 107]
những "nhà nho học chữ Tàu" còn lại đều khắc khoải thể hiện tiết tháo của mình trên tất cả các
sự lựa chọn Nhưng dù đứng ở sự lựa chọn nào cũng dẫn đến hệ quả cuối cùng "Phan Đình Phùng ngã xuống, đã kết thúc phong trào cần Vương Cùng với cái chết của ông, cũng kết thúc
một mẫu người đẹp, một hình tượng văn học đẹp trong văn học cổ: người trung nghĩa, người hành đạo theo nhà nho chính thống" [56; 52] Tất cả chỉ là những tia chớp lóe lên trên bầu trời đầy giông bão rồi tắt lịm
Trong những năm tháng tiết tháo nhà nho vận hành và tỏa sáng trên trục lịch sử ấy, thì con người quan phương trong Nguyễn Khuyến vẫn tận tụy với công việc sử sách, rồi đột ngột treo ấn từ quan về "vườn Bùi chốn cũ " khi cuộc đời mới bước vào độ "tri thiên mệnh" Sự trở
về là biện pháp lựa chọn duy nhất đúng, mặc dầu "chim âu trắng" làm sao tránh khỏi bị nghi
ngờ trong con mắt bạn bè thuở ấy Nhưng, chỉ có trở về nhà thơ mới có thể bày tỏ tư tưởng của mình, mới có thể bảo vệ tâm hồn "Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ" (Mẹ Mốc) [23; 108]
Trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam cũng như trong đời sống dân tộc, vấn đề xuất -
xử xuất hiện từ sớm và không còn là một hiện tượng cá biệt Có thể nhìn thấy cuộc đời trọn vẹn
của một nhà nho theo mô hình mà nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đưa ra:
Đỗ đạt → làm quan → cáo quan
Không đỗ đạt → các loại "thầy" [161; 42]
Trang 27Tồn tại trong mỗi tâm hồn nhà nho khi đặt chân vào quan lộ luôn là sự giao thoa giữa hai
nửa hành và tàng, xuất và xử Hai nửa tâm hồn này luôn sẵn sàng hoán vị cho nhau Những
biến động thăng trầm của lịch sử hay triều chính rối ren, quyền thần lũng đoạn dễ dẫn đến sự
lựa chọn đời sống ẩn dật của các nhà nho Nhìn vào lịch sử Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận
thấy từ Chu Văn An (? - 1370), người mở đầu cho loại hình nhà nho đi ở ẩn ở Việt Nam, cho đến Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), người cuối cùng khép lại loại hình nhà nho ẩn dật, con đường đi của loại hình nhà nho này đã trải qua gần 600 năm và in dấu biết bao dung mạo của các nhà thơ Những ưu tư về thế sự, những chiêm nghiệm về cuộc đời, về thế thái nhân tình đã
tạo nên những "nốt nhạc " trầm riêng biệt của loại hình nhà nho này Nhưng, dẫu là nhà nho hành đạo hay là nhà nho ẩn dật thì sáng tác của họ vẫn tuân thủ theo nguyên tắc đạo đức của Nho giáo "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí"
Trở lại vấn đề, chúng ta thấy sự chuyển đổi trạng thái tư tưởng con người hành đạo sang con người ẩn dật trong Nguyễn Khuyến là cả một quá trình chiêm nghiệm mười năm "dọc đường gió bụi" Con người nhà nho trong Nguyễn Khuyến sẽ thực hiện tốt vai trò "lương thần",
nếu biến động lịch sử không xảy ra Không chịu uốn mình vì "năm đấu gạo" ở lại với thực dân Pháp, với triều đình nhà Nguyễn, Nguyễn Khuyến cũng như các nhà nho trung nghĩa khác, mà chúng tôi đã trình bày ở trên, đều chọn lấy con đường riêng của mình Có điều, con đường đi
của Nguyễn Khuyến lại có ý nghĩa chối bỏ quá khứ mạnh mẽ hơn các nhà nho trung nghĩa - các nghĩa sĩ cần vương Chúng ta không hề ngạc nhiên vì sao giữa những ngày tháng "nước sôi lửa
bỏng", giữa những ngày tháng phong trào cần Vương tựu nghĩa rầm rộ khắp nơi, mà thơ văn
của các lãnh tụ nghĩa quân vẫn thấp thoáng nỗi buồn trầm lắng, u uẩn và cô đơn:
Nhất độ kinh qua nhất độ sầu, Thao thao giang thủy trướng hồng lưu
Vị năng thử nhật qui châu phóng, Hưu thả hành gian ngại khứ lưu
(Nguyễn Quang Bích Tái quá Hồng giang thủy trướng bất năng độ)
(Một lượt đi qua một lượt sầu, Nước sông cuồn cuộn đỏ ngầu ngầu
Trang 28Lần này chưa dễ thuyền về bến, Hai ngả đi về biết định đâu.) (Lại tới bến đò sông Hồng, nước dâng to không sang được Nhóm Kiều Hữu Hỷ dịch) [3; 109]
Thiên ý nhân tâm bất khả lương,
Hồi tư thế sự cánh mang mang
(Nguyễn Xuân Ôn Cảm tác) (Ý trời và lòng người không thể lường được, Nghĩ lại việc đời càng thấy mênh mông.)
(Cảm tác Nguyễn Văn Bách dịch) [107; 154] Ngay cả nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, người luôn "sống theo nguyên tắc bảo vệ và thực hành Nho giáo" (Trần Ngọc Vương), cuối cùng cũng ngậm ngùi và khắc khoải cho lý tưởng
của mình:
Đã cam chút phận dở dang,
"Trí quân" hai chữ mơ màng năm canh
Đã cam lỗi với thương sinh,
"Trạch dân" hai chữ luống doanh ở lòng
Lại cam thẹn với non sông,
"Cứu thời" hai chữ luống trông thuở nào
Nói ra thì nước mắt trào,
Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp) [31; 466]
Chính sự bế tắc, cùng quẫn không lối thoát của các nhà nho trung nghĩa đã giúp nhà thơ Nguyễn Khuyến "nhận thức ra giới hạn cuối cùng của hình tượng con người trung nghĩa, vẻ đẹp não nùng bi tráng của nó và dấu hỏi thiêng liêng nhưng vô vọng mà nó đặt ra trước lịch sử"
Trang 29(Nguyễn Huệ Chi) [11; 23] Tương truyền bài thơ "Xuân dạ liên nga" (Đêm xuân thương con thiêu thân) được Nguyễn Khuyến sáng tác khi nghe tin bạn mình, ông nghè Dao Cù Vũ Hữu
Lợi, một lãnh tụ phong trào cần Vương bị Pháp bắt và xử tử năm 1887 Phải chăng bài thơ
"Xuân dạ liên nga" đã chỉ ra được việc làm cao cả nhưng "vô vọng" của những con thiêu thân -
những nghĩa sĩ cần Vương trước hiện thực đời sống?
Tố phú tri năng do vị dẫn, Đương tiền danh lợi bất tương quan
Cô đăng sát nhĩ, do liên nhĩ, Đãi đáo thành hôi lệ vị can
(Trời phú cho mày có lương úi, lương năng chưa đến nỗi mất, Cho nên danh lợi trước mắt cũng không vướng víu gì
Ngọn đèn le lói tuy giết mày, nhưng vẫn thương mày, Cho đến lúc thành tro, mà lệ vẫn chưa khô.)
(Hoàng Tạo dịch xuôi) [23; 232]
Sự hoài nghi về lý tưởng "An tri bất ngộ Đường Ngu thánh Nhàn vịnh (kỳ tứ)"(*) (Biết đâu lại không gặp vua thánh Đường Ngu? Thơ nhàn (bài 4) Nguyễn Văn Huyền dịch xuôi) [52; 267] khiến nhà thơ trở thành người thừa của giai cấp mình Những năm tháng làm quan, nay Án sát Thanh Hóa, mai Bố chánh Quảng Ngãi, ngày kia Toản tu quốc sử quán trong triều nhà thơ lặng lẽ chiêm nghiệm mông lung bao điều và xót xa nhận ra chân giá trị của danh vị:
Cánh vô thực học tì suy thế,
Thặng hữu hư danh quán đại Đình
(Cận thuật)(**)
(Đã không tài thực học để giúp đời đang suy,
Lại còn mang cái hư danh đỗ đầu thi Đình.) (Thuật lại gần đây Nguyễn Văn Huyền dịch xuôi) [52; 354]
(*)(**) :Nguy ễn Khuyến tác phẩm
Trang 30
Và hơn thế, nhà thơ còn tự nhận mình là "hủ nho" bất tài trước sự tồn vong của đất nước:
Phù danh hữu hạnh do tiên cái,
Thực lực phi tài thượng nhượng nô
(Xuân bệnh)(*)
(Chỉ có chút danh hão, may ra hơn đứa ăn mày,
Chẳng có tài cán thực sự, còn kém cả thằng đi ở.) (Mùa xuân bị ốm Bài I Nguyễn Văn Huyền dịch xuôi) [52; 341]
Trong bài viết "Quan niệm con người trong sáng tác của Nguyễn Khuyến", nhà nghiên
cứu Trần Đình Sử đã có những nhận định xác đáng "Nếu đến đầu thế kỷ này (thế kỷ XX - HNH), thơ văn Đông du, Đông kinh nghĩa thục, cất tiếng đau đớn hú hồn dân tộc Việt, kêu gọi đồng tâm, tự cường thì hàng chục năm trước Nguyễn Khuyến đã nhận ra trạng thái thất hồn,
trống rỗng, bất tài, vô vị của người đương thời Nếu các nhà cách mạng sau này phê phán "hủ nho" thì Nguyễn Khuyến là người đầu tiên nhận ra sự lỗi thời ấy trong thơ ông" [123; 127] Con đường đi của nhà thơ, không còn là con đường của nho sĩ thời trước đã dẫm chân qua Hình thái kinh tế - xã hội biến động làm đảo lộn các giá tri Con người hãnh tiến, con người ý
thức về cái tài, kiêu hãnh về cái tài của mình, đều bị vùi dập Dầu có "tài giỏi nhất thời đại", hơn tất cả các nho sĩ đương thời, nhà thơ cũng không thoát khỏi tâm trạng cô đơn, lạc lõng:
Giang sơn thác lạc tri hà tại,
Bằng bối điêu linh thục dữ quần?
Loạn thế hành tàng như độc hạc, Lão lai hình ảnh tự cô vân
(Ký hữu) (Nước non man mác về đâu tá,
Bè bạn lơ thơ sót mấy người
Đời loạn đi về như hạc độc,
Trang 31
Tuổi già hình bóng tựa mây côi.)
(Cảm hứng Nhà thơ tự dịch) [23; 164]
Từ quan về ở ẩn không phải là sự lựa chọn dễ dàng và thanh thản của nhà thơ Cuộc sống
hiện tại không còn là đất dung thân của kẻ ẩn sĩ thời trước Ao ước được "qui khứ lai từ" về nơi
vắng vẻ quả không còn thích hợp Hạnh phúc hưởng nhàn "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao." (Nguyễn Bỉnh Khiêm Thơ Nôm Bài 73) [58; 114] không còn
nữa Tâm trạng cô đơn lặng lẽ tăng lên ít nhiều Và cùng với sự cô độc, nỗi ám ảnh Đào Tiềm
lặp đi lặp lại nhiều trong thơ chữ Hán (8 bài) với cây đàn không dây:
Lão hưu mạc hận tân bằng thiểu, Bành Trạch tương tri chỉ tố cầm
(Xuân nhật II) (Tuổi già về nghỉ chớ lo ít bạn,
Ông Bành Trạch xưa chỉ thân với một cây đàn không dây.)
(Ngày xuân II Dương Xuân Đàm dịch xuôi) [23; 305]
Từ bỏ áo phượng sân rồng, con đường khoa hoạn không mấy vẻ vang, từ bỏ quá khứ đầy
những mối quan hệ ràng buộc, kỷ cương và bển phận, từ bỏ "công danh ép buộc" - vì nó, nhà thơ phải nhọc nhằn, phí sức hơn nửa đời người, nhưng làm sao từ bỏ được con người Nho gia trong chính bản thân mình, cho dẫu lỗi thời và vô vọng? Bi kịch của nhà thơ bắt nguồn từ đấy
Sự mâu thuẫn, giằng xé tâm hồn giữa quá khứ và hiện tại cũng phát sinh từ đấy Ở đâu cái tâm
hồn ưu tư ấy cũng bị dằn vặt về quá khứ một thời đã qua Đã từng xem cuộc đời là giấc mộng, xem công danh sự nghiệp là phù vân, là mộng trong mộng "Hoàng lương nhất chẩm mộng phục
mộng Ngẫu thành I"(*)
(Kê vàng một giấc hoàng lương, mộng trong giấc mộng Nguyễn Văn Huyền dịch xuôi) [52; 279], nhà thơ cười cho cái tài của mình:
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già
(Ngày xuân dặn các con) [23; 101]
* : Nguy ễn Khuyến tác phẩm
Trang 32
Nhưng lại luôn mặc cảm về tâm trạng bế tắc, thoái trào trước trách nhiệm lớn lao của đất nước:
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
(Tự trào) [23; 100]
Đã thấy "Vu sơ cựu học, sinh hà bổ Xuân nhật hữu cảm II" (Sống theo học cũ ích gì
Cảm nghĩ ngày xuân II Đỗ Ngọc Toại dịch) [23; 416], nhưng lại luôn khẳng định "Thặng hữu đan tâm nhất điểm linh Lão thái" (Một tấm lòng son vẫn có thừa vẻ già, Khương Hữu Dụng
dịch) [23; 313] Vừa mang phong thái an nhàn đẫm chất "Lão Trang" của nhà nho thuở trước:
Qui lai toại ngã điền viên thú,
Thế sự tao đầu tiếu bất ngôn
(Thu nhiệt) (Về nơi vườn ruộng lòng ta thỏa,
Việc thế nghe qua chỉ mỉm cười.)
(Mùa thu trời nóng Đỗ Ngọc Toại dịch) [23; 260]
Lại vừa ray rứt trước hiện trạng của đất nước:
Bút nghiễn trầm tư ưng hữu lệ, Sơn hà cử mục bất thăng thu
(Tiễn môn đệ Nghĩa Định sứ quân Lê Như Bạch, nhân ký kinh thành chư môn đệ II)
(Ngẫm nghĩ đến bút nghiên đáng tràn nước mắt, Ngước mắt nhìn sông núi, khôn xiết buồn đau.) (Tiễn học trò là Nghĩa Định sứ quân Lê Như Bạch, nhân tiện gởi cho các học trò ở kinh thành II Nguyễn Văn Tú dịch xuôi) [23; 363]
Trang 33Vừa căn dặn "Cờ biển của vua ban ngày trước / Khi đưa thầy con rước đầu tiên." nhưng
lại vừa thoái thác "Đề vào mấy chữ trong bia / Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu." (Di chúc) [23; 169]
Sự mâu thuẫn, giằng xé hai nửa tâm hồn luôn tồn tại trong thơ Nguyễn Khuyến những năm tháng về sau Rõ ràng ở đây không phải là "một cuộc đấu tranh có ý nghĩa cởi bỏ chứ không phải mất mát" [11; 47] như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi, mà là bi
kịch không sao giải quyết Từ chối cái cũ nhưng không phủ định nó Nghi ngờ cái mới nhưng không phủ nhận nó; hơn ai hết "con người thừa" của nhà thơ đã nhìn thấy, đã nhận diện sự
trống rỗng, vô nghĩa của bản thân và tầng lớp trí thức đương thời trước yêu cầu đổi mới của
lịch sử:
Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề
(Lời vợ anh phường chèo Tác giả tự dịch bài "Ưu phụ từ") [23; 113]
Để lột tả những bi kịch chất chứa "sầu đong vơi đầy" trong tâm hồn và để phơi bày quá trình mất nghĩa "cái cao cả" của bản thân, của tầng lớp trí thức đương thời, nhà thơ buộc phải tìm cho mình một bút pháp thể hiện mà thơ trữ tình không thể nào chuyển tải được Bút pháp trào phúng, châm biếm trở thành phương thức lựa chọn tối ưu nhất Nhưng, khác với tiếng cười
đả kích, châm biếm sắc sảo của các nhà thơ lớp trước như Hồ Xuân Hương, hay tiếng cười bộc
trực, quyết liệt của Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế sau này, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến luôn có sự tham gia của đối tượng chủ thể Ở đây, trữ tình và trào phúng đã kết hợp với nhau bằng nỗi buồn sâu lắng Sự đan xen, hòa quyện hai nửa tâm hồn khiến chúng ta không lấy làm lạ khi trong cùng một cá thể, lúc là đối tượng để trữ tình, lúc lại là đối tượng để trào phúng:
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác, Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu
Nên chăng đá cũng gật đầu
(Ông phỗng đá) [23; 105]
Trang 34Hoặc khi nhà thơ châm biếm sâu cay tầng lớp khoa bảng đương thời "Ghế tréo, lọng xanh
ngồi bảnh chọe / Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi Tiến sĩ giấy II" [23; 112], thì nhà thơ lại liên tưởng sâu sắc tới bản thân mình "Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh cũng
bảng vàng Tự trào" [23; 100] Phê phán lũ "quan chèo vai nhọ " trên sân khấu bi hài của lịch
sử, nhà thơ cũng chua chát nhận ra thân phận trí thức của mình "Đêm ngày gìn giữ cho ai đó / Non nước đầy vơi có biết không Ông phỗng đá" [23; 103] về vấn đề này, trong tuyển tập
"Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ", nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn với bài viết "Sự kết
hợp phức điệu trào phúng với trữ tình" đã có những nhận xét xác đáng "Khi cái "tôi" trữ tình tác giả tham dự và được nhận thức, được trình bày như là đối tượng của sự sáng tạo thì nó không chỉ qui định về mặt nội dung tư tưởng mà còn thấm sâu vào trong phương thức tư duy, các thủ pháp nghệ thuật, nguồn cảm hứng và cả cách thức khai thác nội dung hiện thực." [11; 275] Sự tự nhận thức và khách thể hóa bản thân mình như một đối tượng trào phúng đã làm cho thơ của Nguyễn Khuyến trở nên đa nghĩa hơn và sâu sắc hơn
Từ bỏ con người quan phương về lại với môi trường truyền bá, diễn xướng, nhà thơ đã
"xích lại gần dân" bằng tiếng cười trào phúng, châm biếm nhưng cũng sâu lắng tình người và tình đời Đối tượng trào phúng trong thơ bao gồm nhiều hạng người trong xã hội nhưhg chủ
yếu vẫn là tầng lớp quan lại và hạng người khoa bảng:
Ai rằng ông dại với ông điên, Ông dại sao ông biết lấy tiền?
(Tặng Đốc học Hà Nam) [23; 129]
Cũng như các nhà thơ thuộc khuynh hướng tố cáo hiện thực giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đối tượng đả kích trong thơ Nguyễn Khuyến là những con người cụ thể, có địa chỉ cụ thể
và có tính cách cụ thể:
Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông
(Hỏi thăm quan Tuần mất cướp) [23; 128] Xét cho cùng, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến trước mọi hiện tượng của đời sống không hề ác hiểm, mà chỉ nhẹ nhàng, tình lý, như Khuyến như can của một người trên ân cần
Trang 35bảo ban kẻ dưới Bằng phong thái đĩnh đạc của một nhà nho trí thức, đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng là lời cảnh tỉnh đối với hiện tại "Cái hiện tại, cái hiện thời đích thực, "chính tôi" với
những người cùng thời với tôi" chính là đối tượng của tiếng cười hai chiều Tiếng cười vừa vui
nhộn vừa hủy diệt" (M Baktin) [1; 48]
Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp cùng với những ngày theo dân đánh giặc, khiến các nhà nho trung nghĩa chuyển đề tài từ quan trường, ngâm vịnh sang "trung quân, ái quốc"
mà đạo đức thế giới quan Nho giáo vẫn là trung tâm Sự sụp đổ lý tưởng và nhạt màu ngôn chí trong thơ Nguyễn Khuyến mà chúng tôi lý giải ở phần trên, đã đưa nhà thơ về lại với chính mình, về lại với đời thường của một người dân quê vùng chiêm trũng Và ở đây, ngay giữa quê hương mình, sống đồng cam cộng khổ với người dân, nỗ lực chiếm lĩnh hiện thực khách quan, con người thơ mới nhận ra được những phần đời thầm lặng, bình dị, mới gọi đúng nghĩa con người trong niềm vui nỗi buồn có thực, và trả về cho văn học cái dáng vẻ nguyên sơ đầy sức
sống của đời thường vốn ít tồn tại trong thơ cổ
Ở đây một vấn đề mới được nảy sinh trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi: nhân tố nào tạo nên một Nguyễn Khuyến - nhà thơ của "quê hương làng cảnh Việt Nam" (Xuân Diệu),
vấn đề đưa ra tưởng chừng như chứa đầy "yếu tố ngẫu nhiên", "yếu tố có sẩn" được lặp đi lặp
lại trong các nhà nghiên cứu Trong giáo trình "Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết
thế kỷ XIX", nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc chỉ xem "Nhưng cái làm nên độc đáo của riêng nhà thơ thì chủ yếu là những vần thơ Nguyễn Khuyến viết về nông thôn" [83; 748] Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền trong "Nguyễn Khuyến tác phẩm" nhận xét "Hai mươi lăm năm cuộc đời
về lại Yên Đổ, dường như có một thứ ánh sáng kỳ diệu nào đó soi tỏa cho đôi mắt đã nhòa ấy nhìn cảnh, nhìn người sao mà tinh tế, sâu xa, đầy khám phá, có sức rung động lòng người đến
thế" [52; 60] Gần đây, trong tác phẩm "Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ" nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi đã chú ý đến hiện tượng này, nhưng lại cho rằng "Đây là kết quả của một
cuộc xáo trộn lớn trong cuộc đời Yên Đổ là sự vận động đột biến của chủ thể thẩm mỹ" [11; 21] Rõ ràng, các ý kiến trên, ít nhiều đã chú ý đến sự "lựa chọn đề tài" của nhà thơ, nhưng chưa đi vào giải quyết vấn đề Để tìm hướng giải quyết tương đối khách quan, chúng tôi tiến
Trang 36hành khảo sát, thống kê phần thơ được sáng tác sau khi trở về Yên Đổ (222 bài thơ chữ Hán và
chữ Nôm) rồi so sánh trên hai trục lịch sử, thời đại Kết quả cho thấy:
1 Cảm hứng về sơn hà xã tắc: 8 bài - Tỉ lệ 3,4%
2 Phê phán xã hội thực dân nửa phong kiến: 11 bài - Tỉ lệ 4,8%
3 Sự mâu thuẫn giữa xuất - xử, quá khứ - hiện tại: 40 bài - Tỉ lệ 17,3%
4 Con người, cuộc sống nông thôn: 163 bài - Tỉ lệ 73,4%
Bằng phương pháp thống kê, chúng tôi có mô hình hóa:
Nhà thơ
Xuất - xứ
TƯ TƯỞNG Con người cũ (Bi kịch giao thoa) Con người mới
(Chức năng, đạo lý) cũ - mới (Yếu tố đời thường) 3,4% 22,1% 73,4%
Nhìn vào mô hình hóa chúng ta thấy sự xuất hiện con người mới của yếu tố đời thường là
kết quả hành trình tư tưởng nhọc nhằn của nhà thơ trong sự tìm kiếm, thể nghiệm, loại trừ và
lựa chọn hướng đi cho mình Quá trình lựa chọn này đem đối chiếu trên trục lịch sử, thời đại, thì đây là điều mới lạ trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Có như thế chúng ta mới thấy các phương thức biểu hiện trong thơ của ông quan "Hoàng Và " này
Đem thơ đi từ cội nguồn về thế tục, gắn bó đời mình với làng quê, với cánh đồng chiêm trũng, con người thơ Nguyễn Khuyến đã cảm nhận vào tâm hồn mình một nhịp sống mới, một giai điệu mới ấm áp tình người mà các nhà thơ trước ông ít làm được và lấy đó làm phong cách
sống của mình:
Anh em, làng xóm xin mời cả,
Trang 37Giò bánh, trâu heo, cũng gọi là!
Chú Đáo bên làng lên với tớ, Ông Từ xóm chợ lại cùng ta
(Lên lão) [23; 102]
Vượt lên trên những cảm hứng thẩm mỹ sáo mòn và quen thuộc là những rung động tâm
hồn nảy ra trong nỗi buồn, niềm vui có thực của những người dân quê, của những cảnh đời bình dị Đằng sau lẽ xuất - xử đầy khắc khoải là tấm lòng con trẻ "ình ịch đêm qua trống các làng / Ai ai mà chẳng rước xuân sang." (Khai bút) [23; 150] Đằng sau nỗi buồn thế sự "Nước non man mác về đâu tá / Bè bạn lơ thơ sót mấy người." (Cảm hứng) [23; 164] là tiếng cười châm biếm, bao dung và đôn hậu của ông lão nhà quê "lắm chuyện":
Mấy ổ lợn con rày lớn bé?
Vài gian nếp cái ngập nông sâu
và khách thể tạo ra cái nhìn nhân bản đầm ấm sâu sắc:
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng, Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
Ngửa mặt ông kia chơi mới khỏe,
Suốt hôm một sáo thổi lưng trời
(Đến chơi nhà bác Đặng) [23; 141]
Có thể thấy rõ sự gắn bó, gần gũi với cuộc sống nông thôn đã làm cho nhà thơ thể hiện
tấm lòng và mô tả thực tại đầy chân thực sâu sắc Nhà thơ đến với người dân quê làng Vị Hạ không phải bằng quá khứ mà bằng phong cách sống giản dị "Búi tóc củ hành, buông quần lá
Trang 38tọa" Người dân quê làng Vị Hạ đến với nhà thơ không phải bằng sự cung kính "Quan dân lễ cách" mà bằng tấm lòng chân thực trìu mến:
Trì tửu cách ly đối lân tẩu,
Hà phường trách trách thoại tang canh
(Bài muộn I) (Cách dậu mời ông hàng xóm chén, Chuyện tràn thóc lúa với tằm tơ.)
(Giải buồn I Nguyễn Văn Tú dịch) [23; 251]
Gắn liền với cuộc sống nông thôn, thiên nhiên, cảnh vật bốn mùa luôn là đối tượng để nhà thơ khai thác, bộc lộ tình cảm của mình Ở đó, có hồn quê phảng phất trong chiều cuối năm Có
trời đất giao hòa trong đêm trừ tịch Có mùa xuân "Hơi sương mờ mịt bay tràn mặt đất", mùa
hè oi ả đầy những "ngọn gió Tây" Có mùa thu tĩnh lặng, man mác và có những ngày đông rét
buốt dằng dặc Nhưng khác với thơ ca trung đại, thiên nhiên, cảnh vật trong thơ Nguyễn Khuyến ít mang sắc thái suy tư, chiêm nghiệm, khắc khoải về sự hữu hạn của đời người, về
một chân trời cũ, mà luôn sôi động, gắn liền với cuộc đời đầy lo toan, cực nhọc của người dân:
Gia nhân sái cốc tranh đào vũ,
Phụ nữ đăng tàm nghĩ hộ phong
(Hạ nhật vãn điếu)(*)
(Người nhà phơi lúa tranh nhau chạy mưa, Đàn bà nuôi tằm tìm cách chắn gió.) (Ngắm chiều hè Nguyễn Văn Huyền dịch xuôi) [52; 457]
Nếu lòng yếu thiên nhiên và tạo vật là một kích thước để đo một tâm hồn, thì kích thước
ấy ở Nguyễn Khuyến mở rộng đến vô cùng Không chỉ có con người, cảnh sắc thiên nhiên với
"đặc điểm nhiệt đới và phương Nam của nó" (Xuân Diệu), mà cả những con vật ở nông thôn,
vốn gần gũi, quen thuộc trong văn học dân gian như con muỗi, con nhặng, con cá, con cò, con
Trang 39
trâu già, con chó nhỏ cũng "nhảy, múa, đi, đứng" sinh động, góp phần tạo nên hồn quê, hồn thơ dân tộc trong thơ Nguyễn Khuyến
Trước Nguyễn Khuyến, thơ ca trung đại đã "khai thác" nhiều cuộc sống nông thôn và đời
sống người dân quê, nhưng hầu hết đều được nhìn nhận và phản ánh qua tiêu chí đạo đức - chính trị Những hình ảnh trong thơ (con trâu, mái nhà tranh, kẻ hái rau tần ) bao giờ cũng mang tính chất ước lệ, tượng trưng và ít sinh động Phải đến Nguyễn Khuyến "văn học mới
thực sự bước xuống đồng ruộng, đến với người dân nơi thôn dã và từ cuộc sống lam lũ mà cũng không kém phần thơ mộng của làng cảnh Việt Nam, thơ ca mới được kết tinh trở nên chân
thực, chi tiết, sinh động đến mức như vậy" (Vũ Thanh) [134; 18] Từ chối ước lệ, quan điểm
thẩm mỹ truyền thống, thơ Nguyễn Khuyến đi vào cuộc sống, con người nông thôn không phải
bằng tiêu chí đạo đức, mà bằng những cảm xúc chân thành Những cảm xúc chân thành của
một hàn sĩ sinh ra và Iđn lên ở nông thôn, những cảm xúc của một con người hầu như gắn bó
cả đời với làng quê nghèo "chiêm khê, mùa thối" Không còn văn hoa sang trọng, mà chỉ còn
cuộc sống đời thường góc cạnh, chua xót - nhưng đó là cuộc sống đích thực, cuộc sống dân dã
của một dân tộc "đói nghèo trong rơm rạ" (Chế Lan Viên) Có thể nói, hầu hết mọi cảnh đời ở nông thôn đều được phản ánh đầy đủ, chính xác và tinh tế trong thơ Nguyễn Khuyến Đó là
cảnh làm ăn thất bát, cảnh vỡ đê, lụt lội Đó là cảnh ngày mùa rộn rã, cảnh làng vào hội Đó còn là lời than nợ, là dư âm buồn bã của phiên chợ Đồng, phiên chợ cuối cùng của một năm làm ăn không khá giả:
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung
(Chợ Đồng) [23; 117]
Khám phá, tái tạo một cuộc sống nông thôn với những quang cảnh sinh hoạt bình thường
bằng những cảm xúc và rung động chân thành, là một thành công lớn của Nguyễn Khuyến so
với thơ ca trung đại Thành công ấy là cả quá trình được hình thành trong không khí văn chương bác học, quý phái chốn quan trường, được trải nghiệm qua những năm tháng vào Nam
ra Bắc, được hòa mình "chân lấm tay bùn" với người dân quê, nhưng trên hết nó được bắt nguồn từ một quan niệm thẩm mỹ có phần khác với quan niệm thẩm mỹ thường thấy trong văn
Trang 40học bác học Đó là quan niệm thẩm mỹ của văn học dân gian, của môi trường truyền bá và diễn xướng
Như vậy, cùng với quá trình chuyển biến tư tưởng nghệ thuật, việc miêu tả cuộc sống hàng ngày của người dân quê là một dấu hiệu quan trọng ương nguyên tắc nhìn nhận và phản ánh thực tại của thơ Nguyễn Khuyến
1.3 Nh ững ảnh hưởng truyền thông trong thơ Nguyễn Khuyến
Là một hình thái ý thức xã hội nằm trong kiến trúc thượng tầng, văn học luôn phát triển theo quy luật kế thừa và cách tân đối với truyền thống, với di sản của dân tộc Nghiên cứu vấn
đề này trong tác phẩm "Tìm hiểu một nguyên lý văn chương", Phương Lựu cho rằng "Sáng tác
của bất kỳ nhà văn lớn nào ít nhiều cũng đều được khơi nguồn từ quá khứ, nhưng sáng tác của
bất kỳ nhà văn lớn quá khứ nào cũng đều không thể thay thế cho việc sáng tạo hiện tại" [85; 190] Nhận định này cho thấy, văn học luôn là sự kế thừa và phát triển qua từng nhà văn, qua
từng giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến đều được gọi là nhà thơ lớn của dân tộc, bởi vì những đứa con tinh thần của
họ đều phản ảnh được những vấn đề lớn lao của đất nước, của xã hội đương thời và là niềm vui, nỗi buồn, là hạnh phúc trong đời sống tinh thần của người dân Mỗi nhà thơ đều có phong cách riêng của mình Không ai giống ai Không thể lẫn lộn Trong dòng chảy của văn học, mỗi người trong số họ - đến lượt mình, bằng những nỗ lực tinh thần, vừa tiếp thu truyền thống, vừa đưa văn học đi xa hơn trong khát vọng nhân văn của cuộc đời Như vậy, dẫu có ý thức hay không, các nhà văn, nhà thơ đều chịu ảnh hưởng của truyền thống văn học Và truyền thống văn học Việt Nam được hình thành, phát triển trên nền tảng văn học bác học và văn học bình dân
Văn học bác học hay còn gọi là văn học viết là toàn bộ sáng tác nghệ thuật của các tầng
lớp trí thức trong xã hội cũ Buổi đầu kiến thiết và xây dựng đất nước, Nhà nước Đại Việt đã vay mượn và chịu ảnh hưởng nhất định của Nhà nước phong kiến phương Bắc, một nhà nước
lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính và lấy chữ Hán làm quốc tự Vào Việt Nam, Nho giáo