Trong số những thư tịch viết bằng chữ quốc ngữ có một tài liệu đã được một số nhà nghiên cứu như : Đỗ Quang Chính, Thanh Lãng cho là rất quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu đúng mức, đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3và t ạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thực hiện
Tây Ninh, tháng 12 – 1997
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
M ỤC LỤC 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 6
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
3 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 8
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 8
4.1 Phương pháp thống kê miêu tả: 8
4.2 Phương pháp so sánh lịch sử : 8
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
6 KẾT CẤU LUẬN ÁN: 9
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 11
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ 11
1.2 TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 14
1.2.1 Vài nét v ề tác giả: 14
1.2.2 Sơ lược về tác phẩm: 15
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGỮ ÂM TRONG S.S.S 17
2.1 V ẤN ĐỀ ÂM ĐẦU 17
2.1.1 Tổ hợp phụ âm 18
2.1.2 Âm xát hai môi /β/ th ời ALECXANDRE DE RHODES đến S.S.S thì không còn xuất hiện nữa mà đồng loạt thay đổi cách ghi ϕ thành ν: 25
2.1.3 M ột điều cũng đáng lưu ý nữa, S.S.S còn có hiện tượng tác giả sử dụng cách ghi lẫn lộn giữa một số âm với nhau vốn trước đó đã khu biệt rõ ràng 25
2.1.4 Về cách ghi âm /k/, S.S.S dùng ba con chữ k, c, q như cách ghi tiếng Việt hiện đại, nhưng khảo sát các trường hợp cụ thể xuất hiện, ta phát hiện một số khác biệt 27
2.1.5 Ch ữ viết ng, ngh ghi âm/η/ hoàn toàn ổn định theo quy luật một cách chặt chẽ: 29
2.1.6 V ề mặt đồ hình (GRAPHIC) 29
2.2 VẤN ĐỀ PHẦN VẦN 31
Trang 52.2.1 Về phần vần: 31
2.2.2 Hình th ức chữ viết: 32
2.2.3 Vần có âm đệm w: 34
2.2.4 Ở S.S.S có một hình thức phổ biến được tác giả sử dụng đồng loạt, đó là dùng ch ữ ão để ghi vần ong và aoc để ghi vần oc 35
2.2.5 Vần ây được tác giả dùng hai hình thức chữ viết để thể hiện : êy và ây trong một số trường hợp : 38
2.2.6 Ta còn g ặp trường hợp ngoại lệ khác là trường hợp nguyên âm ơ khi đứng sau âm đệm được S.S.S ghi bằng con chữ "â" dù đó là âm tiết mở 39
2.3 THANH ĐIỆU: 45
2.4 CHÍNH TẢ 47
1.4.1 Vấn đề viết hoa 47
2.4.2 Vi ết hoa tên riêng nước ngoài: 48
2.4.3 Viết tắt: 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VỰNG 50
3.1 V ỐN TỪ 50
3.1.1 Lớp từ cổ: 50
3.1.2 Vấn đề từ đơn, từ ghép, từ láy 59
3.2 VẤN ĐỀ THÀNH NGỮ: 62
3.2.1.Thành ngữ thuần Việt: 62
3.2.2 Thành ng ữ gốc Hán: 64
CH ƯƠNG 4: VẤN ĐỀ VỀ NGỮ PHÁP (LOẠI TỪ) 66
PH ẦN KẾT LUẬN 68
THƯ MỤC 71
Trang 6PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, bên cạnh việc điều tra các phương thổ ngữ tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc có liên quan, còn có một hướng khác: tìm hiểu qua thư tịch
Nước ta có một kho thư tịch, văn bia vô cùng quý báu bằng chữ Hán, chữ Nôm và bằng chữ quốc ngữ
Để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, đã có khá nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
đi sâu vào mảng thư tịch, văn bia viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, có thể kể đến như “Lê Quán – 1981”, "Nguyễn Tài Cẩn - 1995" Việc tìm hiểu lịch sử tiếng Việt qua thư tịch, chữ quốc ngữ tuy đã được một số người như Thanh Lãng - 1968, Đỗ Quang Chính 1972 xúc tiến, nhưng có thể nói ngay rằng là còn quá ít ỏi, chưa được quan tâm đúng mức Điều này phải chăng là do những thư tịch này chưa quá xa với thời kỳ lịch sư hiện đại? Việc tìm kiếm, nghiên cứu chúng không quá khó khăn như các thư tịch cổ (Thư tịch Hán và Nôm)?, V.V
Những lý do ấy đều có khía cạnh đúng của chúng Tuy nhiên, sự biến đổi của một ngôn ngữ như tiếng Việt chẳng hạn là một chuỗi thay đổi liên tục trong lịch sử Không quan tâm nghiên cứu tiếng Việt qua các thư tịch viết bằng chữ quốc ngữ ở thời kỳ đầu của nó e rằng là một khiếm khuyết bởi bỏ qua một mắt xích trong tiến trình phát triển của tiếng Việt
Có lẽ vì thế gần đây một số nhà nghiên cứu đã bỏ công nghiên cứu tiếng Việt qua từ điển và
"Phép gi ảng tám ngày" của ALECXANDRE DE RHODES, một số tư liệu viết tay của Văn
Tín, BENTO THIỆN, 1659 v.v
Trong số những thư tịch viết bằng chữ quốc ngữ có một tài liệu đã được một số nhà nghiên cứu như : Đỗ Quang Chính, Thanh Lãng cho là rất quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu đúng mức, đó là Sách sổ sang chép các việc (từ đây xin viết tất S.S.S) của PHILIPHÊ BỈNH (1822)
Vị trí, tầm quan trọng của S.S.S không chỉ là ở độ dày trên 600 trang của nó (600 trang
có thể không nói được gì nhiều về chính trị, xã hội, văn hóa nhưng về phương diện ngôn
Trang 7ngữ là một tư liệu quý) mà còn chủ yếu là những vấn đề ngôn ngữ hàm chứa ngay trong cuốn sách
Khai thác triệt để s.s.s trong sự so sánh với các tác phẩm trước và sau nó, người ta vừa
có thể thấy được những khía cạnh về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt chứa trong s.s.s vừa có thể lý giải được một số khía cạnh về đặc điểm tiếng Việt
Luận án đi sâu tìm hiểu s.s.s xuất phát từ những ý nghĩa ấy
2 L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Tài liệu về chữ quốc ngữ từ thời kỳ đầu bắt nguồn hình thành cho đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX có thể nói là rất hiếm hoi, bởi vì giai đoạn này nó là loại chữ viết chỉ phổ biến trong khuôn khổ nhà thờ công giáo Trong số các tài liệu hiếm hoi đó phải kể đến quyển S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH Tác phẩm được Thanh Lãng in chụp lại như nguyên bản, sau đó giới thiệu và được Viện đại học Đà Lạt xuất bản tại Sài Gòn năm 1968
S.S.S được tác giả viết năm 1822, về mặt ngôn ngữ có thể xem như là tài liệu hiếm Vì
vậy, các nhà nghiên cứu đã khai thác nhiều mặt: ngữ âm lịch sử; ngữ pháp, chữ viết
Văn bản này thể hiện được nhiều ưu điểm riêng mà những tài liệu khác không có, bởi
vì trước đó có những tài liệu khác nhưng đa số là tự điển mang tính điển chế Nếu có văn bản thì thường không toàn diện, ngắn như Phép giảng tám ngày của ALECXANDRE DE
RHODES, một số tài liệu viết tay của Văn Tín, BENTO THIỆN 1659
S.S.S có vị trí quan trọng thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì được viết bằng chữ quốc ngữ vào thời điểm đầu thế kỷ XIX Nó được xem như cứ liệu để so sánh lịch sử ngôn ngữ
Tuy có tầm quan trọng đối với lịch sử như đã nêu trên nhưng cho đến nay nhiều nhà ngôn ngữ chỉ nghiên cứu từng khía cạnh riêng lẻ hay điểm qua chứ chưa có công trình hoàn hảo về tài liệu quý này Cụ thể về ngữ âm có một số bài viết của Nguyễn Thị Bạch Nhạn
1994, Hoàng Dũng 1995, Nguyễn Phương Trang 1996 về ngữ pháp có một số bài về loại
từ của Đinh Văn Đức, Lê Trung Hoa Như vậy, chỉ duy nhất có công trình của Thanh Lãng 1968, viết có tính chất đầy đủ hơn cả nhưng vẫn còn ở dạng giới thiệu chứ chưa đi sâu phân tích những vấn đề ngôn ngữ thể hiện trong văn bản
Riêng ở miền Nam có công trình: Cách viết chữ quốc ngữ của PHILIPHÊ BỈNH qua quyển S.S.S của Nguyễn Văn Sâm 1972, được đưa vào giảng dạy ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn Bài viết này cũng còn mang tính khái quát chưa có giá tri thực tế cao và các quan điểm
lý giải có tính chủ quan
Trang 8Mặc dù vậy, nhưng những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm mức độ nào cũng thể hiện giá trị đích thực của tác phẩm này Đồng thời hiểu rõ đây là văn bản đầu tiên có tính hoàn chỉnh về mặt ngôn ngữ, phản ánh hiện trạng chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX theo hướng riêng, mang dấu ấn phương ngữ Đàng Ngoài
Điểm qua các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy một cách khách quan là chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ các vấn đề ngôn ngữ trong S.S.S Vì vậy đề tài này sẽ
cố gắng nghiên cứu đầy đủ hơn về một số vấn đề ngôn ngữ trong văn bản, như ngữ âm, từ vựng, một phần ngữ pháp trên cơ sở thống kê miêu tả, so sánh đối chiếu đối với các tác phẩm trước và sau đó
3 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1 Luận án nhằm giới thiệu đầy đủ cho sinh viên một văn bản hiếm có bằng chữ quốc ngữ vào thời kỳ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Qua đó giúp cho bạn đọc hình dung tương đối đầy đủ hệ thống những vấn đề ngôn ngữ trong S.S.S
2 Từ đó góp thêm một ít tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, có cơ sở đánh giá đúng hơn tác dụng của các văn bản tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ ở thời kỳ đầu
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Thực hiện đề tài này sử dụng hai phương pháp chính :
- Thống kê miêu tả
- So sánh lịch sử
4.1 Phương pháp thống kê miêu tả:
Sử dụng phương pháp thống kê miêu tả, chúng tôi tiến hành sự thể hiện của một số hình thức chữ quốc ngữ được sử dụng trong S.S.S Căn cứ vào thành tựu của ngành ngữ âm học lịch sử, người viết cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa hình thức chữ viết với hệ thống ngữ
âm trong văn bản
Về phương diện từ vựng, ngữ pháp, luận án thống kê miêu tả tỉ mỉ những từ cổ, từ địa phương Các thành ngữ và về một hiện tượng ngữ pháp(loại từ) khác biệt so với ngày nay
4.2 Phương pháp so sánh lịch sử :
Sau khi thống kê, miêu tả những hiện tượng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp được thể hiện trong S.S.S luận án tiến hành so sánh đối chiếu với các tư liệu chữ quốc ngữ có trước
đó như :
Trang 9- Phép gi ảng tám ngày và Từ điển Việt-Bồ-La của ALECXANDRE DE
RHODES(1651)
- Từ điển Việt-La của PIGNEAU DE BÉHAINE (1772) và một số văn bản viết tay của các linh mục nước ngoài và trong nước như : CRISTOPORO BORRI (1621) Văn Tín Benlo Thiện (1659) và sau đó như:
- Nam Việt Dương hiệp tự vị của J.L.TABERD (1838)
- Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh PAULUS Của (1895)
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thể hiện trong S.S.S PIIILIPHÊ BỈNH
Luận án phân tích làm rõ một số biểu hiệu về ngữ âm sự tồn tại các tổ hợp phụ âm bl,
ml, một số vần hiếm thấy trong lịch sử ngữ âm tiếng Việt (uâ, uyê, ươ ) hay dấu phụ về từ vựng, luận án cố gắng làm rõ nguồn gốc những từ cổ hay từ Hán Việt mà ngày nay không dùng hoặc ít dùng Về ngữ pháp do những giới hạn của một luận án bậc cao học, luận án xin
tự giới hạn vào một vấn đề loại từ
Qua tất cả những gì đã phân tích, người viết muốn chứng minh S.S.S là tư liệu quý giá
về mặt ngôn ngữ Tác phẩm này đã góp phần phản ánh nhiều về mặt hiện trạng tiếng Việt (nói chung) và chữ Quốc ngữ (nói riêng) ở một thời điểm cụ thể và vùng phương ngữ cụ thể
6 K ẾT CẤU LUẬN ÁN:
Luận án có : gồm 76 trang chính và 4 trang thư mục tham khảo Sau phần mở đầu (trình bày ý nghĩa đề tài, lịch sử nghiên cứu, đóng góp của luận án, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu), luận án chia thành 4 chương
Trước khi trình bày các kết quả nghiên cứu cụ thể, luận án dành chương 1 để giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm S.S.S Cũng như điểm lại quá trình hình thành và phát triển chữ quốc ngữ
Chương 2 phân tích những đặc trưng ngữ âm thể hiện qua âm đầu, phần vần và thanh điệu, chương này cũng dành sự quan tâm đúng mức cho những vấn đề chính tả thể hiện trong S.S.S
Chương 3 xem xét những vấn đề từ vựng, trước hết là vốn từ cổ trong S.S.S Người viết còn lưu ý phân tích những đặc trưng đáng lưu ý của các loại từ đơn, từ ghép, từ láy
Trang 10trong S.S.S so với tiếng Việt ngày nay Chương này còn cung cấp tư liệu về các thành ngữ Việt và Hán sử dụng trong S.S.S
Chương cuối cùng dành cho vấn đề ngữ pháp Do những giới hạn chủ quan và khách quan, luận án chỉ phác thảo một số nét, chung quanh loại từ trong S.S.S
Trang 11CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CH Ữ QUỐC NGỮ
Trải qua 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, người Việt Nam chúng ta đã phải học và sử dụng chữ Hán Chữ Hán được dùng như là thứ chữ duy nhất trong công văn giấy tờ của các triều đại phong kiến, trong nhà trường, trong sáng tác thơ văn Vào khoảng thế kỷ thứ IX -X, một số nho sĩ với tinh thần tự cường dân tộc đã sáng tạo ra chữ Nôm Chữ Nôm được tạo ra trên cơ sở chữ Hán Một số vua chúa như Nguyễn Huệ, đã có ý thức đề cao chữ Nôm, dùng chữ Nôm trong công văn giây tờ Nhà nước Song việc học chữ Nôm, sử dụng chữ Nôm vô cùng khó khăn, nên tuổi thọ của nó không bao năm Có thể nói, trong một thời gian rất dài, cho đến cuối thế kỷ XVI, người Việt Nam chúng ta chỉ quen với chữ Hán
Mãi cho đến khi xuất hiện các nhà truyền giáo phương Tây (các giáo sĩ người Pháp,
Bồ Đào Nha ) người Việt Nam chúng ta mới biết và dùng một thứ chữ mới: chữ quốc ngữ, Chữ quốc ngữ theo một số nhà nghiên cứu như : Nguyễn Khắc Xuyên 1959, Thanh Lãng 1961, Đỗ Quang Chính, 1972 được hình thành vào khoảng đầu thế kỷ XVII do các nhà truyền đạo Thiên chúa nước ngoài Họ đến Việt Nam hàng loạt ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài với mục đích truyền đạo Để thành công, các linh mục này phải học tiếng Việt sau đó dùng chữ cái Latinh để ghi âm Từ đó, chữ quốc ngữ đầu tiên được ra đời Thật ra, (theo Nguyễn Khắc Xuyên) sự chế tác chữ quốc ngữ nầm trong bối cảnh chung về công cuộc Latinh hóa một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng việc sáng tạo chữ quốc ngữ do công trình kế tục của nhiều nhà tmyền giáo Bồ Đào Nha, Ý, Pháp trong đó vai trò của ALECXANDRE DE RHODES là đặc biệt quan trọng
Buổi đầu, do việc ghi âm tiếng Việt chưa được thống nhất giữa các giáo sĩ có quốc tịch khác nhau, mỗi người ghi một cách theo sự phiên âm của mình(1) Về sau họ mới xây dựng được chữ viết tương đối thống nhất Chữ quốc ngữ ngày nay chính là chữ viết đã được các nhà truyền đạo Dòng Tên nước ngoài tự học mà sáng tạo nên, Phương pháp chung để sáng tạo chữ quốc ngữ là dựa vào phần nào chữ Bồ Đào Nha, Ý và một số dấu phụ Hy Lạp
Thực tế đã khẳng định các giáo sĩ phương Tây đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ cũng để làm tốt việc truyền đạo, bởi lẽ các linh mục không có ý đồ thay thế loại chữ này vào chỗ chữ
Trang 12Hán hay chữ Nôm mà chỉ truyền bá và sử dụng trong việc giảng đạo ở những vùng công giáo Vì vậy mà gần 2 thế kỷ (từ khi mới hình thành đến cuối thế kỷ XVIII) chữ quốc ngữ chỉ giới hạn phạm vi giao tiếp trong nhà thờ với mục đích tôn giáo Nhưng với ưa điểm đơn giản, chữ quốc ngữ đã được tiếp nhận một cách nhanh chóng, Cụ thể là đã có người giỏi về chữ quốc ngữ ngay buổi đầu như Bento Thiện với tập Lịch Sử An Nam (1659)
Nói đến vai trò chữ quốc ngữ không thể không kể đến công lao của giáo sĩ người Pháp
ALECXANDRE DE RHODES (qua hai tư liệu viết bằng chữ quốc ngữ Phép gi ảng tám ngày và T ự điển Việt-Bồ-La (1651) Đã có không ít người cho rằng ALECXANDRE DE
RHODES là người sáng tạo ra chữ quốc ngữ, nhưng thực ra thực tế chứng minh rằng ông chỉ là người có công tổng kết các công trinh của những giáo sĩ người Âu khác vào đầu thế
kỷ XVII Và chính ông đã xác định điều này trong lời tựa của quyển Từ điển Việt-Bồ-La in
năm 1651 tại Rome :"Tuy nhiên trong công việc này ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú tại Cô Sinh và Đông Kinh thì ngay từ đầu tôi đã học với cha PRANCISCO DE PINA người Bồ Đào Nha, thuộc hội Dòng Giê-Su rất nhỏ bé, chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bất đầu giảng thuyết bằng phương ngữ
đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là cha GASPAR DE AMARAL và cha ANTONIO BARBOSA, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn tự điển : ông trước bất đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm "
Sau này có hàng loạt sách, công trình chữ quốc ngữ được viết, nhưng đa phần dưới dạng từ điển đối chiếu tiếng nước ngoài như giáo sĩ MARCEL JERNEYUA có Từ điển Bồ- Việt, Từ điển Latinh - Việt Nam của PELICIANO ADONO chép tay (1783) và cuối thế
kỷ XVIII có linh mục người Pháp PIGNEAU DE BÉHAINE biên soạn Từ điển Việt-La
(1772) và J.L TARBERD biên soạn Từ điển Việt-La (1838) xuất bản tại Ấn Độ
Theo sự khảo sát và đánh giá của những nhà nghiên cứu chữ quốc ngữ ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII không khác gì so với chữ viết tiếng Việt hiện đại, Sau đó có hai công trình quan trọng khác và đóng góp lớn trong việc tiếp tục cải cách chữ quốc ngữ ngày càng hoàn thiện: một là cuốn Từ điển Việt Pháp đầu tiên của LEGRAND DE LALIRAYE xuất bản năm 1868 tại Sài Gòn Cuốn từ điển ra đời đánh dấu một ý thức cải cách chữ quốc ngữ lần thứ hai (lần thứ nhất được lấy mốc là Từ điển Việt-La của PIGNEAU DE BÉHAINE), sự
cải cách đó không được các nhà nghiên cứu đương thời và sau này chấp nhận Hai là cuốn
Trang 13Từ điển Việt-La của IS.THEUREL xuất bản năm 1877 tại Ninh Phú Cuốn từ điển này ra
đời với ý đồ hoàn chỉnh thêm cuốn T ừ điển Việt-La của J.L.JABCRD (1838) cho phù hợp
với sự phát triển của tiếng Việt ở nhiều mặt Trên cơ sở đó mà vào những năm cuối của thế
kỷ XIX Huỳnh Tịnh Của đã biên soạn cuốn Đại Nam Quốc âm tự vi (1895) Đây là từ
điển đầu tiên có giải thích và có thể xem là mốc cuối cùng của chặng đường hoàn chỉnh chữ quốc ngữ
Dựa vào những chứng cứ, bút tích, quá trình sử dụng, sự phổ biến xã hội, một số nhà nghiên cứu thường chia diễn biến của chữ quốc ngữ làm 3 giai đoạn
- Giai đoan thứ nhất: Trước năm 1651, đây là giai đoạn có tính tìm hiểu thể nghiệm, các hình thức chữ quốc ngữ được sử dụng có tính cá nhân tùy tiện, thực chất chỉ là sự phiên
âm một số từ ngữ tiếng Việt (thường là địa danh) ví dụ : Jinoa : xứ Hóa (tức Thuận Hóa), Quignin : Qui Nhơn, Quanguya : Quảng Nghĩa (trong một số tài liệu viết tay của JOÀO ROZI, CRITOPORO BORRI ) hay Muon bau dau chiristlan chian, (muốn vào đạo thiên chúa chăng?) Giai đoạn này có hai đặc điểm :
Chưa có đấu thanh và chưa phân biệt các nguyên âm ngắn dài
- Giai đoạn thứ hai: Đánh dấu bằng sự xuất hiện của T ừ điển Việt-Bồ-La của
ALECXANDRE DE RHODES Đây là giai đoạn chữ quốc ngữ đã thịnh hành, phạm vi phổ biến rộng rãi và có tính chất xã hội hơn Giai đoạn này có đặc điểm đã sử dụng dấu thanh đầy đủ và phân biệt được các nguyên âm ngắn dài
Tuy nhiên cách ghi một số âm đầu, một số vẫn còn khác ngày nay (vì được xây dựng trên nguyên tắc ghi âm ngữ âm học, các biến thể phát âm, biến thể địa phương đều được thể hiện đầy đủ trong chữ viết)
- Giai đoạn thứ ba: Được đánh dấu bằng sự xuất hiện T ừ điển Việt-La của J.L
TABERD (1838) Đây là giai đoạn ổn định và hoàn thiện của chữ quốc ngữ để dần dần đưa vào phổ biến rộng rãi trong xã hội Đặc điểm của giai đoạn này được xem là không khác gì bao nhiêu so với chữ quốc ngữ hiện đại (ngoài một số nét không đáng kể về ngữ âm) Ở giai đoạn thứ ba này dấu vết cũ còn lưu lại một ít (về chữ viết) ta có thể so sánh được qua văn bản S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH (1822) và sẽ có dịp phân tích tỉ mỉ ở phần nội dung đề tài Chữ quốc ngữ là loại hình văn tự ghi âm nhằm tái hiện một chuỗi âm thanh tiếng Việt Nhưng chữ quốc ngữ ban đầu là do các nhà truyền đạo Châu Âu dùng chữ cái Latinh kết hợp phần nào chữ Bồ Đào Nha, Ý và các dấu Hy Lạp để ghi âm tiếng Việt, nên đã có những điểm bất hợp lý mà đến nay vẫn còn tồn tại Như một âm vị /k/ ở chữ quốc ngữ được thể
Trang 14hiện bằng ba chữ khác nhau : C, K, Q Hoặc âm vị /γ/ lúc ghi g, lúc ghi gh cho đến nay những bất hợp lý của thời ký đầu chữ quốc ngữ đo các nhà truyền giáo mắc phải hiện nay vẫn còn nguyên trạng và gây không ít tranh cãi giữa các nhà ngôn ngữ học Đồng thời cũng
có nhiều hội nghị về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ(2) Gần đây trong một bài viết :"Mấy nhận xét về chữ quốc ngữ" Giáo sư Cao Xuân Hạo đã cho rằng: "Nhược điểm của chữ quốc ngữ không phải là ở chỗ nó chưa thực sự là một hệ thống phiên âm âm vị học mà chính là ở chỗ
nó có tính cách thuần túy ghi âm và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ hiểu nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương và nhược điểm ấy là rõ nhất và tai hại nhất là trường hợp các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt Tuy vậy, cũng gần giống như chữ Anh và chữ Pháp, những chỗ người ta coi là bất hợp lý chính là ở chỗ làm cho nó phân biệt được nghĩa và cội nguồn của các từ đồng âm : gia và da, lý và lí (trong lí nhí) v.v và khi người ta đã có nhiều thế kỷ để quen với diện mạo văn tự của các từ ngữ, các diện mạo ấy trở thành cái hồn
của chữ nghĩa, nó biểu hiện được ý nghĩa của ngôn từ không cần thông qua cách phát âm (vốn thay đổi tùy theo từng vùng)" Vì vậy khi cho rằng việc cải cách như đã được đưa ra đôi khi làm ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa và vấn đề cải cách chữ quốc ngữ nếu có đặt ra thì phải hết sức thận trọng
Chữ quốc ngữ nếu được xem như là một chỉnh thể thống nhất thì sự biến đổi của nó cũng có những quy luật phức tạp, trong quá trình phát triển hình thức mới xuất hiện và tồn tại song song hình thức cũ Hình thức mới đó phải qua thực tế sử dụng mới được chấp nhận
và rồi hình thức mới khác lại xuất hiện, tuần tự tiếp diễn, trong quá trình phát triển, chữ quốc ngữ dù sinh sau đẻ muộn nhưng đã dần dần thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm và ngày càng tỏ ra ưu thế và trở thành văn tự chính thức của quốc gia
Từ đó, ta có thể hiểu rằng tiếng Việt nói chung và chữ quốc ngữ nói riêng đã trở nên
ổn định nhất trong giai đoạn hiện nay
1.2 TÁC GI Ả VÀ TÁC PHẨM
1.2.1 Vài nét v ề tác giả:
PHILIPHÊ BỈNH, như một số nhà nghiên cứu đều chung nhận xét "không mấy quen thuộc và tiếng tăm, tác phẩm của ông hầu như ít người biết tiếng." (Nguyễn Phương Trang, 1996) Nhưng những gì ông để lại cho chúng ta như tác phẩm s.s.s được viết ỏ LISBONE năm 1822 thì thật là quý hiếm PHILIPHÊ BỈNH sinh năm 1759 tại Hải Dương, năm 1776
(2) Có thể kể 1956 cuộc hội thảo cải tiến chữ quốc ngữ tổ chức Sài Gòn 1961 hội nghị cải cách chữ quốc ngữ -
Hà Nội
Trang 15
ông đi tu, đến năm 1793 ông thụ phong linh mục, Thời gian này ông tỏ ra là người có năng lực nên được giáo hội Dòng Tên giao cho nhiều chức vụ quan trọng Ông có dịp đi nhiều: Macao, Goa, Trung Hoa Sau do tranh chấp giữa hai phe Dòng Tên và Dòng Đa Minh, Tòa Thánh do áp lực quốc tế có phần nghiêng về Dòng Đa Minh mà bỏ rơi Dòng Tên Vì vậy, Dòng Tên mới lập một phái đoàn gồm linh mục và thầy giảng Việt Nam sang Bồ Đào Nha
để yết kiến Giáo hoàng và xin được can thiệp Thầy cả PHILIPHÊ BỈNH nhận nhiệm vụ dẫn đầu phái đoàn trên vào năm 1796 Cuối cùng thất bại, Dòng Tên bị bãi bỏ ở Việt Nam
Từ đó, ông và hầu hết những người trong phái đoàn phải sống lưu vong hơn 30 năm ở Bồ Đào Nha và qua đời ở đó
Trong suốt thời gian sống lưu vong ở đất người, PHILIPHÊ BỈNH đã chú tâm đến nhiều về việc biên khảo, dịch thuật Trong quyển S.S.S ông đã liệt kê ra 21 quyển đề tài gồm nhiều loại khác nhau (tr.600) từ truyện các ông thánh của đạo Thiên chúa đến lịch sử Việt Nam (Chuyện Đàng Trong, chuyện Đàng Ngoài) cùng Tự điển Việt và tiếng nước ngoài Thanh Lãng trong bài giới thiệu quyển S.S.S có ghi thêm năm bộ khác :
o Dictionarium Annamticum - Lucitanum (1791)
o Dictionarium Annamticum - Lucitanum (khác bản trên)
o Dictionarium Lucitanum - Annamticum
o Truyện nhật trình õu Pemand Mendes Pinto (1817)
1.2.2 Sơ lược về tác phẩm:
Tập hồi ký S.S.S được viết xong vào năm 1822 tại Lisbone (Bồ Đào Nha) dày khoảng
600 trang (625 trang nhưng có một số trang ông để trống) Tác phẩm này được Thanh Lãng giới thiệu và Viện Đại học Đà Lạt xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn năm 1968 (in chụp nguyên bản) Nguyên bản được viết tay vào năm 1822, hiện được lưu trữ tại thư viện Vatican, mục tài liệu Bắc Kỳ
Nội dung tác phẩm, ông ghi chép nhiều sự việc, nhưng không được sắp xếp theo trình
tự nhất định nào về thời gian, chương, mục Vì vậy, khi giới thiệu tập S.S.S ông đã viết:
"Chép nhiều sự cho nên gọi là sách sổ sang, song chẳng có từng đoạn như các sách khác Và
để người đọc tiện theo dõi ông đã làm một bảng mục lục riêng Nội dung chính gồm có ba phần (trang mở đầu S.S.S)
Phần thứ nhất: nói về những việc thuộc Dòng Tên (Đ.C.J)
Phần thứ hai: nói về những việc thuộc về mình và bạn bè
Phần thứ ba: về những chủ đề khác
Trang 16Trong từng phần, ông nêu rõ từng sự việc và ghi số trang về nội dung phần 1, ông ghi lại các diễn tiến, hoạt động của dòng Đ.C.T ở Việt Nam (Annam) và một số nước khác đồng thời cũng nêu lên những công trạng các vị thánh (bề trên), linh mục và thầy giảng của dòng, Nội dung phần 2, ông kể lại những việc làm của mình (khi thụ phong linh mục) cùng bạn bè ở trong nườc và khi lưu vong ở Bồ Đào Nha
Nội dung phần 3 ông ghi lại các phép làm lễ, phong tục tập quán, sinh hoạt đời thường của người phương Tây, xã hội phương Tây và người Việt Nam, xã hội Việt Nam Đồng thời ông cũng ghi lại các kinh nghiệm làm nghề in, đóng sách mà nước ta bấy giờ chưa thịnh hành
Điều đặc biệt và đáng quan tâm nhất của tập S.S.S là còn ở tình trạng viết tay và được công bố nguyên bản nên giúp chúng ta ngày nay tìm hiểu được nhiều vấn đề về ngôn ngữ như : ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Qua đó phần nào ta có thể biết được về hiện trạng tiếng Việt ở Đàng Ngoài thể hiện qua chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Trang 17
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGỮ ÂM TRONG S.S.S
An Nam hay Đông Kinh in ở đầu cuốn từ điển đôi khi rất hiếm người ta còn thêm l vào p thí
dụ : plan Bảng đối chiếu
Chữ viết ghi âm đầu ALECXANDRE DE
Trang 18Điều đáng lưu ý là trong cuốn T ừ điển Việt-La của PIGNEAU DE BÉHAINE (1772 -
1773) (sau T ừ điển Việt-Bồ-La của ALECXANDRE DE RHODES 121 - 122 năm và trước
quyển S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH 50 năm) và quyển Từ điển Việt-La của TABERD
(1838) (sau S.S.S 16 năm) lại không có ký hiệu nào ghi các tổ hợp phụ âm Kể cả ml, bl có trong S.S.S
Trang 19tlao trao trao (giao)
Và một số không tìm thây sự tương ứng như :
Trang 20tlần thuyền không mui
- cho đến đứa còn ảm cũng vẩy tay dù chưa biết nói (tr.396) (
(1) (kể từ đây tất cà thí dụ trích xin không sử đụng dấu ( ) trước và sau câu trích.)
- thì người vui mừng mà ảm lấy hình như được con chim lạc (tr.226)
- Chúng tôi ước ao muốn làm việc thánh tông đồ chúng tôi cho blọn (tr 190)
- Đ.C.J ban cho người còn lọn ven xác mình (tr.312)
- Đóng súc sách mà nhọn trôn như cái thuyền cho được lúc lác, cùng cứ giờ mà cho nó
bú (tr.394)
Tóm lại: phụ âm đầu /tl/ của Từ điển Việt-Bồ-La hầu hết các trường hợp đều tương
ứng với từ có chữ viết phụ âm đầu tr (trong S.S.S) ngoại lệ có 3 trường hợp lại tương ứng với từ có chữ viết phụ âm đầu là bl, l, và không có sự tương ứng (bỏ tl)
Trang 21+ Tương ứng đơn : bl ở T ừ điển Việt-Bồ-La tương ứng với một trong những âm /bl/,
/gi/, /l/ của S.S.S
+ Tương ứng kép : bl, ALECXANDRE DE RHODES tương ứng với cả hai hình thức của S.S.S bl và gl, bl và 1
Thống kê trong Từ điển Việt-Bồ-La ta có tất cả 76 mục từ có phụ âm đầu là /bl/
nhưng đến S.S.S có được 16 trường hợp tương ứng, còn lại không tìm thấy sự tương ứng,
Ta có thể thống kê các trường hợp tương ứtig đơn và kép như sau
Tương ứng đơn:
Thí dụ:
o Kẻo người ta phải chước dối blá nó ru (tr.309)
o Vì thấy dân Judeo nhiều con trẻ blai (tr.396)
o Thì được blả nợ người ta cho sạch (tr.316)
o Là sự mặt blời, mặt blang cùng các ngôi sao (tr.316)
o Mà blải chiếu hai bên lò để cho các đàn bà (tr.584)
+ bl tương ứng với gi:
Thí d ụ :
o Gi ấy trắng thì giải trên phên (tr.584)
o nhiều người điêu thật mà ăn năn giở lại cùng D.C.J (tr.282)
o mà khi cháy ở làng nọ cùng bén sang làng kia vì cái gianh hay lên cùng rơi
o Đã có kinh blái tim (tr.378)
o đã ban cho mật giái núi gần thành Macao (tr.499)
o thì blối rằng đem xác mình về (tr.442)
Trang 22o có một thầy dòng đã làm tờ giối giăng (tr.420)
o để cho nó blõù chè trong một vườn Dòng (tr.420)
o lấy vườn Dòng D.C.J để mà giồng chè (tr.137)
o đốt xương cha thằng Hẻo cùng tán ra blo (tr.471)
o thì m ới cháy ra gio hai xác ấy (tr.477)
+ bl tương ứng với bl và l
Thí dụ :
o tôi tá người hãy còn blọn vẹn (tr.311)
o bạn cho người còn lọn vẹn xác mình (tr.311)
So sánh với Từ điển Việt-La của Pigneau de Béhaine, tình hình ở tổ hợp phụ âm đầu
/bl/ có khác Nguyễn Thị Bạch Nhạn trong luận án "Sự biến đổi các hình thức chữ quốc
ng ữ từ 1620 - 1877" có thống kê, trong số 93 mục từ có bl của Tự điển Việt-Bồ-La (1651)
đến Vi ệt-La (1772) thì có 59 từ tương ứng với tr và 6 từ tường ứng với l, l trường hợp
tương ứng khác và có 21 trường hợp còn lại không có tương ứng Dựa trên cơ sở đó tác giả
đã cho rằng phụ âm đầu /bl/ trong T ừ điển Việt-Bồ-La chuyển đổi thành các phụ âm đơn
trong T ừ điển Việt-La theo sơ đồ sau :
bl
Như vậy, qua hai cứ liệu quan trọng xuất hiện trong hai thời điểm khác nhau là T ừ điển Việt-La của Pigneau de Béhaine và S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH có hai hướng thay đổi,
sự tương ứng hoàn toàn khác nhau, S.S.S có xu thế tương ứng với gi và trong Từ điển
Việt-La (1772) lại thành tr Sự tương ứng khác biệt này có lẽ do áp lực xã hội và mang tính lịch
sử Bởi vì Từ điển Việt-La (1772) mang dáng dấp phương ngữ Đàng Trong và S.S.S
(1822) mang dáng dấp phương ngữ Đàng Ngoài, cho nên ta có thể hiểu được rằng hai tổ hợp chữ viết bl và tl ở cuối thế kỷ XVIII đã có sự tương ứng với tr ở phương ngữ miền Trung và Nam, thành gi ở phương ngữ miền Bắc, Ngày nay trong tiếng Việt hiện đại vẫn song hành tồn tại
Tr ời và giời (<blời) trai và giai(<blai) trâng và giáng (<blăng) tro và gio (<blo)
Cũng có trường hợp bl thời xưa nay chỉ có tr, chứ không có gi Nhưng điều đó là do những nguyên nhân khác Chẳng hạn blái tương ứng với trái ở phương ngữ Trung và Nam,
tr
l
Trang 23nhưng ở phương ngữ Bấc lại không có giái Tuy thế, S.S.S có ghi giái núi, giái đồi, giái giăng (các trang 5, 271, 499 và 583) chứng tỏ không phải không có lúc phương ngữ Bắc có tồn tại giái Từ này bị loại ra khỏi vốn từ là do đồng âm "không lịch sự" trừ những trường hợp cặn (residue) như trong dái tai, dái chân, già dái non hột (xem Hoàng Dũng 1995)
mlời - lời mlẻ - lẻ (lời)
Thí d ụ :
o vì khi trước đã nhầm mà phạm đến Dòng (tr.284)
o Cùng thường xuống ấn nhặt ở sân nhà Dòng (tr.208)
o có ý cho người ta nhạt lòng kính chuộng Dòng Đ.C.J (tr.278)
Đặc biệt khi khảo sát có một số trường hợp chúng tôi nghi ngờ là nh nhưng tác giả lại ghi là h : hài quạt (<mlài quạt?)
o vua bà cầm hai tay hài quạt mà quạt vì là của chúng tôi mới tiến (tr.165)
Điều đáng quan tâm khi khảo sát phụ âm này là trường hợp "lớn" được T ừ điển
Việt-B ồ-La nhất loạt ghi là mlớn nhưng ở S.S.S lại nhất loạt ghi là blớn
Thí d ụ :
o Và vua rất blớn vì đạt nhiều nước (tr.280)
o Thứ bé thì 20 đồng một cái thứ blớn thì (tr.559)
Điều này cũng đã góp thêm cứ liệu cho phép khẳng định mối quan hệ vốn có giữa các
tổ hợp kí hiệu :"kl, pl, bl, tl, ml, trong tiếng Việt Bà N.K SOKOLOVSKAUA trong luận án" "Bước đầu tái lập hệ thống âm vị tiếng Việt Mường" đã đưa ra mô hình sau:
Trang 24Mô hình trên N.K SOKOLOVSKAISA giả định ml phát triển độc lập không có quan
hệ đến các tổ hợp phụ âm khác Nhưng qua thực tế tìm hiểu, ta vẫn thấy tổ hợp ml không độc lập mà vẫn có quan hệ với các tổ hợp phụ âm khác (dù rất ít cứ liệu) Vì vậy, Hoàng
Dũng trong bài viết"T ừ điển Việt-Bồ-La của ALECXANDRE DE RHODES nguồn cứ
li ệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kl, pl, bl, tl, và ml trong tiếng Việt" đã
chứng minh tổ hợp phụ âm đầu /ml/ có quan hệ với /bl/ Chẳng hạn, nhọ, trong Từ điển
Vi ệt-Bồ-La là mlọ và blộ và ở Từ điển Việt-Bồ-La là mlớn nhưng S.S.S là blớn Và tác giả
bài viết đã đưa ra mô hình nhằm làm rõ mối quan hệ trên
Ở S.S.S tuy còn tồn tại hai hình thức tổ hợp phụ âm bl và ml nhưng không hoàn toàn đầy đủ và bên cạnh đó đã phần nào mở ra hướng chuyển biến theo quy luật đơn giản hóa Vì S.S.S có thể được xem như là một tác phẩm văn học nên sự so sánh, đối chiếu với những tài liệu khác như Từ điển Việt-Bồ-La (1651), Từ điển Việt-La (1772) hay Từ điển Việt-La
(1838) đều không thể trọn vẹn Nhưng sự đối chiếu trên cũng phần nào làm sáng tỏ được sự chuyển hóa của các tổ hợp phụ âm trong giai đoạn cuối thế kỷ thứ XVIII ở Đàng Ngoài Việc tồn tại hai hình thức phụ âm kép ml và bl cho thấy sự biến đổi ngữ âm liếng Việl xảy
ra khác nhau đối với hai phương ngữ Nam và Bắc: phương ngữ Nam không tồn tại hiện tượng phụ âm kép, trong khi đó ở phương Bắc vẫn bảo lưu cách phát âm /bl/ và /ml/
Trang 252.1.2 Âm xát hai môi /β/ thời ALECXANDRE DE RHODES đến S.S.S thì
T ừ điển Việt-La cùa P de béhaine và Việt-La của J.L TABERD đều tương tự, tức
cũng không còn ghi nhận phụ âm đầu /β/ với cách ghi là ϕ Như vậy, có thể khẳng định, vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX quá trình biến đổi ϕ thành ν đã kết thúc
X và S là hình thức chữ viết để phân biệt hai phụ âm đầu S và X Trong lịch sử tiếng Việt hai âm này bao giờ cũng được phân biệt rạch ròi
Ngày nay phương ngữ Bắc đã nhập S vào X Tuy nhiên, ngay từ S.S.S hiện tượng này
đã xuất hiện, thể hiện qua hai trường hợp :
Lẫn lộn S và X : Sứ và Xứ
Dùng S thay cho X và dùng X thay cho S
Sêy thay vì Xây Xan xát thay vì san sát
Thí d ụ :
o Mình coi sóc sứ bổn dạo Annam chẳng được sứ bổn đạo và quê ở Hải Dương xứ (tr.1)
Trang 26o Làm nhà cao thì đào sâu cùng sây đá sây gạch (tr.590)
- Dùng d thay cho r
dâu thay râu
dủ thay rủ
dồ thay rồ (dại) dong thay rong
Thí dụ :
o mà l ại muốn theo đạo dối cho nên thầy nào biết tiếng nói nước phalansa thì tìm đến đấy (tr.219)
o cho nên ai biết rằng người nào đã theo đạo rối thì phải đến trình (tr.241)
o thì làm t ờ nọ, tờ kia mà khuyên dan (tr.218)
o cùng lề luật mười sự răn và những lời khuyên (tr.230), d thay r
o cắn cạnh sườn mẹ mình mà ra thi đã bạc đầu dâu (tr.319)
o mà đem đi thì sang đủ xuống đầu gối (tr.433)
o cho vợ chồng nó uống thuốc dồ dại cho ra mất trí khôn (tr.477)
o mà chó thì thả dong cho nó cạy dong ngoài đồng ấy (tr.591)
Trong T ừ điển Việt-Bồ-La (1651) và Việt-La (1772) hai âm này vốn được phân biệt
rất rõ Vì vậy hiện tượng không thống nhất trên cho thấy S.S.S có thể phần nào phản ánh sự khởi phát quá trình thủ tiêu đối lập của cặp âm d/r ở phương ngữ Bắc bộ
Thời ALECXANDRE DE RHODES vẫn còn phân biệt n và l, ở PHILIPHÊ BỈNH cũng tuân thủ nguyên tắc ghi âm đó nhưng lại có trường hợp ngoại lệ Khảo sát văn bản, ta còn gặp một trường hợp lẫn lộn giữa hình thức chữ viết n và l là :
nên và lên
Trang 27Thí dụ :
o mẹ nên đậu thì con ở trong thai ngày sau phải nên đậu (tr.488)
o vì khi nó nên 4 nên 5 tuổi thì loạn (tr.218)
o và đoạn mới đốt nhà mình mà lên Tuần vương (41)
khác bi ệt
Ngày nay k được dùng khi đứng trước các nguyên âm dòng trước: i, e, ê, iê, q khi có
âm đệm /w/ và c ở các trường hợp còn lại Nguyên tắc đó không được PHILIPHÊ BỈNH tuân thủ S.S.S lẫn lộn cách ghi giữa c và q (cách ghi này do ảnh hưởng cách ghi cũ có từ thời ALECXANDRE DE RHODES) phổ biến trong những trường hợp sau :
cuân thay quân cuốc thay quốc cuấy thay quây cuết thay quyết cuét thay quét
Riêng trường hợp cuốc lại dùng cho cả hai trường hợp :
cuốc - (quân) quốc
- cày cuốc, cuốc xới
Thí d ụ :
o cuân khán H ải dành chết cuân Mèo (tr3)
o Khi Vitvồ khâm cáo bổn cuốc (tr.10)
o cùng cuốc xới và mở ra cho rộng (tr.296)
o k ẻo nó lại cuấy hôi ra (tr.16)
o cho nền cụ Luis cuết trẩy về (tr.7)
o ra cuét nhà rửa bát (tr.46)
Tác giả đã nhất loạt lấy cách ghi c thay q khi đằng sau là bán âm W, xuất hiện với các nguyên âm e, ê, iê, ô, â ngoại trừ nếu sau âm đệm w là nguyên âm a thì sử dụng hình thức kết hợp bình thường với con chữ q : quan, quanh
Thí d ụ :
o Phương Tây thì được mà làm trò quanh năm (tr 48)
Trang 28o cùng các thầy người nhà và quan viên (tr.119)
Trong T ừ điển Việt-Bồ-La (1651) trên đại thể, các con chữ k, c, q được sử dụng để
ghi âm /k/ và được phân bố như sau :
* Ghi là c khi đứng trước các nguyên âm ư, ơ, â, a, ă, u, o, ô, uô, ươ
* Ghi k khi được sử dụng trước các nguyên âm i, e, ê, ie
* Ghi q trước âm đệm W
Tuy nhiên, đôi khi tác giả không theo đúng quy tắc trên trong một số trường hợp:
- c khi đứng tníđc các nguyên âm dòng giữa và sau tròn môi
- không phân bố trước các nguyên âm dòng trước và một số trường hợp trước nguyên
âm dòng giữa (đặc biệt nguyên âm đôi ươ)
- q phân bố trước vần có âm đệm
Như vậy, chữ viết ghi phụ âm /k/ cũng không thống nhất cách thể hiện trong việc đã dùng lẫn lộn các chữ viết c và k trong trường hợp :
cướp và kướp
cưới và kưới cười và kười
Nhưng đến T ừ điển Việt-La của Taberd (1838) tình hình này đã được cải tiến, các con
chữ ghi âm đầu /k/ được sử dụng theo một quy luật phân bố chặt chẽ và đã được bảo lưu cho đến ngày nay
Ta có thể đối chiếu diễn tiến đó như sau :
Alecxandre De Rhodes (1651)
P de Béhaine (1772)
Philiphê Bỉnh (1822)
J.L Taberd (1838)
k
Trang 29k q k q Tóm lại, PHILIPHÊ BỈNH chấp nhận theo cách ghi có từ thời A.de Rhodes và chưa
tìm được phương thức thích hợp, trong khi đó đó T ừ điển Việt-La (1772) ra đời trước 50
năm đã cải tiến cách ghi thống nhất hơn và gần với sách ghi hiện đại Và chỉ sau PHILIPHÊ BỈNH có 16 năm mà Từ điển Việt-La (1838) I.L.TABERD đã hình thành quy luật phân bố
một cách thống nhất như tiếng Việt hiện đại
ch ẽ:
- ng trước các nguyên âm dòng giữa, dòng sau
- ngh trước các nguyên âm dòng trước
Riêng hình thức chữ viết g, gh ghi âm /γ/ tác giả chấp nhận quy luật phân bố
- g trước các nguyên âm dòng giữa, sau
- gh khi trước các nguyên âm, dòng trước
Nhưng thực tế có 3 trường hợp tác giả đã không tôn trọng quy luật trên
ghệy thay vào gậy
ghềy thay cho gầy (guộc) ghầy thay cho gầy (dựng)
Ví d ụ :
o con ghệy hèo tôi cầm tay (169)
o Cùng ra ghềy guộc vì chẳng còn (tr.369)
o Vì khi c ụ LUIS ghầy dưng cho làng gói (tr.20)
Hiện tượng lầm lẫn trên có lẽ do tác giả viết sai chính tả mà ra
S.S.S còn tồn tại hai cách viết khác hẳn so với cách ghi tiếng Việt hiện đại và ngay cả
trong T ừ điển Việt-La (1772) cũng không có cách viết ấy, đó là trường hợp con chữ d và đ
Trang 30D thể hiện D → Dão (Dòng)
Trường hợp âm /k/ chữ viết q tác giả vẫn viết như ngày nay : quan, quanh Nhưng ở hình thức viết hoa tác giả lại dùng cách ghi khác
g thay vì Z hay Q như hiện nay
Xét về nguồn gốc, ta biết hai cách ghi này có từ thế kỷ XVII, cụ thể trong văn bản viết tay của BENTO Thiện (1659) như :
Di thăm - đi thăm
∂ạ - dạ
và âm /k/ được nhất loạt ghi là g (dù viết thường hay viết hoa) khi đứng trước âm đệm
Ví dụ :
" Ngày sau nhà Lý lên trị, cũng là người guan cả" và
"Đến đời sau vua Hấn Guảng nhà Ngô"
(BENTO THIỆN 1659) trường hợp này S.S.S đã cải tiến được một bước vì chỉ bào lưu trong phép viết hoa
Tóm lại, ta có thể thấy hệ thống phụ âm đầu trong S.S.S còn chịu ảnh hưởng nhiều của thời A.DE RHODES
Trước tiên là sự tồn tại hai hình thức ml và bl hệ thống âm đầu của T ừ điển Việt-La
(1772) đã không còn hai tổ hợp phụ âm này dù tác giả không giải thích Nhưng T ừ điển
Vi ệt-La (1838) J.L TABERD cho rằng các hình thức này chỉ là phản ánh cách phát âm địa
phương
Ví vậy, chúng ta có thể hiểu rằng vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX các tổ hợp phụ âm/ml, bl hay, tl/ chỉ còn bảo lưu ở một số phương ngữ Đó có thể là lý do giúp ta hiểu
vì sao S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH một tác phẩm ra đời sau Từ điển Việt-La (1772) gần 50
năm mà vẫn còn các hình thức tổ hợp phụ âm ml và bl và bên cạnh đó là sự không thống nhất đối với cách ghi giữa s/x, d/r hay còn hình thức c trước âm đệm
Ngoài những hiện tượng trên, hệ thống này cũng thể hiện được những chuyển biến nhất định phù hợp quy luật chung ngôn ngữ Đó là cơ sở rời xa thói quen cũ để đi đến sự đơn giản, hợp lý hơn
Trang 312.2 V ẤN ĐỀ PHẦN VẦN
2.2.1 Về phần vần:
Đầu tiên ta có thể thấy được, so với tiếng Việt hiện đại, S.S.S đã thêm dấu "˘" trên con chữ "a" để thể hiện nguyên âm ă của các tổ hợp con chữ : au, ay, anh, ach đưa đến các hình thức : ău, ăy, ănh, ăch
Thí dụ :
o Mà cáo các th ầy thăy mình (tr.281)
o Vì sự các vua chúa phương tây đến hợp nhău (tr.276)
o Song chẳng bao lâu mà ra khỏe mặnh (tr.6
o M ột làng có mặch nước mà thôi (tr 131)
o Thầy dòng Đ.C.J ở nước khác chạy đến (tr.276)
o Vì nó bằy, đặt ra nhiều điều dối trá (278)
o Sang chiều ngằy thứ bảy (290)
o Vì thấy khi chắy cửa chắy nhà (451)
o Nhức ở trên đầu gối, thì đău đớn quá lắm (tr 14)
o Các vua chúa phương tây đều hợp nhău mà xin (276)
o Để cho các thầy rửa tăy mà lău (561)
Xét về điều kiện cần và đủ thì dấu "˘" ở đây là thừa Tuy nhiên phải thừa nhận rằng những người dùng dấu ngắn ở những trường hợp trên có ngữ cảm rất tốt Và tác giả đã sử dụng phổ biến cách ghi này đối với hai vần trên
Nhưng qua thống kê tỉ mỉ, ta cũng bắt gặp một số ít trường hợp tác giả lại ghi như cách ghi hiện nay
mạnh và mạch nhau và lau
Thí d ụ :
o Đi có thứ tự chẳng phải ai mạnh thì được (tr 151)
o Kẻ giữ mạch nước mỡ nắp ra (tr 166)
o Nước người dòng ta ở với nhau làm một (tr.6)
o Cùng một khăn ren để mà lau (tr.561)
So sánh với Từ điển Việt-La (1651), Việt-La (1772) hay Việt-La (1838) Ta có thể
thấy sự tồn tại của các vần này ở những thời kỳ khác nhau
Trang 32Từ điển Việt-Bồ-La vần /ăn, ăj/ được ghi chuẩn như ngày nay trong các trường hợp
sau : rau, máu, ngày Riêng ở vần /εy/, /εk/ thì lại tồn tại hai cách ghi như :
ách và sắch anh và thành đắnh
Trong T ừ điển Việt-La (1772) hiện tượng này diễn ra có khác, vần /ău/ có hai cách
viết: au và ău cùng xuất hiện với tần số tương đương Ví dụ : sau, nhău
Ở vần /εk / cũng diễn ra tương tự : cắp sắch, mắch
Riêng hai hình thức chữ viết ay và anh để ghi âm /ăj/ và /εy/ thì giống ngày nay
T ừ điển Việt-La (1838) ở mọi trường hợp các vần trên, đều thống nhất như cách ghi
Thí d ụ :
o ang/ăng - thì cụ Luis chảng giả (ừ ĩ3)
Trang 33o at/ăt - có người co chân tay lại mà què quạt (tr.J33)
o ap/ăp - mà đi kháp thế gian giảng đạo (tr.270)
o anưăm - người ta thì ra rối rắm (tr.275)
o ac/ăc - bà thánh ấy biết rằng sẽ có giạc (267)
Song hành với cách thể hiện hàng loạt như trên vẫn có một số ít trường hợp ngoại lệ tồn tại như cách ghi hiện nay :
năm/nam giặc/giạc bắt/bát
Thí dụ :
o Đến ngày mồng 7 tháng 8 năm 1814 (tr.280)
o Trên gác ấy thi tối tăm (tr.4)
o Song giặc Phanlansa đến nước rapcles (tr.380)
o mà đức thánh phải bắt (tr.380)
Ở T ừ điển Việt-Bồ-La (1651) hiện tượng này cũng đã xảy ra hàng loạt Ta có thể hiểu
đây là dấu ấn của người phương Tây ảnh hưởng đến cách ghi tiếng Việt (không phân biệt a
và ă, ơ và â) Chính ALECXANDRE DE RHODES đã cho rằng nguyên âm trong vần quốc
ngữ không có /ă/ vì những chữ có dấu mũ ngữa ă, ẽ, õ, thì chỉ đọc rất ngắn, phớt qua, chữ theo sau mới là âm thật Như vậy bước đầu chỉ có ă giả tạo, có tính chất như một ký hiệu phụ ; Đăọc, hăọc, nhăọc, tắoc còn đa số trường hợp đáng lý ghi ă thì được ghi a :
đã bảo lưu cách ghi cũ này và hoặc chịu ảnh hưởng của cách phát âm địa phương
Nhận định trên đã có cơ sở vì năm 1772, Từ điển Việt-La của PIGNEAU DE
BÉHAINE ỏ Đàng Trong đã có ă thực thụ và sử dụng thống nhất ở các vần được viết : ăng,
ăt, ăc, ăt Và đến J.L.Taberd (1838) thì đã ghi nhận đầy đủ ă thực thụ và hoàn toàn không có lẫn lộn
Trang 34Ta có thể so sánh diễn biến cách ghi các vần đó như sau :
Một điều cũng đáng lưu ý là ở bán âm cuối xuất hiện trong vần /ăi/, /ui/, PHILIPHÊ BỈNH ghi không thống nhất như trong tiếng Việt hiện đại
ai - ay trong vai - vay
ui - uy trong túi - tùy (đô)
Thí d ụ :
o cùng vai công nợ người ta (tr.368)
o Kiệu câu rút thì 2 đô tùi (tr.21)
S.S.S còn có trường hợp an ủi đươc viết thành an ủy ( 1 biểu hiện khác)
Thí dụ :
o Khi người an ủy ông Jacobe (tr.368)
an ủy và an ủi là hai biến thể ngữ âm của một từ Từ điển Lê Văn Đức có ghi nhận hình thức an ủy
Cách viết y chỉ xuất hiện sau các nguyên âm ngắn /ă, 𝛾𝛾�/ còn lại đều là i Hiện tượng này chỉ xảy ra có hai trường hợp nêu trên nên có thể cho là do sự lầm lẫn về chính tả mà ra
Vần có âm đệm W khi xuất hiện trước nguyên âm rộng dòng giữa /a, ă/ được PHILIPHÊ BỈNH ghi bằng hai cách u và o thí dụ :
ua, oa:
o khúc sông ấy cùng thấy hỏa mai nhấp nhánh (tr.16)
o k ẻ giữ cửa khúa lại mà đem nập chìa khúa (tr.89)
o thì đã lấy một mẹ góa có hai con (tr.206)
nai, oai:
o xong vít vồ Alecxandre phải bệnh bán thân bất tuại (tr.504)
o Vit vô Portuger phải bệnh bất toại (tr.143)
Trang 35uan, oan :
o càng tuân làm tờ hầu (tr.30)
o như ta đã ăn đoạn thì ngồi (tr.509)
Đối với các vần có âm đệm, hình thức chữ viết u được tác giả dùng nhiều hơn o Hình thức o được tác giả ghi trong các trường hợp : hoa, đoạn, ngoài, loài, khoét nhưng tần số rất thấp Ngược lại hình thức u được sử dụng nhiều và tần số xuất hiện cao : tuân, tuai, khúa, huạch, huảng, thuắt, thuẳng, huặc, khuảnh, khuết
Trường hợp âm đệm W đứng trước nguyên âm /e/ đa số được tác giả ghi là u nhưng có một trường hợp tác giả lại không tuân thủ theo như vậy :
ngoét thay vì nguyệt (tr 166)
và dùng cả hai cách ghi u và o khuét và khoét (tr.23)
tuại và toại (tr 143) Riêng với các vần mà chữ quốc ngữ hiện nay ghi là oap, oăm, oen, không thấy trong S.S.S của PHILIPHÊ BỈNH Phải chăng các vần này có tần số quá thấp nên một cuốn nhật
ký như S.S.S không có điều kiện thu nạp?
Sự thể hiện vần /wai/ và /wat/ trong Từ điển Việt-Bồ-La (1651) chỉ có một cách ghi :
oang và oat, nhưng ở T ừ điển Việt-La (1772) các vần được ghi như S.S.S riêng Từ điển
Vi ệt-La (1838) vần /wai/ chỉ có một cách ghi là oai Căn cứ tình hình trên ta có thể lập bảng
đối chiếu về sự thể hiện các vần trên
Cách ghi S.S.S Cách ghi hiện nay
Trang 36chão chóng vãỏ võng dăò dòng bãó bóng đãó đóng báoc bóc giãó gióng bạoc bọc lãò lòng c ạoc c ọc lão long chaọc chọc mãỏ mỏng đạoc đọc mãó móng gáoc góc nãò nòng hạoc học mãó móng kháoc khóc phãò phong láoc lóc rãò ròng mạoc mọc são song náoc nóc thão thong nhạoc nhọc trão trong soác sóc trã ọ tr ọng táoc tóc …
Thực ra, cách ghi trên đây của PHILIPHÊ BỈNH chẳng qua là tác giả giữ lại cách ghi của ALECXANDRE DE RHODES
Qua tìm hiểu về quá trình phát triển của hình thức chữ viết ghi các vần ong, oc, ta có thể khái quát như sau : từ khi hình thành chữ quốc ngữ đến Từ điển Việt-La (1772), để ghi
nguyên âm o các nhà sáng tạo đều dùng tổ hợp ký hiệu ao Đoàn Thiện Thuật cho rằng nguyên âm dòng sau // kết hợp với /η/, /k/ thể hiện kém tròn môi, các nhà sáng tạo chữ quốc ngữ cố gắng ghi lại một cách trang thành lối phát âm của người Việt cho nên đã dùng
tổ hợp chữ viết ao để ghi âm // Vì vậy mà CADIÈRE trong Phónetique Annamite có viết
"quy tắc chung là những từ có dạng ong hay oc đọc như thế có một âm /a/ nhẹ trước // Vì vậy trong phải đọc traong, tóc đọc là táoc và cách viết traong, táoc phản ánh đúng cách phát âm trên thực tế Nguyên âm trong những từ này không phải là một nguyên âm đơn mà
rõ ràng là một nguyên âm đôi /ao/"(3)
Trong T ừ điển Việt-Bồ-La (1651) để ghi vần ong, oc, ALECXANDRE DE RHODES
đã dùng 2 tổ hợp con chữ ão và ãu aoc, ãoc và có vài trường hợp còn ghi oc
3 Dẫn theo luận án Nguyễn Thị Bạch Nhạn "Sự biến đổi các hình thức chữ quốc ngữ từ 1620 - 1877 - Hà Nội
1994