1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp của hiệu trưởng trường cao đẳng sư phạm tp HCM quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên từ 1995 đến 2000​

145 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường CĐSP TP.HCM là một cơ sở đào tạo giáo viên, một cơ sở nghiến cứu KHGD nằm trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng trong cả nước có nhiệm vụ vừa NCKH, vừa đào tạo đội ngũ giáo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

HOÀNG MẠNH KHƯƠNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TP.HCM QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN

TỪ 1995 ĐẾN 2000

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2002

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng KHCN – SĐH trường Đại học

Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung Ương III, đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt khoá học và trong việc hoàn thành luận văn này

Xin chân thành biết ơn các Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn, cung cấp tài liệu học tập, mang lại cho chúng tôi tri thức quý báu, thiết thực

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Hoàng Tâm Sơn, đã tận tình

hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để luận văn này

được hoàn thành Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Nguyễn Việt Bắc, Hiệu

phó chuyên môn trường Cao đẳng Sư phạm Tp Hồ Chí Minh đã động viên, giúp đỡ chúng tôi tận tình trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các anh, chị cán bộ quản lý các khoa, tổ bộ môn, phòng; cán bộ giảng dạy và các chuyên viên phòng Giáo vụ của trường Cao đẳng Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, cùng toàn thể đồng nghiệp, bạn bè đã cung cấp tư liệu, tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn của các Thầy,

Cô, các đồng chí và các bạn

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2002

HOÀNG MẠNH KHƯƠNG

Trang 4

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

4 CĐSPMGTW3: Cao đẳng sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3

5 CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

11 ĐTGV Tiểu học: Đào tạo Giáo viên Tiểu học

12 Đoàn TNCS HCM: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

13 GD - ĐT: Giáo dục - Đào tạo

14 GD và ĐT: Giáo dục và Đào tạo

16 GS, PGS: Giáo sư, Phó Giáo sư

Trang 5

28 KHIN: Khoa học tự nhiên

31 KT nữ công: Kỹ thuật nữ công

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 9

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 9

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 13

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 13

2.2 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 13

3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 13

4 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 13

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 13

5.1 LÀM RÕ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 13

5.2 LÀM RÕ VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CĐSP TP.HCM ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TỪ 1995 ĐẾN 2000 Ở CÁC MẶT SAU ĐÂY: 13

5.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NCKH 14

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

6.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 14

6.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA BẰNG PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 14

6.3 PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐÀM (TRÒ CHUYỆN - PHỎNG VẤN) 14

6.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM 14

6.5 PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT KINH NGHIỆM 14

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1 KHÁI NIỆM CÔNG CỤ TRONG ĐỀ TÀI 15

1.1.1 Quản lí 15

1.1.2 Quản lí giáo dục (QLGD) và quản lí trường học (QLTH) 17

Trang 7

1.1.3 Bản chất quản lí giáo dục (tính chất, đặc trưng của QLGD) 17

1.1.4 Mục tiêu quản lí giáo dục 21

1.1.5 Biện pháp quản lí giáo dục 22

1.1.6 Hoạt động 27

1.1.7 Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) 27

1.1.8 Đặc điểm trường cao đẳng 28

1.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 30

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VE QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (KHCN) 35

1.3.1 Vai trò hoạt động KHCN trong hệ thống trường ĐH, CĐ đối với sự phát triển của đất nước ta 35

1.3.2 Tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH để thực hiện tốt vai trò, chức năng của các trường sư phạm 37

1.4 HOẠT ĐỘNG NCKH – ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÍ CỦA NGƯỜI QUẢN LÍ (HT) TRƯỜNG SƯ PHẠM 40

1.4.1 Mục tiêu NCKH 40

1.4.2 Nội dung NCKH 41

1.4.3 Phương pháp NCKH 41

1.4.4 Tổ chức NCKH 41

1.4.5 Người dạy 42

1.4.6 Người học 42

1.4.7 Trường lớp và thiết bị 42

1.4.8 Môi trường NCKH 42

1.4.9 Quản lí NCKH 43

1.4.10 Kết quả NCKH 43

1.5 NGƯỜI QUẢN LÍ (HT) THÔNG QUA CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÍ ĐỂ TÁC ĐỘNG VÀO HOẠT ĐỘNG NCKH 43

1.5.1 Chức năng quản lí 43

1.5.2 Các nguyên tắc quản lí cơ bản 45

Trang 8

1.6 SỬ DỤNG TỐT CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÍ ĐỂ TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ NHAM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA TRƯỜNG SƯ

PHẠM 48

1.6.1 Các công cụ quản lí 48

1.6.2 Tăng cường các biện pháp quản lí để nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH 50

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 52

2.1 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 52

2.2 KHÁI QUÁT QUAN DIÊM NGHIÊN CỨU 52

2.2.1 Quan điểm tiếp cận xã hội lịch sử 52

2.2.2 Quan điểm tiếp cận hệ thống 52

2.3 XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 52

2.3.1 Nguyên tắc xây dựhg phiếu trưng cầu ý kiến HT, CBQL, CBGP và SV 52

2.3.2 Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến HT, CBQL, CBGD và SV 53

2.4 CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU 54

2.5 TỔ CHỨC GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU 54

2.5.1 Tổ chức khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến 54

2.5.2 Khảo sát thực trạng thông qua nghiên cứu các sản phẩm của hoạt động quản lí 54

2.5.3 Khảo sát thực trạng qua trao đổi trực tiếp với Hiệu trưởng 55

2.5.4 Khảo sát thực trạng qua trao đổi, phỏng vấn sâu về công tác quản lí hoạt động NCKH của CBQL phụ trách công tác NCKH của phòng giáo vụ và một số Khoa, Tố bộ môn trong trường CĐSP TP.HCM: 55

2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU 55

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TP.HCM QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TỪ 1995 ĐẾN 2000 57

3.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH 57

3.1.1 Sự ra đời 57

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trường 58

Trang 9

3.1.3 Tình hình chung của Trường năm học 2000-2001 59

3.2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NCKH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH 61

3.2.1 Mục tiêu, yêu cầu hoạt động NCKH đối với giảng viên và sinh viên 62

3.2.2 Quản lý nội dung, chương trình NCKH 67

3.2.3 Quản lý kế hoạch NCKH 71

3.2.4 Quản lý công tác tố chức hoạt động NCKH 74

3.3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH 80

3.3.1 Hiệu quả trong của hoạt động NCKH 80

3.3.2 Hiệu quả ngoài của hoạt động NCKH 92

3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NCKH 96

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐANG sư PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 116

4.1 CƠ SỞ ĐỀ RA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ 116

4.1.1 116

4.1.2 116

4.1.3 116

4.1.4 119

4.1.5 120

4.1.6 120

4.2 CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ 120

4.2.1 Cải tiến mục tiêu, yêu cầu; nội dung, chương trình; kế hoạch hoạt động NCKH 120 4.2.2 Tăng cường nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ CBQL, CBGD 124

4.2.3 Tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH và kiểm tra chặt chẽ công tác NCKH 127

Trang 10

4.2.4 Nâng cấp, bổ sung các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động

NCKH 129

4.2.5 Tăng cường vốn tài chính phục vụ cho công tác NCKH 130

4.2.6 Nâng cao đời sống vật chất của cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh viên của Trường 131

4.2.7 Thành lập phòng quản lý khoa học 131

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134

1 KẾT LUẬN 134

1.1 134

1.2 134

1.3 134

1.4 134

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN CỦA ĐỀ TÀI 135

2.1 Ý NGHĨA LÝ LUẬN 135

2.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 135

3 KIẾN NGHỊ 135

3.1 ĐỐI VỚI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 135

3.2 ĐỐI VỚI SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP.HCM VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM 135

3.3 ĐỚI VỚI HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CĐSP TP.HCM 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đề cập đến nhiệm vụ của Giáo dục và Đào tạo, nghị quyết Trung ƣơng hai, khóa VIII

chỉ rõ: "Phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục các mặt yếu kém theo hướng chấn chỉnh công tác quản lí, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực, sắp

xếp và củng cố hệ thống GD - ĐT và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lƣợng và hiệu quả

giáo dục - đào tạo; phát triển quy mô GD - ĐT; chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển

mạnh vào đầu thế kỷ 21" [53, tr.34] và giải pháp đổi mới công tác quản lí giáo dục: "Đổi mới

cơ chế quản lí bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp, chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lí

GD - ĐT tiếp tục sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu,

để gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học

giao dục, nhằm giải đắp những vấn đề lí luận và thực tiễn giáo dục" [53, tr.46] Như vậy

việc nâng cao chất lượng hiệu quả GD - ĐT được Đảng và Nhà nước coi là một nhiệm vụ quan trọng ương chiến lược phát triển GD - ĐT nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả GD - ĐT, có thể nói đẩy mạnh hoạt động NCKH, công tác tổ chức NCKH là khá quan trọng, do: "NCKH như là một phương pháp đào tạo" [35, tr.139]

"1 kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phục

vụ xã hội, từng bước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước

2 Trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất có trách nhiệm phối hợp trong việc đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội" [26, tr.13]; "la Thực hiện các hoạt động NCKH, ứng dụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước; 2b NCKH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục " [26, tr.39, 40] và thực tiễn có một số nơi: "hoạt động

GD - ĐT chưa gắn mật thiết với các hoạt động sản xuất và NCKH" [26, tr.28] Vì thế tăng

Trang 12

cường đổi mới công tác quản lí là điều cần thiết, rất có ý nghĩa đối với sự nghiệp phát triển GD

- ĐT

Trường CĐSP TP.HCM là một cơ sở đào tạo giáo viên, một cơ sở nghiến cứu KHGD nằm trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng trong cả nước có nhiệm vụ vừa NCKH, vừa đào tạo đội ngũ giáo viên THCS, Tiểu học có những phẩm chất và năng lực cơ bản Ương cấu trúc nhân cách của người giáo viên trong nhà trường XHCN; có đủ trình độ chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu đổi mới mục tiếu, nội dung, phương pháp giáo dục - dạy học ở cấp THCS; có tiềm lực để không ngừng hoàn thiện trình độ đào tạo ban đầu, vươn lên đáp ứng những yêu cầu mới

Trong nhiều năm qua, trường CĐSP TP.HCM đã từng bước vươn lên và ngày càng phát triển, đáp ứng được yêu cầu đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THCS cho TP.HCM; đồng thời Trường cũng luôn luôn cố gắng phấn đấu để xứng đáng là một trung tâm văn hóa KHGD

sư phạm của TP.HCM Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều vấn đề về công tác NCKH của Trường còn đang được xem xét, tranh luận Đó là việc hoạt động NCKH của giáo viên chưa thật sự khởi sắc, còn bị động, đối với sinh viên thì hoạt động NCKH bị chững lại Vấn đề quản lí tổ chức hoạt động NCKH tại một trường Đại học, Cao đẳng là một trong những vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm, bởi vì chất lượng GD - ĐT có đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hoạt động NCKH Chúng tôi điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này

Tại CHLB Đức có một số bài viết của Thômaxơ Bơlankê, Heinrich Weiss - Hans Peter

Stihl - Hermann Franzen - Tiến sĩ Klaus Murmann bàn về một số vấn đề NCKH và quản lí

hoạt động NCKH tại các trường đại học: các trường đại học phải thực hiện mối liên hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy Thực hiện các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu áp dụng, ứng dụng, sự cộng tác giữa người dạy và người học trong NCKH

Còn tại Việt Nam có một số quyết định, nghị định, thông tư và luật về NCKH và quản

lí hoạt động NCKH đã được ban hành:

 Nghị định số 35/HĐBT ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác quản lí KHCN

 Nghị định số 324/CT ngày 11/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan NCKH và phát triển công nghệ

Trang 13

 Quyết định số 419/TTg ngày 21/7/1995 của Thủ tướng Chính phủ về cớ chế quản

lí hoạt động NCKH và phát triển công nghệ

 Quyết định số 782/TTg ngày 24/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ

 Luật Khoa học và công nghệ (22/06/2000): quy định về tổ chức và hoạt động khoa học và công nghệ

 Quyết định số 06/QĐ-BGD&ĐT ngày 21/3/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành "Quy định về tổ chức thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ" [ ]

Công tác NCKH và quản lí hoạt động NCKH của ngành giáo dục tại các trường ĐHSP, CĐSP, Viện KHGD, cùng được Bộ giáo dục tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm: 1975 - 1985 tại Hà Nội, 8/1985: đề cập đến tình hình và đặc điểm hoạt động NCKH, những thành tích và tồn tại, đề ra một số chủ trương và biện pháp lớn về NCKH của ngành Giáo dục trong 1986 -

 Đại học Kinh tế quốc dân: hoạt động NCKH sinh viên trong giai đoạn 1990 -

1995 và việc đổi mới công tác NCKH sinh viên để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

 Đại học Kỹ thuật TP.HCM: Những đánh giá và kinh nghiệm về hoạt động khoa học - công nghệ, công tác quản lí hoạt động này tại trường

 Đại học Mỏ - Địa chất: một số đặc điểm tình hình hoạt động KHCN 91 - 95 và kinh nghiệm trong việc quản lí đề tài khoa học các cấp của trường

 Đại học Nông lâm Huế: về công tác quản lí các đề tài NCKH phục vụ sản xuất

Trang 14

 Đại học Nông nghiệp ì - Hà Nội: nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ nông nghiệp, thực trạng, giải pháp và những kiến nghị đối với hoạt động khoa học công nghệ của trường

 Đại học Sư phạm TP.HCM: Những bài học kinh nghiệm ương công tác quản lí khoa học công nghệ của phòng quản lí khoa học

 Đại học Tây Nguyên: đề cập đến việc đẩy mạnh hoạt động NCKH để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên

 Học viện kỹ thuật quân sự: NCKH của sinh viên là một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo

 Trung tâm Đào tạo Quốc tế về Khoa học vật liệu: Tổng kết hoạt động khoa học công nghệ 5 năm 1991 - 1995 và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí khoa học công nghệ

 Viện KHGD: Vai trò của việc quản lí công tác nghiên cứu nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả nghiên cứu

Nhìn chung tất cả những công trình, văn bản, báo cáo, nếu trên tập trung theo từng mặt, góc độ, khía cạnh khác nhau Ngoài ra vì thời gian có hạn nên chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thêm về vấn đề này tại những nơi sau đây:

 Phòng KHCN - SĐH trường ĐHSP TP.HCM

 Trường Cán bộ quản lí Giáo dục và Đào tạo Trung Ương li

 Trường CĐSP TP.HCM

 Trường CĐSP Mẫu giáo Trung Ương HI

 Viện nghiên cứu Khoa học - Giáo dục phía Nam

Đây là một vấn đề rất thực tiễn của quá trình quản lí tuy nhiên tại những nơi này cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về quản lí tổ chức hoạt động NCKH ở các trường sư phạm một cách có hệ thống Nhất là nghiên cứu các biện pháp quản lí để nâng cao hiệu quả của hoạt động NCKH ở địa bàn trường CĐSP TP.HCM thì chưa có tác giả nào nghiên cứu Để góp

phần giải quyết vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Một số biện pháp của

Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM quản lí hoạt động NCKH của giảng viên & sinh viên

từ 1995 đến 2000" với mong muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng và biện pháp quản lí nhằm nâng

cao hiệu quả của công tác quản lí hoạt động NCKH ở trường CĐSP TP.HCM Việc nghiên cứu

Trang 15

đề tài là hết sức cần thiết, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên THCS, Tiểu học

ở trường CĐSP TP.HCM đồng thời là sự quán triệt sâu sắc hơn nữa nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VIII

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Biện pháp quản lí hoạt động nghiên cứu khoa học

2.2 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM

3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Hiệu quả hoạt động NCKH của giảng viên và sinh viên phụ thuộc vào biện pháp quản lí của Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM

4 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Làm rõ một số biện pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM về quản lí hoạt động NCKH của giảng viên và sinh viên từ 1995 đến 2000 và kết quả của chúng

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu một số biện pháp của Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM về quản lí hoạt động NCKH của giảng viên và sinh viên đòi hỏi phải đi sâu vào nhiều khía cạnh, song do khả năng và thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn ở một số nhiệm vụ sau đây:

5.1 LÀM RÕ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

5.2 LÀM RÕ VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG CĐSP TP.HCM ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN

VÀ SINH VIÊN TỪ 1995 ĐẾN 2000 Ở CÁC MẶT SAU ĐÂY:

Xác định các mục tiêu, yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học; xây dựtag kế hoạch và tố chức thực hiện; xây dựng lực lượng; quản lí chế độ chính sách - phương tiện, trang thiết bị phục vụ hoạt động NCKH

Trang 16

5.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NCKH

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, bao gồm:

6.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

Nhằm thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu để làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản, chỉ đạo cho việc nghiên cứu thực tiễn

6.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA BẰNG PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

Thu thập thông tin qua "phiếu trưng cầu ý kiến Hiệu trưởng", "phiếu trưng cầu ý kiến CBQL, CBGD" và "phiếu trưng cầu ý kiến sinh viên"

6.3 PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐÀM (TRÒ CHUYỆN - PHỎNG VẤN)

Thu thập thông tin qua việc trao đổi trực tiếp với Hiệu trưởng và đội ngũ CBQL, CBGD

và sv của Trường để có thể nắm bắt đầy đủ những thông tin thiết thực cho nội dung nghiên cứu

đề tài

6.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM

Thông qua các bản số liệu thống kê về xây dựng đội ngũ cán bộ của Nhà trường; về diễn biến số lượng, chất lượng đề tài NCKH của giảng viên, sinh viên trong các năm học; về cơ sở vật chất, trang thiết bị của Nhà trường; về số lượng, chất lượng học tập và rèn luyện của sv qua các năm học,

Thông qua việc xem xét hồ sơ báo cáo, tài liệu, văn bản, nghị quyết, của Trường, Khoa (Tổ bộ môn) để tìm hiểu công tác quản lí hoạt động NCKH của Trường và các Khoa (Tổ bộ môn)

6.5 PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT KINH NGHIỆM

Trang 17

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 KHÁI NIỆM CÔNG CỤ TRONG ĐỀ TÀI

1.1.1 Quản lí

Đại từ điển Tiếng Việt [59, tr.827] viết: Quản lí (manage, control) là tổ chức, điều khiển

hoạt động của một đơn vị, của một cơ quan

Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ): Quản lí là chức năng của những hệ thống có tổ chức

với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [ 17, tr 15]

Hoạt động có sự tác động qua lại, giữa hệ thống và môi trường, do đó: quản lí được hiểu

là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới [17, tr 15]

Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người -thành viên của

hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến [17, tr 15]

Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt

động của họ trong quá trình lao động [17, tr.15]

Quản lí là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến

thành những thành tựu của xã hội [17, tr 15]

Quản lí là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin

của chủ thể đến khách thể của nó [17, tr.15] Quản lí là cai trị (gouverner) một tổ chức bằng cách:

 Đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt

 Lựa chọn và sử dụng các phương tiện nhằm đạt các mục tiêu đã định [17 , tr.9]

Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian tiền bạc, vật chất và sự không thỏa mãn

cá nhân ít nhất, hoặc ở đó họ có thể đạt được mục tiêu mong muốn tới mức có thể đạt được với nguồn lực sẩn có [17, tr.25]

Các khái niệm trên đây cho thấy:

 Quản lí được tiến hành ương một tổ chức hay một nhóm xã hội

Trang 18

 Quản lí gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm

Một số nhà nghiên cứu giáo dục của nước ta trong quá trình nghiên cứu về lí luận quản lí

để vận dụng trong việc nghiên cứu quản lí giáo dục đã nêu định nghĩa về "quản lí" như sau: Hà

Sỹ Hồ cho rằng: "Quản lí là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức,

lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được Ổn định và làm cho nó phát triển

tới mục đích đã định" [60] TS Nguyễn Văn Lê định nghĩa: "Quản lí một hệ thống xã hội là

khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt

hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra" [60] GS Hà Thế Ngữ và GS Đặng Vũ Hoạt nêu "Quản

lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lí một hệ thống là quá trình tác

động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Nhưng mục tiêu này đặc trưng

cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn" [60] GS Hoàng Chúng và

Phạm Thanh Liêm nêu lên định nghĩa "Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những

con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động" [60]

Quản lí và lãnh đạo

Nhiều tài liệu về quản lí (hay quản trị) còn có thuật ngữ "lãnh đạo" Trong thực tiễn quản

lí, các nhà quản lí thường cho rằng hai khái niệm này là rất giống nhau; trong lí luận về quản lí thì có những cách hiểu khác nhau

Thật ra lãnh đạo, quản lí có nội hàm như nhau Quyền điều khiển thuộc về người lãnh đạo Quản lí và lãnh đạo thường được coi là những hoạt động giống nhau Mặc dù sự thật là một nhà quản lí giỏi hầu như chắc chắn là một nhà lãnh đạo giỏi Như vậy lãnh đạo là một chức năng cơ bản của các nhà quản lí Tất cả các chức năng quản lí sẽ không hoàn thành tốt nếu các nhà quản lí không hiểu được yếu tố con người trong các hoạt động của họ và không biết lãnh đạo con người để đạt kết quả như mong muốn

Lãnh đạo là một khía cạnh quan trọng của quản lí, khả năng lãnh đạo có hiệu quả là một trong những chìa khóa để trở thành một nhà quản lí Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và

đi trước Cái mà một nhà lãnh đạo có hiệu quả làm trong một hoàn cảnh xác định không có gì khác hơn là để trở thành một nhà quản lí giỏi Vì lãnh đạo là lĩnh vực thực hành giữa người với

Trang 19

người và việc lãnh đạo hữu hiệu có tầm quan trọng sống còn để quản lí có kết quả Lãnh đạo là một nghệ thuật hay một quá trình tác động tới con người sao cho họ đóng góp một cách tự nguyện và nhiệt tình theo các mục tiêu tổ chức Qua chức năng lãnh đạo, các nhà quản lí giúp cho mọi người thấy được rằng họ có thể thỏa mãn được các nhu cầu riêng, sử dụng tiềm năng của họ ương khi họ đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu cơ sỡ Do vậy nhà quản lí cần phải có sự hiểu biết về vai trò của một người, cá tính và nhân cách của họ Điều khiển con người đòi hỏi người quản lí phải vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật (làm cho người lao động chấp nhận, kiên trì thực hiện công việc, làm chủ hoạt động, qua đó có được nhân cách của mình)

1.1.2 Quản lí giáo dục (QLGD) và quản lí trường học (QLTH)

 QLGD nằm trong quản lí văn hóa - tinh thần

 Quản lí hệ thống giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có kế hoạch,

có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên

cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lí trẻ em

 QLTH là quản lí vi mô, nó là một hệ thống con của quản lí vĩ mô: QLGD, QLTH

có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến

1.1.3 Bản chất quản lí giáo dục (tính chất, đặc trưng của QLGD)

1.1.3.1 Vị trí của quản lí

 Quản lí là một trong 5 nhân tố của phát triển: vốn, nguồn lao động, khoa học kĩ thuật, giao lưu và quản lí

 Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đã nêu 5 nhân tố: con người

- vị trí địa lí - tài nguyên - khoa học kĩ thuật - nguồn lực ngoài nước

Trang 20

Trong nhân tố khoa học kĩ thuật có quản lí

 Những năm sau chiến tranh, Anh không lạc hậu nhiều lắm so với Mĩ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Song năng suất lao động trong công nghiệp của Anh thấp so với

Mĩ, chỉ vì trình độ tổ chức và quản lí ở Anh thấp hơn Sau 15 năm Nhật Bản đã vươn lên hàng thứ hai trong giới tư bản về khối lượng sản xuất công nghiệp vì họ đã rất quan tâm đến yếu tố

quản lí Do đó Nhật đưa ra thuyết "nhân tố thứ tƣ" của sản xuất (ngoài "3 nhân tố" là: lao động,

ruộng đất, tư bản) Cần nhớ rằng thuyết nhân tố và nhân tố thứ tư là phản khoa học bởi vì Mác

đã chỉ ra rằng trong thuyết này hiện thực của các quan hệ TBCN đã được phản ánh một cách dối trá, huyền bí Nêu yếu tố quản lí để thấy tầm quan trọng của nó trong sự phát triển kinh tế

mà ngay các nhà tư bản cũng phải thừa nhận

tế, mà còn cả trên những mặt triết học, tâm lí học và xã hội học nữa Để đảm bảo quản lí tốt quá trình sản xuất các nhà lãnh đạo quá trình sản xuất của CNTB hiện đại - các nhà quản lí vừa phải là các nhà chính khách, nhà ngoại giao, vừa phải là các nhà xã hội học, tâm lí học Đó là

những yêu cầu của "nền đại kinh doanh" (Đ.M Gơvisiani: xã hội học của người kinh doanh)

 Đương nhiên các học giả tư sản không thể nào xây dựng được một quan điểm đồng bộ chân chính Vì trên thực tế việc chạy theo lợi nhuận là mục đích chủ yếu của nhà kinh doanh Chỉ trên nền tảng triết học Mác xít mới có thể đem lại bức tranh thực sự khoa học về quản lí Quan hệ xã hội là quan hệ giữa người và người được thực hiện với sự tham gia của ý thức Cơ sở của những quan hệ ấy là các quan hệ được hình thành quan hệ vật chất Thực ra, nổi bật lên chính là quan hệ xã hội

 Hiếm có trường hợp một quan hệ xã hội cụ thể chỉ quan hệ với kinh tế hoặc luật pháp Thường trong một quan hệ cụ thể có nhiều loại quan hệ khác nhau được hòa lẫn, liên kết,

Trang 21

quyện chặt với nhau: quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ pháp lí v.v V.I Lênin đã viết:

"Những nhà Mác xít là những nhà xã hội đầu tiên đề xuất vấn đề của sự cần thiết phải phân tích không chỉ độc một mặt kinh tế mà phải phân tích mọi mặt của đời sổng xã hội"

1.1.3.3 Bản chất và các đặc trưng cụ thể của quản lí

Với tính cách là một thành phần bắt buộc của hoạt động thực tiễn có tính chung của loài

người, quản lí là một hiện tượng có tính lịch sử, tính xã hội "Quản lí xã hội một cách khoa học,

không phải cái gì khác mà chính là việc tác động một cách hợp lí đến hệ thống xã hội, việc làm cho hệ thống đó phù hợp với tính quy luật vốn có của nó, và làm như vậy có nghĩa là để xây dựng lí luận về quản lí một cách khoa học, và thực hiện nó trong thực tiễn, cần phải xây dựng

khoa học về xã hội, về các quy luật phát triền của nó" (Aphanaxep - Quản lí xã hội một cách

khoa học 1973)

Nói tới bản chất xã hội phải đề cập đến bản chất giai cấp của quản lí Trong xã hội có giai

cấp bóc lột, hoạt động quản lí là vì lợi ích của giai cấp tư sản Lênin đã nói: bản chất của nó là

ở chỗ "quản lí bằng cách cướp bóc và cướp bóc bằng cách quản lí"

Trong XHCN, hoạt động quản lí được tiến hành một cách khoa học nhằm làm cho đời sống của những nhà lao động ngày càng được cải thiện, tạo cho họ những khả năng hưởng thụ các phúc lợi xã hội Bản chất xã hội của quản lí được thể hiện trong tính hướng đích của quản

Trang 22

 Các chuyên gia pháp lí đều thiên về phân tích quá trình quản lí ở trạng thái tĩnh:

cơ cấu, quyền hạn, chức năng, tiêu chuẩn

 Bất kì một xã hội nào cũng cần có tổ chức, kỉ luật, quyền uy Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã phân biệt rõ quyền uy vốn có trong bất cứ xã hội trong khía cạnh xã

hội học rộng lớn với quyền uy chính trị Các mác viết: "Bộ phận thống trị của xã hội quan tâm

đến việc làm sao cho biến hiện trạng thành luật pháp và duy trì những chế ƣớc của xã hội do tập tục và truyền thống đẻ ra nhƣ những chế ƣớc của luật pháp"

 Bất kì một sự quản lí nào trong các tập thể người cũng là một trong những hình thức tách biệt, nhưng chính trong hình thức Nhà nước, sự tách biệt đó mới đạt tới mức lổn nhất

 Việc đề cập đến khía cạnh pháp lí của quản lí trước hết phải đề cập đến những đặc điểm của Nhà nước và do đó cũng riêng có đối với quản lí trong mức độ mà nó mang hình thức Nhà nước - pháp lí

 Trong quản lí Nhà nước XHCN, pháp lí có tính cách mới, pháp lí thể hiện lợi ích của toàn dân và việc điều hòa pháp lí dựa vào uy thế đạo đức của các quy phạm pháp lí, vào lòng tin và ý thức giác ngộ của người công dân nhiều hơn là dựa vào cưỡng bức

 Đảng ta đã có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa VII Đó chính là sự tập trung cải cách hành chính nhằm mục đích tăng cường tính chất pháp lí - hành chính trong các hoạt động quản lí cũng như trong các cơ quan quản lí nhà nước

b Đặc trƣng công nghệ của quản lí

 Một trong những kết quả to lớn của sự phát triển các công trình NCKH trong mấy chục năm qua là phát triển cách giải thích quá trình quản lí như trong quá trình biến đổi thông tin và khám phá ra những quy luật điều khiển học chung của các quá trình quản lí

 Điều khiển học nghiên cứu những nguyên tắc chung của quản lí Việc nghiên cứu

hệ thống (ví dụ hệ quản lí) là đối tượng của phân tích hệ thống Đối tượng của điều khiển học

là những hệ thống xác suất phức tạp có bản chất nội cân bằng và đề ra những nguyên tắc xây dựng hệ thống nội cân bằng

 Theo quan điểm của điều khiển học quá trình quản lí là quá trình thu nhận, biến đổi truyền đạt thông tin Điểm tập trung của quá trình này là việc đề ra quyết định, nhờ đó mà

Trang 23

thông tín quản lí - chỉ thị - kế hoạch, định mức Việc tổ chức quá trình quản lí dựa trên việc sử dụng các cơ cấu thứ bậc cho phép điều chỉnh các dòng thông tin và làm dễ dàng rất nhiều cho các quá trình xử lí thông tin

c Quản lí vừa là khoa học vừa là nghệ thuật

 Quản lí là một trong những hoạt động lâu đời nhất của con người, khi quản lí chưa dựa trên cơ sở khoa học thì yếu tố quyết định là vốn sống và kinh nghiệm của người quản

lí Nhưng khi quản lí trở thành một khoa học thì có người lại cho rằng tài năng của con người chỉ là thứ yếu Cả hai khuynh hướng trên đều không đúng

 Quản lí một cách khoa học đòi hỏi ở người quản lí những hiểu biết khoa học về đối tượng quản lí, về môi trường nhưng năng lực quản lí lại phụ thuộc vào khả năng vận dụng một cách khôn khéo và hiệu quả các quy luật, sử dụng các phương pháp thích hợp vào tình huống cụ thể Do đó quản lí xã hội nói chung, và quản lí giáo dục nói riêng vừa là khoa học vừa

là nghệ thuật

 Năng lực quản lí và trình độ thành thục cao hơn là tài nghệ quản lí là sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yếu tố: khoa học, nghệ thuật và sự thực hành bền bỉ lâu dài

1.1.4 Mục tiêu quản lí giáo dục

 Mục tiêu quản lí là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lí Mục tiêu quản lí là trạng thái của hệ thống mà ta muốn thu được Trạng thái hay kết quả đó hiện chưa có hoặc đang có nhưng ta muốn duy trì Trạng thái hay kết quả đó chỉ đạt được thông qua các tác động quản lí

 Có nhiều loại mục tiêu quản lí:

+ Mục tiêu lâu dài, trước mắt

+ Mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận

+ Mục tiêu tổng quát; mục tiêu cụ thể

Trang 24

 Kèm theo việc xây dựng mục tiêu phải xác định các tiêu chuẩn đánh giá việc thực hiện mục tiêu

 Trong giáo dục các mục tiêu phải được phân chia theo ngành học, cấp học, theo vùng lãnh thổ, theo các mặt hoạt động giáo dục các loại mục tiêu giáo dục đã được trình bày trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, ưong chỉ thị năm học hàng năm của Bộ GD - ĐT

 Việc xác định mục tiêu giáo dục phải dựa vào yêu cầu khách quan của quy luật giáo dục Quy luật giáo dục được chia làm 2 loại: quy luật phát triển giáo dục (hay phát triển nền học vấn) và quy luật quá trình nâng cao văn hóa xã hội, phổ cập giáo dục Loại thứ hai chi phối quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học

 Việc đề ra các mục tiêu quản lí phải chú ý đến giai đoạn phát triển của đối tượng, trình độ quản lí của chủ thể và những đặc trưng của thực tiễn quản lí

1.1.5 Biện pháp quản lí giáo dục

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt [59, tr.161]: "Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành,

giải quyết một vấn đề cụ thể" và "Phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu quả cao"

Như vậy, biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở các phương pháp đã xác định Muốn hiểu rõ khái niệm biện pháp quản lí giáo dục, trước hết chúng ta xem xét đến các phương pháp quản lí giáo dục

"Phương pháp quản lí" là cách thức tác động, là cách sử dụng các biện pháp, thủ thuật,

các phương tiện của hệ thống quản lí đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được các mục tiêu quản

lí [60]

Phương pháp quản lí là bộ phận năng động nhất, linh hoạt nhất trong hệ thống quản lí, phương pháp quản lí cũng thể hiện rõ nhất tính năng động, sáng tạo của chủ thể quản lí Trong mỗi tình huống, mỗi đối tượng nhất định, người cán bộ quản lí phải biết sử dụng phương pháp quản lí thích hợp, hoặc biết kết hợp nhiều phương pháp một cách khôn khéo để đạt được mục tiêu cao nhất Tính hiệu quả của quản lí phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt nhất các phương pháp quản lí

Do đối tượng quản lí phức tạp đòi hỏi những phương pháp quản lí cũng rất đa dạng Hệ thống giáo dục là hệ thống rất phức tạp, do đó phương pháp quản lí giáo dục cũng đa dạng linh

Trang 25

hoạt Các phương pháp quản lí liên quan với nhau hết sức chặt chẽ, lập thành một hệ thống các phương pháp quản lí Trong quản lí giáo dục thường có các phương pháp quản lí sau đây:

1.1.5.1 Phương pháp hành chính - tổ chức

Các phương pháp hành chính tổ chức trong quản lí bao gồm các biện pháp tác động trực tiếp về mặt tổ chức và hành chính nhằm bảo đảm tính nhịp nhàng, đồng bộ và tính liên tục của các quá trình lao động trong các tổ chức giáo dục, nó thể hiện ở những quyết định, mệnh lệnh dứt khoát mà người cán bộ quản lí giáo dục ban hành cho những người dưới quyền của mình, hay ở các quy định có tính chất bắt buộc mà ương khi hành động mọi người phải tuân theo và những người trong hệ thống bị quản lí phải phục tùng thực hiện đầy đủ

Hình thức thể hiện của phương pháp hành chính tổ chức là lời hoặc văn bản có tính chất mệnh lệnh, truyền đạt các thông tin chỉ huy tác động tới các đối tượng quản lí

Tác động của phương pháp hành chính, tổ chức lên hệ thống quản lí có hai loại sau:

Tác động về tổ chức

Những phương pháp hành chính tổ chức tạo nên tác động tổ chức có mục đích xây dựng những hệ thống bị quản lí và quản lí tối ưu những điều kiện nhất định của lao động Các hình thức thể hiện của phương pháp hành chính Tổ chức là những văn bản pháp quy như nghị quyết, nghị định, quyết định, điều lệ, quy chế, nhằm tiêu chuẩn hóa về mặt tổ chức sự hoạt động của các tập thể hoặc của những người lao động và các định mức tổ chức, định mức thời gian, và công việc

Kết quả của tác động tổ chức mang lại sự hình thành được cơ cấu và mối liên lạc giữa các yếu tố Ương một hệ thống để bảo đảm cho hệ thống đó hoạt động có hiệu quả

Trang 26

tới một yếu tố nào đó trong hệ thống nhất thiết không được mâu thuẫn với hệ thống các quyết định đã có về những vấn đề đó

1.1.5.2 Phương pháp kỉnh tế trong quản lí

Phương pháp kinh tế trong quản lí là phương pháp tác động một cách gián tiếp lên đối tượng quản lí ưên cơ sở những cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định về mặt lợi ích vật chất để con người tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành một nhiệm vụ nào đó hoặc tạo ra những điều kiện để lợi ích riêng của các cá nhân, các tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn ngành, toàn xã hội, do đó thúc đẩy con người chủ động hành động có hiệu quả cao mà không cần có những tác động hành chính

Trong quản lí giáo dục, phương pháp này thể hiện bằng các chế độ, chính sách kích thích, khuyến khích vật chất và thường được kết hợp với các phương pháp hành chính - tổ chức trong việc xác định các định mức tiêu chuẩn, chỉ tiêu Việc áp dụng các phương pháp kinh tế gắn liền với việc sử dụng "đòn bẩy kinh tế" Trong quản lí giáo dục khác với quản lí kinh tế, vì giáo dục vừa thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, vừa thuộc lĩnh vực kinh tế, cho nên cần phải phải hiểu các phạm trù, các quy luật giáo dục trên cả hai mặt đó trong việc vận dụng các phương pháp quản lí

1.1.5.3 Phương pháp giáo đục trong quản lí

Trong bối cảnh cơ chế thị trường, hiện nay, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thận trọng để một mặt khuyên khích lao động của giáo viên, mặt khác đảo bảo uy tín sư phạm của giáo viên và tập thể nhà trường

Các phương pháp giáo dục ương quản lí là những phương pháp tác động về mặt tinh thần đối với những người lao động để vừa động viên được khí thế cách mạng của họ, vừa nâng cao trình độ và giáo dục họ thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách, kế hoạch, làm cho họ hãng hái thi đua lao động và công tác, phấn khởi tham gia vào việc quản lí Đây là phương pháp quản lí theo đường lối quần chúng, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nên những quan

hệ tư tưởng đạo đức mới trong lao động Như Lênin đã dạy: "Xây dựng kỷ luật lao động mới,

xây dựng những hình thức mới, về mối liên hệ xã hội giữa người với người, xây dựng nhưng hình thức và phương pháp mới để lôi cuốn người ta tham gia lao động"; đây là một công việc

đòi hỏi phải mất nhiều năm, hàng mấy chục năm mới làm được "Đó là công việc hữu ích nhất

và cao quý nhất"

Trang 27

Các phương pháp giáo dục trong quản lí tập trung vào việc nâng cao ý thức và năng lực làm chủ cho người lao động thông qua việc giáo dục chính tri tư tưởng, xây dựng tập thể vững mạnh, tham gia phong trào thi đua, phát huy sáng kiến, kinh nghiệm và các hình thức hoạt động khác Bằng phương pháp giáo dục làm cho người lao động không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học chuyến môn, năng lực tổ chức và quản lí, để thúc đẩy họ tích cực tham gia vào sản xuất, hoạt động nhằm đạt yêu cầu làm cho ý thức và năng lực làm chủ tập thể, trình độ văn hóa và kiến thức, nhưng tư tưởng và tình cảm yêu nước, yêu lao động của nhân dân phải trở thành lực lượng vật chất thúc đẩy sản xuất phát triển

1.1.5.4 Phương pháp tâm lí - xã hội

Hệ thống giáo dục là một hệ xã hội Các quy luật xã hội giáo dục thuộc loại quy luật xã hội Hoạt động giáo dục sẽ không có kết quả nếu không có sự tham gia của con người (giáo viên, học sinh và những người có liên quan) Vì vậy, trong quản lí giáo dục và những tình huống cụ thể Phương pháp tâm lí - xã hội nhằm động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người đảm bảo mối quan hệ thân ái hợp tác cùng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm

vụ, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần trong từng người và trong tập thể sư phạm

 Người cán bộ quản lí giáo dục phải đi sâu nghiên cứu đặc điểm tâm lí - nhân cách của giáo viên và học sinh, những yêu cầu về đạo đức, nghề nghiệp, xu hướng, hứng thú, các phẩm chất ý chí thuộc các lứa tuổi khác nhau để có những biện pháp tác động thích hợp giúp giáo viên trở thành tấm gương sáng cho học sinh và giúp đỡ học sinh trở thành những nhân cách theo mục tiêu đã định

 Theo phương pháp này, người cán bộ quản lí phải chú ý đến các mối quan hệ trong nhà trường, xây dựng bầu không khí đoàn kết phấn đấu vì mục tiêu và lợi ích chung Cơ

sở đoàn kết là tình cảm nghề nghiệp và quan hệ lợi ích, sao cho trong tập thể mọi người đều được phát triển, đều được đóng góp công sức vào mục tiêu chung và được tập thể thừa nhận

1.1.5.5 Việc kết hợp các phương pháp quản lí

 Giáo dục là một hiện tượng sư phạm - xã hội ở đây chứa đựng nhiều quy luật thuộc các lĩnh vực khác nhau Vì vậy việc áp dụng nhiều phương pháp quản lí là điều dễ hiểu vấn đề là không nến tuyệt đối hóa một phương pháp nào, người quản lí cần tùy từng tình huống

cụ thể nắm vững và vận dụng ưu thế cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp, kết hợp vận dụng chúng một cách khéo léo nhằm đạt kết quả cao nhất

Trang 28

 Các phương pháp kinh tế, tâm lí - xã hội thuộc loại tác động gián tiếp Nhưng muốn có hiệu lực, cần được "thể chế hóa" bằng cách quyết định có tính chất pháp lí Như vậy giữa các phương pháp không có sự tách rời, càng không có sự đối lập Chúng điều tiết các mối quan hệ hành chính, tổ chức, tâm lí, kinh tế và xã hội Tuy nhiên cũng cẩn thận trong khi sử dụng phương pháp này để không dẫn đến tình trạng quan liêu giấy tờ

1.1.5.6 Gần đây xuất hiện phương pháp mới trong quản lí: phương pháp ma trận M Y

T K (chữ viết tắt của tiếng Anh là SWOT) M: mặt mạnh (Strong); Y: mặt yếu (West); T: thời

cơ, thuận lợi (Opportunities) và K: nguy cơ, khó khăn (Threat) Áp dụng phương pháp này người hiệu trưởng cần thực hiện các giai đoạn:

a Làm sáng tỏ

 Mặt bằng xuất phát: số lượng, chất lượng giáo viên, nguồn tài chỉnh, cơ sở vật chất

 Các mục tiêu cần đạt tới (trong khoảng thời gian nhất định)

 Đặc trưng các nhân tố chủ quan (mặt mạnh yếu, khả năng chuyển yếu thành mạnh và ngược lại)

 Đặc trưng các nhân tố khách quan (thời cơ, nguy cơ, thuận lợi, khó khăn, khả năng biến khó khăn thành thuận lợi và ngược lại )

b Lập ma trận (3 hàng, 3 cột) như hình sau:

c Như vậy 4 tình huống cơ bản: MT, YT, MK, YK ứng với mỗi tình huống cần có một chiến lược bao gồm những giải pháp, biện pháp GÒ tính hiện thực và khả thi

Cần lưu ý rằng phương pháp ma trận trên đây có thể áp dụng cho một hoạt động cụ thể nhằm thực hiện một chủ trương cụ thể Chẳng hạn như chủ trương giảng dạy thích hợp các môn học yêu cầu người hiệu trưởng phải phân tích đầy đủ các nhân tố thuận lợi, khó khăn mặt mạnh, mặt yếu về phương diện chủ quan cũng như khách quan (lực lượng giáo viên, trình độ

Trang 29

giáo viên, đời sống giáo viên, cơ sở vật chất, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ quản lí ) để từ

đó thiết lập ma trận và chọn chiến lược thích hợp

1.1.6 Hoạt động

Hoạt động (be active, activity): "Làm những việc khác nhau, với mục đích nhất định trong

đời sống xã hội" [59, tr 827]

1.1.7 Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH)

Luật khoa học và công nghệ [33, tr.8] đã giải thích:

Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và

tư duy

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương

tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm;

Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát

triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ

NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã

hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn NCKH bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm

mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm;

Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả NCKH để làm thực nghiệm nhằm

tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới

Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất

thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất

và đời sống;

Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc NCKH và phát triển công

nghệ, các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn

Trang 30

Theo nhiều báo cáo tổng kết, hội nghị về NCKH, hoạt động KH và CN ở các trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu, các Trung tâm, Tổ chức KH và CN ở nước ta thì khi nói đến

hoạt động NCKH thường đề cập đến việc nghiên cứu thực hiện các đề tài, công trình NCKH

và một số hình thức hoạt động có liên quan, hỗ trợ, phục vụ cho việc này chẳng hạn: tọa đàm

trao đổi kinh nghiệm, sinh hoạt khoa học theo các chủ đề, tổ chức hội thảo, hội nghị, báo cáo khoa học, hợp tác trao đổi thông tin khoa học; viết tham luận, các chuyên đề, viết báo chuyên ngành khoa học, tạp chí khoa học; xuất bản tạp chí, tập san khoa học

Bởi lẽ hoạt động NCKH là một phần, một mặt hoạt động của hoạt động KH và CN; có liên quan, quan hệ, chặt chẽ với các mặt, các phần hoạt động khác của hoạt động KH và CN nhằm hỗ trợ, tăng cường chất lượng, hiệu quả cho nhau và cho hoạt động KH và CN; nên càng đẩy mạnh, phát triển hoạt động NCKH sẽ càng làm cho hoạt động KH và CN được tăng cường, phát triển tốt hơn Do đó hoạt động NCKH cũng được hiểu như là hoạt động KH và CN và hoạt động KH và CN cũng có thể được nói vắn tắt là hoạt động nghiên cứu KHCN hay hoạt độngNCKH

1.1.8 Đặc điểm trường cao đẳng

Luật giáo dục khẳng định trường cao đẳng là nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc

dân (Xem phụ lục 3, 4) được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, chịu sự quản

lí nhà nước của các cơ quan quản lí giáo dục theo sự phân công, phân cấp của chính phủ [26, tr.34]; trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng [26, tr.29]

1.1.8.1 Thời gian đào tạo

Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp [26, tr.24]

1.1.8.2 Mục tiêu đào tạo

Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành

cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyến ngành được đào tạo [26, tr.25]

1.1.8.3 Nội dung đào tạo

Trang 31

Đào tạo trình độ cao đẳng phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành cần thiết: chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công

tác chuyên môn [26, tr.26]

1.1.8.4 Phương pháp giáo dục đào tạo

Phương pháp giáo dục phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng [26, tr.26]

Nội dung và phương pháp giáo dục phải được thể hiện thành chương trình giáo dục Bộ

GD và ĐT quy định chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo,

tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa lí thuyết và thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng xác định chương trình giáo dục của trường mình

1.1.8.5 Một số nhiệm vụ và quyền hạn trong giáo dục, đào tạo

Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác nhau theo mục tiêu, chương trình giáo dục;

Quản lí nhà giáo, cán bộ, nhân viên;

Tuyển sinh và quản lí người học;

Quản lí, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật; Ngoài ra, trường cao đẳng còn có nhiệm vụ quan trọng trong NCKH, phục vụ xã hội, đó là:

Thực hiện các hoạt động NCKH, ứng dụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước

Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo quy định của pháp luật [26, tr.38]

1.1.8.6 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường cao đẳng trong các công tác

Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo

Tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng theo thẩm quyền;

Tổ chức bộ máy nhà trường

Trang 32

Huy động, quản lí, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo

dục

Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, NCKH trong nước và nước ngoài theo quy định của chính phủ

1.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Đẩy mạnh phát triển hoạt động KHCN là một trong những quốc sách hàng đầu ở nước ta

trong sự nghiệp CNH, HĐH, để phát triển đất nước [53; ti 6] Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 4 và 5 đặc biệt là Nghị quyết 37/NQTW của Bộ Chính trị đã vạch ra những phương hưổng,

chủ trương, chính sách về NCKH trong giai đoạn đi lên CNXH ở nước ta Trên cơ sở của

những nghị quyết trên, Bộ Giáo dục đã có chỉ thị số 27/CT chỉ rõ cần huy động lực lượng đông đảo cán bộ giáo viên, học sinh của ngành tham gia NCKH Nghị quyết TW (Khóa VIII) đã xác định: "Cùng với GD-ĐT, KH và CN là quốc sách cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH; CNH, HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ KH và CN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh, KH và CN gắn với GD - ĐT"

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX lại khẳng định: "Coi phát triển GD và

ĐT, KH và CN là quốc sách hàng đầu là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH"

Đặc biệt hoạt động NCKH trong các cơ sở GD - ĐT được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, do không chỉ GD - ĐT và KHCN có quan hệ chặt chẽ mà còn vì chất lượng GD - ĐT có phụ thuộc rất lớn vào hoạt động NCKH Đã có một số công trình, tài liệu, báo cáo tổng kết kinh nghiệm về hoạt động này tại các trường Đại học, Cao đẳng, Viện và Trung tâm nghiên cứu ở trong và ngoài nước

Tại Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức), một số nhà nghiên cứu nhận định: Khoa học

và nghiên cứu là yếu tố sản xuất quyết định của các xã hội công nghiệp hiện đại

Một nước có khả năng càng chi nhiều tiền cho phát triển nghiên cứu và công nghệ bao nhiêu thì càng có nhiều cơ hội thành công nhiều trong cạnh tranh về sản phẩm và thị trường Quy mô của ngân sách dành cho nghiên cứu là một trong những thông số quan trọng nhất để đánh giá năng lực của một nền kinh tế quốc dân

Trang 33

Dự án phát triển các trường Đại Học ở Đức [41, tr.16, 18] đề cập: Những dự báo mới

nhất về chính trị, xã hội, kinh tế của Châu Âu, đặc biệt dự báo sự phát triển cho ngành Đại học

đã đặt ra yêu cầu mới về chất lượng và cải cách ngành Đại học: các trường Đại học Quốc gia là nền tảng cho sự phát triển khoa học, văn hóa, kỹ thuật và kinh tế ở CHLB Đức

Hệ thống Đại học, đặc biệt là trường Đại học Tổng hợp và trường Đại học chuyên nghiệp theo định hướng đa dạng hóa, trường Đại học Tổng hợp phải thực hiện mối liên hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy bảo đảm việc đào tạo lớp kế cận khoa học và thực hiện nghiên cứu đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu được áp dụng trong KHTN và KHKT; các trường Đại học chuyên nghiệp thì nghiên cứu ứng dụng, thiết kế và chuyển giao kiến thức; giảng dạy ở Đại học Tổng hợp thì giáo viên phải có kinh nghiệm nghiên cứu, sinh viên được tham gia nghiên cứu,

có sự cộng tác chặt chẽ giữa người dạy và người học, lôi kéo sinh viên tốt nghiệp vào quá trình nghiên cứu, ý niệm về sự thống nhất của các ngành khoa học thông qua sự mở rộng liên kết nghiên cứu và giảng dạy ở đây điều không thể thiếu được là sự tham gia tích cực của tất cả sinh viên vào việc đào sâu lí thuyết của môn học nghiên cứu bằng những câu hỏi đào sâu bảo đảm việc đào tạo lớp kế cận khoa học và thực hiện nghiên cứu, phải đảm bảo nghiên cứu ở trường Đại học, cung cấp cho các trường Đại học kinh phí cho những hoạt động nghiên cứu

Trong các kiến nghị của hội đồng khoa học về những triển vọng của các trường Đại học trong những năm 90 [41, tr.36] Các trường Đại học là những cơ sở nghiên cứu quan

trọng nhất được xã hội khuyến khích Đồng thời các trường Đại học cũng gắn công tác nghiên cứu với việc đào tạo cán bộ khoa học tương lai và công tác giảng dạy

Cần mở rộng các quan hệ hiệp tác giữa các trường Đại học và các Viện ngoài trường Đại học Các nguyên tắc áp dụng ỡ đây là:

Tăng cường quyền tự chịu trách nhiệm của các trường đại học về khâu nghiên cứu và sử dụng kinh phí

Các trường Đại học của CHLB Đức thông qua quan hệ kết nghĩa giữa các trường Đại học

và hợp tác theo dự án đang có nhiều mối quan hệ tiếp xúc với các trường Đại học nước ngoại

Theo Heinrich Weiss; Hans Peter Stỉhl, Hermann Franzen, Tiến sĩ Klaus Murmann

[41, tr 56]

Do khoa học và nghiên cứu có ý nghĩa ngày càng tăng đối với khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thiên về xuất khẩu của Đức cần tăng cường sự hợp tác giữa ữường Đại học với các

Trang 34

cơ sở kinh tế, đồng thời vẫn tôn trọng tính độc lập của các bên Do vậy vì lợi ích của các trường Đại học, cần thúc đẩy việc ứng dụng các kiến thức khoa học, tăng cường khâu giảng dạy và nghiên cứu bằng cách sử dụng các phương tiện thử và phải nâng cao tính hấp dẫn của các chương trình giảng dạy bằng cách tăng cường gắn chặt với thực tiễn, đặc biệt cần phải mở rộng các quan hệ hợp tác với các trường Đại học nước ngoài

Trong khi tiếp tục phát triển hệ thống Đại học cần áp dụng các yếu tố điều kiện kinh tế thị trường trong nghiên cứu và giảng dạy vì đây là một vấn đề có vị trí trung tâm Để các trường Đại học có thể phát triển và mở rộng khả năng của mình trong giảng dạy và nghiên cứu cần được tự chủ cao về mặt thể chế cũng như tự quản tài chính và tổ chức

Tài liệu hội nghị của Bộ văn hóa CHLB Đức 1983 [41, tr.82]

Cải cách học tập phải nhằm mục đích vừa nâng cao trình độ của sinh viên, vừa nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Một trong những mục tiêu của cải cách học tập là bồi dƣỡng khả năng hoạt động khoa học: việc bồi dưỡng khả năng hoạt động khoa học cho sinh viên được tiến hành thông qua việc

trang bị những kiến thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn trong các học kỳ tương ứng Người sinh viên cần làm quen với các phương pháp tìm kiếm, sắp xếp và phản ánh có phê phán các kiến thức lí luận, đồng thời có khả năng sử dụng các kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ nhất định và thông qua đó mà gắn khoa học với cuộc sống Trong quá trình tiếp xúc với khoa học, người sinh viên dần dần hiểu kiến thức khoa học là gì, nó xuất hiện như thế nào,

có thể sử dụng nó làm gì và trách nhiệm nào gắn liền với nó

Kỹ năng này giúp cho người sinh viên Đại học sau khi tốt nghiệp có thể mang được những kiến thức hiện đại từ ừong nghiên cứu cũng như các phương pháp tiếp cận mới áp dụng vào thế giới nghề nghiệp Khả năng của một xã hội và nền kinh tế quốc dân đạt đến những kết quả đổi mới như thế nào phụ thuộc một phần không nhỏ vào chất lượng công tác đào tạo khoa học Chính vì vậy, các tiêu chuẩn quốc tế về đào tạo khoa học, kể cả tiêu chuẩn về việc sử dụng kết quả nghiên cứu có tính dẫn đường vào trong học tập, là những chỉ dẫn rất quan trọng trong công cuộc cải cách học tập

Việc học tập cần tạo cho sinh viên có được kỹ năng tư duy một cách phê phán, sáng tạo

và theo phương pháp hợp lí, nhất là để xử lí các vấn đề tổng hợp phức tạp Sau khi được đào tạo, người sinh viên có thể giải quyết nhiều vấn đề mới hoặc là tương tự về mặt chuyên môn

Trang 35

Muốn vậy, cần phải trang bị cho sinh viên, không chỉ có kiến thức chuyên môn mà cả việc áp dụng các kiến thức đó vào quá trình khoa học

Các hình thức giảng dạy và học tập phù hợp nhất trong quá trình đào tạo sinh viên là các hình thức tổ chức phù hợp với những vấn đề được đặt ra cụ thể vào rõ ràng Bến cạnh các hình thức cổ điển cần được tiếp tục áp dụng, như lên lớp nghe giảng, thảo luận tổ hoặc đi tham quan, cần chú ý các hình thức khác như:

 Sinh viên tham gia công tác nghiên cứu

 Nhà trường tổ chức khảo sát thực tế nghề nghiệp hoặc là những hoạt động thực tế nghề nghiệp được bố trí thành nội dung học tập

 Nhà trường giải quyết những vấn đề tổng hợp của thực tế nghề nghiệp với sự tham gia của các đại diện chuyên môn từ thực tế nghề nghiệp

 Thực hiện các dự án mang tính bổ sung cho nội dung giảng dạy nội khóa thông qua việc giải quyết các vấn đề liên quan, trong đó có sự tham gia tích cực của sinh viên nhằm tiếp thu các kiến thức khách quan và chủ quan (học tập nghiên cứu)

Để có thể tự kiểm tra xem mình đã đạt được đến đâu trong các mục tiêu bộ phận của việc học tập, người sinh viên cần được tạo điều kiện với cách thức thích hợp tham gia vào các buổi thảo luận khoa học, tham gia các kỳ thi kiểm tra cũng như các kỳ thi thử

Ở Việt Nam, theo PGS Đào Văn Lƣợng [27, tr.5, 6]: Đào tạo và NCKH là hai chức năng

cơ bản của một trường Đại học Muốn đẩy mạnh các hoạt động KH-CN thì cần xây dựng các đơn vị NCKH mạnh về tổ chức và chuyên môn, có hướng nghiên cứu đúng, có đội ngũ cán bộ khoa học có năng lực và biết hợp tác ương khoa học, nghiên cứu; coi trọng hợp tác quốc tế, sự

hỗ trợ quốc tế; tạo nguồn kinh phí cho nghiên cứu, tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên cứu; sinh viên được làm quen với thực tế và góp phần giải quyết các vấn đề KHCN do thực tế sản xuất đặt ra; phải có một phòng chức năng thường xuyên theo dõi báo cáo, kiểm tra hoạt động nghiên cứu; ban hành quy chế quản lí phân phối trong các hoạt động KHCN và được bổ sung, chỉnh lí hàng năm cho phù hợp với thực tế

TS Nguyễn Song Hoan [15, tr.33] muốn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa công tác

NCKH với quan hệ quốc tế xem đó là các hoạt động quan trọng trong các trường Đại học, Cao đẳng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ các mục tiêu KT-XH của địa phương

Trang 36

Còn PGS - TS Nguyễn Đình Hương [16, tr.1, 2] thì cho rằng muốn nâng cao chất lượng

học tập của sinh viên phải hết sức coi trọng hoạt động NCKH sinh viên Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn người sinh viên phải có một khả năng tư duy, phương pháp nghiên cứu

để có năng lực giải quyết vấn đề do yêu cầu thực tiễn Muốn vậy phải tạo điều điều kiện cho sinh viên tiếp cận và tham gia các hoạt động NCKH; ban hành các quy định, văn bản để khuyến khích sinh viên ương NCKH; đa dạng hóa nguồn kinh phí cho hoạt động NCKH

Với PGS - TS Nguyễn Văn Mậu [29, tì.ỉ, 2] trên cơ sở xác định nhiệm vụ chính của

trường Đại học là đào tạo và NCKH Hai nhiệm vụ đó quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong chiến lược phát triển con người Từ đó kết hợp với thực tế ương hoạt động NCKH của trường mình tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị, trong đó phải nâng cấp các trang thiết bị,

cơ sở vật chất; ban hành chính sách khuyên khích các hoạt động ứng dụng KHKT, LĐSX và dịch vụ trong nhà trường, sự liên thông trong đào tạo và nghiên cứu triển khai KHCN giữa các ngành, các Trường, Viện

TS Đặng Văn Liếu [31, tr.ll] thì chú ý đến ba nhiệm vụ: đào tạo - bồi dưỡng - NCKH ở

nhà trường sư phạm; nhà trường phải chú trọng việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực NCKH với các Viện, trường ĐH, CĐ khác; phát huy khả năng sáng tạo của sinh viên trong NCKH, làm đề tài; xây dựng đội ngũ và xây dựng cơ sở vật chất mạnh làm tiền đề cho việc phát triển đi lên thành trường sư phạm trọng điểm của địa phương

Tác giả Bùi Đình Hưng trong "Mấy kinh nghiệm trong công tác NCKH của trường

CĐSP Hải Phòng" [39, tr.30, 32] đã đề cập đến vấn đề chất lượng giảng dạy - giáo dục phụ

thuộc vào việc giáo viên phải đầu tư rất nhiều vào việc nghiên cứu KHCB, KHGD Tác giả tập trung vào phần thực tiễn về các hoạt động NCKH tại cơ sở của mình

Nhìn chung, những công trình, tài liệu, báo cáo tổng kết của các tác giả chủ yếu đề cập đến những vấn đề hoạt động NCKH và quản lí tổ chức hoạt động NCKH trên cơ sở lí luận và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn; ít có công trình nghiên cứu sâu về quản lí hoạt động NCKH ở các trường sư phạm Đến nay việc nghiên cứu các biện pháp quản lí để nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH tại trường CĐSP TP.HCM vẫn còn để ngỏ Vì vậy, đề tài chúng tôi chọn nhằm có thể nghiên cứu cụ thể về thực trạng và các biện pháp quản lí để nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của trường CĐSP TP.HCM một cách có hệ thống

Trang 37

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (KHCN)

1.3.1 Vai trò hoạt động KHCN trong hệ thống trường ĐH, CĐ đối với sự phát triển của đất nước ta

Cuộc cách mạng KH và CN trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như Mác dự đoán, còn công nghệ được đổi mới hết sức nhanh chóng Trình độ dân tó và tiềm lực KHCN đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới Đảng ta nhận định: cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là thời cơ thuận lợi để phát triển, đồng thời cũng là một thách thức gay gắt đối với các nước, nhất là những nước còn chậm phát triển về kinh tế như nước ta Vì vậy, cùng với nâng cao nhận thức đối với giáo dục, đào tạo, chúng ta phải hiểu sâu sắc vai trò của khoa học, công nghệ trong việc phát huy nhân tố con người

Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KH và CN hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ

cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định từ nay đến năm 2020

phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; KH và CN phải trở thành nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước

Xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ của quốc gia, tiếp thu và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ thế giới, từng bước hình thành một nền khoa học, công nghệ Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết những đòi hỏi của quá trình phát triển Kiên quyết khắc phục tình trạng lãng phí chất xám, bồi dưỡng, đãi ngộ tương xứng với hiệu quả nhằm phát huy đầy đủ tiềm lực trí tuệ của đội ngũ khoa học hiện có, đi đôi với có kế hoạch đào tạo đội ngũ khoa học trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước vào đầu thế kỷ sau

Cùng với GD - ĐT, KH và CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ

Trang 38

Khai mạc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, khóa VIII, đồng chí nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: "Bước vào thời kỳ mới, chúng ta phải nêu cao tinh thần

độc lập, tự chủ, ý chí tự lực tự cường đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của dân tộc, lấy phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ làm yếu tố cơ bản, coi đó là khâu đột phá" [53, fr.ll] Để thực hiện mục tiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã

đề ra, cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, ương đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo,

có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho KH và CN

Chúng ta chỉ có thể phát triển KT - XH một cách lành mạnh và bền vững bằng việc chăm

lo phát triển giáo dục với tốc độ nhanh hơn, chất lượng tốt hơn, hiệu quả lớn hơn và bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đất nước Gắn chiến lược phát triển giáo dục với chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và cả hai đều phải gắn với chiến lược phát triển KT - XH Đổi mới nền giáo dục với cách làm thích hợp, trên các mặt tổ chức và quản lí, dạy và học, nghiên cứu và ứng dụng Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ, vấn đề trước tiên là tạo ra động lực để cho hoạt động khoa học, công nghệ phát triển đúng quy luật như một lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu cần có cơ chế, chính sách để hình thành thị trường KH và CN, hoạt động ương nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản

lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Áp dụng các cơ chế, chính sách thích hợp

để tổ chức, sắp xếp hợp lí các Viện nghiên cứu, các trường Đại học; kết hợp chặt chẽ đào tạo với NCKH và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Mỗi trường Đại học phải là một trung tâm đào tạo và NCKH; mỗi Viện nghiên cứu có trách nhiệm tham gia đào tạo Các Viện, Trường phát huy tiềm năng mọi mặt của mình, tích cực tham gia phục vụ xã hội; được phép thành lập những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đối với những sản phẩm do công nghệ mới thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình tạo ra, theo những quy định của chính phủ

Hoạt động khoa học, công nghệ tại các trường Đại học, Cao đẳng là cơ sở chất lượng của đội ngũ cán bộ KH và CN, của đội ngũ công nhân lành nghề tham gia xây dựng và phát triển

Trang 39

toàn diện nền kinh tế xã hội của đất nước Do đó, ta thấy ngay vai trò quan trọng của hoạt động

khoa học, công nghệ trong hệ thống trường Đại học, Cao đẳng Chính vì vậy mà Hội nghị Trung ương hai, khóa VIII đã khẳng định vai trò trọng yếu của hoạt động khoa học, công

nghệ và đề ra hàng loạt chính sách ưu tiên, củng cố và phát triển Hoạt động khoa học, công nghệ có tốt, hiệu quả thì nhà trường sư phạm mới có tiềm lực mạnh và đội ngũ học sinh sư phạm giỏi, thầy cô giáo giỏi và tốt cho mọi hoạt động của nền KT - XH Ngành sư phạm đã được xác định là then chốt của toàn bộ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, do vậy, hoạt động KH -

CN tại các trường sứ phạm càng phải được chú ý, coi trọng, được ưu tiên đầu tư và phát triển

1.3.2 Tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH để thực hiện tốt vai trò, chức năng của các trường sư phạm

Để thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình, trường sư phạm phải tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH, đáp ứng cho yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ thành lực lượng KH và CN hiện đại cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Hiệu quả hoạt động NCKH là một khái niệm phức tạp Hiệu quả là một khái niệm kép, nó hàm chứa kết quả và chi phí để có được kết quả đó Kết quả càng cao và chi phí càng thấp thì hiệu quả càng lớn

1.3.2.1 Kết quả hoạt động NCKH

Kết quả hoạt động NCKH phải được xem xét ở các mặt:

 Số lượng

Số lượng của kết quả hoạt động NCKH là số lượng công trình, đề tài KH, đạt yêu cầu của

kế hoạch, chương trình NCKH, trong năm học hay khóa học Kết quả này phải được so sánh với số lượng (chỉ tiêu) đề tài đăng ký theo kế hoạch Hiệu số bao gồm số đề tài chưa đạt yêu cầu Số lượng còn được dùng để đánh giá xem có đạt chỉ tiêu kế hoạch hay không

 Chất lượng

Những đề tài đạt yêu cầu của kế hoạch, chương ứình nội dung NCKH có mức độ khác

nhau, thường được phân ra các loại: đạt yêu cầu, khá, giỏi, xuất sắc Tỷ lệ đề tài đạt từ khá trở

lên thường được dùng để so sánh chất lượng nghiên cứu của các năm học, các khóa với nhau; trong đó cũng thường chú ý riêng đến tỷ lệ đề tài giỏi và xuất sắc Bên cạnh đề tài được phân

loại như trên, còn có đề tài được phân loại theo cấp độ: Bộ, Sở (thành phố), trường, khoa

Trang 40

Chất lượng đề tài NCKH phải được hiểu là chất lượng toàn diện, bao gồm: chất lượng lí luận - thực tiễn, thiết thực, phù hợp, khả năng vận dụng, ứng dụng theo các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ NCKH phải xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, nhanh chóng đưa những kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống, gắn lí thuyết với thực hành, gắn nghiên cứu với ứng dụng, tạo ra hiệu quả cao trong toàn bộ nền kinh tế - xã hội Đó là những đề tài chứa đựng kiến thức khoa học, có luận cứ khoa học chặt chẽ, số liệu tin cậy, tính mới, tính thực tiễn, phương án giải quyết sáng tạo, những đề xuất rõ ràng, có sức thuyết phục; đề tài có sức khả thi cao, phục

vụ hữu hiệu cho quá trình GD - ĐT và sự phát triển của nhà trường sư phạm

 Cơ cấu

Hệ thống đề tài được xác lập dựa trên các căn cứ phân tích nhu cầu của thực tiễn giáo dục,

sự phát triển của khoa học, KHGD, theo sự đề xuất của các cơ quan chỉ đạo, các ngành học, theo các tư tưởng chỉ đạo thể hiện trong các văn kiện của Đảng, các chỉ thị năm học của Bộ GD

- ĐT; dựa trên cơ sở kế hoạch NCKH có chỉ tiêu đăng ký các đề tài nghiên cứu, các Hội nghị khoa học cho từng Khoa, từng Tổ bộ môn Kế hoạch ấy nhằm để mọi người có cơ hội tập dượt nghiên cứu, gắn quá trình dạy học với nghiên cứu và nhà trường có được những công trình khoa học, đủ về số lượng, về các lĩnh vực khoa học, đảm bảo cho việc thực hiện quá trình đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện tốt kế hoạch NCKH đã được xác định

1.3.2.2 Chỉ phỉ hoạt động NCKH

Chi phí hoạt động NCKH bao gồm tất cả các chi tiêu cho nhân lực, vật lực, tài lực phục

vụ cho hoạt động NCKH Nó gồm các khoản chi:

 Khấu hao các tài sản cố định sử dụng cho công tác NCKH

 Kinh phí cho đề tài của giảng viên và sinh viên

 Kinh phí cho các hội thảo, hội nghị khoa học, báo cáo khoa học

 Mua sắm các vật tư, thiết bị phục vụ cho công tác NCKH, cho các bộ phận phục

vụ khác

 Các khoản chi hành chánh

 Các khoản chi về đi thực tế, tham quan, tài liệu, sách tham khảo, in ấn

Chi phí cho hoạt động NCKH là khá lớn vì một mặt do quá ưình nghiên cứu tương đối dài, mặt khác do yêu cầu đảm bảo chất lượng NCKH của đề tài, công trình KH, cộng thêm với

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w