Bởi lẽ, mục tiêu của giáo dục Tiểu học trong Luật giáo dục đã nêu rõ: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, t
Trang 1Nguyễn Thị Xuân Lan
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2Nguyễn Thị Xuân Lan
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HỮU LONG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho
học sinh lớp 5 ở các trường Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hữu Long, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Xuân Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:
TS Nguyễn Hữu Long, thầy đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục Tiểu học, các giảng viên trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, tổ chức các chuyên
đề thiết thực trong suốt quá trình tôi học tập tại trường
Các thầy cô Phòng Đào tạo Sau Đại học đã hỗ trợ về tài liệu, cơ sở vật chất tạo điều kiện tốt nhất đảm bảo việc học tập cho chúng tôi
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn lớn lao đến lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Tân Phú; Ban giám hiệu và giáo viên các trường tiểu học quận Tân Phú; đặc biệt các đồng nghiệp, học sinh tại trường Tiểu học Tân Sơn Nhì cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện về vật chất, tinh thần, thời gian cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Hệ thống khái niệm 13
1.2.1 Đạo đức 13
1.2.2 Hành vi 15
1.2.3 Hành vi đạo đức 16
1.2.4 Rèn luyện hành vi đạo đức 18
1.3 Hành vi đạo đức của học sinh tiểu học 18
1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi của học sinh tiểu học 18
1.3.2 Yêu cầu về hành vi đạo đức của học sinh tiểu học 21
1.4 Một số vấn đề rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh Tiểu học 21
1.4.1 Mục tiêu rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học 21
1.4.2 Nội dung rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học 24
1.4.3 Hình thức, phương pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học 26
1.4.4 Đánh giá kết quả rèn luyện hành vi đạo đức của học sinh tiểu học 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến rèn luyện hành vi đạo đức của học sinh tiểu học 30
1.5.1 Yếu tố khách quan 30
1.5.2 Yếu tố chủ quan 31
Tiểu kết chương 1 33
Trang 6Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 5 34
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục Tiểu học của quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 34
2.2 Thực trạng rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 38
2.2.1 Mục đích và tiến trình khảo sát 38
2.2.2 Kết quả khảo sát 42
2.2.3 Đánh giá chung và nguyên nhân về thực trạng 69
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3 XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 5 TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 72
3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 72
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp mục tiêu 74
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 75
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 75
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 76
3.3 Các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 76
3.3.1 Nhóm biện pháp dành cho giáo viên, giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh 76
3.3.2 Nhóm giải pháp đối với Cán bộ quản lí 88
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp 94
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 94
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 94
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 94
3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm 95
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 95
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu học sinh lớp 5 quận Tân Phú 35
Bảng 2.2 Số liệu đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên lớp 5 36
Bảng 2.3 Số liệu đội ngũ Tổng phụ trách 37
Bảng 2.4 Mẫu khảo sát 41
Bảng 2.5 Thống kê chất lượng giáo dục năm học 2017 – 2018 (8/17 trường) 42
Bảng 2.6 Biểu hiện hành vi đạo đức của học sinh hiện nay 43
Bảng 2.7 Mục tiêu rèn luyện hành vi đạo đức (N=50) 50
Bảng 2.8 Những yêu cầu cần thiết về đạo đức đối với học sinh trường tiểu học 52
Bảng 2.9 Ý kiến của học sinh về yêu cầu cần thiết về đạo đức đối với học sinh tiểu học 54
Bảng 2.10 Nội dung rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh 55
Bảng 2.11 Hình thức rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh 58
Bảng 2.12 Phương pháp rèn luyện các hành vi đạo đức 61
Bảng 2.13 Ý kiến của giáo viên về kiểm tra đánh giá kết quả (N=50) 65
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Ý kiến của giáo viên về nội dung rèn luyện hành vi đạo
đức cho học sinh 56Biểu đồ 2.2 Ý kiến của Tổng phụ trách về nội dung rèn luyện hành vi
đạo đức cho học sinh 56Biểu đồ 2.3 Ý kiến của giáo viên về hình thức rèn luyện hành vi đạo
đức cho học sinh 59Biểu đồ 2.4 Ý kiến của Tổng phụ trách về hình thứcrèn luyện hành vi
đạo đức cho học sinh 59Biểu đồ 2.5 Ý kiến củagiáo viên về phương pháp rèn luyện hành vi
đạo đức 62Biểu đồ 2.6 Ý kiến của Tổng phụ trách về phương pháp rèn luyện
hành vi đạo đức 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt tiến trình cách mạng, công cuộc xây dựng đất nước, Đảng
và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 04 tháng 11 năm 2013 cũng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: "Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Dựa vào quan điểm đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc ngành giáo dục của Nghị quyết Trung ương Đảng, ta nhận thấy đạo đức, phẩm chất của
con người được đặt lên vị trí ưu tiên hàng đầu của ngành giáo dục
Đạo đức là gốc, là nền tảng của sự phát triển nhân cách Ở mọi thời đại, mọi quốc gia vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức là vấn đề luôn được quan tâm Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục
“Tiên học lễ, hậu học văn “, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng Ngày nay, phương châm “Dạy chữ, dạy người” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là
cuộc sống xã hội bình thường, ổn định ”
Tiểu học là cấp học có vị trí nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học không chỉ là một hoạt động dạy học mà đó còn là một hoạt động chính trị, không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh Đó chính là sự
Trang 10thống nhất biện chứng giữa đức và tài Sự hài hoà này có ý nghĩa giá trị xã hội, như Bác Hồ từng nói: “Có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Với các em tiểu học, sự biểu hiện về phẩm chất đạo đức của các em được bộc lộ rất rõ thông qua hành vi của các
em trong cuộc sống cũng như học tập hàng ngày
Vì vậy, bồi dưỡng nhận thức cho học sinh ngay từ giai đoạn tiểu học về những quan điểm sống đúng đắn, hành vi chuẩn mực trong đời sống là hết sức cần thiết Nó góp phần định hình và hoàn thiện những phẩm chất cần thiết của con người khi trưởng thành Bởi lẽ, mục tiêu của giáo dục Tiểu học trong Luật giáo dục đã nêu rõ: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
Thế nhưng hiện nay, việc giáo dục đạo đức, rèn luyện hành vi chuẩn mực cho học sinh vẫn còn một số bất cập, khó khăn như: sự kết hợp chưa đồng nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội: nhà trường luôn tạo môi trường học thân thiện để giáo dục tốt cho học sinh nhưng môi trường xã hội và gia đình xung quanh lại thiếu lành mạnh hoặc cha mẹ quá nuông chiều các em, Thêm vào đó, các bài học đạo đức trên lớp còn mang tính lý thuyết, quan điểm Đạo đức là môn học phụ nên đôi khi giáo viên lẫn học sinh chưa quan tâm đầu tư tích cực, hơn hết học sinh thiếu thời gian, phương tiện để trải nghiệm, rèn luyện các hành vi đạo đức một cách thường xuyên Bên cạnh đó, một số giáo viên cũng như phụ huynh còn nhầm lẫn giữa giáo dục đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức Do đó, còn thiên về giáo dục đạo đức theo lối lý thuyết hơn việc giáo dục hành vi đạo đức một cách cụ thể, gần gũi hơn với các em Tiểu học Việc định hướng cho học sinh tới các hành vi đạo đức
Trang 11không đạt hiệu quả cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến thực trạng xã hội: các đối tượng vi phạm pháp luật ngày càng trẻ hoá, đau lòng hơn nữa những thanh thiếu niên phạm tội này có trình độ tri thức và được học nhiều bài đạo đức khi còn trên ghế nhà trường Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc các em có thể nói về đạo đức suông một cách lưu loát nhưng hành xử lại trái với các chuẩn mực đạo đức đã học Điều này dẫn đến nỗi trăn trở: Phải chăng việc giáo dục, rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh hiện nay chưa thực sự đạt hiệu quả? Công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước chúng ta sẽ đi về đâu khi
không có được thế hệ đầy đủ tài đức kế thừa?
Để giải quyết những thực trạng, khó khăn trên, công tác giáo dục, rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh Tiểu học là việc làm cấp thiết, đặc biệt ở giai đoạn lớp 5 Vì học sinh lớp 5 so với các cấp lớp dưới đã có sự phát triển tương đối về khả năng nhận thức, có kỹ năng vận dụng vào thực tiễn Ở độ tuổi này, các em dễ dàng tiếp thu điều tốt, nhưng cũng rất nhạy cảm, tò mò với những điều mới lạ, có khi còn bị những cái xấu ngoài xã hội lôi kéo Thế nên, rèn luyện hành vi đạo đức giai đoạn này là nền tảng để hoàn thiện và
phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp rèn luyện
hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 ở các trường tiểu học quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy đạo đức
trong nhà trường, đồng thời đào tạo những con người có hành vi đạo đức,
phẩm chất, trí tuệ phù hợp với nhu cầu đổi mới của dân tộc
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được mục đích sau:
Đánh giá thực trạng biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 tại thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện các hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 123 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hành vi đạo đức cần rèn luyện cho học sinh lớp 5 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hệ thống các biện pháp rèn luyện đạo đức cho học sinh lớp 5
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh ở các trường tiểu học ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đã được quan tâm tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định như: phương pháp, hình thức tổ chức, sự phối hợp giữa các lực lượng trong việc rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh; quá trình rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh còn chưa liên tục
Nếu khảo sát, đánh giá đầy đủ, khoa học về thực trạng rèn luyện hành
vi đạo đức cho học sinh lớp 5 ở các trường tiểu học quận Tân Phú, thành phố
Hồ Chí Minh; người nghiên cứu sẽ có cơ sở đề xuất các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức này một cách khả thi thì góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 ở các trường tiểu học này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đã nêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, tổng quan các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
Thứ hai, tìm hiểu cơ sở thực tiễn qua nghiên cứu thực trạng rèn luyện các hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện các hành vi đạo đức cho học sinh và khảo nghiệm biện pháp để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức
Trang 136 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tập trung xây dựng các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành ở 6/16 trường Tiểu học công lập trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục tiêu đề ra, đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm hiểu
cơ sở lí luận của đề tài
Cách tiến hành: Thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan đến việc
rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học Đọc, chọn lọc, phân tích, tổng hợp, các tài liệu, các thông tin cần thiết phục vụ cho việc xây dựng cơ sở khoa học của đề tài, làm nền tảng xây dựng các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Mục đích: Tìm hiểu về thực trạng dạy – học môn Đạo đức, tìm hiểu
xem giáo viên chú ý đến việc rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh chưa
Cách tiến hành: Quan sát kế hoạch dạy học môn Đạo đức; ghi nhận,
thu thập những thông tin và các hoạt động tổ chức rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 của 06 trường tiểu học ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Mục đích: Tìm hiểu về thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh
Trang 14về việc rèn luyện hành vi đạo đức
Cách tiến hành: Phát phiếu điều tra đến từng giáo viên và học sinh,
phỏng vấn vào thời gian và địa điểm phù hợp, ưu tiên những giáo viên giảng dạy nhiều năm, vững chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề,
có hứng thú với đề tài đang nghiên cứu
Phương pháp khảo nghiệm
Mục đích: Nhằm xác định sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất trong việc rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5
Cách tiến hành: Xây dựng bảng hỏi và gửi đến các đối tượng khảo
nghiệm Thu hồi phiếu, thống kê số liệu và xử lí kết quả điều tra
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số
liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh Chương 2: Thực trạng rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh lớp 5 tại
các trường tiểu học ở Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Xây dựng biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học
sinh lớp 5 tại các trường tiểu học ở Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN HÀNH VI
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội Theo quan niệm mác-xít, đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người này với người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội Nó thường
được hiểu là những phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng và rèn luyện theo những chuẩn mực xã hội, những tiêu chuẩn đạo đức mà có (dẫn theo Nguyễn Chí Mỳ, 2004)
Căn cứ vào những chuẩn mực đó, người ta đánh giá hành vi của người khác và của chính mình Các chuẩn mực đạo đức có thể không được ghi thành văn bản pháp quy (những cái bắt buộc mỗi người phải thực hiện) nhưng chúng vẫn được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân
và dư luận xã hội
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1998)
Aristoste - nhà Triết học người Hy Lạp, cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1998)
Theo quan điểm của Pestalozzi - nhà giáo dục người Thụy Sĩ - nhiệm
vụ trọng tâm của giáo dục là Giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở là tình yêu thương con người Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với
Trang 16cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội Tình yêu thương con người của trẻ em sớm hình thành trong gia đình, sau đó sẽ tiếp tục củng cố và phát triển trong trường học
Theo C Mác và Ph Ăngghen - người sáng lập ra học thuyết cộng sản, hai ông xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra con
người phát triển toàn diện Muốn như thế, phải theo phương thức “giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất”, đây chính là phương thức giáo dục hiện đại
Quan điểm của J Locke - nhà triết học người Anh - dựa trên cơ sở của tabula rasa (từ Latin: có nghĩa là một tấm thẻ gỗ nhẵn bóng hay tấm bảng trắng, thuật ngữ dùng trong lí thuyết về nhận thức luận để chỉ việc con người sinh ra chưa hề biết gì về thế giới, còn “trắng” và toàn bộ nguồn tri thức được xây dựng dần dần từ trải nghiệm và tri giác về thế giới bên ngoài) Theo đó, đứa trẻ khi sinh ra như tờ giấy trắng, mọi hành vi của trẻ được hình thành thông qua kinh nghiệm mà trẻ có được trong quá trình tăng trưởng Thông qua hướng dẫn cụ thể, làm mẫu, khen thưởng, củng cố, trẻ sẽ phát triển theo mong đợi của người lớn (Locke, John, 1894)
Theo thuyết học tập xã hội của Albert Bandura - nhà tâm lí học người Canada, quan sát đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành hành
vi ở trẻ em Thông qua quá trình quan sát người khác thực hiện hành động (bao gồm cả cha mẹ và bạn đồng trang lứa) và phân tích cá nhân về tình huống, mỗi trẻ thực hiện hành vi khác nhau (Bandura, 1977)
Giáo dục Xô Viết trước đây xác định giáo dục đạo đức nói chung, rèn luyện hành vi đạo đức nói riêng là nhiệm vụ rất quan trọng ở nhà trường Các nhà giáo dục học như A.X.Makarenco, A.V.Xukhômlinxki, A.M.Kêlêxôva,
đã có những công trình nghiên cứu chứng minh giáo dục hành vi đạo đức là rất cần thiết, đặc biệt đối với học sinh nhỏ tuổi và giáo dục hành vi đạo đức là nền tảng để trẻ có hành vi ứng xử đúng đắn trong thực tiễn
Trang 17Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.C Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ
em phạm pháp và không gia đình) Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể
Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị:
1/ Nhóm giá trị liên quan đến quyền con người;
2/ Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ;
3/ Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình;
4/ Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường;
5/ Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa;
6/ Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác;
7/ Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc;
8/ Nhóm liên quan đến tâm linh
Như vậy từ nhiều thế kỉ trước, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thấy được vai trò quan trọng của việc giáo dục hành vi đạo đức, hình thành phẩm chất con người toàn diện để xây dựng xã hội Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu mới chỉ tập trung đến vai trò của giá trị đạo đức con người mà chưa đề cập đến biểu hiện và cách thức rèn luyện các hành vi đạo đức cụ thể cho học sinh tiểu học
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam cũng được các nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu Điều này thể hiện ở các
công trình như "Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh – Nguyễn Thị Thọ;
Trang 18tác phẩm “Đạo hiếu - nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc; “Phương pháp
giáo dục cho trẻ em hư” của Phạm Công Sơn – Tô Quốc Tuấn (1997),…
Năm 1979, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về đổi mới giáo dục Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương đã tăng cường vận động giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học, quyết
định ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ Mẫu giáo
đến Đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy.”
Tại Điều 27, mục I, chương II, Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào năm 2009 (đã được sửa đổi, bổ sung)
xác định “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Hội đồng lý luận Trung ương đã thực hiện đề tài nghiên cứu về "Con
người Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa" Nghiên cứu
này khẳng định một tư tưởng chung là: hạt nhân cơ bản của thang giá trị,
thước đo giá trị và nhân phẩm con người Việt Nam ngày nay là các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc như lòng tự hào dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trung với nước, hiếu với dân, nhân nghĩa, cần cù, thông minh, sáng tạo
Với định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây có
nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện theo hướng này, như: “Gia đình
Việt Nam với chức năng xã hội hóa” của Lê Ngọc Văn (1996); Đề tài nghiên
Trang 19cứu cấp Nhà nước “Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” do Ủy Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em
thực hiện năm 1999-2000 Tất cả các công trình nghiên cứu này đều nói đến
chức năng và vai trò rất quan trọng của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em
Tại Hội thảo“Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện
nay – Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục Việt
Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc phát biểu: “Yếu tố
quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc – sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,…kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội, giáo dục đạo đức cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội” Bài phát biểu này của Phạm Minh Hạc cũng đã nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong đó có học sinh trường trung học cơ sở là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay
Đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối
sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” của tác giả
Phạm Tất Dong (1990) đã đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt
động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu 90
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2007.19.27 "Sự lựa chọn
các giá trị đạo đức nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một
Trang 20số trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của tác
giả Huỳnh Văn Sơn đã khảo sát 874 sinh viên từ các trường đại học Từ số
liệu khảo sát, đề tài đánh giá sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn của sinh viên chưa rõ ràng, còn dao động, tồn tại nhiều thái độ tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ sinh viên và còn chưa thống nhất giữa nhận thức với thái độ, hành
vi Đề tài cũng đề xuất một số yêu cầu như: cần xây dựng mô hình nhân cách chuẩn mực, một thang giá trị rõ ràng để định hướng cho sinh viên; chú trọng giáo dục đạo đức nhân văn, thực hiện công tác giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau,…
Đề tài luận văn “Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp” (2008) của Hoàng Thị Luận đã điều tra mức độ
nhận thức của giáo viên trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua họat động ngoài giờ lên lớp và thái độ, hành vi đạo đức của học sinh Từ đó tác giả đã đề ra biện pháp phù hợp với thực trạng
Sáng kiến kinh nghiệm “Hình thành thói quen đạo đức cho học sinh
lớp 2” (2015) Sáng kiến nêu ba mục tiêu cần đạt khi dạy học Đạo đức lớp 2:
kiến thức, tình cảm thái độ và kĩ năng hành vi đạo đức Ba mục tiêu này có quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau; trong đó mục tiêu về hành vi là đích cuối cùng của giáo dục đạo đức nói chung và dạy học môn đạo đức nói riêng (bởi vì kiến thức, tình cảm thái độ của học sinh đều được thể hiện qua hành vi) Từ đó, người viết đề ra hai giải pháp hình thành thói quen, hành vi cho học sinh phù hợp
Đề tài Luận án “Cơ sở tâm lý học của việc hình thành hành vi lối sống
chuẩn mực ở học sinh lớp Một theo quan điểm công nghệ giáo dục” (2000)
của Phạm Ngọc Định đã phân tích cơ sở tâm lý học của việc hình thành hành
vi lối sống chuẩn mực ở HS lớp 1; Tìm hiểu các yếu tố tâm lý của HS tham gia quy trình thực nghiệm, trên cơ sở đó đề xuất những yêu cầu sư phạm đối
Trang 21với việc giáo dục lối sống cho học sinh Từ những phân tích trên đề tài đã kết luận: Trong lĩnh vực giáo dục lối sống sản phẩm tối thiểu của học sinh lớp Một là các hình vi lối sống chuẩn mực xã hội cần thiết, nó được biểu hiện cụ thể ở các dạng hành vi nền nếp, hành vi giao tiếp, hành vi tác phong đã được hình thành… Đồng thời, ý nghĩa của hành vi nào tác động trực tiếp, thường xuyên trong đời sống tới ý của chủ thể (học sinh) thì mức độ thực hành tự nhiên của hành vi đó được hình thành tốt hơn và nhanh ổn định hơn Góp phần nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục lối sống nói riêng; giúp giáo viên Tiểu học có ý thức và chủ động trong giáo dục lối sống đạo đức
Vậy, các nhà nghiên cứu trong nước đều thống nhất với nhau về quan điểm: giáo dục đạo đức là mục tiêu quan trọng hàng đầu để làm nền tảng xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Một người có đạo đức lối sống như thế nào thì phải thể hiện ra hành vi của mình Vì thế, giáo dục lối sống đạo đức nhất thiết phải giáo dục hành vi người
1.2 Hệ thống khái niệm
1.2.1 Đạo đức
Theo quan niệm mác-xít, đạo đức là một hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người này với người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội
Dưới góc độ giáo dục học, đạo đức là một hình thái xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống quan điểm về cái thực, cái có trong mối quan hệ con người với con người (Đặng Vũ Hoạt, 1984)
Dưới góc độ đạo đức học, đạo đức là một hình thái xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội (Trần Kiểm, 1997)
Trang 22Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được thể hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại (Trần Kiểm, 1997)
Theo Phạm Minh Hạc (1989) đạo đức được hiểu là hệ thống các chuẩn mực xã hội được đặt ra để điều chỉnh hành vi con người trong mối quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào các chuẩn mực ấy người ta đánh giá hành vi mỗi con người thể hiện quan niệm về cái thiện, cái ác, về cái cấm kỵ, về nghĩa vụ, trách nhiệm Hành vi được coi là chấp nhận được khi nó phù hợp với các chuẩn mực đạo đức (Phạm Minh Hạc, 1989)
Khái niệm đạo đức được hiểu trong cuốn Dạy học môn Đạo đức ở Tiểu
học là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội (Lê Thị Thanh Chung, 2015)
Trong cuốn Giáo dục phổ thông của Trần Thị Hương (chủ biên), Võ
Thị Bích Hạnh, Hồ Văn Liên, Vũ Thị Sai, Võ Thị Hồng Trước (2011), có định nghĩa đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, quy tắc do xã hội quy định nhằm mục đích định hướng, điều chỉnh và đánh giá hành vi của mỗi cá nhân trong quan hệ của nó đối với xã hội, đối với cá nhân khác và đối với chính bản thân mình, làm cho hành động của cá nhân phù hợp với lợi ích của xã hội Như vậy, đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, phản ánh các
Trang 23quan hệ xã hội (quan hệ với cộng đồng, lao động, với con người, với môi trường và thái độ đối với bản thân), thực hiện chức năng xã hội quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người khi hoạt động và giao tiếp Với tư cách là một lĩnh vực của ý thức xã hội, đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội
Tóm lại, đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội Như vậy ở góc độ tâm lí học, đạo đức của mỗi người phản ánh nhân cách của người đó, đạo đức là bộ mặt đích thực của mỗi người
1.2.2 Hành vi
Có nhiều định nghĩa về hành vi trong các tài liệu khoa học và triết học,
và không có nhiều sự thống nhất về các định nghĩa hành vi Tinbergen (1951) định nghĩa hành vi là tổng hợp các chuyển động được thực hiện bởi bản năng (Tinbergen, N , 1951); một số tác giả khác (Davis, 1966; Lehner, P N., 1996; Pierce, W D., & Cheney, C D., 2004) định nghĩa hành vi là bất cứ điều gì mà một sinh vật thực hiện (hoặc là cách một sinh vật hành động); một số người khác định nghĩa nó theo bất kỳ hoạt động nào mà một sinh vật tham gia (Donahoe, J W., & Palmer, D C., 1994; Watson, S T., & Brown, D , 2011); còn Jessor, R (1958), Maturana, H R (1995) đề cập về mối quan hệ giữa con người và môi trường sống
Theo từ điển Tiếng Việt, hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định
Theo từ điển Oxfort (Từ điển Oxford) “Hành vi” là cách thức mà một đối tượng hành động hay thể hiện, hướng tới đối tượng khác Hay hành vi là
Trang 24một thứ gì đó mà một chủ thể có thể được quan sát, đo lường và lặp đi lặp lại nhiều lần
Theo từ điển Tâm lý học Mỹ, hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất cứ cá nhân nào
Unessco (2000) cho rằng hành vi là cách mà một cá nhân cư xử hoặc hành động Đó là cách mà một cá nhân tự thực hiện một điều gì đó Hành vi nên được tham chiếu dựa trên một hiện tượng, một đối tượng hoặc người Nó
có thể được xem xét dựa trên tham chiếu của các quy tắc xã hội, hoặc cách mà một người đối xử với người khác hay cách họ xử lí một sự việc Hành vi, do
đó, là cách một cá nhân hành động đối với mọi người, xã hội hoặc những sự việc Nó có thể là xấu hoặc tốt Nó có thể là bình thường hoặc bất thường theo chuẩn mực xã hội Xã hội sẽ luôn cố gắng sửa chữa hành vi xấu và cố gắng đưa hành vi bất thường trở lại bình thường (Unessco, 2000)
Tóm lại, hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại hay hành vi
là cách ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nó được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định Điều này được hình thành và thúc đẩy dựa trên hệ thống các nhu cầu của con người
1.2.3 Hành vi đạo đức
Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Hành vi đạo đức thường được biểu hiện trong cách đối nhân xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn, tiếng nói của những người cụ thể
Hệ thống quan niệm đạo đức hay ý thức đạo đức của một xã hội nhất định lại chỉ có thể tồn tại dưới hình thức những hành vi đạo đức sống động của những nhân cách cụ thể vận hành ý thức ấy và dưới hình thức tồn đọng,
Trang 25trong nền văn hóa xã hội, đặc biệt là trong lối sống, trong phong tục tập quán, trong ca dao tục ngữ, trong cách đối nhân xử thế, trong văn học nghệ thuật, Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có
ý nghĩa về mặt đạo đức (Phạm Minh Hạc (chủ biên), 2001)
Mạc Văn Trang cho rằng cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức gồm các thành phần:
- Ý thức cá nhân về chuẩn mực đạo đức cần tuân theo
- Những sức mạnh thúc đẩy đến hành động (nhu cầu, tình cảm, ý muốn, )
- Những yếu tố tâm lý tham gia quá trình điều khiển thực hiện hành vi đạo đức (ý chí, kĩ năng, thói quen, )
Tất cả các thành phần này tạo nên cơ cấu một chỉnh thể, điều khiển hành vi đạo đức của mỗi con người Hành vi đạo đức được biểu hiện ra bên ngoài bởi các hoạt động, cách ứng xử, ngôn ngữ, cử chỉ, đối với những tình huống cụ thể và được điều khiển bởi nhân cách bên trong của từng cá nhân
Hành vi đạo đức thường được đánh giá theo tiêu chuẩn: tính tự giác của hành vi, tính có ích của hành vi, tính không vụ lợi của hành vi Trong đó, tính
tự giác của hành vi nói lên rằng hành vi đạo đức được thể hiện một cách tự nguyện do sự thúc đẩy của động cơ trong chính nội tâm của mỗi người, còn tính ích kỉ của hành vi lại cho thấy rằng hành vi đạo đức bao giờ cũng hướng vào đem lại điều tốt đẹp cho xã hội và cho người khác
Thêm vào đó, hành vi đạo đức còn chịu sự tác động của những yếu tố khách quan Đó chính là: lịch sử, truyền thống gia đình, giai cấp xã hội, môi trường sống, Vì vậy, để rèn luyện hành vi đạo đức đạt hiệu quả, các nhà giáo dục cần đưa ra nhiều biện pháp linh động, sáng tạo phù hợp cho từng đối tượng cụ thể với từng nhân cách khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau
Trang 261.2.4 Rèn luyện hành vi đạo đức
Theo từ điển Tiếng Việt mở Wiktionary - rèn luyện là “dạy và cho tập nhiều lần để thành thông thạo”; rèn luyện là “tập luyện cho con người trở nên tài giỏi”
Theo từ điển Tiếng Việt - rèn luyện là luyện tập một cách thường xuyên để đạt tới những phẩm chất hay trình độ ở một mức nào đó
Như vậy “Rèn luyện là hành động thực hiện thao tác nhiều lần cho thành thạo nhằm đạt tới trình độ yêu cầu”
Dựa vào khái niệm rèn luyện và hành vi đạo đức, tác giả khái niệm
“Rèn luyện hành vi đạo đức là thao tác nhiều lần cho thành thạo nhằm đạt tới
trình độ yêu cầu những hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có
ý nghĩa về mặt đạo đức Hành vi đạo đức thường được biểu hiện trong cách đối nhân xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn, tiếng nói ”
1.3 Hành vi đạo đức của học sinh tiểu học
1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi của học sinh tiểu học
Trang 27- Trẻ hay tò mò, thích khám phá, giàu tưởng tượng và có ước mơ, hoài bão lớn: Đặc điểm trên của trẻ vừa có mặt tích cực, vừa có sự hạn chế về tâm
lý Trong công tác giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ, chúng ta cần khai thác mặt tích cực để phát triển hoài bão, mơ ước của trẻ để các em hướng tới cái đẹp, cái nhân văn Ngoài ra, cần chú ý đề phòng và ngăn ngừa tính liều lĩnh,
sự thiếu thận trọng của các em trong các hoạt động
1.3.1.2 Đặc điểm về tình cảm
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy
so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều.)
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện
và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Giàu xúc cảm, cả tin, dễ chia sẻ với bạn bè và người mình tin yêu: Ở lứa tuổi này, đối với trẻ, thầy cô giáo là những người có uy tín tuyệt đối Học sinh sẽ ngoan ngoãn nghe theo những điều, những yêu cầu mà giáo viên đưa
ra Trong công tác giáo dục đạo đức cần dựa vào đặc điểm này để rèn luyện cho các em thói quen hành vi đạo đức cần thiết như: gặp thầy cô giáo, người lớn tuổi thì chào hỏi theo đúng phép tắc, nói năng thưa gửi, lễ phép với người lớn
Trang 28Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,
1.3.1.3 Đặc điểm về hành vi
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học do hạn chế về lứa tuổi, đặc điểm tư duy và mức độ phát triển ý thức nên quá trình hình thành hành vi đạo đức cho trẻ có một số khác biệt so với lứa tuổi sau này Cụ thể là:
- Thứ nhất, động cơ hành vi thường không được trẻ ý thức ngay từ đầu Nhưng nó vẫn được phản ánh vào tâm lý dưới hình thức những sắc thái cảm xúc và có khả năng thúc đẩy hoạt động Xúc cảm đóng vai trò tín hiệu bên trong, làm cho các quá trình đang diễn ra bên trong được điều chỉnh và sự trải nghiệm trực tiếp sinh ra từ bên trong là động cơ thúc đẩy hành vi
- Thứ hai, bản chất của việc hình thành hành vi có ý thức khắc phục sự phụ thuộc của trẻ vào hoàn cảnh cụ thể trực quan Hoạt động của trẻ lứa tuổi này thường do hoàn cảnh xung quanh chứ không phải bản thân trẻ làm chủ và điều khiển Để ý thức được động cơ đã thúc đẩy hành động buộc trẻ phải đi theo con đường vòng, qua các hoạt động học tập và vui chơi Trong các loại hình hoạt động này hàm ý nhân cách dễ bộc lộ ra và động cơ của hoạt động cũng dễ lộ ra hơn Thông qua các hoạt động của đứa trẻ, các hành vi được hình thành Giáo dục sẽ có hiệu quả nếu nó được tổ chức dưới các hình thức học tập và cả các hoạt động vui chơi, bởi ở lứa tuổi này các hoạt động vui chơi vẫn còn chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của trẻ
- Thứ ba, hành vi có ý thức ở trẻ được hình thành trên cơ sở củng cố biểu tượng đúng về hành vi cho trẻ Trẻ sẽ có ý thức hơn khi từng bước được cung cấp những tri thức cơ bản về hành vi, ý nghĩa xã hội của hành vi và khi
Trang 29trẻ được trực tiếp tham gia vào việc kiểm tra, đánh giá Một điều không thể không nói đến là: khi trẻ em bắt đầu đến trường tiểu học, trình độ được giáo dục về các hành vi và chuẩn mực đạo đức ở mỗi gia đình là khác nhau, đặc biệt là hành vi văn hóa Nguyên nhân là do đặc điểm, hoàn cảnh của mỗi gia đình, do sự quan tâm giáo dục con cái của các bậc cha mẹ là khác nhau Vì vậy, khi bắt đầu việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh, chúng ta nên tiến hành điều tra sơ bộ vốn kinh nghiệm và thói quen thực hiện hành vi đạo đức của học sinh để tìm ra các biện pháp giáo dục tối ưu
1.3.2 Yêu cầu về hành vi đạo đức của học sinh tiểu học
- Hành vi đạo đức phải được biểu hiện bên ngoài của hoạt động, nhưng được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, của nhân cách Vì vậy, giáo dục đạo đức cần phải hướng tới sự thống nhất giữa ý thức và hành
vi của người được giáo dục Tức là vấn đề hình thành hành vi cần được xem xét là hai mặt thống nhất của quá trình giáo dục
- Các hành vi đạo đức thể hiện ra bên ngoài cần được thực hiện bởi các chủ thể có ý thức, với mục đích nhất định, thể hiện ở các mặt: thông tin, bày
tỏ thái độ, cảm xúc và tác động qua lại với nhau
- Hành vi đạo đức phải chịu sự quy định của các chuẩn mực xã hội, được xây dựng từ hệ thống những giá trị do một nền văn hóa lựa chọn để định hướng
1.4 Một số vấn đề rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.4.1 Mục tiêu rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì mục tiêu môn Đạo đức ở tiểu học nhằm giúp học sinh:
1 Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các
Trang 30em với bản thân; với người khác; với công việc; với cộng đồng, đất nước, nhân loại; với môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó
2 Bước đầu hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân
và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống
3 Bước đầu hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương, tôn trọng con người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu
Như vậy, chúng ta thấy rằng mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các qui định của pháp luật Cụ thể như sau:
- Về nhận thức:
+ Có hiểu biết ban đầu về một số hành vi chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phù hợp với lứa tuổi trong mối quan hệ giữa các em với bản thân, với gia đình, nhà trường, với cộng đồng, với xã hội, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó
+ Biết về một số chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, với mọi người, với công việc, với cộng đồng, với đất nước, với môi trường tự nhiên và hiểu được
ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó
- Về thái độ: có thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân; có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương, tôn trọng con người; mong
Trang 31muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái xấu Luôn luôn tự hoàn thiện nhân cách bản thân; tôn trọng những giá trị đạo đức truyền thống và giá trị nhân cách phù hợp với thời đại, tôn trọng những qui định của nhà trường và pháp luật
- Về hành vi: tham gia tích cực các hoạt động phát huy truyền thống tôn
sư trọng đạo, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ của bản thân và phát triển của dân tộc; có nghị lực thực hiện những tư tưởng, quan điểm, những yêu cầu đạo đức và pháp luật, đồng thời không vi phạm những hành vi sai trái
- Về kỹ năng: Hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; hình thành kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống
Còn đối với chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể mới ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì mục tiêu môn Đạo đức ở tiểu học gồm:
a) Bước đầu hình thành, phát triển ở học sinh những hiểu biết ban đầu
về chuẩn mực hành vi đạo đức, pháp luật và sự cần thiết thực hiện theo các chuẩn mực đó trong quan hệ với bản thân và người khác, với công việc, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; thái độ tự trọng, tự tin; những tình cảm và hành vi tích cực: yêu gia đình, quê hương, đất nước; yêu thương, tôn trọng con người; đồng tình với cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu; chăm học, chăm làm; trung thực; có trách nhiệm với thái độ, hành vi của bản thân
b) Giúp học sinh bước đầu nhận biết và điều chỉnh được cảm xúc, thái
độ, hành vi của bản thân; biết quan sát, tìm hiểu về gia đình, quê hương, đất
Trang 32nước và về các hành vi ứng xử; biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch cá nhân, hình thành thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập, sinh hoạt
Như vậy, mục tiêu 1 và 3 trong chương trình môn Đạo đức hiện hành
đã được gộp lại thành một mục tiêu Việc đó cho thấy về cơ bản mục tiêu rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh ở bậc tiểu học không thay đổi nhiều
1.4.2 Nội dung rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
Chương trình môn đạo đức hiện hành được xây dựng dựa trên nguyên tắc phát triển từ thấp tới cao về nhận thức và tu dưỡng đạo đức của học sinh trong quá trình học tập ở trường Chương trình có nội dung phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học, thể hiện những giá trị tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như ý thức tự trọng, tự tin, có ý chí vươn lên, yêu thương, tôn trọng con người, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng các dân tộc khác cùng chung sống hòa bình và cùng phát triển Chương trình giáo dục đạo đức cụ thể ở các lớp tiểu học: Toàn bộ chương trình gồm 35 tiết/ năm học, được cấu trúc như sau:
- Phần cứng: 28 tiết
- Phần mềm: Dành cho địa phương = 3 tiết
- Ôn tập học kì I = 1 tiết - Kiểm tra học kì I = 1 tiết
- Ôn tập học kì II = 1 tiết - Kiểm tra học kì II = 1 tiết
Trang 33ngay xung quanh các em Do đó, không lạm dụng 3 tiết phần mềm này để làm việc khác, vì như vậy là vi phạm Pháp lệnh của Nhà nước
- Cùng với giáo dục truyền thống đạo đức của dân tộc, chương trình đã cập nhật nội dung mới như hội nhập,
- Chương trình được cấu trúc đồng tâm, phát triển về các quan hệ đạo đức giữa các lớp, đồng thời được phân chia thành hai giai đoạn phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh theo từng nhóm lớp
- Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Cuộc sống cần có nhiều
kĩ năng khác nhau Đối với học sinh tiểu học, chú trọng giáo dục một số kĩ năng cơ bản như: tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiên định
- Tích hợp dọc và tích hợp ngang quyền kết hợp với bổn phận của trẻ
em, tất cả các khối lớp đều được tích hợp giáo dục quyền trẻ em ở những mức
độ khác nhau
- Chú trọng giáo dục cho học sinh về trách nhiệm của mình với chính bản thân mình : có trách nhiệm với lời nói và việc làm của mình, tự trọng, giữ lời hứa,
Trong chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể mới thì chương trình môn Giáo dục công dân (môn Đạo đức ở cấp tiểu học, môn Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông) giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển
ý thức và hành vi của người công dân Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, môn Giáo dục công dân góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm
Trang 34việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế
Trong đó, ở giai đoạn giáo dục cơ bản: Đạo đức và Giáo dục công dân
là các môn học bắt buộc Nội dung chủ yếu của môn học là giáo dục đạo đức,
kĩ năng sống, pháp luật và kinh tế Những nội dung này định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạt và ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật
Về nội dung khái quát, học sinh sẽ được tiếp cận bốn nội dung lớn: Giáo dục đạo đức, Giáo dục kĩ năng sống, Giáo dục kinh tế và Giáo dục pháp luật Trong đó, đối với cấp tiểu học, nội dung của môn Đạo đức sẽ tập trung vào hai nội dung Giáo dục đạo đức (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm), Giáo dục kĩ năng sống (kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân và
kĩ năng tự bảo vệ Còn đối với Giáo dục kinh tế, học sinh sẽ làm quen với hoạt động tiêu dùng; Giáo dục pháp luật thì học sinh sẽ học về chuẩn mực hành vi pháp luật Các nội dung trên sẽ được dạy trong 35 tiết (từ lớp 1 đến lớp 5)
Việc tập trung vào giáo dục đạo đức và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở cấp tiểu học chứng tỏ rằng việc hình thành và rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh ngay từ khi còn nhỏ rất quan trọng, là nền tảng cho việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh sau này
1.4.3 Hình thức, phương pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
1.4.3.1 Phương pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
Phương pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học rất phong phú, đa dạng, kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và các phương pháp hiện đại, được thể hiện ở các phương pháp sau:
Trang 35- Phương pháp đóng vai: là phương pháp làm cho học sinh lĩnh hội chuẩn mực hành vi đạo đức bằng cách thực hành, "làm thử" một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được
- Phương pháp trò chơi: là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, thái độ, việc làm phù hợp với những chuẩn mực hành vi đạo đức đã học thông qua trò chơi đó
- Phương pháp giải quyết vấn đề: là phương pháp giúp học sinh tìm ra những cách thức phù hợp để giải quyết những vấn đề về đạo đức thường diễn
ra trong đời sống hàng ngày
- Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch hành động đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kết quả thực hiện
Phương pháp rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh rất đa dạng Vì vậy, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt phù hợp với mục đích, đối tượng và từng tình huống cụ thể
1.4.3.2 Hình thức rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học
Rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh ở các trường tiểu học được thực hiện bằng các con đường sau đây:
- Thông qua đổi mới dạy học các môn văn hóa: Trong nhà trường học sinh được trang bị một khối lượng lớn kiến thức khoa học, được tiếp thu những khái niệm đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, những quy tắc, những chuẩn mực xã hội thông qua các môn khoa học tự nhiên, xã hội Nhờ học tập và thực hành theo những chương trình nội, ngoại khóa kỹ năng lao động trí óc chân
Trang 36tay được hành thành, trí tuệ được mở mang, nhân cách được hoàn thiện Dạy học là con đường giáo dục chủ động ngắn nhất và có hiệu quả nhất, giúp thế
hệ trẻ tránh được những vấp váp trong cuộc đời sau này
- Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đa dạng như: vui chơi giải trí, văn hóa, văn nghệ, lao động sản xuất, hoạt động xã hội, mỗi dạng hoạt động có những nét đặc thù và nếu được tổ chức tốt đều có tác động giáo dục, rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh
- Thông qua sinh hoạt tập thể: Tập thể là một tập hợp nhiều cá nhân cùng nhau hoạt động theo một mục đích tốt đẹp Hai yếu tố quan trọng của giáo dục tập thể là chế độ sinh hoạt và dư luận tập thể Chế độ sinh hoạt hợp
lý, với kỷ luật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nề nếp tạo nên thói quen sống có văn hóa, hình thành ý chí và nghị lực Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ giúp con người nhận thức những điều tốt đẹp, điều chỉnh hành
vi sống có văn hóa Trong cuộc sống tập thể, các cá nhân cùng nhau hoạt động, tinh thần đoàn kết, nhân ái, tính hợp tác cộng đồng được hình thành Trong sinh hoạt tập thể, một mặt các cá nhân tác động lẫn nhau, mặt khác là
sự tác động của các nhà sư phạm tạo thành tác động tổng hợp có tác dụng giáo dục rất lớn Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người, tổ chức tốt các hoạt động tập thể là con đường phù hợp với tuổi trẻ
Thông qua tự tu dưỡng của mỗi cá nhân: Tự tu dưỡng là tự mình đưa vào khuôn phép đạo đức, tự giáo dục được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định, khi đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, những tri thức phong phú Hướng dẫn học sinh tự giáo dục là yếu tố then chốt để hình thành đạo đức một cách bền vững lâu dài
- Rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh thông qua sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng ngoài xã hội: Sự phối hợp này thể hiện chức năng xã hội hóa trong vấn đề giáo dục, rèn luyện hành vi đạo đức
Trang 37và có tầm quan trọng đặc biệt Nhiệm vụ của các cán bộ quản lý và các nhà giáo dục là phải thường xuyên phối hợp, trao đổi thông tin kịp thời để tìm ra biện pháp tốt nhất trong việc rèn luyện đạo đức cho học sinh, tạo mối đồng thuận cao giữa nhà trường, gia đình và xã hội
1.4.4 Đánh giá kết quả rèn luyện hành vi đạo đức của học sinh tiểu học
Theo Thông tư 22/2016/ TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định các hình thức đánh giá học sinh nói chung và đạo đức nói riêng bao gồm: Kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp để giúp học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
Kiểm tra những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường
Đánh giá kết quả rèn luyện hành vi đạo đức của học sinh tiểu học kết hợp với việc khen thưởng và xử phạt:
+ Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em khác noi theo
+ Xử phạt: là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động
có tính chất cưỡng bách đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó
và những học sinh khác Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm
Trang 38dụng phương pháp này Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến rèn luyện hành vi đạo đức của học sinh tiểu học
1.5.1 Yếu tố khách quan
1.5.1.1 Yếu tố giáo dục nhà trường
Nhà trường là một tổ chức xã hội với tổ chức chặt chẽ, có nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân đáp ứng những yêu cầu của xã hội Vị trí, uy tín của nhà trường và việc duy trì nề nếp, kỷ cương, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục, bầu không khí sư phạm của nhà trường có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
1.5.1.2 Yếu tố giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào, là đơn vị nhỏ nhất của xã hội, là tập hợp của những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống Gia đình hạt nhân trong xã hội hiện đại bao gồm hai thế hệ cha mẹ và con cái Gia đình truyền thống còn có cả ông bà, chú bác, cô dì cùng chung sống với nhau Một gia đình hạnh phúc, cuộc sống kinh tế no đủ, mọi người thương yêu quý mến nhau, cha mẹ gương mẫu, biết cách giáo dục, là nền tảng vững chắc để con cái học tập tu dưỡng và phát triển đúng hướng
Gia đình có vai trò định hướng, động viên, giám sát quá trình phát triển
về nhận thức, ý thức tình cảm và hành vi đạo đức của các em, có thể ngăn chặn, đẩy lùi những đua đòi, tệ nạn xã hội Gia đình không hạnh phúc, người thân không quan tâm là một thiệt thòi lớn đối với các em Đây cũng là một
Trang 39trong những nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến tình trạng sút kém đạo đức của học sinh tiểu học hiện nay
1.5.1.3 Yếu tố giáo dục xã hội
Môi trường sống, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, những quan niệm đạo đức, lối sống hiện đại có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tình cảm và hành vi đạo đức của học sinh dân tộc thiểu số, kể cả mặt tích cực và tiêu cực Nếu không có định hướng giáo dục, biện pháp ngăn ngừa thì những cái xấu, mặt trái trong đời sống xã hội thường có nguy cơ xâm nhập và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển nhân cách của các em
Trang 40thức của giáo viên về nghề nghiệp, nhất là về giáo dục đạo đức cho học sinh Việc “dạy chữ, dạy người” là những yêu cầu cần phải được thực hiện liên tục
và xuyên suốt, mọi nơi, mọi lúc trong tư tưởng của mỗi người thầy Chỉ khi nào đội ngũ giáo viên nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc dạy học và giáo dục học sinh thì công tác giáo dục đạo đức mới đạt hiệu quả như mong muốn
1.5.2.1.Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh
Học sinh phải tự tu dưỡng giáo dục bản thân Sự hình thành phát triển đạo đức của mỗi con người là một quá trình phức tạp lâu dài cũng phải trải qua bao khó khăn, gian truân trong cuộc sống mới dẫn đến thành công Vì vậy học sinh từ chỗ là đối tượng của giáo dục dần dần thành chủ thể giáo dục tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách đạo đức Một bộ phận học sinh giỏi
về văn hóa được tập trung ở lớp chọn, trường chuyên, bộ phận này thật sự cố gắng học tập, say mê rèn luyện Tuy nhiên, số đông học sinh và ngay cả số học sinh giỏi cũng đã có những dấu hiệu lãng quên truyền thống, xem nhẹ tư tưởng chính trị, thời sự, do đó kém hiểu biết mặt này, điều này ảnh hưởng đến công tác giáo dục cũng như quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh