Như vậy, việc nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác Bình Nguyên Lộc sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về các tác phẩm của nhà văn mang đậm hồn cốt Nam Bộ này.. N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3quả nêu trong luận văn này chưa từng được công bố ở trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tường Vi
Trang 4
Tôi xin kính gửi đến PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp lời cảm ơn sâu sắc
và tình cảm trân trọng đối với cô Cảm ơn cô đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn tới Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn Cảm ơn Ban Lãnh đạo, tập thể Trường THPT Nguyễn Hữu Huân đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và ủng hộ tôi trong thời gian qua
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tường Vi
Trang 5Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ NHÀ VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC 10
1.1 Giới thuyết các khái niệm 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa 10
1.1.2 Khái niệm văn hóa dân gian 12
1.1.3 Các yếu tố văn hóa dân gian 14
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết 17
1.2.1 Mối quan hệ văn hóa và văn học 17
1.2.2 Văn hóa dân gian và văn học viết 20
1.3 Bình Nguyên Lộc – nhà văn Nam Bộ 26
1.3.1 Tiểu sử 26
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 27
1.3.3 Bình Nguyên Lộc – bút lực dồi dào của văn học Nam Bộ 29
Chương 2 YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 38
2.1 Phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian 38
2.1.1 Phong tục tập quán dân gian 38
2.1.2 Tín ngưỡng dân gian 53
2.2 Nghệ thuật dân gian và lễ hội dân gian 58
2.2.1 Nghệ thuật dân gian 58
2.2.2 Lễ hội dân gian 65
2.3 Tri thức dân gian và ngữ văn dân gian 67
Trang 6Chương 3 YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA
BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ
THUẬT 80
3.1 Vai trò của các yếu tố văn hóa dân gian trong xây dựng nhân vật 81
3.1.1 Nhân vật hướng về “nguồn cội” 81
3.1.2 Nhân vật của đời sống thường ngày 87
3.2 Vai trò của yếu tố văn hóa dân gian trong tái hiện không gian văn hóa Nam Bộ 92
3.2.1 Không gian sinh hoạt 92
3.2.2 Không gian tâm linh 98
3.3 Vai trò yếu tố văn hóa dân gian trong tổ chức giọng điệu và kết cấu tác phẩm 107
3.3.1 Tổ chức giọng điệu 107
3.3.2 Tổ chức kết cấu 111
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi dân tộc có mỗi nền văn hóa độc đáo, riêng biệt Nền văn hóa ấy đã làm nên bản sắc riêng của mỗi quốc gia Nền văn hóa ấy cũng chính là nguồn mạch nuôi dưỡng văn hóa dân gian trong suốt tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc Việt Nam xuất phát điểm là một nước có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Việt Nam cũng là đất nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến Đây là những tiền đề cơ bản để Việt Nam trở thành một nước có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, giàu có vốn văn hóa dân gian Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn hóa dân gian dường như đã trở thành
nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng văn học viết Văn học viết cũng đã bám “sâu rễ bền gốc”
vào nguồn mạch ấy, khởi nguồn cho việc vận dụng, khám phá và sáng tạo
Văn hóa dân gian đang được quan tâm và là xu hướng nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới Việc quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam với bề dày nền văn hóa dân gian truyền thống đặc sắc của dân tộc là thật sự cần thiết Đó cũng
là mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới “xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V - Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII Mặt khác, nghiên cứu văn học viết trong quan hệ với văn hóa dân gian là hướng nghiên cứu tất yếu của nghiên cứu khoa học hiện đại Hướng nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu có nhiều lựa chọn, nhiều phương pháp hơn trong quá trình tiếp cận, lý giải thấu đáo tác phẩm hay phong cách tác giả Đồng thời, hướng nghiên cứu này tạo điều kiện cho văn học và văn hóa tương tác qua lại và ngày càng phát triển hoàn thiện
Bình Nguyên Lộc là một trong những nhà văn lớn của Nam Bộ Ông là một
trong ba “tam kiệt” của phương Nam (Bình Nguyên Lộc, Hồ Biểu Chánh và Lê Văn
Trương) Ông là một trong những tác giả có khối lượng sáng tác nhiều nhất nước vào thời bấy giờ Văn chương của Bình Nguyên Lộc thấm đẫm chất Nam Bộ, nồng nàn tình yêu quê cha đất mẹ Sự diễn đạt tình ý trong mỗi tác phẩm thật giản dị, mộc mạc, chân chất nhưng cũng rất tinh tế và sáng tạo Những điều đó cho ta thấy tấm lòng tươi
Trang 8son, bền chặt của ông đối với quê hương, với nơi “chôn nhau cắt rún” Tấm lòng ông
cũng như những loại cổ thụ cắm rễ sâu xuống mảnh đất ân tình nồng hậu này
Là nhà văn của Nam Bộ, của mảnh đất quê hương yêu dấu, trang văn Bình Nguyên Lộc gợi nhắc đến cả một nền văn hóa cội nguồn Chính những yếu tố văn hóa dân gian trong các sáng tác của ông đã làm cho tác phẩm dễ đi sâu vào lòng dân tộc Yếu tố văn hóa dân gian được ông vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo đã góp phần làm cho nền văn hóa dân gian Việt ngày càng trở nên tỏ rõ sự năng động, phát triển mạnh mẽ và có sức sống lâu bền
Bình Nguyên Lộc là nhà văn Nam Bộ được giới phê bình, nghiên cứu quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào văn hóa Nam Bộ, con người Nam Bộ trong các sáng tác của ông Bên cạnh đó, từ ngữ, đặc điểm nghệ thuật, đặc điểm văn xuôi cũng được chú ý Tuy nhiên, người viết qua quá trình khảo sát chưa thấy có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về văn hóa dân gian trong sáng tác của ông Như vậy, việc nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác Bình Nguyên Lộc sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về các tác phẩm của nhà văn mang đậm hồn cốt Nam Bộ này Đồng thời, chúng ta cũng ghi nhận sự đóng góp của ông trong tiếp nhận và sáng tạo các yếu tố văn hóa dân gian của dân tộc, làm cho kho tàng văn hóa dân gian thêm sinh động, đa dạng và ngày càng phong phú hơn Vì thế, người viết
quyết định chọn “Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn
có cả một nền văn hóa dân gian thấm đẫm trên từng trang văn
Bình Nguyên Lộc dời quê hương Tân Uyên để chuyển về Sài Gòn sinh sống từ năm 1948 Ông chủ yếu sống bằng nghề viết báo Ông phụ trách trang văn nghệ báo
Tiếng Chuông và tham gia viết bài cho các tờ báo như Lẽ Sống, Đời Mới, Tin Mới, tạp chí Bách Khoa, Văn Hóa Ngày Nay Tên tuổi Bình Nguyên Lộc bắt đầu xuất hiện
Trang 9nhiều trên các trang báo Ông chuyên viết feuilleton và sức viết rất dồi dào, có ngày
viết cho cả 11 nhật báo Bình Nguyên Lộc được giới nghiên cứu bắt đầu quan tâm vào
những năm 60 của thế kỷ XX Trong phần lịch sử vấn đề này, người viết giới thiệu
theo hai mảng gồm: các công trình nghiên cứu trên sách, báo, tạp chí, trang web và
các công trình luận văn, luận án
2.1 Các công trình nghiên cứu trên sách, báo, tạp chí, trang web
Bình Nguyên Lộc sáng tác nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, thơ, tạp
bút Với lực viết dồi dào, Bình Nguyên Lộc trở thành nhà văn được giới nghiên cứu
quan tâm sớm:
Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Nguyễn Nam Anh lần lượt có bài Phỏng vấn nhà
văn Bình - Nguyên Lộc (1961, 1965, 1972) đăng trên Bách Khoa, Tin Sách, Văn
Bàng Bá Lân bày tỏ sự ngưỡng mộ qua bài Bình - Nguyên Lộc (1963), Sơn Nam
viết Đọc tác phẩm đầu tay của Bình Nguyên Lộc (1972) Tuy nhiên các tác giả
mới chủ yếu bàn về khối lượng tác phẩm đồ sộ, cường độ làm việc hơn người và
quan điểm sáng tác của nhà văn
(Phạm Thị Thu Thủy, 2017)
Năm 1985, Ngọc Thủy Ba viết bài Bình Nguyên Lộc nhà văn tài ba của vùng
đất Tân Uyên Tác giả bài báo đề cao ý nghĩa tác phẩm Rừng mắm trong việc lay động,
thức tỉnh và nâng cao đời sống tâm hồn, tình cảm, tinh thần của con người Sau khi
Bình Nguyên Lộc mất vào năm 1987, giới nghiên cứu đánh giá cao sự nghiệp sáng tác
của ông và xếp ông vào một trong ba cây bút có sức viết lớn của mảnh đất Nam Bộ
Năm 1988, Viễn Phương viết Thương một nhành mai thể hiện tình cảm của Viễn
Phương với cố nhà văn Trong giới nghiên cứu về văn chương Bình Nguyên Lộc,
Nguyễn Q Thắng được xem là người nghiên cứu và tìm hiểu về Bình Nguyên Lộc
một cách bao quát và hệ thống Trong Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam (1999), ông
trình bày khá rõ nét cuộc đời, sự nghiệp sáng tác Bình Nguyên Lộc Trong Tuyển tập
Bình Nguyên Lộc (2002), ông giới thiệu Bình Nguyên Lộc một bút lực lớn và tập hợp
trong bốn tập sách các sáng tác tiêu biểu của Bình Nguyên Lộc Trong Từ điển nhân
Trang 10vật lịch sử Việt Nam (2006), Nguyễn Q Thắng giới thiệu Bình Nguyên Lộc như nhân vật lịch sử miền Nam, nhà văn, nhà nghiên cứu hiện đại Với Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (Tập 2, 2007), ông cũng giới thiệu Bình Nguyên Lộc là nhà văn lớn Việt Nam về cả số lượng và chất lượng tác phẩm Nguyễn Q Thắng trong Bình Nguyên Lộc một bút lực lớn đã nhận định vị trí quan trọng của Bình Nguyên Lộc trong văn học dân tộc “Tác phẩm của ông là một phần không nhỏ của tiến trình văn học Việt Nam; nhất là làm sống dậy và lớn lên cái tinh thần chiến đấu hăng say, lạc quan của nhân dân ta nơi vùng đất mới này” (Bình Nguyên Lộc (tập 1), 2002)
Trên trang http://www.binhnguyenloc.de, trân trọng những đóng góp của Bình Nguyên Lộc, nhóm tri thức Việt Kiều đã sưu tầm các tác phẩm và các bài viết của Bình Nguyên Lộc giới thiệu đến bạn đọc yêu thích các sáng tác của ông Võ Phiến (2007)
trong Bình Nguyên Lộc – Một nhân sĩ trong làng văn đã đi vào các mối bận tâm của
Bình Nguyên Lộc về vùng đất, về nguồn gốc và về dân tộc Trần Phỏng Diều (2007)
trong Con Tám cù lần của Bình Nguyên Lộc: người thành thị hoài niệm về chốn thôn quê đánh giá cao về vị trí và những nét thành công về phương diện nội dung truyện
ngắn Bình Nguyên Lộc Đặc biệt theo Trần Phỏng Diều nỗi nhớ quê của con Tám trở thành nỗi ám ảnh day dứt trong tác phẩm và trở thành phát ngôn cho tư tưởng của Bình
Nguyên Lộc Vinh Lan (2007) trong Nhân phẩm và nhân tính trong Ký thác đã khẳng
định việc bảo vệ nhân phẩm, nhân vị trong con người của tác giả Thụy Khê (2007)
trong Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) Đất nước và con người đã giới thiệu về cuộc
đời, tác phẩm cũng như những nội dung chủ đạo trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Nguyễn Vy Khanh (2007) trong bài Bình Nguyên Lộc và tình đất, Nguyễn Thị Thu Trang (2007) với Con người và văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc hay Phạm Phú Phong (2007) viết Văn chương Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hóa
đều bàn về tác phẩm của Bình Nguyên Lộc trên phương diện nội dung Nổi bật lên trong nội dung các tác phẩm của ông là chất văn hóa Nam Bộ, tình yêu quê hương đất
nước thấm đượm trên mỗi trang văn Ngoài ra, Nguyễn Mạnh Trinh (2007) trong Bình Nguyên Lộc nhìn từ con người và tác phẩm (2007), Đỗ Hữu Phương (2011) trong Nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987) đánh giá cao sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc Phạm Thanh Hùng trong Phong cách truyện ngắn Bình Nguyên Lộc (2011), Trần
Trang 11Kiêm Đoàn trong Vẻ đẹp của ngôn ngữ miền Nam trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc
lại chú ý đến đặc điểm viết truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc Hồ Trường An (2014)
trong Tổng quan văn chương vùng đất Đồng Nai thể hiện cảm nhận của ông về tình đất và ngôn ngữ miền Nam trong văn Bình Nguyên Lộc Bài viết Bình Nguyên Lộc và những sáng tác hướng tới đại chúng (Khảo sát qua truyện có yếu tố kinh dị của Bình Nguyên Lộc) của Lê Hải Anh và Nguyễn Thị Minh Thương (2017) trên trang Nghiên
cứu của Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã thể hiện hướng khám mới về ông
ở các truyện kinh dị Tác giả bài viết cũng nhấn mạnh xu thế viết phù hợp với thời đại
của tác giả: “Trong bối cảnh văn hóa xã hội miền Nam, tác phẩm của Bình Nguyên Lộc có thể dung hợp được cả yếu tố đặc tuyển và đại chúng vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, vừa là sự sáng tạo và khám phá mới tạo động lực phát triển cho văn học”
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này khuynh hướng chung là hướng đến nội dung, nghệ thuật trong các sáng tác của Bình Nguyên Lộc Trong đó, con người văn hóa Nam Bộ, ngôn ngữ miền Nam được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều
2.2 Các công trình nghiên cứu như luận văn, luận án
Các công trình luận văn, luận án về Bình Nguyên Lộc cũng thường tập trung vào văn hóa Nam Bộ, ngôn ngữ và đặc điểm văn xuôi trong các sáng tác của ông Một
số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Lương Hải Khôi (2004) chọn Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, làm đề tài nghiên cứu Nguyễn Lương Hải Khôi đã đi sâu vào các đặc trưng
cơ bản trong văn xuôi của Bình Nguyên Lộc như quan niệm về con người, ngôn từ nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật Nguyễn Thị Thu Trang (2008) nghiên
cứu Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Nguyễn Thị Thu Trang đi vào nghiên cứu các giá trị văn hóa nổi bật trong dòng văn xuôi đô thị miền Nam Trong đó, tác giả chủ yếu nhấn mạnh vào bản sắc văn hóa
con người Nam Bộ Trần Thị Thúy Hằng (2012) nghiên cứu về Từ ngữ địa phương trong sáng tác Bình Nguyên Lộc, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh Nghiên cứu chính của Trần Thị Thúy Hằng về sáng tác của Bình Nguyên
Trang 12Lộc là lớp từ ngữ địa phương và đặc điểm ngôn ngữ trong tương quan với tác giả khác
Ngoài ra, sáng tác của Bình Nguyên Lộc được các nhà nghiên cứu chú ý rất
nhiều về mặt văn hóa như Nguyễn Văn Đông (2012) với Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hóa học, luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Nguyễn Thị Thu Trang năm 2015 xuất bản sách Văn xuôi đô thị Miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhìn từ các giá trị văn hóa truyền thống Nguyễn Thị Thu
Trang nghiên cứu Bình Nguyên Lộc và nhiều tác giả văn học miền Nam giai đoạn
1954 -1975 về các giá trị văn hóa truyền thống mà đặc biệt là con người văn hóa Nam
Bộ Công trình này là sự tiếp nối từ luận án của tác giả nghiên cứu trước đó Nguyễn
Thị Mai Phương (2015), Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hóa, khóa
luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nghiên cứu thời gian văn hóa, không gian văn hóa và con người Nam Bộ trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc Phạm Thị
Thu Thủy (2017) viết luận án Con người Nam Bộ trong sáng tác văn xuôi của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư, Đại học Sư phạm Hà Nội
Phạm Thị Thu Thủy cũng đi vào tìm hiểu con người mở đất trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc Các công trình nghiên cứu này thường chú ý vào giá trị văn hóa trong sáng tác của các nhà văn Trong đó, con người văn hóa với các nét đặc trưng gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử vùng đất
Như vậy, qua các bài viết và công trình nghiên cứu về tác giả Bình Nguyên Lộc, chúng ta cũng thấy đa phần các tác giả nghiên cứu văn hóa trong các sáng tác của ông Trong đó, yếu tố văn hóa dân gian đôi khi có nhắc tới nhưng hiện chưa có công
trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Vì vậy, với vấn đề “Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc”, người viết muốn góp phần giúp người đọc
có thêm cái nhìn mới, sâu sắc về phong cách sáng tác, giá trị các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc; thấy được sự ảnh hưởng, tác động qua lại của các yếu tố văn hóa dân gian và văn học viết Đặc biệt, người viết muốn đóng góp công sức trong việc phổ biến, bảo tồn và phát triển văn hóa dân gian Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 133.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này người viết tập trung nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong
sáng tác của Bình Nguyên Lộc từ hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, người viết tiếp cận tác phẩm qua ba nguồn tài liệu
chính gồm Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, Nxb Trẻ; trang http://binhnguyenloc.de;
Tuyển tập Bình Nguyên Lộc gồm 4 tập của Nguyễn Q Thắng, Nxb Văn học, 2002
Tuy nhiên, nghiên cứu đề tài này, người viết tập trung khai thác nguồn tư liệu từ Tuyển
tập Bình Nguyên Lộc do Nguyễn Q Thắng tuyển chọn và giới thiệu Lí do người viết
chọn tuyển tập này vì Nguyễn Q Thắng đã lựa chọn và giới thiệu cho bạn đọc những
tác phẩm tiêu biểu nhất gồm truyện ngắn, tạp văn và tiểu thuyết, được đánh giá cao
trong giới phê bình và bạn đọc của Bình Nguyên Lộc Truyện ngắn gồm Thầm lặng
(15 tác phẩm), Nhốt gió (13 tác phẩm), Mưa thu nhớ tằm (17 tác phẩm), Ký thác (16
tác phẩm), Những bước lang thang trên phố của gã Bình Nguyên Lộc (17 tác phẩm),
Cuống rún chưa lìa (17 tác phẩm), Ma rừng (9 tác phẩm) Tiểu thuyết gồm Đò dọc,
Khi Từ Thức về trần, Gieo gió gặt bão, Tì vết tâm linh, Xô ngã bức tường rêu Đây là
những tác phẩm tiêu biểu vừa mang đậm phong cách viết văn của ông vừa phong phú
các yếu tố văn hóa dân gian
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu văn hóa – văn học
Sử dụng phương pháp này vì đề tài luận văn tiếp cận tác phẩm của Bình Nguyên
Lộc trong quan hệ với văn hóa dân gian Đây là cách tìm hiểu xem các sáng tác của
ông đã tiếp thu, vận dụng những yếu tố văn hóa dân gian nào Sự sáng tạo trong cách
tiếp thu, vận dụng đó ra sao; sự tác động, ảnh hưởng của văn chương Bình Nguyên
Lộc trở lại với văn hóa dân gian ra như thế nào Từ đó, chúng ta sẽ có cách đánh giá
toàn diện, sâu sắc hơn về các sáng tác của ông
Phương pháp thi pháp học
Phương pháp này giúp người viết nghiên cứu các phương tiện hình thức nghệ
thuật trong quan hệ với nội dung tác phẩm của Bình Nguyên Lộc
Trang 14Phương pháp thống kê
Phương pháp này dùng để khảo sát tần số xuất hiện các yếu tố văn hóa dân gian trong các sáng tác của Bình Nguyên Lộc Từ đó, người viết khái quát lên đặc điểm vận dụng các yếu tố văn hóa dân gian về mặt nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm
của ông
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Đây là phương pháp hỗ trợ để giúp có tư liệu từ văn học, địa – văn hóa, lịch sử
từ đó có căn cứ tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học cũng như những ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của tác giả
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này hướng đến việc phân tích các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc ở các khía cạnh, phương diện, từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định khái quát về nét riêng của ông trong việc vận dụng các yếu tố văn hóa dân gian đó
5 Đóng góp của luận văn
- Phát hiện, khảo sát, miêu tả, lí giải, phân tích một cách hệ thống, khách quan
về các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc
- Khẳng định sự sáng tạo và đóng góp to lớn của Bình Nguyên Lộc trong việc vận dụng, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của cha ông ta để lại Đồng thời, chúng ta hiểu thêm về phong cách tác giả, quan điểm sáng tác và giá trị văn chương của ông
- Thấy được sự vận động, tác động qua lại của văn hóa dân gian và văn học trong quá trình phát triển của văn học dân tộc
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ NHÀ VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC
Trong Chương 1, người viết giới thuyết về các khái niệm văn hóa, văn hóa dân gian, các thành tố của văn hóa dân gian; chỉ ra mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
Trang 15cũng như mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết; giới thiệu về nhà văn Nam Bộ Bình Nguyên Lộc
Chương 2 YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Trong Chương 2, người viết tập trung nghiên cứu các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật,
lễ hội, tri thức và ngữ văn dân gian; khảo sát sự vận dụng cũng như sự sáng tạo, hiệu quả các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Chương 3 YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
Với Chương 3, người viết nghiên cứu vai trò của các yếu tố văn hóa dân gian trong xây dựng nhân vật, không gian văn hóa; vai trò trong tổ chức giọng điệu và kết cấu truyện; sự sáng tạo, hiệu quả trong nghệ thuật vận dụng các yếu tố dân gian của Bình Nguyên Lộc
Ngoài ra, luận văn còn có ba phụ lục Bảng phụ lục 1 thống kê các yếu tố văn hóa dân gian dựa trên sự khảo sát tần số và bối cảnh yếu tố văn hóa dân gian được sử dụng Bảng phụ lục 2 gồm hai bảng thống kê tần số vận dụng các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm của nhà văn Phụ lục 3 là hình ảnh chân dung nhà văn và một số tập truyện, tiểu thuyết tiêu biểu của ông
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN
VÀ NHÀ VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC
1.1 Giới thuyết các khái niệm
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, là nền tảng tinh thần của xã hội Văn hóa có từ lâu đời và là sự kết tinh của những mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, con người với xã hội Tuy nhiên, những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX, văn hóa mới được quan tâm và tiến hành nghiên cứu một cách khoa học Từ năm
1952, hai nhà văn hóa bác học Hoa Kì là A.Kroeber và C.Kluckholn đã thống kê được
164 định nghĩa, khái niệm khác nhau về văn hóa (A.A.Radugin, 2002) Con số đó hiện nay đã tăng lên khoảng trên 500 định nghĩa Như vậy, chúng ta có thể thấy quan niệm
về văn hóa không phải vấn đề đơn giản và có sức hấp dẫn nhiều thế hệ nghiên cứu
Dựa vào nhiều cách hiểu khác nhau và những đặc trưng của văn hóa, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, người viết chỉ đưa ra một số khái niệm tiêu biểu Năm 1871 nhà nhân học văn hóa người Anh E B Taylor (1832- 1917) là người đầu tiên đưa ra một quan niệm khá hoàn chỉnh mang tính “bách khoa toàn thư” Ông đã liệt kê các sáng
tạo của con người về văn hóa Ông cho rằng văn hóa là “một tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Dẫn theo Chu Xuân Diên, 2001) Năm 1970, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đã đưa ra ý kiến bàn luận về văn hóa “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” (Dẫn theo Lê Văn Chưởng, 1999) Cách hiểu thứ hai của ông Federico Mayor
làm cho văn hóa trở thành đối tượng đích thực của văn hóa học Năm 1994, UNESCO tiếp tục đưa ra định nghĩa về văn hóa Hiểu theo nghĩa rộng:
Trang 17Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và thể chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” (Dẫn theo Lê Minh Hạnh, 2006) Tuy nhiên, hai cách hiểu đều hướng đến tính
đặc trưng của mỗi cộng đồng
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Phan Ngọc đã thống kê có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và văn minh đó tức là văn hóa”
(Dẫn theo Lê Minh Hạnh, 2006)
Giáo sư Trần Quốc Vượng khẳng định: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là một thành viên xã hội” (Trần
Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Ngọc Dung, Trần Thúy Anh,
2004) Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1999)
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là do con người sáng tạo ra, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần Văn hóa trở thành nền tảng cho
sự phát triển của xã hội loài người Vì là phương diện rộng của đời sống, văn hóa không có khái niệm duy nhất Nó ngày càng được mở rộng khái niệm hoặc hiểu theo
Trang 18khuynh hướng của các nhà nghiên cứu Xuất phát từ tình hình thực tế nghiên cứu, Chu Xuân Diên đã khái quát văn hóa với những nét cơ bản như :
Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng của con người mới có Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần Thành tựu của những hoạt động sáng tạo ấy là giá trị văn hóa; các giá trị văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường giáo dục Văn hóa mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác
(Chu Xuân Diên, 2009)
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu về yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một tác giả văn học, người viết chủ yếu đi vào những giá trị thuộc về văn hóa tinh thần, biểu hiện cụ thể ở những thành tố đặc trưng của văn hóa
1.1.2 Khái niệm văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian chính là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”, “văn hóa cội nguồn của mọi nền văn hóa Văn hóa dân gian (folklore) là thuật ngữ có nghĩa ghép Folk: nhân dân, lore: trí tuệ, trí khôn, tri thức Văn hóa dân gian trở thành một bộ phận quan trọng của văn hóa, là kho tri thức, trí tuệ được nhân dân lưu giữ và thực hành qua nhiều thế hệ
Thuật ngữ văn hóa dân gian được nhà khoa học người Anh, William J Thomas
đề cập lần đầu tiên trên tạp chí “The Atheneum” năm 1846 Ngày nay, thuật ngữ này vẫn còn gây tranh cãi về nội hàm của nó Ở phương Tây, khái niệm folklore được hiểu
rất rộng Từ điển bách khoa của Anh xác định: “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín của dân gian Những câu truyện cổ, những bản tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến” (Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), 2000) Bonas Buleys thì lại cho rằng:
“Folklore bao gồm những sáng tác truyền thống của dân tộc cả nguyên thủy và văn
Trang 19minh Những dạng sáng tác này có được bằng cách sử dụng âm thanh và từ ngữ dưới dạng thơ và văn xuôi Chúng bao gồm cả các tín ngưỡng dân gian hay mê tín, phong tục và hội diễn các điệu múa và các trò chơi” (Dẫn theo GN.Poxpelop, 1998) Trong khi đó, học giả người Mỹ George Hervey quan niệm “Folklore bao gồm những phương tiện văn học và tri thức của văn hóa được giữ gìn vĩnh viễn chủ yếu bằng truyền miệng: huyền thoại, truyện cổ dân gian và những hình thức khác của văn học truyền miệng truyền thống” (Dẫn theo GN.Poxpelop, 1998) Những quan niệm của phương Tây đã nêu lên những cách hiểu khác nhau về văn hóa dân gian Từ điển bách khoa của Anh
định nghĩa tương đối rộng về văn hóa Trong đó, các nhà nghiên cứu khác đang mới chỉ đề cập folklore như là các sáng tác truyền thống, phương tiện văn học, tri thức văn hóa… Họ chưa đề cập đến bộ phận khác nhau về văn hóa dân gian: lối sống, đạo đức, văn hóa vật thể, kiến trúc… làm nên nét đặc sắc của văn hóa dân gian của các dân tộc
Ở Liên Xô, folklore được hiểu theo hai hướng Hướng thứ nhất, folklore được hiểu theo cách như của phương Tây Hướng thứ hai, folklore được cho rằng về cơ bản
là “nghệ thuật ngôn từ” Ở đây, folklore có thể đồng nhất với văn học truyền miệng Tuy nhiên, càng về sau này, quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngôn từ không
còn nhiều Tổng bách khoa toàn thư Xô Viết xuất bản năm 1974 quan niệm rằng:
“Folklore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của dân gian lao động Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân gian sáng tạo ra và sống trong nhân dân.” (Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị
(chủ biên), 2000) Folklore đã được giới nghiên cứu mở rộng ra bao gồm những yếu
tố như ngôn từ, tạo hình, diễn xướng, phong tục, tín ngưỡng… Các yếu tố gắn kết lại với nhau thành một chỉnh thể nguyên hợp
Ở Việt Nam, văn hóa dân gian là cơ sở, nền tảng rất quan trọng chi phối đời sống văn hóa trên mọi phương diện Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng quan niệm văn hóa dân gian theo cách hiểu rộng Giáo sư Đinh Gia Khánh, người mở đường
ngành văn hóa dân gian ở Việt Nam quan niệm “Văn hóa dân gian gồm toàn bộ văn hóa tinh thần của nhân dân được tiếp nhận dưới giác độ thẩm mĩ” (Đinh Gia Khánh,
2009) Đề xuất cách tiếp cận văn hóa dân gian như là một kiểu “văn hóa nghệ thuật”, tác giả cho rằng trình độ thẩm mĩ của con người sẽ khác ở mỗi thời kì lịch sử nhất
Trang 20định Vũ Ngọc Khánh thì định nghĩa “Văn hóa dân gian là sáng tạo của dân, từ dân
mà ra và phục vụ cho cuộc sống của dân” (Vũ Ngọc Khánh, 2007) Định nghĩa này
thiên về chủ thể sáng tạo văn hóa dân gian và đối tượng văn hóa dân gian hướng đến
Trần Quốc Vượng lại cho rằng văn hóa dân gian Việt Nam là “…tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hóa dân gian ở mọi nơi, trong mọi thời và mọi thành phần dân tộc đang hiện tồn trên lãnh thổ Việt Nam” Ông cũng đã mở rộng thành tố của văn hóa dân gian khi cho rằng: “Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi buông xả (thể thao dân gian, võ vật, đánh cầu, đánh phết), hát hò (hát hò đưa, hát giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo) đến đời sống tâm linh (giỗ, lễ tế, hội).” (Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) 2000) Sách Từ điển văn hóa dân gian cũng khẳng định:
Theo đúng nghĩa văn hóa dân gian là nền văn hóa của dân chúng Văn hóa này bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần… Nội hàm của nó có vấn đề phương thức sản xuất ra của cải, có phong tục tập quán, sinh hoạt tinh thần, tri thức tự nhiên và xã hội, quan niệm đạo đức, nhận thức và tình cảm về thế giới và nhân sinh
(Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ, 2002)
Cả hai định nghĩa trên thể hiện cách nhìn rộng về văn hóa dân gian bao trùm cả đời sống vật chất và tinh thần của con người
Như vậy, theo đa số các nhà nghiên cứu hiện nay, văn hóa dân gian có rất nhiều thành tố đặc trưng, bao gồm tất cả những yếu tố vật chất và tinh thần được hình thành
và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong nhân dân Văn hóa dân gian biểu hiện trong nhiều lĩnh vực, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, đặc biệt là ngành thi pháp folklore Văn hóa dân gian làm nên nét đặc trưng độc đáo của mỗi dân tộc, ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội và là nền tảng của sự phát triển văn hóa
1.1.3 Các yếu tố văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian mang nhiều yếu tố đặc trưng Mỗi yếu tố dân gian gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam dựa trên những thành tố của văn hóa dân gian, các tiêu chí về phương
Trang 21thức lưu truyền, đặc trưng ngôn ngữ, chất liệu cấu tạo đã chỉ rõ các yếu tố cơ bản của
nó Chu Xuân Diên (2001) cho rằng Folklore bao gồm những thành tố là những sáng tạo nghệ thuật có ý thức như các tác phẩm văn học dân gian, âm nhạc và múa dân gian, hội họa dân gian Trong đó có cả những thành tố là những sản phẩm vừa mang tính ích dụng vừa mang tính thẩm mĩ (kiến trúc, đồ thủ công mĩ nghệ…), những thành tố
là những giá trị văn hóa không bao hàm ý nghĩa thẩm mĩ hiểu theo nghĩa đích thực của
nó (văn hóa ẩm thực, những tri thức về môi trường tự nhiên ) Cách chia này của ông cũng khá rộng về các yếu tố của văn hóa dân gian có trong những sản phẩm ích dụng, những sáng tạo nghệ thuật và các giá trị văn hóa về ẩm thực, thiên nhiên
Tuy thế, trong phần giới thuyết về các yếu tố văn hóa dân gian, người viết xin trình bày hai cách phân chia các yếu tố dân gian của hai nhà nghiên cứu là Lê Ngọc Canh và Ngô Đức Thịnh Đây có thể coi là hai cách phân chia tương đối rõ ràng và phù hợp với lựa chọn nghiên cứu của người viết Khi nói tới các yếu tố là nói đến các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể Văn hóa dân gian có nhiều yếu tố tạo nên tính chỉnh thể nguyên hợp của nó Nghiên cứu văn hóa dân gian là xem xét nó trong mối quan hệ tổng thể liên ngành,
đa chiều, quan hệ gắn bó Các yếu tố của văn hóa dân gian tồn tại, phát triển, sáng tạo cùng văn hóa và vẫn giữ nét đặc trưng cơ bản của mình
Trước tiên là nhà nghiên cứu Lê Ngọc Canh Lê Ngọc Canh (1999) cho rằng văn hóa dân gian là tất cả những di sản văn hóa, sáng tạo văn hóa của quần chúng nhân dân được lưu truyền từ đời này sang đời khác Vì thế, văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất là do nhân dân sáng tạo ra, trở thành văn hóa truyền thống của dân tộc Theo Lê Ngọc Canh, văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) là văn, thơ, hát, múa, nhạc, sân khấu, diễn xướng, điêu khắc, kiến trúc, hội họa, nghề mỹ nghệ thủ công, lễ hội trò chơi nghệ thuật… Cùng với các loại hình trên là phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, Tết, lễ, luật tục, những hương ước, định ước và tri thức dân gian Những hoạt động của các loại hình nghệ thuật này đem lại nguồn cảm hứng lớn cho nhiều phương diện đời sống Văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) là đền, chùa, đình, miếu, điện, tháp, lăng tẩm, những loại y phục, những chiếc thuyền, những công cụ, những đạo cụ để phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người và xã hội Chúng có ý nghĩa thực dụng trong thờ cúng, lễ hội, sinh hoạt văn hóa… của nhân dân Ông đã chỉ ra mười yếu tố cơ bản của
Trang 22văn hóa dân gian, bao gồm: 1 Âm nhạc dân gian, 2 Múa dân gian, 3 Sân khẩu dân gian, 4 Tạo hình dân gian, 5 Diễn xướng dân gian, 6 Ngôn từ, 7 Hát dân gian, 8 Lễ hội dân gian, 9 Trò chơi nghệ thuật dân gian, 10 Tri thức dân gian Còn theo Ngô Đức Thịnh (2007), văn hóa dân gian bao gồm bốn yếu tố như: ngữ văn dân gian; nghệ thuật dân gian; tri thức dân gian; tín ngưỡng dân gian, phong tục dân gian và lễ hội dân gian
Các nhà nghiên cứu Việt Nam hiện nay đã triển khai công tác sưu tầm, nghiên
cứu văn hóa dân gian dựa trên sự phân chia cụ thể như sau: Ngữ văn dân gian bao gồm
các loại hình như tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, vè, ngụ ngôn, sử thi, truyện thơ); trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); câu nói dân gian: (thành ngữ,
tục ngữ, câu đố dân gian) Nghệ thuật dân gian bao gồm: nghệ thuật tạo hình dân gian
(kiến trúc dân gian, đền, chùa, miếu, tháp…), nghệ thuật hội họa dân gian (như làng tranh
Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc, múa dân gian và các trò chơi, trò diễn dân gian như múa rối nước, chèo, tuồng) Tri thức dân gian bao gồm: tri thức môi trường tự nhiên (địa lí, thời tiết, khí hậu); tri thức về con người (bản thân); y học và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân
và ứng xử cộng đồng); trí thức sản xuất (kĩ thuật và công cụ sản xuất) Cuối cùng là tín ngưỡng, phong tục và lễ hội Lễ hội là nơi tụ các loại hình văn hóa khác nhau, phản ánh những khía cạnh khác nhau nhưng đều là sáng tạo tinh thần, niềm tin, tín ngưỡng của nhân dân lao động Tín ngưỡng hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là “tin theo một tôn giáo nào đó”
Nó liên quan đến phong tục thờ cúng, niềm tin tâm linh của nhân dân Phong tục là toàn
bộ những hoạt động sống được hình thành theo thời gian, trong quá trình lịch sử và trở thành nề nếp của con người Phong tục ổn định được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục độc đáo riêng theo vùng miền, dân tộc Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội
là những yếu văn hóa dân gian quan trọng góp phần hình thành bản sắc của dân tộc
Như vậy, văn hóa dân gian có thể chia thành các yếu tố cơ bản sau: tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, tri thức, ngữ văn Tuy nhiên, trên thực tế, văn hóa dân gian hình thành, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp Hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực hành, hưởng thụ trong đời sống, lao động của nhân dân còn chưa phân định rạch ròi Các giá trị của văn hóa dân gian luôn có sự đan
Trang 23xen vào nhau, khó có thể bóc tách Chính vì vậy, phân chia ra các yếu tố văn hóa dân gian như trên chỉ mang tính tương đối và thuận lợi cho vấn đề nghiên cứu Trong luận văn này, người viết đi theo cách phân chia của Ngô Đức Thịnh để khảo sát các yếu tố văn hóa dân gian
Văn học không chỉ là một bộ phận của văn hóa, chịu ảnh hưởng văn hóa mà còn là phương tiện bảo lưu văn hóa Việc khảo sát các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật sẽ giúp người đọc thấy rõ quan hệ tác động qua lại giữa văn hóa dân gian và văn học viết Các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm văn học làm cho văn hóa dân gian ngày càng
tỏ rõ tính năng động, phong phú
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết
1.2.1 Mối quan hệ văn hóa và văn học
Văn hóa là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội Văn học là một trong những bộ phận cấu thành nên những mối quan hệ đó Vì thế, văn hóa và văn học có mối quan hệ gắn bó với nhau Mikhail Bakhtin, giáo sư văn học người Nga, một trong những người
mở đường cho xu hướng tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa, đã nhận định về mối
quan hệ văn học và văn hóa trong bài như sau: “Khoa học nghiên cứu văn học phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa” (Dẫn theo Vương Trí Nhàn, 2014) Ông cũng khẳng định:
Cần phải nghiên cứu văn học và tác phẩm văn học như những hệ thống chỉnh thể
ở hai cấp liên đới… Không thể tách rời văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và
“vượt mặt” văn hóa liên hệ trực tiếp với các nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội Những nhân tố ấy tác động trực tiếp đến văn hóa trong chỉnh thể của nó và chỉ thông qua nó mà ảnh hưởng đến văn học
(Dẫn theo Chu Xuân Diên, 2008)
Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và văn khóa là mối liên hệ chặt chẽ khó tách rời nhau Giá trị văn học được khởi nguồn từ môi trường văn hóa, đời sống văn hóa nhất định
Trang 24Huỳnh Như Phương trong bài viết văn học và văn hóa truyền thống cũng đã
nói về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa như sau: văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Vì vậy, văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới Trong khi đó, văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Văn hóa phải trải qua nhiều chặng đường thăng trầm tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành Văn hóa chính là tiếng bằ ng ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học Như vậy, ông khẳng định giữa văn hóa và văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi Cả văn học và văn hóa đều chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau Văn học là một
bộ phận văn hóa, biểu hiện các giá trị văn hóa, bị chi phối bởi văn hóa Trong tập
truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, người đọc có thể biết được vẻ đẹp của
những thú vui tao nhã của người xưa, vẻ đẹp của một nền văn hóa cổ truyền dân tộc Khi văn hóa phát triển thì yêu cầu tất yếu của lịch sử là văn học cũng phải đổi mới đề tài, khuynh hướng sáng tác Khi dân tộc ta chống giặc ngoại xâm, văn học yêu nước phát triển mạnh mẽ thành dòng văn học chủ lưu (như giai đoạn văn học những năm 1945-1975) Khi hòa bình, con người trở về với cuộc sống đời thường thì văn học đi sâu vào khám phá đời sống, đặc biệt là đời sống cá nhân của con người (văn học từ sau 1975 đến nay) Nhà văn cũng như người đọc, sống trong xã hội, chịu sự chi phối của văn hóa xã hội đó nên quan niệm sáng tác, tiếp nhận cũng chịu sự chi phối bởi môi trường văn hóa mà họ đang sống
Tuy nhiên, văn học cũng có sự tác động trở lại đối với văn hóa Đỗ Thị Minh
Thúy đã viết về vị trí của văn học trong văn hóa có tính hai mặt: “Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa” (Đỗ Thị Minh Thúy, 1997) Huỳnh Như Phương cũng cho rằng: “Văn học là một bộ phận hợp thành của văn hóa,
có mối quan hệ hữu cơ với các bộ phận khác, vừa tác động đến cấu trúc chỉnh thể của văn hóa, lại vừa chịu ảnh hưởng của cấu trúc ấy” (Huỳnh Như Phương, 2010) Qua
Trang 25hai ý kiến trên, chúng ta có thể thấy văn học vừa đại diện cho văn hóa, vừa tác động đến cấu trúc chỉnh thể của văn hóa Hơn thế, văn học lại có vai trò sáng tạo văn hóa
Đinh Gia Khánh đã nói rằng : “một trong những đóng góp quan trọng nhất của văn học đối với đời sống xã hội là góp phần tạo nên những giá trị văn hóa của dân tộc”
(Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), 2000) Đồng thời qua văn học, những phạm trù có giá trị của văn hóa được bảo lưu và phát triển Trần Đình Sử (2013) lại khẳng định vai trò sáng tạo ấy thể hiện rõ nhất trên bốn phương diện: 1/ Lấy việc sáng tạo, biểu hiện của con người làm đối tượng trung tâm, văn học trước hết phát huy hết vai trò sáng tạo những mô hình nhân cách; 2/ Văn học có vai trò “phê phán văn hóa”… Văn học có vẻ thích”nói ngược” nhưng chính nó giữ vai trò điều chỉnh văn hóa, có thể nhận ra cái cũ,
cái thái quá, cái bất cập; 3/ Văn học có vai trò lựa chọn văn hóa…Văn học cung cấp
một sự lựa chọn văn hóa từ phía đời sống từ nhu cầu làm giàu đời sống tâm hồn và trí tuệ, chứ không phải từ lập trường chính trị cho nên rất gần gũi và thiết thực đối với con người 4/ Văn học có vai trò sáng tạo văn hóa Văn học là một bộ phận quan trọng của văn hóa, sự giàu có của văn học về nội dung và hình thức sẽ trực tiếp làm giàu cho văn hóa
Như đã nêu rõ ở trên, khi văn học tác động tới văn hóa, nó có sức mạnh đặc biệt đối với đời sống con người Trong những năm tháng kháng chiến chống ngoại xâm, những áng văn giàu lòng yêu nước, giàu tính chiến đấu đã cổ vũ mạnh mẽ khích lệ tinh
thần dân tộc như lời hịch vang dậy núi sông trong Hịch tướng sĩ của vua Trần Quốc Tuấn: “…dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa,
ta cũng cam lòng” hay những câu văn “dậy sóng” của Phan Bội Châu trong Văn tế Phan Chu Trinh:“Ba tấc lưỡi vừa gươm vừa súng, nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê/ Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói”
Ngoài ra, văn học còn có tác dụng to lớn trong việc bồi dương tâm hồn con người Nhà văn ở một góc độ nào đó cũng là một nhà văn hóa Họ đem đến cho người đọc những hiểu biết văn hóa qua tác phẩm của mình như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Tuân, Hồ Chí Minh…
Như vậy, không chỉ có quan hệ mật thiết với các thành phần của văn hóa, mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mối quan hệ khăng khít, hai chiều, hữu cơ với
Trang 26nhau Sự phát triển của văn hóa tạo điều kiện cho văn học phát triển Văn học lại là một thành tố quan trọng của văn hóa, vừa chịu ảnh hưởng của văn hóa, vừa bảo lưu vừa tác động đến sự phát triển của văn hóa dân tộc Nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học được cắt nghĩa từ các yếu tố văn hóa sẽ giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, đánh giá toàn diện hơn
Mặt khác, văn học lại luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát triển
Vì vậy, khi văn học tiếp thu những cái ngoài hệ thống đến một ngưỡng nào đó, yếu tố văn học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa Nó thậm chí còn chống lại
hệ thống, làm cho hệ thống phải thay đổi cùng với nó Như khi văn học trung đại Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của văn hóa đô thị, ý thức cá nhân thức tỉnh, nó đã làm rạn nứt hệ thống văn hóa trung đại Văn học đã góp phần chuyển đổi văn hóa trung đại sang văn hóa hiện đại Lịch sử văn hóa chính là lịch sử của thay đổi các hệ thống văn hóa, hay thời đại văn hóa
Ở Việt Nam, nghiên cứu, phê bình văn học từ văn hóa cũng đã xuất hiện từ lâu
Trần Trọng Kim nghiên cứu Truyện Kiều từ quan điểm Phật giáo Hoài Thanh khảo sát Một thời đại trong thi ca (Thi nhân Việt Nam) từ sự ảnh hưởng của văn hóa phương
Tây… Tuy nhiên, họ chỉ nghiên cứu và vận dụng một số kiến thức văn hóa để đọc văn học chứ chưa phải là đọc, nghiên cứu tác phẩm văn học bằng văn hóa Khi UNESCO phát động những thập kỷ phát triển văn hóa, khi bộ môn Văn hóa học và Nhân học văn hóa xuất hiện ở Việt Nam thì văn hóa bắt đầu được coi như một nhân tố chi phối văn
học Tiêu biểu cho các công trình như Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại; Trần Ngọc Vương trong Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam; Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực; Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hóa … Hướng đi này ngày càng được giới nghiên
cứu quan tâm và đối tượng nghiên cứu cũng trở nên phong phú
1.2.2 Văn hóa dân gian và văn học viết
Khi văn học viết hình thành, bộ phận văn học này đã mở ra một thời kì lịch sử mới Đó là kết tinh của nền văn học dân tộc, là kết quả của phân định văn - sử - triết
và là văn học của giới tri thức, quý tộc Thời kỳ đầu của văn học viết, ba dòng tư tưởng Nho - Phật - Lão đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo Bên cạnh đó, thiên nhiên cũng
Trang 27là thi liệu quen thuộc trong thi ca với nhiều chất liệu cao nhã Khi chữ Nôm được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ XVIII thì văn học viết bắt đầu thâm nhập sâu vào cuộc sống đời thường Xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến những vần thơ chân chất, mộc mạc Khi chữ quốc ngữ ra đời, văn học viết chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông – Tây Văn học hiện đại hóa từ hình thức, thể loại đến tư tưởng, nội dung sáng tác Sau hơn mười thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu và hòa nhập với văn học thế giới Trong tiến trình lịch sử như vậy, văn hóa và văn học viết luôn gắn bó mật thiết với nhau Mối quan hệ biện chứng, hai chiều tương tác qua lại của văn hóa và văn học đã làm giàu thêm cho văn học, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Đồng thời, nó là mối quan hệ sáng tạo có tính qui luật, diễn ra hết sức độc đáo và là cơ sở để cắt nghĩa một số hiện tượng văn học cụ thể
Trong lịch sử phát triển văn học dân tộc, văn hóa dân gian chính là cội nguồn nuôi dưỡng văn học viết Chính vì có lịch sử lâu đời, sự ảnh hưởng rộng lớn, văn hóa dân gian trở thành nguồn tư liệu phong phú của văn học Với vai trò là môi trường của văn học viết, nó đã tác động sâu sắc đến chủ đề, đề tài, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ… cho đến các biện pháp nghệ thuật cấu thành nên tác phẩm Thậm chí, văn hóa dân gian còn ảnh hưởng đến phong cách tác giả và quá trình tiếp nhận văn học viết Tác giả, vốn được xem là chủ thể sáng tạo trong văn học, cũng là một sản phẩm văn hóa Các
hiện tượng văn học như sách Nam dược thần diệu của Tuệ Tĩnh, Truyện Kiều của
Nguyễn Du, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, thơ trào phúng Nguyễn Khuyến, Tú Xương thể hiện rất rõ sự tác động đó Ngoài ra, sự dung hợp về các thể loại khác nhau trong cùng văn bản là phương pháp mà các tác giả văn học muốn tạo sự đa dạng, độ mở, tính chất liên văn bản như sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Võ Thị Hảo…Văn hóa dân gian thậm chí tham gia vào quá trình định hình phong cách cá nhân tác giả khi quy trình vận dụng được lặp lại với tần suất cao như Tố Hữu, Nguyễn Bính, Kim Lân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… Chúng ta thấy rằng khi tác giả có sự gắn kết mạnh mẽ với văn hóa truyền thống thì ngay trong lúc hình thành ý thức sáng tác đã chịu sự quy định của văn hóa, tạo thành thế giới quan trong sáng tạo văn học
Trang 28Điểm qua một số giai đoạn văn học tiêu biểu, chúng ta sẽ thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa dân gian trong suốt tiến trình lịch sử của văn học viết Thời kì văn học Lý Trần, nguồn cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc giữ vai trò chủ đạo Thơ văn thời kỳ này thường nóng bừng nhiệt huyết đấu tranh xây dựng đất nước tự chủ, tự
cường như Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Thế
nhưng, những vần thơ mộc mạc, quê mùa vẫn thấm đẫm nỗi lòng của người con xa xứ
Lão tang diệp lạc tàm phương tận Tảo đạo hoa hương giải chính phì Kiến thiết tại gia bần diệc hảo Giang Nam tuy lạc bất như quy
(Quy Hứng - Nguyễn Trung Ngạn)
Dâu già, lá rụng, tằm vừa chín Lúa sớm, bông thơm, cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dẫu vui đất khách chẳng bằng về
(Hứng trở về - bản dịch Hoàng Việt) Hình ảnh quen thuộc của tuổi thơ trong kí ức tác giả hiện lên với cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chín, lúa trổ bông thơm, cua béo… Đó là tình yêu với quê hương, bản quán mà ta từng gặp trong câu ca dao quen thuộc
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(Ca dao)
Sang thế kỷ XV, với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã sử dụng ngôn ngữ dân
tộc, lời ăn tiếng nói hằng ngày, thành ngữ, tục ngữ làm cho thơ ông trở nên bình dị,
gần gũi Những thành ngữ, tục ngữ như: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm/Ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn được ông vận dụng khéo léo Dường
Trang 29như, nếp sống, tập quán truyền thống, lời giáo huấn của cha ông đã đi vào thơ ông thật dung dị, tự nhiên mà rất sâu sắc
Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, Xấu tốt đều thì rắp khuôn
Lân cận nhà giàu no bữa cám, Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn
(Báo kính cảnh giới, 21)
Ở thế kỷ XVIII, nhiều tác giả văn học trong giai đoạn này cũng chịu ảnh hưởng
của văn hóa dân gian Truyện Kiều là một tác phẩm tiêu biểu Truyện Kiều của Nguyễn
Du là tác phẩm được “dân gian hóa” độc đáo Những hiện tượng văn hóa phổ biến từ Truyện Kiều như tập Kiều, bói Kiều đến ngày nay vẫn còn phổ biến Với tác phẩm này, thể thơ lục bát của dân tộc đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Vì thế, nhiều câu thơ đã trở thành mẫu mực về nghệ thuật Giáo sư Mai Quốc Liên từng nói Kiều là “kì quan
của nền văn hóa Việt Nam” Truyện Kiều của Nguyễn Du là sự kết tinh của thơ ca dân
gian, của nếp sống, lối nghĩ mang đậm chất dân gian Việt Nam
Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy cả bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố, trò chơi…), một nếp sống làng quê nhiều phong tục tập quán trong thơ Nguyễn Khuyến, những thành ngữ, tục ngữ sáng tạo trong thơ
(Đánh đu – Hồ Xuân Hương)
Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua
Trang 30(Thú quê – Nguyễn Khuyến)
Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công
(Thương Vợ - Trần Tế Xương)
Sự ảnh hưởng, tác động của văn hóa dân gian vẫn diễn ra sâu sắc kể cả khi văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn học, văn hóa phương Tây Ngay trong phong trào Thơ mới, bên cạnh những nhà văn, nhà thơ có những cách tân táo bạo như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… vẫn có những tác giả chịu ảnh hưởng rõ nét từ nền văn hóa dân gian như Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ Những cánh đồng, lũy tre, cây đa, bến nước, cánh cò; những phong tục cưới xin, lễ tết, hội làng hay những đặc trưng của lối sống sinh hoạt, ngôn ngữ làng quê… được tái hiện chân thật, sinh động trong thơ của các tác giả:
Quanh bếp ấm, nồi bánh chưng sùng sục Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn,
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức,
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm
(Đêm ba mươi tết – Anh Thơ)
Hôm nay xác pháo đầy đường Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
(Lỡ bước sang ngang – Nguyễn Bính)
Mùa xuân ấy ông tôi lên tận tỉnh Đón tôi về xem hội ở làng bên Suốt ngày đêm chiêng trống đánh vang rền
(Đám hội – Đoàn Văn Cừ) Như vậy, nước ta mặc dù phải trải qua nhiều biến cố, nhiều sự tiếp biến văn hóa ngoại lai thì văn học viết vẫn ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa dân gian Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết là mối quan hệ mang tính quy luật, rộng khắp, biện chứng, có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Văn học là một thành tố quan trọng
Trang 31của văn hóa, vừa chịu sự tác động của văn hóa dân tộc vừa tác động trở lại đối với văn hóa Với tư cách chủ thể tiếp nhận văn hóa đồng thời là chủ thể sáng tạo, nhà văn chính
là người lưu trữ qua văn chương mình những đặc trưng của văn hóa dân tộc và văn hóa dân tộc là nơi ươm mầm những tài năng văn học sau này Huỳnh Như Phương
trong Văn học và văn hóa đã khẳng định: “Có thể nói nhà văn đích thực là nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là sản phẩm của văn hóa và người đọc là người thụ hưởng văn hóa”
Khi văn hóa dân gian xâm nhập và ảnh hưởng đến văn học viết thì bản thân văn học viết cũng tác động đến sự tồn tại và phát triển của văn hóa dân gian Có khi chúng được chuyển tải thành những hình tượng văn học đặc sắc, vừa lưu giữ nét dân gian
vừa đậm hơi thở của cuộc sống hiện đại Trong truyện ngắn Trương Chi của Nguyễn
Huy Thiệp, nhân vật Trương Chi không mang tính lý tưởng, có tình yêu thủy chung, tâm trạng tuyệt vọng với nàng Mỵ Nương nữa Thay vào đó, hình ảnh Trương Chi mang tâm thức thời hiện đại Đó là hình ảnh con người tự đối diện với nỗi cô đơn của chính mình, mang nỗi mặc cảm, sự hoài nghi đối với thân phận, tình yêu Nhân vật
Mỵ Nương trong Sự tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang lại có một tình cảm kì lạ
với Thủy Tinh Thủy Tinh ở đây lại là một chàng trai biết suy nghĩ, có một trái tim nồng ấm, chân thành Sự sáng tạo này làm cho các nhân vật dân gian trở nên sinh động
và có sức sống lâu bền trong tâm thức người dân Việt
Một trong những quy luật chi phối quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học là quy luật kế thừa và sáng tạo Là thành viên của cộng đồng văn hóa, nhà văn tiếp nhận những giá trị, lối tư duy, nếp nghĩ, ứng xử… của văn hóa truyền thống Vì thế, dù sáng tạo đến đâu thì trong tác phẩm vẫn thể hiện tâm thái văn hóa của dân tộc mình Văn học nghệ thuật cách tân và sáng tạo nếu được nảy nở trên nền của truyền thống văn hóa thì sẽ trường tồn theo thời gian và tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của dân tộc mình Quá trình kế thừa đó làm cho văn học phát triển mà vẫn không đứt đoạn với truyền thống, làm nên truyền thống văn học của từng dân tộc Những tín ngưỡng,
phong tục dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo
mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tục thờ thần Chó đá, thần Cây đa, thần Thành hoàng, cảnh
Trang 32lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…) đã làm nên bản sắc văn hóa Việt trong sáng tác của ông
Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết còn thể hiện qua sự xâm nhập lẫn nhau Có khi một tác phẩm văn học của một tác giả cụ thể được yêu thích và lưu hành rộng rãi trong nhân dân theo phương thức truyền miệng Qua nhiều thời gian,
tác phẩm văn học viết trở thành gia tài chung của nhân dân như bài thơ Trong đầm gì đẹp bằng sen của Bảo Định Giang, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa của các
nhà nho tài tử Nhiều tác phẩm văn học viết đã len lỏi vào nếp sống, tập quán, ăn sâu vào tâm hồn những người nông dân và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân lao động
Tóm lại, mối quan hệ giữa văn hóa với văn học nói chung, văn hóa dân gian với văn học viết nói riêng là mối quan hệ mang tính quy luật tất yếu Văn học và văn hóa
là hai mặt tồn tại song song của hình thái ý thức xã hội Văn học chẳng những là một
bộ phận quan trọng của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa hữu hiệu nhất Văn học vốn chịu
sự chi phối ảnh hưởng từ truyền thống văn hóa và môi trường văn hóa của dân tộc Chính vì điều đó, văn hóa và văn học không nằm ngoài quỹ đạo chung là hướng tới sự phát triển một cách toàn diện, có môi trường sống năng động, lâu bền trong suốt tiến trình dài của lịch sử
1.3 Bình Nguyên Lộc – nhà văn Nam Bộ
1.3.1 Tiểu sử
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 07/3/1914 (giấy tờ ghi 1915) tại làng Tân Uyên, Tổng chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) Ông mất ngày 07/3/1987 tại Rancho Cordova, Sacramento, California, Hoa Kỳ Các bút hiệu khác: Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, mười đời ở đất Tân Uyên Cha là Tô Phương Sâm làm nghề buôn gỗ, mẹ là Dương Thị Mão Thuở nhỏ học chữ nho với thầy đồ Ông học tiểu học ở trường làng; trung học (1928 - 1934) ở Pétrus Ký, Sài Gòn Ông rời trường không bằng cấp Năm 1934, ông kết hôn với cô Dương Thị Thiệt Năm 1935, ông vào làm công chức ở kho bạc Thủ Dầu Một Năm 1936, Ông đổi về Sài Gòn làm kế toán
Trang 33viên ở Tổng Nha Ngân khố Tháng 8/1945, Ông bỏ việc, tham gia kháng chiến Năm
1946, ông hồi cư về Lái Thiêu và 1949 rời Lái Thiêu về hẳn Sài Gòn viết văn, làm báo
Năm 1950, ông in tập truyện ngắn Nhốt gió Năm 1958, ông chủ trương tuần báo Vui Sống và nhà xuất bản Bến Nghé Ông cộng tác với các báo Lẽ Sống, Đời Mới, Tin Mới, tạp chí Bách Khoa, Văn Hóa Ngày Nay; phụ trách trang văn nghệ của báo Tiếng Chuông; làm chủ báo Tin Sớm Từ 1965 - 1975, Bình Nguyên Lộc chuyên viết
feuilleton cho các nhật báo, có ngày ông viết cho 11 nhật báo Năm 1975, ông ngừng cầm bút vì bệnh nặng Năm 1985, ông di cư sang Hoa Kỳ và hai năm sau thì mất Trước khi qua đời, ông vẫn đau đáu trong lòng nhớ quê, nhớ nước
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Bình Nguyên Lộc sáng tác với khối lượng lớn Các bản thảo bị thất lạc cũng nhiều Phần lớn in trên các báo Nhiều tác phẩm chưa xuất bản thành sách Thống kê các sáng tác dưới đây dựa vào thống kê trên trang của http://www.thuykhe.free.fr, http://www.binhnguyenloc.de và Bình Nguyên Lộc – một bút lực lớn trong Tuyển tập Bình Nguyên Lộc tập 1
Các tác phẩm đã in:
Thơ: Thơ tay trái, Việt sử trường ca và Thơ ba Mén (tiểu thuyết thơ)
Sưu tầm, chú giải được công bố trước 1975: Thổ ngơi Đồng Nai (ca dao miền Nam, và chú giải cổ văn, viết chung với Nguiễn Ngu Í), Văn tế chiêu hồn (Nguyễn Du), Tiếc thay duyên Tấn phận Tần (Nguyễn Du), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Thu dạ
lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Tỳ bà hành và Trường hận ca (TRQ)
Dân tộc học và ngôn ngữ học: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971), Lột trần Việt ngữ (1972), Từ vựng đối chiếu 10 ngàn từ (1971)…
Truyện ngắn: Nhốt gió (Thời thế, 1950), Ký thác (Bến Nghé, 1960), Tân liêu trai (Bến Nghé, 1960), Tâm trạng hồng (Sống Mới, 1963) Mưa thu nhớ tằm (Phù Sa, 1965), Tình đất (Thời Mới, 1966), Cuống rún chưa lìa (Lá Bối,1969), Nụ cười nước mắt học trò (Trương gia, 1967)
Tạp bút: Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (Thịnh
Ký, 1966)
Trang 34Truyện dài: Đò dọc (Bến Nghé, 1959), Gieo gió gặt bão (Bến Nghé, 1960), Ái
ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (Thế Kỷ, 1963), Mối tình cuối cùng (Thế Kỷ, 1963), Bóng ai qua ngoài song cửa (Thế Kỷ, 1963), Bí mật của nàng (Thế Kỷ, 1963), Hoa hậu Bồ Đào (Sống Mới, 1963), Xô ngã bức tường rêu (Sống Mới, 1963), Nhện chờ mối ai (Nam Cường, 1963), Nửa đêm Trãng sụp (Nam Cường, 1963), Đừng hỏi tại sao (Tia Sáng, 1965), Uống lộn thuốc tiên (Miền Nam, 1965), Quán tai heo (Văn Xương, 1967), Một nàng hai chàng (1967), Thầm lặng (Thụy Hương, 1967), Trăm nhớ ngàn thương (Miền Nam, 1967), Đèn Cần Giờ (1968), Diễm Phương (1968), Sau đêm
bố ráp (Thịnh Kí, 1968), Khi Từ Thức về trần (1969), Nhìn xuân người khác (Tiến Bộ, 1969), Món nợ thiêng liêng (Ánh sáng, 1969), Tỳ vết tâm linh (Nam Cường, 1973), Lữ đoàn mông đen (Xuân Thu, Hoa Kỳ, 2001)
Truyện dài chưa in: Ngụy Khôi, Đôi giày cũ chữ Phạn, Thuyền trưởng sông Lô,
Mà vẫn chưa nguôi hình bóng cũ, Người săn ảo ảnh, Suối đổi lốt, Trữ La bến cũ, Bọn
xé rào, Cô sáu Nam Vang, Một chuyến ra khơi, Trọng Thủy - Mị Đường, Sở đoản của đàn ông, Luật rừng, Trai cưới gái nào, Cuồng ca thế kỷ, Bóng ma dĩ vãng, Gái mẹ, Món nợ thiêng liêng, Khi chim lìa tổ lạnh, Ngõ 25, Hột cơm Ngô chúa, Lưỡi dao cùn, Con khỉ đột trò xiếc, Con quỷ ban trưa, Quật mồ người đẹp, Nguời đẹp bến Ninh Kiều, Bưởi Biên Hòa, Giấu tận đáy lòng, Quang Trung du Bắc, Xóm Đề bô, Hai kiếp nhả
tơ, Muôn triệu năm xưa, Hổ phách thời gian, Đến ngày 31/5/1966 Bình Nguyên Lộc
đã viết: 820 truyện ngắn (in năm tập), 52 tiểu thuyết (in 11 quyển)
Qua khối lượng sáng tác của Bình Nguyên Lộc nêu trên, ông đúng là nhà văn có bút lực lớn với khối lượng sáng tác đồ sộ Nguyễn Q Thắng - người dành nhiều công
sức tuyển chọn và giới thiệu sáng tác tiêu biểu của Bình Nguyên Lộc qua bộ Tuyển tập Bình Nguyên Lộc gồm 4 tập do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, năm 2002 đã có tổng kết khá xác đáng: “Trong từng trang viết, ông làm sống dậy trong tâm thức người đọc cái hồn nhiên dung dị, chân chất mà đầy tình nghĩa của con người sinh trưởng tại miền đất mới ” (Bình Nguyên Lộc (tập 1), 2002) Đây là vẻ đẹp con người và
mảnh đất Nam Bộ trong văn chương Bình Nguyên Lộc Như vậy, Bình Nguyên Lộc không chỉ là “tam kiệt” của văn học Nam Bộ mà tác phẩm của ông còn là bức tranh chân thực của vùng đất mới này Thế giới thiên nhiên, con người hiện lên giàu chất
Trang 35Nam Bộ trong tính cách, trong nếp sống sinh hoạt, ngôn ngữ, giọng điệu…Bình Nguyên Lộc là một trong những tác giả có công đóng góp lớn và vị trí quan trọng cho
sự định hình văn học miền Nam
1.3.3 Bình Nguyên Lộc – bút lực dồi dào của văn học Nam Bộ
Gia đình Bình Nguyên Lộc đã mười đời sống vùng đất Tân Uyên Nơi ông sống được bồi đắp phù sa bởi con sông Đồng Nai Vì thế, ông hay viết về thổ ngơi của vùng đất cũng như luôn có ý thức truy tìm nguồn gốc tổ tiên đã khai hoang, mở đất trước
đó Theo Nguyễn Vy Khanh trong Bình Nguyên Lộc và tình đất, tập truyện và tùy bút đầu tay Hương gió Đồng Nai viết xong năm 1942 (khởi từ 1935) và tập truyện dài Phù
sa (viết năm 1942) “là những gửi gắm tâm sự của ông - ông muốn làm sống lại cuộc Nam tiến vĩ đại của đồng bào Nam - Ngãi để mở mang bờ cõi miền lục tỉnh, qua chuyện những người tiên phương đã khai phá làng Tân Uyên bên bờ sông Đồng Nai cũng là quê hương của ông” (Nguyễn Vy Khanh, 2007)
Nam Bộ, vùng đất mà ông sinh trưởng, là nơi mới được khai phá từ thế kỉ XVII Đây là nơi có điều kiện tự nhiên và xã hội hết sức đặc biệt Thiên nhiên Nam Bộ hoang
sơ, khắc nghiệt nhưng cũng rất màu mỡ, phì nhiêu Địa hình vùng đất mới khá đa dạng nhiều sông ngòi, kênh rạch Đất thường là đất đỏ bazan, đất phù sa cổ và phù sa mới Vùng cũng có nhiều cù lao, dải bờ biển, vạt đất ven sông, giồng cát ven biển Sông ngòi, kênh rạch dày đặc Các tiền nhân đã cần cù, kiên trì, nhẫn nại để có thể giữ rừng, lấn biển, hạn chế xói lở, chống gió bão, chống nạn cát bay Họ định canh, định cư rồi canh tác và khai thác các nguồn lợi thực vật, động vật Họ lập nên các xóm các ấp, các
làng Hình ảnh này được tái hiện trong Rừng mắm Ông nội với tía thằng Cộc đốt
rừng tràm lấy đất trồng lúa Họ đổ mồ hôi nước mắt để thuần hóa vùng đất này Họ
trở thành chủ nhân và đem theo ước mơ một tương lai tươi đẹp “ta làm ba mươi công,
và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới để phụ lực rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu” (Bình Nguyên Lộc (tập 2),
2002) Đây là hình ảnh những con người mở đất Thành quả của những con người tiên phong này đem lại là sự phong phú của hệ sinh thái quần thể thực vật, động vật phong
phú “rừng tràm dày mịt, chằng chịt những dây bòng bong, dây choại bò từ thân cây này sang thân cây khác”, “rùa nhiều như kiến Đốt rừng rồi đón trên đầu gió một cái
Trang 36là chúng nó lạch cạch chạy trốn, bắt không kịp lận”, “chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002)
Họ biết ứng phó, tận dụng và làm chủ mọi diễn biến phức tạp của thời tiết Nam
Bộ với hai mùa mưa nắng rõ rệt Cả nhà thằng Cộc (Rừng mắm) uống nước đọng trên lung, trên rừng Họ “đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về”
Để phục vụ cuộc sống, họ trồng các loại gia vị như “Hành, ớt, rau răm, rau mồ om được trồng trong mấy cái vườn cao cẳng đó.” Những loại rau và vật dụng ấy lại có lợi ích thú vị như: “món gia vị nào để ăn cá” và “Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà này vào mùa khô Cứ xem bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Những việc đơn giản như vậy nhưng nó đã rèn bản lĩnh sống cho các lưu dân
Với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Phù sa, ông đã ý thức việc dựng lại hình
ảnh những người phương Nam đi mở cõi Hình ảnh này về sau còn được xuất hiện trong nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của ông Bình Nguyên Lộc viết chân thực, sinh động về những ứng xử đầu tiên của con người với tự nhiên trong công cuộc mở đất
Họ chiến đấu với thiên nhiên, thú dữ, muỗi mòng, rắn, đỉa để cải tạo cuộc sống Ô
Heo “muỗi mòng quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Trong cuốn tạp văn Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc in trên ngay trang đầu của báo Thời thế, ông có vẽ hình con nai Đó chính
là chữ kí đặc biệt của Bình Nguyên Lộc Đồng Nai là nơi ông có nhiều tình cảm sâu nặng Đồng Nai đã trở thành đề tài, nguồn cảm hứng trong các sáng tác, nghiên cứu của ông Bình Nguyên Lộc đã dày công sưu tầm, chú giải hàng ngàn câu ca dao, dân
ca và tập hợp trong Thổ ngơi Đồng Nai Bài thơ Dâng má thương mở đầu đã nói lên
tình cảm, cảm xúc chân thành, cảm động về quê hương, đất nước, văn hóa dân tộc
Từ đáy thời gian, dậy tiếng ru,
Ầu ơ lời má, giọng trầm phù
Má ơi, hồn đất bao năm thiếp, Bỗng chốc trưa nay vẳng, tít mù
Trang 37Ngược dòng năm tháng mấy dòng này, Những áng tuyết xưa gợi lại đây
Gởi cả muôn thương cùng vạn nhớ
Tân Uyên đất má, thảm vơi đầy
(Bình Nguyên lộc (tập 1), 2002)
Từ xưa đến nay, các nhà văn, nhà thơ luôn nặng tình với quê hương nhưng ít ai nặng lòng với nơi “chôn nhau cắt rún” của mình như Bình Nguyên Lộc Dù có xa quê, lưu lạc nơi đất khách quê người thì thường trực ở trong trái tim ông là quê hương, là nơi lưu giữ hồn cốt Tình cảm này thể hiện ngay ở bút danh Bình Nguyên Lộc Nhà văn Nam Bộ Sơn Nam đã giải thích ý nghĩa bút danh của tác giả như sau: “bình nguyên” là cánh đồng, “lộc” là nai “Bình Nguyên Lộc” là Đồng Nai Tên quê hương
đã trở thành tên bút danh của chính nhà văn
Đọc tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, người đọc như đang được sống trong không gian văn hóa Nam Bộ xưa Hình ảnh những con người đi mở cõi, khai phá vùng đất tái hiện cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc Nam Bộ là nơi cộng cư của nhiều tộc người nên đa dạng về văn hóa Con người Nam Bộ đến từ nhiều miền đất khác nhau Người Trung Hoa, Ngũ Quảng đến sinh sống lập nghiệp Nhiều người từ trên châu thổ sông Mekong di chuyển dần xuống vùng hạ lưu châu thổ Người thì từ Campuchia trở
về định cư ở vùng ven biên giới Các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm này sống xen kẽ nhau Họ đến vùng đất này có thể bởi nhu cầu cuộc sống cơm áo, lưu lạc tha hương… Thời gian đầu, các tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm họ có thể chưa dung hòa
được lối sống, nếp nghĩ như chú Yều trong Lò chén chòm sao vẫn khăng khăng phân biệt người Minh Hương với người An Nam: “Như sao được, Triều Châu khác, An Nam khác chớ” (Bình Nguyên Lộc (tập 1), 2002) Thế nhưng, công cuộc khẩn hoang,
đối diện với nhiều gian truân, họ hiểu ra cần có tinh thần hợp tác, tương trợ để sinh tồn và phát triển Bình Nguyên Lộc thấy ở người Chăm, người Khmer, người Hoa tinh
thần hòa hợp và mong muốn lập nghiệp tại miền đất này nên họ “không nguy hại cho
an ninh và nền kinh tế của ta chút nào cả chỉ mong được chén cơm hàng ngày”
(Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Những người đi mở đất này vô cùng quả cảm, năng động, kiên trì, sáng tạo… Họ quan hệ, ứng xử linh hoạt với môi trường tự nhiên, xã
Trang 38hội, gia đình và với chính bản thân Bình Nguyên Lộc viết về người Trung Hoa khá
nhiều như Xô ngã bức tường rêu, Lữ Bất Vi nguyên tử, Lò chén chòm sao… Các tác
phẩm của ông thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, lối sống cởi mở của con người Nam
Bộ
Trong sáng tác Bình Nguyên Lộc, những người đi mở cõi sớm tự ý thức về thân phận mình Họ nhận ra ý nghĩa tồn tại của bản thân Cuộc sống ở miền đất mới hình thành ở họ những phẩm chất, cá tính đáng quý Họ nghèo khổ, ít học tự biết mình là
ai như con Dừa (Cây đào lộn hột) nhận thức mình là “đứa con gái xấu xí nhất xóm,
mà có lẽ xấu xí nhất nước Việt Nam” (Bình Nguyên Lộc (tập 1), 2002) Họ mưu sinh cực nhọc dưới lòng cống ngầm thành phố Sài Gòn trong Người chuột cống Ở đây đầy
những hiểm nguy mất mát, cay đắng cho thân phận chuột cống của họ Những ám ảnh, xót xa, bi phẫn về kiếp người của họ trăn trở trên mỗi trang văn Bình Nguyên Lộc Công cuộc mở cõi của họ có khi phải đánh đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt Nhiều khi những nhọc nhằn của cuộc sống khiến họ dễ cảm thấy nhụt chí, nản lòng
Thằng Cộc (Rừng mắm) “thèm người vô cùng, thèm còn hơn thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm” Nó từng muốn bỏ đi, “đi đâu cũng được, miễn ở đó có làng xóm, có người ta” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002)
Có khi, họ mang nỗi đau phải lìa xa quê cũ Gia đình Sáu Nhánh (Phân nửa con người) khi ở quê nhà thì luôn cúng giỗ vào sáu giờ sáng để “khách khứa ăn giỗ xong còn ra đồng làm lụng” Giờ sống trên thuyền ông già anh Sáu Nhánh muốn cúng chính ngọ, lúc “thuyền nào cũng bị kẹt tại vàm này và như thế mới có khách ” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Họ sống trong nỗi sầu xa xứ, lạc loài Người thiếu phụ trong Chiêu hồn nước của Bình Nguyên Lộc đã trang hoàng căn buồng thuê “nào tranh gà, tranh lợn, tranh Tàu trên vách, đặc biệt nhất là một bàn thờ tạm dọn trên chiếc bàn con với gần
đủ đồ thờ, bình hương, độc bình, đèn, nhang” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Chị
trang trí nhà cửa, cúng kiếng để làm vơi bớt nỗi nhớ buồn xa quê, nhớ tổ tiên ông bà
và làm dịu đi cảm giác cô đơn
Thế nhưng, vượt lên trên hết, họ có khát vọng dấn thân, chấp nhận mạo hiểm Người Việt vốn có xu hướng sống liên kết chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống
và quan hệ làng xã Vì vậy, nhiều người có tâm lí an phận, ngại thay đổi, dựa dẫm, ỷ
Trang 39lại; hay có thái độ phân biệt vùng miền Người Nam Bộ đã khắc phục được điều này Đến vùng đất mới này, họ luôn có ý chí, chấp nhận dấn bước để vươn lên Mặc dù họ không thể quên mặc cảm lưu lạc, tha hương, sự lo lắng, bất an về tương lai nhưng họ vẫn kiên trì, nhẫn nại xác định sứ mệnh tiên phong của mình Gia đình thằng Cộc
(Rừng mắm) đang sống với làng cũ hàng trăm ngôi nhà, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, nhưng một hôm gia đình bán chiếc chòi lá “…kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con, rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng này đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô Heo” (Bình Nguyên Lộc (tập
2), 2002) Họ cũng luôn trân quý, giữ gìn, phát huy những thành quả của ông cha Ông
Sáu (Nỗi buồn của người sắp chết) nhắm mắt không yên vì chưa dạy được nghề đóng cối xay cho thằng con út
Ảnh hưởng từ nhà văn Nam Bộ Hồ Biểu Chánh, con người Nam Bộ trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc luôn coi trọng tình nghĩa, thẳng thắn, cương trực, quý bạn
bè, hàng xóm, khinh bọn người sống không có trước sau Họ thường nhìn lại bản thân, đấu tranh, tự nhận thức để hoàn thiện mình Họ tạo nên con người Nam Bộ vừa truyền
thống vừa hiện đại Họ có tâm hồn tinh tế, tình yêu cội nguồn Bình Nguyên Lộc say
mê làm gã “lang thang” trên hè phố để nhìn ngắm Sài Gòn Một Sài Gòn với những
con kênh, những chiếc ghe lênh đênh Người Sài Gòn mê mẩn với những thức quà quê dân dã, những hàng me dọc đường phố Sài Gòn:
… thân cây đều đặn, không cao lỏng khỏng như dầu, không lùn tịt như sanh, đẹp với vỏ cây cằn cỗi gợi nhớ những cội tùng già bên chùa cổ trên một sườn non, với rêu xanh mơn mởn bám trên vỏ sạm đen, đẹp như non bộ dày sương dạn gió, với tàn không thưa, không sơ rơ như tàn sầu riêng, không dày mịt như măng cụt, vốn
nó đã đẹp ở ngoài thiên nhiên rồi, mà trồng trên vỉa hè đa, bên cạnh những ngôi nhà xi măng cốt sắt, khô, nóng và buồn thì nó còn đẹp hơn biết bao
(Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002)
Trang 40Trong cuộc sống còn nhọc nhằn, họ rất quan tâm đến niềm vui tinh thần Họ coi việc cất lên lời ca, tiếng hát giữa cảnh rừng âm u là không thể thiếu để họ thêm nghị lực,
sức mạnh tinh thần vượt lên khó khăn Những câu ca giản dị, tự nhiên được cất lên từ ông nội thằng Cộc (Rừng mắm): “Hò ơ… Rồng chầu ngoài Huế,/Ngựa tế Đồng Nai,/Nước sông trong sao cứ chảy hoài,/ Thương người xa xứ lạc loài đến đây.” (Bình
Nguyên Lộc (tập 3), 2002)
Nam Bộ là nơi con người sống đầy nhân nghĩa Đó là những người tản cư về
thôn quê do chiến tranh (Đò dọc); những người có cuộc sống mưu sinh cực nhọc (Má
ơi, má!, Người chuột cống, Không một tiếng vang) nhưng giàu tình giàu nghĩa Màu
sắc Nam Bộ trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc còn ở việc tái hiện lại những phong
tục tập quán của người Nam Bộ (Lửa tết, Hương hành kho) Lễ hỏi, lễ cưới, lễ hội (Đò dọc, Đồng đội) đều được nhà văn kể lại khá tỉ mỉ đưa người đọc về hoài niệm xa xưa
mà xã hội hiện đại đã làm phôi pha dấu tích Điều này đã tạo ra hệ “miễn dịch” trước
sự xâm lăng của văn hóa phương Tây Người dân Nam Bộ cả đời không bước chân ra khỏi làng dù cuộc sống nghèo khó tiêu điều, xơ xác Họ không chịu bán ngôi nhà cổ
lấy tiền giúp đỡ con cái dù rất mực thương con (Bán ngôi nhà cổ) “Tao quyết bám níu vào đất này, nhứt định bỏ xương ở đây, không ai xô đẩy tao đi đâu được hết” (Bình
Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Họ vẫn bám đất bám làng dù có bị mua chuộc mười ngàn
đồng (Những ngôi mả tổ) “Bà con tôi ở đây đã bảy đời rồi, mồ ông mả cha của bà con đều nằm ở đây Chúng tôi thương yêu cái gò cỏ cháy này quá rồi, không làm sao mà dứt ra đi đâu được hết, cho dẫu là đi ở cách đây vài dặm hú” (Bình Nguyên Lộc (tập 2), 2002) Và dù có lưu tán, phiêu dạt ở phương nào, họ vẫn xúc động nhớ về “những nếp nhà chứng kiến bao nước mắt, bao nụ cười của bao thế hệ trong dòng họ”, “những con đường mòn bò quanh quẩn trong làng mà mỗi phiến đá bên lề biết kể lể một câu chuyện đau thương hay ngồ ngộ”, “những vuông ruộng sau nhà mà nơi lưỡi cày của
tổ tiên ta đã lặn hụp từ mấy ngàn năm” (Bình Nguyên Lộc (tập 1), 2002) Họ chăm
những cây chanh, cây khế, cây mít, cây dừa trồng rau răm, hành hương, ớt… để nhìn thấy hình bóng quê hương Họ nhớ tiếng rao quà mỗi đêm, tiếng chim kêu, tiếng chuông chùa ngân nga; thèm hương bưởi, mùi bùn non, mùi nước mắm, đặc biệt thèm
mùi của đất, “mãnh liệt như nỗi thèm mùi khói thuốc phiện của những con thằn lằn,