1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng tài liệu hướng dẫn sinh viên sử dụng phần mềm microsoft powerpoint và activinspire thiết kế các hoạt động dạy học tương tác trong dạy học hóa học ở trường phổ thông​

104 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng thái độ của học sinh với tiết học có sử dụng bảng tương tác và kĩ năng ứng dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MICROSOFT POWERPOINT VÀ ACTIVINSPIRE

ĐỂ THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Thái Hoài Minh

SV thực hiện: Nguyễn Vĩnh Mạnh Khóa: 2015 – 2019

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MICROSOFT POWERPOINT VÀ ACTIVINSPIRE

ĐỂ THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Thái Hoài Minh

SV thực hiện: Nguyễn Vĩnh Mạnh Khóa: 2015 – 2019

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được đề tài ngày hôm nay, ngoài sự cố gắng, phấn đấu nỗ lực của bản thân,

em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Thái Hoài Minh Nhờ có sự chỉ bảo, quan tâm kịp thời của cô mà tôi đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân cũng như hoàn thành thật tốt khóa luận của mình Bên cạnh đó cô còn tạo nhiều điều kiện, môi trường để tôi thực nghiệm đề tài và công bố những sản phẩm tôi thực hiện được đến rộng rãi SV Không chỉ trong kì thực tập mà cô còn giúp đỡ tôi rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn cô

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn Nguyễn Quốc Bảo, Trần Phương Thảo,

Lê Nguyễn Thảo Trang đã đồng hành cùng tôi và đưa ra những lời khuyên, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Ngọc Diễm, GV Hóa học trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa đã tạo cơ hổi để tôi được sử dụng BTTvào bài học trong đợt thực tập sư phạm của mình

Xin gửi lời biết ơn đến sự hợp tác của tập thể các bạn SV đang tham gia học phần

“Ứng dụng ICT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông” Các bạn đã cùng tôi đồng hành và thực hiện đầy đủ, chất lượng các sản phẩm và yêu cầu mà tôi đề ra Ngoài ra tôi cũng muốn dành lời cảm ơn đến các em HS lớp 11A1 và 11CV của trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, các em đã tạo cho tôi cơ hội được tìm hiểu thực trạng dạy học ở trường phổ thông

Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ và

động viên tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài vừa qua

Một lần nữa, xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 04 năm 2019

Nguyễn Vĩnh Mạnh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 8

DANH MỤC CÁC BẢNG 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 10

MỞ ĐẦU 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC 16

XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ 16

HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 16

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 16

1.2 Phương pháp dạy học trong bối cảnh cách mạng 4.0 18

1.2.1 Bối cảnh giáo dục trong cuộc cách mạng 4.0 18

1.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học 19

1.3 Tổng quan về dạy học tương tác 22

1.3.1 Khái niệm dạy học tương tác 22

1.3.2 Các phương tiện dạy học hỗ trợ dạy học tương tác 23

1.3.3 Các hoạt động tương tác trong giờ học Hóa học 23

1.4 Tổng quan về bảng tương tác 24

1.4.1 Khái niệm bảng tương tác 24

1.4.2 Các phần mềm thiết kế bài giảng tương tác 25

1.4.3 Lợi ích dạy học bằng bảng tương tác 26

1.5 Tài liệu học tập điện tử 26

1.5.1 Khái niệm tài liệu học tập 26

1.5.2 Tài liệu học tập điện tử 27

1.5.3 Ưu và khuyết điểm của tài liệu điện tử 27

Trang 5

1.5.4 Một số công cụ thiết kế tài liệu điện tử 28

1.6 Thực trạng thái độ của học sinh với tiết học có sử dụng bảng tương tác và kĩ năng ứng dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 29

1.6.1 Thực trạng thái độ của học sinh với tiết học có sử dụng bảng tương tác 29

1.6.2 Thực trạng kĩ năng ứng dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 32

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT POWERPOINT VÀ ACTIVINSPIRE THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 40

2.1 Nguyên tắc thiết kế tài liệu điện tử 40

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và phong phú của nội dung 40

2.1.2 Đảm bảo về hình thức 41

2.1.3 Đảm bảo tính khả thi 42

2.2 Quy trình thiết kế tài liệu điện tử 42

2.2.1 Xác định mục tiêu của việc xây dựng tài liệu điện tử 42

2.2.2 Xây dựng nguồn tài nguyên, nội dung của tài liệu 43

2.2.3 Xây dựng tài liệu bằng phần mềm chuyên dụng 43

2.2.4 Giới thiệu tài liệu đến sinh viên 44

2.2.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 44

2.2.6 Rút kinh nghiệm và chỉnh sửa tài liệu 44

2.3 Dùng ứng dụng Google Site để thiết kế tài liệu điện tử 44

2.4 Giới thiệu các tính năng dùng để thiết kế hoạt động dạy học tương tác (sử dụng trong tài liệu) 47

Trang 6

2.4.1 Phần mềm Microsoft Powerpoint 47

2.4.2 Phần mềm Activinspire 53

2.5 Giới thiệu tài liệu điện tử “Hướng dẫn sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint và Activinspire để thiết kế hoạt động dạy học tương tác” 56

2.5.1 Phần mềm Microsoft Powerpoint 57

2.5.2 Phần mềm Activinspire 58

2.5.3 Hệ thống bài tập 60

2.5.4 Một số hoạt động dạy học gợi ý 61

2.7 Một số định hướng sử dụng tài liệu 65

2.7.1 Tổ chức tự học có hướng dẫn trong học phần “Ứng dụng ICT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông” 66

2.7.2 Tài liệu hỗ trợ SV tự rèn luyện và nâng cao kĩ năng thiết kế hoạt 67

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.2 Đối tượng thực nghiệm 68

3.3 Nội dung thực nghiệm 68

3.4 Tiến hành thực nghiệm 69

3.5 Kết quả thực nghiệm 74

3.5.1 Thông qua phiếu khảo sát ý kiến của sinh viên sau khi sử dụng tài liệu điện tử 74

3.5.2 Thông qua chất lượng các sản phẩm dự án, hồ sơ bài dạy mà sinh viên thiết kế sau khi sử dụng tài liệu 79

3.5.3 Thông qua hồ sơ học tập hằng tuần của sinh viên 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

Trang 7

1 Kết luận 86

1.1 Nghiên cứu một số nội dung cơ sở lí luận của đề tài 86

1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài 86

1.3 Xây dựng bộ tài liệu điện tử hỗ trợ quá trình tự học về phần mềm thiết kế hoạt động dạy học tương tác cho sinh viên 86

1.4 Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả của đề tài 87

2 Kiến nghị 87

2.1 Đối với trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 87

2.2 Đối với khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 88

2.3 Đối với SV khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 88

3 Hướng phát triển đề tài 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93 

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ICT : Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Cảm nhận của HS về tiết học có sử dụng bảng tương tác 30

Bảng 1.2 Cảm nhận của SV về tiết học có sử dụng bảng tương tác 34

Bảng 1.3 Đánh giá của SV về các tài liệu tự học đã sử dụng 38

Bảng 2.1 Danh sách 13 hoạt động dạy học được thiết kế bằng phần mềm MS Powerpoint và Activinspire 61

Bảng 3.1 Tiến trình dạy học buổi 1 69

Bảng 3.2 Tiến trình dạy học buổi 2 72

Bảng 3.3 Tiến trình dạy học buổi 3 73

Bảng 3.4 Nhận xét của SV về TLĐT 74

Bảng 3.5 Khả năng ứng dụng của bản thân sau khi sử dụng tài liệu 78

Bảng 3.6 Thang điểm đánh giá sản phẩm dự án nhóm cảu SV 79

Bảng 3.7 Điểm dự án nhóm 83

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Biểu đồ về các phương pháp dạy học Hóa học thầy cô THPT thường sử dụng

29

Hình 1.2 Biểu đồ về thái độ mong muốn của HS với tiết học có sử dụng BTT 32

Hình 1.3 Biểu đồ về thành tích SV trong học phần tin học đại cương 33

Hình 1.4 Biểu đồ về trình độ hiểu biết của SV về bảng tương tác 34

Hình 1.5 Biểu đồ về mật độ sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động dạy học tương tác 36

Hình 1.6 Biểu đồ về nguyên nhân hạn chế sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động dạy học tương tác 37

Hình 2.1 Quy trình thiết kế TLĐT 42

Hình 2.2 Kí hiệu ứng dụng Google Drive 45

Hình 2.3 Thiết kế giao diện trang chủ tài liệu bằng công cụ Google Site 45

Hình 2.4 Trình duyệt “Pages” giúp phân nội dung tài liệu thành các mục khác nhau 46 Hình 2.5 Hệ thống các đường dẫn dưới dạng nút bấm 47

Hình 2.6 Hệ thống các đường dẫn dưới dạng tích hợp vào văn bản 47

Hình 2.7 Thao tác hiệu chỉnh Trigger 48

Hình 2.8 Hoạt động câu hỏi trắc nghiệm có dùng tính năng Trigger 49

Hình 2.9 Thao tác thiết lập Hyperlink 50

Hình 2.10 Tính năng Hyperlink hỗ trợ thiết kế mô phỏng hóa học 50

Hình 2.11 Thao tác nhúng mã code vào MS Powerpoint 51

Hình 2.11 Thao tác nhúng mã code vào MS Powerpoint 51

Hình 2.13 Thao tác áp dụng tính năng kéo thả vào đối tượng 52

Hình 2.14 Một số công cụ thường sử dụng trong phần mềm Activinspire 53

Hình 2.15 Các trình duyệt trong phần mềm Activinspire 54

Hình 2.16 Hoạt động có chứa tính năng “Thùng chứa” 55

Hình 2.17 Hoạt động có chứa tính năng “Mực thần kì” 55

Trang 11

Hình 2.18 Sơ đồ cấu trúc TLĐT 56

Hình 2.19 Sơ đồ cấu trúc mục phần mềm MS Powerpoint 57

Hình 2.20 Sơ đồ cấu trúc mục phần mềm Activinspire 58

Hình 2.21 Hệ thống bài tập rèn luyện được giới thiệu trong tài liệu 60

Hình 2.22 Hình ảnh một số hoạt động dạy học gợi ý 64

Hình 2.23 Cấu trúc giới thiệu một hoạt động dạy học gợi ý 65

Hình 3.1 Một số hình ảnh thực nghiệm sư phạm 74

Hình 3.2 SV tự thực hiện thao tác hiệu chỉnh bảng 81

Hình 3.3 Giao diện một số sản phẩm của SV 81

Hình 3.4 SV thực hiện hoạt động dạy học có bảng tương tác 83

Hình 3.5 Một số sản phẩm tự học của sinh viên 85

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sinh sống, học tập và làm việc trong một thời đại mà tất cả các lĩnh vực đều có sự đóng góp của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Như một lẽ tất yếu, lĩnh vực giáo dục cũng chính thức có sự thay đổi vượt bậc khi có sự tham gia hỗ trợ

từ ICT ICT là công cụ đắc lực hỗ trợ cho người dạy lẫn người học trong việc nghiên cứu, trao đổi, lưu trữ kiến thức Bên cạnh đó, việc ứng dụng ICT trong dạy học đã biến quá trình dạy và học trên lớp trở nên tích cực, năng động và đạt được hiệu quả cao hơn Mặt khác, theo chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo việc “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất

cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” Chính vì thế, ứng dụng ICT trong dạy học không chỉ là một phương án, công

cụ hỗ trợ cho người dạy mà nó còn là một xu thế bắt buộc, đòi hỏi người dạy phải lồng ghép nhuần nhuyễn, hài hòa trong quá trình công tác

Từ ngày xưa “dạy học tương tác” đã trở thành quan điểm giáo dục kim chỉ nam cho bất cứ môn học nào Hoạt động dạy học là sự cấu thành từ nhiều yếu tố tương tác với nhau như người dạy, người học, nội dung kiến thức, môi trường, phương tiện dạy học, … (Trịnh Lê Hồng Phương, 2011) Theo quan điểm dạy học cũ, sự tương tác giữa người dạy và người học chủ yếu là hình thức tương tác một chiều Thầy cô có vai trò quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức, còn HS chỉ có vai trò lắng nghe và tiếp thu kiến thức Quan điểm “tương tác một chiều” ấy có lẽ không còn phù hợp với thời đại ngày nay Trong thời đại mới, một trong những thay đổi lớn của lĩnh vực giáo dục là vai trò người dạy và người học trong lớp Người học giờ đây không còn ở vị thế bị động mà trở thành trung tâm của các hoạt động, còn người dạy chỉ có vai trò định hướng, gợi mở kiến thức Vì thế việc giảm thiểu các hoạt động truyền tải một chiều, tăng cường hoạt động tương tác giữa người học – người dạy cũng như người học – người học là một nhiệm vụ đòi hỏi sự đầu tư của GV

Trang 13

Năm 1996, Tập đoàn Giáo dục Promethean ở Anh đã sáng tạo ra hệ thống dạy học tương tác Activboard Hệ thống với một bảng điện tử thông minh cho phép người dạy và người học có thể tương tác trực tiếp bằng hành động Với phát minh tuyệt vời này, việc tương tác trong lớp học có thể được diễn ra một cách dễ dàng, thuận tiện và hơn hết là tăng được sự chú ý và hứng thú của HS trong lớp học Đến khoảng những năm

2010 – 2012, khái niệm “bảng tương tác” bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam như cột mốc cho sự phát triển của giáo dục Xu hướng dạy học với BTTbắt đầu lan rộng và ít nhiều

đã có tác động tích cực trong việc cải thiện phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Hóa học nói riêng tại Việt Nam

Tuy nhiên BTT vẫn còn xa lạ đối với SV các ngành Sư phạm nói chung và Sư phạm Hóa học nói riêng, chính vì thế việc sử dụng BTT trong bài dạy Hóa học đã tạo ra những khó khăn nhất định Khó khăn đầu tiên mà SV gặp phải là kỹ năng công nghệ thông tin Việc làm quen với phần mềm mới để soạn thảo bài dạy có yếu tố tương tác cao đòi hỏi sự tìm tòi, nghiên cứu của SV Bên cạnh đó ý tưởng để thiết kế các hoạt động dạy học tương tác, đặc biệt là dạy học tương tác trong môn Hóa học yêu cầu SV phải có

sự nỗ lực, sáng tạo, đầu tư Đã có một vài đề tài nghiên cứu về cách thức sử dụng BTT trong dạy học, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở việc thiết kế hồ sơ bài dạy có sử dụng bảng tương tác, dẫn đến sản phẩm của các đề tài này còn mang tính cá nhân và chưa thật sự định hướng cách sử dụng BTT để thiết kế hoạt động dạy học cho SV.Vì lẽ đó nên với

SV, BTT chỉ được sử dụng đơn thuần như một công cụ trình chiếu còn yếu tố quan trọng cốt lõi của nó – yêu tố tương tác, vẫn chưa được sử dụng triệt để

Nhằm hệ thống hóa các kỹ năng cần thiết để sử dụng BTT trong quá trình thiết

kế bài dạy cũng như đóng góp một số ý tưởng dạy học tương tác cho SV, chúng tôi đã

chọn và thực hiện đề tài “XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SV SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT POWERPOINT VÀ ACTIVINSPIRE THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG”

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 14

Xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn SV sử dụng phần mềm MS Powerpoint và Activinspire để thiết kế các hoạt động dạy học tương tác trong môn Hóa học ở trường phổ thông

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu tổng quan về dạy học tương tác và dạy học tương tác có sử dụng phương tiện bảng tương tác

- Nghiên cứu tổng quan về một số tính năng có thể dùng để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của phần mềm MS Powerpoint (2016) và Activinspire, và trang web site.google.com để thiết kế tài liệu học tập điện tử

- Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Xây dựng các hoạt động dạy học tương tác gợi ý bằng phần mềm MS Powerpoint

- Tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá nội dung, hình thức, tính khả thi, hiệu quả,

và mức độ thân thiện của tài liệu và các hoạt động đã thiết kế

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo SV sư phạm Hóa học ở các trường Đại

học

Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng TLĐT nhằm hỗ trợ SV sư phạm thiết kế

các hoạt động dạy học tương tác bằng phần mềm MS Powerpoint và Activinspire

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về nội dụng: Xây dựng tài liệu hướng dẫn thiết kế bài dạy tương tác trên hai phần mềm là Activinspire và MS Powerpoint

Trang 15

- Về địa bàn nghiên cứu: HS trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa; SV ngành Sư phạm Hóa học khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm thành phố Hố Chí Minh

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được TLĐT đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc về nội dung, hình thức,

tính khả thi và mang tài liệu kết hợp vào các hoạt động hướng dẫn cho sinh viên sư phạm

Hóa học thì sinh viên sẽ có những kĩ năng sử dụng bảng tương tác cơ bản để thiết kế các

hoạt động dạy học tương tác trong môn Hoá học từ đó khắc phục được những khó khăn ban đầu về yếu tố kĩ thuật khi thiết kế bài dạy có sử dụng bảng tương tác

7 Phương pháp nghiên cứu

- Đọc, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Điều tra thực trạng, sử dụng phiếu giấy hoặc phiếu điện tử

- Xây dựng các hoạt động dạy học tương tác bằng phần mềm Activinspire và MS Powerpoint

- Xây dựng tài liệu tự học điện tử bằng trang web site.google.com

- Thực nghiệm sư phạm

- Tổng hợp và xử lý kết quả điều tra, kết quả thực nghiệm sư phạm theo phương pháp thống kê toán học

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đầu thế kỉ XXI, ở các nước tiên tiến trên thế giới, công cụ dạy học BTT bắt đầu xuất hiện trong những lớp học và thể hiện tốt vai trò của nó là thu hút sự chú ý và tăng cường tính hợp tác của HS (Gatlin, 2004); (Diane D Painter 2005); (Elizabeth Whiting 2005); (Brenda Wolters 2005) Với những lợi ích mà BTT mang lại, nhiều lớp tập huấn

về kỹ năng sử dụng BTT cũng như kỹ năng thiết kế bài dạy có sử dụng BTT đã được tổ chức Trong đó tập đoàn Promethean – cha đẻ của công cụ BTT Activboard, đã tổ chức nhiều khóa học trực tuyến lẫn không trực tuyến ở nhiều nước trên thế giới nhằm phát triển các kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin của GV Hệ thống tài liệu trong khóa học được biên soạn chặt chẽ với giao diện bắt mắt và đầy đủ hình ảnh minh họa, hướng dẫn chi tiết Tuy nhiên các tài liệu được biên soạn bằng tiếng Anh và chưa được dịch sang tiếng Việt, ít nhiều gây khó khăn trong việc sử dụng tài liệu của SV Việt Nam (Promethean, 2008)

Tại Việt Nam, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, BTT đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 2010 – 2012 Nhằm cung cấp các kiến thức nền tảng về BTT và cách thiết

kế bài giảng có BTT nhiều đơn vị đã tổ chức những lớp tập huấn cho GV, SV như trường Đại học Sư phạm TPHCM, trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương,… Các khóa học góp phần củng cố kiến thức công nghệ thông tin đồng thời giúp GV và SV có cái nhìn gần gũi hơn về bảng tương tác Tuy nhiên phần lớn các tài liệu sử dụng cho các lớp tập huấn trên được lưu hành nội bộ gây khó khăn cho GV và SV trong việc tìm kiếm thông tin tài liệu Một số tài liệu được đăng tải trên các kênh truyền thông Đánh giá chung, các tài liệu có phần hướng dẫn tương đối chi tiết về các kĩ thuật, thao tác thực hiện một số tính năng dạy học tương tác Các kiến thức được trình bày dưới dạng văn bản nên ít nhiều vẫn còn mang tính trừu tưởng gây khó khăn đến quá trình tự học, tự thao tác của GV, SV Mặt khác tài liệu trình bày các kĩ thuật, thao tác ở dạng liệt kê các

Trang 17

hướng dẫn, thiếu đi hệ thống bài tập rèn luyện lẫn các mô hình hoạt động dạy học gợi ý, nên sau khi sử dụng tài liệu, GV và SV mặc dù đã có thể thực hiện các thao tác nhưng vẫn gặp khó khăn ở việc ứng dụng các kĩ thuật ấy vào thực tiễn thiết kế hoạt động dạy học (VietAnh Computer, 2010)

Bên cạnh các khóa học uy tín, chất lượng, và có kiểm định từ chuyên gia, trên các phương tiện thông tin truyền thông và mạng xã hội, nhiều GV thuộc cộng đồng GV tích cực đã chia sẻ các kinh nghiệm cá nhân của mình thông qua các bài đăng, đoạn phim, hình ảnh, … Các bài chia sẻ được thiết kế khoa học và được trình bày dưới dạng các phương tiện trực quan nên tạo điều kiện thuận lợi để GV và SV theo dõi và thực hiện theo Tuy nhiên các bài chia sẻ trên vẫn còn mang tính cá nhân và xây dựng dựa trên kinh nghiệm của GV vì thế còn mang tính tự phát, các kiến thức còn rời rạc, thiếu hệ thống, gây khó khăn cho GV và SV trong việc hình thành kiến thức nền tảng và hạn chế khả năng tự nghiên cứu của người học

Nhằm khắc phục các thực trạng trên, một số công trình nghiên cứu về các phần mềm thiết kế bài giảng bằng BTT đã được thực hiện Có thể nhìn nhận ở các bài tiểu luận, luận văn sau:

- Lê Trung Thu Hằng (2011), Sử dụng hệ thống dạy học tương tác Activboard trong dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ

- Lê Thị Thơ (2011), Sử dụng phần mềm Activinspire thiết kế bài lên lớp phần Hóa học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ

- Nguyễn Thị Ngọc Linh (2012), Sử dụng phần mềm Activinspire và phương tiện tương tác Activboard trong dạy học Hóa học lớp 9 trung học cơ sở, Luận văn thạc sĩ

- Nguyễn Minh Việt (2012), Sử dụng phần mềm Activinspire trong dạy học phần kim loại lớp 12 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ

- Phạm Quang Tiến (2011), Ứng dụng phần mềm Activinspire để thiết kế bải giảng môn Sinh học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, Tiểu luận

Nhìn chung các công trình trên đã trình bày được những lợi ích của việc sử dụng bảng tương tác Bên cạnh đó các đề tài còn đưa ra một số hướng dẫn nhất định về các phần mềm thiết kế bài giảng, cụ thể là phần mềm Activinspire Tuy vậy các hướng dẫn

Trang 18

vẫn chỉ dừng ở mức giới thiệu, chưa đi sâu vào việc làm nổi bật đặc điểm của các tính năng và các thao tác, kĩ thuật với những tính năng đó Đề tài vẫn chưa liên kết các nội dung kiến thức, kĩ thuật, thao tác với nhau cũng như chưa chỉ ra cách ứng dụng của những tính năng đó trong thiết kế hoạt động dạy học tương tác

Như vậy nhìn chung các công trình nghiên cứu về việc xây dựng tài liệu hướng dẫn

GV, SV sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động tương tác vẫn còn chưa nhiều, hoặc nếu

có các tài liệu vẫn chỉ dừng ở mức hướng dẫn thực hiện thao tác, chưa đưa ra nhiều ví

dụ gợi ý cách ứng dụng các kĩ thuật, thao tác ấy để thiết kế hoạt động dạy học phù hợp trong môn Hóa học có sử dụng BTT

1.2 Phương pháp dạy học trong bối cảnh cách mạng 4.0

1.2.1 Bối cảnh giáo dục trong cuộc cách mạng 4.0

Nhân loại đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp lớn Cứ mỗi cuộc cách mạng trải qua, bức tranh về kinh tế, xã hội và đặc biệt là giáo dục lại có sự thay đổi đáng kể Với cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 khi điện và kĩ thuật công nghệ dần phát triển, giáo dục đã có sự thay đổi đáng kể về cả nội dung kiến thức lẫn phương pháp và phương tiện giảng dạy Các tiết học bắt đầu sử dụng hàng loạt các công cụ hiện đại như máy tính, điện thoại thông minh, máy chiếu, tivi, … Sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy đã kích thích sự hứng thú, tò mò của HS từ đó tiết học trở nên sinh động và chất lượng giáo dục đã được cải thiện rõ rệt

Đến với cuộc cách mạng 4.0 khi các xu hướng công nghệ mới kết hợp cùng mạng Internet, đời sống con người sẽ trở nên văn minh, hiện đại và tiện nghi hơn Những đột phá của công nghệ như máy in 3D, công nghệ nano, người máy,… dần có tác động mạnh

mẽ đến đời sống và sản xuất của con người đặc biệt là vấn đề nhân lực lao động Sự phát triển của khoa học kĩ thuật kéo theo sự can thiệp của máy móc vào lĩnh vực sản xuất của con người Các công ti, nhà máy, xí nghiệp cũng dần “tự động hóa”, máy móc dần thay thế các công việc đơn giản, có tính lặp lại – những việc trước đây vốn do con người thực hiện Vì thế trong bối cảnh mới, nếu không có sự chuẩn bị và đầu tư đúng mực, con người sẽ bị đào thải khỏi các hoạt động lao động và sản xuất Từ đó có thể thấy trong giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc

Trang 19

định hướng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Mục tiêu của giáo dục nằm ở việc rèn luyện không chỉ năng lực mà còn bồi dưỡng phẩm chất của người học để từ đó cung cấp cho xã hội nguồn lao động giàu chuyên môn và có năng lực công tác tốt

Bên cạnh yếu tố nhân lực, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sự phát triển của khoa học, công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết mọi lĩnh vực Nếu như trước đây với sự phát triển của máy tính và mạng Internet, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy là điều được khuyến khích thực hiện thì ngày nay nó đã trở thành trách nhiệm của người dạy trong lớp học Vì thế vai trò của người GV trong bối cảnh mới là phải biến những ứng dụng của công nghệ thông tin trở thành phương tiện hỗ trợ bài dạy giúp quá trình học tập trên lớp diễn ra tích cực, sinh động và giúp người học không chỉ lĩnh hội đầy đủ kiến thức mà còn phát huy được tối đa năng lực của bản thân

Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho rằng giáo dục có “bốn trụ cột” lớn là “Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; Học để chung sống” Qua đó có thể thấy, mục tiêu của giáo dục không chỉ dừng lại ở việc đào tạo chuyên môn cho HS mà cao quý hơn là hướng HS đến việc hoàn thiện nhân cách cũng như có lối sống hòa nhập với cộng đồng, với xã hội Vì thế trong bối cảnh 4.0, khi những tiện ích của khoa học và công nghệ bắt đầu can thiệp vào đời sống của con người thì việc “chung sống” giữa người và người cũng từ đó có những “trở ngại” nhất định Giáo dục HS với những tiến bộ của khoa học công nghệ nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các yếu tố giúp HS tương tác với nhau, tương tác với môi trường xung quanh là một trong

số những trách nhiệm mà nhà giáo dục 4.0 cần phải hiểu rõ

Tóm lại, bức tranh về giáo dục trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là

sự dung hòa giữa yếu tố công nghệ, kĩ thuật và yếu tố phát triển năng lực và phẩm chất của người học

1.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học

Dạy học là quá trình phức tạp và được thực hiện bởi sự đan xen giữa hoạt động dạy

và hoạt động học nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học nhất định (Nguyễn Văn Tuấn, 2009) Để quá trình dạy học được diễn ra hiệu quả đồng thời giải quyết được những nhiệm vụ của giáo dục, người dạy phải chọn lựa những cách thức phù hợp để triển khai

Trang 20

các hoạt động trên lớp học – đó gọi là phương pháp dạy học (Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương, Dương Xuân Trinh, 1982)

Như đã nói về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đòi hỏi quan điểm giáo dục, hướng tiếp cận giáo dục và các phương pháp giáo dục cần có sự thay đổi phù hợp Trong tâm của giáo dục giờ đây không còn nằm ở khối lượng kiến thức mà HS cần lĩnh hội mà thay vào đó là quá trình phát triển của HS trong quá trình tự vận động, tự nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học để chiếm lĩnh tri thức (Nguyễn Đức Chính và Vũ Lan Hương, 2015)

Ứng với quan điểm trên của giáo dục mới, các phương pháp dạy học truyền thống điển hình là phương pháp thuyết trình 1 chiều, “áp đặt” đã không còn phù hợp để triển khai một cách thường xuyên trên lớp học Mặc dù kết quả đạt được về mặt kiến thức của

HS sau khi áp dụng các phương pháp trên là khá tốt tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp truyền thống đã làm tiết học trở nên ít sinh đồng, không kích thích được sự hứng thú học tập của HS (Nguyễn Phương Hoài Sơn, 2012) Vì thế đổi mới phương pháp giáo dục là yếu tố cần thiết và then chốt nhằm thực hiện đúng mục đích giáo dục ngày nay Việc thay đổi phương thức giáo dục không chỉ được áp dụng cho bậc trung học phổ thông mà ở mọi cấp bậc học và mọi đối tượng cần phải thực hiện việc thay đổi

Ở bậc đại học, để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực đặc biệt là đào tạo được đội ngũ GV trong tương lai có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững chắc cũng như am hiểu

về các ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tổ chức hoạt động học tập, thì chương trình đào tạo cũng như phương pháp đào tạo cần có sự điều chỉnh nhất định Thứ nhất cần xem xét các yếu tố như định hướng công việc sau đào tạo, những kĩ năng lao động yêu cầu để có sự cập nhật về trang thiết bị dạy học, bổ sung trang bị kiến thức, kĩ năng cho lực lượng giảng dạy; nghiên cứu Thứ hai đối với bối cảnh của 4.0, cần bổ sung yếu

tố công nghệ thông tin và truyền thông trong nội dung từng môn học và hơn hết là rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu phần mềm “suốt đời” nhằm giúp phục vụ cho công việc sau này của SV Thứ ba về phương pháp giảng dạy, yêu cầu đội ngũ giảng viên thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, mang những tiến bộ của khoa học công nghệ áp dụng vào bài dạy để tạo nguồn học liệu đa dạng, phong phú cũng như

Trang 21

truyền cảm hứng cho SV – những nhà giáo dục mới của tương lai (Phạm Ngọc Trang, 2018)

Ở bậc trung học phổ thông, nhằm phát huy tính tích cực cũng như kích thích sự hứng thú của HS trong tiết học nói chung và tiết học Hóa học nói riêng, các phương pháp dạy học truyền thống đang dần được thay thế bằng những phương pháp dạy học tích cực, hiện đại Có thể điểm qua một số phương pháp mới tiêu biểu

- Phương pháp dạy học dự án: Người học thực hiện nhiệm vụ học tập bằng cách vận dụng nhuần nhuyễn các kiến thức đã học cũng như tìm tòi các tư liệu mới sau đó đưa ra hướng giải quyết vấn đề và lập kế hoạch để hoàn thành yêu cầu đưa ra Kết thúc

dự án, người học sẽ tạo ra những sản phẩm nhất định có thể giới thiệu và giúp ích cho cộng đồng Phát triển về thể chất, trí tuệ và trách nhiệm sẽ là những thành quả mà HS thực hiện được sau khi trải qua một đề tài nào đó Mặt khác việc sử dụng dự án cho HS ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ tạo nguồn động lực to lớn về tinh thần say

mê khoa học, định hướng cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong tương lại cho HS (Phạm Hồng Bắc, 2013)

- Phương pháp dạy học theo hợp đồng: Người học được giao nhiệm vụ dưới dạng cam kết thực hiện bản hợp đồng của GV Nội dung bản hợp đồng đề cập đến những kiến thức, kĩ năng mà người học cần phải lĩnh hội Sau một khoảng thời gian nhất định, GV

sẽ đánh giá kết quả của HS dựa vào những hạng mục đã được thực hiện trong hợp đồng Ngoài việc truyền tải, ôn tập kiến thức chuyên môn của HS, ứng dụng hợp đồng còn rèn luyện cho HS tinh thần trách nhiệm, khả năng giao tiếp, phát triển kĩ năng giải quyết vấn

đề của HS (Nguyễn Phương Hoài Sơn, 2012)

- Bên cạnh đó dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông, nhiều phương pháp dạy học của bối cảnh 4.0 đã ra đời như sử dụng trò chơi có hỗ trợ từ công nghệ thông tin; mở rộng phạm vi lớp học đến những không gian khác nhau; những mô hình lớp học trực tuyến, lớp học đảo ngược; phương pháp dạy học tương tác; … Những phương pháp trên đã chứng tỏ một điều, trong bối cảnh phát triển của toàn xã hội, với sự giúp đỡ của công nghệ, máy móc truyền thông, … việc lưu trữ và chia sẻ kiến thức, thông tin được diễn ra dễ dàng và thuận tiện hơn, việc học tập của người học cũng từ đó có thể

Trang 22

diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi đảm bảo không những phát triển tri thức, kĩ năng cho HS mà còn cung cấp những năng lực thế kỉ XXI – đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực sau này

1.3 Tổng quan về dạy học tương tác

1.3.1 Khái niệm dạy học tương tác

Theo từ điển Việt Nam, cụm từ “tương tác” có nghĩa là sự ảnh hưởng qua lại giữa các chủ thể Vì thế cách thức tổ chức những hoạt động nhằm giúp các thành tố giáo dục

có thể tác động, ảnh hưởng lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục ban đầu đề ra gọi

là phương pháp dạy học tương tác

Dạy học tương tác là quá trình mà các yếu tố trong hoạt động dạy học (GV, HS, phương tiện dạy học, …) ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (Trịnh Lê Hồng Phương, 2011) Đối với phương pháp dạy học tương tác, cả người học và người dạy đều nằm trong tâm thế cộng tác nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục được đưa ra

Dựa trên tiêu chí về hình thức tương tác có thể phân dạy học tương tác thành hai loại gồm tương tác trực tiếp hoặc tương tác gián tiếp Hoặc khi dựa vào đối tượng tương tác khác nhau như tương tác giữa GV – HS; HS – HS; GV, HS – công cụ, thiết bị dạy học, … phân dạy học tương tác theo các đối tượng tương ứng,

Việc thực hiện phương pháp dạy học tương tác đối với HS sẽ mang lại những hiệu quả nhất định như:

- Sử dụng thiết bị dạy học nhằm tăng tính tương tác sẽ cải thiện không khí lớp học, thu hút được sự chú ý của HS,

- Tạo không gian, môi trường để HS chia sẻ kiến thức

- Phát triển năng lực trình bày vấn đề, năng lực giao tiếp và năng lực hoạt động nhóm của HS

Nhìn chung dạy học tương tác không phải là một phương pháp dạy học quá hiện đại tuy nhiên nếu có sự hỗ trợ từ các trang thiết bị tân tiến, đây sẽ là phương pháp không những giúp HS được tiếp nhận đầy đủ khối lượng kiến thức cần thiết mà còn tạo môi trường để HS được rèn luyện những phẩm chất cần có, đảm bảo yếu tố “chung sống” trong bốn trụ cột của UNESCO

Trang 23

1.3.2 Các phương tiện dạy học hỗ trợ dạy học tương tác

Phương tiện dạy học có thể hiểu là những đối tương, vật dụng, thiết bị, … dùng để dạy học Nhờ có các phương tiện dạy học, GV có thể biến tiết học trở nên sinh động, trực quan, tăng cường được sự hứng thú và tính tương tác trong quá trình hình thành tri thức cho HS (Trịnh Văn Biều, 2003)

Có nhiều loại phương tiện dạy học được sử dụng như tranh giáo khoa, mô hình, vật thiệt, các thiết bị nghe nhìn (máy chiếu, tivi, …), … Tùy thuộc vào nội dung bài dạy, phương pháp bài dạy cũng như điều kiện về cơ sở vật chất của nhà strường, trình độ của

HS mà người dạy có thể linh hoạt chọn lựa các phương tiện dạy học khác nhau (Lê Huy Hoàng, 2008)

Đối phương pháp dạy học tương tác, phương tiện dạy học có vai trò là đối tượng kết nối được các thành viên trong lớp học Có thể điểm qua một số phương tiện dạy học được ứng dụng như máy chiếu, tivi, … đặc biệt BTT là một trong số những phương tiện dạy học hiện đại và thực hiện tốt vai trò của mình trong việc thu hút sự chú ý của HS cũng như tăng cường tính tương tác giữa các chủ thể trong lớp học

1.3.3 Các hoạt động tương tác trong giờ học Hóa học

Một giờ học Hóa học có tính tương tác sẽ được tổ chức với mục tiêu tiên quyết là tăng cường sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành tố trong dạy học Vì thế việc tổ chức hoạt động sẽ xoay quanh vấn đề tạo cơ hội, môi trường, để các cá thể có thể ảnh hưởng nhau từ đó nâng tầm chất lượng của tiết học Trong giờ học nói chung và giờ học Hóa học nói riêng có thể có những hoạt động tương tác sau

Hoat động tương tác giữa GV và HS chủ yếu diễn ra theo hình thức thầy hỏi, trò

trả lời GV có thể tổ chức các tình huống thảo luận, đàm thoại về các nội dung kiến thức bài học hoặc đưa ra những vấn đề mới và yêu cầu HS giải quyết Có thể nói hoạt động tương tác giữa GV đến HS là loại tương tác phổ biến và thường gặp nhất trong mỗi tiết học và dù ít hay nhiều thì hầu như mọi tiết học đều có mặt các hoạt động tương tác này

Hoạt động tương tác giữa HS-GV và HS-HS: Theo phương pháp dạy học truyền

thống, người dạy có vai trò là trung tâm và sẽ truyền đạt hết tất cả các kiến thức đến HS, vai trò của người học chỉ là tiếp thu, ghi nhận những nội dung mà thầy cô truyền đạt

Trang 24

Tuy nhiên với phương pháp dạy học tương tác, HS có vai trò then chốt trong việc kết nối với GV và các HS còn lại trong lớp học HS giờ đây có thể đặt câu hỏi, vấn đề đến GV,

tự mình nghiên cứu và trình bày một vấn đề mới trước lớp thậm chí có thể tạo dựng các tình huống để cả lớp bao gồm GV cùng nhau giải quyết Bên cạnh đó, các hoạt động theo nhóm, những trò chơi đòi hỏi sự hợp tác cũng được tổ chức nhằm giúp HS có thể làm việc với nhau từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp, năng lực hoạt động theo nhóm, … Như vậy vai trò của HS trong phương pháp dạy học tương tác là người chủ động kết nối và xây dựng bài học

Hoặt động tương tác giữa GV,HS – phương tiện dạy học: Ngoài tương tác giữa

người với người, trong phương pháp dạy học tương tác GV, HS có thể tương tác với các phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Có thể điểm qua một số phương tiện dạy học truyền thống, thông dụng như bảng, phấn, dụng cụ thí nghiệm, tranh, ảnh,… Tuy nhiên trong thời đại của công nghệ thông tin, các trang thiết bị điện tử đang dần ảnh hưởng đến việc xây dựng hoạt động dạy học của GV Với sự hỗ trợ từ những công cụ tivi, máy chiếu, bảng tương tác, HS dễ dàng quan sát hình ảnh, đoạn phim Hóa học từ đó có cái nhìn chân thực, rõ ràng về các sự vật, hiện tượng hóa học, … hoặc với điện thoại thông minh, HS có thể cập nhật, tìm kiếm hoặc chia sẻ các kiến thức đến nhau một cách dễ dàng hơn khiến cho tiết học trở nên thú vị, sinh động, hội nhập (Lê Trung Thu Hằng, 2011)

1.4 Tổng quan về bảng tương tác

1.4.1 Khái niệm bảng tương tác

Du nhập vào Việt Nam từ những năm 2014, BTT trở thành một trong số những thiết bị hiện đại bậc nhất cho phép GV khởi tạo những hoạt động hấp dẫn trong lớp học

“BTT là bảng điện tử kết hợp với máy chiếu đa năng, có tác dụng như màn hinh hiển thị và đặc biệt cho phép tương tác trực tiếp trên bề mặt bảng bằng ngón tay hoặc công cụ chuyên dụng” (Lê Trung Thu Hằng, 2011)

Có thể hình dung BTT tựa như một màn hình cảm ứng khổ lớn, bằng những theo tác chạm, kéo, thả, … GV và HS có thể tác động đến những đối tượng như thay đổi vị trí, điều chỉnh kích thước, …

Trang 25

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thương hiệu giáo dục kinh doanh bảng tương tác Có thể điểm qua một số thương hiệu BTT nổi tiếng như Activboard, Boardcom, …

1.4.2 Các phần mềm thiết kế bài giảng tương tác

Vì đặc tính có thể kéo, thả, chọn, … các đối tượng bằng cách thao tác tay trực tiếp trên bề mặt bảng nên để thiết kế các bài giảng khai thác tối đa tính năng tương tác cần phải có những phần mềm chuyên dụng:

- Microsoft Powerpoint là phần mềm quen thuộc dùng để tạo dựng các bài giảng

điện tử Theo thời gian, với những tiện ích mà tập đoàn Microsoft mang lại, người dùng giờ đây có thể khởi tạo bài giảng điện tử với nhiều hiệu ứng, hình ảnh, chức năng thú vị Tuy không thể tạo dựng các hoạt động kéo, thả đối tượng trong lúc trình chiếu nhưng với sự quen thuộc, dễ thao tác, dễ thực hiện cùng với những tính năng đặc biệt khác MS Powerpoint vẫn là một trong số những lựa chọn hàng đầu mà GV có thể sử dụng để thiết

kế những bài dạy tương tác trong lớp học

- Là sản phẩm của tập đoàn Promethean – tập đoàn khai sinh ra chiếc BTT huyền

thoại Activboard, Activinspire chắc chắn là một trong số những phần mềm không thể

không nhắc đến khi muốn thiết kế một bài giảng tương tác Với Activinspire, mỗi đối tượng được khởi tạo luôn đính kèm với hiệu ứng kéo thả tạo thuận lợi cho GV trong việc thiết kế những hoạt động dạy học tương tác Bên cạnh đó, phần mềm còn sở hữu vô số những tính năng tương tác thú vị cùng với kho tài nguyên, học liệu, hình ảnh phong phú

mà tập đoàn Promethean đã tạo dựng nhằm cung cấp ý tưởng thiết kế hoạt động cho GV Mặc dù là một phần mềm còn khá lạ lẫm, nhưng với giao diện thân thiện, hầu như giống với phần mềm MS Powerpoint, Activinspire không tạo cho người dùng cảm giác khó khăn để làm quen với phần mềm Vì tất cả những đặc tính nổi trội đó Activinspire luôn

là lựa chọn hàng đầu để tạo dựng bài giảng tương tác

Ngoài hai phần mềm trên, còn khá nhiều phần mềm khác có thể thiết kế bài giảng điện tử như Boardcom Smart Touch; Starboard Software; … tuy nhiên các phần mềm trên vẫn chưa có hướng dẫn sử dụng cụ thể cũng như chưa có nhiều tính năng nhằm phát huy vai trò tương tác trong lớp học vì thế chưa được các thầy cô sử dụng để thiết kế các bài dạy có tính năng tương tác

Trang 26

1.4.3 Lợi ích dạy học bằng bảng tương tác

Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, việc ứng dụng BTT vào các hoạt động dạy học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng đã mang lại những hiệu quả nhất định

- BTT vừa có tính năng như bảng đen, phấn trắng truyền thống (cho phép người dùng viết, vẽ lên bề mặt bảng) vừa có tính năng như máy chiếu (cho phép người dùng hiển thị những hình ảnh, đoạn phim, …)

- GV không còn phải lệ thuộc vào máy tính khi giảng bài: Trước đây để chuyển sang trang trình chiếu khác, GV cần di chuyển đến vị trí của máy tính để chuyển hoặc

sử dụng chuột không dây Nhưng với BTT GV dễ dàng chuyển hiệu ứng, chuyển trang trình chiếu ngay tại vị trí bảng giúp tiết kiệm thời gian cho quá trình giảng bài

- Do BTT còn mới lạ với HS nên khi sử dụng BTT dễ dàng thu hút sự chú ý của

HS

- Dễ dàng tạo dựng những hoạt động với hiệu ứng màu sắc, hình ảnh, âm thanh sống động kèm theo tính năng tương tác giúp HS phát huy tối đa sự tích cực, hứng thú

- Các thành viên trong lớp có thể hợp tác với nhau, tạo tinh thần đoàn kết, phát triển

kĩ năng giao tiếp, năng lực hoạt động nhóm của HS

- Nhờ tính năng trình chiếu sẽ giúp quá trình dạy học được trực quan hơn, dễ dàng cho HS lĩnh hội những kiến thức

1.5 Tài liệu học tập điện tử

1.5.1 Khái niệm tài liệu học tập

Theo từ điển Việt Nam, “tài liệu” có nghĩa là tập hợp những dữ liệu, tin tức cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó Vì thế có thể hiểu tài liệu học tập là tập hợp các dữ liệu, thông tin giúp ích cho quá trình học tập

Tài liệu học tập có thể được biên soạn theo hình thức giấy hoặc hình thức dạng số (điện tử), … Nội dung của tài liệu có thể bao gồm văn bản, hình ảnh, hay thậm chí là đoạn phim

Trang 27

1.5.2 Tài liệu học tập điện tử

TLĐT có thể được hiểu là phiên bản dạng số (điện tử) của tài liệu giấy TLĐT có thể được biên soạn dựa trên các tài liệu giấy có sẵn hoặc tự tạo mới bằng các phần mềm thiết kế TLĐT chuyên dụng

Hiện nay cùng với hình thức học tập trực tuyến E-learning, việc sử dụng TLĐT đã trở nên thông dụng, phổ biến ở các trường đại học và cả trường trung học phổ thông

1.5.3 Ưu và khuyết điểm của tài liệu điện tử

Ưu điểm:

- TLĐT có thể được sử dụng bằng nhiều thiết bị (máy tính, điện thoại cá nhân, máy tính bảng, …) và việc sử dụng tài liệu có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi

- Giao diện TLĐT khoa học, tiện lợi, thân thiện

- Có thể tùy chỉnh màu sắc, hình ảnh trang trí tài liệu, kiểu dáng chữ và kích cỡ chữ phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người sử dụng

- Ngoài văn bản, hình ảnh thì TLĐT có thể chứa cả tư liệu dạng đoạn phim hoặc

dễ dàng liên kết với những TLĐT khác giúp việc sử dụng tài liệu được lý thú hơn và cơ

sở thông tin, dữ kiện của tài liệu cũng phong phú, hấp dẫn hơn

- Chứa được khối lượng lớn thông tin, dữ liệu và hơn hết là dễ dàng phân loại các thông tin thành những phần, mục riêng biệt giúp việc tra cứu thông tin của người dùng tài liệu được chuẩn xác, nhanh chóng hơn

- Khi tài liệu có những lỗi sai, việc chỉnh sửa nội dung tài liệu được diễn ra thuận tiện, nhanh chóng hơn so với việc thu hồi tài liệu và in ấn tài liệu mới

- Với sự hỗ trợ của truyền thông, TLĐT có thể được chia sẻ sử dụng rộng rãi

Trang 28

- Ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng đặc biệt là thị lực khi sử dụng tài liệu trong khoảng thời gian dài

1.5.4 Một số công cụ thiết kế tài liệu điện tử

Có nhiều dạng phần mềm giúp thiết kế TLĐT cho GV, trong đó một số phần mềm

có tính năng tổng hợp các bài giảng riêng biệt thành một ứng dụng tài liệu học tập và một số phần mềm có tính năng tạo mới những văn bản, đối tượng phục vụ mục đích thiết

kế tài liệu học tập

Có thể kể đến một số phần mềm, ứng dụng như CourseLab; Ispring Presenter hoặc Dreamwear (Lê Thị Thu Sang, 2012); (Thái Hoài Minh, 2013) Tuy nhiên các phần mềm trên đòi hỏi người dùng phải có hiểu biết cao về công nghệ thông tin cũng như cần nhiều thời gian để học hỏi và làm quen với phần mềm

Ngoài ra có thể tham khảo một số phần mềm cho phép người dùng chèn các đối tượng dưới dạng văn bản, hình ảnh, đoạn phim hoặc thậm chí là những nguồn tài nguyên đặc biệt (slide, đường dẫn các trang web,…) hoàn toàn miễn phí và thao tác đơn giản, tiện lợi như tính năng Microsoft Sway hoặc Google Site, …

Google Site là ứng dụng phi lợi nhuận và cho phép mọi người trên thế giới dùng

để tạo trang web để phục vụ cho những mục đích chính thông, lành mạnh Google Site

có những tính năng ưu việt như sau:

- Sản phẩm của Google Site là trang web, vì thế tài liệu sẽ được xuất dưới dạng trang web, tạo điều kiện thuận lợi để SV sử dụng tài liệu bằng nhiều thiết bị và ở mội không gian, thời gian nào

- Không đòi hỏi người tạo dựng phải có hiểu biết về html, css, php, mysql, …

- Google Site có giao diện làm việc thân thiện, dễ sử dụng

- Có thể nhúng hình ảnh, đoạn phim, bảng tính, lịch, … hoặc thậm chí là tệp trình chiếu vào trong tài liệu

- Google Site chuẩn bị sẵn hệ thống các hình ảnh, kiểu dáng chữ viết, cho phép người sử dụng linh hoạt thiết kế giao diện tài liệu tùy thuộc vào quan điểm thẩm mỹ cá nhân và nhu cầu của SV sử dụng

Trang 29

- Google Site có tính năng chia nhỏ kiến thức thành từng phần, mục riêng biệt, tạo thuận lợi để phân vùng kiến thức

Chính vì sự tiện lợi của phần mềm, chúng tôi chọn Google Site là công cụ thiết kế TLĐT cho SV

1.6 Thực trạng thái độ của học sinh với tiết học có sử dụng bảng tương tác và kĩ

năng ứng dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 1.6.1 Thực trạng thái độ của học sinh với tiết học có sử dụng bảng tương tác

Qua các cơ sở lý luận đã trình bày, có thể thấy việc sử dụng BTT để thực hiện hoạt động dạy học tương tác là một trong số những phương pháp dạy học vừa ứng dụng được những thành tựu về khoa học kĩ thuật, vừa đáp ứng yêu cầu truyền thụ kiến thức và thúc đẩy sự hứng thú trong lớp học của HS Nhằm nắm bắt thực trạng về mật độ sử dụng BTT trong dạy học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng của các trường trung học phổ thông đồng thời điều tra thái độ và cảm nhận của HS về tiết học có dùng BTT chúng tôi tiến hành khảo sát trên 52 em HS thuộc lớp 11CV (24 em) và 11A1 (28 em) trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa và thu được những kết quả như sau

- Về các phương pháp dạy học Hóa học được trải nghiệm

Hình 1.1 Biểu đồ về các phương pháp dạy học Hóa học thầy cô THPT thường sử dụng

Đa số các em HS được thầy cô truyền tải kiến thức bằng các phương pháp dạy học truyền thống như giảng bài, thuyết trình (92%) Con số đó cho thấy mặc dù đang trong giai đoạn đổi mới của giáo dục nhưng việc chuyển giao và thay đổi phương pháp dạy học tích cực vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để ở các trường phổ thông Việc ứng

Trang 30

dụng những phương pháp dạy học cũ làm mất đi tính tích cực, hứng thú của HS trong giờ học Hóa học

Về phương tiện dạy học Hóa học mà thầy cô thường sử dụng để truyền đạt kiến thức, bảng phấn luôn là dụng cụ được các thầy cô ưu tiên nhiều nhất vì tính tiện dụng của nó (96%) Bên cạnh đó, thầy cô cũng sử dụng máy chiếu để giảng dạy tạo sự trực quan, sinh động cho bài giảng Hóa học (73%) Về bảng tương tác, các em HS, được thầy

cô bắt đầu sử dụng và mang đến lớp học (42%) nhưng số lượng vẫn còn chưa nhiều Qua

đó có thể thấy, BTT đã bắt đầu xuất hiện và dần thể hiện được hiệu quả của nó trong việc nâng cao chất lượng bài dạy của GV

- Về cảm nhận tiết học có sử dụng bảng tương tác

Vì là một trong các trường THPT chuyên trọng điểm của TPHCM nên các em HS hầu hết được trải nghiệm những tiết học có sử dụng BTT (82%) tuy nhiên mật độ sử dụng của các thầy cô vẫn còn chưa nhiều đa số BTT chỉ được sử dụng trong các giờ thao giảng lớn

Đánh giá về tiết học có sử dụng BTT các em HS đưa ra những quan điểm như bảng sau:

Bảng 1.1 Cảm nhận của HS về tiết học có sử dụng bảng tương tác

Đánh giá của SV Đồng ý Khá

đồng ý

Ít đồng ý

Không đồng ý

Tiết học thu hút được sự chú ý

của HS

34 (65,4%)

16 (30,8%)

2 (3,8%)

0 (0%) Không khí lớp học hào hứng, vui

tươi

36 (69,4%)

16 (30,8%)

3 (5,8%)

0 (0%) Kích thích sự hứng thú học tập

Hóa học của HS

30 (57,7%)

19 (36,5%)

3 (5,8%)

0 (0%) Tăng sự tương tác giữa thành

viên trong lớp

38 (73,1%)

12 (23,1%)

2 (3,8%)

0 (1,5%) Tiết học lãng phí thời gian 1 7 32 12

Trang 31

(1,9%) (13,5%) (61,5%) (23,1%)

HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức

hơn

24 (46,1%)

22 (42,3%)

5 (9,6%)

1 (1,9%) BTT cũng chỉ như máy chiếu 6

(11,5%)

31 (59,6%)

10 (19,2%)

5 (9,6%) Bạn thích tiết học có sử dụng

BTT hơn một tiết học không sử

dụng

11 (21,1%)

38 (73,1%)

3 (5,8%)

0 (0%)

Đa số các em đểu thống nhất tiết học có sử dụng BTT đã nâng cao chất lượng giờ học Hóa học Nhờ có BTT mà không khí lớp học trở nên vui tươi, sinh động, kích thích được hứng thú và sự chú ý của HS cũng như tăng cường sự tương tác giữa HS – GV và

HS – HS Bên cạnh việc cải thiện thái độ của HS trong giờ học Hóa học, BTT vẫn thực hiện tốt vai trò là công cụ truyền tải được kiến thức đến HS

Một số HS vẫn còn nghi ngờ về công dụng của BTT vì nghĩ sẽ không phù hợp với những môn học khoa học tự nhiên và sẽ làm mất thời gian của tiết học Bên cạnh đó các

em còn cho rằng BTT thực chất cũng chỉ như chiếc máy chiếu nên chưa thật sự hấp dẫn các em Đây là các ý kiến xác đáng sau quá trình quan sát và trải nghiệm của HS Như vậy có thể thấy, một vấn đề lúc nào cũng tồn đọng hai mặt vì thế nhiệm vụ của người

GV khi thực hiện tiết dạy có BTT là phải khai thác được tối đa tính năng tương tác của bảng qua việc tìm hiểu và nghiên cứu thật kĩ về các phần mềm Mặt khác việc bố trí thời gian hoạt động cho phù hợp cũng là yếu tố kiến người dạy cần phải quan tâm để tiết học được diễn ra đúng với mục đích của nó

Tuy có những hoài nghi về hiệu quả của tiết học sử dụng BTT nhưng đa số HS vẫn

tỏ ra thích thú và mong muốn trải nghiệm tiết học Đó là dấu hiệu đáng ghi nhận để GV

và SV không ngừng học tập, trau dồi kiến thức công nghệ thông tin của mình vì mục tiêu cải thiện giáo dục Việt Nam trong tương lai

Trang 32

Hình 1.2 Biểu đồ về thái độ mong muốn của HS với tiết học có sử dụng BTT

1.6.2 Thực trạng kĩ năng ứng dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học

tương tác của sinh viên khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Qua kết quả điều tra thu nhận được từ các em HS có thể thấy việc sử dụng BTT mang được những hiệu quả nhất định trong quá trình lĩnh hội kiến thức của các em Tuy vậy với hơn 90% HS được khảo sát cho rằng trong môn Hóa học nói riêng và các môn học nói chung, việc sử dụng BTT là rất ít hoặc chưa bao giờ xảy ra Nhằm tìm hiểu nguyên nhân của việc BTT đang dần bị quên lãng ở các trường phổ thông cũng như kiểm tra kiến thức, kĩ năng ứng dụng phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác của

SV khoa Hóa trường ĐHSP TPHCM chúng tôi đã tiến hành khảo sát các bạn SV

Số lượng các bạn SV thực hiện khảo sát là 66 bạn SV trong đó số lượng SV ở các khóa như sau:

Trang 33

- Về trình độ hiểu biết và thái độ của SV trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Hóa học

Hình 1.3 Biểu đồ về thành tích SV trong học phần tin học đại cương

Đa số các bạn SV thực hiện khảo sát đều đạt kết quả ở học phần “Tin học đại cương” từ 7.0 trở lên (84,9%) điều đó chứng tỏ hiểu biết của các bạn về công nghệ thông tin là ở mức khá, giỏi Kết thúc học phần “Tin học đại cương” SV đã được trang bị đầy

đủ các kiến thức về việc sử dụng mạng Internet để tìm kiếm thông tin cũng như có khả năng sử dụng phần mềm tin học như Microsoft Word, Excel, Powerpoint để soạn thảo văn bản

Qua đó có thể nhìn nhận SV khoa Hóa học trường ĐHSP TPHCM có nền tảng vững chắc về kiến thức và kĩ năng cũng như có thái độ cầu tiến, quan tâm và đầu tư sử dụng các phần mềm công nghệ thông tin phục vụ cho việc xây dựng bài dạy Hóa học Khi được hỏi về việc SV có sử dụng những ứng dụng của công nghệ thông tin để thiết kế hoạt động dạy học tương tác trong các đợt thực tập sư phạm hay không thì hơn 60% SV cho là có sử dụng Trong đó đa số SV sử dụng phần mềm MS Powerpoint để thiết kế các bài giảng điện tử kết hợp với máy chiếu để truyền tải kiến thức đến HS Như vậy có thể thấy, hầu hết SV đã mạnh dạn mang công nghệ thông tin ứng dụng vào bài dạy để tiết học trở nên thú vị, hấp dẫn hơn Tuy nhiên các ứng dụng vẫn chỉ dừng ở mức

cơ bản dùng công nghệ thông tin như công cụ để trình chiếu, minh họa kiến thức nên chưa thật sự làm nổi bật tính tương tác trong bài dạy Hóa học

- Về hiểu biết và thái độ đối với tiết học có sử dụng BTT trong môn Hóa học

1,5%

Trang 34

Hình 1.4 Biểu đồ về trình độ hiểu biết của SV về bảng tương tác

Theo khảo sát, đa số SV cho rằng BTT vẫn còn là công cụ dạy học mới mẻ Hơn 60% SV đã từng nghe nói đến BTT nhưng vẫn chưa trải nghiệm sử dụng để dạy học hoặc thậm chí gần 30% SV chưa biết thông tin gì về bảng tương tác Mặc dù đã có mặt tại Việt Nam từ những năm 2012, tuy nhiên kết quả của việc khảo sát đã chứng minh rằng không phải SV nào cũng được tiếp cận BTT từ khi ngồi trên ghế trường phổ thông

Xã hội ngày càng phát triển và cũng vì thế yêu cầu của giáo dục cũng ngày càng được tăng cao Sử dụng BTT trong giảng dạy đang dần trở thành xu hướng cho việc dạy học tích cực ở trường phổ thông, điều đó đồng nghĩa với việc trang bị kiến thức cho SV ngay

từ thời điểm này là việc làm khẩn thiết

Do không phải SV nào cũng từng trải nghiệm tiết học có sử dụng BTT vì thế để đánh giá thái độ và cảm nhận của SV chúng tôi tiến hành tổ chức hoạt động dạy học giả định để SV được học tập với công cụ hiện đại này Sau hoạt động chúng tôi tiến hành ghi nhận lại suy nghĩ của SV về tiết học có sử dụng BTT và thu được các kết quả như sau:

Bảng 1.2 Cảm nhận của SV về tiết học có sử dụng bảng tương tác

Đánh giá của SV Đồng ý Khá

đồng ý

Ít đồng ý

Không đồng ý

Tiết học thu hút được sự chú ý

của HS

60 (90,9%)

6 (9,1%)

0 (0%)

0 (0%)

Trang 35

Không khí lớp học hào hứng, vui

tươi

53 (80,3%)

10 (15,2%)

3 (4,5%)

0 (0%) Kích thích sự hứng thú học tập

Hóa học của HS

54 (81,8%)

9 (13,6%)

3 (4,5%)

0 (0%) Tăng sự tương tác giữa thành

viên trong lớp

47 (71,2%)

13 (19,7%)

5 (7,6%)

1 (1,5%) Tiết học lãng phí thời gian 5

(7,6%)

19 (28,8%)

27 (40,9%)

15 (22,7%)

HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức

hơn

27 (40,9%)

36 (54,6%)

3 (4,5%)

0 (0%) BTT cũng chỉ như máy chiếu 6

(9,1%)

3 (4,5%)

24 (36,4%)

33 (50%) Bạn thích tiết học có sử dụng

BTT hơn một tiết học không sử

dụng

42 (63,6%)

18 (27,3%)

5 (7,6%)

1 (1,5%)

Đa số SV đều thống nhất và đồng ý với những hiệu quả mà BTT mang lại cho HS như thu hút được sự chú ý của HS, tạo không khí hào hứng, vui tươi cho lớp học từ đó kích thích hứng thú học tập của HS trong môn Hóa học và tăng cượng được sự tương tác giữa các thành viên trong lớp Không chỉ có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của HS mà BTT còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức học tập của HS

Về phương diện quản lí lớp học, một số ít SV cho rằng việc sử dụng BTT sẽ làm cho tiết học lãng phí thời gian Từ đó có thể thấy để tối ưu hóa việc sử dụng BTT trong lớp học, GV cần có sự chọn lọc về thông tin kiến thức cũng như các kĩ thuật công nghệ phù hợp lồng ghép vào bài dạy Mặt khác để tránh các rủi ro có thể xảy ra về yếu tố thời gian, cần thiết GV phải có sự hiểu biết rộng về công nghệ và thành thạo về phần mềm

để có thể khắc phục những sự cố liên quan đến yếu tố kĩ thuật

Nhìn chung dù vẫn còn tồn đọng một số hạn chế song cần phải nhìn nhận một cách khoa học rằng không có bất cứ phương pháp, phương tiện dạy học nào là hoàn hảo tuyệt đối Quan trọng hơn hết vẫn là thái độ và cách nhìn nhận của GV về các phương pháp

Trang 36

dạy học Vì thế khi được hỏi so sánh giữa tiết học có sử dụng BTT và không thì gần 90%

SV cảm thấy yêu thích các tiết học có sử dụng bảng tương hơn Đây là con số “biết nói” thể hiện tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, tìm tòi của SV về công nghệ và đặc biệt là ứng dụng công nghệ vào giảng dạy Hóa học

- Về thói quen sử dụng phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học tương tác trong môn Hóa học

Vì vẫn còn là một công cụ lạ lẫm với SV nên khi được hỏi về mật độ sử dụng các phần mềm để thiết kế hoạt động dạy học có BTT thì gần 65% SV khảo sát trả lời chưa bao giờ sử dụng và 16% SV trả lời rất ít khi sử dụng Vì vậy có thể thấy bên cạnh việc

bỡ ngỡ với thiết bị dạy học bảng tương tác, các bạn SV vẫn chưa được trang bị những kiến thức về phần mềm, công nghệ thông tin phù hợp để thiết kế được những bài dạy mang tính tương tác cao và ứng dụng được với bảng tương tác

Đối với phần ít SV đã thiết kế bài dạy tương tác, MS Powerpoint là công cụ được các bạn sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên với giao diện “đóng”, không cho phép GV tương tác với các đối tượng trong bài trình chiếu, SV cho rằng MS Powerpoint chỉ thể hiện vai trò là phần mềm giúp trình chiếu kiến thức, hình ảnh, … điều đó đã làm mất đi hiệu quả của BTT và vô tình làm sai lệch mục đích sử dụng ban đầu của thiết bị dạy học tuyệt vời này

Hình 1.5 Biểu đồ về mật độ sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động dạy học tương tác

Sau khi tìm hiểu chúng tôi nhận thấy việc GV, SV hạn chế sử dụng BTT trong quá trình giảng dạy xuất phát từ những nguyên nhân sau:

- Chưa đủ hiệu biết về công nghệ thông tin

Trang 37

- Chưa được hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn chưa cụ thể

- Không có thời gian thiết kế

- Hạn chế về ý tưởng thiết kế

Sau quá trình khảo sát ý kiến, chúng tôi đã thu thập được các số liệu sau:

Hình 1.6 Biểu đồ về nguyên nhân hạn chế sử dụng phần mềm thiết kế hoạt động

dạy học tương tác

Qua đó có thể thấy trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin không phải là lý do chính dẫn đến tình trạng này Chưa nhận được sự hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa cụ thể là lí do SV cho rằng gây khó khăn đối với cả GV lẫn SV Có thể thấy rằng do được trang bị vững chắc những kiến thức về kĩ thuật cơ bản nên SV không gặp vấn đề ở việc phải làm quen với một phần mềm mới Tuy nhiên để tự bắt đầu tìm hiểu một phần mềm mới đòi hỏi cần rất nhiều thời gian, vì thế nếu như không có sự định hướng rõ ràng cũng nhưng cung cấp các kiến thức nền tảng cho SV thì quá trình tự học diễn ra khá lâu và gặp rất nhiều trở ngại Chính tâm lý đấy dẫn đến tình trạng GV và SV ngại khi phải tự mình mày mò một công cụ mới Vì lẽ đó yêu cầu về một tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm để thiết kế bài dạy tương tác là yêu cầu chính đáng và rất cần thiết

Bên cạnh nguyên do trên, không có nhiều thời gian và hạn chế về mặt ý tưởng cũng

là những trở ngại khiến GV, SV không chủ động sáng tạo, tìm tòi và thiết kế Vì thế việc cung cấp cho SV một số hoạt động dạy học gợi ý với đầy đủ hướng dẫn sử dụng và thiết

Trang 38

kế sẽ là nguồn tư liệu quý giá giúp SV rút ngắn con đường tự học của bản thân, truyền ý tưởng, động lực đến SV giúp các bạn có thể sáng tạo những hoạt động mới thiết thực và

Với 30% SV đã tham khảo các tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm, khi yêu cầu nhận xét về chất lượng của tài liệu, chung tôi đã thu thập được các thông tin dữ liệu như sau:

Bảng 1.3 Đánh giá của SV về các tài liệu tự học đã sử dụng

Tiêu chí đánh giá tài liệu Đồng ý Không đồng ý

Hướng dẫn còn sơ sài 13 (42%) 18 (58%)

sơ sài khó hiểu, khó thực hiện theo sẽ cản trở SV trong hoạt động tự nghiên cứu Mặt khác các tài liệu chưa chuẩn bị hệ thống bài tập rèn luyện mà chỉ là lý thuyết suông, điều này sẽ khiến SV không thể ứng dụng kiến thức đã học vào áp dụng thực tiễn

Trang 39

Bên cạnh đó việc các tài liệu chỉ liệt kê các tính năng nhưng chưa thể đưa ra những hoạt động dạy học gợi ý ứng với từng chức năng sẽ khiến SV khó hình dung được sự liên kết giữa kĩ thuật, thao tác và các hoạt động dạy học thực tiễn Việc lồng ghép các ví

dụ dạy học vào lý thuyết sẽ khiến bài học trở nên sinh động, thú vị, rèn luyện được kĩ năng sử dụng kiến thức vào thực tế của SV

Và khi được hỏi về việc: “Nếu có một tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm MS Powerpoint và Activinspire để thiết kế hoạt động dạy học tương tác với hướng dẫn cụ thể, có hình ảnh minh họa rõ ràng, có hoạt động dạy học gợi ý, … giúp bạn có thể tự học được thì bạn có mong muốn sử dụng hay không?” thì 100% SV trả lời mong muốn được

sử dụng bộ tài liệu đấy

Từ các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu trên có thể thấy việc dạy học bằng BTT không chỉ là xu thế của thế giới mà còn là nhu cầu trải nghiệm học tập của HS Là những người GV trong tương lai, ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường, SV cần phải chuẩn

bị cho mình hành trang về kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin thật vững chắc đặc biệt

là về lĩnh vực bảng tương tác Để làm được điều đó, cần thiết phải chuẩn bị cho SV một

bộ TLĐT để SV có thể tự học tập, tự nghiên cứu trau dồi và phát triển bản thân

Trang 40

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và phong phú của nội dung

Nội dung là yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị của tài liệu điện tử Để tài liệu trở thành nguồn học liệu có thể sử dụng lâu dài, chúng tôi đưa ra một số tiêu chí quan trọng khi xây dựng tài liệu điện tử như sau:

- Các nội dung, kiến thức được truyền tải qua tài liệu cần đảm bảo tính khoa học,

sư phạm và phải được chọn lọc kĩ càng Vì tài liệu đề cập đến những kĩ thuật, tính năng của một số phần mềm dùng để thiết kế bài dạy tương tác nên thiết yếu tài liệu phải có sự lọc lựa cẩn thận những tính năng, thao tác kĩ thuật có giá trị cho quá trình thiết kế hoạt động dạy học tương tác Tránh để nội dung kiến thức lan man, thiếu trọng tâm khiến tài liệu bị giảm mất giá trị sử dụng

- Những hướng dẫn, diễn giải cần được trình bày rõ ràng, súc tích dưới dạng văn bản Đối với những thao tác kĩ thuật phức tạp, khó thực hiện cần lồng ghép sử dụng hình ảnh, đoạn phim minh họa để người đọc dễ dàng tiếp cận vấn đề và thực hiện theo

- Cung cấp hệ thống bài tập để phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Hệ thống bài tập được phân loại từ đơn giản đến phức tạp và mục đích là rèn luyện những kĩ năng, thao tác mà tài liệu đề cập đến Bên cạnh các bài tập kiểm tra kiến thức cho từng thao tác nhất định, cần có các bài tập tổng hợp nhằm giúp SV sáng tạo và vận dụng hài hòa những kĩ năng, phục vụ cho quá trình công tác sau này của SV

- Một trong số khó khăn được đề ra là dù đã có những hiểu biết về mặt công nghệ thông tin nhưng do thiếu ý tưởng nên việc sử dụng BTT trong trường phổ thông là chưa thật sự phổ biến Vì thế tài liệu cần bổ sung các hoạt động dạy học gợi ý đã thiết kế sẵn

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w