Khi mặt trái của cơ chế thị trường đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, thậm chí vào cả thành trì bền vững nhất của giá trị cá nhân thì người ta lại càng mong muốn tìm về với những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Hồng Châu
VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG THƠ
NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Hồng Châu
VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG THƠ
NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã gặp không ít khó khăn và
đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ rất nhiều người
Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin kính gửi lời tri ân chân thành nhất đến cô Lê Thu Yến, người đã truyền cảm hứng cho chúng tôi trong những năm học tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và cho đến tận bây giờ Cô là người đã chỉ bảo, góp ý và hướng dẫn một cách tận tình để chúng tôi
có thể nhận thức và thực hiện được đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn
Khuyến và Trần Tế Xương
Đồng thời, chúng tôi xin kính cảm ơn quý Thầy, Cô giáo đã truyền dạy kiến thức và định hướng cho chúng tôi trong suốt những năm qua Nhân đây, chúng tôi xin cảm ơn quý thầy, cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xin kính gửi lời cảm ơn đến các Cô, Chú làm việc tại Thư viện trường Đại học Sư phạm; trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và những người bạn đã hỗ trợ, cung cấp nguồn tư liệu cho chúng tôi
Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả những người đã quan tâm, chăm sóc, động viên và thương yêu chúng tôi trong suốt thời gian sống, học tập và nghiên cứu, những người luôn đem tới cho chúng tôi sự bình an, niềm vui và hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 03 năm 2018
Người thực hiện
Lê Thị Hồng Châu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thu Yến Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người thực hiện
Lê Thị Hồng Châu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
DẪN NHẬP 7
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 19
1.1 Truyền thống văn hóa của người Việt 19
1.2 Sự hình thành và phát triển 20
1.2.1 Tín ngưỡng dân gian 20
1.2.2 Văn hóa Việt trong sự tiếp biến các luồng tư tưởng, văn hóa khác 24
1.3 Các khái niệm 37
1.3.1.Văn hóa 38
1.3.2 Ứng xử 42
1.3.3 Văn hóa ứng xử 43
1.4 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương 44
1.4.1 Nguyễn Khuyến, trí thức nông thôn 44
1.4.2 Trần Tế Xương, nhà nho thành thị 49
Tiểu kết chương 1 55
Chương 2 ỨNG XỬ ĐỐI VỚI BẢN THÂN VÀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 57
2.1 Ý thức về tài năng, nhân cách và trách nhiệm đối với đất nước 57
2.1.1 Ý thức về tài năng và nhân cách 57
2.1.2 Ý thức về trách nhiệm đối với đất nước 62
2.1.3.Ý thức về sự hưởng nhàn - hưởng lạc 70
2.2.Ứng xử đối với môi trường tự nhiên 79
Trang 62.2.1.Thiên nhiên là đối tượng để thưởng thức và ngâm vịnh 80
2.2.2.Thiên nhiên là đối tượng để gửi gắm tâm tư 86
Tiểu kết chương 2 97
Chương 3 ỨNG XỬ ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ GIA ĐÌNH 98
3.1 Ứng xử đối với môi trường xã hội 98
3.1.1 Thái độ đối với vua chúa, quan lại 98
3.1.2 Thái độ đối với những kẻ tha hóa, biến chất trong xã hội 110
3.1.3 Thái độ đối với những người nghèo khổ 121
3.1.4 Thái độ đối với bạn bè 127
3.2 Ứng xử đối với gia đình 136
3.2.1.Tình cảm và thái độ với vợ 136
3.2.2 Tình cảm và thái độ với con cái 144
3.2.3 Tình cảm và thái độ với anh em, họ hàng 149
Tiểu kết chương 3 156
KẾT LUẬN 158
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Văn hóa là yếu tố rất quan trọng và luôn được các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan tâm Bởi lẽ, văn hóa và những giá trị mà văn hóa đã tạo ra luôn có sự tác động mạnh mẽ trong sự tiến bộ của xã hội loài người Nó chứa đựng sức sống,
sự sáng tạo cũng như tầm vóc của đất nước mà nó được sinh ra Vì được tạo ra từ con người nên nó cũng trở thành sản phẩm thúc đẩy các hoạt động của con người Nếu như kinh tế là cơ sở nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa chính
là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và chính văn hóa là một hình thái ý thức xã hội, biểu hiện các năng lực vật chất của con người
Khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa, Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng ta đã đề ra mục tiêu cụ thể, để “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [61]
Trước đây, ta nói “xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc”, nhưng đến Đại hội XII Đảng ta đã đưa cụm từ “thấm nhuần tinh thần dân tộc” vào thay cho cụm từ “đậm đà bản sắc dân tộc” Nghĩa là “văn hóa” đã được nâng lên một mức độ mới, sâu rộng hơn bởi không chỉ có “bản sắc dân tộc” mà còn nhiều khía cạnh khác nữa như tình cảm, tâm lý, luân lý dân tộc, những hoạt động thuộc
về nội tâm của con người, thuộc về chiều sâu của dân tộc Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, văn hóa như là cơ sở, nền tảng đối với phát triển bền vững mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là những bước phát triển theo chiều sâu lý luận văn hóa, cho phép hoàn thiện những quan điểm cơ bản cũng như cụ thể hóa thành chiến
Trang 8lược để xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam xứng với tầm vóc và phát huy
được “sức mạnh mềm” của nó trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn văn hóa Việt
Nam trên đà hội nhập với văn hóa thế giới Vì thế, đó là điều kiện mở ra khả năng
to lớn để các dân tộc giao lưu văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế, xã hội với nhau trên phạm vi toàn cầu tạo động lực cho quá trình đổi mới và hiện đại hóa văn hóa của các dân tộc, song nó cũng đem đến cho chúng ta những khó khăn, thách thức không hề nhỏ Đó là sự thách thức khiến cho đất nước phải đương đầu với mọi thách thức của thời cuộc như lối sống ích kỷ, sự thực dụng, sự suy sụp, tàn lụi các giá trị truyền thống,…và trước tình hình ấy, chúng ta cũng phải đối diện với sự tha hóa, biến chất trong lối ứng xử giữa con người và mọi thứ xung quanh
Có thể thấy rằng, nếu ứng xử của loài vật luôn chịu sự chi phối của bản năng
tự nhiên thì ứng xử của con người có xu hướng kiềm chế những bản năng ấy Sự kiềm chế ấy tạo ra văn hóa, và văn hóa ứng xử luôn là yếu tố được mọi người trong
xã hội rất quan tâm Đặc biệt, đứng trước vấn đề toàn cầu hóa và đứng trước cách mạng khoa học kỹ thuật đương đại, văn minh công nghiệp cũng tiến nhanh đến chóng mặt Đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhìn nhận và có lối ứng xử phù hợp với thời đại, với con người, với bản thân và gia đình, xã hội Vì lẽ đó, việc nghiên cứu văn hóa ứng xử có một ý nghĩa rất to lớn, giúp ta có thể hoàn thiện bản thân mình cũng như xây dựng một xã hội tốt đẹp, có những nét văn hóa truyền thống mạnh
mẽ đủ sức dung chứa những nền văn hóa ngoại lai tích cực và loại bỏ những yếu tố văn hóa không thật sự phù hợp cho đất nước mình Từ nền tảng nghiên cứu về văn hóa, chúng ta sẽ có thể lưu giữ và phát huy, học tập những lối ứng xử tinh tế của tiền nhân khi tìm hiểu sâu hơn về văn hóa ứng xử trong văn học trung đại nói chung, trong đó có thơ văn Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương là hai nhà thơ lớn trong nền văn học dân tộc Thời đại của họ sống là một thời đại xảy ra nhiều biến động dữ dội Cuộc xâm
Trang 9lăng của thực dân Pháp đã kéo theo sự du nhập ồ ạt của văn hóa phương Tây, làm thay đổi rất nhiều các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa ứng xử Đứng trước thời cuộc ấy là hai cuộc đời, hai số phận, một Nguyễn Khuyến với tâm thế là nhà nho truyền thống, một Tú Xương là nhà nho thị dân nên chắc chắn rằng
tư tưởng và tâm hồn thơ của Tam nguyên Yên Đổ và nhà thơ sông Vị sẽ có những nét đặc biệt, hứa hẹn sự khám phá thú vị Bên cạnh đó, có thể thấy Nguyễn Khuyến
và Trần Tế Xương là những tác giả có sức ảnh hưởng khá lớn trong dòng chảy văn học Việt Nam, nhất là khi cả hai tác giả đều được giảng dạy trong nhà trường THPT Cho nên, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần đổi mới nội dung giảng dạy đó là bên cạnh việc truyền đạt tri thức còn có thể liên hệ với thực tiễn và giáo dục nhân cách cho học sinh Đó là một trong những cách đưa văn học lại gần với cuộc sống
Vì tất cả những lẽ trên, chúng tôi chọn đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học ngành
Văn học Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội và càng có ý nghĩa hơn khi nhân loại đang tiến vào thời đại
số, thời đại kinh tế thị trường Khi mặt trái của cơ chế thị trường đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, thậm chí vào cả thành trì bền vững nhất của giá trị cá nhân thì người ta lại càng mong muốn tìm về với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có văn hóa ứng xử Vì vậy, vấn đề về văn hóa, văn hóa ứng xử nói chung được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm cũng là điều dễ hiểu
Năm 1871, E.B.Tylor (1832-1917) đã cho ra đời công trình nghiên cứu về
Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture), trong công trình ấy, tác giả Tylor đã
Trang 10nhấn mạnh “văn hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, là
cái toàn thể phức hợp bao gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc tập tục khác do con người thụ đắc với tư cách thành viên xã hội”[18, tr.1]
Năm 1944, Bronislaw Malinowski (1884–1942), nhà nhân học Anh gốc Ba
Lan đã nghiên cứu văn hóa với những chức năng khác nhau qua công trình Une
théorie scientifique de la culture (Lý thuyết khoa học về văn hóa), trong Une théorie scientifique de la culture nhà nhân học ấy đã cho rằng các yếu tố cấu thành
một nền văn hóa có chức năng thỏa mãn các nhu cầu chủ yếu của con người Đối tượng của ngành nhân học không phải là nghiên cứu các đặc trưng văn hóa vô nghĩa, cũng không phải các sự kiện văn hóa riêng rẽ, mà là các thiết chế (kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục ) và quan hệ giữa các thiết chế trong tương quan của một hệ thống văn hóa
Văn hóa biến đổi do ưu thế hơn hẳn của một kiểu nhân cách nào đó mà
các thành viên trong một cộng đồng cùng chia sẻ Trong công trình Cơ sở văn hóa
của nhân cách xuất bản năm 1945, Ralph Linton cho rằng mỗi nền văn hóa ưu tiên
một trong số các kiểu nhân cách được xã hội coi là “bình thường”, phù hợp với chuẩn mực văn hóa và hệ thống các giá trị
Năm 2007, David Matsumoto của trường Đại học San Francisco State trong
bài viết Culture, Context, and Behavior đã nhấn mạnh nguồn lực ảnh hưởng đến
lối ứng xử của con người đâu tiên chính là tâm lý phổ quát), tiếp đến là văn hóa (thông qua các vai trò xã hội) và thứ ba cá tính (thông qua vai trò cá nhân), tác giả cũng nhấn mạnh lối ứng xử của con người chịu sự chi phối và nó chính là sản phẩm của sự tương tác giữa ba yếu tố ấy [47]
Ngoài ra còn có các công trình cũng đề cập đến văn hóa và văn hóa ứng xử
khá được chú ý như: Quan niệm về thời gian trong văn hóa thổ dân Mỹ, công trình
Trang 11Khái niệm các hệ thống văn hóa Bí quyết để hiểu các bộ lạc và các quốc gia (The
concept of Cultural Systems A Key to Understanding Tribes and Nations) của L White in năm 1975,…
Tại Việt Nam, khi nhắc đến nghiên văn hóa không thể không nhắc tới cuốn
“Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm 1938 được ấn
hành bởi Quan Hải Tùng Thư xuất bản năm 1938, Nxb Bốn Phương tái bản năm
1951 Từ đó đến nay có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu về văn hóa vùng, văn hóa miền, văn hóa dân tộc – quốc gia Việt Nam hay văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á… của các tác giả nổi tiếng như Trần Quốc Vượng,
Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm, Toan Ánh, Chu Xuân Diên… Có thể kể đến Văn
hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới (Phan Ngọc), Một thế kỷ nghiên cứu văn hóa Việt Nam (Nguyễn Chí Bền), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
(Nguyễn Văn Dân), Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt (Nguyễn Đăng Duy),… Năm 2000, tác giả Trần Thúy Anh với công trình Thế ứng xử xã hội cổ truyền
của người Việt Châu Thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ, đã đem đến cho
người đọc cái nhìn khái quát về truyền thống ứng xử của người Việt trong cái nôi văn hóa châu thổ Bắc Bộ được cô động và đúc kết qua ca dao – tục ngữ Lấy ca dao và tục ngữ làm điểm tựa để từ đó, hình dung một cách sinh động và sâu sắc bộ mặt lịch sử và chiều sâu văn hóa
Năm 2001, tác giả Nguyễn Văn Lê với Văn hóa ứng xử trong giáo dục gia
đình đã nhận định mọi ứng xử phải tuân theo những quy tắc văn hóa trong ứng xử
“cha mẹ, ông bà trong ứng xử với con cháu và con cháu trong ứng xử với ông bà,
cha mẹ, anh chị trong gia đình Đó là đạo lý của dân tộc” [43, tr.6]
Năm 2002, nghiên cứu về văn hóa ứng xử tiếp tục được khẳng định qua công
trình Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam Qua công trình của mình, tác giả đã
tiếp cận văn hóa ứng xử của người Việt và phần nói về văn hóa ứng xử của các dân
Trang 12tộc ít người
Công trình Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên,
Nguyễn Viết Chức (2002), đã khái quát văn hóa ứng xử của người Hà Nội đã kết tinh những tinh hoa văn hóa đặc sắc của cả nước và giao lưu với nước ngoài Qua
đó làm bật lên những nét văn hóa ứng xử của người Việt nói chung và người Hà Nội nói riêng với môi trường thiên nhiên
Năm 2005, tác giả Phan Ngọc với công trình Văn hóa Việt Nam và cách tiếp
cận mới do nhà xuất bản Văn hóa thông tin, đã đem đến cho người đọc một sự kiến
giải về văn hóa và cách tiếp cận mới Tác giả đã đề cập đến công việc tiến tới một
sự nhận thức về văn hóa Việt Nam cũng như sự tiếp biến Khổng giáo và môi trường Việt Nam Công trình cho thấy sự sáng tạo của người Việt là lắp ghép, dung hòa Thiên nhiên ban cho mỗi dân tộc một thứ ân sủng khác nhau, một kiểu tài năng khác nhau Người Việt Nam lấy những yếu tố có sẵn, vốn mình hoặc mượn người, cấu trúc lại, tức cấp cho chúng một kiểu “quan hệ” để tạo thành một sản phẩm khác phù hợp với mình
Văn hóa ứng xử cũng là một đề tài được các tác giả luận văn, luận án quan
tâm Có thể kể đến Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm của Triệu
Thùy Dương (2007) – Trường Đại học Sư Phạm Tp HCM, với công trình này, tác giả đã nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt qua một số truyện thơ Nôm tiêu biểu thế kỷ XVIII – XIX Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã có ý thức tiếp thu cách làm văn hóa so sánh để chỉ ra đâu là nét văn hóa thuần Việt và đâu là những ảnh hưởng của văn hóa ngoại sinh đến văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử người Việt qua thể loại truyện thơ Nôm
Năm 2010, tác giả Cao Thị Liên Hương đã tìm hiểu về văn hóa ứng xử,
những nét cư xử trong cuộc sống hàng ngày của ông cha ta trong thơ chữ Hán của
Nguyễn Du qua luận văn Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du –
Trang 13Trường Đại học Sư Phạm Tp HCM Luận văn đã so sánh thơ văn của một số tác giả mà nội dung có liên quan để thấy được nét ứng xử tiêu biểu trở thành chuẩn mực trong đời sống của người Việt
Nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và thơ Trần Tế Xương ở góc độ nghiên cứu độc lập, riêng biệt tính đến thời điểm hiện tại có thể thấy đã có một số công trình đã đề cập đến
Nghiên cứu vấn đề văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến, gần nhất, có
thể kể đến công trình Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến - Trường Đại học
Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, của tác giả Thân Thị Minh Trang (2015), đã khảo sát về văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến ở các mối quan hệ cơ bản trong gia đình và ngoài xã hội Từ đó phân tích chỉ ra những nét đẹp văn hóa thể hiện trong thơ ông, điều khiến văn học gần với đời sống
Hay với bài viết “Nguyễn Khuyến một phong cách thơ lớn” Nguyễn Lộc đã
nhấn mạnh rằng “Nói về tình cảm của con người, kể cả những tình cảm riêng tư, Nguyễn Khuyến không phải là người đầu tiên Giai đoạn trước từng có Phạm Thái khóc người yêu, Nguyễn Hữu Chỉnh khóc chị, Phạm Nguyễn Du và Ngô Thì Sĩ khóc vợ…Còn nói về tình giao hữu bạn bè thì có nhan nhản trong thơ chữ Hán Tất nhiên những sáng tác ấy có ý nghĩa riêng của nó, và đối với sự hình thành con người cá thể của giai đoạn văn học trước, ngay trong xã hội, con người cá thể cũng chưa có điều kiện hình thành, thì trong văn học những tình cảm riêng tư cũng mang một sắc thái chung, có tính cách đạo đức cộng đồng…” [27, tr.48]
Trong công trình “Giá trị văn hoá truyền thống trong trước tác chữ Nôm của
Nguyễn Khuyến” của Hoàng Mai Quyên vấn đề đời sống tình cảm và văn hóa giao
tiếp của Nguyễn Khuyến với con cái, với vợ, với bạn bè, với học trò…cũng đã được tìm hiểu một cách sơ lược Trong công trình của mình tác giả Hoàng Mai Quyên đã chia hệ thống văn hoá ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến thành ba
Trang 14mảng: ứng xử tình cảm trong gia đìnhvà văn hóa giao tiếp của ông với con cái, với vợ, với bạn bè, với học trò…
Nghiên cứu vấn đề văn hóa ứng xử trong thơ Trần Tế Xương dù chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, song cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thơ Trần Tế Xương có nhắc đến văn hóa ứng xử trong thơ Trần Tế Xương như trong
tác phẩm Trông dòng sông Vị (1935), tác giả Trần Thanh Mại đã chia tập sách của mình thành 14 chương đoạn Đó là những khảo cứu nghiêm túc, những lời bình sâu
sắc, những nét phác hoạ chân dung sinh động về cuộc đời và lối ứng xử trong thơ
Tú Xương với vợ và thời đại, xã hội của mình
Nghiên cứu thơ trào phúng của Tú Xương, công trình Hệ thống trào phúng
của Trần Tế Xương (1957) do Nguyễn Sỹ Tế viết theo hướng nghiên cứu chiều
lịch đại cũng như đồng đaị Qua đó, Nguyễn Sỹ Tế cũng đã tìm hiểu nguyên nhân
và tiếng cười của Tú Xương trong sự so sánh với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, qua đó khẳng định Tú Xương là một “thiên tài trào phúng đã đi vào cõi bất diệt” Tác giả đã sử dụng hướng tiếp cận tương đối mới là so sánh Tuy nhiên,
so sánh ở mức độ đối chiếu đơn thuần mà chưa đặt nó trong một hệ văn hoá ứng xử trong thơ Trần Tế Xương
Trong bài viết Tú Xương- nhà thơ lớn của dân tộc (1988), Nguyễn Đình Chú
đã đính chính và bổ sung nhiều chi tiết có ý nghĩa”.Bằng hướng nghiên cứu hệ thống, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân và tiếng cười giải thoát Ông kết luận, Tú Xương đi ngược lại truyền thống thơ ngôn chí, đánh dấu sự phai nhạt của cách ứng xử trong không gian truyền thống, mở ra không gian sinh hoạt đời thường, đô thi Mặc dù đây chỉ là những nhận định khái quát, song nó góp phần mở ra những vấn đề nghiên cứu mới về Tú Xương
Trên đây, là những phác thảo quá trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa ứng
xử và văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến cũng như thơ Trần Tế Xương Tất
Trang 15cả các công trình nghiên cứu về văn hóa đã tìm hiểu sâu về bản sắc văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử nói riêng Nhưng nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong tác
phẩm văn học thì vẫn còn rất nhiều khoảng trống, có thể thấy ngoài công trình Văn
hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến của tác giả Thân Thị Minh Trang và công
trình Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du do tác giả Cao Thị Liên
Hương thực hiện thì tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có thêm công trình nghiên cứu nào dùng văn hóa ứng xử tiếp cận các tác phẩm văn học Việc đặt hai tác giả cùng thời có những điểm giống và khác nhau để nghiên cứu, đối sánh qua góc nhìn văn hóa ứng xử thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào, đặc biệt
là nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Vì lẽ
đó, nhìn chung việc nghiên cứu về Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và
Trần Tế Xương như một công trình chuyên biệt thì chưa có Dù vậy, những nghiên
cứu của các tác giả đi trước, thực sự là những tri thức quý báu, giúp người viết có thể tiếp cận và giải quyết các vấn đề trong suốt quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn bước đầu tìm hiểu hướng tiếp cận giúp khám phá hiểu biết sâu hơn trên phương diện văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử góp phần hiểu thêm quan niệm sống, nếp sống, lối hành động của con người trong xã hội qua thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
Làm rõ vai trò của văn hóa ứng xử và ý nghĩa của nó đối với mỗi cá nhân và
xã hội Góp phần hiểu hơn bối cảnh văn hóa, tâm tư, tình cảm của con người trong buổi giao thời
Việc tìm hiểu vấn đề Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế
Xương không chỉ góp phần giúp chúng ta hiểu rõ hơn về diện mạo thơ ca trung đại
mà còn giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời, hành trạng và lối ứng xử với con người, với tự nhiên, với xã hội của hai nhà thơ lớn Nguyễn Khuyến và Trần Tế
Trang 16Xương Việc tìm hiểu đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế
Xương, vì vậy mà có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu và giảng dạy nói
chung, và qua việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn
Khuyến và Trần Tế Xương nói riêng cũng sẽ giúp chúng ta có thể học tập thêm
những nét ứng xử của tiền nhân, vận dụng nó trong đời sống hiện tại này
4 Đối tượng và phạm vi đề tài
Với đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, đối
tượng nghiên cứu trực tiếp và xuyên suốt là vấn đề văn hóa ứng xử với phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm thơ văn của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài và triển khai luận văn, người viết sẽ áp dụng những phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Là phương pháp được sử dụng xuyên
suốt trong luận văn, nhờ phương pháp này, người viết có thể phân tích, tổng hợp các dẫn chứng cụ thể với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề mà người viết triển khai trong luận văn
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ
tiến hành so sánh các tác phẩm thể hiện ứng xử văn hóa của Nguyễn Khuyến,
Trần Tế Xương với các tác phẩm khác của một số tác giả khác để làm nổi bật về
văn hóa ứng xử trong thơ của họ
+ Phương pháp liên ngành: Là phương pháp được sử dụng trong luận văn
với mục đích làm rõ sự phong phú và đa dạng giữa các tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương nói riêng trong mối tương quan giữa tác phẩm và những những vấn đề về văn hóa ứng xử
+ Phương pháp văn hóa - lịch sử: Là phương pháp dùng để khảo sát quá
trình hình thành lối ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương (điều
Trang 17kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - nghệ thuật,…) từ đó giúp người viết tìm hiểu trường văn hóa, sự thay đổi và du nhập văn hóa phương Tây đến quê hương của 2 tác giả Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương cũng như nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc trong ứng xử nói chung và ứng xử trong thơ của hai tác giả ấy nói riêng
+ Phương pháp hệ thống: Người viết đặt các tác phẩm thơ văn của Nguyễn
Khuyến, Trần Tế Xương và một số dẫn chứng được trình bày trong luận văn theo một mối tương quan nhất định, đồng thời cũng đặt chúng với các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam nói riêng, các tác phẩm văn học nói chung theo một hệ thống
Từ đó, sẽ có sự đối chiếu, lý giải giúp ta có thể thấy được đầy đủ giá trị, ý nghĩa của văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương và đưa đến những kết luận trong luận văn
Ngoài ra, người viết sẽ kết hợp thêm một số phương pháp luận nghiên cứu văn học nói chung để làm rõ những vấn đề mà luận văn đặt ra Những phương pháp trên sẽ được người viết vận dụng một cách linh hoạt trong toàn bộ luận văn, tùy theo yêu cầu của mỗi chương mà người viết sẽ sử dụng theo cách chỉ tập trung vào một phương pháp hoặc kết hợp hai hay nhiều phương pháp khác nhau để làm sáng tỏ những vấn đề mà luận văn đã đưa ra
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề chung
Nhiệm vụ của chương này là trình bày những vấn đề cơ sở lý luận chung, từ
đó làm nền tảng để người viết có thể triển khai các vấn đề trong phần những chương kế tiếp Cụ thể, người viết sẽ trình bày về ba vấn đề cơ bản đó là truyền thống văn hóa của người Việt; qua đó trình bày sự hình thành và phát triển, văn
Trang 18hóa ứng xử và trình bày một số nét khái quát về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
Chương 2 Ứng xử đối với bản thân và môi trường tự nhiên
Trong chương hai, người viết trình bày về những nội dung ứng xử với bản thân trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, từ đó chỉ ra những ý thức cá nhân của hai nhà thơ và sự khác biệt trong lối ứng xử với bản thân của họ
Ngoài ra, trong chương này, người viết cũng trình bày biểu hiện về ứng xử của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương với môi trường tự nhiên cụ thể là thiên nhiên với vai trò như một đối tượng để ngâm vịnh cũng như gửi gắm những tâm tư của họ
Chương 3 Ứng xử đối với môi trường xã hội và gia đình
Song song với những vấn đề được triển khai ở những chương trên, nhiệm vụ của chương ba là khai thác các vấn đề về ứng xử với môi trường xã hội và gia đình trong thơ Nguyễn Khuyến cũng như trong thơ Trần Tế Xương Từ đó, làm rõ những nét độc đáo, thú vị trong lối ứng xử mà họ đã xây dựng trong những sáng tác của mình
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Truyền thống văn hóa của người Việt
Truyền thống văn hóa chính là những giá trị văn hóa được truyền lại dưới nhiều hình thức và thường xuyên được làm giàu thêm, trau dồi thêm theo quy luật nội tại của chính nó Có rất nhiều những quan niệm khác nhau khi nhắc về truyền thống văn hóa của người Việt Có nhiều người quan niệm đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa của người Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh của người Việt Cũng không ít ý kiến cho rằng truyền thống văn hóa của người Việt là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc, quốc gia Và quan niệm được nhiều người đồng thuận và quan tâm hơn cả, đó là quan niệm truyền thống văn hóa của người Việt là cộng đồng văn hóa dân tộc, quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người
Có thể thấy rằng, văn hóa của người Việt có sự ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa phương Đông, nếu như phương Tây có cội nguồn văn hóa từ cái cội rễ du mục thì phương Đông có nguồn cội là nông nghiệp Vì lẽ đó, người phương Đông không chuộng lối sống chăn nuôi, du cư, trọng động mà họ ưa lối sống trồng trọt, định cư và trọng tĩnh, hướng nội Việt Nam cũng là một trong số những đất nước có nền văn hóa thuộc kiểu văn hóa nông nghiệp lúa nước Dù vậy, văn hóa Việt Nam cũng có những nét tương đồng và khác biệt nhất định so với nền văn hóa của các nước trong khu vực
và trên thế giới
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, vì vậy một lúc cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên nhiên như: thời tiết, nước, khí hậu… nên về mặt tư duy nhận thức người Việt đã hình thành
nên lối tư duy tổng hợp, biện chứng (trọng quan hệ) theo kiểu “Bầu ơi thương lấy
Trang 20bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay “Một giọt máu đào hơn
ao nước lã” Bên cạnh đó, người Việt cũng hình thành nên lối tư duy nhận thức
chủ quan và duy linh Nếu như ở phương Tây, trong quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên người ta coi trọng sự chinh phục và chế ngự, thì người phương Đông trong đó có người Việt lại sống hòa hợp với tự nhiên Và từ đó dẫn tới lối sống linh hoạt luôn thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh
Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã
đề cập đến năm đặc trưng lớn trong nét văn hóa truyền thống của người Việt Đó là tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, thiên về âm tính và tính tổng hợp Bởi lẽ, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, trong truyền thống đó lại là kiểu nông nghiệp thuần túy Với đặc trưng là tính thời vụ cũng như nhu cầu chống thiên tai, bảo vệ
an ninh trật tự xã hội đã quy định văn hóa làng xã cộng đồng của người Việt Mặt khác, người Việt Nam mang trong tư tưởng mềm dẻo, hiếu hòa vì lẽ đó từ xa xưa
họ đã mang trong mình tư duy lưỡng phân - lưỡng hợp
Đồng thời, là đất nước có điều kiện tự nhiên là xứ nóng, nhiều mưa, đồng bằng ẩm thấp vì vậy đã dần hình thành nên lối sống nông nghiệp âm tính, do vậy
mà tính cách văn hóa Việt Nam cũng thiên về âm tính ở chừng mực nhất định Đó cũng là nguồn gốc của sự hình thành mối quan hệ trọng tình, trọng đức, trọng phụ
nữ và trọng văn
Nhìn chung, văn hóa người Việt thường linh hoạt ưa hài hòa, trọng tình cảm
và đề cao vai trò của tập thể Quan hệ ứng xử của người Việt vì thế mà cũng thuận theo tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên trong quan hệ với môi trường Chính vì thế mà trong văn hóa truyền thống của người Việt, tín ngưỡng dân gian đã phát triển một cách hết sức tự nhiên trong đời sống của dân tộc
1.2.Sự hình thành và phát triển
1.2.1 Tín ngưỡng dân gian
Trang 21Theo Từ điển Tiếng Việt, thì “Tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó” [34, tr.994] Và có thê hiểu rằng, tín ngưỡng dân gian là tập hợp những niềm tin hình thành và phản ánh ước nguyện của một cộng đồng người có thể nhưng không nhất thiết tuân theo một hệ thống tôn giáo nhất định Văn hoá tín ngưỡng dân gian không chỉ làm nên những giá trị tinh thần, tình cảm, tâm thức và tâm linh của văn hoá mà còn góp phần tạo nên bản sắc và sức sống lâu bền của văn hoá các dân tộc Mỗi tín ngưỡng dân gian đều có nhiều biến thể, trong quá trình hình thành
và phát triển của nó
Từ xa xưa, Việt Nam là một quốc gia sống bằng nghề nông nghiệp nên sự gắn
bó với tự nhiên vô cùng lâu dài và bền chặt, vì lẽ đó sùng bái thần linh là một tín ngưỡng mang tính tất yếu của người Việt Trong lối tín ngưỡng ấy, chúng tôi tạm chia ra là lối tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên và tín ngưỡng thờ cúng con người
Trước hết, tín ngưỡng dân gian của người Việt cho rằng trong vạn vật, trời đất luôn ẩn chứa những quyền năng thiêng liêng và nó có thể khiến con người có được những phúc lành hay tai họa bất cứ lúc nào Sống trong thế giới ấy, con người hiểu rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, họ vừa mang thái độ mong được thần linh phù hộ, và có thái độ e sợ, thành kính Biểu hiện rõ rệt cho điều ấy đó là hành
vi tín ngưỡng cầu cúng, khấn vái thần linh với mong cầu được chở che của dân gian Ca dao đã ghi lại ước muốn, nguyện vọng của dân gian với đất trời:
Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm
Có thể thấy rằng, quan niệm của dân gian ta thì mọi thần linh đều vô cùng quan trọng, trước hết đó là Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – những vị thần cai quản các
Trang 22hiện tượng tự nhiên quan trọng, gắn bó với đời sống của người làm nông nghiệp nói chung trong đó có người Việt Tín ngưỡng dân gian đã thờ bộ ba nữ thần ấy qua lối Tam Phủ với ba bà là Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải cai quản ba vùng trời – đất – nước Nhiều nhà, ở mỗi góc sân đều có đặt một bàn thờ lộ thiên gọi là bàn thờ Bà Thiên Nhiều vùng, Bà Đất, Bà Nước trong tín ngưỡng dân gian trở thành những thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa
Sông…Vì vậy mà trong tục ngữ dân gian có câu “Lệnh làng nào làng ấy đánh,
thánh làng nào làng ấy thờ” Ngoài ra, Thần Đất còn tồn tại trong tín ngưỡng dân
gian là Mẹ Đất, Bà Nước dưới tên gọi là Bà Thủy Không phải ngẫu nhiên mà khi chưa có ý thức về âm – dương cũng như ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trọng dương gốc du mục, trong tín ngưỡng dân gian người Việt hầu hết đều tôn thờ nữ thần Bởi lẽ tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ và gia tăng niềm tin linh thiêng đối với các vị thánh thần mà mình phụng thờ hay cầu khấn Và họ truyền tụng với nhau trong ca dao, dân ca rằng, vạn vật khắp nơi đều có thần linh,
để từ đó răn dạy mình phải sống tốt hơn trong cõi đời này:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm (Ca dao)
Thứ hai, trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, với niềm tin rằng khi con người ta khi chết sẽ về với tổ tiên nơi chín suối nên họ vẫn có tục thờ cúng tổ tiên ông bà Thờ cúng ông bà tổ tiên là một nét văn hóa lâu đời trong dân gian người Việt, nó đã ăn sâu vào nếp sống của nhân dân ta Đó là quan niệm “sống gửi, thác về” hay “chết là thể xác, hồn là tinh anh” Người Việt tin rằng dù đã ở nơi chín suối nhưng ông bà vẫn luôn về phù hộ cho con cháu, vì vậy mà tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên đã hình thành trong tín ngưỡng dân gian của người Việt
Trang 23Không phải ngẫu nhiên mà trong tiếng Việt tôn giáo là biến âm từ tông giáo: tôn giáo là việc giáo dục theo nền nếp của tổ tông Bởi lẽ hầu hết, từ xưa cho đến nay, bất cứ gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên và nó gần như là một tôn giáo, dân gian
ta vẫn dạy “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”, là vì thế Khác với phương Tây coi trọng ngày sinh, trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên trọng việc cúng giỗ vào ngày mất, vì người ta tin rằng đó là thời khắc
mà con người đi vào cõi vĩnh hằng
Ngoài tục cúng giỗ, dân gian ta còn khấn vái, cúng cầu vào các ngày sóc vọng (mùng một, ngày rằm) hay khi trong gia đình có việc gì trọng đại như lễ tết, sinh con, dựng vợ gả chồng cho con cái để báo cáo tổ tiên, khi họ muốn cầu mong tổ tiên phù hộ (làm nhà, đi xa, thi cử, vụ mùa,…), hoặc lúc họ muốn tạ ơn (thi đỗ, đi
xa về bình an, làm ăn phát đạt,…) Nó thể hiện mối dây liên hệ gần gũi, khắng khít giữa người sống và người chết, giữa cõi dương và cõi âm Ngoài ra, đối tượng được nhân dân ta thờ cúng còn là những anh hùng lịch sử, những người có công lao to lớn với quê hương đất nước Từ việc thờ cúng và khắc ghi công ơn của vua
vị thần như Liễu Hạnh, Chữ Đồng Tử,…những nét tín ngưỡng dân gian ấy là
Trang 24những giá trị tinh thần văn hóa rất đẹp đẽ của dân tộc ta Đó là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài của lịch sử và cũng là biểu tượng cho sức mạnh liên kết cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống phồn vinh
và hạnh phúc
Qua đó, cho thấy cũng như những bộ phận khác của văn hóa, tín ngưỡng dân gian là tấm gương phản ánh trung thành những đặc trưng nông nghiệp của nền văn hóa Việt Nam, trước hết đó là sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên trong tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên và tiếp đến là tín ngưỡng thờ cúng con người Đặc biệt, gắn liền với cuộc sống nông nghiệp và nguyên lí âm dương là khuynh hướng đề cao tính nữ trong tín ngưỡng dân gian người Việt Tín ngưỡng dân gian Việt Nam đầy rẫy các nữ thần, Nho giáo và chế độ phụ quyền không tiêu diệt được vai trò của người phụ nữ Việt Nam, trong tín ngưỡng dân gian luôn xuất hiện Bà Trời, Bà Đất, các nữ thần Mây, Mưa, 12 bà mụ,…
Nhìn chung, có thể trong tín ngưỡng dân gian có khi những nội dung, đối tượng và hình thức tín ngưỡng không giống nhau nhưng rõ ràng chung quy lại tín ngưỡng dân gian mang tính linh thiêng của con người, dù đó là tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên hay thờ cúng con người thì niềm tin linh thiêng ấy đã đi vào đời sống của cả dân tộc, nó đã trở thành phong tục, tập quán ăn sâu, bám rễ vào trong tâm thức của nhân dân ta Chính vì thế, có thể thấy cùng với những yếu tố khác, văn hóa tín ngưỡng dân gian phần nào đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến đời sống văn học của dân tộc, điều đó ta thấy ít nhiều cũng xuất hiện trong sáng tác của Tú Xương và Nguyễn Khuyến
1.2.2 Văn hóa Việt trong sự tiếp biến các luồng tư tưởng, văn hóa khác
Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới tạo nên một hiện tượng thường được gọi là tiếp biến văn hóa (tiếp xúc và biến đổi văn hóa) Sự tiếp xúc văn hóa khi xảy ra lâu dài và trực tiếp có thể gây ra sự biến đổi cấu trúc của một nền văn hóa Việt Nam cũng vậy, do sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa mà văn hóa Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng trong quá trình hội nhập văn hóa
Trang 25của văn hóa Việt Nam, từ khu vực đến thế giới Trong quá trình giao lưu tiếp biến
ấy, văn hóa ngoại lai đã có cơ hội du nhập vào nước ta Điều đó được thể hiện rõ nét qua các tư tưởng như Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo
* Với Nho giáo
Việt Nam nằm tiếp giáp biên giới Trung Quốc, trong quá trình phát triển lại
có nhiều quan hệ phức tạp nên việc tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Hán là lẽ đương nhiên Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn Biết bao nhiêu
hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão Tử Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể phủ nhận được tư tưởng có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng chính là Nho giáo
Nho giáo là một trong những trường phái triết học cơ bản và có giá trị to lớn đến vô cùng của Trung Quốc thời cổ đại Đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử (551-479TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử (313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư và Ngũ Kinh
Kể từ lúc xuất hiện cho đến về sau Nho giáo luôn giữ được cho mình một vị trí độc tôn cho đến khi chế độ phong kiến lụi tàn Để có thể vượt qua được sức mạnh của thời gian, Nho giáo hẳn phải có những giá trị nhất định Là một đất nước
có quan hệ gần gũi với đất nước mà Nho giáo ra đời, vì vậy mà trong văn hóa ứng
xử của người Việt sự tác động từ văn hóa Nho gia chính là một yếu tố rất sâu đậm
Có thể nói, Nho giáo được áp dụng vào thiết chế nhà nước và tổ chức xã hội của người Việt rất mạnh mẽ Trong quá trình ấy, đôi khi nó còn trở thành hệ tư tưởng chủ lưu trong giới quý tộc cũng như thường dân, nhất là sự ảnh hưởng của
nó trong chế độ khoa cử trong xã hội phong kiến Việt Nam Ảnh hưởng của Nho
Trang 26giáo trong khoa cử được thể hiện rõ trong cách tuyển chọn nhân tài Nho học ra làm quan, phương cách ấy đã du nhập vào Việt Nam từ đời Lý (1009-1225) với khoa thi đầu tiên là vào năm 1075 sau đó nó tác động mạnh mẽ đến đời sống của người Việt
Bên cạnh vai trò của một học thuyết đề cao người đi học, việc học tập, sự nghiệp giáo dục, sùng thượng văn hiến, lễ nhạc, trân trọng thơ ca âm nhạc, thì bản chất của học thuyết Nho gia là một triết học, đạo đức luân lý gốc tu dưỡng tâm tính của con người Trong cuộc sống hiện thực, bên ngoài Nho gia là khuôn thước lễ nghĩa còn ở bên trong nó là những đức tính nhân ái và trật tự đẳng cấp khác nhau Trong đó, vai trò duy trì quan hệ tam cương (vua – tôi, cha – con, vợ - chồng), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) và sự gắn kết, nương tựa của con người trong xã hội nông nghiệp là điều khiến cho người Việt sống rất trọng tình, trọng nghĩa
Người Việt thích tình cảm tự nhiên như trọng hiếu, quý hòa, … Tất cả những điều ấy hầu như đều chịu ảnh hưởng từ các phạm trù lễ giáo của Nho gia:
trung, hiếu, tiết, nghĩa… Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử sau đó học
thuyết này được phát triển bởi Mạnh Tử, Tuân Tử và nhiều người khác Như đã trình bày ở trên, thì ý thức Nho giáo được các nhà Nho Việt Nam tiếp thu qua sách
vở, trường học rồi sau đó được truyền bá lưu truyền rộng rãi cả trong dân chúng
Từ đó đạo Nho trở thành một yếu tố quan trọng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, cũng như có ảnh hưởng rất lớn trong thế ứng xử của người Việt
Theo Khổng Tử thì “Người quân tử chỉ có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ
vương công đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân” [15, tr.67] Như vậy, cái sợ đầu
tiên của người quân tử chính là “mệnh trời”, vì trong đôi mắt của họ trời là một
đấng thiêng liêng, tối cao giữ vai trò quản lý từ thiên nhiên đến cả cuộc sống của con người, nên con người có số phận bất hạnh hay tốt đẹp tất thảy đều do trời xanh
đã định, không ai có thể thay đổi được Và với sức mạnh riêng ấy, dân gian ta cũng
Trang 27đã hơn một lần khẳng định rằng:
Non kia ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới, ai đào mà sâu?
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Vì lẽ đó, mà người Việt rất tôn trọng ông Trời, ông Trời của người Việt rất được sùng bái, họ không chỉ thờ một ông trời mà còn thờ những đối tượng được mặc định là quyết định vận mệnh của họ trong những mùa lao động lam lũ Từ bao đời nay, người Việt đã in sâu trong tiềm thức cái thói quen:
Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm, Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng
(Ca dao)
Trong thời có giặc ngoại xâm, trời của người Việt cũng nắm cả số mệnh của dân tộc, đất nước Vì vậy họ vẫn dùng tâm thành kính mà mong trời thương xót để cho đất nước được yên bình:
Lạy trời cho cả gió lên Cho cờ Bình Định bay trên kinh thành
(Ca dao) Hay:
Trời thương Bách Việt sơn hà Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài Lên ba đang tuổi anh hài
Trang 28Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời
(Ca dao)
Có thể thấy từ “mệnh trời” của Nho giáo khi vào văn hóa người Việt thì ý nghĩa ấy trở nên linh hoạt hơn, với người Việt thì “ông trời có mắt”, trời sẽ là một người công bằng, thấu mọi việc, trời sẽ giúp đỡ người ăn ở hiền lành và ngược lại
sẽ trừng phạt kẻ ác Cô Tấm, chàng Khoai, nàng Út hiền lành chân thật rồi cũng được ông Bụt nhân từ hóa phép để được sống một cuộc đời hạnh phúc còn người anh tham lam, mẹ con Cám, Lý Thông, Phú hộ độc ác gian ngoa cuối cùng cũng bị ông trời trừng phạt một cách đích đáng
Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, nhân dân ta đã rất linh hoạt khi suy nghĩ những quan niệm của Nho giáo thành các quan niệm gần gũi, giản dị trong đời sống thường ngày Có nhiều yếu tố Nho giáo biến đổi cho phù hợp truyền thống văn hóa Việt Nam Vì trọng tình nghĩa nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt cũng rất tâm đắc với chữ “nhân” Nhân ấy có khi với người Việt đó là tình thương:
Thương người như thể thương thân, thấy đói rách thì thương… Nhân còn gắn liền
với nghĩa:
Nhân nghĩa là chúa muôn đời Bạc tiền là khách trôi qua bây giờ
(Ca dao)
Người Việt thích tình cảm tự nhiên: tình nghĩa, trọng hiếu, quý hòa… Tất cả
những điều này chịu ảnh hưởng từ các phạm trù lễ giáo của Nho gia: trung, hiếu,
tiết, nghĩa…Chịu ảnh hưởng là vì những tư tưởng ấy của Nho giáo phù hợp với tư
tưởng của họ, còn những điều không phù hợp thì người Việt sẵn sàng loại bỏ
Trang 29Chẳng hạn, nếu chữ trung của Nho giáo theo ý nghĩa một chiều thì chữ trung trong văn hóa ứng xử của người Việt có phần linh hoạt hơn Với tư tưởng ban đầu của Nho giáo thì trời là vua, trời đã nhường ngôi trị vì hạ giới cho con và vị hoàng đế con trời ấy nắm quyền lực thống nhất toàn diện và tuyệt đối Vua cho lệnh chết thì phải đội ơn vua mà chết, điều đó đã thay đổi trong tư tưởng của người Việt, với người Việt chữ trung ấy chỉ xuất hiện khi vua hợp lòng dân, vua phải tốt thì bầy tôi mới trung với vua có lẽ vì vậy mà người Việt ta vẫn thường hay nói “Phép vua thua lệ làng”
Hay trong quan niệm về chữ hiếu, nếu trong Lễ ký, Tế Thống nói “Thị cố hữu
tử sự thân hữu tam sự, sinh tắc dưỡng, một tắc đang, tang tắc tế” (Ấy cho nên người con có hiếu phụng thờ cha mẹ ba điều: cha mẹ còn sống thì nuôi dưỡng, cha
mẹ chết thì lo tang ma, tang ma xong thì phải cúng tế), thì đến với ca dao bàn về chữ hiếu cũng như tiết hạnh của người phụ nữ, ông bà ta lại cởi mở mà cho rằng:
Dù mai mẹ chết các con có cúng năm trâu bảy bò Cũng không bằng khi mẹ sống các con cho mẹ đi lấy chồng
Khi bàn đến chữ “tiết”, xã hội phong kiến Trung Hoa luôn buộc người phụ nữ
phải “chính chuyên” trọn đạo với chồng trong mọi hoàn cảnh Không như vậy, dân gian ta đã như gỡ cái chữ “tiết” ăn sâu bám rễ như nho giáo, người Việt đã cho rằng:
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng Đẹp duyên thì lấy, chẳng ông Tơ Hồng nào se (Ca dao)
Nho giáo rất xem thường phụ nữ nhất nam viết nữ, thập nữ viết vô Khổng Tử cũng
đã có lời nhận định không xác đáng về phụ nữ, ông đã coi thường phụ nữ và đã từng cho rằng “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc tốn, viễn chi
Trang 30tắc oán” (Chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó dạy, gần họ thì họ nhờn, xa họ thì họ oán) Tuy vậy, người Việt lại bác bỏ quan niệm này
Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
(Ca dao)
Qua những yếu tố Nho giáo trong tiếp biến văn hóa người Việt, chúng ta có thể thấy rằng về bản chất Nho giáo chính là một triết học đạo đức luân lý gốc ở tu dưỡng tâm tính và cũng là một học thuyết luân lý “nhập thế” rất mạnh Trong cuộc sống hiện thực, bên ngoài nó là phạm vi lễ nghĩa, bên trong nó là đức tính nhân ái
và trật tự tiên nghiệm “luân thường” cùng cấu tạo thành một kết cấu trật tự đẳng cấp khác nhau suy mình đến người, có sức duy trì mối quan hệ tam cương ngũ thường, sự nương nhờ nhau của con người trong xã hội nông nghiệp Nhưng sự linh hoạt trong tiếp biến văn hóa Nho giáo là ở đằng sau sự sùng kính ấy lại chứa đựng nhiều màu sắc thiết thực phù hợp với phong tục, tập quán và lối ứng xử đặc thù của người Việt Đó cũng chính là những nét đặc trưng trong quá trình tiếp biến các yếu tố văn hóa ngoại lai trong đó có tư tưởng Nho giáo của người Việt
* Với Phật giáo
Theo tác giả Nguyễn Lang trong công trình Việt Nam Phật giáo sử luận, in
lần thứ 3, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1992 thì sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính
là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên, phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáo thời Lý – Trần Du nhập vào Việt Nam chủ yếu là Phật giáo Đại thừa (ở phía Bắc) và Phật giáo Tiểu thừa (ở phía Nam) Theo các nhà nghiên cứu về Phật học thì Phật giáo ở
Trang 31Việt Nam chủ yếu phát triển theo hai dòng dân gian và cung đình Trong đó dòng Phật giáo cung đình ở Việt Nam gắn với thời Lý – Trần chính là điều kiện cơ bản
để một bộ phận văn học, bác học được ra đời Thực chất xây dựng nên triết lý của
đạo Phật là nền tảng các học thuyết như: Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Nhị thập nhân
duyên, những học thuyết này đã chinh phục được người Việt Nam dựa vào nnhững
chuẩn mực khuyên con người tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều ác Có lẽ chính vì vậy mà ở Việt Nam, Phật giáo đã có một sự ảnh hưởng rất mạnh mẽ và cô cùng sâu rộng trong quần chúng nhân dân và trở thành nếp sinh hoạt văn hóa ứng
xử của người Việt
Nhân dân xưa quan niệm Phật như là một vị Bụt (xuất phát từ “Buddha”), có phép thần thông, nghe và biết mọi chuyện như Ông Trời, nhưng Bụt không ở trên cao, mà thân cận với mọi người Bụt hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời Từ đó đã hình thành quan niệm về nghiệp báo, luân hồi là ở sự làm lành gặp lành Người ta cũng quan niệm về từ bi, về công đức Vì vậy mà dân gian luôn
có quan niệm tìm đến chùa chiền để tĩnh tâm, tu tập bản tính của mình:
Muốn cho gần chợ bán mua, Gần sông tắm mát gần chùa nghe chuông
(Ca dao)
Cũng như Nho giáo, khi Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam, đã được người Việt đón nhận, cái linh hoạt đầu tiên của người Việt được xây dựng trên cơ sở văn hóa truyền thống của mình đó là nếu các vị Phật Ấn Độ vốn xuất thân từ đàn ông, sang đến Việt Nam còn có cả Phật Bà Ông Bụt của người Việt không phải là Thái
tử Tất Đạt Đa, ông tổ của Phật giáo mà là một thần linh tiêu biểu có đức tính hiền lành, giàu lòng thương người, luôn ở cạnh những người cô thế bất hạnh, bao giờ cũng nghe được tiếng kêu của con người trần thế, sẵn sàng có mặt giúp đỡ, an ủi bất kỳ ai yếu đuối, nghèo khổ gặp hoạn nạn
Trang 32Người Việt tiếp nhận tư tưởng Phật giáo với quan niệm cuộc sống thực tại ở thế giới của hiện tại, với người Việt thì Đức Phật chính là phúc thần luôn che chở
và phù hộ cho cuộc sống thực tại của họ Vì lẽ đó, các yếu tố Phật giáo được tiếp nhận vào văn hóa Việt theo phương thức ứng xử làm một phương thuốc tốt đẹp cho cuộc sống tinh thần của loài người cũng là một chiếc cầu nối “hoan hỉ” để làm đẹp mối quan hệ tình cảm giữa con người trong xã hội với nhau Từ quan niệm của
Phật giáo về từ bi, bác ái, nhân nghĩa, đức độ,… đã đi vào lời ăn tiếng nói hằng
ngày, và đã trở thành phương tiện diễn đạt quan niệm đạo đức truyền thống của
người Việt như cứu nhân độ thế, cứu một người phúc đẳng sa hà, ở hiền gặp lành,
ác giả ác báo, tu nhân tích đức, nhân nào quả ấy, cha mẹ hiền lành để phúc cho con… sự tiếp biến ấy được hình thành và xây dựng dựa trên nền tảng cho sự phù
hợp của chúng với lẽ sống của người Việt Những tư tưởng tích cực của Phật giáo, nghiễm nhiên cũng đã đi vào đời sống của dân tộc ta và đã hình thành nên biểu hiện phương thức ứng xử nhân ái, hòa hợp giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa con người với con người như những giá trị truyền thống trong văn hóa của người Việt
Từ nguồn cội sâu xa, Người Việt đã luôn xem trọng chữ hiếu, và khi tư tưởng của Phật giáo vào Việt Nam cũng được người Việt tôn sùng, nhưng cái đáng nói ở đây là trong hành trình tiếp biến ấy, người Việt đã thay đổi quan niệm cho phù hợp với suy nghĩ và đạo đức của họ Nếu so với Nho giáo, người Việt đã từng nói “Nhất vợ nhì trời”, nghĩa là đã đặt vợ lên trên đấng tối cao, thì với Phật giáo, chữ hiếu của người Việt được xây dựng trên cơ sở coi trọng truyền thống thờ ông
bà, cha mẹ hơn thờ Phật:
Vô chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành
(Ca dao)
Trang 33Cách nhìn của người Việt về vấn đề tu hành không phải là đi đến Tây Trúc, không phải đi hành hương về nơi có cội nguồn của Phật giáo hay đến chùa gặp Phật,
Pháp, Tăng để tu tập mà họ cho rằng:
Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu
(Ca dao)
Như vậy, có thể thấy tư tưởng Phật giáo ở Việt Nam được nhấn mạnh ở tâm,
“Phật tại tâm” của mỗi người Ngoài ra, với lối sống gắn với nông nghiệp, luôn hòa hợp với đất trời nên yêu sự an yên, hòa hợp giữa tự nhiên và con người nên mỗi người đều phải biết ứng xử tốt với tự nhiên và mọi người xung quanh nên tư tưởng Phật giáo ở Việt Nam còn là tư tưởng yêu hòa bình và trọng nhân, trọng nghĩa Vì thế, người Việt cũng ưa chuộng lối sống “tùy duyên” mà đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã dạy:
Ở đời vui đạo cứ tùy duyên
Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền Báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền
(Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông)
Người Việt thường chịu ảnh hưởng nhiều về giáo lý từ bi, hỷ xã, bác ái, vị
tha,…của Phật giáo Tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng,
thấm sâu vào tâm hồn và lan tỏa ra thế ứng xử của người Việt như một con ngựa
đau cả tàu bỏ cỏ, lá lành đùm lá rách, môi hở răng lạnh, những câu nói thấm
đẫm tinh thần nhân ái vị tha của người Việt vì thế đã là những câu “nằm lòng” trong đời sống nhân dân Phật giáo từ đó, cũng làm phong phú thêm những ý niệm thiêng liêng của người Việt đồng thời khi đến với nước ta, khi đi vào đời sống của người Việt, tư tưởng Phật giáo ngày càng được nhuận sắc và khẳng định mạnh mẽ
Trang 34hơn từ nội dung đến lý luận của tư tưởng Phật giáo bản địa, từ đó Phật giáo trở thành những nếp ứng xử tốt đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt
* Với Đạo giáo
Trong số những triết gia cổ đại Trung Quốc, Lão Tử1 được coi là một tượng đài đặc biệt Ảnh hưởng tư tưởng triết học của ông rất sâu sắc trong hàng ngàn năm qua, không chỉ ở Trung Quốc mà tỏa sáng ra khắp cả nhân loại Và những hệ thống
tư tưởng mà Lão Tử để lại được đưa vào tác phẩm Đạo đức kinh 2, trải qua bao thế
hệ, vượt qua những không gian, nó vẫn còn nguyên giá trị
Đạo giáo ở Trung Quốc và ở Việt Nam đã xuất hiện bài bản như một tôn giáo bản địa, trên cơ sở kế thừa tín ngưỡng dân gian và dung nạp nhiều yếu tố của các trào lưu tư tưởng tôn giáo khác Hai khái niệm Đạo và Đức của Lão tử như là
những phạm trù triết học biện chứng Trong đó, Đạo gắn với hai phạm trù thường
vô và thường hữu là hai phạm trù cơ bản của triết học của Lão Tử Chữ vô trong
thường vô là chỉ sự đối lập với cái hữu (có) cụ thể của sự vật có hình thể có vị trí trong không gian và thời gian chứ không có nghĩa là không tồn tại Thường vô có nghĩa là vô một cách hằng thường, vĩnh cửu; tức là tồn tại mà không bao giờ có (vô) hình thể, thường hữu là tồn tại một cách hằng thường không bao giờ mất
Nhưng Đạo của Lão Tử lại là thường Đạo, là tự thân nó chứa đựng một đặc tính có hai mặt thường hữu và thường vô Chính nó là thường vô nên nó là thường hữu Nếu không thường vô thì (tức là hữu hình) nó sẽ có lúc bị mất đi và như thế
nó không thể thường hữu Đạo của Lão Tử là thường Đạo vì nó là sự thống nhất giữa hai mặt thường vô và thường hữu Chính sự thống nhất (cùng xuất hiện) là sự huyền diệu của Đạo
“Cho nên (phải xem) Đạo là cái vô vĩnh viễn nếu như ta muốn nhìn cái huyền
1 Theo Sử kí Tư Mã Thiên thì Lão Tử họ Lý tên Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam, quê huyện Khổ, nước Sở, từng giữ chúc văn thư ở Tàng thất nhà Chu Tuy nhiên, theo các công trình nghiên cứu cho thấy mãi đến nay Lão Đam có phải là tác giả của tác phẩm Đạo đức kinh hay không vẫn đang còn là một nghi vấn lớn
2 Theo Sử kí Tư Mã Thiên thì tác phẩm Đạo đức kinh được viết theo lời yêu cầu của Doãn Hỷ ở thời Xuân Thu Nhưng người ta đã nghi ngờ điều này (Tất Nguyên, Uông Trung) và sau đó Khang Hữu Vi, Vũ Đồng … đều cho rằng nó được ra đời vào thời Chiến Quốc.
Trang 35diệu của Đạo, (lại phải xem) nó là cái Hữu vĩnh viễn nếu như ta muốn nhìn cái biểu hiện của nó Cả hai cái (mặt Vô và mặt Hữu) cùng xuất hiện với nhau, mà tên gọi khác nhau” [51, tr.13]
Nói khác đi, Đạo là nguyên lí chung (tổng nguyên lí) sinh ra vạn vật chứ không phải là vật cụ thể, nên ta khó chỉ ra nó như một vật cụ thể hoặc hình dung nó với một cái tên như tên của sự vật cụ thể Do vậy, Lão Tử nói “Đạo thường vô
danh, phác” nghĩa là cái Đạo vĩnh viễn không có tên gọi, nguyên mộc [51, tr.44]
hay “Đạo ẩn vô danh” nghĩa là cái Đạo cực lớn thì không có tên [51, tr.53]
Để chỉ mặt Dụng của Đạo còn có khái niệm quan trọng thứ hai trong Đạo
Đức kinh là Đức Nói riêng về bản thể là Đạo, nói riêng về công dụng là Đức Nói
khác đi Đạo là bản thể của vũ trụ, Đức là bản tính và là tác dụng của Đạo
“Cái Đạo sinh muôn vật, cái Đức nuôi chúng, vật cấp cho chúng hình hài, hoàn cảnh làm chúng trưởng thành Vì thế cho nên, muôn vật không vật nào không trọng cái Đạo và quý cái Đức” [51, tr.63] Như vậy, Đức của Lão Tử có một nghĩa
rất khác với Đức của Nho giáo Đức ở đây là một phần của Đạo: khi còn là bản thể
của vũ trụ là Đạo, khi biến thành mọi vật thì phần hiển hiện đó là Đức Mỗi vật đều có Đức, mà Đức của bất kì vật gì cũng từ Đạo mà ra” [51, tr.33]
Đạo và Đức sinh thành biến hóa mọi vật theo phép tắc nhất định và tự nhiên
tức là theo qui luật khách quan: “Cái đáng trọng của Đạo, cái đáng quý của Đức,
chẳng do cái gì ra lệnh cả mà là theo tự nhiên Cho nên, cái Đạo sinh ra muôn vật, cái Đức nuôi chúng, làm cho chúng lớn lên, đùm bọc chúng, làm cho chúng hoàn tất, trọn ven, nuôi nấng chúng, che chở chúng” [51, tr.63]
Như vậy, theo Đạo giáo thì con người sẽ được sinh ra từ Tự nhiên (Đạo và Đức) nên con người không thể tách rời tự nhiên được Chính vì vậy mà khi Đạo giáo vào Việt Nam, người Việt cũng tin vào tự nhiên, tin vào thuật phong thủy Đó
là lí do mà vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long để tìm đến “trung tâm
Trang 36của đất trời, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi nam, bắc, tây, đông…”, hay ngay cả chuyện gia đình người Việt có người mất, họ cũng thực hiện những công việc tang ma theo quy luật của phong thủy, tự nhiên
Xuyên suốt tư tưởng của Đạo giáo, bên cạnh niềm tin vào thuật phong thủy, thì Đạo giáo còn tin tưởng vào thế giới thần tiên cũng như có niềm tin bền chặt vào tướng số Trong văn hóa của người Việt, vì vậy mà đã có câu nói “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”, cũng xuất phát từ thuật xem tướng, người ta cho rằng hình thể của con người được tạo ra là nhờ cha mẹ, nhưng mỗi người lại có một nguyên khí mà cái nguyên khí ấy chính là do tự nhiên trời đất hợp thành
Ngoài ra, sức ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo đến văn hóa ứng xử của người Việt không thể không nhắc đến tư tưởng Vô vi Lão Tử cho rằng trời đất
cũng vận động theo quy luật khách quan “Trời đất chẳng hề lo đến nhân, xem
muôn vật là con chó rơm” Vì thế, con người phải sáng suốt, phải biết quy luật và
vô vi là nguyên lí sống thuận theo các quy luật khách quan đó.“Biết cái lẽ tự nhiên
thì chứa đựng được Chứa đựng được cho nên chung cho mọi người Do chung cho mọi người cho nên bao khắp Bao khắp là hợp với trời Hợp với trời là đúng Đạo Theo Đạo thì lâu dài, suốt đời không bị nguy hiểm” [51, tr.28] Tư tưởng ấy đã dần
đi vào đời sống của người Việt, từ xưa người Việt với quan niệm sống thuận theo
tự nhiên thì con người sẽ luôn vui vẻ, hạnh phúc, đất nước sẽ được an bình như
trong bài thơ “Vận nước” của Pháp Thuận đã đề cập đến
Người Việt không chấp nhận thái độ bi quan yếm thế, bất lực và cam chịu “tư tưởng lạc quan là một đức tính truyền thống lớn của dân tộc ta” [20, tr.225] Như cách nói của tác giả Cao Thị Liên Hương thì đạo giáo của người Việt có sự lạc
quan và thực tế, thích ứng hài hòa với môi trường tự nhiên và thương người như
thể thương thân, người Việt tìm nguồn vui cá nhân trong hòa thuận cộng đồng,
không cố chấp về lý mà nể nhau về lẽ, lấy nghĩa làm cốt lõi của tình, lấy thương
Trang 37làm cốt lõi của yêu Quán xuyến liên hệ của hiện tại với quá khứ và tương lai trong
vận mệnh của cá nhân và của cộng đồng, lấy cuộc sống hiện hữu làm điểm xuất phát
Có thể thấy trong hành trình gặp gỡ và tiếp biến Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo ở Việt Nam, những yếu tố tích cực, phù hợp luôn được đón nhận một cách linh hoạt và uyển chuyển Trong cuộc gặp gỡ ấy, nếu Nho giáo với bộ khung khái niệm thể hiện trong đạo tam cương, ngũ thường và có vai trò liên kết xã hội, xây dựng một xã hội kỷ cương, trọng các điều nhân nghĩa và đạo trung tín thì Đạo Phật chinh phục người nông dân Việt Nam không phải ở lý thuyết cao siêu của nó mà ở những chuẩn mực khuyên người ta tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều ác
Và Đạo giáo được giới trí thức xưa tiếp nhận vì nó khuyên người ta sống với lẽ đời, tức là hợp với quy luật của tự nhiên và xã hội
Người Việt nhận thấy rằng, cả Nho – Phật – Đạo được ra đời đều là vì con người, và ứng với vai trò của chúng mà người Việt đã sử dụng kết hợp chúng với nhau, hòa quyện chung một cách hợp lý và sâu sắc trong văn hóa ứng xử của mình Chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu Hồ Liên khi bàn về vấn đề này, đó là “Mọi yếu tố ngoại lai khi tiếp hợp vào văn hóa của người Việt đều phải chấp nhận một cơ chế khúc xạ theo đó cuộc sống thực tại của con người là mục đích, cái thiêng liêng là phương tiện Cái thiêng liêng chỉ thiêng liêng vì cuộc sống thực tại của con người chứ không phải ngược lại cuộc sống thực tại là vì cái thiêng liêng” [95, tr.43]
Và như vậy, cả Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đều có một độ khúc xạ nhất định xuất phát từ sự tiếp biến có chọn lọc những cái phù hợp với văn hóa của người Việt Đến với Trần Tế Xương và Nguyễn Khuyến, hai gương mặt đại diện độc đáo cho thơ ca trung đại Việt Nam, người đọc sẽ thấy rõ được điều ấy
1.3 Các khái niệm
Trang 38Thuật ngữ văn hóa học được Wilhelm Ostwald một triết gia người Đức nhắc đến vào năm 1909, khi bàn về khái niệm văn hóa là gì, ông cho rằng “chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hóa” [56, tr.9] Như vậy, cho thấy văn hóa có sự gắn bó rất mật thiết với con người, nó cũng chính là sản phẩm được tạo ra trong những hoạt động của con người
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Edward Sapir Tylor đã xây dựng khái niệm văn hóa như là một di sản của lịch sử và xã hội Trong công trình Primitive
Culture (Văn hóa nguyên thủy), E.B Tylor đã định nghĩa rằng “Văn hóa hay văn
minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” [19, tr.13]
Theo Rô Den Jan đã định nghĩa trong Từ điển Triết học thì “Văn hóa là toàn
bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử, phát triển ” [33, tr.659]
F Kluckhohn đã cho rằng “văn hóa là hợp thể lối sống của nhân dân, là di
sản xã hội mà trong đó cá nhân thâu nhận nó từ bộ nhóm của mình” [96, tr.11]
Từ năm 1952, ông và nhà dân tộc học người Mỹ là Kroeber trong cuốn sách Văn
hóa, nhìn lại với con mắt phê phán các khái niệm và định nghĩa (Culture, a critical review of the concepts and definitions) đã hệ thống được gần hơn 300 định nghĩa
Trang 39về văn hóa của nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau Dù cùng xem văn hóa chính là kết quả của các hoạt động do con người tạo ra nhưng có người thì nhấn mạnh tính nhân văn, nhân bản; một số khác thì muốn nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa văn hóa (do con người tạo ra) với tự nhiên (do tạo hóa hình thành nên) Cụ thể, có thể chia khái niệm văn hóa thành 6 loại:
+ Các định nghĩa miêu tả: liệt kê tất cả những gì mà khái niệm văn hóa bao hàm
+ Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống
+ Các định nghĩa chuẩn mực: hướng vào quan niệm về lý tưởng và giá trị + Các định nghĩa tâm lý: nhấn mạnh lối ứng xử của con người
+ Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng tới tổ chức và cấu trúc của văn hóa + Các định nghĩa biến sinh: đi từ góc độ nguồn gốc của văn hóa
Ở phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc, khái niệm về văn hóa được thể hiện một cách khá khái quát Cụ thể : văn hóa vốn có nguồn gốc từ “Văn trị” (cai trị bằng văn) và “giáo hóa” (giáo dục để biến đổi) Từ thế kỷ thứ VI, học trò của Khổng Tử là Tuân Tử đã giải thích văn là “ngụy” Chữ “ngụy” được hiểu là dối, giả (theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu) Nguyên thủy của nó là cái do con người tạo ra chứ không phải của tự nhiên Vì lẽ đó, chữ “ngụy” được hình thành từ chữ “nhân” là người và chữ “vi” là làm Ngoài ra, “văn hóa” còn mang ý nghĩa là
sự biến cải, thay đổi làm cho đẹp ra Quan niệm về văn hóa này của người phương
Đông khác so với quan niệm văn hóa của người phương Tây “Nếu người phương
Tây thiên về ứng xử với tự nhiên thì người phương Đông thiên về ứng xử xã hội”
[89, tr.10]
Khi bàn về văn hóa, Federico Mayor Zaragza - Tổng giám đốc UNESSCO
nhận định “Văn hóa là tổng thể sống động, các hoạt động sáng tạo trong quá khứ
Trang 40và hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [90, tr.10]
Tại Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học Hà Nội in năm 2000) thì văn hóa khi xét về mặt tổng thể thì đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Đồng thời, đó là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa, xã hội là biểu hiện của văn minh
Quan niệm văn hóa, cách sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá trình lao
động và sinh hoạt, tác giả Đào Duy Anh đã cho rằng “Các điều kiện địa lý có ảnh
hưởng lớn đối với các sinh hoạt con người, song người là hạt giống hoạt động cho nên cũng trở lại cũng có thể dùng sức mình và xử trí và biến những điều kiện ấy cho thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển mà khiến cho văn hóa cũng biến chuyển theo” [1, tr.3]
Trong Bản sắc văn hóa dân tộc, Hồ Bá Thâm đã định nghĩa “Văn hóa là tổng
hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân – thiện – mỹ, do hoạt động của con người sáng tạo ra thông qua các phương thức tồn tại của đời sống xã hội và ngày càng phát triển Văn hóa là sự phát triển, tiến bộ là phát triển, tiến bộ là văn hóa” [76, tr.15]
Là một học giả thường được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về văn
hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm khi bàn về văn hóa đã nhận định rằng “Văn hóa là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [80, tr.20] Từ đó, ông đưa ra hệ thống
cấu trúc văn hóa gồm 4 tiểu hệ cơ bản:
Văn hóa có tính hệ thống: là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động xã hội