1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1

107 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận ra được tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của việc phát âm đối với học sinh trong giai đoạn đầu cấp tiểu học, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thụy Hồng Loan

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thụy Hồng Loan

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LY KHA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Lê Thụy Hồng Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha Cô đã luôn động viên, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn trong suốt thời gian vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học, Quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Giáo dục học (Giáo dục tiểu học), Phòng Đào tạo, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của Quý Thầy Cô, các em học sinh lớp Một của Quý trường Tiểu học đã tham gia hợp tác và hỗ trợ tôi khi tìm hiểu thực tiễn tại trường

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và tất cả những người đã

âm thầm giúp đỡ tôi bằng cách này hay cách khác trong suốt quá trình thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt trong đề tài

Danh mục các bảng

Danh mục các hình ảnh

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 8

1.2 Cơ sở lí luận 13

1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 1 13

1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học 14

1.2.3 Cơ sở giáo dục học 18

1.3 Cơ sở thực tiễn 22

1.3.1 Chương trình, tài liệu dạy học 22

1.3.2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại một số trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh 23

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40

2.1 Căn cứ xây dựng bài tập 40

2.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập 41

2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính chuẩn mực của ngôn ngữ 41

2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 41

2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển 41

Trang 6

2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng 41

2.3 Quy trình và phương pháp xây dựng bài tập 42

2.3.1 Quy trình xây dựng bài tập 42

2.3.2 Phương pháp xây dựng bài tập 43

2.4 Một số bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 44

2.4.1 Bài tập phân biệt âm lỗi và âm đúng 44

2.4.2 Bài tập luyện phát âm theo mẫu 47

2.4.3 Bài tập rèn phát âm kết hợp rèn chính tả 49

2.4.4 Bài tập sửa lỗi phát âm thuộc về ngữ lưu 55

2.4.5 Trò chơi học tập 60

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 KHẢO NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 69

3.1 Khái quát về việc khảo nghiệm 69

3.1.1 Mục đích khảo nghiệm 69

3.1.2 Nội dung khảo nghiệm 69

3.1.3 Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp khảo nghiệm 69

3.1.4 Quy trình và công cụ khảo nghiệm 70

3.2 Kết quả khảo nghiệm và phân tích kết quả 73

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

CBQL Cán bộ quản lí

GV Giáo viên

HS Học sinh HTBT Hệ thống bài tập

PH Phụ huynh

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm về cấu tạo và thanh tính của các phụ âm tiếng Việt 15

Bảng 1.2 Đánh giá của giáo viên về vai trò của việc rèn phát âm và ý nghĩa của phân môn Học vần đối với việc rèn phát âm cho học sinh 27

Bảng 1.3 Đánh giá của giáo viên về hệ thống bài tập rèn phát âm cho học sinh trong chương trình sách giáo khoa hiện hành 28

Bảng 1.4 Đánh giá của giáo viên về lỗi phát âm của học sinh 28

Bảng 1.5 Nguyên nhân học sinh phát âm sai 29

Bảng 1.6 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi rèn phát âm cho học sinh 30

Bảng 1.7 Lỗi phát âm của học sinh lớp 1 33

Bảng 1.8 Ảnh hưởng phương ngữ Nam đến phát âm của học sinh 36

Bảng 3.1 Bảng đánh giá của giáo viên về hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 71

Bảng 3.2 Bảng đánh giá của phụ huynh về hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 72

Bảng 3.3 Đánh giá về hình thức của hệ thống bài tập 73

Bảng 3.4 Đánh giá về nội dung của hệ thống bài tập 73

Bảng 3.5 Đánh giá về hiệu quả của hệ thống bài tập 74

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Hình minh họa cặp tối thiểu có nghĩa 45

Hình 2.2 Hình minh họa cặp tối thiểu có nghĩa và rỗng nghĩa 46

Hình 2.3 Hình minh họa ví dụ 1 50

Hình 2.4 Hình minh họa ví dụ 2 50

Hình 2.5 Hình minh họa ví dụ 3 51

Hình 2.6 Hình minh họa ví dụ 5 52

Hình 2.7 Hình minh họa trò chơi học tập “Ai tinh mắt” 62

Hình 2.8 Hình minh họa trò chơi học tập “Ai nhanh hơn” 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện tương ứng với bốn kĩ năng chính yếu “nghe - nói - đọc - viết” Riêng đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là giai đoạn đầu cấp tiểu học, lúc này các em bước vào lớp 1

và bắt đầu làm quen với môi trường học tập là chính thì việc rèn luyện kỹ năng nói, đặc biệt là rèn phát âm thật sự rất cần thiết và cần được rèn luyện thường xuyên, rèn luyện suốt đời

Phát âm có vai trò rất quan trọng trong môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Học vần nói riêng Theo tác giả Hoàng Thị Tuyết (2012):

Học vần là giai đoạn đầu tiên trong quá trình học đọc viết ở tiểu học Dạy Học vần còn được gọi là dạy đọc viết chữ Học sinh khi đến trường chỉ có vốn tiếng

mẹ đẻ ở dạng nói - nghe Kĩ năng đọc viết chỉ thực sự phát huy khi các em được học tại trường Học vần là một giai đoạn cực kì quan trọng vì nó không những hình thành kĩ năng giải mã và khả năng nhận diện từ mà còn tạo nền tảng cho việc phát triển kĩ năng đọc và viết của học sinh tiểu học

Bên cạnh đó, nắm vững cách phát âm còn là nền tảng cho việc học tập tốt các phân môn khác Việc phát âm đúng, rõ ràng, diễn đạt lời nói mạch lạc, trôi chảy không những đem lại sự phát triển hoàn thiện về ngôn ngữ mà còn làm cho vốn từ được mở rộng và sử dụng từ ngữ hiệu quả trong giao tiếp Hơn nữa, việc phát âm và luyện phát âm đúng với chuẩn quy tắc tiếng Việt góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, trong thực tế việc dạy học vần hiện nay phần lớn chỉ dừng lại ở mức rèn luyện phát âm đúng thông qua ngữ liệu có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa thực sự quan tâm đến việc thay đổi và xây dựng ngữ liệu nhằm đem lại hiệu quả hơn trong việc rèn luyện phát âm cho học sinh

Trang 11

Nhận ra được tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của việc phát âm đối với học

sinh trong giai đoạn đầu cấp tiểu học, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng

hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1” để nghiên cứu

2 Mục tiêu, mục đích nghiên cứu

Đề tài “Xây dụng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1”, nhằm:

1 Tìm được các lỗi phát âm thường gặp của học sinh lớp 1, mô tả và phân tích nguyên nhân lỗi phát âm của học sinh lớp 1

2 Mô tả và phân tích được thực trạng rèn phát âm và xây dựng được một số bài tập rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại một số trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh

3 Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho các em nhằm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp, nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu, mục đích đặt ra, người nghiên cứu tiến hành các nhiệm vụ sau:

1 Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

2 Khảo sát thực trạng lỗi phát âm và thực trạng rèn phát âm cho học sinh lớp

1 tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3 Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm phù hợp với học sinh lớp 1

4 Thực hiện khảo nghiệm hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh

lớp 1 đã xây dựng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Lỗi phát âm của học sinh lớp 1 và hệ thống bài tập rèn phát âm cho học sinh

5 Giả thuyết khoa học

Nếu có được hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 mang tính khả thi thì sẽ đem lại hiệu quả trong việc góp phần làm giảm lỗi phát âm

Trang 12

thường gặp của các em

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nghiên cứu

Luận văn của chúng tôi chỉ nghiên cứu về vấn đề phát âm, cụ thể là lỗi phát âm của học sinh lớp 1 và việc rèn phát âm cho học sinh có có sự phát triển bình thường về ngôn ngữ, về thể chất, về tâm sinh lí nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm liên quan đến việc phát âm của các em Qua đó, chúng tôi tiến hành xây dựng hệ thống bài tập phù hợp nhằm giúp học sinh rèn luyện phát âm tốt hơn Riêng đối với học sinh có sự khiếm khuyết hay các dị tật ảnh hưởng đến phát âm, đến việc giao tiếp sẽ không thuộc đối

tượng liên quan đến vấn đề nghiên cứu của chúng tôi

+ Nhóm 2: Giáo viên tiểu học, ưu tiên giáo viên đang dạy lớp 1

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết

- Mục đích: Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

- Nội dung và đối tượng thực hiện:

+ Nội dung: Nghiên cứu về vấn đề phát âm của học sinh lớp 1 và việc rèn luyện phát âm cho học sinh

+ Đối tượng: Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Cách thức thực hiện: Người nghiên cứu thu thập, chọn lọc và đọc tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: các tài liệu tâm lí học, các tài liệu về ngữ âm, phương ngữ, biện pháp rèn phát âm và cách thức xây dựng hệ thống bài tập nhằm

Trang 13

rèn kĩ năng phát âm cho học sinh…Sau đó người nghiên cứu tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan nhằm mục đích đem lại một cái nhìn tổng quan cũng như sự liên kết trong vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Quan sát để tìm hiểu về cách thức phát âm của học sinh

- Nội dung và đối tượng thực hiện:

+ Nội dung: Người nghiên cứu quan sát HS phát âm các từ trong bảng từ lượng giá

+ Đối tượng: Học sinh lớp 1

- Cách thức thực hiện: Quá trình thu thập, phân tích kết quả là những thông tin về việc phát âm các từ trong bảng từ lượng giá của học sinh sẽ được người nghiên cứu ghi nhận từ việc quan sát, ghi âm và ghi chép trực tiếp

7.2.2 Phương pháp điều tra

- Mục đích: Thu thập những thông tin, những nhận định, đánh giá của giáo viên

về các vấn đề liên quan đến phát âm và thực trạng rèn phát âm cho học sinh lớp 1 Đó cũng chính là cơ sở để người nghiên cứu có thể đánh giá được khả năng phát âm của các em trong giai đoạn này và tìm ra được lỗi sai trong quá trình phát âm của các em Bên cạnh đó, người nghiên cứu có được những thực tiễn quý báu góp phần cho việc tiến hành xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh

- Nội dung và đối tượng thực hiện:

+ Nội dung: Bao gồm những thông tin, những nhận định và đánh giá của giáo viên về các vấn đề liên quan đến phát âm và thực trạng rèn phát âm cho học sinh lớp 1

+ Đối tượng: Giáo viên tiểu học, ưu tiên giáo viên đang dạy lớp 1

- Cách thức thực hiện: Đầu tiên người nghiên cứu cần xây dựng phiếu xin ý kiến Sau đó, gửi phiếu đến đối tượng phù hợp và cuối cùng là thu thập, tổng hợp các ý kiến

và đưa ra kết luận phù hợp

7.2.3 Phương pháp khảo nghiệm

- Mục đích: Nhằm thu thập thông tin, nhận định và đánh giá khách quan cũng

Trang 14

như chủ quan của các đối tượng có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Nội dung và đối tượng thực hiện: Hệ thống bài tập rèn phát âm cho học sinh lớp

+ Bước 4: Xử lí một cách khoa học tất cả ý kiến đó và rút ra kết luận cho hệ thống bài tập đã xây dựng

rèn phát âm cho các em

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Trang 15

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1

tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Khảo nghiệm hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại

thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh các trang chính văn, phần Phụ lục bao gồm: Phiếu xin ý kiến giáo

viên về việc rèn phát âm cho học sinh lớp 1, phiếu khảo nghiệm hệ thống bài tập rèn

kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 (Dành cho GV và CBQL), phiếu khảo nghiệm

hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 (Dành cho PH), hình minh họa bảng từ lượng giá âm lời nói của học sinh, một số hình ảnh phiếu xin ý kiến và

phiếu khảo nghiệm

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trong chương 1, người viết tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn

đề nghiên cứu Cụ thể: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Cơ sở lí luận bao gồm: Cơ

sở tâm sinh lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 1; Cơ sở ngôn ngữ học; Cơ sở giáo dục học Cơ sở thực tiễn bao gồm các nội dung sau: Chương trình, tài liệu dạy học; Thực trạng rèn phát âm cho học sinh lớp 1 tại một số trường tiểu học ở thành phố

Hồ Chí Minh

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Vấn đề về phát âm và các yếu tố liên quan là một trong những đề tài rất đáng

lưu tâm và đã được rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập 1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Có thể kể đến một số tài liệu nghiên cứu sau:

Công trình nghiên cứu “A Program to Develop the listenning and speaking

skill of children in a first grade classroom” (1997) của nhóm tác giả Wilson, Julie Anne Công trình nghiên cứu này đã khẳng định tầm quan trọng của việc dạy học kĩ

năng nghe - nói trong trường tiểu học Việc tiến hành thử nghiệm của nhóm tác giả trong chương trình “Phát triển kĩ năng nghe - nói trong lớp học” giúp người viết nhìn thấy được các hình thức phát triển kĩ năng nghe - nói được tổ chức rất đa dạng

và phong phú, bao gồm một số hoạt động sau: Đặt câu hỏi trong suốt quá trình tham gia lớp học; Thiết kế, tổ chức các trò chơi; Thi kể chuyện; Khai thác các kinh nghiệm, kỹ năng sống; Kiến thức về văn hóa, lịch xử, xã hội…

Bên cạnh đó, tài liệu “Teaching Speaking & Listening in the Primary School” (2000) Third Edition của nhóm tác giả Elizabeth Grugeon, Lyn Dawes,

Carol Smith và Lorraine Hubbard cho rằng việc nghe - nói tốt sẽ là cơ sở để học sinh phát triển các kĩ năng khác ngoài kĩ năng đọc - viết trong nhà trường Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả còn nghiên cứu một số hình thức phát triển kĩ năng nghe - nói gắn liền với thực tế như tương tác với máy tính, hoạt động trải nghiệm thực tế, những buổi biểu diễn kịch nghệ,…Như vậy trong tài liệu của nhóm tác giả Elizabeth Grugeon, Lyn Dawes, Carol Smith và Lorraine Hubbard đã thể hiện quan điểm nghe - nói tốt là cơ sở để phát triển các kĩ năng khác, việc ứng dụng một số

Trang 17

hình thức phát triển kĩ năng nghe - nói gắn liền với thực tế cần được phổ biến và ứng dụng rộng rãi trong nhà trường tiểu học

Hai tài liệu trên đã đem lại cái nhìn tổng quan về vấn đề phát triển kĩ năng nghe - nói trong nhà trường tiểu học Bên cạnh đó, tài liệu còn đề cập đến các hình thức phát triển kĩ năng nghe - nói gắn liền với thực tiễn Thiết nghĩ, đây là nguồn tài liệu quý báu cho những ai đang băn khoăn trong việc đưa ra các biện pháp nhằm phát triển kĩ năng nghe - nói cho học sinh tiểu học (nhất là học sinh lớp 1) nói chung và người viết nói riêng Người viết đã dựa trên các biện pháp, hình thức phát triển kĩ năng nghe - nói các tác giả đề cập làm cơ sở cho việc xây dựng HTBT rèn phát âm cho học sinh lớp 1 vì phát triển kĩ năng nghe - nói tốt sẽ đem lại hiệu quả trong việc rèn kĩ năng phát âm cho HS

Ngoài ra, trong báo cáo “Pronunciation problems: A case study of English language students at Sudan University of Science and Technology”(2014) Tác giả

Elkhair Muhammad Idriss Hassan đã nghiên cứu vấn đề phát âm tiếng Anh của sinh viên bản xứ đã học tiếng Anh nhiều năm Nghiên cứu được thực hiện trên 50 sinh viên và 30 giáo viên đang giảng dạy tiếng Anh tại đây Các công cụ được sử dụng

để thu thập dữ liệu bao gồm: việc quan sát và sử dụng bảng hỏi Dựa trên sự phân tích và mô tả những gì thu thập được, tác giả cho rằng các yếu tố sau đây là nguyên nhân hạn chế năng lực phát âm của sinh viên bản xứ: Các yếu tố gây nhiễu; Sự khác biệt trong ngữ điệu của hai ngôn ngữ; Sự không nhất quán giữa phát âm và chính tả trong tiếng Anh Trong vấn đề rèn phát âm cho học sinh tiểu học cũng vậy, người viết cũng dựa trên sự quan sát và sử dụng bảng từ lượng giá phù hợp nhằm đánh giá khả năng phát âm của học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 1 Qua việc quan sát và

sử dụng bảng từ lượng giá người viết cho rằng các nguyên nhân ban đầu dẫn đến sự hạn chế năng lực phát âm của các em bao gồm: Vấn đề ảnh hưởng phương ngữ và

sự không thống nhất quy tắc tương ứng 1 - 1 giữa âm và chữ viết

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Có thể kể đến một số nghiên cứu, báo cáo sau:

Trong cuốn sách “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ” (1980),

tác giả Trần Thị Ngọc Thanh đã nêu rõ ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ

Trang 18

và là công cụ của tư duy Không những thế, ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp cần thiết giữa trẻ với mọi người chung quanh, đồng thời là phương tiện quan trọng

để rèn luyện và phát triển trí tuệ Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể thể hiện đầy

đủ nhất những nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình Cũng nhờ có ngôn ngữ

mà những nhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện hiểu con trẻ của mình nhiều hơn, để từ đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm, những hành vi đạo đức đúng đắn nhất Tác giả Trần Thị Ngọc Thanh khẳng định: việc dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ không tách rời việc phát triển

và hoàn thiện dần ngôn ngữ cho các em Có thể nói, đây là nguồn tài liệu cần thiết cho những ai đang muốn thực hiện một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng phát âm cho

HS nói chung và người viết nói riêng trong quá trình dạy học rèn phát âm cho các

và hoàn thiện việc rèn phát âm cho trẻ, trẻ phát âm đúng sẽ nghe - nói tốt

Trong “Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học 1” (2010) của nhóm tác

giả Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, thì tác giả Đặng Kim Nga cũng đã nêu bật nhiệm vụ đặc thù, quan trọng nhất của dạy Học vần là giúp cho học sinh lớp 1 chiếm lĩnh một công cụ mới là “chữ viết”; Thực hiện được quá trình giải mã âm đến chữ và ngược lại chữ đến âm hay còn gọi là dạy đọc - viết sơ bộ, dạy đọc - viết giai đoạn đầu Phát âm cũng là một phần quan trọng, một phần không thể thiếu trong mỗi giờ Học vần, trong giờ Học vần, HS được rèn phát âm từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất là âm đến các đơn vị lớn hơn như tiếng, từ rồi đến câu, đoạn ứng dụng Người viết đã dựa trên quy trình rèn phát âm trong giờ Học vần là

Trang 19

đi từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất là âm đến các đơn vị lớn hơn như tiếng, từ rồi đến câu, đoạn ứng dụng để tiến hành thiết kế HTBT phù hợp, đi từ cơ bản đến nâng cao với mục đích rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1

Tác giả Trần Thị Tố Trinh trong “Xây dựng hệ thống bài tập nhận thức âm thanh hỗ trợ cho học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc” (2013) đã xây dựng các bài

tập nhận thức âm thanh dựa trên li thuyết về đặc điểm ngôn ngữ, tâm sinh lí của trẻ lớp 1 mắc chứng khó đọc Cụ thể: HTBT nhận thức âm thanh ở cấp độ âm vị, HTBT nhận thức âm thanh ở cấp độ từ, HTBT nhận thức âm thanh ở cấp độ câu, HTBT nhận thức âm thanh ở cấp độ văn bản Người viết nhận thấy rằng các bài tập được áp dụng từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ của các em trong từng thời điểm học tập, HTBT cũng tương ứng với chương trình học và những khó khăn mà HS mắc chứng khó đọc mắc phải Người viết đã dựa trên HTBT mà tác giả xây dựng dưới hình thức trò chơi học tập làm cơ sở để tiến hành thiết kế các bài tập rèn phát

âm gần gũi, sinh động và kích thích phát huy tính tích cực trong việc rèn phát âm cho học sinh lớp 1

Trong bài báo “Xây dựng bảng từ dùng lượng giá âm lời nói của trẻ em nói tiếng Việt”(2014), nhóm tác giả Nguyễn Thị Ly Kha, Phạm Hải Lê đề cập đến vấn

đề lượng giá âm lời nói, đề cập đến bảng từ - bộ phận giữ vai trò trung tâm của bộ công cụ lượng giá âm lời nói, đồng thời tiến hành phân tích một số bảng từ đã và đang được sử dụng Có thể nói, đây là nguồn tài liệu quý báu khi tiến hành lượng giá âm lời nói của trẻ em nói tiếng Việt cho những ai đang nghiên cứu về âm ngữ trị liệu nói chung và người nghiên cứu đề tài nói riêng Việc tiến hành lượng giá âm lời nói trẻ em dựa trên bộ công cụ này đã đem lại hiệu quả thiết thực cho người viết trong việc tìm ra lỗi phát âm phổ biến cũng như lỗi phát âm do ảnh hưởng phương

ngữ của học sinh lớp 1

Tác giả Đinh Thị Hồng Chanh trong “Rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 trường Tiểu học Sơn Bình - Tam Đường - Lai Châu” (2014) cũng đã nêu rõ phát âm là một phần quan trọng của môn Tiếng Việt, rèn kĩ

năng phát âm cho học sinh tiểu học được thực hiện thông qua phân môn Tập đọc Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn khảo sát thực trạng dạy - học phát âm cho học

Trang 20

sinh lớp 1, tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và phát âm như: Sử dụng trò chơi trong dạy học phát âm; Kết hợp với phụ huynh cho tăng cường nói tiếng Việt ở nhà; Kết hợp vừa đọc vừa viết chữ; Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học phát âm Đồng quan điểm trong việc dạy học phát âm cho

HS dân tộc thiểu số học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, tác giả Lưu Hạ Dung

trong “Đề xuất biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trường tiểu học Nà Nghịu - Sông Mã - Sơn La” (2014) đã cho rằng sửa lỗi phát âm

cho học sinh tiểu học được thực hiện chủ yếu qua quá trình học Tập đọc Bên cạnh

đó, tác giả cũng đã dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn khảo sát thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 người dân tộc thiểu số, tác giả đưa ra một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho như: Sử dụng một số phương pháp thông dụng dạy học sinh lớp 1 cách phát âm: phương pháp trò chơi học tập, phương pháp cấu âm, phương pháp luyện tập phát âm theo mẫu,…

Người viết cho rằng nguồn tài liệu này đã đưa ra các phương pháp và các biện pháp thiết thực, vì HS dân tộc thiểu số học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với học sinh lớp 1 người Kinh đang sinh sống và học tập tại

TP HCM có tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ Các phương pháp và các biện pháp sửa lỗi phát âm cho HS dân tộc thiểu số học tiếng Việt được nêu ra ở trên là nguồn tham khảo cần thiết cho người viết khi tiến hành xây dựng HTBT rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1

Tác giả Trần Thị Hồng Vân trong “Chỉnh âm cho trẻ 3 - 5 tuổi bị rối loạn âm lời nói (tại thành phố Hồ Chí Minh)” (2015) đã quan tâm đến những trẻ có vấn đề

về ngôn ngữ (rối loạn âm lời nói) Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận, tác giả nhận thấy việc phát âm đúng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ, giao tiếp

và việc học đọc viết sau này của trẻ Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tác giả đã xây dựng HTBT chỉnh âm và thực nghiệm trên từng trường hợp

cụ thể Có thể thấy các bài tập chỉnh âm thật sự rất cần thiết đối với những trẻ đang gặp khó khăn trong vấn đề phát triển ngôn ngữ Đồng quan điểm đó, tác giả Nguyễn

Ngọc Bích Trâm trong luận văn “Xây dựng bài tập hỗ trợ chỉnh âm cho học sinh lớp một có khó khăn về âm lời nói” (2016) cho rằng phát âm đúng là nền tảng, cơ sở

Trang 21

tối thiểu của việc giao tiếp và học tập Tác giả cũng đã tìm hiểu về các dạng bài tập dành riêng cho đối tượng chuyên biệt Thông qua đó, tác giả xây dựng HTBT hỗ trợ chỉnh âm cho nhóm đối tượng cần tiến hành chỉnh âm HTBT bao gồm: Nhóm bài tập luyện vận động cho bộ máy phát âm; Nhóm bài tập luyện nói (cặp tối thiểu, từ đơn tiết, từ đa tiết, câu); Nhóm bài tập luyện đọc (tương ứng theo luyện nói) HTBT

kể trên đã được tác giả ứng dụng khi tiến hành chỉnh âm và hỗ trợ dạy đọc cho các trường hợp nhằm mục đích giúp các em đạt được chuẩn đọc viết của lớp 1, đồng thời, tạo nguồn tư liệu để GV, PH tham khảo và hỗ trợ chỉnh âm cho HS

HTBT mà hai tác giả Trần Thị Hồng Vân và Nguyễn Ngọc Bích Trâm xây dựng là cơ sở cho người viết tiến hành thiết kế bài tập phân biệt âm lỗi và âm đúng cho học sinh lớp 1 Bài tập phân biệt âm lỗi và âm đúng dựa trên việc tiến hành lựa chọn các cặp từ tối thiểu (là hai từ đơn tiết hoặc hai hình vị khu biệt nhau ở cùng vị trí cấu trúc) Đây là bài tập người viết cho là cần thiết trong quá trình rèn phát âm cho học sinh lớp 1 Việc HS nhận diện, phân biệt được âm lỗi và âm đúng trong từng trường hợp cụ thể sẽ làm tăng hiệu quả trong quá trình rèn phát âm cho các

sở để người viết thực hiện thiết kế dạng bài tập rèn phát âm do ảnh hưởng phương ngữ cho học sinh lớp 1 nhằm đem lại hiệu quả trong việc rèn phát âm cho các em Như vậy, có thể thấy vấn đề phát âm và việc rèn phát âm cho HS, đặc biệt là học sinh lớp 1 nói riêng luôn là đề tài nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, từ việc nghiên cứu trường hợp rối loạn ngôn ngữ, trường hợp gặp khó khăn trong vấn đề phát âm cho đến trường hợp bình thường đều mang lại những kết

Trang 22

quả nhất định Kết quả đó bao gồm cả những thuận lợi, những khó khăn, cách khắc phục, HTBT được xây dựng, các phương pháp, biện pháp hỗ trợ,…Đó cũng chính

là những công trình nghiên cứu, những tiền đề quý báu để làm cơ sở cho chúng tôi

thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1”

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 1

Theo các nhà khoa học, ở độ tuổi 6 - 7 tuổi, bộ não của trẻ đã có khối lượng

bằng 90% khối lượng bộ não người lớn Điều này cho phép các em tham gia vào một loại hoạt động mới có ý thức, đó là hoạt động học tập (Đặng Kim Nga, 2010) Khả năng chú ý của học sinh lớp 1 còn rất hạn chế, các em chỉ có thể tập trung cho một việc hay một đối tượng duy nhất, quá trình tập trung và duy trì sự chú ý chỉ diễn ra trong khoảng 30 - 35 phút (bằng thời gian với 1 tiết học) vì vậy trong quá trình học vần các em thường bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu,…

Học sinh lớp 1 ghi nhớ một cách máy móc, các em dễ dàng ghi nhớ những gì mới được học nhưng khi bắt đầu được học những cái mới lạ, ấn tượng hơn, các em

dễ dàng quên đi những cái cũ

Tư duy của học sinh lớp 1 dựa trên những biểu tượng cụ thể và thường phán đoán một chiều, các em chỉ dựa theo một dấu hiệu duy nhất để phán đoán toàn bộ

sự vật hiện tượng

Hình ảnh tưởng tượng của học sinh lớp 1 mờ nhạt và không rõ ràng Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác của các em thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, tri giác của học sinh lớp 1 dựa vào cảm giác trực tiếp, các em tri giác được khi được trực tiếp cầm nắm, sờ vào sự vật hiện tượng hoặc tri giác dựa vào những gì GV hướng dẫn

Những hiểu biết về tiếng Việt và năng lực sử dụng lời nói của học sinh lớp 1 không đồng đều: Phần lớn HS đã sử dụng ngôn ngữ nói (nghe, nói) khá thành thạo, một số ít đã biết đọc, biết viết trước khi đi học Với HS sử dụng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, cần tận dụng những kinh nghiệm lời nói của các em vào việc học đọc, viết Đối với HS từng vùng phương ngữ, cũng cần phải điều tra để biết những đặc điểm

Trang 23

phát âm của địa phương các em có gây khó khăn gì cho việc học tiếng Việt, từ đó lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học thích hợp với từng đối tượng Trên cơ

sở nhận biết và phân tích được các âm tố, sự phát âm của học sinh tiểu học chuẩn hơn hẳn so với sự phát âm của HS trước tuổi học Dựa vào những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1, có thể thấy rằng khi dạy học vần trong giai đoạn này cần thay đổi linh hoạt hình thức hoạt động trí tuệ (đọc, viết, nghe, nói, sử dụng bộ chữ thực hành, băng chữ…) hoặc xen kẽ những phút giải lao giữa tiết học (hát, chơi trò chơi học tập…) để tránh gây nhàm chán mà vẫn đảm bảo giúp HS phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập (Nguyễn Thị Bích Hạnh và Trần Thị Thu Mai, 2009 & Nguyễn Kế Hào, 1985 & Đặng Kim Nga, 2010 & Hoàng Thị Tuyết, 2012)

Với những đặc điểm về tâm sinh lí và ngôn ngữ đã nêu ở trên, người nghiên cứu định hướng thiết kế HTBT mang tính ứng dụng cao, thực hành là chính nhằm tạo điều kiện cho HS phát huy khả năng tích cực trong học tập Để thực hiện điều

đó, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ thiết kế HTBT phù hợp với lứa tuổi, vừa sức với

HS, người viết còn tiến hành thiết kế HTBT thành những hoạt động sinh động, cụ thể là ứng dụng trò chơi học tập vào việc thực hành rèn phát âm Trò chơi học tập là một phần không thể thiếu trong các giờ dạy học, việc đem trò chơi học tập vào tiết dạy nhằm đảm bảo tiết học diễn ra sinh động, thu hút sự chú ý của HS Đối với việc rèn phát âm cũng vậy, việc yêu cầu HS lặp đi lặp lại quá nhiều lần theo GV sẽ khiến

HS giảm sự chú ý trong học tập Chính vì vậy mà HTBT mà người viết đề xuất mang tính thực hành là chính, lấy HS làm trung tâm nhằm mục đích đem lại hiệu quả trong việc rèn phát âm

1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học

Khái quát về hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại

Vấn đề đưa ra một “chuẩn chính âm” thống nhất cho hệ thống ngữ âm tiếng Việt vẫn còn là một sự nan giải cho các nhà nghiên cứu Trong nghiên cứu này, người viết đã dựa trên sự nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Ân (2015) nhằm mục đích khái quát hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại theo chuẩn chính tả trước khi đi vào

“chuẩn phát âm”

Ngữ âm là cách gọi tắt của âm thanh ngôn ngữ - một loại âm thanh đặc biệt

Trang 24

do con người phát ra dùng để giao tiếp và tư duy Ngữ âm bao gồm các âm, các

thanh, các cách kết hợp âm thanh và giọng điệu ở trong một từ, một câu của một

ngôn ngữ Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất của lời nói Một số đặc điểm

cơ bản của âm tiết bao gồm: ranh giới âm tiết tiếng Việt trùng với ranh giới hình vị, điều này dẫn đến việc phần lớn các âm tiết thường có nghĩa xác định; Âm tiết tiếng Việt có tính độc lập, có thể thấy cấu tạo đầy đủ của âm tiết bao gồm năm yếu tố:

thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối nhưng khi nói và khi viết thì

được tách rời, không có sự nối âm

Cấu tạo đầy đủ của âm tiết bao gồm năm yếu tố: thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Có thể thấy ba bộ phận chính trong âm tiết là phụ âm đầu,

thanh điệu và vần (bao gồm âm đệm, âm chính và âm cuối), vần có vai trò đặc biệt quan trọng và không tách rời trong cấu tạo âm tiết Bên cạnh đó, âm chính và thanh

điệu là hai yếu tố không thể thiếu trong âm tiết Âm tiết tiếng Việt là tổ hợp âm

thanh có tổ chức chặt chẽ, mức độ kết hợp giữa các yếu tố trong âm tiết cũng khác nhau: Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp lỏng, riêng các bộ phận trong vần kết hợp với nhau một cách chặt chẽ

Âm đầu: Âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết, quy định âm sắc của âm tiết

lúc mở đầu và khu biệt âm tiết Số lượng: 21 phụ âm

Bảng 1.1 Đặc điểm về cấu tạo và thanh tính của các phụ âm tiếng Việt

Vị trí cấu âm Phương thức

cấu âm - Thanh tính

MMôi

Đầu lưỡi

Mặt lưỡi

Gốc lưỡi

Thanh hầu Thẳng Quặt

Tắc ồn

không bật hơi

vô thanh (p)     (ʔ) hữu thanh  

Trang 25

Âm đệm: Âm đệm đứng ở vị trí thứ hai trong cấu tạo âm tiết và đứng đầu bộ

phận vần Âm đệm có chức năng làm trầm hóa âm sắc của âm tiết lúc mở đầu Những âm tiết có âm đệm khi phát âm trầm thấp hơn so với âm tiết vắng âm đệm

Số lượng: 1, kí hiệu // hoặc /w/ Âm đệm là một bán âm (vừa là nguyên âm, vừa

là phụ âm) Nó có cấu tạo giống nguyên âm /u/ (vị trí của lưỡi: dòng sau, độ mở của miệng: hẹp, hình dạng của môi: tròn môi) nhưng phát âm rất lướt

Âm chính: Âm chính đảm nhiệm vị trí thứ ba trong âm tiết, vị trí thứ hai

trong vần Âm chính quy định âm sắc của âm tiết, khu biệt âm tiết Số lượng: có 14

nguyên âm, trong đó có 11 nguyên âm đơn (/e/, /ɯ/, //, /ɤˇ/, //, /u/, /o/, //, /i/, //, /ă/) và 3 nguyên âm đôi (/ie/, /uo/, /ɯɤ/)

Âm cuối: Âm cuối làm nhiệm vụ kết thúc âm tiết, quy định âm sắc của âm

tiết lúc kết thúc Số lượng âm cuối gồm 8 âm vị Trong đó có 2 bán nguyên âm

/-/, /-/ và 6 phụ âm /-/, /-t/, /-k/, /-m/, /-n/, /-/

Thanh điệu: Hệ thống thanh điệu tiếng Việt gồm 6 thanh: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng

Biến thể phương ngữ Nam:

Biến thể phương ngữ có thể trên phương diện ngữ âm, phương diện từ ngữ hoặc ngữ pháp (Vũ Thị Ân, 2015), vì để phù hợp với nghiên cứu về lỗi phát âm chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu với tiêu chí chỉ xét biến thể phương ngữ trên phương diện ngữ âm Trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện khảo sát tại TP.HCM và số HS chịu ảnh hưởng phương ngữ Nam chiếm phần lớn trong tổng số

HS được khảo sát Sau đây một vài nét sơ lược về phương ngữ Nam

a Hệ thống thanh điệu: 5 thanh, thanh ngã với thanh hỏi trùng làm một (Vũ Thị Ân, 2015 & Võ Xuân Hào, 2009 & ngonngu.net, 2006)

b Hệ thống âm đầu: Có các phụ âm uốn lưỡi /ş, z, tr/ (chữ viết ghi là s, r, tr)

Ở Nam Bộ, có thể phát âm rung lưỡi [r] So với các phương ngữ khác, phương ngữ Nam thiếu phụ âm /v/, nhưng lại có thêm âm [w] bù lại; không có âm /z/ và được thay thế bằng âm [j] Một số vùng ở phương ngữ Nam vẫn phát âm không phân biệt

các cặp phụ âm đầu thể hiện trên chữ viết là tr/ ch, s/ x, r/ d/ gi Đặc biệt phổ biến

Trang 26

trong cách phát âm của người miền Nam là không phân biệt 2 phụ âm thể hiện trên

chữ viết là v/ d (Võ Xuân Hào, 2009 & ngonngu.net, 2006)

c Âm đệm: Ở miền Nam, có vùng không có âm đệm Ở vị trí đầu âm tiết, các

âm cuối lưỡi /k, / và âm họng /h, ʔ/ khi đứng trước âm đệm /-w/ đều biến thành /g/ Âm đệm chỉ tồn tại khi âm đầu là các phụ âm gốc lưỡi và âm họng như đã nêu ở trên Nhìn chung, âm đệm thường không tồn tại trong thành phần cấu tạo của phương ngữ Nam Chẳng hạn, các âm tiết có âm đệm đều bị lược bỏ trong lời nói (Vũ Thị Ân, 2015 & Võ Xuân Hào, 2009)

d Âm chính: Trong một số trường hợp, người miền Nam không phân biệt được cách phát âm của /e/ với //, // với // Một số vùng không phân biệt nguyên âm đơn với nguyên âm đôi như /i/ với /ie/, // với //, có nơi đọc “o” 

“oo” (Vũ Thị Ân, 2015)

e Âm cuối: Phương ngữ Nam nhìn chung không có phụ âm /-t/, /-n/, những

âm tiết kết thúc bằng hai phụ âm này đều được phát âm sang /-k/, /-/ Tuy nhiên,

trong các âm tiết chứa vần anh ách thì người Nam Bộ phát âm như ăn ắt (/-k/, /-

đọc thành /-t/, /-n/ (Vũ Thị Ân, 2015)

Phương ngữ Nam cũng có khuynh hướng lẫn lộn s/x và tr/ch như phương ngữ Bắc Nhưng trong ngôn ngữ thông tin đại chúng, trong các hoạt động văn hoá giáo dục, sự phân biệt các phụ âm này lại được duy trì rất có ý thức (ngonngu.net, 2006) Tìm hiểu về biến thể phương ngữ, cụ thể về biến thể phương ngữ Nam trong nghiên cứu này giúp người viết xác định những âm, vần mà HS sử dụng phương ngữ Nam thường bị nhầm lẫn Những biến thể phương ngữ được nêu ở trên là cơ sở

để người viết thiết kế một số bài tập rèn phát âm do ảnh hưởng phương ngữ Nam nhằm góp phần hạn chế sự ảnh hưởng phương ngữ trong phát âm của HS

Hệ thống âm vị tiếng Việt hiện đại với việc rèn phát âm

Việc lượng giá âm lời nói phải tập hợp đầy đủ hệ thống âm vị thuộc về cấu trúc âm tiết tiếng Việt hiện đại và tập hợp được cả những âm vị chỉ tồn tại ở các phương ngữ

Có thể hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại được đề cập ở trên đã phù hợp

Trang 27

với chuẩn chính tả tiếng Việt hiện hành Tuy nhiên khi tiến hành đánh giá khả năng phát âm, không thể loại trừ yếu tố phương ngữ Vì vậy, bảng liệt kê các âm dùng để lượng giá âm lời nói cần bao gồm hệ thống âm vị thuộc về cấu trúc âm tiết tiếng Việt hiện đại (đã được thừa nhận trên phương diện ngôn ngữ toàn dân) và tập hợp các âm vị chỉ tồn tại ở các phương ngữ (không dừng ở giới hạn các âm vị xét trên phương diện chính tả)

Sau đây là danh sách các âm cần lượng giá :

① Hệ thống âm vị làm âm đầu, gồm 24 phụ âm đơn /, , , , , , , ,

, , , , , , , , , , j, , , , , /

② Âm vị làm âm đệm: bán nguyên âm /--/

③ Hệ thống âm vị làm âm chính: gồm 19 nguyên âm đơn /, , , , , , ,

, , , , , :, , , :, , ,  /; và 3 nguyên âm đôi /͜, ͜, ͜/

④ Hệ thống âm vị làm âm cuối gồm 2 bán nguyên âm /-, -/ và 10 phụ âm đơn /-, -, -, -, -, -, -, -, -, - p/

⑤ Hệ thống âm vị siêu âm đoạn tính gồm 6 thanh: ngang /1/, huyền /2/, ngã /3/, hỏi /4/, sắc /5/, nặng /6/

(Nguồn: Nguyễn Thị Ly Kha và Phạm Hải Lê, 2014)

1.2.3 Cơ sở giáo dục học

Dựa trên cơ sở lí luận về mặt giáo dục học - lí luận dạy học vần, người viết lựa chọn các nguyên tắc và phương pháp dạy học vần từ quan điểm của các tác giả Hoàng Thị Tuyết (2012) và Đặng Kim Nga (2010) Từ những nguyên tắc và phương pháp đó, người viết liên tưởng đến việc rèn luyện kĩ năng phát âm cho các

em

Nguyên tắc dạy học vần

 Nguyên tắc chữ quốc ngữ và tính tương hợp giữa âm và chữ

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Ranh giới ngữ âm và hình thức của từ nhìn chung trùng nhau ở cấp độ âm tiết Mỗi chữ được phát thành một

âm tiết (còn gọi là tiếng) và được viết thành một khối Chữ viết tiếng Việt (chữ quốc ngữ) thể hiện đầy đủ các thành phần của âm tiết như một cấu trúc trọn vẹn

Trang 28

Khi phát âm, mỗi âm được thể hiện bằng một chữ khác nhau, tương ứng quy tắc tương ứng 1 - 1 giữa âm và chữ, ví dụ: âm /b/ có sự thể hiện trên chữ viết là “b” Khi bắt đầu chuyển sang giai đoạn viết chữ thì quy tắc tương ứng 1 - 1 giữa âm và chữ không còn nữa, thay vào đó một âm có thể thể hiện bằng nhiều con chữ, ví dụ:

âm /k/ nhưng lại tới 3 sự thể hiện trên chữ viết là “c, k, q” với các quy tắc kết hợp tương ứng Trong việc rèn luyện phát âm hay trong khi nói thì việc phân biệt rõ sự thể hiện các chữ ghi âm và các âm tuân theo quy tắc 1 - 1 chính là lợi thế trong việc rèn phát âm cho các em vì các em có thể ghi nhớ dễ dàng sự thể hiện của từng âm trên mặt chữ khi phát âm

 Nguyên tắc chú ý đến học sinh như những cá nhân và phát huy tính tích cực học tập của học sinh lớp Một

Trong lớp học mỗi cá nhân là một thực thể sống động, có sự khác biệt nhau về mọi mặt, việc chú ý đến HS như những cá nhân riêng biệt giúp GV nhận ra những

ưu, nhược điểm trong quá trình học tập của các em và GV sẽ áp dụng được các biện pháp thích hợp khi dạy học

Trong rèn luyện phát âm cũng vậy, khi GV chú ý tới HS như những cá nhân là lúc GV nhận ra được những ưu điểm, nhược điểm của HS mình trong việc rèn luyện phát âm: Có em phát âm tốt, có em còn nói ngọng, có em nói lắp, có em gặp khó khăn trong vấn đề phát âm do ảnh hưởng phương ngữ, có em gặp khó khăn trong vấn đề uốn lưỡi khi phát âm các âm thể hiện trên mặt chữ là “r, s, tr”, có em gặp khó khăn trong vấn đề phát âm tròn môi, phát âm các âm có âm đệm, các âm dễ lẫn

có sự thể hiện trên chữ viết như “iu/ iêu”, “ưu/ ươu”,…Chính vì điều đó mà việc chú ý đến vấn đề ngôn ngữ của từng HS không chỉ thể hiện ở việc chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của các em mà còn là sự chú ý đến từng khó khăn, thuận lợi trong quá trình các em học phát âm Qua đó, GV đề ra các biện pháp phù hợp giúp phát huy tính tích cực cho từng đối tượng, cho từng nhóm HS có chung một vấn đề khó khăn trong quá trình rèn luyện phát âm

 Nguyên tắc thực hành kĩ năng nhận diện từ

HS thực hành kĩ năng nhận diện từ qua việc nhận diện mặt chữ viết của từ ngữ

Trang 29

khi đọc và hình dung ra chữ viết của các tiếng khi nghe, đọc một số văn bản ngắn

Kĩ năng này bao gồm một chuỗi những kĩ năng bộ phận như: Xem xét, nhận diện các âm, vần tạo thành từ ngữ; Phân tách một từ ngữ thành các âm, nhận diện sự tương hợp giữa âm thanh và chữ viết, đánh vần, đọc trơn

Nguyên tắc này là cơ sở cho việc rèn phát âm cho HS thông qua việc gắn âm/ vần với mặt chữ, từ đó HS nhận ra từ gắn với sự vật hiện tượng minh họa và khi các

em gặp từ đó các em cỏ sự liên tưởng để viết đúng chính tả

Các phương pháp dạy Học vần

 Phương pháp trực quan

Đây là phương pháp phổ biến trong dạy học, phương pháp này đem lại những giờ học sinh động, giúp HS hứng thú hơn trong học tập Phương tiện trực quan ở đây bao gồm: tranh ảnh, vật thật (lưu ý: các vật minh họa cần an toàn, lành mạnh) Đối với học sinh lớp 1 là các em trong giai đoạn chuyển từ vui chơi là chính sang giai đoạn học tập là chủ yếu thì việc sử dụng phương tiện trực quan tạo cảm giác gần gũi, thân thiện với các em

Trong việc rèn kĩ năng phát âm thì việc sử dụng hình ảnh trực quan minh họa đóng vai trò rất quan trọng vì giúp các em tiếp thu bài tốt hơn Ví dụ: khi dạy HS phát âm vần “ưu/ ươu” là vần khó, có cách phát âm tương tự nhau thì GV có thể sử dụng các hình ảnh minh họa như “con cừu”, “ốc bươu”, “bưu điện”, “hươu cao cổ”, mặc dù đây đều là những hình ảnh minh họa quen thuộc nhưng lại góp phần giúp

HS hình dung được việc lựa chọn vần phù hợp trong tiếng thể hiện

 Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp phân tích ngôn ngữ thể hiện ở sự phối hợp một cách hợp lí các thao tác phân tích và tổng hợp khi dạy học Đây cũng là phương pháp phổ biến trong vấn đề tách âm, tách vần, ghép âm, ghép vần, tách tiếng, ghép tiếng,… Phương pháp phân tích ngôn ngữ giúp HS hiểu rõ hơn về các thành phần của âm tiết (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối) nói chung, riêng đối với học sinh lớp 1 chỉ cần nắm được ba thành phần chính cấu tạo nên một tiếng là âm đầu, vần và thanh điệu

Việc sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ khi rèn phát âm cho HS đem lại hiệu quả trong việc giúp HS hiểu rõ các thành phần cấu tạo nên một tiếng, góp

Trang 30

phần hiệu quả trong việc rèn phát âm, ví dụ: Tách tiếng: Tiếng “sao” gồm có âm

“sờ”, vần “ao”; Ghép tiếng: “sờ” - “ao” - “sao”

 Phương pháp sử dụng trò chơi học tập

Trò chơi học tập là một phần quan trọng không thể thiếu trong việc thu hút sự chú ý của HS, phát huy tính tích cực, khả năng sáng tạo và đem lại hiệu quả trong học tập nói chung cũng như rèn phát âm nói riêng

Ví dụ: Trò chơi học tập GV có thể ứng dụng khi tiến hành dạy học phát âm cho HS là “Phát âm nhanh, phát âm đúng”

Cách thực hiện: GV chia lớp thành 4 đội, mỗi đội tự tạo 1 cái chuông cho đội mình như “meo meo”, “reng reng”,…GV đưa tiếng “cá” (lưu ý: tiếng được chọn cần phù hợp với nội dung bài học hôm đó), sau khi đếm từ một đến ba, đội nào kêu chuông của mình trước đội đó sẽ phát âm trước, phát âm đúng được 10 điểm, phát

âm sai cơ hội thuộc về đội khác

Khi trò chơi tiến hành với khoảng 10 tiếng GV sẽ tổng kết và tuyên dương đội chiến thắng Sau trò chơi, GV cho HS phát âm lại tất cả các từ đó Việc rèn phát âm kết hợp trò chơi sẽ đem lại hiệu quả tích cực hơn, giúp HS hứng thú hơn trong học chữ

 Phương pháp luyện tập theo mẫu

Phương pháp luyện tập theo mẫu là phương pháp phổ biến khi rèn phát âm cho

HS HS thường xuyên phát âm theo GV trong giờ học Việc rèn phát âm với phương pháp luyện tập theo mẫu là việc làm hết sức cần thiết GV chỉ ra chỗ sai trong phát âm của HS và hướng dẫn HS cách phát âm, vị trí các bộ phận của phát

âm như: điểm đặt lưỡi, vị trí của lưỡi, độ mở của miệng khi bắt đầu hoặc kết thúc,… Qua đó, hạn chế sự lẫn lộn khi phát âm các âm gần giống nhau do ảnh hưởng phương ngữ và các âm dễ lẫn Việc luyện tập theo mẫu được tiến hành thường xuyên, có sự lặp đi lặp lại trong dạy học phát âm sẽ đem lại hiệu quả trong việc rèn phát âm cho các em

Trang 31

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Chương trình, tài liệu dạy học

- Chương trình môn Tiếng Việt 1 tập trung vào việc phát triển 4 kĩ năng chính

“nghe - nói - đọc - viết”:

+ Kĩ năng nghe: Nghe trong hội thoại; Nghe hiểu văn bản: Nghe hiểu một câu chuyện ngắn có nội dung thích hợp với học sinh lớp 1

+ Kĩ năng nói: Nói trong hội thoại; Nói thành bài: Kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe

+ Kĩ năng đọc: Đọc thành tiếng; Đọc hiểu: Hiểu nghĩa các từ thông thường, hiểu ý được diễn đạt trong câu đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng); Học thuộc lòng một số bài văn vần (thơ, ca dao,…) trong sách giáo khoa

+ Kĩ năng viết: Viết chữ; Viết chính tả

(Nguồn: Sách giáo viên Tiếng Việt 1, 2013)

- Tài liệu dạy học:

+ Về hình thức: Tiếng Việt 1 bao gồm 103 bài Âm - vần Tiếng Việt 1 tập một

có 83 bài Âm - vần, trong đó có 12 bài Ôn tập Tiếng Việt 1 tập hai có 20 bài Âm - vần (nằm ở phần đầu của Tiếng Việt 1 tập hai), trong đó có 3 bài Ôn tập

+ Về nội dung: Xét theo mục đích của bài học thì có thể chia các bài học thành

ba nhóm: nhóm bài Làm quen với chữ cái và dấu thanh, nhóm bài dạy học Âm - vần mới và nhóm bài Ôn tập

* Nhóm bài Làm quen với chữ cái và dấu thanh bao gồm 6 bài: Bài 1: Giới

thiệu chữ e; Bài 2: chữ b; Bài 3: Dấu sắc; Bài 4: Dấu hỏi, dấu nặng; Bài 5: Dấu huyền, dấu ngã; Bài 6: Ôn các chữ cái và các dấu thanh đã học

Nội dung chủ yếu của nhóm bài này là giới thiệu âm - chữ cái e, b và các dấu thanh, nguyên tắc ghép các chữ cái ghi âm để tạo thành tiếng có cấu tạo đơn giản nhất, mối liên quan giữa tiếng và chữ thể hiện tiếng Trong nhóm bài Làm quen, chữ e được dạy trước chữ b, điều này nhằm đảm bảo nguyên tắc bắt đầu từ tiếng (có nghĩa) trong phân môn Học vần: Ngay từ bài đầu tiên, HS đã làm quen với một tiếng có cấu tạo tối giản Các dấu thanh được giới thiệu trong nhiều bài để HS không bị rối trong việc nhận diện, đặc biệt là những dấu thanh có đường nét gần gũi

Trang 32

nhau Vì dụng ý này, hai dấu sắc và huyền không được giới thiệu trong cùng một bài (hai dấu hỏi và ngã cũng vậy)

* Nhóm bài Âm - vần mới có các bài học âm, chữ ghi âm và các bài học vần,

chữ ghi vần Các bài học âm, chữ ghi âm được phân bố từ bài 7 - bài 28, giới thiệu nguyên âm, phụ âm, chữ ghi nguyên âm, phụ âm và cấu trúc tiếng có vần là một

âm Các bài học vần giới thiệu cấu trúc tiếng có hai âm trở lên được phân bố từ bài

29 trở đi (để tiện cho việc dạy học, các vần có nguyên âm đôi ia, ua, ưa cũng được sách giáo khoa Tiếng Việt 1 coi như vần gồm có 2 âm)

* Nhóm bài Ôn tập nhằm củng cố cách đọc tiếng/ từ ngữ/ bài đọc ứng dụng,

cách viết chữ, rèn kĩ năng nghe nói về các chủ đề liên quan đến nhóm vần cần ôn

(Nguồn: Đặng Kim Nga, 2010)

Chương trình, tài liệu dạy học môn Tiếng Việt 1 có liên quan mật thiết với việc rèn luyện kĩ năng phát âm cho HS Nội dung chương trình xoay quanh việc phát triển bốn kĩ năng chính “nghe - nói - đọc - viết” Để việc phát âm được chuẩn xác thì nghe - nói là một phần quan trọng, nghe đúng là cơ sở của nói đúng Học sinh khi đến trường chỉ có vốn tiếng mẹ đẻ ở hai dạng chính là nghe - nói Kĩ năng đọc - viết chỉ thực sự được chú trọng, được phát huy khi các em bắt đầu bước vào giai đoạn học tập ttại trường Chương trình, tài liệu dạy học còn chú trọng đến việc giúp HS nắm vững cách phát âm nhằm góp phần đem lại hiệu quả học tập tốt trong các phân môn khác Việc phát âm đúng, rõ ràng, diễn đạt lời nói mạch lạc, trôi chảy không những đem lại sự phát triển hoàn thiện về ngôn ngữ mà còn làm cho vốn từ được mở rộng và sử dụng từ ngữ hiệu quả trong giao tiếp Hơn nữa, việc phát âm và luyện phát âm đúng với chuẩn quy tắc tiếng Việt góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

1.3.2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại một số trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh

Người viết tiến hành khảo sát nhằm tìm hiểu nhận thức, thực trạng dạy học của giáo viên và thực trạng âm lời nói của học sinh lớp 1 trong việc rèn luyện kĩ năng phát âm, bao gồm: Một số khái niệm chung; Nhận thức của giáo viên về vấn

đề rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại thành phố Hồ Chí Minh; Thực

Trang 33

trạng âm lời nói của học sinh lớp 1 tại thành phố Hồ Chí Minh

A Một số khái niệm chung

Lời nói, âm lời nói

Định nghĩa về lời nói, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “Lời nói là kết quả của việc vận dụng các phương pháp khác nhau của ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tương ứng.”

Theo từ điển Tiếng Việt thì lời nói là “Những gì con người nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (nói tổng quát)” hoặc là “Sản phẩm hoạt động cụ thể của ngôn ngữ, trong quan hệ đối lập với ngôn ngữ.”

Âm lời nói phải được xem xét về mặt vật lí: là âm thanh được phát ra từ bộ máy phát âm của con người; Về mặt sinh lí: lời nói tinh vi, phức tạp hơn nhiều so với các loại âm thanh khác; Về mặt xã hội: là âm thanh dùng trong giao tiếp thường nhật của xã hội, cần xem xét chức năng của nó trong một cộng đồng ngôn ngữ nhất định (Dẫn theo tác giả Trần Thị Hồng Vân, 2015)

Tác giả Trần Thị Hồng Vân (2015) cũng đưa ra định nghĩa về âm lời nói như sau:

Âm lời nói chính là âm thanh của ngôn ngữ, hay còn gọi là ngữ âm - một loại

âm thanh đặc biệt do con người phát ra dùng để giao tiếp và tư duy Âm lời nói bao gồm các âm, các thanh, các kết hợp âm thanh và giọng điệu trong một từ, một câu của ngôn ngữ

Từ những quan điểm trên, trong nghiên cứu này người viết sử dụng cách hiểu

về âm lời nói chính là âm thanh của ngôn ngữ, tức ngữ âm, do con người phát ra và

Trang 34

dùng để thực hiện các chức năng ngôn ngữ tương ứng

Phát âm, lỗi phát âm và phương ngữ

Phát âm, theo Bách khoa toàn thư phát âm nghĩa là: “Cách đọc một từ hay một ngôn ngữ nào đó” hay phát âm là “Cách ai đó thốt ra một từ nào đó”

Theo từ điển Tiếng Việt thì phát âm là “Phát ra các âm thanh của một ngôn ngữ bằng các động tác của môi, lưỡi, v.v.” hoặc là “Nói lên âm thanh của một thứ tiếng.”

Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách hiểu phát âm chính là cách phát ra

âm thanh của một ngôn ngữ có sự kết hợp các cơ quan phát âm (môi, lưỡi, răng,…) Lỗi phát âm có thể được hiểu là sự phát âm đã bị lệch đi so với chuẩn phát âm

đã được quy định Sự phát âm lệch chuẩn đó không những làm cho nội dung truyền tải của người nói đến người nghe trở nên mơ hồ, mà còn làm cho người nghe cảm thấy khó hiểu thậm chí hiểu sai ý được truyền tải Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách hiểu lỗi phát âm chính là sự phát âm bị lệch so với chuẩn chính âm, chuẩn chính tả đã được quy định

Phương ngữ được hiểu là cách phát âm cụ thể của từng vùng, các nhà ngôn ngữ học đã dựa vào nét tương đồng và khác biệt ngữ âm để phân vùng phương ngữ

Có 3 vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam (Võ Xuân Hào, 2009)

Tác giả Hoàng Thị Châu (2009) định nghĩa:

Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác

Bên cạnh đó, phương ngữ hiểu một cách đơn giản, đó là các từ ngữ được dùng

ở địa phương, nhưng có những khác biệt về hình thức (âm thanh) và nội dung (ý nghĩa) so với tiếng Việt chung, có thể dùng từ “biến thể” ở đây Biến thể này gồm

cả hai mặt (âm và nghĩa) (ngonngu.net, 2006)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách hiểu phương ngữ là cách phát

âm cụ thể của từng vùng, có sự khác biệt về hình thức (âm thanh) và nội dung (ý

Trang 35

nghĩa) so với chuẩn phát âm

B Nhận thức của giáo viên về vấn đề rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục đích khảo sát

Người nghiên cứu tiến hành khảo sát nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của

GV về vai trò, nhiệm vụ, hệ thống bài tập, những nguyên nhân và những lỗi phát âm

mà HS thường mắc phải Bên cạnh đó là nhận định của GV về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình rèn phát âm cho HS

Nội dung khảo sát

Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu tập trung khảo sát về quá trình dạy học rèn phát âm cho học sinh lớp 1 trong nhà trường tiểu học hiện nay Cụ thể: người nghiên cứu gửi phiếu xin ý kiến đến đối tượng khảo sát phù hợp Sau thời gian khảo sát, người nghiên cứu thu thập và ghi nhận tất cả những ý kiến nhận xét, đóng góp trên các phiếu

Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp khảo sát

- Đối tượng khảo sát: người nghiên cứu tiến hành khảo sát 30 GV về vấn đề

rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1

- Phạm vi khảo sát: Giáo viên tiểu học (ưu tiên GV đang giảng dạy lớp 1) đang

giảng dạy tại một số trường tiểu học ở TP.HCM: trường Tiểu học C.D - quận 1, trường Tiểu học L.N.H - quận 1, trường tiểu học QT.C - quận 3, trường Tiểu học T.V.D - quận 3, trường Tiểu học N.V.T - quận 4, trường Tiểu học V.T.T - quận 10, trường Tiểu học A.C - quận 11, trường Tiểu học H.V.T - quận T.B, trường tiểu học T.Q.T - quận T.B

- Thời gian khảo sát: khảo sát được tiến hành từ tháng 03/2018 đến tháng

06/2018

- Phương pháp khảo sát: chúng tôi lựa chọn phương pháp thống kê Cụ thể: từ kết quả khảo sát, người viết thống kê số lượng cho từng phương án lựa chọn, tính toán tỉ lệ phần trăm giữa các phương án, phân tích và rút ra kết luận phù hợp

Công cụ khảo sát

Để việc thu thập số liệu và phân tích số liệu đạt hiệu quả, chúng tôi tiến hành

Trang 36

khảo sát dựa trên “Phiếu xin ý kiến giáo viên về việc rèn phát âm cho học sinh lớp 1” (Phụ lục 1) Trong phiếu này, chúng tôi xây dựng các câu hỏi xoay quanh vấn đề rèn phát âm cho HS bao gồm những đánh giá của GV về vai trò của việc rèn phát

âm và ý nghĩa của phân môn Học vần với việc rèn phát âm; Đánh giá của GV về HTBT rèn phát âm trong chương trình sách giáo khoa hiện hành; Đánh giá của GV

về lỗi phát âm của HS, nguyên nhân HS phát âm sai và những thuận lợi, khó khăn của GV khi rèn phát âm cho HS Người viết hy vọng hệ thống câu hỏi đi từ khái quát đến cụ thể sẽ đem lại cái nhìn khách quan trong vấn đề dạy học rèn phát âm cho học sinh lớp 1 trong nhà trường hiện nay

Kết quả khảo sát và phân tích kết quả

Qua khảo sát 30 giáo viên tiểu học đang giảng dạy lớp 1 và bằng phương pháp thống kê, chúng tôi thu được kết quả sau:

Bảng 1.2 Đánh giá của giáo viên về vai trò của việc rèn phát âm và ý nghĩa của phân môn Học vần đối với việc rèn phát âm cho học sinh

Rất quan trọng và cần thiết 25 83.3%

Không quan trọng, không cần thiết 0 0.0%

Bảng 1.2 cho thấy có 25 GV cho rằng vai trò của việc rèn phát âm và ý nghĩa của phân môn Học vần đối với việc rèn phát âm cho HS là “Rất quan trọng và cần thiết” chiếm tỉ lệ 83.3%, và có 5 GV cho rằng “Quan trọng và cần thiết” chiếm tỉ lệ 16.7% Có thể thấy rằng phần lớn GV đều đặt tầm quan trọng của việc rèn phát âm lên hàng đầu, đặc biệt là rèn phát âm trong phân môn Học vần - là phân môn đầu tiên khởi đầu cho việc học chữ

Trang 37

Bảng 1.3 Đánh giá của giáo viên về hệ thống bài tập rèn phát âm cho học sinh trong chương trình sách giáo khoa hiện hành

về nguồn ngữ liệu bài tập được cung cấp trong sách giáo khoa hiện hành có tới 20

GV cho rằng “Còn hạn chế” (chiếm 66.7%), 10 GV cho là “Bình thường” (chiếm 33.3%) Sở dĩ GV đưa ra nhận xét như vậy có thể xuất phát từ việc khi rèn phát âm

âm - vần khó cho HS, thường chỉ dừng lại ở mức độ lặp đi lặp lại nhiều lần từ khó

đó mà không có một hệ thống các từ tương tự đi kèm để HS có thể tự luyện đọc ở nhà

Bảng 1.4 Đánh giá của giáo viên về lỗi phát âm của học sinh

Bảng 1.4 cho thấy có đến 25/30 GV cho rằng HS thường phát âm lỗi về phần vần (chiếm 83.3%) xếp hạng 1, 20/30 GV cho rằng HS phát âm lỗi về phụ âm (chiếm 66.7%) xếp hạng 2 và 5/30 GV cho rằng HS phát âm lỗi thanh điệu (chiếm 16.7%) là con số thấp nhất, xếp hạng ba Người viết cũng đồng quan điểm với các

GV trong đánh giá này vì phần vần là phần khá phức tạp trong dạy học vần, có những vần có 2 âm tiết, thậm chí có những vần lên tới 3 âm tiết, hơn nữa trong quá trình dạy phần vần còn xuất hiện những vần có cách thức phát âm khó như phải tròn môi, uốn lưỡi,…cũng là một thách thức lớn đối với GV khi rèn phát âm cho HS

Trang 38

Bảng 1.5 Nguyên nhân học sinh phát âm sai

Học sinh phát âm chưa chuẩn 2 6.7% Học sinh không phân biệt được các từ khó, dễ lẫn 21 70.0% Học sinh bị ảnh hưởng phương ngữ 29 96.7% Học sinh nói ngọng, nói lắp 4 13.3% Học sinh không thường xuyên tự rèn luyện phát âm 5 16.7% Học sinh rụt rè, nhút nhát, không tự tin khi phát biểu

Ý kiến khác: Do cơ quan phát âm của học sinh 20 66.7%

Từ bảng 1.5 có thể thấy có đến 29/30 GV cho rằng nguyên nhân hàng đầu của việc phát âm sai là do “Học sinh bị ảnh hưởng phương ngữ” (chiếm 96.7%), xếp thứ hai là do “Học sinh không phân biệt được các từ khó, dễ lẫn” có 21/30 GV đồng tình (chiếm 70.0%) và nguyên nhân quan trọng khác có đến 20/30 GV đã đưa ra trong phần “Ý kiến khác”, các GV cho rằng HS phát âm sai là do “Cơ quan phát âm của học sinh” (chiếm 66.7%) Có thể kết luận rằng đó là 3 nguyên nhân then chốt

mà GV đã lựa chọn trong việc nhìn nhận và đánh giá chủ quan Điều này cũng là một cơ sở quan trọng để người viết xác định đúng trọng tâm nguyên nhân chính dẫn đến việc HS phát âm sai, qua đó, xây dựng được HTBT cũng như biện pháp khắc phục phù hợp

Trang 39

Bảng 1.6 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi rèn phát âm cho học sinh

GV gặp trong quá trình rèn phát âm cho HS là phần trả lời cá nhân từ hai câu hỏi

mở, GV trình bày ý kiến trực tiếp trên giấy mà không phải lựa chọn thông tin có sẵn như những câu hỏi khác Từ bảng thống kê trên chúng tôi ghi nhận được 4 thuận lợi

và 4 khó khăn tiêu biểu mà GV gặp phải trong quá trình rèn phát âm cho HS Việc

“Giáo viên phát âm chuẩn, nắm cách thức phát âm” và “Học sinh người Việt, nói tiếng việt chiếm 100%” là 2 thuận lợi được 25/30 GV đưa ra ý kiến (chiếm 83.3%) Đồng thời, 29/30 GV cũng đưa ra 2 khó khăn lớn trong quá trình rèn phát âm cho

HS là “Học sinh bị ảnh hưởng phương ngữ khi phát âm” và “Chưa có bài tập rèn phát âm cụ thể” (chiếm 96.7%) Từ đó, có thể thấy vấn đề phương ngữ và hệ thống bài tập rèn phát âm thực sự rất quan trọng trong quá trình thực hiện rèn phát âm cho

HS

Trang 40

C Thực trạng âm lời nói của học sinh lớp 1 tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục đích khảo sát

Người nghiên cứu tiến hành khảo sát nhằm mục đích tìm ra những lỗi phát âm

mà học sinh lớp 1 thường mắc phải Việc tìm ra và hệ thống được những lỗi này sẽ góp phần rèn luyện kĩ năng phát âm và tạo điều kiện cho việc học các phân môn khác được hiệu quả

Nội dung khảo sát

Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu tập trung khảo sát về lỗi phát âm, cụ thể là lỗi phát âm của học sinh lớp 1 - là những HS đầu cấp tiểu học Việc tìm ra và xác định lỗi phát âm ngay từ những lớp đầu cấp thật sự rất quan trọng vì nếu đã xác định được lỗi và có sự rèn luyện kịp thời sẽ đem lại kết quả tốt trong quá trình học sau này của các em Đối với việc đánh giá phát âm, người nghiên cứu dựa trên “Hệ thống âm vị tiếng Việt hiện đại với việc rèn phát âm” (đã nêu trong phần 1.2.2) Cụ thể sẽ xác định lỗi phát âm trong các trường hợp sau: Lỗi thay âm (“bếp”  “bết”); Lỗi thêm âm (“vịt”  “việt”); Lỗi bớt âm (“thuốc”  “uốc”) (Nguyễn Thị Ly Kha

Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp khảo sát

- Đối tượng khảo sát: nghiên cứu tiến hành khảo sát âm lời nói của 337 học

sinh lớp 1 (162 HS nam và 175 HS nữ) có sự phát triển bình thường về tâm sinh lí, thể chất Việc chọn ngẫu nhiên học sinh lớp 1 sẽ giúp đề tài nghiên cứu mang tính khách quan hơn trong việc đánh giá phát âm của các em, hơn nữa là tìm được những lỗi phát âm chung, những lỗi phát âm phổ biến mà HS thường mắc phải

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w