Đề tài "Một số giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo trên chuẩn trình độ giáo viên tiểu học tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu" sẽ đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện của n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – 2004
Trang 3L ỜI NÓI ĐẦU
Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên là giải pháp có tính chất đột phá trong quá trình phát triển giáo dục Đội ngũ giáo viên phải đủ cả về số lượng và cơ cấu, mạnh về
chất lượng; trình độ đào tạo của giáo viên không ngừng được nâng cao Đó là trách nhiệm của cả xã hội, của toàn ngành giáo dục mà sứ mạng, nhiệm vụ to lớn thuộc về các trường sư phạm - cơ sở đào tạo giáo viên các cấp học, bậc học
Đào tạo trên chuẩn giáo viên tiểu học trước mắt nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục tiểu học, cụ thể là để đội ngũ giáo viên có thể dạy được tất cả các lớp, tất cả các môn
ở tiểu học theo nội dung, chương trình, sách giáo khoa mới
Đề tài "Một số giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo trên chuẩn trình độ giáo viên tiểu học tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu" sẽ đề xuất một số giải pháp phù
hợp với điều kiện của nhà trường CĐSP và tỉnh BR-VT trong giai đoạn phát triển giáo
dục-đào tạo đến năm 2010
Đề tài được sự cộng tác của các cơ quan quản lý giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý
và giáo viên tiểu học trong tỉnh, đặc biệt là CBQL, giáo viên đang theo học các khoa đào
tạo tại chức tại trường CĐSP, của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng nhiều tư liệu, kiến thức của các tác
giả, các giảng viên tham gia khoa đào tạo cao học QLGD khoa 12, đặc biệt là nhận được
sự hướng dẫn tận tình của PGS-TS Hoàng Tâm Sơn, Phó hiệu trưởng trường ĐHDL
Hồng Bàng
Tác giả đề tài chân thành cảm ơn sự cộng tác, hỗ trợ, giúp đỡ của quý vị và mong
nhận được sự góp ý, phê bình
Trang 4
GD-ĐT Giáo dục và Đào tạo
BDTX Bồi dưỡng thường xuyên
GDCN Giáo dục chuyên nghiệp
GD ĐC Giáo dục đại cương
ĐVHT Đơn vị học trình (# 15 tiết)
O.K Đồng ý
CSVC Cơ sở vật chất
Trang 5
MỤC LỤC
L ỜI NÓI ĐẦU 1
B ẢNG KÍ HIỆU, VIẾT TẮT 2
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 6
2 M ỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU: 7
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: 7
4 GI Ả THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI: 7
5 NHI ỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: 7
6 GI ỚI HẠN ĐỀ TÀI: 7
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 9
1 Sơ lược về lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
2 M ột số khái niệm 14
2.1 Giải pháp 14
2.2 Đào tạo chuẩn 15
2.3 Đào tạo trên chuẩn 16
2.4 Phương thức đào tạo 17
3 M ột số vân đề về giáo dục tiểu học 19
4 M ột số vấn đề về giáo viên tiểu học 22
5 V ấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học trong trường Cao đẳng sư phạm 25
5.1 Về đào tạo giáo viên tiểu học trong trường Cao đẳng sư phạm 25
5.2 Về bồi dưỡng giáo viên tiểu học trong trường Cao đẳng sư phạm 27
6 Trách nhi ệm và quyền hạn của Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm 28
Trang 66.1 Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm 28
6.2 Trách nhiệm và quyền hạn của Hiệu trưởng trường CĐSP: 28
7 Quy ho ạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu học của trường CĐSP Bà rịa-Vũng tàu đến năm 2010 30
7.1 Các căn cứ để quy hoạch 30
7.2 Công tác đào tạo bổi dưỡng giáo viên tiểu học giai đoạn 2010 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BR-VT NHẰM ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU H ỌC 34
I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC TẠI TỈNH BR-VT 34
1 Giới thiệu vài nét về tỉnh BR-VT 34
2 Tình hình giáo dục tiểu học của t1nh BR-VT 35
II TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TỈNH BR-VT 39
1 Trình độ đào tạo giáo viên: 39
2 Chất lượng giáo viên tiểu học qua cấc hệ đào tạo 39
3 Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên 41
III TH ỰC TRẠNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BR-VT NHẰM ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 46
1 Giới thiệu về trường CĐSP tỉnh BR-VT 46
2 Thực trạng về các giải pháp của Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm BR-VT nhằm đào tạo giáo viên tiểu học 48
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SÔ GIẢI PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHẰM ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRÊN CHUẨN GIÁO VIÊN TI ỂU HỌC TẠI TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU 64
1 CÁC GI ẢI PHÁP VỀ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH VÀ PHƯƠNG THỨC ĐÀO T ẠO 64
Trang 71.1 Các giải pháp về quy họach, kế hoạch đào tạo 64
1.2 Các giải phấp về phương thức đào tạo 66
2 CÁC GI ẢI PHÁP VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 73
2 1 Các giải pháp về chương trình đào tạo chính quy tập trung 79
2.2 Các giải pháp về chương trình đào tạo không chính quy (chuyên tu, tại chức) 82 3 CÁC GI ẢI PHÁP VỀ ĐỘI NGŨ 85
4 CÁC GI ẢI PHÁP VỀ Cơ SỞ VẬT CHÂT-KINH PHÍ 87
5 CÁC GI ẢI PHÁP VỀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH 89
6 CÁC GI ẢI PHÁP KHÁC 92
6.1 Quan hệ hợp tác trong và ngoài nước là giải pháp hỗ trợ cho công tác đào tạo, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia cho phát triển giáo dục nói chung Quan hệ hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục trong nước, ngoài nước, nhất là trong nước để hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau trong quá trình đào tạo 92
6.2 Các giải pháp về mối quan hệ trách nhiệm giữa các đơn vị, tổ chức liên quan là điều kiện cho các giải pháp nêu trên khả thi 93
PH ẦN KẾT LUẬN 95
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 103
Trang 8PH ẦN MỞ ĐẦU
Đổi mới về giáo dục tiểu học, bao gồm đổi mới về nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, là đòi hỏi của xu thế phát triển giáo dục chung, đã và đang được thực hiện với quy mô lớn như một cuộc cách mạng về cải cách giáo dục tiểu
học Nhằm đáp ứng được yêu cầu về giảng dạy theo chương trình mới, việc đào tạo bồi dưỡng nâng chuẩn trình độ giáo viên tiểu học đã được thực hiện thường xuyên, liên tục từ nhiều năm nay, tuy nhiên còn nhiều khó khăn và cần thiết phải có một kế hoạch tổng thể, dài hạn và mang tính khả thi
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 đề ra các giải pháp về phát triển đội
ngũ giáo viên phổ thông là điều chỉnh cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông, tăng cường
trình giáo dục phổ thông xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên đã đưa ra yêu cầu về trình độ : đến năm học 2005-2006, 90% giáo viên tiểu học đạt trình độ chuẩn, trong đó 50% giáo viên có trình độ cao đẳng sư phạm Đó là định hướng chiến lược cho các địa phương xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục nói chung và kế hoạch nâng cao trình độ giáo viên nói riêng
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có hơn 4000 giáo viên tiểu học được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là từ trường Trung học sư phạm Đồng nai và trường Trung học
sư phạm Đặc khu Vũng tàu-Côn đảo (cũ) Từ năm 1991 đến nay, trường Trung học sư
phạm Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là trường Cao đẳng sư phạm) đã đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoa cơ bản đội ngũ giáo viên tiểu học và bước đầu đã đào tạo chính quy và tại chức giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng sư phạm
Việc tập trung nâng cao trình độ giáo viên các cấp học, bậc học là trách nhiệm của ngành giáo dục nói chung, của trường sư phạm nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu về trình
Trang 9độ đội ngũ giáo viên theo chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và kế hoạch phát triển Giáo dục-Đào tạo tỉnh BR-VT giai đoạn 2005-2010
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng cho việc hoạch định kế hoạch đào tạo của nhà trường sư phạm đồng thời có cứ liệu để huy động mọi nguồn lực của địa phương cho công tác nâng chuẩn trình độ giáo viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới
Làm rõ các giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu học tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
• Đối tượng nghiên cứu : Các giải pháp nhằm đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên
• Khách thể nghiên cứu : Hiệu trưởng trường CĐSP Bà Rịa-Vũng Tàu, giáo viên
ti ểu học tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Việc đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu học phụ thuộc vào các giải pháp hợp
lý của Hiệu trưởng trường CĐSP
Làm rõ cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
Phân tích và làm rõ thực trạng các giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo giáo viên tiểu học tại tỉnh BR-VT
Đề xuất một số giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo trình độ trên
chu ẩn giáo viên tiểu học tại tỉnh BR-VT
Đề tài chỉ nghiên cứu một số giải pháp đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu
học tỉnh BR-VT (trình độ cao đẳng sư phạm)
Trang 107 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi thực hiện các phương pháp cụ thể sau đây
• Nghiên cứu tài liệu nhằm thu thập tư liệu xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
• Điều tra dùng phiếu hỏi để làm rõ thực trạng về các giải pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP nhằm đào tạo giáo viên tiểu học và thăm dò các giải pháp đào tạo
trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu học tại tỉnh BR-VT Các số liệu thu được sẽ tính
toán, thông kê theo tỷ lệ % để phân tích, xử lý
• Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu
sản phẩm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm,., để bổ sung, hỗ trợ các phương pháp trên
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1 Sơ lược về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đào tạo trình độ chuẩn giáo viên tiểu học là vấn đề được đặt ra từ nhiều thập niên trước đây Do hoàn cảnh đất nước, trong thời kì dài đất nước có chiến tranh, toàn dân tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, sự nghiệp giáo dục được xem như là phúc lợi xã hội, sự nghiệp giáo dục giữ được ổn định là thành tựu cực kì to
lớn của Đảng, của nhân dân ta Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi giáo dục
phải phát triển, đi trước một bước bằng những bước đi thích hợp từ cải cách, đổi mới,
chấn hưng nền giáo đúc, củng cố và phát triển giáo dục, mục tiêu theo kịp trình độ phát triển giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới
Cùng với sự phát triển giáo dục-đào tạo, đội ngũ giáo viên tiểu học ngày càng được quan tâm và khẳng định vai trò trong xã hội và ngày càng đòi hỏi cao hơn về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Từ những giáo viên bình dân học vụ- chiến sĩ diệt dốt
với phương châm người biết một chữ chỉ cho người biết nửa chữ, đến cô giáo trường làng
dạy các lớp vỡ lòng học đọc, tập viết, đến giáo viên cấp một với đủ loại trình độ mà đa số
là sơ cấp, đến năm học 1995-1996 có 70,72% đào tạo đạt chuẩn(1) , đến năm học
1998-1999 đã có 85,2% giáo viên đạt chuẩn(2) và đến nay, nhiều địa phương không còn giáo viên "chưa đạt chuẩn" , định hướng những năm tới số giáo viên đạt trình độ trên chuẩn chiếm tỷ lệ tương đối khiêm tốn nhưng đó là vấn đề không dễ dàng đạt được cho nhiều địa phương
Thực hiện đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, với giai đoạn đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học ở tiểu học, đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải được cập nhật trình độ chuyên môn thông qua các khoa huấn luyện, tập
huấn và các khoa đào tạo nâng cao, đào tạo trên chuẩn
Do lịch sử để lại, tất yếu phải thực hiện đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ giáo viên
(1)
Chuẩn theo ngạch công chức (2) Chuẩn theo Luật Giáo dục
Trang 12Đề cập đến đổi mới đào tạo (bậc đại học) GS-TS Võ Tòng Xuân cho rằng, trước hết
phải đổi mới chiến thuật đào tạo SƯ phạm, tức là đào tạo những máy cái cho các trường
hệ phổ thông, từ đó mới đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông Trong khi các nước trong khu vực đang cải tiến giáo dục phổ thông
của họ đặc biệt là Thái lan vào năm 2005 sẽ chỉ giữ lại các giáo viên có bằng thạc sỹ giáo
dục mới cho dạy các lớp tiểu học, chúng ta cần nâng cấp đầu vào ĐHSP, không bắt đầu
bằng học sinh tốt nghiệp lớp 12 nữa mà cần lấy người tốt nghiệp đại học chuyên ngành
và đào tạo thêm 1 đến 2 năm nữa về phương pháp sư phạm Đó là đổi mới căn bản, mọi
sửa đổi, cải tiến khác chỉ là vá víu [Báo thanh niên số 27 ngày 27.1.2004]
Đào tạo giáo viên tiểu học trình độ chuẩn hay trên chuẩn, mục tiêu trước mắt là đáp ứng được yêu cầu về đổi mới chương trình, SGK tiểu học Đề tài NCKH trọng điểm cấp
Bộ của PGS-TS Đỗ Đình Hoan "Một số giải pháp chủ yếu đáp ứng những đổi mới của
chương trình tiểu học - 2000" đưa ra 5 nhóm giải pháp gồm nhóm giải pháp hoàn thiện,
thể chế hoa chương trình tiểu học ; nhóm các giải pháp tăng cường giáo dục toàn diện ở
bậc tiểu học ; nhóm giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh đổi mới phương pháp giáo dục tiểu
học; nhóm giải pháp đảm bảo áp dụng thống nhất chương trình tiểu học trong sự đa dạng
về điều kiện và hoàn cảnh và nhóm giải pháp về điều kiện chung Trong đó tác giả tập trung xây dựng trình độ chuẩn chương trình từng môn học để chuẩn hoa việc dạy học, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, giảm nhẹ gánh nặng học tập cho học sinh, tạo điều kiện cho giáo viên yên tâm dạy đủ số môn học và tổ chức hoạt động giáo dục; đổi
mới cách làm việc của giáo viên tiểu học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học Các vấn
đề này đòi hỏi đội ngũ giáo viên hiện hữu cần được tập huấn, bồi dưỡng cả về kiến thức
và phương pháp dạy học
Về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học, nhiều công trình được nghiên cứu cho
thấy sự cần thiết phải đổi mới trong đào tạo giáo viên tiểu học Theo GS Trần Bá Hoành, các nước trên thế giơí nói chung và trong khu vực nói riêng đã có sự đổi mới mạnh mẽ, sâu rộng về đào tạo giáo viên tiểu học, nhất là nâng chuẩn trình độ giáo viên Vì vậy, trong xu thế trên, ngày càng có nhiều nỗ lực cải tiến công tác đào tạo , bồi dưỡng GVTH,
tập trung vào các hướng chính:
Trang 13- Nâng cao học vấn của GVTH , là yếu tố đầu tiên quyết định trình độ của người giáo viên Do đó phải nâng trình độ lên dần từ trung cấp lên cao đẳng, đại học
- Nâng cao năng lực sư phạm của GVTH bao gồm cả tri thức và kỹ năng sư phạm
- Nâng cao động lực dạy học của GVTH như lương, phụ cấp, chế độ đãi ngộ, sử
dụng giáo viên và các chế độ hỗ trợ khác
Tuy nhiên, việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên sẽ không mang lại hiệu quả lớn nếu chỉ bằng những chủ trương, giải pháp cục bộ, tạm thời mà phải xây dựng chiến lược toàn diện, lâu dài của cả quốc gia [Trần Bá Hoành, Những đổi mới
thảo chuyên đề Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới quản lý giáo dục tiểu
học, thuộc Dự án phát triển giáo viên tiểu học, Bộ GD-ĐT, Hà nội tháng 12-2003]
Theo GS-TS Đinh Quang Báo, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên là hai giai đoạn kế
tiếp nhau để có đội ngũ giáo viên luôn đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng của sự phát triển giáo dục Đào tạo phải đáp ứng được việc tạo ra năng lực bồi dưỡng vừa để
ngăn chặn hao mòn cái được đào tạo, vừa quan trọng hơn là để khuếch đại cái được đào
tri ển giáo dục Tác giả đưa ra 5 giải pháp lớn về đào tạo là , giáo viên tất cả các cấp đều
phải có trình độ ĐHSP; có chính sách thu hút người giỏi vào các trường sư phạm và ưu đãi, hấp dẫn giáo viên; các trường sư phạm phải được quan tâm đầu tư đúng hướng nhiều
mặt; trường sư phạm khi đào tạo, NCKH phải "tắm mình" trong thực tiễn phổ thông và phương pháp đào tạo ở trường SƯ phạm phải đổi mới căn bản Tác giả cũng đưa ra 5 giải pháp cho công tác bồi dưỡng giáo viên : Tổ chức tự bồi dưỡng là chủ yếu; việc bồi dưỡng giáo viên phải được tổ chức ngay tại trường họ công tác, do đội ngũ cốt cán có trình độ cao làm nòng cốt; cần có sự biên soạn tài liệu, đặc biệt là tạo ra cơ chế kích thích các trường sư phạm làm việc này; xây dựng trường điểm về công tác bồi dưỡng giáo viên để nhân điển hình và giải pháp về cán bộ quản lý giáo dục, nhân mạnh vai trò của Hiệu trưởng các nhà trường
Lê Tiến Thành (Vụ giáo dục tiểu học) và Đỗ Tiến Đạt (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) đưa ra các đề xuất về đổi mới công tác đào tạo GVTH : Nâng chuẩn trình
Trang 14độ đội ngũ giáo viên sư phạm, cơ cấu đủ giáo viên nhằm thực hiện giáo dục toàn diện trong trường sư phạm; nâng cao sự liên kết giữa nhà trường phổ thông và nhà trường sư
phạm ; xây dựng các đề tài NCKH thiết thực, có giá trị đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi
mới giáo dục tiểu học hiện nay ; đổi mới phương pháp và tể chức đào tạo, chuyển từ việc
dạy "cách dạy học" sang "cách dạy phương pháp học", đổi mới chương trình đào tạo tại trường sư phạm theo hướng kiến thức và kỹ năng dạy hai môn Toán, Tiếng Việt chắc
chắn, tăng cường khả năng dạy tất cả các môn, dạy được tất cả các lớp ở tiểu học [Tạp chí Giáo dục , số 11-2003, tr 34] Cũng đề cập đến Chương trình đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu học nhìn nhận dưới góc độ chuẩn giáo viên tiểu học, TS Nguyễn Thị Thu Hà (Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) cho rằng một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là biên soạn tài liệu bồi dưỡng GVTH, thiết kế theo các môđun Môđun bồi dưỡng là một tổ hợp các công cụ gồm nhiều phương tiện như các loại văn bản in ấn, băng hình, băng tiếng; là các đơn vị kiến thức có thời lượng theo quy định và có khả năng tổ hợp với nhau phục vụ công tác học tập
Nguyễn Thanh Hoàn (Viện khoa học giáo dục) đề xuất nhiều chính sách nhằm cải thiện chất lượng giáo viên, trong đó có chính sách ở cấp vĩ mô như chính sách tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo sư phạm, bồi dưỡng tập sự và bồi dưỡng tại
chức [Tạp chí phát triển giáo dục 2-2003, tr.8]
Về phương thức đào tạo, sẽ kết hợp giữa hình thức đào tạo chính quy với hĩnh thức
hướng cơ bản cần quán triệt trong việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên tiểu học
Huế- 11/2003]
Vấn đề đào tạo trên chuẩn, theo GS Trần Bá Hoành đây là vấn đề lâu dài, trước mắt
là nhiệm vụ cải tiến nội dung chương trình các hệ đào tạo đang được áp dụng, đặc biệt là
hệ chuẩn hiện nay, cùng với nó là chương trình bồi dưỡng chuẩn hoa Bởi vì, trên con
Trang 15đường nâng chuẩn đào tạo GVTH lên trình độ cao đẳng, ĐH nên chọn phương án "đồng
thời" (đào tạo song song chuyên môn và nghiệp vụ từ năm đầu đến năm cuối) hay "kế
tiếp" (đào tạo xong về chuyên môn rồi mới đào tạo tiếp về nghiệp vụ), trong khi các nước
chọn phương án "đồng thời" Ngoài ra cần cơ chế khuyến khích GVTH sớm thực hiện nâng chuẩn trình độ đào tạo [tài liệu đã dẫn]
Trường ĐHSP Hà nội đã đào tạo thí điểm với hình thức chuyên tu giáo viên cấp Ì,
tốt nghiệp THSP lên trình độ ĐHSP từ năm 1984 đến năm 1992 Giáo viên tốt nghiệp hệ đào tạo này (khoảng gần 200) đa số là cán bộ cốt cán về quản lý và chuyên môn ở các cơ
sở giáo dục Từ năm 1992 đến nay, nhà ưường đã chính thức đào tạo chính quy cử nhân giáo dục tiểu học theo hệ thống tuyển sinh đại học chung cả nước Ngoài ra nhà trường còn đào tạo hàng ngàn giáo viên tiểu học tốt nghiệp THSP, CĐSP lên trình độ ĐHSP với các hình thức từ xa , tại chức ở cắc địa phương, trong đó có BR-VT Một số trường CĐSP địa phương cũng đã được đào tạo chính quy giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng
sư phạm và bắt đầu đào tạo nâng chuẩn từ THSP lên CĐSP
Theo PGS Lê A, thực tiễn giáo dục tiểu học đang cần những cán bộ có trình độ trên đại học để giải quyết các nhiệm vụ phức tạp, nặng nề đang đặt ra cho cấp học này và tác
giả đã đề xuất đào tạo thạc sỹ giáo dục tiểu học chuyên ngành Ngữ văn tại trường ĐHSP
Hà nội I từ năm 1993
Như vậy, vấn đề chuẩn hoa giáo viên, được nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên
cứu thực hiện, tuy nhiên đào tạo trên chuẩn được đề cập đến trong thời gian gần đây và chưa có nhiều tác giả nghiên cứu sâu về đề tài này, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì đây là vấn đề mới và cần thiết
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có lợi thế so sánh với nhiều địa phương khác trong cả nước, tuy nhiên đội ngũ giáo viên tiểu học được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều trình
độ và đã được chuẩn hoa từ năm 1991 đến năm 2001 Đa số được chuẩn hoa trình độ 9+3
và 12+2 Căn cứ quy định hiện hành về chuẩn trình độ giáo viên tiểu học, số giáo viên chuẩn 9+3 trước đây giảng dạy tại các huyện, nay các huyện được nâng cấp thành thị xã, thành phố và quá trình điều chuyển giáo viên từ huyện về thành phố, thị xã thuộc đối tượng chưa chuẩn Vấn đề tái chuẩn hoa cũng cần phải được quan tâm thực hiện và có thể
Trang 16được đào tạo "vượt chuẩn" Nhưng với điều kiện phát triển về kinh tế-xã hội của tỉnh, điều kiện của trường CĐSP tỉnh, việc đào tạo trên chuẩn và vượt chuẩn là thuận lợi
Những giải pháp trong đề tài này góp một phần quan trọng trong công tác đào tạo trên chuẩn giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của tỉnh, yêu cầu, nhiệm vụ trường CĐSP
Theo GS Nguyễn Lân, Từ và Ngữ Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, năm 1998 thì
giải pháp được định nghĩa từ các khái niệm sau đây :
- Giải quyết: dùng biện pháp gì khiến cho việc khó khăn cũng đạt kết quả
- Biện pháp: cách thức thực hiện một chủ trương hoặc giải quyết một vấn đề
- Cách thức: lề lối làm một việc gì
- Giải pháp; cách giải quyết một vấn đề khó khăn
Như vậy, giải pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ
trương để đạt kết quả, mục đích đề ra
Giải pháp đào tạo là cách thức tổ chức thực hiện, giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo như chương trình đào tạo, phương thức đào tạo, các ngũ giáo viên
tiểu học cho thế kỉ 21, góp phần tạo nên chất lượng ngày càng cao phục vụ đổi mới giáo
dục phổ thông nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, trên cơ sở CGV, các trường sư
phạm đào tạo giáo viên tiểu học sẽ xây dựng kế hoạch đổi mới nội dung chương trình, giáo trình, đào tạo để sau khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ đạt "Chuẩn" ; các cấp quản lí giáo
dục sẽ xây dựng quy hoạch đào tạo , bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn cho đội ngũ giáo viên ở các địa phương, các trường cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Đồng thời, căn cứ vào CGV, mỗi giáo viên tự xác định mình đang ở mức độ nào để tự đề ra kế hoạch học tập rèn luyện bổ sung để đạt và vượt chuẩn
Chuẩn giáo viên tiểu học là những yêu cầu về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đối với người giáo viên tiểu học
Trang 17Chuẩn giáo viên tiểu học thể hiện ở 3 lĩnh vực : Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính
trị; kiến thức và kĩ năng sư phạm
+ Yêu nước, trung thành với Tổ quốc , có lí tưởng, hoài bão phấn đấu vì nước Việt Nam hoa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và giàu mạnh;
+ Gương mẫu chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; + Có đạo đức cách mạng, đạo đức cá nhân trong sáng; tinh thần trách nhiệm;
yêu nghề, thương yêu, chăm sóc học sinh;
+ Luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện, học tập không ngừng để nâng cao trình độ kiến
thức, năng lực nghề nghiệp
Yêu c ầu về kiến thức đối với giáo viên tiểu học là:
+ Nắm vững các kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình tiểu học để dạy tất cả các khối lớp của tiểu học, đáp ứng nhu cầu học tập
của các loại đối tượng học sinh
Nguồn lực đảm bảo cho đào tạo (nhân lực- đội ngũ làm công tác đào tạo; vật lực
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo; tài lực- nguồn kinh phí, tài chính), các chính sách hỗ trợ, khuyến khích cho người học, người dạy và các vấn đề khác liên quan
Chuẩn (standard): cái được chọn làm mốc để doi vào, để đối chiếu mà làm cho đúng; cái được coi là căn cứ để đối chiếu
Đào tạo (training); Dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp Đào tạo được thực hiện tại các cơ sở đào tạo như trường ĐH, CĐ, THCN, các học viện và các cơ sở đào tạo nghề khác
Đào tạo chuẩn là đào tạo con người đạt tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng chuyên
Trang 18Trình độ chuẩn được đào tạo ; Trình độ chuẩn là trình độ được nhà nước quy định
bắt buộc đối với sản phẩm đào tạo nhằm đáp ứng mức tối thiểu yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực đào tạo
Chu ẩn giáo viên tiểu học
Tiêu chuẩn chung về giáo viên tiểu học (GVTH) được quy định tại quyết định số 202/TCCP-VC ngày 8/6/1994 của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành GD-ĐT Các tiêu chuẩn chung này được thể hiện ở chức trách, hiểu biết và yêu cầu trình
độ của người giáo viên và được cụ thể hoa ở Điều lệ trường Tiểu học Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, việc xây
dựng chuẩn giáo viên tiểu học (chuẩn mới) mang tính khách quan khoa học, phù hợp thực
tiễn là cấp thiết Chuẩn giáo viên tiểu học (CGV) sẽ là mẫu hình để từ đó xây dựng đội + Có kiến thức nghiệp vụ sư phạm và phương pháp dạy học mồn học ở tiểu
học
+ Có kiến thức về chính trị-kinh tế-văn hoá-xã hội, quản lý hành chính Nhà nước và các kiến thức phổ thông khác trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
+ Kĩ năng lập kế hoạch giảng dạy;
+ Kĩ năng tổ chức, quản lý, giáo dục học sinh;
+ Kĩ năng giao tiếp;
+ Kĩ năng hành chính giáo dục (lập hồ sơ, tài liệu giáo dục, )
Trình độ chuẩn giáo viên tiểu học theo quy định là tốt nghiệp THSP hệ 12+2 hoặc THSP hệ 9+3 đối với vùng khó khăn
Bên c ạnh phạm trù "đạt chuẩn", "chưa đạt chuẩn" có loại giáo viên có trình độ
chính trị quốc gia, 2002 , trang 108-126]
Trang 19Đào tạo giáo viên tiểu học trên chuẩn là đào tạo giáo viên đạt trình độ CĐSP, ĐHSP
trở lên Giáo viên thuộc vùng khó khăn (có trình độ đạt chuẩn 9+3 nêu trên) có trình độ THSP 12+2 không được xem là trên chuẩn
- Phương pháp (method, system): Cách thức tiến hành để có hiệu quả
- Phương thức (procedure) : Phương pháp và hình thức tiến hành
Như vậy, phương thức đào tạo là cách thức tiến hành tổ chức quá trĩnh đào tạo để
mang l ại hiệu quả
• Các phương thức đào tạo
Có nhiều phương thức đào tạo đáp ứng nhu cầu người học và điều kiện của cơ sở đào tạo như tập trung chính quy, chính quy không tập trung, vừa học vừa làm, đào tạo qua phương tiện thông tin đại chúng, đào tạo tự học có hướng dẫn,
Theo Luật Giáo dục, có hai phương thức đào tạo cơ bản đó là đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy (tại chức, chuyên tu cũ)
Là đào tạo tập trung dài hạn theo danh mục ngành đào tạo đã quy định , theo mục tiêu đào tạo hoàn chỉnh, mang tính chất chính quy trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại
học, THCN, có chức năng đáp ứng nhu cầu cán bộ chuyên môn bậc ĐH, CĐ, THCN
phục vụ sản xuất và xã hội, đảm bảo chất lượng đúng chuẩn mực
Đối tượng đào tạo là các thí sinh trúng tuyển vào các trường ĐH, CĐ, THCN hệ chính quy
Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong 3 năm học đối với những người có
bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp THCN
Trang 20Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm học tuy theo ngành nghề đào tạo đối với những người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp THCN; từ 1 đến 2 năm học đối với những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành Đào tạo nghề (THCN) được thực hiện từ 3 đến 4 năm học đối với những người có
bằng tốt nghiệp THCS, từ 1 đến 2 năm đối với những người có bằng tốt nghiệp THPT
(dựa theo quyết định số 1003/QĐ-THCN ngày 29/8/1988 và quyết định số 01/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/1/2001 của Bộ GD-ĐT)
Là hình thức đào tạo mà người học không thoát ly sản xuất và công tác nhưng có
mục tiêu đào tạo hoàn chỉnh bậc học hoặc đào tạo nâng cao
Từ những năm 60 của thế kỉ XX, đây là hệ đào tạo theo kiểu học hàm thụ, sau này
gọi là học tại chức và hệ không tập trung
Đối tượng đào tạo là các thí sinh trúng tuyển vào các trường ĐH, CĐ, THCN hệ không chính chính quy
Khác với đào tạo chính quy, sinh viên của hệ đào tạo này là những người đã có thời gian công tác (làm việc, phục vụ ) tại các cơ quan, đơn vị, địa phương (gọi chung là các đơn vị) từ 12 tháng trở lên
Thời gian đào tạo, tuy theo đối tượng tuyển sinh, trình độ văn hoa của học sinh, yêu
cầu của từng ngành nghề mà thời gian đào tạo có thể kéo dài từ 2,5 năm đến 4 năm đối
với hệ THCN và từ 4 năm đến 6 năm đối với CĐ, ĐH Riêng đối với đào tạo nâng chuẩn (đào tạo chuyển tiếp) có thể thời gian đào tạo ngắn hơn nhưng phải đảm bảo thực hiện hết chương trình quy định
Về phương thức học: có thể tổ chức các lớp hàm thụ, các lớp học buổi tối, các lớp
học xen kẽ một số buổi trong tuần theo giờ hành chính hoặc theo chu kì sản xuất, công tác trong năm tuy theo điều kiện thích nghi của người học và việc tổ chức lớp học, nghĩa
là, học tập thường được bố trí theo từng đợt, (theo từng tuần, từng tháng, từng quý (3 tháng) hoặc theo từng năm); sau đợt học có khoảng thời gian để làm việc tại đơn vị Có
thể học theo hình thức chuyên tu (follow a crash course in) - chuyên học một môn, hay
một chương trình theo thời gian rút ngắn
Trang 21- Đào tạo từ xa thuộc phương thức đào tạo không chính quy
(dựa theo quyết định số 2091/QĐ ngày 7/10/1993 của Bộ GD-ĐT)
Ngày nay, khi điều kiện thông tin đại chúng phát triển mạnh mẽ, rộng rãi, một hình
thức đào tạo đáp ứng nhu cầu người học một cách thuận lợi là đào tạo từ xa - hình thức tự
học có hướng dẫn
Hình thức này mới chỉ được áp dụng cho bậc học đại học Đây là hình thức học tập
rất mềm dẻo và linh hoạt tạo điều kiện cho bất kì ai đã tốt nghiệp PTTH nếu có nguyện
vọng và khả năng học tập đều có thể tự học để thi lấy chứng chỉ của một học phần, nhóm
học phần hoặc một giai đoạn và thi lấy văn bằng đại học để sử dụng vào mục đích riêng
về học tập, công tác, nghề nghiệp
Trong quá trình đào tạo, cá nhân tự học là khâu then chốt, quyết định để tiếp thu tri
thức, rèn luyện kĩ năng Vì vậy, với sự hướng dẫn của nhà trường người học được chủ động về thời gian, có điều kiện xây dựng kế hoạch học tập và phương pháp học tập thích
hợp với khả năng, sở trường, đặc điểm và hoàn cảnh của bản thân
Khoá học không bắt buộc học viên phải qua đợi thi tuyển sinh ban đầu, nhưng phải
qua bước tự tuyển do nhà trường hướng dẫn để tự khẳng định theo học hoặc không theo
học; khoa học không giới hạn số năm học mà chỉ quy định số môn học, số học phần bắt
buộc, số học phần tự chọn theo sự hướng dẫn, số học phần tuy ý theo sở thích và thời gian bảo lưu chứng chỉ môn học, học phần ; đồng thời phải qua các kì thi hết học phần, thi kết thúc giai đoạn và thi tốt nghiệp
Giáo dục tiểu học thuộc giáo dục phổ thông là bậc học nền tảng của hệ thống giáo
dục quốc dân, là bậc học bắt buộc đối với trẻ em từ 6 tuổi đến 14 tuổi; được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để
học sinh tiếp tục vào THCS
Trang 22Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật
Phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong các loại hình trường trường công lập, bán công và dân lập; lớp tư thục và lớp tại gia đình, tuân thủ Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo quyết định số 22/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo
Giáo dục tiểu học được quan tâm đặc biệt Ngay từ những ngày đầu thành lập Bộ Giáo dục, đã thành lập Nha Tiểu học vụ (do ông Nguyễn Hữu Tảo sau là ông Nguyễn Đình Dụ làm Tổng giám đốc) Cải cách giáo dục năm 1950, bậc tiểu học được gọi là giáo
dục phổ thông cấp Ì với 4 năm học trong hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm; Cải cách giáo dục năm 1956, cấp Ì vẫn là 4 năm học trong hệ thống giáo dục phổ thông lo năm;
Cải cách giáo dục lần ba - từ năm học 1981-1982, cấp Ì là bậc học 5 năm ; năm 1991 với tên gọi mới là bậc tiểu học cùng với Luật phổ cập giáo dục tiểu học do Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991
Đến năm học 2001-2002, cả nước có 13.897 trường tiểu học , trong đó có 77 trường ngoài công lập với số học sinh là 9.311.010 em; đặc biệt đã có 1.638 trường đạt chuẩn
quốc gia ,chiếm tỷ lệ 11,8% [nguồn : Ngành giáo dục- đào tạo sau 5 năm thực hiện nghị quyết TW2 khoa VUI]
Giáo dục tiểu học phát triển không ngừng cả về bề rộng về chiều sau Theo Phạm Minh Hạc [Phạm Minh Hạc, sđd , tr.254], thì số học sinh trong độ tuổi động viên vào lớp
Ì trong mấy năm gần đây tăng lên rõ rệt, có tỉnh, thành phố đạt 98-99% Trung bình cả nước, tỷ lệ tổng số học sinh trên tổng số trẻ em trong độ tuổi đạt khoảng trên 90% Nhiều trường học 2 buổi/ngày và còn được học thêm Tin học, Ngoại ngữ, Kinh tế gia đình hoặc
Trang 23tăng cường học thêm tiếng Việt, Toán Chất lượng giáo dục được nâng dần lên cao nhờ
chủ trương ưu tiên cho lớp Ì, cấp Ì (tiểu học) Tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt cao, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt từ trên 80% đến 100% Đến ngày 28-12-2000, Việt nam đã hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia về xoa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học theo tiêu chuẩn quốc tế ghi trong Tuyên bốGiômchiên tháng 4-1990
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 đề ra mục tiêu đối với giáo dục tiểu
học là phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đức tính kĩ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học
tập tốt Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước Tăng tỷ
lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010
Để đạt được mục tiêu trên, cần thực hiện thành công Đề án đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng về đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa tiểu học Kế hoạch giảng dạy tối thiểu mỗi tuần lễ cho các lớp học Ì buổi/ngày và 2buổi/ngày là:
Kế hoạch giáo dục này được thực hiện trong 35 tuần lễ cho mỗi năm học Ngoài ra
học sinh có thể học thêm các môn dạy học tự chọn ở các lớp học nhiều hơn 5 buổi/tuần như các môn Ngoại ngữ, Tin học
Trang 24Thời lượng các môn học và tỷ trọng được thể hiện ở bảng sau:
Qua quá trình thử nghiệm, chương trình, SGK tiểu học đã được thay đổi theo dạng
cuốn chiếu, đến năm học 2002-2003 đã hoàn thành việc thay sách lớp 2, đang xúc tiến thay sách lớp 3 và đã đạt được mục tiêu cơ bản của Chương trình tiểu học mới
Giáo viên tiểu học là viên chức chuyên môn nghiệp vụ chịu trách nhiệm giảng dạy,
tạo điều kiện để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức các môn học và thực hiện công tác giáo dục toàn diện đối với học sinh ở bậc tiểu học theo đúng chương trình, kế hoạch của cơ quan quản lý giáo dục các cấp quy định
Giáo viên tiểu học có các nhiệm vụ cơ bản là:
- Thực hiện công tác giảng dạy và giáo dục học sinh
- Tham gia học tập, bồi dưỡng và sinh hoạt các chuyên đề nhằm không ngừng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn , nghiệp vụ; phấn đấu , rèn luyện để đạt chuẩn giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu về chất lượng giảng dạy và chất lượng giáo dục
Trang 25- Tham gia hoạt động công tác xã hội như công tác tuyên truyền đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở địa phương, tham gia công tác phổ
cập giáo dục và xoa mù chữ
Về hiểu biết, giáo viên tiểu học cần:
- Nắm được nội dung cơ bản của luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp
luật về các quy định trong giáo dục, đào tạo và các quy định liên quan đến giáo viên tiểu học;
- Nắm được mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy ở bậc tiểu
học và các quy định của Bộ, sở, Phòng GD-ĐT về công tác giáo dục trong trường tiểu học;
- Nắm được nội dung cơ bản về yêu cầu kiến thức và kỹ năng của các môn học ở
bậc tiểu học; những kiến thức cơ bản về tâm lý học lứa tuổi, phương pháp dạy
học mới các môn học mình đảm nhận để giảng dạy đối với học sinh tiểu học;
- Nắm được mục đích, yêu cầu về phương tiện dạy học, trang thiết bị, đồ dùng
dạy học và biết sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả;
- Nắm được thực trạng chất lượng học sinh thuộc lớp phân công phụ trách;
- Nắm vững chức trách, nhiệm vụ và phương pháp tổ chức hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp;
- Biết được tình hình kinh tế, xã hội địa phương để phục vụ công tác giảng dạy và giáo dục lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc cho học sinh;
- Biết phối hợp với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh, Tổng phụ trách Đội và Sao nhi đồng để tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp và đánh giá được sự rèn luyện, học tập, tiến bộ của từng học sinh
[PGS.TS Đỗ Đình Hoan, Một số vẩn đề cơ bản của chương trĩnh tiểu học mới, NXB Giáo dục, 2002]
Giáo viên trường tiểu học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm Hiệu trưởng, các Phó hiệu trưởng, giáo viên dạy các môn học, giáo viên tổng
phụ trách Đội [Điều lệ trường Tiểu học]
Trang 26Giáo viên tiểu học ngày càng được tăng về số lượng, nâng dần chất lượng Năm học 1996-1997 có 310.264 giáo viên, trong đó có 238.964 giáo viên nữ, chiếm tỷ lệ 77%; năm học 2001-2002 đã có 353.804 giáo viên, trong đó giáo viên nữ là 275.573 người, chiếm 77.9% số giáo viên đạt chuẩn cũng được nâng lên dần, chiếm tỷ lệ 74.8% vào năm
học 1996-1997 và đạt 84.9% vào năm học 2000-2001 Nếu năm học 1996-1997, tỷ lệ giáo viên trên lớp mới chỉ đạt 0.98 GV/lớp, thì đến năm học 2000-2001 đạt 1.09 GV/lớp
Chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học đã có chuyển biến và tiến bộ Năm học
1990-1991 có 11% chưa qua sư phạm (riêng các tỉnh phía nam là 22%); trình độ đào tạo đủ các
hệ 5+1, 7+1, 9+3, 12+1, 12+2, trong đó hệ chuẩn chung là 12+2 và 9+3 (cho vùng khó khăn); với đội ngũ như vậy nên chất lượng không đồng đều, nói chung vừa thừa, vừa thiếu; chất lượng ở mức trung bình trở lên chỉ đạt trên 50%; số giáo viên dạy đủ môn theo
QĐ 305/QĐ quá ít, nói chung không đảm bảo dạy SGK CCGD chiếm gần 30% Thực
hiện QĐ 417/QĐ (1990) và Chỉ thị 19/GD-ĐT (1995) hệ thống đào tạo giáo viên tiểu học được quy chuẩn, tới nay giáo viên tiểu học ngoài trình độ THSP còn trình độ CĐSP và ĐHSP làm cho cơ cấu trình độ có biến đổi rõ rệt Tuy nhiên vẫn còn khoảng trên 80% giáo viên chưa dạy đủ 9 môn của mục tiêu, kế hoạch giáo dục tiểu học
[Nguồn: 55 năm Ngành học sư phạm Việt Nam, tài liệu lưu hành nội bộ, Trung tâm
hỗ trợ giáo viên, Hội Khuyến học Việt nam, Hà nội 2001]
Tuy nhiên, giáo viên tiểu học ở nước ta còn làm việc với thời lượng nhiều lơn so với các quốc gia trên thế giới, thể hiện qua bảng so sánh tỷ lệ giáo viên /lớp và sĩ số học sinh/lớp sau đây (số liệu tại thời điểm năm 2001):
Trang 27Quốc gia SốHSbìnhquân/lớp số HS bình quân/GV Tỷ lệ GV/lớp
Luxembourg 15.5 11 1.41 Mexico 20.6 27 0.76 Prance 22.3 19.5 1.14 Germany 22.4 19.4 1.15 Japan 28.8 20.6 1.40 Korea 36.3 32.1 1.13 Thailand 23.2 20.4 1.14 Indonesia 25.7 25.6 1.00 Philippines 42.2 35.2 1.20
[Nguồn: Peter Wolters, Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo thuộc
Dự án đào tạo GV THCS, TP Hồ Chí Minh, 10-2003]
Trước đây, ở miền Bắc, việc đào tạo giáo viên tiểu học được thực hiện chủ yếu ở các trường sư phạm sơ cấp (trước năm 1962) ; đến năm 1962 có 28 trường sư phạm cấp Ì, trong đó có 21 trường THSP hệ 7+2, 7+3 đào tạo giáo viên tiểu học
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, toàn miền Nam đã hình thành một mạng lưới đông đảo các trường SPC1, trong đó có 21 trường THSP đào tạo hệ 12+1, 9+3 là hệ chuẩn và các hệ dưới chuẩn khác Ở phía Bắc, hầu hết các trường SPC1 chuyển lên hệ 10+2 Năm học 1980-1981 cả nước có 45 trường SƯ phạm đào tạo giáo viên cấp 1 Từ năm 1982, đào tạo thí điểm hệ 12+2 ở một số trường và chính thức đào tạo ở nhiều trường vào năm 1988-1989, trừ các trường ở các tỉnh khó khăn và cũng từ năm học này ,
tất cả các trường SPC1 đều là THSP, ngoài ra còn có Ì khoa ĐHSP đào tạo giáo viên cấp
1
Trang 28[Lịch sử cơ quan Bộ GD-ĐT, đề tài NCKH cấp Bộ, NXB giáo dục, 1995]
Sau khi có quyết định 255/CT ngày 21-8-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức sắp xếp lại mạng lưới các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, Bộ GD-ĐT đã ban hành thông tư số 53/TT ngày 17-12-1991 và chỉ thị số 277/GV ngày 15-1-1993 hướng dẫn việc thực hiện tổ chức, sắp xếp lại toàn bộ hệ thống trường nói chung và các trường sư phạm thuộc địa phương nói riêng, hệ thống các trường đào
tạo giáo viên tiểu học tại địa phương gồm:
- 17 trường CĐSP đào tạo giáo viên cấp Ì trình độ THSP
- 11 trường CĐSP đào tạo thí điểm giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng (trong đó
có 8 trường Bộ cho phép đào tạo)
- 27 trường THSP đào tạo giáo viên tiểu học trình độ THSP
Ngoài ra còn có một số trường đại học, khoa sư phạm; trường CĐSP và THSP trực thuộc Bộ cũng tham gia đào tạo giáo viên tiểu học các trình độ khác nhau
[Tài liệu Hội nghị chuyên đề : củng cố và đổi mới hệ thống sư phạm nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo giáo viên, Bộ GD-ĐT, 1995]
Đến năm 2003, chỉ còn hai tỉnh chưa có trường CĐSP là Bình Phước và Bắc Cạn Các tỉnh thành khác, giáo viên tiểu học được đào tạo tại trường CĐSP; có 31 trường CĐSP địa phương tuyển sinh hệ CĐ tiểu học trong năm này Một số trường do địa phương không thiếu giáo viên nên không đào tạo nữa; các địa phương còn thiếu giáo viên
và chưa được Bộ cho phép vẫn đào tạo giáo viên tiểu học trình độ chuẩn 12+2 ; một số ít địa phương đào tạo hệ 9+3 hoặc hệ 12+2 theo 2 giai đoạn : (12+1)+1 Chương trình đào
tạo thống nhất do Bộ GD-ĐT ban hành
Đặc biệt có một số địa phương, đào tạo giáo viên trình độ CĐSP các môn năng khiếu như Nhạc, Hoa, Thể dục, Đoàn đội, vừa bổ sung cho đội ngũ giáo viên THCS, đồng thời cung cấp đội ngũ giáo viên tiểu học dạy các môn đặc thù nói trên Đây là xu hướng chung cho nhiều địa phương, nhiều trường CĐSP trong giai đoạn tới, khi mà nhu
cầu giáo viên tiểu học bảo hoa, cần có giáo viên chuyên trách các môn đặc thù mà giáo viên hệ CĐ tiểu học không đảm trách nhiệm vụ được
Trang 29Ngoài việc đào tạo giáo viên hệ chuẩn đáp ứng nhu cầu bổ sung đội ngũ, nhiều trường CĐSP bắt đầu đào tạo trên chuẩn giáo viên tiểu học theo chương trình khung của
Bộ GD-ĐT từ hệ 12+2 lên CĐSP; một số trường (CĐSP) liên kết với các trường ĐHSP
để đào tạo trình độ ĐH cho giáo viên tiểu học và cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn của trường tiểu học Giáo viên trên chuẩn mới chỉ hơn 20%, trong đó CĐSP là 18,6% (số liệu 12-1997), số giáo viên trình độ 9+3 đang rất lớn (27,5% trong số đào tạo chính quy , 38,3% trong số đào tạo tại chức và 9,3% trong số đào tạo chuyên tu) nhưng chưa có chương trình khung để đào tạo trên chuẩn số giáo viên này
Do lịch sử để lại, như trình bày ở trên, đa số giáo viên cấp 1 trước đây mới
chỉ có trình độ sơ cấp, dưới chuẩn, nên công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên rất
nặng nề cho các trường sư phạm nói chung
Đánh giá của Bộ GD-ĐT về 50 năm công tác bồi dưỡng giáo viên là :
- Công tác bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, đạo đức luôn được coi trọng hàng đầu, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và củng cố đội ngũ giáo viên
- Công tác bồi dưỡng văn hoa nghiệp vụ ngày càng được đẩy mạnh và cải tiến
Kết quả về bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên, đến năm học 2000-2001, giáo viên tiểu
học đã được chuẩn hoa cơ bản, đạt 78,5%, đa số là chuẩn hoa trình độ 12+2 (theo chuẩn
cũ, thì năm học 1998-1999 đã có 85,2% giáo viên đạt chuẩn-Phạm Minh Hạc, sđd), chủ
yếu là bồi dưỡng tại chức, trong hè nên chất lượng không cao Một số địa phương đã hoàn thành cơ bản việc chuẩn hoa giáo viên tiểu học theo chuẩn mới; nhiều địa phương
đã hoàn thành chuẩn hoa giáo viên tiểu học theo chuẩn cũ và tiếp tục tái chuẩn hoa (theo chuẩn mới) do số giáo viên này thuyên chuyển công tác từ vùng khó khăn, đến vùng đô
thị và quy định về chuẩn mới của Luật giáo dục
Công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học được các trường THSP trước đây, nay là các trường CĐSP thực hiện đúng yêu cầu và đạt được nhiều kết quả Chu k1
bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000 mỗi chu k1 gồm 8 học phần, tương ứng với 7 chuyên đề môn học, 1 học phần về đổi mới phương pháp dạy học với thời
Trang 30lượng 150 tiết rất bổ ích, có tác dụng tích cực nhằm cập nhật và nâng cao kiến thức cho giáo viên Nhiều tỉnh số giáo viên tham gia BDTX chu k1 đạt tỷ lệ cao, như BR-VT đạt trên 95%
Đặc biệt, từ năm học 2001-2002, toàn bộ giáo viên tiểu học, cán bộ quản lý tiểu học đều được bồi dưỡng, tập huấn thay SGK tiểu học theo chương tr1nh tiểu học mới Đội ngũ cán bộ cốt cán, báo cáo viên chủ yếu của các trường sư phạm Việc tổ chức, thực
hiện được ngành giáo dục địa phương và trường sư phạm cùng tiến hành với nguồn kinh phí tương đối lớn; thời lượng từ 3 đến 4 ngày cho mỗi môn/lớp
Nhìn chung, xu hướng trong vài năm tới, nhiệm vụ đào tạo lại, đào tạo nâng cao,
bồi dưỡng giáo viên tiểu học là nhiệm vụ cơ bản của các trường sư phạm nói chung và các trường CĐSP địa phương nói riêng nhằm nâng dần chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu
cầu của đổi mới chương tr1nh giáo dục tiểu học
Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm là người đại diện theo pháp luật của nhà trường; chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật, Điều lệ trường cao đẳng, các quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy chế tổ chức và hoạt động của trường đã được cơ quan chủ quản phê duyệt
Hiệu trưởng có quyền hạn và trách nhiệm quy định tại điều 14, Điều lệ trường cao đẳng gồm:
- Tổ chức xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của trường, tr1nh cơ quan chủ
quản phê duyệt
- Tổ chức xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của trường, tr1nh cơ quan chủ
quản phê duyệt
Trang 31- Trình cơ quan chủ quản duyệt văn bản kế hoạch dài hạn và hàng năm của trường, tr1nh duyệt dự án và quyết toán ngân sách hàng năm; tổ chức thực hiện
kế hoạch tài chính đã được cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính phê duyệt
Quản lý trường sỡ, tài chính, tài sản, thiết bị; quyết định sử dụng các nguồn vốn vào công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, xây dựng và phát triển trường
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của trường theo qui định
tại Điều 9 và Điều lo của Điều lệ này
- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên Quyết định bổ nhiệm các chức vụ từ trưởng khoa, Trưởng phòng hoặc tương đương trở xuống Thực hiện các công
việc thuộc thẩm quyền trong tuyển dụng giảng viên, cán bộ, nhân viên và ký kết các hợp đồng lao động theo qui định của pháp luật
- Khai thác, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo, phát triển trường và đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh
- Hiệu trưởng là chủ tài khoản của trường Cao đẳng, chịu trách nhiệm trước pháp
luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của đơn vị
- Chỉ đạo và tổ chức việc quản lý tài chính, tài sản quy định tại các điều 30, 31,
32, 33 của Điều lệ này và các quy định của Nhà nước về lao động - tiền lương,
tiền công, học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, các chế độ chính sách đối với giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tại trường
- Quyết định mức chi phí quản lý, chi nghiệp vụ trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng tuy theo nội dung và hiệu quả công việc quy định tại điều 33 của Điều lệ này
- Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Hiệu trưởng Cao đẳng công lập được Bộ Giáo dục - Đào tạo hoặc cơ quan chủ quản uy quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm B, c
sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của Nhà nước
Trang 32- Tổ chức các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất và cung ứng dịch vụ,
nhận tài trợ và tiếp nhận tài trợ của nước ngoài theo quy định của pháp luật để
bổ sung kinh phí và đầu tư phát triển nhà trường
- Đảm bảo sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong nhà trường Xây dựng mối quan hệ
chặt chẽ với các đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động của trường
- Đảm bảo trật tự, an ninh và an toàn trong nhà trường
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
tàu đến năm 2010
7.1 Các căn cứ để quy hoạch
• Các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về GD-ĐT có vai trò định hướng, làm nền tảng, hành lang pháp lý cho việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GVTH trong tỉnh và các giải pháp được đưa ra trong đề tài, đó là :
- Quan điểm Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng
- Quan điểm Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu
- Quan điểm Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn
- Quan điểm Phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh
th ời đại
- Quan điểm Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
• Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của trường CĐSP quy định tại quyết định số 56/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 10/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục về việc ban hành Điều lệ trường cao đẳng
Trang 33• Điều lệ trường Tiểu học ban hành kèm theo quyết định số 22/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quy định về trình độ chuẩn được đào
- Giáo viên tiểu học có trình độ trên chuẩn được tạo điều kiện để phát huy tác
dụng trong giảng dạy và giáo dục
- Người tốt nghiệp trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng , đại học chưa qua đào tạo sư phạm muốn trở thành giáo viên tiểu học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm tiểu học tại các trường, khoa sư phạm
• Quyết định số 3206/QĐ-BGD&ĐT ngày 4/6/2001 và số 11553/QĐ-BGD&ĐT ngày 18/10/2001 của Bộ GD-ĐT về việc cho phép trường CĐSP Bà Rịa-Vũng Tàu đạo tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng chính quy và không chính quy (tại
• Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo Tỉnh BR-VT giai đoạn 2005-2010 đề ra
mục tiêu về quy mô phát triển bậc Tiểu học nói riêng và định hướng phát triển các ngành học, bậc học nói chung
• Căn cứ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các căn cứ pháp lý khác
Trang 347.2 Công tác đào tạo bổi dưỡng giáo viên tiểu học giai đoạn 2010
Định hướng chung: Tập trung đào tạo trình độ cao đẳng SƯ phạm giáo viên tiểu học
và trình độ cao hơn khi có điều kiện để đáp ứng nhu cầu bổ sung đội ngũ GVTH; đào tạo trên chuẩn bằng h1nh thức tại chức số GVTH hiện có đạt hoặc vượt tỷ lệ quy định chung
cả nước; đào tạo lại và bồi dưỡng tái chuẩn hoa cơ bản số giáo viên 9+3, Ưu tiên số GVTH hệ 9+3 hiện đang giảng dạy tại các thành phố, thị xã và vùng thị tứ
Chỉ tiêu cụ thể:
• Đào tạo tập trung chính quy : Tập trung đào tạo trình độ cao đẳng, b1nh quân 40 đến 80 giáo viên mỗi năm để bổ sung, thay thế dần số giáo viên chưa đạt chuẩn (mới) đến tuổi nghỉ hưu (khoảng gần 500 giáo viên) Không đào tạo trình độ 12+2
nữa Khi có điều kiện, sẽ đào tạo trình độ ĐHSP
Đào tạo chủ yếu theo chương tr1nh hai môn Toán-Văn, ngoài ra cần đào tạo thêm theo chương tr1nh chọn 2 trong năm môn : Toán, Mĩ Thuật, Văn, Ẩm Nhạc, Thể dục để
bổ sung đội ngũ giáo viên dạy chuyên trách các môn năng khiếu Nhạc-Hát, Hoa, Thể dục
và công tác Đội - Sao nhi đồng
Có thể đào tạo đơn môn Ẩm Nhạc, Mỹ Thuật, Thể dục để vừa cung cấp đội ngũ giáo viên THCS, đồng thời có thể bố trí dạy tiểu học ở các môn đặc thù kể trên
• Đào tạo tại chức:
- Tiến hành song song hai nhiệm vụ, đào tạo nâng chuẩn (trình độ CĐSP) và bồi dưỡng chuẩn hoa, đào tạo lại
- Ưu tiên công tác tái chuẩn hoa trong 3 năm (kết thúc vào năm 2007) cho số giáo viên chưa đạt chuẩn (gần 250 người)
- Đào tạo nâng chuẩn b1nh quân mỗi năm 300 giáo viên Dự kiến năm 2010 sẽ có
Trang 35• Công tác bồi dưỡng giáo viên:
Công tác bồi dưỡng giáo viên được tiến hành thường xuyên, cho đại bộ phận GVTH, trước mắt tập trung bồi dưỡng thay SGK đến năm 2006 theo quy định của Bộ GD-ĐT, bồi dưỡng nghiệp vụ hè hàng năm theo kế hoạch của ngành giáo dục địa phương, chú ý đến bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, tập huấn phương pháp sử
dụng các thiết bị dạy học, nhất là phương tiện nghe nhìn, máy tính, kết nối Internet, sử
dụng các phần mềm dạy học Đặc biệt chú trọng đến việc tự bồi dưỡng
So với cả nước, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có kết quả nhất định về đào tạo giáo viên
tiểu học trong nhiều năm qua Đa số giáo viên đã đạt chuẩn Với lợi thế so sánh về vị trí địa lý, về tiềm năng phát triển kinh tế-xã hội, giáo dục tỉnh cần phát triển nhanh, mạnh đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoa- hiện đại hoa trên địa bàn và khu vực
Xu thế chung là nâng cao trình độ giáo viên tiểu học bằng các loại h1nh đào tạo đa
dạng, phù hợp với nhu cầu người học, với điều kiện về nguồn lực của địa phương Đó là trách nhiệm của tỉnh và vai trò nòng cốt , nhiệm vụ nặng nề là của trường CĐSP
Sự cần thiết phải có các giải pháp hợp lý, trên cơ sở phân tích thực trạng về công tác đào tạo giáo viên tại trường CĐSP , nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và nâng chuẩn trình độ giáo viên trong các năm trước mắt
Trang 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BR-VT NHẰM ĐÀO
TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập từ năm 1991 trên cơ sở Đặc khu Vũng Côn đảo (cũ) và 3 huyện của tỉnh Đồng nai Đến nay, tỉnh có 7 đơn vị hành chính gồm thành phố Vũng tàu, thị xã Bà ria và 5 huyện trong đó có huyện đảo (Côn đảo) Dân số toàn tỉnh gần 900 ngàn người Tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu là một trong những tỉnh nằm trong tam giác động lực phía nam, có vị trí địa lí quan trọng, tiềm lực kinh tế lớn trong cả nước,
tàu-là một trong các tỉnh thành phố có tốc độ phát triển kinh tế cao trong những năm gần đây
và là một trong số ít tỉnh thành trong cả nước có nguôi thu và nạp ngân sách cao Mức tăng trưởng GDP (Gross Domestic Product) đạt b1nh quân 14,7% năm, trừ dầu khí đạt 18,3%/ năm
Ngân sách chi cho giáo dục bình quân đầu người tăng mạnh Năm 1991 là 6.533 đồng/ 12.486 đồng mức chung của cả nước; năm 1993 là 30.437 đồng/34.502 đồng mức chung cả nước và tăng mạnh vào năm 1998 , đạt 160.988 đồng/125.658 đồng mức chung
cả nước và đứng thứ 3/61 tỉnh thành trong cả nước, sau thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Kon Tùm Mặc dù tỷ lệ chi cho giáo dục trong GDP chỉ chiếm 0.8 % trên 1.6% mức chung cả nước (năm 1998) và tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng chi tiêu địa phương chỉ chiếm 19.2 % / 22.9 % mức chi cả nước (năm 1998) nhưng nhờ tỉnh có nguồn thu ngân sách lớn nên mức chi cho giáo dục của tỉnh là đáng kể [nguồn : Báo cáo phát triển con người Việt nam năm 2001]
Chất lượng nguồn nhân lực được xếp hàng thứ 10/61 tỉnh thành với các chỉ số cơ
bản như có 3,1% đội ngũ lao động có trình độ cao đẳng trở lên ; chỉ số phát triển người HDI (Human Development Index) đạt 0,835 đứng hàng đầu trong cả nước
Trang 37Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ về kinh tế - xã hội góp phần quan trọng trong phát triển giáo dục - đào tạo
Cùng với sự phát triển kinh tế, giáo dục-đào tạo của tĩnh có bước phát triển mạnh,
vững chắc Các cấp học, bậc học phát triển cân đối, đồng đều ; công tác đào tạo đáp ứng được nhu cầu về đội ngũ của ngành giáo dục địa phương Hệ thống trường lớp được mở
rộng, trường lớp được xây dựng khang trang ngày càng nhiều ; cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ dạy và học được trang bị đồng bộ, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của ngành giáo dục
Bậc tiểu học được coi trọng và có sự phát triển vững chắc Tĩnh đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ tháng 4/1997 Toàn tĩnh hiện có 100.924 học sinh gồm lớp 1 (21.668 em), lớp 2 (21.810 em) , lớp 3 (20.178 em) , lớp 4 (21.133 em) và
lớp 5 (21.282 em) Tỷ lệ huy động học sinh vào lớp 1 đạt 113,6% (20.389/17.994 trẻ em
6 tuổi), số học sinh lưu ban là 3153 em chiếm tỷ lệ 2.97% ; số học sinh bỏ học là 450 em chiếm tỷ lệ 0.42%
Trang 38Học sinh trường công lập là 100.112 (chiếm 99.2%) trong đó có 13.331 học sinh
học 2 buổi/ ngày, chiếm tỷ lệ 13,9% Mạng lưới trường tiểu học có 137 trường gồm 135 trường công lập, 2 trường ngoài công lập Có 19/137 trường có lớp học 2 buổi/ngày , trong đó mới chỉ có 2 trường có 100% lớp học 2 buổi/ngày Nhìn chung hệ thống các trường tiểu học chưa đủ điều kiện để tổ chức dạy học 2 buổi /ngày Nguyên nhân của
hiện trạng này bao gồm nguyên nhân về điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất, trình độ giáo viên, điều kiện kinh tế của nhân dân và thậm chí cả về nhận thức của cộng đồng đối với hình thức dạy học này
Ma trận vấn đề này là:
Trang 39Năm học 2002-2003, số trường chuẩn quốc gia đã được công nhận là 6/137 chiếm
tỷ lệ 4,4% số trường gần đạt chuẩn đang phấn đấu là : 46 trường đạt 4/5 tiêu chuẩn ; 30 trường đạt 3/5 tiêu chuẩn và 44 trường đạt 2/5 tiêu chuẩn Đến tháng 12-2003 đã có 9/141 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 6.4%, là tỉnh thứ 18 cả nước (và thứ 2 trong các
tỉnh phía nam, sau TP Hồ Chí Minh) đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi với 71/73 xã, chiếm 97.26% trên chuẩn (quy định là 90%) Trẻ em 6 tuổi được huy động vào
lớp 1 đạt 99.53% (chuẩn quy định là 95%) Học sinh trong độ tuổi đến trường 100% Trường chuẩn quốc gia chưa nhiều, cho thấy sự phát triển của cấp học cần được chú
trọng hơn nữa Nguyên nhân được thể hiện là cơ sở vật chất chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về phòng học sân chơi , bãi tập, nơi bán trú, thư viện, khuôn viên hoặc các phòng
chức năng , phương tiện dạy học còn thiếu , chưa đồng bộ và chưa thích hợp với yêu cầu
Trang 40mới; điều kiện vệ sinh môi trường chưa đảm bảo (như hệ thống nước sạch, khu nhà vệ sinh, ) ; hiệu quả giáo dục chưa cao ; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới, đặc biệt là giáo viên còn lúng túng khi thực hiện đổi mới phương pháp dạy học về khách quan th1 nội dung chương tr1nh hiện tại (chương tr1nh
165 tuần) chưa thích hợp cho loại h1nh học 2 buổi/ ngày, nhiều trường còn lúng túng trong việc bố trí sắp xếp nội dung giờ dạy nhất là buổi học chiều; và một số lí do khác, Đầu tư cho các trường tiểu học được ưu tiên trong chính sách đầu tư cho giáo dục nói chung Năm 2003 có 22 trường tiểu học trên 65 trường học các cấp được duyệt kế
hoạch đầu tư xây dựng trường với tổng giá trị công tr1nh XDCB là 141.271 triệu đồng, trong đó kế hoạch thực hiện năm 2003 là 44.400 triệu đồng/133.380 triệu đồng tổng kinh phí đầu tư xây dựng toàn ngành giáo dục-đào tạo Các trường được xây dựng kiên cố,
hiện đại, đủ chuẩn ; một số trường được đầu tư lớn như trường tiểu học bán trú phường 8, thành phố Vũng Tàu được đầu tư 20.738 triệu đồng, trường tiểu học Hải Nam, thành phố Vũng Tàu được đầu tư 10.515 triệu đồng Các trường vùng sâu , vùng xa được quan tâm đúng mức,nhằm rút ngắn khó khăn so với vùng thành thị, vùng thị tứ Có 8 trường tiểu
học thuộc vùng sâu, vùng xa/22 trường tiểu học được đầu tư xây dựng trong năm 2003
Mặc dù được công nhận là tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống
mù chữ nhưng hàng năm vẫn thực hiện chương tr1nh quốc gia nhằm chống tái mù chữ Năm 2003, kinh phí cho dự án củng cố và phát huy kết quả phổ cập tiểu học và xoa mù
chữ, thực hiện phổ cập THCS là 2.500 triệu đồng, trong đó ngân sách địa phương hỗ trợ
là 1.000 triệu đồng Phần kinh phí riêng cho phổ cập giáo dục tiểu học và xoa mù chữ là 1.100 triệu đồng
Thực hiện đề án đổi mới nội dung, chương tr1nh, sách giáo khoa tiểu học, THCS
của Bộ GD-ĐT, tỉnh đã đầu tư lớn bằng nguồn ngân sách địa phương, năm 2002 (cho thay sách lớp 1 và lớp 6) là 13.000 triệu đồng ; năm 2003 (cho thay sách lớp 2 và lớp 7)
là 15.000 triệu đồng, trong đó chủ yếu là kinh phí trang bị đồ dùng dạy-học, thiết bị thí nghiệm và thiết bị đồng bộ Các lớp tiểu học được trang bị đầy đủ dụng cụ học tập theo chương trình mới cho từng học sinh