1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ ca hiện thực trào phúng nam kì lục tỉnh cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX (khảo sát qua thơ phan văn trị, huỳnh mẫn đạt, học lạc và nhiêu tâm)​

147 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phong trào yêu nước chống Pháp, văn học hiện thực trào phúng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang trong sự phát triển của nó một màu sắc riêng, có nội dung và nhịp điệu tương ứng với quá t

Trang 1

Trần Thị Cẩm Ly

THƠ CA HIỆN THỰC TRÀO PHÚNG

NAM KÌ LỤC TỈNH CUỐI THẾ KỈ XIX – ĐẦU THẾ KỈ XX

(KHẢO SÁT QUA THƠ PHAN VĂN TRỊ,

HUỲNH MẪN ĐẠT, HỌC LẠC VÀ NHIÊU TÂM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

Trần Thị Cẩm Ly

THƠ CA HIỆN THỰC TRÀO PHÚNG

NAM KÌ LỤC TỈNH CUỐI THẾ KỈ XIX – ĐẦU THẾ KỈ XX

(KHẢO SÁT QUA THƠ PHAN VĂN TRỊ,

HUỲNH MẪN ĐẠT, HỌC LẠC VÀ NHIÊU TÂM)

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

cứu có tính độc lập, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất kỳ một công trình nào khác Những kết quả nghiên cứu trong luận văn được sử dụng trung thực, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình

nghiên cứu liên quan đã được công bố trên các website

Tác giả luận văn

Trần Thị Cẩm Ly

Trang 4

phòng Sau đại học, các Thầy cô của thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cũng như thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến PGS TS Đoàn Thị Thu Vân - người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn và cảm thông, chia sẻ với chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn

bè – những người luôn động viên, khích lệ, hỗ trợ chúng tôi trên nhiều phương diện

Tác giả luận văn

Trần Thị Cẩm Ly

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 Nam Kì Lục Tỉnh – vùng đất mới – giao điểm hội tụ của các luồng văn hóa Đông – Tây 9

1.1.1 Quá trình hình thành Nam Kì Lục Tỉnh 9

1.1.2 Con người Nam Kì Lục Tỉnh 12

1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX 20

1.2.1 Thời kì sụp đổ của chế độ phong kiến Việt Nam 20

1.2.2 Nền bảo hộ của Pháp ở Nam Kì và kháng chiến của nhân dân 23

1.3 Văn học Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX 28

1.3.1 Văn học Hán Nôm 30

1.3.2 Văn học Quốc ngữ 34

1.4 Thơ trào phúng – tiếng nói cuối cùng của nền văn học trung đại 40

1.4.1 Khái niệm “trào phúng” 40

1.4.2 Thơ trào phúng 41

1.4.3 Bức tranh văn học hiện thực trào phúng cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX 43

1.5 Những nhà thơ hiện thực trào phúng đặc sắc đất Nam Kì 48

1.5.1 Phan Văn Trị (1830-1910) 49

1.5.2 Huỳnh Mẫn Đạt (1807 – 1883) 51

1.5.3 Học Lạc (1842-1915) 53

1.5.4 Nhiêu Tâm (1840 – 1911) 55

Trang 6

THẾ KỈ XX 58

2.1 Tiếng cười châm biếm, đả kích 58

2.1.1 Đả kích bọn thực dân Pháp 59

2.1.2 Đả kích giai cấp thống trị và bọn quan lại làm tay sai cho giặc 64

2.1.3 Đả kích những thói hư, tật xấu của xã hội 82

2.2 Tiếng cười hài hước, hóm hỉnh 93

2.2.1 Tiếng cười tự trào với cái nhìn lạc quan, đa chiều về cuộc sống 94

2.2.2 Tiếng cười quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày 99

Chương 3 NGHỆ THUẬT THƠ HIỆN THỰC TRÀO PHÚNG NAM KÌ LỤC TỈNH CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX 104

3.1 Thể loại, thủ pháp nghệ thuật và các biện pháp tu từ 104

3.1.1 Sự kết hợp giữa “yếu tố Nôm” và “Đường luật” trong thơ bát cú 104

3.1.2 Hình thức ngụ ý, hình ảnh ẩn dụ, thủ pháp đối lập 107

3.2 Ngôn ngữ quần chúng Nam Kì - nguồn của mọi nguồn 112

3.2.1 Ngôn ngữ giản dị nhưng điêu luyện, tài tình 112

3.2.2 Ngôn ngữ thô ráp, góc cạnh, không trau chuốt 122

3.3 Giọng điệu trào phúng 127

3.3.1 Giọng châm biếm, đả kích 127

3.3.2 Giọng bông đùa, hài hước 131

3.3.3 Sự kết hợp hài hòa giữa cái bi và cái hài 134

KẾT LUẬN 137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, đặc biệt là vùng Nam Kì Lục Tỉnh Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân ta còn được tiếp nhận luồng gió mới từ phương Tây thổi vào do những ảnh hưởng sâu sắc của chế độ thực dân trên vùng đất này Chính vào thời điểm đất nước có nhiều biến động đó đã sản sinh ra những nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc hàng đầu của nền văn học Thơ ca hiện thực trào phúng trở thành một sản phẩm tinh thần đặc sắc của giai đoạn mạt kì trung đại Thơ trào phúng thông qua sự quan sát cảm nhận của các tác giả Nam Kì Lục Tỉnh đã phần nào phản ánh chân thật hiện thực cuộc sống đương thời, đặc biệt là hiện thực tâm trạng của tầng lớp trí thức Các nhà nho trào phúng đã tìm được đề tài đắc địa đề bộc lộ cách nhìn, cách nghĩ mới về những vấn đề mang tính thời đại quốc gia Thơ trào phúng đến đây đã vượt qua giai đoạn tìm tiếng cười khôi hài trong những chuyện vặt vãnh để đi vào những vấn đề có nội dung chính trị xã hội, có ý nghĩa phê phán, đấu tranh rộng hơn Tiếng cười đã trở nên sắc bén, hiểm hóc và đa dạng, có hiệu quả phê phán cao hơn Tiếng cười trào phúng thế kỉ XIX

- đầu thế kỉ XX đã bổ sung sức mạnh cho văn thơ yêu nước cách mạng cũng như góp phần chuẩn bị nền móng vững chắc cho sự ra đời và phát triển của trào lưu văn xuôi hiện thực phê phán những năm 30, 40 của thế kỉ XX Việc tìm hiểu thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh giai đoạn này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn những nét đặc sắc của thơ ca Việt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ trung đại sang hiện đại nói chung và đặc điểm của thơ ca hiện thực trào phúng nói riêng

Văn học hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

là một bộ phận đặc biệt cả về ý nghĩa và lịch sử trong nền văn học Việt Nam Cá tính văn học hiện thực trào phúng của miền Nam Kì Lục Tỉnh là điều không thể phủ nhận bởi sức hấp dẫn của nó Vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấy trăm tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả, và đã để lại những vết son không phai mờ trong ký ức của nhiều người Thế nhưng nó vẫn chưa được tìm hiểu một cách hợp lý và xứng đáng Các công trình nghiên cứu về văn học giai đoạn này cũng như vùng văn hóa này còn rất hạn chế Nảy sinh từ thất bại của

Trang 8

phong trào yêu nước chống Pháp, văn học hiện thực trào phúng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX mang trong sự phát triển của nó một màu sắc riêng, có nội dung và nhịp điệu tương ứng với quá trình xâm lược quân sự, bảo hộ và khai thác thuộc địa của thực dân Có thể nói giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX là một giai đoạn đặc thù, với những đặc trưng và phẩm chất khác với lịch sử trước nó và sau nó Chính vì thế, nó làm nảy sinh

và phát triển một đội ngữ các nhà thơ mang phong cách, suy nghĩ rất riêng Do những đặc thù và phẩm chất đó nên việc nhận diện và khảo sát nó luôn là cần thiết Từ đó thấy được vai trò cùng những đóng góp to lớn của các nhà thơ trào phúng miền Nam cho nền văn học cả nước, nhìn thấy rõ nét một bức tranh sinh động về xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

Tìm hiểu về thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh là tìm hiểu con đường hình thành và phát triển tạo nên phong cách riêng, độc đáo trong thơ ca của các nhà thơ đất Nam Kì Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có tính hệ thống về nội dung và nghệ thuật tiếng cười trào phúng trong vùng văn học này

Vì vậy, công trình này mong muốn đưa đến một cách nhìn nhận mới, góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm thơ ca và tài năng của các nhà thơ trào phúng nổi bật đất Nam

Kì Lục Tỉnh giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX là Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm, giúp người đọc đến gần hơn với thơ ca hiện thực trào phúng của họ

Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Thơ ca hiện thực

trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX (khảo sát qua thơ Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm)”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Có thể nói, số lượng bài viết về thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh có

số lượng khá khiêm tốn Có ý kiến cho rằng văn học miền Nam không có những đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà Các nhà thơ của Nam Kì Lục Tỉnh giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX để lại một sự nghiệp cũng tương đối nhỏ, khó lòng để tìm hiểu một cách đầy đủ và rõ nét về con người và tư tưởng của họ Tuy nhiên, văn học Nam Kì Lục Tỉnh bao gồm các tác giả vô danh và hữu danh cùng với các tác phẩm lớn nhỏ đã tạo thành một bộ phận văn học sôi nổi, có nhiều đóng góp to lớn Theo sự

Trang 9

tìm tòi chưa đầy đủ của chúng tôi, tính cho đến thời điểm này đã có nhiều bài viết về văn học miền Nam nói chung và thơ ca hiện thực trào phúng cuối thế kỉ XIX – đầu thế

kỉ XX nói riêng ở nhiều thể loại: giới thiệu sách, giới thiệu chân dung nhà thơ, thảo luận, nghiên cứu, khảo cứu, phê bình

Thơ ca hiện thực trào phúng của các nhà thơ vùng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX như Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm đã tạo ra một không khí mới cho nền văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, trở thành đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình nhưng còn tương đối ít, những tài liệu về các tác giả này để lại không nhiều Theo tài liệu chúng tôi tìm được trên các trang báo điện tử, đã có những bài viết về cuộc đời và thơ ca của các nhà thơ hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, bàn luận ở nhiều khía cạnh khác nhau về những bài thơ đặc sắc của các nhà thơ trên Các bài viết tuy chưa khái quát hết tất cả các phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ ca hiện thực trào phúng của các nhà thơ Nam Kì Lục Tỉnh kể trên nhưng lại là những gợi dẫn quý báu cho hoạt động tiếp nhận của người đọc và cả hoạt động nghiên cứu, phê bình…về các tác giả này

Chúng tôi xin điểm qua những bài viết, các công trình nghiên cứu có giá trị đã đánh giá, nhìn nhận về nhiều vấn đề trong thơ ca hiện thực trào phúng của các nhà thơ vùng đất Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Các tác giả, nhà phê bình

đã dành rất nhiều tâm huyết nghiên cứu về văn học Nam Kì Lục Tỉnh cũng như các nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc Qua các bài viết, các công trình đó, có nhiều điều được phát hiện, được đánh giá nhận xét công phu Cụ thể là:

Bộ “Văn học miền Nam” của tác giả Võ Phiến, gồm 7 tập của Võ

Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù mắc một số hạn chế nhất định, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng: văn học Miền Nam từ năm 1954 đến 1975 Với ý nghĩa như thế, bộ

“Văn học miền Nam” của Võ Phiến, đặc biệt tập đầu, “Tổng quan”, đã được đón

nhận nồng nhiệt Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần

Trang 10

Công trình nghiên cứu “Văn học Miền Nam Lục Tỉnh” gồm 3 tập của

tác giả Nguyễn Văn Hầu Được thực hiện đầy nỗ lực trong thời gian ông lâm

bệnh nặng, bộ khảo cứu văn học này gồm ba quyển: Miền Nam và văn học dân

gian địa phương; Văn học Hán Nôm thời khai mở và xây dựng đất mới; Văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp Đây là công trình không thể thiếu đối

với giới nghiên cứu và người đọc muốn hiểu sâu về những nền tảng làm nên văn hoá, văn học Nam Kì Lục Tỉnh

“Phan Văn Trị - Cuộc đời và tác phẩm”, Nguyễn Văn Thuần – Nguyễn

Quảng Tuân, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu gồm hai phần chính: I Phan Văn Trị nhà thơ yêu nước; và II Thơ Phan Văn Trị Phải nói rằng hai tác giả có cố gắng và nhiệt tình đi sâu vào đề tài nghiên cứu Phan Văn Trị dù vẫn còn nhiều sai sót cần đính chính, bổ sung

“Những danh sĩ miền Nam”, Hồ Sĩ Hiệp – Hoài Anh, Nxb Tổng Hợp

Tiền Giang 1990, viết về cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân văn hoá miền Nam từ lúc hình thành vùng đất Đàng Trong, thế kỷ 17 cho đến khi thực dân Pháp đặt ách thống trị Những danh sĩ này, người thì mang lại ánh sáng văn hoá

và giáo dục, người thì xây dựng những sáng tác văn học, công trình nghiên cứu lịch sử, địa dư, kinh tế, xã hội, người thì dùng ngọn bút để chiến đấu trực diện với bọn thực dân Pháp khi chúng đặt chân xâm lược đất Nam Kì

“Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến 1945”, Văn Tân,

Nxb Khoa Học Xã Hội Công trình gồm 9 chương, có giá trị rất lớn đối với những người nghiên cứu văn học, học tập và đông đảo bạn đọc ngày nay

Các tác phẩm viết về miền Nam của tác giả Sơn Nam: “Lịch sử khẩn

hoang miền Nam”; “Nói về miền Nam, cá tính miền Nam và thuần phong mĩ tục Việt Nam”; “Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam”, Ông đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn nên được nhiều người gọi yêu là "ông già Nam Bộ", "ông già đi bộ’, "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học" Toàn bộ các sáng tác của ông được Nhà xuất bản Trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh mua bản

Trang 11

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều điều chưa được làm rõ, thậm chí mới chỉ

ở dưới dạng giới thiệu, tản mạn,… Đặc biệt là việc nghiên cứu về mặt nội dung và nghệ thuật của tiếng cười trào phúng trong thơ ca hiện thực trào phúng của các nhà thơ Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX vẫn chưa được quan tâm thích đáng Tuy vậy các quan điểm, ý tưởng từ các bài viết đi trước lại là những gợi ý quý giá để chúng tôi mạnh dạn đưa ra những kiến giải riêng với hy vọng góp một cách nhìn đầy đủ hơn, tiếp tục đi sâu hơn trong việc nghiên cứu thơ ca hiện thực trào phúng của các nhà thơ Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, góp phần khẳng định những đóng góp của dòng văn học hiện thực trào phúng và các nhà thơ trào phúng của Nam Kì Lục Tỉnh cho nền văn học miền Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ ca trào phúng mang giá trị hiện thực của các nhà thơ miền Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chú trọng đến thơ ca của bốn tác giả tiêu biểu là Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài “Thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối

thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX (khảo sát qua thơ Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm)”, luận văn khảo sát các công trình sưu tập, những bài viết về

thơ ca hiện thực trào phúng của các tác giả có uy tín trong nước như:

Thơ văn trào phúng Việt Nam (Phần văn viết từ thế kỉ XIII – 1945), Vũ

Ngọc Khanh, Nxb Văn Học (Hà Nội – 1974)

Phan Văn Trị - Cuộc đời và tác phẩm, Nguyễn Văn Thuần – Nguyễn

Quảng Tuân, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh

Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến 1945, Văn Tân, Nxb Khoa

học Xã hội

Thơ ca trào phúng Việt Nam, Bùi Quang Huy, Nxb Đồng Nai (1996)

Trang 12

Đồng thời xem xét, nghiên cứu kĩ lưỡng các công trình “Văn học miền Nam” của tác giả Võ Phiến, “Văn học Miền Nam Lục Tỉnh” gồm 3 tập của tác giả Nguyễn Văn

Hầu – nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, văn hóa và lịch sử Việt Nam, đặc biệt là những nghiên cứu gắn với vùng đất Nam Kì, để thấy được hết bề dày lịch sử cùng sự phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam nói chung và văn học miền Nam nói riêng Ngoài ra, luận văn còn tham khảo thêm một số bài đánh giá và một số bài tiểu luận về thơ ca hiện thực trào phúng cùng những bài nghiên cứu về văn học Nam Kì Lục Tỉnh được đăng trên các báo, tạp chí của các tác giả trong và ngoài nước

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:

 Đưa đến cái nhìn khái quát về nền văn học hiện thực trào phúng của vùng Nam Kì Lục Tỉnh giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

 Làm rõ nội dung hiện thực trào phúng trong thơ ca Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

 Phân tích những nét đặc sắc của nghệ thuật hiện thực trào phúng thơ ca Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu và triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích những đặc điểm của thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX có chứng cứ cụ thể Đồng thời nó còn giúp cho việc so sánh, đối chiếu các vấn đề dễ dàng và có sức thuyết phục cao hơn

5.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Nhằm phát hiện những nét độc đáo riêng biệt của thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX so với các giai đoạn khác cũng như

sự độc đáo, riêng biệt của từng nhà thơ được khảo sát Đặc biệt là nhìn ra được những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của thơ ca hiện thực trào phúng so với các dòng văn học khác

Trang 13

5.3 Phương pháp hệ thống – cấu trúc

Nghiên cứu về thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX nhất thiết phải đặt nó vào một hệ thống nhất định để có được một cái nhìn đầy đủ, rành mạch, cho thấy được quá trình phát triển của nền văn học Việt Nam nói chung và của văn học miền Nam nói riêng

5.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Để làm rõ những nét độc đáo cả về nội dung và nghệ thuật của thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX và có cái nhìn khái quát

về quá trình phát triển của thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh Phân tích cụ thể đặc trưng của từng nhà thơ được khảo sát cũng như tổng hợp để tìm ra những nét chung của các nhà thơ hiện thực trào phúng được nhắc đến Từ đó có cơ sở nêu những nét khái quát về thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX

5.5 Phương pháp tiếp cận nguồn gốc lịch sử

Mỗi giai đoạn lịch sử của xã hội đều ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Văn học là sự phản ánh chân thực đời sống xã hội Chính vì vậy, khi nghiên cứu về thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX cần chú ý đến bối cảnh lịch sử để có cái nhìn đa chiều, sâu sắc và chính xác hơn về giá trị của văn học trong giai đoạn này

6 Đóng góp của luận văn

Thông qua việc tìm hiểu đề tài “Thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục

Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX (khảo sát qua thơ Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm)”, chúng tôi mong muốn thể hiện một cách nhìn

toàn diện và có hệ thống về nội dung và nghệ thuật trong thơ ca hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh để thấy được vai trò và giá trị của nó trong nền văn học Việt Nam Qua đó thấy được sức mạnh của tiếng cười trào phúng trong việc phản ánh hiện thực

xã hội buổi giao thời ở miền Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Đồng thời, thông qua đề tài này, chúng tôi cũng mong muốn cung cấp những thông tin có giá trị về thân thế, sự nghiệp cũng như những nét độc đáo trong nội dung

và nghệ thuật của các tác phẩm thơ ca hiện thực trào phúng của những nhà thơ trào

Trang 14

phúng xuất sắc ở Nam Kì Lục Tỉnh giai đoạn này là Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc và Nhiêu Tâm Từ đó có được những gợi ý thích đáng, những kiến thức bổ ích giúp người đọc dễ dàng khám phá và đến gần, yêu mến hơn với thơ ca hiện thực trào phúng của những tác giả này

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn

được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương này đưa đến cái nhìn khái quát về lịch sử và nền văn học Nam Kì Lục Tỉnh cũng như một số nét tiêu biểu về các nhà thơ trào phúng đất Nam Kì giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

Chương 2: Nội dung hiện thực trào phúng trong thơ ca Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

Chương này phân tích để làm rõ nội dung hiện thực trào phúng trong thơ ca Nam

Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

Chương 3: Nghệ thuật thơ hiện thực trào phúng Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế

kỉ XIX – đầu thế kỉ XX

Chương này đi vào phân tích những nét đặc sắc của nghệ thuật hiện thực trào phúng thơ ca Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nam Kì Lục Tỉnh – vùng đất mới – giao điểm hội tụ của các luồng văn hóa Đông – Tây

1.1.1 Quá trình hình thành Nam Kì Lục Tỉnh

Vùng đất Nam Kì Lục Tỉnh (trước đây gọi là Đồng Nai - Gia Định) đã được khai phá từ rất lâu đời Con người có mặt và bắt đầu khai phá vùng đất này đã xuất hiện cách nay khoảng 2500 đến 4000 năm Theo kết quả khảo cổ học, hồi ấy phần lớn đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn chìm dưới nước Đến thế kỉ thứ V trước Công nguyên, vùng đồng bằng này mới bắt đầu nổi lên, các vịnh biển được lấp đầy dần cùng với sự rút lui của nước biển, để lộ ra một vùng đất hoang vu nhưng đầy tiềm năng để phát triển về sau này Nơi đây chỉ toàn là rừng rậm hoang vu, sình lầy, nước đọng còn nhiều thú dữ: cọp, beo, voi, heo rừng, cá sấu, rắn,… đất Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn còn là một vùng đất hoang vu với những bụi rậm của khu rừng thấp tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi… những cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẫy, hàng trăm hàng ngàn con trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm… Cuộc sống hoàn toàn hoang dã Suốt hơn 600 năm sống chung với

lũ, những cư dân đầu tiên của vùng châu thổ này đã dũng mãnh và tài năng tạo dựng nên nền văn hóa Óc Eo mà lịch sử sau này không thôi ca ngợi là nền văn minh phát triển sớm nhất và rực rỡ nhất Đông Nam Á Sau trận biển tiến xảy ra vào thế kỉ VI, toàn bộ vùng châu thổ chìm trong nước biển và bị lãng quên Phải đến thế kỉ XIII, tộc người Khmer của nước Chân Lạp mới bắt đầu có mặt nơi đây và vực dậy tiềm năng của vùng đất này tạo nên sự thịnh đạt của đế chế Ăng – Co cổ và trải qua mấy trăm năm tồn tại của vương quốc Chân Lạp Do điều kiện tự nhiên khó khăn, quá trình chinh phục vùng đất phía nam này của những lớp cư dân đến trước tiến triển rất chậm chạp

Đến thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Cuộc nội chiến bất phân thắng bại giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn kéo dài gần hai thế kỉ với những trận đánh ác liệt đã khiến cho dân chúng vào cảnh lầm than

Để phục vụ cho những nhu cầu của cuộc chiến tranh giành quyền lực ấy cũng như để

Trang 16

thỏa mãn lối sống xa hoa, trụy lạc của mình, các tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn

đã thi nhau vơ vét của cải, nhân lực của dân chúng, tạo nên cảnh đói rét khắp nơi trong nhân dân Trước sự bóc lột, vơ vét của bọn phong kiến ở xứ Đàng Trong, nhân dân chỉ

có hai con đường để lựa chọn: một là đứng lên chống lại, hai là rời bỏ quê hương xứ

sở để đi tìm đất sống Những người đó đã băng đèo lội suối, vượt mọi nguy nan để tìm đến vùng đất xa xôi và hoang vu ở lưu vực sông Đồng Nai – Cửu Long

Chiến tranh dai dẳng gieo tai họa cho nhân dân không kể xiết cả ở Đàng Trong

và Đàng Ngoài Nhân dân Đàng Trong sống ở vùng đất đai chật hẹp giữa dãy Trường Sơn và biển Đông, đồng ruộng ít lại kém màu mỡ, quanh năm nắng gió, thiên tai lũ lụt bủa vây, cộng thêm thiên tai, mất mùa, bệnh dịch, cuộc sống không đủ no lại còn phải phục dịch chiến tranh kéo dài về tiền của cũng như con người vô cùng khốn khổ

Vì sinh kế, muốn lánh xa nơi chiến tuyến, lánh nạn đi phu, đi lính, nhân dân Đàng Trong tìm cách trèo đèo, vượt biển, lội suối, băng rừng đi vào đất Chân Lạp vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay) và vùng Đồng Nai làm ăn, tìm nơi đất rộng, người thưa, đất hoang còn nhiều, khai phá những vùng đất màu mỡ Tiếng lành đồn xa, những người làm ăn khá truyền tai nhau làm tăng thêm dân số cho vùng đất này Lúc này, chúa Nguyễn đã chiếm đất Chiêm Thành Như vậy, lớp người đầu tiên tiến vào vùng Đồng Nai – Cửu Long để kiếm sống và an thân trước hết là những người nông dân Trung, Bắc vì bị bóc lột và áp bức mà bần cùng lưu tán, đồng thời cũng để tránh cuộc phân tranh đẫm máu

Từ thế kỉ XVI, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc do sự can thiệp của Xiêm

và dần bước vào thời kì suy vong, không có điều kiện quan tâm đến vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam và trên thực tế đã không

đủ sức quản lý vùng đất này Trong bối cảnh đó nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng

đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang lập làng sinh sống

Năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả công nữ Ngọc Vạn cho quốc vương của Chân Lạp là Chey Chatta II làm hoàng hậu của vương triều Chân Lạp Chính vì vậy, lưu dân Việt đã theo chân Ngọc Vạn công nữ vào Nam lập nghiệp càng ngày đông Về phương diện ngoại giao, cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn với vua

Trang 17

Chey Chetta II là bước mở đầu cho mối liên hệ ngoại giao giữa hai dân tộc Việt - Khmer Về phương diện xã hội nó cũng được xem như là một sự mở đầu cho công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam của dân tộc Việt Đối với Chân Lạp, việc kết thân với chúa Nguyễn là để dựa vào lực lượng quân sự của người Việt lúc này đang rất mạnh nhằm làm giảm sức ép từ phía Xiêm

Năm 1623, chúa Nguyễn bấy giờ là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần mượn đất vua Chân Lạp để làm nơi thu thuế quan (ở Prei Nokor (tức Sài Gòn) và khu dinh điền Mô Xoài (tức Bà Rịa)), đánh dấu sự can thiệp đầu tiên của chúa Nguyễn vào nội trị của nước Chân Lạp Khi Chân Lạp xảy ra sự kiện tranh giành ngôi báu, dòng chính thống xin chúa Nguyễn viện trợ Chúa Nguyễn sai 3000 quân vào giúp đỡ bắt được vua là Nặc Ông Chân đem về giam ở Quảng Bình sau thả về nước, bắt phải cống triều thường niên và ra điều kiện phải bênh vực người Việt sang làm ăn sinh sống Từ đó, uy thế của chúa Nguyễn tăng lên Là người có tầm nhìn xa trông rộng, chúa Nguyễn đã chú ý

để mắt đến vùng đất này với mong muốn tăng cường khả năng của mình trong hoàn cảnh chiến tranh với Đàng Ngoài đang diễn ra Vì thế, chúa Nguyễn sai người từ Quảng Bình đến Bình Thuận vào khai thác vùng đất mới này

Trong lịch sử khai thác đất Đồng Nai, phần đóng góp của người Hoa ở đây rất quan trọng Năm 1697, một nhóm quan binh ở Quảng Tây sau thời gian chiến đấu chống lại chế độ của nhà Mãn Thanh không có kết quả đã cùng gia đình gồm 9000 người nhất quyết không thần phục nhà Thanh chạy sang Quảng Nam xin phục tùng chúa Nguyễn Hiền Vương thấy lực lượng to lớn ấy ở trong nội bộ đất của mình không lợi, cũng vừa lúc đang có ý định khai thác vùng đất Chân Lạp nên đã nói với vua Chân Lạp cho lực lượng Hoa kiều ấy theo thuyền vào sống nhờ trên vùng đất phía nam Chúa Nguyễn khôn khéo ngoại giao đã làm một việc mà nhằm vào hai điều lợi: vừa tránh nạn nuôi ong tay áo, vừa triển khai công việc khai thác đất mới một cách dễ dàng

Đất lành chim đậu, những con người di dân từ miền Bắc và Trung cùng với các thành phần khác đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, gặp được vùng đất mới, phì nhiêu cộng với khí hậu thuận hòa, địa hình thuận lợi, bằng phẳng, hệ thống sông rạch chằng chịt, nên định cư ngày càng đông Chính sự cần cù, nhẫn nại và óc sáng tạo

Trang 18

không ngừng của những bậc tiền nhân đã biến vùng đất hoang vu, đầy sình lầy thành vùng màu mỡ, trù phú Cộng đồng nơi đây đã tổ chức cuộc sống trong tinh thần tương thân tương ái, tạo nên những vùng cư trú ổn định, phát triển vững bền Cuộc sống cộng đồng xã hội bắt đầu thành hình và ngày càng phát triển rực rỡ, là nơi quy tụ của rất nhiều dân tộc

Như vậy, lịch sử hình thành và phát triển Nam Kì Lục Tỉnh là lịch sử của gần

400 năm gian khổ khẩn hoang lập làng của những nhóm lưu dân từ Đàng Trong cũng như miền Bắc vượt đèo lội suối xuôi vào Nam, của những nhóm lưu dân Trung Hoa bài Mãn, phục Minh và sự cộng cư của các thổ dân bản địa đã sinh sống từ lâu đời Sự hình thành và phát triển ấy tóm lại được tác động bởi ba yếu tố chính trị: sự tan rã của chính quyền Cao Miên, nhu cầu của một cuộc nội chiến của hai dòng họ ở nước ta, và

sự đô hộ của Pháp Nam Kì Lục Tỉnh là vùng đất mới trải dài từ miền nam Phan Thiết đến mũi Cà Mau, mang nhiều sắc thái đặc thù mà từ văn hóa đến tâm tình lẫn tâm tính

có nhiều khác biệt với tổ tiên của họ ở Đàng Ngoài

1.1.2 Con người Nam Kì Lục Tỉnh

Gần 300 năm nay, Nam Kì luôn là vùng đất có sức hút mạnh mẽ đối với dân cư của cả nước Con người đến với vùng đất này đã tôn tạo cho mình những giá trị đặc sắc về văn hóa, lịch sử Trong quá trình khai phá vùng đất mới, họ đã thích nghi với điều kiện của cuộc sống, đồng thời với nó, họ cải biên, sửa đổi, làm cho thiên nhiên quy phục mình Từ đó, hình thành nên những đặc điểm riêng, những nét tính cách rất riêng của con người vùng đất Nam Kì Lục Tỉnh Con người nơi đây mang những đặc trưng không thể hòa lẫn với những vùng khác của tổ quốc

a Các thành phần dân cư

Từ thế kỉ XVII, trên vùng đất Nam Kì cũng như vùng châu thổ sông Cửu Long bắt đầu xuất hiện những lớp cư dân mới Lớp người tiên phong tiến vào vùng Nam Kì Lục Tỉnh để kiếm sống và an phận thủ thường đó là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khó lâm vào bước đường cùng của miền Trung vì bị bóc lột và áp bức nặng nề mà phải rời bỏ quê hương làng mạc, đồng thời cũng là để tránh cuộc phân tranh đẫm máu giữa hai dòng họ Trịnh, Nguyễn Số người này chiếm số lượng đông đảo nhất và cũng là lực lượng di cư chủ yếu trong thời kì đầu hình thành xứ sở Tiến

Trang 19

trình nhập cư của người Việt từ ngoài Bắc và Trung vào đất Đồng Nai – Gia Định diễn

ra liên tục với mức độ ngày càng gay gắt của cuộc nội chiến phân tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn cũng như của mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân Tiến trình nhập cư này có lúc ồ ạt, có lúc lẻ tẻ

Từ cuối thế kỉ XVII trở về sau, họ Nguyễn xây dựng và cũng cố chính quyền, lần luợt xác lập quyền cai trị của mình lên vùng đất mới Lúc này, các chúa Nguyễn chủ trương chiêu mộ lưu dân vào Nam khai hoang Lực lượng di cư được bổ sung thêm bằng những thành phần khác Đó là những người có tiền của, có quyền thế nên đã chiêu mộ dân nghèo ở miền Trung đi vào Nam khẩn hoang vỡ đất theo lời kêu gọi của chính quyền Thứ nữa là những lính tráng cùng với những tội đồ bị triều đình bắt buộc phải vào vùng đất lúc bấy giờ vẫn còn hoang dã với rừng rậm, đầm lầy, thú dữ, rắn rết, chứa đầy hiểm nguy để vừa bảo vệ biên cương, giữ gìn an ninh, vửa mở ruộng, lập vườn chung quanh điểm quân sự, phát triển kinh tế

Trong lớp người di cư đến vùng đất Nam Kì cuối thế kỉ XVII còn có một lực lượng đông đảo người Hoa từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (Trung Quốc) mà phần đông là quan quân nhà Minh không chịu khuất phục triều đình Mãn Thanh nên đã kéo đến Việt Nam xin chúa Nguyễn cho tị nạn và làm ăn sinh sống Nhóm người Hoa này chia làm hai nhóm nhỏ: nhóm do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu có khoảng 3000 người đến Mỹ Tho và Biên Hòa; nhóm do Mạc Cửu thống lĩnh có khoảng 200 người đến Hà Tiên Từ thế kỉ XVII trở về sau lần lượt nhiều người dân nghèo thuộc các tỉnh ven bờ biển đông nam Trung Quốc cũng đã dắt díu nhau nhập cư vào đồng bằng sông Cửu Long làm ăn sinh sống ngày càng đông hơn Giữa thế kỉ XVIII có thêm một số lượng lớn người Chăm vốn là những người tản

cư lên Chân Lạp cuối thế kỉ XVII để tránh chiến tranh thì nay lại chuyển về định cư ở vùng núi Bà Đen

Ngoài ba thành phần người Việt, người Hoa và người Chăm là thành phần dân cư chính vừa kể trên, trong lớp dân cư mới xuất hiện ở đất Nam Kì trong các thế kỉ XVII, XVIII còn có một số người đến từ các quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Ma Cao,

Giava, Ấn Độ, Họ sống lẫn lộn vào nhau, nhưng về y phục, khí cụ thì người nước nào

theo tục nước ấy

Trang 20

Mỗi dân tộc đều có một sắc thái văn hóa riêng của mình, cống hiến phong phú cho văn hóa chung của khu vực Có thể nói, Nam Kì là vùng đất có văn hóa phong phú nhất cả nước Chẳng hạn, người Khơ Me cư trú đông đảo trong các phum, sóc trên những giồng đất cao ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, làm ruộng rẫy, theo Phật giao tiểu thừa với những hình thức ca múa độc đáo Người Chăm ở Châu Đốc phần đông sống bằng buôn bán nhỏ, theo đạo Hồi với các phong tục rất riêng Người Hoa làm nghề buôn bán, thủ công nghiệp, làm vườn gắn với việc gìn giữ trong cộng đồng của mình những điệu hát Tiều, Quảng, múa lân, và những tập tục thờ quan Đế, ông Bổn, Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều dân tộc, từ nhiều địa phương đến, với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển kinh tế xã hội như vậy nhưng lại không hề là yếu tố cản trở sự đoàn kết gắn bó của cộng đồng cùng sinh sống trên vùng Nam Kì

Như vậy cho đến cuối thế kỉ XVIII, lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt tại miền Bắc và miền Trung đã di cư và đặt chân đến nhiều nơi trên vùng đất Nam Kì Địa điểm định cư và khai khẩn phân bố chưa đồng đều do điều kiện thiên nhiên khác nhau

ở các vùng Sang thế kỉ XIX, dân số đã tăng lên rất nhiều do sinh đẻ tự nhiên và lưu dân các miền khác tiếp tục nhập cư khai khẩn theo sự vận động của triều Nguyễn Vì vậy, những vùng đất trước đây hoang vắng thì nay lần lượt có người khai phá Các trung tâm định cư được hình thành ven sông Đồng Nai, vùng sông Tiền, sông Hậu nối liền thành một dải rộng lớn, liên tiếp hình thành nên một vùng đất với nhiều thành phần dân cư Đây là điều đáng chú ý của Nam Kì so với các vùng đất còn lại của đất nước

b Tính cách đặc trưng của con người

 Can trường, gan góc, ngang tàng

Vùng đất mới còn hoang sơ, là nơi rừng thiêng nước độc, hùm beo, rắn rết đầy rẫy, nó vừa khơi dậy tiềm năng khai thác dồi dào vừa là một thách thức nghiệt ngã đối với những con người phải dấn thân Như đã trình bày ở phần trên, những lưu dân Việt khi vào đất Nam Kì vốn là những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ trốn lính, tù tội do cuộc sống nghèo khổ, bức bách phải rời bỏ quê hương làng mạc dù muốn hay không muốn Tuy nhiên, họ cũng là những con người có đầu óc phiêu lưu mạo hiểm,

Trang 21

dám chấp nhận nguy hiểm, coi nhẹ tính mạng, thích sống ngang tàng, dám đương đầu với thử thách, khó khăn, muốn phá bỏ mọi lề thói ràng buộc nên đã chọn vùng đất mới

để an cư lạc nghiệp Cũng có thể do hoàn cảnh xô đẩy khiến họ không có sự lựa chọn nào nên đành phải “liều”, nhưng dù thế nào cũng có thể dễ dàng nhận thấy, chính việc

mở mang vùng đất mới đã tôi luyện cho họ trở thành những con người can trường, gan góc, không chịu lùi bước trước những trở ngại của thiên tai địch họa

Để có được những mảnh đất màu mỡ những lưu dân đã phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt khắc phục muôn vàn khó khăn trong nhiều năm tháng Đất Nam Kì vào thế kỉ XVII, XVIII là rừng hoang cỏ rậm, trũng thấp, sình lầy nên những lưu dân ở đây ngoài việc đương đầu với những khắc nghiệt của thiên nhiên, còn phài đối măt với các loài thú dữ, cá sấu, muỗi mòng, rắn rết cùng nhiều thứ bệnh tật hiểm ác khác Những con người đến đây phải chấp nhận mạo hiểm, đó là những con người bị buộc phải liều mạng, vì thế, họ coi tính mạng nhẹ tựa lông hồng, tỏ ra dũng cảm, gan góc, không nề

hà nguy hiểm, khó khăn Đây cũng là đức tính mà việc khai phá vùng đất mới đào luyện nên

Cảnh tượng ban đầu ấy trực tiếp tác động vào tâm tư, tình cảm của những con người mới, thể hiện rất sinh động trong những câu ca dao, dân ca Nam Kì khi xưa:

Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây

Hay:

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um

Khi người còn thưa thớt, xung quanh là những bầy thú rừng, cảnh u tịch hoang

dã, con người không thể tránh khỏi những cảm giác kinh hãi, ghê sợ trước cảnh vật còn hết sức xa lạ với mình:

Trang 22

Hay:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn

Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

Đó chính là những điều dễ dàng tìm thấy ở thiên nhiên đầy bí ẩn của Nam Kì buổi đầu khai hoang mở cõi Dù chứa đựng rất nhiều yếu tố thuận lợi nhưng nó cũng bày ra trước mắt con người vô vàn những khó khăn không dễ vượt qua Vì thế, những con người nơi đây đã được tôi luyện thành những con người gan góc, mạnh mẽ, không chịu lùi bước trước những trở ngại thiên nhiên ấy cũng như không chịu luồn cúi trước sức mạnh phi nghĩa sau này:

Trời sanh cây cứng lá dai

Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều

 Đoàn kết, tương trợ

Không phải thiên nhiên hào phóng dành cho những cư dân mới mọi thứ cần thiết cho cuộc sống Những người khai phá vùng Nam Kì không được may mắn kế thừa di sản vật chất của cha ông để lại Từ môi trường hoang dã họ đã bắt đầu cái mới, tự bản thân họ phải phấn đấu rất cam go để cải tạo thiên nhiên Nó là một cuộc chiến đấu cực

kì gian khổ từ việc chống lại thú dữ cho đến khắc phục bệnh tật, đối phó với các hiện tượng thiên nhiên mà con người chưa thể lí giải, chưa thể nắm bắt được quy luật Cuộc chiến này đòi hỏi một tinh thần kiên trì và một ý thức đoàn kết rộng rãi trong cộng đồng dân cư mới để tạo ra sức mạnh cộng đồng, chiến thắng thiên nhiên, làm chủ vùng đất đầy tiềm năng Chính khí hậu khắc nghiệt, đầy rẫy thú dữ, rắn rết, muỗi mòng, và

vô số những hiểm nguy chờ chực nên những người lưu dân không thể sống đơn độc

Là những người đi tiên phong trong công cuộc khai hoang mở đất vùng Nam Kì, người dân ở đây là những con người dũng cảm, dám chấp nhận và đương đầu với khó khăn thử thách Tuy nhiên, sức mạnh của cộng đồng là một điều vô cùng quan trọng Trước đây, họ đã từng sống với nhau trong thôn bản, làng xóm thì nay, họ vẫn giữ ý thức cộng đồng, tương thân tương ái Họ nhanh chóng kết thành chòm xóm để dựa vào nhau mà làm ăn sinh sống, đoàn kết chung tay chống lại những khó khăn, trắc trở nơi đất mới Trừ một ít người có tiền của, quyền thế chiêu mộ dân nghèo đi khẩn hoang để làm giàu thêm cho mình, những người dân nghèo đi vào đây là những người liều mình

Trang 23

đi tìm đất sống nên cùng với truyền thống ngàn đời “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” của dân tộc, nơi đây họ lại càng yêu thương, đùm bọc nhau, giúp nhau tạo dựng cuộc sống, kết nghĩa với nhau thề nguyền sống chết, thương yêu nhau một cách lạ lùng

 Trọng nghĩa, khinh tài

Người Nam Kì là những người từ nơi bất công, vốn đã xa lánh sự bất công, đàn áp nên họ rất nhạy với điều trái đạo lí, trái lương tâm, ủng hộ những người hào hiệp Là những con người lâm vào bế tắc, đi tìm con đường sống nơi miền xa đất lạ, tìm cái sống trong muôn vàn cái chết đang chờ sẵn cho nên con người vùng đất mới này rất chuộng nghĩa khí, quý trọng tình cảm hơn vật chất, coi khinh tiền tài như cỏ rác ven đường mà trọng tình cảm, trọng nghĩa khí Họ có quan niệm rõ ràng về cuộc sống: tiền tài, danh lợi, giàu sang, phú quý cũng như một đám mây bay, cuộc đời chỉ có: nhân, nghĩa và đạo đức làm trọng Ta thấy nổi bật lên ở những con người ấy là tính cách rất Nam Kì: trọng nghĩa, khinh tài, hào hiệp nghĩa khí, sống rất điệu nghệ, sẵn sàng bất chấp hiểm nguy để làm tròn đạo nghĩa:

Dấn mình vô chốn chông gai

Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân

Lao xao song bủa dưới lùm, Thò tay với bạn chết chìm cũng ưng

Những tính cách này do đặc tính của vùng đất tạo nên Vùng đất Lục Tỉnh thời khẩn hoang với thiên nhiên hoang vu, khắc nghiệt khiến con người phải biết đoàn kết, tương trợ lẫn nhau Điều đó lí giải cho sự xuất hiện tinh thần đầy nghĩa khí của người dân nơi đây

Thấy việc nghĩa, việc chướng tai gai mắt mà không ra tay cứu giúp là kẻ xấu xa, không anh hùng Vì thế, những kẻ bất nhân, bất nghĩa khó có thể tồn tại trên vùng đất này Bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ kẻ sa cơ lỡ vận, chống lại cường hào, ác bá, đấu tranh với việc bất nhân bất nghĩa, các thế lực phi nghĩa là những việc nghĩa mà người Nam

Kì Lục Tỉnh sẵn sàng lăn xả Trong một cộng đồng nhỏ, mọi người trước lạ sau quen tạo thành một đại gia đình quần tụ với nhau, do đó họ phải cư xử với nhau bằng tình

Trang 24

nghĩa Những hành động bất tín, bất nghĩa sẽ đưa đến một hình phạt nhục nhã là bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, phải bỏ xứ mà đi

 Bộc trực, thẳng thắn

Trong nếp sống, cách suy nghĩ và nói năng của người Nam Kì Lục Tỉnh, chúng

ta còn thấy một đặc trưng rất nổi bật nữa đó là sự bộc trực, thẳng thắn, ít rào trước đón

sau, ít văn chương hoa mỹ mà chân chất, thật thà, nghĩ sao nói vậy, “nói thẳng ruột

ngựa”, không thích che đậy giấu giếm, “ruột để ngoài da”

Điều này có nguyên nhân của nó Những con người đầu tiên đặt chân đến Nam

Kì phần lớn là những người nông dân chân lấm tay bùn, những người lính, thợ thủ công Quanh năm vất vả, bán mặt cho đất bán lưng cho trời vẫn cứ nghèo khổ, lại thêm chiến tranh liên miên nên cái chữ cái nghĩa của họ không có, hoặc có cũng rất ít ỏi Khi vào vùng đất mới, công việc đầu tiên là dồn mọi công sức để giành giật miếng cơm manh áo, chống lại thiên tai, địch họa, hiểm nguy từ môi trường sinh sống Đồng thời, giai cấp phong kiến lãnh đạo trước đó cũng như chính quyền thực dân sau này cũng không hề chú trọng việc mở trường, truyền bá văn hóa cho nhân dân Điều này góp phần hình thành nên tính cách của nhiều thế hệ người dân Nam Kì, trước sau, họ vẫn chỉ là những người nông dân chất phác, ít học, nói năng bộc trực, mộc mạc mà

không hề rào trước đón sau, có sao nói vậy, khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém

thủ đoạn, giận thì nói ngay, có khi hung hăng, nhưng rồi cơn giận cuốn đi theo sông nước, đồng ruộng bao la

Nét tính cách này trải qua bao thế hệ, là điểm nhấn trong quan hệ giữa người với người trên vùng đất Nam Kì Khi nói chuyện với nhau, họ luôn vui vẻ, tạo cảm giác thân thiện, gần gũi không câu nệ ngôi thứ, giai cấp Chuyện tốt, đúng đắn thì tiếp thu tích cực còn những đều chướng tai gai mắt, bất bình, không vừa ý thì sắn sàng đốp

chát, nói ngay mà không hề vòng vo, sợ mất lòng người nói

 Phóng khoáng, cởi mở, hiếu khách

Một đặc trưng tính cách nữa rất dễ nhìn ra ở những con người trên vùng đất Lục Tỉnh là tính phóng khoáng, cởi mở và vô cùng hiếu khách Người dân nơi đây không

hề có sự câu nệ, chấp nhặt, cố chấp Họ không thích sự ràng buộc trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, cả vật chất lẫn tinh thần Lí tưởng của họ không bị bó hẹp trong

Trang 25

những gian nhà, sân gạch, hàng tre Họ là những con người dám vượt mọi hiểm nguy

để ra đi tìm đến vùng đất mới với hi vọng cuộc sống tươi sáng hơn Vì thế, họ sẳn sàng

bỏ lại mồ mả tổ tiên, quê cha đất tổ, quê hương bản quán để tìm cho mình một nơi có thể sống một cuộc đời tự do, thoải mái, khoáng đạt

Sự cộng cư giữa người Việt với người Tàu và người Miên đã khiến người Việt học được bản chất hiếu khách của hai sắc tộc nầy Bản chất hiếu khách còn là một nhu cầu sinh tồn của mọi lưu dân trong vùng đất mới Ở đây, mỗi khi có khách đến nhà thì luôn được chào đón bằng tấm lòng chân thành của mình, chủ nhà là những người thật vui tính, những người xuề xòa, cởi mở, đàm đạo phóng khoáng tự do, lắm lúc có phần lộn xộn, không xếp đặt, không câu nệ lễ nghi

Sở dĩ người Nam Kì có tính cách này là do chịu ảnh hưởng của quá trình khai phá đất đai Trước những khắc nghiệt của thiên nhiên, của bất trắc, lưu dân cần sống

có nhau, tương trợ nhau Nơi hẻo lánh, xa xôi, những con người tha phương lập nghiệp luôn cảm thấy cô độc, lẽ loi trước sự bao la, hùng vĩ của thiên nhiên, vì thế, họ luôn tìm kiếm hơi ấp từ những con người cùng cảnh ngộ, kể cho nhau nghe những niềm vui, nỗi buồn Thêm nữa, cuộc sống nơi vùng đất mới được thiên nhiên ưu đãi, Nam

Kì có đất rộng, người thưa, mưa thuận gió hòa, ruộng lúa đầy đồng, cá tôm đầy sông rạch, con người không phải bon chen như những nơi đất chật người đông, quanh năm khắc nghiệt nên tạo cho họ có đời sống bình dị, tánh tình hiền hòa, không so đo vật

chất, sống rộng rãi, cởi mở, hào hiệp và hiếu khách hơn những vùng khác

Qua việc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Kì cùng với tính cách của con người nơi đây, chúng ta có thể tổng kết mấy nét lớn về vùng đất đặc biệt này Thứ nhất, Nam Kì Lục Tỉnh là một vùng đất mới, nó có một vị trí mở, thoáng và động Vì thế, nơi đây chính là giao điểm hội tụ của các luồng văn hóa Đông

- Tây, là nơi đầu tiên diễn ra những thay đổi cũng như ảnh hường từ bên ngoài vào đất nước ta Đồng thời nó cũng là vùng đất giao lưu, hội nhập của rất nhiều dân tộc, tín ngưỡng khác nhau, tạo nên sự đa dạng về đời sống xã hội, tinh thần trong khu vực, với những dấu ấn sâu đậm trong con người

Thứ hai, sống trong một môi trường có bề dày lịch sử, cộng với sự đa văn hóa như vậy, con người Nam Kì có những nét cá tính rất riêng không lẫn với con người

Trang 26

vùng khác Cá tính đó chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, của vùng đất mà họ sinh sống, đã được hun đúc từ bao đời làm nên nét đẹp của cư dân vùng Nam Kì Lục tỉnh Cá tính Nam Kì là tính bình đẳng, dân chủ, cởi mở, thoáng đạt, nhạy bén với cái mới, cái du nhập trên tinh thần chắt lọc tinh hoa Nhân nghĩa, bao dung nhưng cũng rạch ròi, quyết liệt Họ thiết thực, giản dị, không gò bó mình trong khuôn khổ cứng nhắc Do vậy, con người Nam Kì luôn trong trạng thái linh động, không ngừng phát triển và sẵn sàng tiếp thu, nhiệt tình ủng hộ những cái mới, đáp ứng được những nhu cầu của họ Nếu xã hội miền Bắc và miền Trung đã thành hình và phát triển lâu đời thành những khuôn khổ chặt chẽ, đó là những môi trường tĩnh, thì đất Nam Kì vì là một vùng đất mới, một môi trường động nên còn dễ dàng biến chuyển đổi thay

1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX 1.2.1 Thời kì sụp đổ của chế độ phong kiến Việt Nam

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Trước khi khép lại thời kì của mình, nó cũng đã có những lần “giãy chết”, bộc lộ rõ những hạn chế và yếu kém không thể cứu vãn của mình Triều Nguyễn là một triều đại mới, nhưng lại không đại diện cho cái mới Trong những buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình nhà Nguyễn còn thực hiện được một số chính sách tiến bộ nhưng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đường suy thoái để rồi trở thành một triều đại phản động nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam Vì thế dưới triều Nguyễn các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, thành lập triều Nguyễn đã đứng trước những lợi thế, tiềm năng to lớn để xây dựng và phát triển đất nước: sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt theo cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài, Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XIX thực sự thống nhất, trở thành một quốc gia độc lập với sự hoàn chỉnh cương vực quốc gia, thống nhất thị trường, tiền tệ Đây là điều hết sức thuận lợi để có thể xây dựng một nền kinh tế xã hội mạnh mẽ, mở rộng những quan hệ giao thương quốc tế, canh tân, phát triển đất nước cũng như vượt qua sự can thiệp, xâm lấn của các thế lực thực dân ở phương Tây

Nhưng, những gì triều Nguyễn làm được lại đi ngược với mong muốn của quần chúng nhân dân lúc bấy giờ Ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã bộc lộ những điểm yếu của

Trang 27

mình Khác với những triều đại trước thường được thiết lập trên cơ sở thắng lợi của những cuộc chiến tranh chính nghĩa để giải phóng dân tộc hoặc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, củng cố toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, triều Nguyễn - vương triều phong kiến cuối cùng ở Việt Nam - lại được dựng lên bằng một cuộc nội chiến kéo dài mà kẻ chiến thắng đã cầu cứu, dựa vào thế lực ngoại bang để lập nên chính quyền Như vậy, chỉ riêng việc hình thành triều đại cũng đã bộc

lộ những điều khác biệt, không phù hợp với mong muốn và quyền lợi của dân tộc Với độ lùi của lịch sử, có thể thấy rằng, bức tranh toàn cục về kinh tế, chính trị,

xã hội dưới triều Nguyễn rất đa dạng, phức tạp, chứa đựng đầy những mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và lạc hậu, giữa duy tân và thủ cựu, giữa cái mạnh

và cái yếu,… Thế kỉ XIX được xem là thế kỉ bản lề đối với xã hội châu Á nói chung và của Việt Nam nói riêng Trước áp lực của thực dân phương Tây, việc mở cửa khai phóng những tiềm lực kinh tế, văn hóa, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa là con đường duy nhất và đúng đắn nhất để tăng cường sức mạnh bảo vệ nền độc lập Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã không đi theo hướng đó mà đi ngược lại, hình thành nên xu hướng độc tài của nhà nước, chế ngự, độc quyền, thi hành chính sáng đóng cửa với các nước phương Tây

Chính trị nhiều bất ổn biểu hiện ngay từ lúc thiết lập nên vương triều Khi lên ngôi, Gia Long đã bộc lộ quyết tâm xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền, chuyên chế theo mô hình chính trị của nhà Thanh Thực hiện nguyên lí quyền hành, xây dựng hệ thống chính quyền quân chủ tuyệt đối là đặc trưng của chế độ chính trị của nhà Nguyễn Trong sự thắng thế của nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn đã ngầm chứa những mầm mống suy vi của vương triều này: trả thù nhà Tây Sơn một cách tàn khốc, giết hại những công thần như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, mất đoàn kết trong nội bộ hoàng tộc Tất cả các sự kiện này đều góp phần làm cho tình hình đất nước thêm rối ren Những xung đột xã hội đan cài nhau và ngày càng trở nên căng thẳng đã dẫn tới sự bùng nổ liên tục những phong trào nông dân khởi nghĩa mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, hay những cuộc khởi nghĩa do các trí thức phong kiến danh tiếng như Cao Bá Quát lãnh đạo

Trang 28

Có thể thấy, triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam đã có những thành tựu, những mặt phát triển, mở mang kinh tế, xã hội theo sự lớn mạnh mang tầm vóc lịch sử dân tộc, bắt kịp hướng phát triển của dân tộc dầu thế kỉ XIX nhưng nó không thể giải quyết được mầm mống và xu thế khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam Đặc biệt từ khi làn sóng thực dân phương Tây càng ngày càng đến gần thì sự khủng hoảng này càng bộc lộ một cách sâu sắc để dần đi đến sự diệt vong của cả một chế độ và khép lại sự tồn tại của một triều đại

Rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1858, tiếng súng của thực dân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng báo hiệu sự mở màn của cuộc chiến tranh xâm lược cũng như báo hiệu cho một sự chuyển biến lớn trong lịch sử của dân tộc Việt Nam Để thực hiện cuộc chiến này, thực dân Pháp đã có một thời gian dài chuẩn bị với mục đích là bành trướng, xâm chiếm thị trường chứ không phải là mục đích tôn giáo hoặc sứ mệnh

“khai hóa văn minh” như Pháp từng nói Cuộc kháng chiến trường kì đầy gian khổ của dân tộc bắt đầu Pháp chinh phục Việt Nam theo chiến lược tằm ăn lá dâu, đánh chiếm dần từng mảnh, từng vùng, từ Nam Kì rồi tới Bắc Kì, sau đó là cả nước Về phía nhân dân ta, đây là thời kì đứng lên với tư cách người dân của một đất nước độc lập đấu tranh để bảo vệ, giữ gìn nền độc lập dân tộc, chống bọn xâm lược

Việc Đà Nẵng bị tấn công không hề bất ngờ với triều đình nhà Nguyễn ở Huế, bởi từ năm 1857 đã có nhiều bản điều trần dâng lên Tự Đức đề nghị triều đình tăng cường phòng thủ cho hải cảng này Vì thế, trên sông Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà được đắp thêm hai đồn lũy kiên cố Đèo Hải Vân cũng được xây thêm các đồn phòng thủ có những hộc đá để ngăn chặn giặc Quân số của các đồn chính tại Đà Nẵng có lúc lên tới gần 5000 quân và trang bị thêm nhiều đại bác mới Khi thực dân Pháp khai súng, không chờ sự trả lời của triều đình, quân nhà Nguyễn tại đây đã bắn trả nhưng

do vũ khí lạc hậu cùng với việc không được luyện tập thường xuyên nên không mang lại hiệu quả Vì vậy, việc quân Pháp tràn vào bán Đảo Sơn Trà rồi dần dần chiếm các tỉnh của ta là điều không thể tránh khỏi, như một việc tất yếu

Như vậy, trước kẻ thù xâm lược, triều đình nhà Nguyễn với tư cách là những người cầm cờ bảo vệ nhân dân đã sớm nhụt chí chiến đấu, chịu đầu hàng, nhượng đất cho giặc, nhưng nhân dân vẫn kiên quyết đứng lên không phút nào ngơi nghỉ Sự kiên

Trang 29

quyết này đã mở đầu cho một truyền thống đánh giặc kiên cường chống thực dân Pháp suốt gần một thế kỉ về sau, tạo nền tảng cơ sở cho những thắng lợi của dân tộc Nhân dân Nam Kì nói riêng và cả nước nói chung luôn gắn bó với từng tấc đất của dân tộc, kiên quyết bảo vệ đến cùng trong khi bộ phận lãnh đạo thời kì này là triều Nguyễn lại trở thành những kẻ vô trách nhiệm Mặc dù có lúc vua tôi nhà Nguyễn biết đến sức mạnh của nhân dân và có ý định phát huy vai trò to lớn của dân nhưng rút cục vì quyền lợi ngai vàng mà sợ hãi nhân dân dẫn đến những kết cục thảm hại Đó là sự cáo chung của một nhà nước phong kiến

1.2.2 Nền bảo hộ của Pháp ở Nam Kì và kháng chiến của nhân dân

a Nền bảo hộ của thực dân Pháp ở Nam Kì

Nước ta rơi vào vòng nô lệ Nam Kì là vùng đất bị chiếm trước tiên nên thực dân Pháp thi hành những chính sách áp bức bóc lột cũng như chính sách về văn hóa nô dịch sớm nhất Dã tâm xâm lược của thực dân Pháp thể hiện rõ ràng ngay trong sự hối

hả xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho lợi ích của chúng: xây dựng thành phố Sài Gòn – Gia Định, các dinh thự, bưu điện, cảng, đường bộ, đường sắt Bên cạnh đó là việc

mở trường đào tạo quan cai trị, xuất bản báo chí, sách vở bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp Cùng với việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân vẫn diễn ra quyết liệt cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng, bộ máy hành chính cho chế độ thuộc địa, thực dân Pháp còn xây dựng nên một đội ngũ đánh thuê, các đội lính tập, mã tà để bảo vệ những thành quả của công cuộc xâm lược Những chuyển biến về kinh tế, xã hội của Nam Kì bắt đầu xuất hiện Bộ máy cai trị của triều đình nhà Nguyễn bị xóa bỏ hoàn toàn, thay vào đó là tổ chức trực tiếp của thực dân Pháp

Về kinh tế, Pháp đã mở cảng Sài Gòn cho thông thương với nước ngoài, cho phép tự do xuất cảng lúa gạo, xóa bỏ hoàn toàn chính sách “ bế quan tỏa cảng”, bảo thủ của triều đình Tự Đức Những công ty xuất nhập khẩu của pháp dần xuất hiện Nền giáo dục khoa cử bị xóa bỏ, chữ Hán được thay thế bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp một cách nhanh chóng và chúng trở nên thông dụng Nam Kì thay đổi rất nhanh chóng dưới nền bảo hộ của thực dân Pháp Chúng đã thu được những mối lợi đầu tiên từ thuộc địa của mình: từ năm 1867 đến 1877, mỗi năm thực dân Pháp vơ vét, xuất khẩu

Trang 30

từ 20 đến 50 vạn tấn gạo, chưa kể nhiều thứ lâm sản, hải sản khác Quang cảnh của Nam Kì, nhất là vùng Sài Gòn, Gia Định thay đổi nhanh chóng

Bắt đầu từ năm 1897 trở đi, thực dân Pháp chính thức bước vào thời kì tổ chức

và khai thác với quy mô lớn, xây dựng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên thuộc địa, biến nước ta thành một nước nửa thực dân nửa phong kiến Cùng với công cuộc khai thác thuộc địa, nhiều đô thị kiểu mới mọc lên và phát triển nhanh chóng Tầng lớp thị dân đông đảo hình thành, trong xã hội mới xuất hiện một số tầng lớp mới, những người tiểu tư sản, những người vô sản Cùng song hành với những biện pháp chính trị, chính sách văn hóa nô dịch được đẩy mạnh nhằm mục đích cũng cố nền thống trị của thực dân Từ thân phận của người dân đến chính sách luật pháp, kinh tế, văn hóa áp dụng cho người dân vùng Nam Kì đều khác xa so với Bắc Kì và Trung Kì Là xứ thuộc địa của thực dân Pháp, người dân vùng Nam Kì muốn đi đến Trung Kì hay Bắc

Kì đều phải có giấy thông hành giống như thủ tục đi sang một nước khác

Chính sách thống trị phản động và chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với nước ta, làm cho nền kinh tế Việt Nam sa sút nghiêm trọng các tệ nạn xã hội phát triển, xã hội phân hóa hết sức sâu sắc Ngoài mâu thuẫn cơ bản đã tồn tại là mâu thuẫn giai cấp xã hội còn nảy sinh thêm mẫu thuẫn mới là mẫu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Pháp xâm lược Đây là mâu thuẫn dân tộc cần phải được giải quyết trước để đem lại độc lập tự do cho đất nước

Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công

rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa

Chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự "khai hoá văn minh" - một sự khai hoá

và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tây Bản chất của "sứ mạng khai hoá" đó chính là

sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém, v.v Trong lòng chế

độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc việt nam với thực

Trang 31

dân Pháp và tay sai phản động Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn

đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức

Khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp không chỉ nhằm khai thác những tiềm lực về kinh tế mà còn ôm ấp ý đồ thống trị về mặt tinh thần của nhân dân

ta Chúng muốn biến dân tộc Việt Nam trở thành nô lệ cho chúng Sống trong chế độ chính trị và giáo dục của thực dân, người Việt Nam sẽ dễ dàng trở thành những kẻ ích

kỷ, yếu hèn, tự ti, mất gốc, không còn biết gì đến Tổ quốc, dân tộc Nhiều người quên dần cái nhục mất nước, cứ ngỡ rằng việc khai hóa của thực dân là sự thật, là hảo ý của Pháp đối với Việt Nam Nỗi đau mất nước đã lắng dần theo năm tháng, người ta lại còn cảm thấy dường như sự hiện diện của Pháp lại có lợi cho người Việt Nam, Pháp mang đến cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu là tiện nghi vật chất mà họ chưa từng có được Người Việt Nam đã thích nghi dần và bằng lòng với cuộc sống hiện tại Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp dưới triều Nguyễn đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống

b Những cuộc kháng chiến của nhân dân

Sau khi chiếm được Nam Kì, thực dân Pháp đã nhanh chóng xây dựng thiết chế quản lí của nước bảo hộ, xây dựng bộ máy thống trị trên toàn cõi Đông Dương Tuy nhiên, đó cũng không phải là một việc dễ dàng như chúng mong muốn bởi liên tục vấp phải phong trào kháng chiến chống xâm lược liên tiếp bùng nổ, các cuộc khởi nghĩa vũ trang, hình thức đấu tranh tị địa tạo ra sự hoang vắng ở những vùng đất thực dân chiếm được khiến cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp gặp nhiều khó khăn

Với mục tiêu đấu tranh chống thực dân, chống phong kiến giành độc lập dân tộc, các tầng lớp nhân dân ở Nam Kì đã đứng lên tổ chức các hoạt động yêu nước mang đậm tính chất, tinh thần của vùng đất Nam Kì Chính sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của phong trào yêu nước đã khiến Nam Kì trở thành vùng đất có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển biến tư tưởng của dân tộc Đặc biệt, với chính sách đô hộ, khai thác thuộc địa của Pháp, cộng với vị trí là một vùng đất mới nên viêc sớm tiếp thu các luồng tư tưởng tiến bộ trên thế giới khiến Nam Kì trở thành một trong những khu vực

có phong trào yêu nước phát triển mạnh và hết sức đa dạng

Trang 32

Đứng trước sự xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, trước cảnh non sông đất nước bị chia cắt và những thất bại đau đớn ở chiến trường miền Nam, triều đình nhà Nguyễn bộc lộ sự nhu nhược, yếu hèn của mình với những phản ứng tiêu cực Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đặt dưới ngọn cờ của triều đình nhưng vua tôi nhà Nguyễn đã sớm bộc lộ sự lúng túng trong việc đối phó với tình hình rối ren trong nước, cho thấy sự yếu kém của hệ thống chính quyền trung ương Sau khi mất ba tỉnh miền Đông, triều đình nhà Nguyễn không những không kiên quyết lãnh đạo toàn dân kháng chiến, đánh đuổi giặc mà ngược lại, tỏ ra hèn yếu trước các hành động xâm lược của kẻ thù đang lăm le cướp nước Với chính sách phản động cũng như sự mục ruỗng

từ bên trong, triều đình không dám dựa vào nhân dân để chống lại giặc mà kháng cự một cách yếu ớt rồi dần dần đi đến việc chấp nhận đầu hàng, mất đất.Thái độ hoang mang, nhu nhược của vua quan triều Nguyễn trước giặc Pháp chính là một trong những nguyên nhân khiến chúng ngày càng liều lĩnh tiến hành xâm chiếm các vùng còn lại của nước ta Pháp lần lượt chiếm hết sáu tỉnh Nam Kì, triều Nguyễn đã đứng ra

ký các hiệp định nhượng cho pháp ba tỉnh miền Đông (năm 1862) rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì (năm 1874)

Nhà Nguyễn trở thành vật cản của tiến bộ xã hội Sống nghẹt thở trong ngôi nhà mục nát ấy, nhân dân ta chỉ có một lối thoát là vùng lên Chiến tranh nông dân tiếp tục bùng nổ khắp nơi, dữ dội và quyết liệt một cách không khoan nhượng Họ không những chọc trời khuấy nước, làm lung lay tận gốc nền độc tài của nhà Nguyễn mà còn làm cho thực dân Pháp hồn kinh phách lạc Ngược lại với thái độ nhu nhược của vua tôi triều Nguyễn, nhân dân ta với truyền thống bất khuất từ ngàn đời đã kiên quyết chống lại thực dân cũng như chống lại sự đầu hàng, phản bội của triều đình Họ đứng dậy kháng chiến anh dũng và bền bỉ Cùng với Đà Nẵng, Quảng Nam, nhân dân Nam

Kì đã đi đầu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Những cuộc chiến đấu ấy khi lên khi xuống vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng không khi nào chấm dứt, chỉ chờ cơ hội thuận lợi là lại bùng lên mạnh mẽ

Trong khi giai cấp phong kiến thống trị nhanh chóng đi vào con đường đầu hàng thỏa hiệp thì vai trò của nhân dân lại sáng ngời trên vũ đài chính trị Chưa phải nhân dân nắm quyền lãnh đạo tất cả các cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng những cuộc

Trang 33

chiến của họ là tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, đấu tranh bền bỉ, gan dạ, tinh thần anh dũng bất khuất của dân tộc Đứng trước nguy cơ mất nước, nhân dân đã đứng lên buộc thực dân pháp trả một cái giá rất đắt cho từng mảnh đất chúng cướp được Trong cuộc chiến chống Pháp, lực lượng gây khó khăn lớn nhất cho quân thù không phải là triều đình mà chính là những người dân áo vải khăn điều

Từ năm 1860 đến 1862, Nam Kì đã nổi lên các trung tâm kháng chiến chống Pháp với những tên tuổi: Đỗ Trình Thoại, Trương Định ở Gò Công, Trần Xuân Hòa ở

Mỹ Tho, Nguyễn Trung Trực ở Tân An, Thiên Hộ Dương (Vũ Duy Dương) ở Đồng Tháp Mười, Trong các trung tâm này, cuộc khởi nghĩa của Trương Định là tiêu biểu nhất Trương Định là người anh hùng trí dũng song toàn Từ đất Gò Công, ông đã thu hút được nhiều anh tài như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Nguyễn Thông, Thủ Khoa Huân với số lượng hơn một vạn nghĩa binh trải rộng khắp vùng căn

cứ chống giặc từ Tân An, Mỹ Tho, Gò Công xuống Đồng Tháp Mười Năm 1859, quân Pháp đánh Cần Giờ rồi lấy thành Gia Định, năm 1860 đánh lấy đồn Kì Hòa, năm

1861 lấy Định Tường, Biên Hòa Triều đình Huế cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp vào Nam giảng hòa để rồi phải ký hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Đến năm 1867, ngày 19 tháng 5 quân Pháp chiếm Vĩnh Long, đêm 21 rạng 22 Châu Đốc thất thủ và sáng ngày 24 Hà Tiên bị mất, thế là từ đó miền Nam

thuộc Pháp cai trị Trương Định đã làm cho quân Pháp khiếp sợ với nhiều chiến thắng

ở Nam Kì, nổi tiếng với khẩu hiệu: “Phan - Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” (họ Phan, Lâm bán nước, triều đình bỏ rơi dân chúng) trên lá cờ “Bình Tây đại nguyên

soái” Bất chấp những điều kiện cực kì khó khăn của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ,

nghĩa quân của Trương Định đã bền bỉ chiến đấu trong nhiều năm, gây cho pháp những khó khăn và thiệt hại không nhỏ Sự hèn yếu của triều đình nhà Nguyễn đã được nhân dân nhìn nhận và đã có những phản kháng nhất định Dấu hiệu điêu tàn đã bộc lộ rõ nét, nhà Nguyễn như ngọn đèn trước gió đang cố gắng bừng tỏ để rồi vụt tắt trước trận bão táp xâm lược của chủ nghĩa tư bản thực dân

Việc chống ngoại xâm gắn liền với việc chống lại sự đầu hàng, thỏa hiệp của vua tôi nhà Nguyễn Vai trò của nhân dân thực sự to lớn Trước việc thực dân Pháp từ từ quàng vào cổ ách thống trị của chúng trên toàn đất nước, nhân dân đã nhìn ra được kẻ

Trang 34

thù của mình không chỉ có thực dân mà còn cả triều đình, chống Pháp phải đi đôi với việc chống triều đình đầu hàng, chống lại sự nhu nhược của họ Tuy vậy, thắng lợi nhỏ phải đổi bằng xương máu của nhân dân không thể bù đắp lại những tổn thất lớn do sự ươn hèn của triều đình gây nên

Trải qua nhiều biến động, từ khi thực dân Pháp đặt nền bảo hộ nhưng cuối cùng

xã hội Nam Kì vẫn lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra trong suốt hai thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng, khí thế hào hùng của nhân dân Nam Kì chống thực dân đã kích động mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của nhân dân cả nước, lôi cuốn cả dân tộc, làm tiền đề cho những thắng lới to lớn, khẳng định sự quật cường của tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, chuẩn bị cho sự thắng lợi của những con đường đấu tranh đúng đắn sau này

1.3 Văn học Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX

Văn học hai vùng Bắc Kì và Nam Kì đều có những đặc trưng riêng, bản sắc riêng của từng vùng miền Mặc dù chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, ngay từ buổi đầu Nam Kì đã là vùng đất văn chương, có những nổ lực hết mình để phát triển nền văn học riêng của mình

Văn học vùng Nam Kì Lục Tỉnh gồm có đóng góp của những tác giả vô danh và hữu danh với những tác phẩm lớn nhỏ khác nhau tạo nên một nền văn học phong phú như bất cứ vùng nào trên đất nước Tuy nhiên, có một thời người ta không ghi nhận những đóng góp này, họ xem phần văn học của Nam Kì như “hòn máu bỏ rơi” Bùi Đức Tịnh trong bài ‘‘Phần đóng góp của văn học Miền Nam’’ (Saigon: Lửa Thiêng,

1974) đã viết: “Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn

chương hiện kim và giai đọan hình thành của nền quốc văn mới, nghĩa là từ 1865 đến

1932, hầu hết các tác phẩm xuất hiện ở Miền Nam đều bị coi như không có trong lịch

sử văn học Việt Nam.” Nhận định này nói lên một thiên kiến tiêu biểu về việc đánh giá

thấp nền văn học Nam Kì, cho rằng Nam Kì không có văn học hay văn học kém, thiếu Nho học, và lai căng Pháp Người Nam không biết viết văn, viết nôm na, sai chánh tả

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, văn học Nam Kì bị mai một, không được sưu tầm

và biên soạn tạo thành một thể thống nhất và đầy đủ như văn học các vùng khác Sở dĩ

Trang 35

như vậy là vì nhiều lí do Trước hết có thể do bản chất giản dị, hời hợt của những người lưu dân ít học, luôn chỉ quan tâm đến cuộc sống thực tế, lo cái ăn cái mặc không còn thời gian để lo cho đời sống tinh thần của mình Nếp sống của người lưu dân trong vùng đất mới, thuở mới đến khai hoang lập làng, phải chiến đấu thường xuyên với sơn lam chướng khí, cọp beo rắn rít, phải đương đầu với gian khổ, hiểm nguy Trong hoàn cảnh ấy, các lưu dân từ Thuận Quảng xuôi Nam đâu còn có thời giờ và ý chí mà nghĩ đến hành trang chữ nghĩa

Theo gót chân của những người xuôi Nam lập nghiệp, những con người chỉ mang theo lưỡi cày, cái cuốc để mưu sinh trong những đêm dài xa xứ nhớ về quê hương hay trong những lúc bán mặt cho đất bán lưng cho trời tùy hứng mà cất lên những câu hò điệu hát, ý thơ, từ đó làm xuất hiện thời kì văn học dân gian trên vùng đất Nam Kì Có thể nói, trong bước đầu khai phá của thế kỉ XVI, văn học Nam Kì là thứ văn học dân gian

Khi đời sống đã dần ổn định, nội chiến đã chấm dứt, khi đất hoang đã biến thành làng xóm, đời sống lưu dân được tương đối ổn định thì một mảng văn học đặc thù Nam Kì đã bắt đầu được hình thành và phát triển Đất đai rộng dần, nhà cửa đông đúc, phố thị mọc lên với sự đóng góp của những thần dân nhà Minh từ Trung Hoa đến định

cư tại Hà Tiên, Biên Hòa, Mỹ Tho Nhu cầu khai trí, mở mang đầu óc, làm phong phú đời sống tinh thần cũng từ đó tăng lên, ảnh hưởng của văn học chữ Hán, chữ Nôm lan rộng trong đời sống nhân dân Thời kì văn học này đã nhen nhúm từ đầu cho đến hết thế kỉ XVIII

Khi vua Gia Long lên ngôi rồi sau đó là sự tiếp nối của các vua nhà Nguyễn, việc tiếp xúc văn hóa, tri thức giữa các vùng miền đã khiến văn học Nam Kì phát triển cho đến khi Pháp đặt chân đến đây, gây cảnh khói lửa, loạn li Sau cùng, với thời kì Pháp thuộc, văn học Nam Kì chuyển biến mạnh mẽ với ảnh hưởng từ văn học phương Tây Chữ Quốc ngữ được dùng thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm Có thể nói văn học Nam

Kì đã có những bước chuyển mình sâu sắc từ giữa thế kỷ thứ XIX

Đó là ba thời kì, ba bộ phận của văn học Nam Kì Lục Tỉnh Tìm hiểu văn học Nam Kì Lục Tỉnh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chúng tôi chỉ xin đề cập đến hai bộ

phận văn học Hán Nôm và văn học viết bằng chữ Quốc ngữ

Trang 36

1.3.1 Văn học Hán Nôm

a Tiến trình văn học Hán Nôm

Văn học Hán Nôm Nam Kì Lục Tỉnh là một bộ phận của di sản văn học Hán Nôm của nước ta Việc tìm hiểu mảng văn học này đóng vai trò lớn trong việc xây dựng bức tranh toàn cảnh về nền văn học Nam Kì Nó không thể tách rời khỏi lịch sử phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội Ngay từ khi Nam Kì được khai phá và hình thành thì đã có văn học Hán Nôm đã có mặt và đua nhau phát triển theo bước chân của những người mở cõi Diện mạo văn học Hán Nôm của vùng Lục Tỉnh có lẽ được phác họa bởi sự đóng góp của những người Hoa Nam di cư đến Nam Kì và trở thành những

cư dân chính thức của vùng đất này Sự đóng góp của họ về kinh tế, chính trị là điều không thể phủ nhận, bên cạnh đó những đóng góp của họ về văn học nghệ thuật cũng

là một điều đáng trân quý, không phải bàn cãi Sự xuất hiện đầu tiên của nhóm thơ Chiêu Anh Các ở Hà Tiên đã làm nên tiếng vang trong lịch sử văn học Hán Nôm của nước ta Về sau, sự xuất hiện của các nhóm thơ khác khiến cho đời sống văn học Nam

Kì Lục Tỉnh trở nên sôi động

Trong thời gian khai mở và hoàn thành cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn, họ cũng lấy Hán tự làm văn tự để giáo dục dân chúng và trị quốc Tuy nhiên, học thuật chữ Hán ở đây không thể nào tiến bộ đến độ thịnh trị như vùng đất Bắc Việc truyền bá Hán học cũng khó khăn, kém chất lượng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Vùng Nam Kì là vùng đất mới, những phần tử đi tiên phong trong cuộc chinh phục thiên nhiên này là những người nông dân, binh lính, những kẻ bần hàn, tù nhân, trộm cướp, đào vong đến để tìm kế sinh nhai Trong thời gian đầu đầy gian khổ họ không còn thời gian cũng như tâm trí để tìm đến văn chương là điều dễ hiểu Hơn nữa, trong một thế

kỉ rưỡi dốc sức vào việc chinh chiến và phòng thủ các thế lực khác, chăm lo binh sĩ để gây dựng cơ nghiệp, các chúa Nguyễn không thể dành nhiều chú ý cho học thuật và văn chương Việc ít tiếp xúc với Hán học khiến cho văn chương và học thuật không đạt đến độ tinh tế với một phạm vi phổ biến như đất Bắc Do đó, thời ấy ở vùng Nam

Kì không hề có những tác phẩm kiệt xuất như Chinh Phụ Ngâm, Truyện Kiều ở Đàng Ngoài được

Trang 37

Nhìn chung, trên con đường phát triển, văn học Hán Nôm Nam Kì Lục Tỉnh có những đặc điểm riêng Về nội dung nó thường mang tính đạo lí rõ rệt với quan niệm

“văn dĩ tải đạo” là phổ biến Về hình thức thì văn học Hám Nôm Nam Kì cũng có đủ các thể thi phú quen thuộc của văn chương Hán tự song chúng thường quảng dụng câu thơ lục bát và dần làm quen với thể song thất lục bát Văn chương mang khuynh hướng bình dân, giản dị Giọng điệu cũng mang đậm sắc thái của những con người nơi vùng đất phóng khoáng này Việc tìm hiểu và sưu tầm các tác phẩm Hán Nôm trên vùng Nam Kì còn rất hạn chế Các tác phẩm còn lưu lại rất ít

Cho đến khi người Pháp chiếm Nam Kì làm thuộc địa thì có thêm văn học Quốc ngữ, từ đó văn học Hán Nôm bắt đầu lụi tàn Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhưng càng ngày càng hiếm hoi, bởi vì chữ Hán không còn giữ một vai trò quan trọng về văn tự cũng như khoa cử ở Nam Kì Như vậy, có thể nói, Nam Kì có một nền văn học đa dạng, phong phú từ hơn 150 năm nay Sau gần 400 năm lập quốc ở phương Nam, hòa với văn hóa Minh Hương và văn hóa bản vùng Lục Tỉnh đã xây dựng được một nền văn học Hán Nôm mang sắc thái đặc biệt của Nam Kì

b Một số tác giả tiêu biểu

Nói đến văn học Hán Nôm của vùng Nam Kì Lục Tỉnh trước tiên phải kể đến Mạc Thiên Tích và nhóm Chiêu Anh Các

Mạc Thiên Tích (1708-1780) còn gọi là Mạc Thiên Tứ tự là Sĩ Lân, hiệu Sĩ Lân Thị Vốn là người Minh Hương, thân phụ ông là Mạc Cữu - người đã dựng nên đất

Hà Tiên Mặc dù Mạc Cữu thần phục Chúa Nguyễn, trấn Hà Tiên là đất Việt Nam từ năm 1714, nhưng Chúa Nguyễn vẫn để cho họ Mạc rất nhiều quyền hành, không khác

gì một chư hầu Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thành lập trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu tước Cửu Ngọc Hầu, chức tổng binh Với tư cách là người đứng đầu một trấn ngoài biên thùy với nhiều quyền hành, Mạc Cửu và sau đó là Mạc Thiên Tích đã làm cho Hà Tiên phát triển hùng mạnh như một quốc gia độc lập không chỉ về chính trị mà còn về quân sự văn hóa Họ mở mang kinh tế, khuyến khích nông nghiệp, phát triển thương nghiệp, đưa Hà Tiên trở thành trung tâm của khu vực Trấn Hà Tiên như một tiểu quốc gia phong kiến hoàn chỉnh Tuy nhiên, là vùng đất mới khai phá, ở vị trí gặp nhiều

Trang 38

thuận lợi nên Hà Tiên khó tránh khỏi sự nhòm ngó của ngoại bang Sau cuộc xâm lăng của Xiêm La, Hà Tiên bị tàn phá nặng nề và không còn đủ sức gượng dậy

Trong những ngày xây dựng sự nghiệp, Mạc Cửu đã ưu ái dành nhiều thời gian

và công sức cho phát triển văn hóa và giáo dục Ông cho mở trường học thu hút con dân trên mảnh đất của mình cai quản để phát triển xứ sở Năm 1735, Mạc Cữu mất, Chúa Nguyễn phong cho Mạc Thiên Tích chức Tổng Trấn Hà Tiên Sau khi thay cha

kế tập cai quản vùng Hà Tiên, Mạc Thiên Tích lo chấn hưng văn hóa, tổ chức hội thơ, lập thi phái Chiêu Anh Các khi vừa 30 tuổi đánh dấu bước phát triển vượt bậc của đời sống văn hóa và văn học xứ Nam Kì nói chung và trấn Hà Tiên nói riêng

Mạc Thiên Tích đã dùng thi văn để ca tụng những cảnh đẹp ở Hà Tiên, trước nhất là ca tụng công đức lớn lao của Mạc Cữu đã khai phá mảnh đất mới này, chí lớn của ông được ký thác qua hai câu kết trong bài Hà Tiên Thập Cảnh Tổng Vịnh:

Bình San, Thạch Động là rường cột

Sừng sựng muôn năm cũng để dành

Chiêu Anh Các có những hoạt động rất rộng, họ đề cao, quảng bá Nho giáo, mở trường học và sáng tác văn chương Hoạt động của Chiêu Anh Các vừa có ý nghĩa khơi dậy không khí học tập, vừa cung cấp đội ngũ trí thức giúp việc cho họ Mạc Tuy vậy, Chiêu Anh Các vẫn được nhớ đến với tư cách là một tao đàn Hoạt động nổi bật nhất được nhiều người biết đến và yêu thích nhất là xướng họa, ngâm vịnh của các nhà thơ được tập hợp nơi đây Nó là nơi tập trung nhũng kẻ sĩ, những bậc anh tài trong thiên hạ (chiêu: gọi, mời; anh: anh tài; cac: gác) Thi đàn thường xuyên tổ chức làm thơ, xướng họa ngâm vịnh, giảng đàm thao lược và cho in khắc, lưu hành trong nhân dân Chiêu Anh Các quy tụ đông đảo lực lượng sáng tác gồm nhiều thành phần khác nhau, nhiều địa phương khác nhau Đó là sức hút mạnh mẽ của thi đàn này Trong Chiêu Anh Các, đa số là những người Minh Hương, một số người Hoa Trung Quốc và

số lượng người Việt tương đối ít

Chiêu Anh Các để lại khối lượng tác phẩm tương đối lớn ở cả hai bộ phận: sáng tác bằng chữ Hán và sáng tác bằng chữ Nôm Đáng tiếc là cho đến nay, những sách của họ đã bị thất truyền bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Hiện chỉ còn một số tác phẩm ở các tập: Hà Tiên Thập Vịnh, Thụ Đức Hiên Tức Cảnh, Minh Bột Di Ngư, Hà

Trang 39

Tiên Quốc Âm Thập Vịnh và bài phú Lư Khê Vãn Ngoài ra còn có bốn tập sách chúng ta chỉ biết tên đó là: Hà Tiên Vịnh Vật Thi Truyền, Châu Thị Trinh Liệt Tặng Ngôn, Thi Truyện Tặng Lưu Tiết Phụ và Thi Thảo Cách Ngôn Di Tập

Mạc Thiên Tích luôn là người khởi xướng cho các hoạt động của Chiêu Anh Các Ông làm thơ rồi mời các nhà thơ trong và ngoài tao đàn họa lại Những bài thơ hay của Mạc Thiên Tích đã tạo thành những tập thơ hay để lại cho hậu thế Xuất thân

từ một gia đình có truyền thống văn hóa, nho học, là một người học rộng, tài cao, lại

có ý thức mở mang văn hóa trên mảnh đất mình gây dựng, Mạc Thiên Tích đã dẫn dắt Chiêu Anh Các trở thành một nơi hoạt động văn hóa mang tính chất quốc tế Những trăn trở, tình cảm, suy tư của Mạc Thiên Tích ảnh hưởng đến tồng thể thơ văn của tao đàn Đóng góp của ông với Chiêu Anh Các được thể hiện ở sự đóng góp một khối lượng tác phẩm lớn trong kho tàng văn học Đó là 10 bài xướng họa Đường luật trong

Hà Tiên Thập Vịnh, tập Minh Bột Di Ngư gồm 1 bài phú và 7 bài thơ; Hà Tiên Quốc

Âm Thập Vịnh với 10 bài vịnh cảnh Hà Tiên bằng song thất lục bát Đây là những tác phẩm quan trong góp phần xây dựng nên diện mạo văn học Hán Nôm trên vùng Nam

Kì Nhờ những tác phẩm này, chúng ta có thể hình dung tìm hiểu và khám phá những cái hay, cái đẹp cái lạ của vùng đất nơi đây Mạc Thiên Tích chính là linh hồn, là chủ soái xứng đáng của tao đàn độc đáo này trên trấn Hà Tiên

Đến Võ Trường Toản qua bài “Hoài Cổ Phú”, viết bằng chữ Nôm, dài 24 câu còn

để lại, người ta có thể thấy ông có quan niệm rõ ràng về cuộc sống: tiền tài, danh lợi, giàu sang, phú quý cũng như một đám mây bay, cuộc đời chỉ có nhân, nghĩa và đạo đức làm trọng Võ Trường Toản (chưa rõ năm sinh năm mất) hiệu Sùng Đức, là một nhà giáo nổi tiếng “học rộng, có đức hạnh hơn người” Lời của ông nằm trong khuôn khổ đạo Nho, nhưng nhờ có sở học uyên thâm, ông mới làm sáng tỏ được đạo thánh hiền, chẳng những đã đào tạo cho chúa Nguyễn một số công thần hữu danh mà còn để lại ảnh hưởng sâu rộng Về sau, Phan Thanh Giản đã hết lòng ca tụng ông

Đến cuối thời Kì này, có Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh và Trịnh Hoài Đức nổi danh một thời, được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia Lê Quang Định hiệu Tấn Trai, tự Tri Chỉ, quê ở Phú Vang, Thừa Thiên, là một người thông minh hiếu học, thời loạn lạc vẫn không từ ngòi bút Ông là học trò của Võ Trường Toản Cùng với

Trang 40

Ngô Nhân Tịnh và Trịnh Hoài Đức, ông lập nên nhóm văn thơ nổi tiếng Bình Dương Thi Xã Đến năm 1788, ông thi đậu, được Nguyễn Phúc Ánh cho làm quan, về sau trải đến chức thượng thư và từng được cử đi sứ sang Trung Quốc Ông còn là tác giả của

bộ sách sử địa nhất thống Dư Địa Chí Năm 1813, ông cáo bệnh về quê và mất sau đó

ít lâu

Ngô Nhân Tịnh vốn người Minh Hương, quê gốc ở Quảng Đông, Trung Quốc Khi nhà Thanh tiến vào Trung Quốc, tổ tiên ông dời sang Gia Định lập nghiệp Ông nổi danh với tài năng học vấn Ông cùng với Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức theo Nguyễn Phúc Ánh một lượt, rồi làm quan tới chức Hữu Tham Tri bộ binh, hiệp trấn Nghệ An, thượng thư bộ công và từng được cử đi sứ sang Trung Quốc năm 1789, 1802

và Xiêm La năm 1813 Cũng trong năm 1813, ông lâm bệnh nặng và qua đời

Trịnh Hoài Đức tự Chí Sơn, hiệu Cấn Trai, là người minh Hương ở Gia Định Năm 1788, ông thi đỗ và theo Nguyễn Phúc Ánh làm tới chức Thượng thư, sung chức Chánh sứ và Hiệp trấn Gia Định Ông là tác giả của nhiều bộ sách như “Lịch đại kỷ nguyên”, “Khanh tế lục” và “Gia định thành thông chí”… Với quyển “Gia Định thành thông chí” ông đã ghi chép trong năm trấn từ phong thổ, tập quán, di tích cho đến những nguồn lợi thiên nhiên của Nam Kì Không những nhằm mục đích cho mọi người thấu rõ, mà còn có ý để ca tụng miền đất mới do chúa Nguyễn đã dày công thu phục được Đó chẳng những là một quyển sách viết có phương pháp mà còn ghi chép rất tỉ mỉ, chứng tỏ ông có óc quan sát và thực tế Nó là một tài liệu quý giá cho ngành nhân văn Năm 1825, ông mất ở tuổi 61

Có thể nói, đây là những con người đã góp phần hình thành nên diện mạo của văn học Hán Nôm Nam Kì Lục Tỉnh Ngoài những bài thơ ngâm vịnh để tả cảnh đẹp ở vùng đất phương Nam, họ còn đề cao công nghiệp của tiền nhân, tỏ lòng trung hiếu với gia đình, đất nước Những tác phẩm của họ để lại rất có giá trị cho sau này

1.3.2 Văn học Quốc ngữ

a Tiến trình văn học Quốc ngữ

Từ thế kỷ XVI, quá trình buôn bán giao thương giữa các nước tư bản phương Tây với phương Đông đã được đẩy mạnh Trong đó, các quốc gia Đông Nam Á là nơi

mà các thuyền buồm phương Tây (Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ) thường

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w