1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác tài nguyên du lịch nhân văn để phát triển du lịch ở thành phố hồ chí minh

228 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 5,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mối quan hệ giữa du lịch với khai thác nguồn TNDL, từ giữa những năm 1970 của thế kỷ 20 đến nay, các tác động phi kinh tế trong hoạt động du lịch được chú trọng nghiên cứu.. Có thể kể

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

HOÀNG TRỌNG TUÂN

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

-

HOÀNG TRỌNG TUÂN

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ HỌC

MÃ SỐ: 62.31.05.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Ngoài những thông tin đã ghi nguồn trích dẫn, các thông tin khác do tác giả tự nghiên cứu một cách trung thực và chưa từng được ai công bố

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Tác giả

Hoàng Trọng Tuân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ vi

Danh mục sơ đồ vii

Danh mục bản đồ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 10

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 11

6 Khung nghiên cứu 17

7 Đóng góp của luận án 18

8 Cấu trúc luận án 18

PHẦN NỘI DUNG 19

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 19

1.1 Cơ sở lý luận 19

1.1.1 Các khái niệm liên quan 19

1.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn 23

1.1.3 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn 29

1.1.4 Nguyên tắc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn 30

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên du lịch nhân văn 31

1.1.6 Các tiêu chí đánh giá khai thác tài nguyên du lịch nhân văn 35

1.2 Cơ sở thực tiễn 41

1.2.1 Trên thế giới 41

Trang 5

1.2.2 Ở Việt Nam 46

Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 51

2.1 Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh 51

2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh 54

2.2.1 Di sản, di tích lịch sử - văn hóa 54

2.2.2 Công trình nhân tạo 59

2.2.3 Lễ hội 60

2.2.4 Sự kiện đặc biệt 60

2.2.5 Làng nghề, phố nghề và sản phẩm nghề truyền thống 60

2.2.6 Ẩm thực truyền thống 61

2.2.7 Các hoạt động nhận thức khác 62

2.2.8 Các điểm tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng cho phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh 63

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh 71

2.3.1 Vị trí địa lý 71

2.3.2 Đặc điểm tự nhiên 71

2.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 72

2.3.4 Đặc điểm nguồn tài nguyên du lịch 77

2.4 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh 78

2.4.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh 78

2.4.2 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh 87

2.4.3 Đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh 106

Trang 6

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU

LỊCH NHÂN VĂN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 125

3.1 Định hướng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh 125

3.1.1 Cơ sở định hướng 125

3.1.2 Định hướng khai thác 127

3.2 Một số giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh 136

3.2.1 Giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên 136

3.2.2 Giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của nội dung tham quan 137

3.2.3 Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận của khách du lịch 137

3.2.4 Giải pháp hoàn thiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật

phục vụ du lịch 138

3.2.5 Giải pháp ứng dụng khoa học - công nghệ trong khai thác nguồn

tài nguyên 138

3.2.6 Giải pháp liên kết, hợp tác trong khai thác nguồn tài nguyên 138

3.2.7 Giải pháp khác 139

3.3 Một số kiến nghị 140

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 140

3.3.2 Đối với Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và các hội

nghề nghiệp 142

3.3.3 Đối với doanh nghiệp du lịch 142

3.3.4 Đối với nhà nghiên cứu du lịch 142

3.3.5 Đối với Ban quản lý, cá nhân sở hữu điểm tài nguyên du lịch

nhân văn 142

PHẦN KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 150

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC I

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GRDP: Tổng sản phẩm trên địa bàn (Gross Regional Domestic Product)

GTVT: Giao thông vận tải

QL: Quốc lộ

SPDL: Sản phẩm du lịch

TNDL: Tài nguyên du lịch

TNDLNV: Tài nguyên du lịch nhân văn

TNDLTN: Tài nguyên du lịch tự nhiên

TP: Thành phố

TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh

TTTM: Trung tâm thương mại

UBND: Ủy ban nhân dân

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc

(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) UNWTO: Tổ chức Du lịch Thế giới (United Nations World Tourism Organization) VH&TT: Văn hóa và Thể thao

VHTT&DL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa một số loại TNDLNV với các loại hình

6 Bảng 2.4 Mối liên hệ giữa các biến số với sự hài lòng của khách

du lịch tại các điểm TNDLNV đang khai thác

123

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4 Hình 2.6 Biểu đồ doanh thu du lịch TPHCM giai đoạn 2011 - 2015 80

5 Hình 2.7 Biểu đồ số lượt khách tham quan tại các bảo tàng

7 Hình 2.9 Biểu đồ ý kiến cộng đồng địa phương về các chỉ tiêu

8 Hình 2.10 Biểu đồ ý kiến doanh nghiệp du lịch về các chỉ tiêu đánh

9 Hình 2.11 Biểu đồ ý kiến khách du lịch về các chỉ tiêu đánh giá tại

điểm du lịch

121

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

2 Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại tài nguyên 21

4 Hình 1.3 Tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá các điểm TNDLNV

đang được khai thác ở TPHCM

39

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển đã để lại trong lòng Thành phố

Hồ Chí Minh (TPHCM) nguồn tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV) đa dạng và đặc sắc Nguồn tài nguyên này đã và đang là thế mạnh của Thành phố trong phát

triển du lịch (PTDL) Trong kết quả bình chọn “Thành phố Hồ Chí Minh 100 điều

thú vị” lần 1, có 70/100 điều thú vị về TPHCM liên quan đến các địa điểm và sự

kiện thuộc về TNDLNV [63] So với các tỉnh lân cận, nguồn TNDLNV cũng có lợi thế nổi trội, đặc biệt là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa (DTLSVH) Riêng số lượng các điểm DTLSVH được xếp hạng cấp quốc gia ở TPHCM đã lớn hơn 07 tỉnh lân cận cộng lại (29/27 di tích) [72]

Hàng năm, khách du lịch quốc tế đến TPHCM luôn chiếm tỉ trọng cao so với

cả nước Tuy nhiên, tỷ trọng này ngày càng giảm Nếu như năm 1995, khách du lịch quốc tế đến TPHCM chiếm 69,2% tổng lượt khách quốc tế của cả nước thì đến năm

2011 (thời điểm thực hiện luận án), con số này giảm xuống còn 58,3% (tương ứng 3,5 triệu lượt khách) [62], [76] Một trong những nguyên nhân xuất phát từ cung du lịch là do nhiều lợi thế về TNDLNV chưa được khai thác hợp lý

Để tiếp tục giữ vị trí là trung tâm du lịch hàng đầu cả nước, TPHCM cần có những biện pháp nhằm khai thác nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) một cách hợp lý

Vì trong hoạt động du lịch, nguồn TNDL chiếm từ 80 đến 90% giá trị sản phẩm du lịch (SPDL) và quyết định hướng chuyên môn hóa du lịch của mỗi địa phương [78, tr.32]

Tính đến thời điểm bắt đầu thực hiện nghiên cứu này, theo hiểu biết của tác giả, việc đánh giá về các điểm TNDLNV đang được khai thác ở TPHCM theo hướng tiếp cận từ dưới lên (từ cộng đồng lên) chưa được quan tâm đúng mức Một

số nghiên cứu trước đây nhiều nội dung không còn phù hợp, cần được cập nhật và

bổ sung

Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Khai thác tài nguyên

du lịch nhân văn để phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh” làm chủ đề

Trang 11

nghiên cứu Ngoài ý nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu này còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc góp phần khai thác hợp lý nguồn TNDLNV của TPHCM để PTDL

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và khai thác TNDL, mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích tiềm năng và thực trạng khai thác TNDLNV ở TPHCM, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn TNDLNV này

để PTDL trong tương lai

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác TNDL và PTDL để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu là TPHCM

- Kiểm kê và đánh giá TNDLNV, phân tích thực trạng khai thác chúng trong PTDL ở TPHCM

- Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn TNDLNV để PTDL ở TPHCM trong tương lai

3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

đã tiến hành điều tra thực trạng TNDL để quy hoạch, khai thác nhằm đáp ứng sự gia tăng nhanh chóng về số lượt khách du lịch trên thế giới [dẫn theo 86]

Về thuật ngữ, Swarbrooke (1999), Jansen-Verbeke và cộng sự (2008) sử dụng

“Cultural tourism resources”, Rade Knezevic (2008) dùng “Anthropogenic tourism

resources” để chỉ về TNDLNV [97], [103], [106] Trong đó, thuật ngữ “Cultural tourism resources” được sử dụng phổ biến hơn

Về vai trò của nguồn TNDL, Pirojnik I I (1985) xem TNDL là một thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch [dẫn theo 85] Rosemary Burton (1995) xem

Trang 12

TNDL là nguồn lực quan trọng tạo nên sức hút du lịch ở các khu vực có hoạt động

du lịch sôi động trên thế giới [104] Boniface và Cooper (2009) cho rằng TNDL là điều kiện thuận lợi để PTDL của các địa điểm, vùng, quốc gia [93] Tuy nhiên, Jansen-Verbeke và cộng sự (2008) nhấn mạnh rằng chỉ một số tài nguyên có sức hút

về tiềm năng du lịch mới được xem là TNDL [97]

Về đặc điểm của TNDL (bao gồm TNDLNV), Boniface và Cooper (2009) cho rằng TNDL có 03 thuộc tính: (1) Tính hữu hình (được xem là có giá trị kinh tế đối với ngành du lịch); (2) Tính chia sẻ (giá trị nguồn tài nguyên không chỉ chia sẻ với khách du lịch mà còn được chia sẻ cho cộng đồng địa phương); (3) Tính dễ thay đổi

và hư hại [93] Zhang, Y (2011) cho rằng TNDLNV có các đặc điểm: (1) Được tạo

ra bởi con người; (2) Thay đổi theo tính độc đáo của một điểm đến văn hóa; (3) Biến đổi theo sự phát triển xã hội [130]

Về phân loại, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân TNDL thành 03 loại: (1) Loại cung cấp tiềm tàng; (2) Loại cung cấp hiện tại; (3) Loại tài nguyên kỹ thuật [27] Theo cách phân loại này, TNDLNV được xếp vào loại cung cấp tiềm tàng (thuộc nhóm văn hóa kinh điển) Rade Knezevic (2008) căn cứ vào chức năng

sử dụng đã phân TNDLNV thành 04 loại: DTLSVH (cultural and historical heritage), tài nguyên dân tộc - xã hội học (ethno-social resources), tài nguyên nghệ thuật (artistic resources), và tài nguyên bổ trợ (ambient resources) [103] Một cách chi tiết hơn, Swarbrooke, J (1999) đã phân TNDLNV thành 14 loại: lễ hội và sự kiện đặc biệt, các điểm công nghiệp và thương mại, địa điểm tôn giáo, công trình kiến trúc, nghề truyền thống, các hoạt động thể thao và giải trí, thực phẩm và đồ uống,… [106] Đối với các cơ sở ẩm thực phục vụ du lịch, Goeldner và Brent Ritchie (2009) phân thành (1) nhà hàng thức ăn nhanh (2), nhà hàng tự chọn và (3) nhà hàng truyền thống [95]

Về mối quan hệ giữa du lịch với khai thác nguồn TNDL, từ giữa những năm

1970 của thế kỷ 20 đến nay, các tác động phi kinh tế trong hoạt động du lịch được chú trọng nghiên cứu Đặc biệt là mối quan hệ giữa khách du lịch với cộng đồng địa phương thông qua việc khai thác nguồn TNDL Doanh thu từ hoạt động du lịch có thể giúp phục hồi các kiến trúc truyền thống địa phương Cộng đồng địa phương có

Trang 13

thể hưởng lợi từ việc bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho khách du lịch Tuy nhiên, hoạt động du lịch cũng đe dọa đến các phong tục tập quán [99]

Bên cạnh việc nghiên cứu TNDL phục vụ công tác bảo tồn, hướng đánh giá tài nguyên phục vụ quy hoạch và PTDL cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Lu Yunting (1988) cho rằng việc đánh giá nguồn TNDL là cơ sở để khai thác hợp lý TNDL và là điều kiện tiên quyết cho quy hoạch du lịch [101] Cooper C (1990) cho rằng nghiên cứu và đánh giá TNDL là bước căn bản trong quy hoạch PTDL [92] Boniface và Cooper (2009) cho rằng việc đánh giá TNDL là

đo lường sự phù hợp của nguồn tài nguyên để hỗ trợ các hình thức du lịch khác nhau Mục đích của việc đánh giá là để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng Nhu cầu du lịch sẽ tác động đến việc lập kế hoạch cũng như quản lý TNDL, đặc biệt là sự kết hợp giữa các loại hình du lịch với các loại TNDL cụ thể [93] Liu Xiao xem đánh giá TNDL là điều kiện tiên quyết để thực hiện chính sách quản lý du lịch và xác định giá vé hợp lý [100] Ciurea và cộng sự (2011) đã xem TNDLNV là một trong 04 nội dung quan trọng khi đánh giá tiềm năng du lịch của lưu vực sông Oituz (phía Tây hạt Bacau, Romania) [91]

Về tiêu chí đánh giá TNDL, Trung tâm Thực nghiệm Phát triển Kinh tế và Cộng đồng (Đại học Illinois, Hoa Kỳ) cho rằng muốn PTDL thành công cần phải có

sự tham gia của cộng đồng Trên cơ sở đó, Trung tâm đã đề xuất 07 bước giúp cộng đồng kiểm kê và đánh giá TNDL Việc kiểm kê TNDL (bước thứ 3) là cơ sở để xác định tiềm năng PTDL Việc đánh giá TNDL (bước 4) phải đảm bảo tính khách quan

và phản ánh chất lượng tổng thể của tài nguyên Trong đó, tại mỗi điểm tài nguyên, cần dựa trên các tiêu chí: (1) Sự khác biệt (Distinctiveness) so với điểm tài nguyên tương tự; (2) Chất lượng (Quality); (3) Sức hấp dẫn (Drawing power) và (4) Động lực du lịch (Motivation for travel) - lý do khiến khách du lịch tiềm năng đến điểm tài nguyên [98] Liu Xiao khi đánh giá 41 điểm TNDL ở Bắc Kinh đã dựa trên 07 tiêu chí đánh giá Trong đó, một số chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến điểm tài nguyên như phân cấp tài nguyên, mức độ đa dạng của cảnh quan, diện tích của điểm tài nguyên, khoảng cách từ điểm tài nguyên đến trung tâm thành phố [100]

Trang 14

Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu với sự hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc khai thác hợp lý TNDL và PTDL Một số công trình tiêu biểu như nghiên cứu của Goeldner và Brent Ritchie [95], Hao Gezong và cộng

sự [96], Jansen-Verbeke và cộng sự [97], Leonard và Carson [99], Stephen Williams [105]

3.2 Trong nước

Trước thập niên 90 của thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về TNDL còn khiêm tốn, đặc biệt là những nghiên cứu chuyên sâu về TNDLNV Các nghiên cứu

về TNDL trong thời gian này được thực hiện trên các lãnh thổ lớn nên dừng lại ở

mức độ khái quát và định tính Chẳng hạn như: “Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi

trường du lịch Việt Nam”, năm 1986, “Sơ đồ phát triển và phân bố ngành du lịch Việt Nam”, năm 1986 [dẫn theo 23, tr.21]

Trong thập niên 90 của thế kỷ 20, một số nghiên cứu chuyên sâu về TNDL bắt đầu được triển khai Bên cạnh đánh giá định tính, yếu tố định lượng đã được chú ý Kiểu đánh giá phổ biến là kiểu đánh giá kỹ thuật, với việc sử dụng phương pháp tính điểm tổng cộng dựa trên ý kiến chuyên gia Nhìn chung, trong giai đoạn này, sự tham gia của cộng đồng, khách du lịch và doanh nghiệp du lịch chưa được chú trọng trong quá trình đánh giá TNDL Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu liên quan đến TNDLNV của các tác giả như: Nguyễn Minh Tuệ (1992) trong công trình

“Phương pháp xác định mức độ tập trung di tích lịch sử - văn hoá theo lãnh thổ

trong nghiên cứu Địa lí du lịch” [77]; Trần Văn Thắng (1995) trong công trình

“Đánh giá khả năng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Thừa Thiên - Huế

phục vụ mục đích du lịch” [66]; Phạm Văn Du (1996) trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên du lịch Thủ đô Hà Nội phục vụ cho việc khai thác có hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch” [24]; Lê Đức Thắng (1996) trong công trình “Quy hoạch các điểm du lịch với việc khai thác di sản kiến trúc văn hóa - lịch sử khu vực

Hà Nội” [67]; Phạm Trung Lương (2000) trong công trình “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” [36];…

Từ những năm đầu của thế kỷ 21 trở lại đây, công tác nghiên cứu và đánh giá

về TNDLNV được thực hiện phổ biến, với sự gia tăng về số lượng các công trình

Trang 15

nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu đã có sự tham gia của khách du lịch trong quá trình đánh giá Yếu tố định lượng trong các nghiên cứu ngày càng thể hiện rõ

Có thể kể đến nghiên cứu của Đỗ Quốc Thông (2004) trong công trình “Phát triển

du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”

[72], Nguyễn Hà Quỳnh Giao (2016) trong công trình “Đánh giá tài nguyên du lịch

nhân văn ở tỉnh Thừa Thiên - Huế” [25],…

Quan niệm về điểm TNDL và điểm du lịch, Nguyễn Kim Hồng và cộng sự

(2001) trong công trình “Xây dựng cơ sở khoa học để xác định các điểm, tuyến du

lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận” lưu ý rằng: điểm TNDL (bao gồm điểm

TNDLNV) chỉ trở thành điểm du lịch (bao gồm điểm du lịch văn hóa) khi chúng mang tính chất kinh doanh du lịch, ngược lại thì được gọi là điểm du lịch tiềm năng [29]

Về tầm quan trọng của nguồn TNDL trong PTDL (bao gồm TNDLNV), Lê Đức Thắng (1996) cho rằng các di sản kiến trúc, văn hóa - lịch sử là nhân tố rất cơ bản và quan trọng để tạo ra các SPDL độc đáo và có sức hấp dẫn cao [67] Theo Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long (2007), quy mô và khả năng PTDL của một địa phương hay một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chất lượng và sự kết hợp của các loại TNDL [89] Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011) cho rằng trong hoạt động du lịch, nguồn TNDL chiếm từ 80 đến 90% giá trị SPDL và quyết định hướng chuyên môn hóa du lịch của mỗi địa phương [78, tr.32]

Về phân loại, dựa vào nguồn gốc phát sinh và giá trị xếp hạng Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011) phân TNDLNV thành 05 loại: (1) Di sản văn hóa thế giới và DTLSVH; (2) Lễ hội; (3) Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học; (4) Làng nghề truyền thống; (5) Các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác [78]

Bộ VHTT&DL (2012) phân TNDLNV thành 07 loại, gồm: (1) Di sản, DTLSVH; (2) Lễ hội; (3) Làng và nghề truyền thống; (4) Ẩm thực; (5) Các công trình nhân tạo; (6) Các yếu tố dân tộc học; (7) Các sự kiện văn hóa, thể thao [5] Xét về ưu điểm và hạn chế của các cách phân loại TNDL, Đỗ Quốc Thông (2004) cho rằng cách phân loại theo mục đích sử dụng có ưu điểm là người sử dụng (khách du lịch)

dễ lựa chọn tài nguyên theo nhu cầu du lịch, song hạn chế là sự trùng lặp Ưu điểm

Trang 16

của phân loại theo nguồn gốc phát sinh là thuận lợi cho công tác quản lý, quy hoạch, đầu tư PTDL Nhược điểm là mang tính chủ quan của người phân loại [72, tr.17-18]

Về đặc điểm nguồn TNDLNV, Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011) cho rằng TNDLNV có các đặc điểm sau: (1) Có tác dụng nhận thức nhiều hơn (tác dụng giải trí); (2) Tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn; (3) Đại bộ phận nguồn tài nguyên không có tính mùa vụ; (4) Việc tìm hiểu và nhận thức về TNDLNV phụ thuộc nhiều vào đặc điểm khách du lịch và từng giai đoạn khách du lịch tiếp xúc [78, tr.57-58] Nguyễn Hà Quỳnh Giao (2016) bổ sung một số đặc điểm khác của TNDLNV như mang tính phổ biến, mang những giá trị đặc sắc riêng, rất phong phú

và đa dạng, mang những giá trị hữu hình và vô hình, có thể tôn tạo và tạo mới, mang tính tập trung, dễ tiếp cận [25]

Về các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác TNDL, Đỗ Quốc Thông (2004) chỉ ra rằng TNDL còn tồn tại dưới dạng tiềm năng là do: (1) Chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ; (2) Nhu cầu của khách du lịch còn thấp nên chưa được khai thác; (3) Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác; (4) Các điều kiện tiếp cận hoặc các phương tiện khai thác còn hạn chế; (5) Chưa đủ khả năng để đầu tư khai thác [72] Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long (2007) cho rằng hiệu quả và mức độ khai thác nguồn TNDL phụ thuộc vào các yếu tố: (1) Khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá giá trị của tài nguyên vốn còn tiềm ẩn; (2) Trình độ phát triển khoa học - công nghệ; (3) Nguồn tài sản quốc gia và tình hình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương; (4) Nhu cầu du lịch của du khách [89] Theo Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011), việc tìm hiểu, nhận thức về TNDLNV phụ thuộc vào từng giai đoạn khách du lịch tiếp xúc và chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thành phần dân tộc,… [78, tr.58]

Về các bên tham gia đánh giá TNDL, trong luận án “Đánh giá và khai thác

các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, Đặng Duy Lợi (1992), cho rằng có hai đối tượng quan tâm đến việc

đánh giá TNDL hơn cả là du khách và cơ quan quản lý du lịch Du khách thường

Trang 17

quan tâm tới những loại hình du lịch họ ưa thích và thời gian thích hợp nhất họ có thể đi được Với cơ quan quản lý du lịch, họ thường quan tâm tới việc khai thác hợp

lý nguồn TNDL để PTDL theo lãnh thổ [35]

Về việc xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá, trong công trình “Tài

nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”, Phạm Trung Lương (2000) đã hệ thống

khá toàn diện về cơ sở lý luận trong việc đánh giá TNDL ở nước ta (bao gồm TNDLNV) [36] Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011) cho rằng TNDLTN đã có một số phương pháp đánh giá định lượng, còn TNDLNV phần nhiều dựa vào đánh giá định tính thông qua cảm xúc và trực quan [78, tr.58] Ở tỉnh Thừa Thiên - Huế,

trong công trình “Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh Thừa Thiên - Huế”,

Nguyễn Hà Quỳnh Giao (2016) đã xác lập 06 tiêu chí để đánh giá khả năng khai thác cho 76 điểm TNDLNV [25] Ngoài sử dụng ý kiến đánh giá của chuyên gia, tác giả còn sử dụng ý kiến đánh giá của khách du lịch đối với chương trình du lịch, các điểm di tích lịch sử (DTLS) - công trình văn hóa, các điểm du lịch làng nghề

truyền thống Ở TPHCM, trong công trình “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí

Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”, Đỗ Quốc Thông (2004)

đã xác định 05 tiêu chí để đánh giá TNDL (bao gồm TNDLNV) Để tăng tầm quan trọng của các tiêu chí đánh giá, tác giả đã xác lập trọng số cho các tiêu chí theo hệ

số 3 - 2 - 1 Trong đó, tiêu chí về tính hấp dẫn khách du lịch quan trọng nhất với hệ

- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, đánh giá về TNDL xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ 20 và dừng lại ở mức độ mô tả Đa phần các nghiên cứu, đánh giá về TNDLNV được thực hiện từ năm 1995 trở lại đây Kiểu đánh giá kỹ thuật (theo hướng tiếp cận từ cơ quan quản lý xuống) được sử dụng phổ biến hơn cả

Trang 18

- TPHCM là một trong hai trung tâm du lịch hàng đầu cả nước Trong đó, TNDLNV có lợi thế nổi trội và quyết định hướng chuyên môn hóa về SPDL của Thành phố Trong các nghiên cứu, đánh giá về TNDLNV ở TPHCM vai trò của cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, khách du lịch chưa được quan tâm đúng mức Trong đó, đặc biệt chưa chú trọng đến sự đánh giá của khách du lịch Nghiên cứu của Chi và Qu (2008) cho thấy, sự hài lòng (satisfactions) là một trong những tiêu chí được dùng để giải thích dự định trở lại tham quan của khách du lịch [90] Dương Quế Nhu và cộng sự (2014) cũng đã chỉ ra rằng ngay cả khi khách du lịch hài lòng nhưng không quay lại điểm du lịch thì họ cũng sẽ giới thiệu cho người thân và bạn bè (hệ số tác động 0.13) [42] Ngoài ra, một số kết quả nghiên cứu trước đây về TPHCM dữ liệu đã cũ, cần tiếp tục được cập nhật và bổ sung

Trang 19

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Địa bàn nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu trong luận án này là TPHCM, với ranh giới hành chính được xác lập từ tháng 07 năm 1976 đến nay Theo đó, phía Đông và Đông Bắc của TPHCM giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Biển Đông, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh

4.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hiện trạng khai thác TNDLNV và PTDL ở TPHCM trong giai đoạn 1995-2017 Đề xuất định hướng và giải pháp khai thác hợp lý TNDLNV đến năm 2030

4.3 Nội dung nghiên cứu

- Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm và hệ thống phân loại TNDLNV theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 [45]

- Nhận định, phân tích 12 nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc khai thác TNDLNV ở TPHCM Các nhân tố này được phân thành 04 nhóm: (1) Vị trí địa lý; (2) Đặc điểm tự nhiên; (3) Đặc điểm KT-XH; (4) Đặc điểm nguồn TNDL

- Nguồn TNDL bao gồm nhóm tài nguyên chưa được khai thác và nhóm tài nguyên đang được khai thác [45, tr.15], [78, tr.31] TNDLNV là hợp phần của

nguồn TNDL nên cũng được chia làm hai nhóm tương tự Luận án phân tích khái quát thực trạng khai thác các loại TNDLNV thuộc cả hai nhóm Xuất phát từ tính đặc thù trong khai thác nguồn TNDLNV ở TPHCM, nội dung đánh giá sẽ tập trung vào nhóm TNDLNV đang được khai thác Hướng tiếp cận đánh giá chủ yếu là từ dưới lên (từ cộng đồng lên) Các loại TNDLNV được lựa chọn đánh giá gồm: (1) Di sản, DTLSVH; (2) Công trình nhân tạo; (3) Lễ hội; (4) Sự kiện đặc biệt; (5) Ẩm thực truyền thống Phương pháp sử dụng để lựa chọn các loại TNDLNV và điểm du lịch trong từng loại đưa vào đánh giá được trình bày tại Phụ lục 2.1 và Phụ lục 2.2 Ngoài ra, một số nội dung liên quan đến khai thác TNDLNV để PTDL nhưng không được nghiên cứu trong luận án này gồm: Nghiên cứu quy trình khai thác TNDLNV; Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc khai thác TNDLNV ở TPHCM; Đánh giá công tác bảo tồn nguồn TNDLNV ở TPHCM

Trang 20

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống mở gồm nhiều phân hệ như phương tiện giao thông vận tải (GTVT), khách du lịch, cán bộ (nhân viên) phục vụ, CSVC-KT phục vụ du lịch,… [78, tr.102] Với quan điểm hệ thống, TNDL nói chung và TNDLNV nói riêng vừa có quan hệ với các phân hệ khác trong hệ thống lãnh thổ du lịch, vừa có quan hệ với môi trường xung quanh và các điều kiện phát sinh (nhu cầu

du lịch) Vì vậy, khi nghiên cứu về TNDLNV, cần chú ý các mối quan hệ trong và ngoài hệ thống này Ngoài ra, ngay trong phân hệ TNDL, cần xem xét mối quan hệ giữa TNDLNV với TNDLTN ở các cấp phân vị khác nhau

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Mỗi đối tượng địa lý thường gắn với một lãnh thổ nhất định Trên lãnh thổ đó,

nó có những đặc trưng riêng, do sự khác biệt về điều kiện hình thành và phát triển Tuy nhiên, nó cũng có nét tương đồng với đối tượng địa lý cùng loại ở các lãnh thổ xung quanh Vận dụng quan điểm này, khi nghiên cứu khai thác TNDLNV ở TPHCM, cần chú ý đến sự kết hợp và phân hóa theo không gian, sự tương đồng và khác biệt (thế mạnh) của TNDLNV ở TPHCM so với các tỉnh lân cận

5.1.3 Quan điểm tổng hợp

Mỗi điểm TNDLNV ẩn chứa nhiều giá trị du lịch khác nhau Hoạt động khai thác TNDLNV chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá về TNDLNV, cần xem xét, đánh giá một cách tổng hợp và trong mối quan hệ tổng thể

5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Các yếu tố tác động đến TNDLNV ở TPHCM tồn tại trong trạng thái vận động

và biến đổi không ngừng Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên cần đặt trong hoàn cảnh lịch sử nhất định Việc đề xuất các định hướng và giải pháp phải dựa trên sự kế thừa, bổ trợ cho các định hướng và giải pháp đã có Ngoài ra, cần căn cứ vào các dự báo về xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu và nhu cầu du lịch trong tương lai

Trang 21

5.1.5 Quan điểm thực tiễn

Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khai thác nguồn TNDLNV cần xuất phát từ thực tiễn Việc xây dựng các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá cũng cần phù hợp với đối tượng và đặc thù của địa bàn nghiên cứu

5.1.6 Quan điểm phát triển bền vững

Theo quan điểm này, việc khai thác TNDLNV ở TPHCM đòi hỏi vừa nhằm thỏa mãn nhu cầu PTDL hiện tại, vừa không làm tổn hại đến khả năng phát triển của nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu PTDL của các thế hệ trong tương lai

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Tác giả đã tiến hành thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu này từ nhiều nguồn khác nhau như từ các công trình nghiên cứu khoa học, cơ quan chức năng, sách, báo, tạp chí và các phương tiện truyền thông Sau khi thu thập, tài liệu được phân loại và xử lý theo các nội dung nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt luận án Dựa vào dữ liệu đã chọn lọc sau khi thu thập, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp theo nội dung nghiên cứu Đồng thời, tác giả đã so sánh, đối chiếu về thông tin từ thực địa với thông tin trình bày trong tài liệu thứ cấp; so sánh về lợi thế về TNDLNV ở TPHCM với các tỉnh lân cận; so sánh thực trạng khai thác giữa các loại TNDLNV ở TPHCM;

5.2.3 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)

Điểm TNDLNV phân bố rộng khắp các quận/huyện ở TPHCM Do vậy, việc

sử dụng Bản đồ hành chính TPHCM tỉ lệ 1:100.000 giúp tác giả tiếp cận các điểm TNDLNV trong quá trình khảo sát thực địa một cách thuận tiện Phương pháp này còn sử dụng để thể hiện các đặc tính về số lượng, cấu trúc, xu hướng khai thác và phân bố các điểm TNDLNV ở TPHCM trên các bản đồ chuyên đề

5.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa

Trong quá trình thực hiện luận án, đòi hỏi phải tiến hành các đợt khảo sát thực địa tại các điểm TNDLNV nhằm thu thập, đối chiếu và cập nhật thông tin Các hoạt động chính khi thực hiện phương pháp này là quan sát, mô tả, ghi chép, chụp ảnh

Trang 22

Các thông tin về địa điểm, nội dung khảo sát, thời gian khảo sát được tác giả trình bày tại Phụ lục 3

5.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học

- Mục tiêu: Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông tin phản

hồi của các bên liên quan về thực trạng khai thác TNDLNV ở TPHCM Từ đó, có những nhận định, đánh giá khách quan và bổ sung cơ sở thực tiễn trong đề xuất giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn TNDLNV ở TPHCM

- Công cụ thực hiện: Bảng hỏi bán cấu trúc

- Nội dung bảng hỏi: Bảng hỏi được chia thành 3 phần: phần câu hỏi liên

quan đến thực trạng PTDL ở TPHCM, phần thực trạng khai thác các điểm du lịch văn hóa và phần thông tin cá nhân của người được phỏng vấn Nội dung chi tiết bảng hỏi được trình bày tại các Phụ lục 1.1, 1.2, 1.3, 1.4

- Địa điểm khảo sát: Bảng hỏi được tiến hành khảo sát tại 14 điểm du lịch văn

hóa Cơ sở lựa chọn các loại TNDLNV và các điểm du lịch văn hóa trong từng loại được trình bày tại Phụ lục 2.1 và Phụ lục 2.2

- Người tham gia trả lời: gồm khách du lịch, cộng đồng địa phương, doanh

nghiệp du lịch Đây là những bên trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch tại các điểm du lịch văn hóa, theo hướng tiếp cận từ dưới lên (từ cộng đồng lên)

+ Khách du lịch: Trong khoảng thời gian 2001 - 2011, khách du lịch đến

TPHCM trung bình mỗi năm đạt 5,9 triệu lượt Trong đó, khách quốc tế đạt 2,2 triệu lượt (chiếm 37,5%) [62] Có thể xác định cỡ mẫu dựa vào công thức của Slovin (1960, trích bởi Nguyễn Xuân Nghĩa, 2006, tr.52-53) như sau [38]:

2 N.e 1

N n

e: sai số (% sai số cho phép)

Dựa theo công thức xác định cỡ mẫu nêu trên, với độ tin cậy 95%, quy mô mẫu cần điều tra là 400 đơn vị nghiên cứu (400 phiếu khảo sát) Để số phiếu khảo

Trang 23

sát phù hợp và không thấp hơn cỡ mẫu tính theo công thức, tác giả đã lựa chọn điều tra bảng hỏi tại 14 điểm du lịch, với tổng số phiếu khảo sát khách du lịch là 420 phiếu Trong đó, 260 phiếu khảo sát khách du lịch nội địa (chiếm 61,9%) và 160 phiếu khảo sát khách du lịch quốc tế (chiếm 38,1%) Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn khảo sát khách du lịch theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch (quota sampling) kết hợp với phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) Việc chọn mẫu hạn ngạch giúp mẫu nghiên cứu có sự cân đối nhất định về giới tính, nhóm tuổi Việc chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện cho phép tiết kiệm thời gian và tăng tính tin cậy khi khách du lịch không có nhiều thời gian trả lời bảng hỏi hoặc những nơi đông người như lễ hội, chợ và trung tâm thương mại (TTTM), địa điểm ăn uống, Với phương pháp này, tác giả sẽ lựa chọn khảo sát những khách du lịch đang có thời gian rảnh rỗi (như đang nghỉ chân, mới ăn xong, chờ xe di chuyển, )

+ Doanh nghiệp du lịch: Tác giả cho rằng doanh nghiệp du lịch là đơn vị có tư

cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giới thiệu, tổ chức cho khách du lịch tham quan các điểm du lịch và tham gia bán SPDL của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch khác

Tác giả chọn khảo sát đại diện của 30 doanh nghiệp du lịch với phương pháp chọn mẫu thuận tiện Theo Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh (2011), kích thước mẫu tối thiểu 30 đơn vị nghiên cứu đủ đảm bảo cho yêu cầu phân tích thống

kê mô tả [48, tr.199] Các hướng dẫn viên (HDV) được phỏng vấn khi họ đang nghỉ ngơi trong khi khách của họ tham quan tự do Đối với HDV không có thời gian để trả lời trực tiếp, tác giả đã xin địa chỉ email và gửi đường dẫn tới phiếu khảo sát online cho họ (xem Phụ lục 1.5)

+ Cộng đồng địa phương: là bộ phận dân cư sinh sống trong một không gian

nhất định, được đặc trưng bởi các yếu tố về lịch sử, địa lý, văn hóa và các thiết chế

xã hội Trong luận án này, cộng đồng địa phương được hiểu là tập hợp những người sinh sống xung quanh (hoặc bên trong) các điểm du lịch văn hóa tại TPHCM, họ cùng tham gia quản lý, bảo vệ và khai thác các điểm du lịch văn hóa, có thể được hưởng lợi hoặc không được hưởng lợi (chịu tác động) từ hoạt động du lịch diễn ra

Trang 24

tại điểm du lịch văn hóa Cộng đồng địa phương được tác giả lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch kết hợp với phương pháp chọn mẫu thuận tiện Trong

110 phiếu khảo sát, tác giả phân thành hai nhóm: 55 phiếu tìm hiểu về nhóm cộng đồng tham gia hoạt động kinh tế tại điểm du lịch; và 55 phiếu tìm hiểu về nhóm cộng đồng không tham gia hoạt động kinh tế tại điểm du lịch

Ngoài ra, tác giả cũng đã tiến hành phỏng vấn một số cá nhân đang làm việc ở

cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, ban quản lý (BQL) và nhân viên phục vụ tại một số điểm TNDLNV đang được khai thác

- Khảo sát thử: Để chuẩn hóa thông tin trong bảng hỏi trước khi khảo sát

chính thức, tác giả đã tiến hành khảo sát thử 30 phiếu trong Lễ Giỗ tổ Hùng Vương (tại Công viên Văn hóa (CVVH) Suối Tiên) và DTLS Dinh Độc Lập Hai địa điểm được lựa chọn khảo sát này có sự khác biệt về: (1) đặc điểm nguồn khách; (2) hình thức tham quan; (3) giá trị xếp hạng; (4) đơn vị quản lý; và (5) vị trí phân bố

- Phân tích dữ liệu: Thông tin thu thập từ bảng hỏi dành cho khách du lịch,

cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch được nhập liệu và phân tích qua phần mềm SPSS (16.0) Các phương pháp phân tích được trình bày tại mục 5.2.6

5.2.6 Phương pháp phân tích thống kê

Luận án đã sử dụng một số phương pháp thống kê trong Toán học để xử lý và phân tích số liệu sơ cấp (từ kết quả điều tra bảng hỏi) và số liệu thứ cấp (các chỉ tiêu

về số lượng khách du lịch, doanh thu du lịch, ) Các phương pháp cụ thể gồm:

- Phân tích thống kê mô tả

+ Tuổi lớn nhất, nhỏ nhất, tuổi trung bình, tần suất lựa chọn các biến quan sát của khách du lịch, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch

+ Mức độ hợp lý trong khai thác các điểm du lịch văn hóa được tác giả xác định thông qua tỉ lệ phần trăm (%) ý kiến đồng ý của khách du lịch, cộng đồng địa phương và doanh nghiệp du lịch đối với các chỉ tiêu đánh giá cho trước

- Kiểm định tương quan

+ Kiểm định tương quan giữa các biến định tính (biến độc lập) như giới tính, nhóm tuổi, cấp học, nghề nghiệp,… với sự hài lòng và dự định quay lại của khách

du lịch (biến phụ thuộc) thông qua phương pháp kiểm định Chi-Square Điều kiện

Trang 25

để kết luận các biến có mối liên quan là Sig ≤ 0,05 và có dưới 25% số ô trong bảng chéo có tần số mong đợi dưới 5

+ Kiểm định tương quan giữa biến giới tính (biến định tính) với biến số lần đi

du lịch (biến định lượng) thông qua phương pháp kiểm định Independent samples

T-test Nếu Sig ≤ 0,05 tức là có mối liên quan giữa các giá trị so sánh

+ Kiểm định mối tương quan giữa độ tuổi với số lần đi du lịch (biến định

lượng) thông qua kiểm định hệ số tương quan Pearson Nếu Sig ≤ 0,05 tức là có

mối liên quan giữa các giá trị so sánh

+ Kiểm định mức độ chặt chẽ về mối liên hệ giữa các biến thông qua hệ số

Phi Hệ số Phi càng lớn, mối liên hệ giữa các biến càng chặt chẽ

- Tính tốc độ tăng trưởng

Để tính tốc độ tăng trưởng về khách du lịch, doanh thu du lịch (từ dịch vụ lữ hành và dịch vụ lưu trú), luận án sử dụng công thức sau:

Trong đó: f là giá trị cuối; s là giá trị đầu; y là số năm

5.2.7 Phương pháp chuyên gia

Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về chuyên gia Điều này xuất phát từ sự không đồng nhất về lĩnh vực phụ trách, độ tuổi, thâm niên công tác,… Do vậy, cách hiểu về chuyên gia chỉ mang ý nghĩa tương đối Theo Nguyễn Duy Bảo

(2007), Chuyên gia “là người có trình độ hiểu biết sâu sắc lĩnh vực cần tìm hiểu

thông tin” [2, tr.147] Trong nghiên cứu này, tác giả đã xin ý kiến tư vấn, góp ý của

những người am hiểu và có nhiều năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến công tác quản lý du lịch, điều hành du lịch, những nhà khoa học giàu kinh nghiệm từ các trường đại học và viện nghiên cứu Những góp ý của các chuyên gia

đã giúp tác giả giải quyết được nhiều vấn đề vướng mắc trong quá trình nghiên cứu

Trang 26

6 Khung nghiên cứu

Nguồn: Tác giả

Hình 0.1 Khung nghiên cứu

Trang 27

7 Đóng góp của luận án

7.1 Về lý luận

- Đã kế thừa, bổ sung và cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTDL

và khai thác TNDLNV để vận dụng vào nghiên cứu ở TPHCM

- Đã lựa chọn được các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá các điểm TNDLNV cùng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để đánh giá các điểm TNDLNV đang được khai thác trên địa bàn

7.2 Về thực tiễn

- Đã phân tích kinh nghiệm khai thác TNDLNV ở 09 quốc gia trên thế giới và

05 tỉnh, thành phố ở Việt Nam để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu là TPHCM

- Đã làm rõ những thế mạnh và hạn chế của các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác TNDLNV ở TPHCM

- Đánh giá được thực trạng khai thác TNDLNV ở TPHCM tại 14 điểm tài nguyên được lựa chọn dựa trên các chỉ tiêu và tiêu chí đã xác định bằng phương pháp định lượng và điều tra xã hội học khách du lịch, doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương

- Trên cơ sở thực trạng khai thác TNDLNV và mục tiêu, định hướng PTDL của TPHCM, đã đưa ra được các giải pháp có căn cứ khoa học cho việc khai thác TNDLNV để PTDL ở TPHCM trong tương lai

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng khai thác tài nguyên du lịch

nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Định hướng và giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 28

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC TÀI

NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm liên quan

- Du lịch: Điều 3, Chương 1, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 nêu rằng: “Du

lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [47]

- Khách du lịch: UNWTO (2009) chia người đi du lịch thành hai nhóm: khách

du lịch (tourists) và khách thăm viếng (visitors) [109] Ở nước ta, sự phân chia này chưa rạch ròi, thường gọi chung là khách du lịch Để thống nhất trong sử dụng số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, luận án sử dụng khái niệm của Luật Du

lịch Việt Nam năm 2017 Theo đó, “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp

đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến” [47] Khách

du lịch được chia thành “khách du lịch nội địa” và “khách du lịch quốc tế” [45,

tr.30] Trong đó, khách du lịch nội địa là công dân của nước sở tại, người nước ngoài thường trú tại nước sở tại đi du lịch trọng phạm vi lãnh thổ nước đó Khách

du lịch quốc tế là người nước ngoài vào nước sở tại đi du lịch hoặc công dân của nước sở tại đi du lịch ngoài phạm vi lãnh thổ nước đó

Trong nghiên cứu này, khách du lịch nội địa được hiểu là những người có quốc tịch Việt Nam, hoặc người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, đang sống tại các tỉnh và thành phố bên ngoài TPHCM Khách du lịch quốc tế là người không có quốc tịch Việt Nam, đến TPHCM để tham quan (hoặc kết hợp tham quan với một

số mục đích khác)

- Tài nguyên du lịch

Có nhiều khái niệm khác nhau về TNDL Đặng Duy Lợi (1992) cho rằng: “Tài

Trang 29

nguyên du lịch là các thể tổng hợp tự nhiên và nhân văn (kinh tế - xã hội - lịch sử - văn hóa) và các thành phần của chúng được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch” [35 tr.28] Như vậy, xét ở khía cạnh khai thác, những tài nguyên “được khai thác” để phục vụ mục đích du lịch mới được xem là TNDL Nguyễn Minh Tuệ và

cộng sự (2011) cho rằng ngoài các loại tài nguyên “đang” được khai thác, các loại tài nguyên “đã” và “sẽ” được khai thác cũng là TNDL [78, tr.31] Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 cho rằng đó là tài nguyên “có thể được sử dụng” để đáp ứng nhu

cầu du lịch [45, tr.6] Tuy nhiên, trong phân loại, TNDL được xác định gồm tài

nguyên “đang được khai thác” và tài nguyên “chưa được khai thác” [45, tr.15]

Trong nghiên cứu này, tác giả kế thừa khái niệm về TNDL của Đặng Duy Lợi [35], Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự [78] và Quốc hội Việt Nam [45] Theo đó, TNDL là các thể tổng hợp tự nhiên và nhân văn (KT-XH - lịch sử - văn hóa) và các thành phần của chúng, đang được khai thác hoặc có thể được khai thác phục vụ mục

đích du lịch Như vậy, những tài nguyên đang được khai thác hoặc có thể được khai thác phục vụ mục đích du lịch mới được xem là TNDL

- Tài nguyên du lịch nhân văn

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm:

truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

[45, tr.16] Dựa vào định nghĩa này và quan niệm của Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự

(2011) khi cho rằng TNDLNV “là đối tượng và hiện tượng” “do con người tạo ra” [78, tr.57], tác giả luận án cho rằng TNDLNV là hệ thống các giá trị vật chất và tinh

thần do con người tạo ra và lưu giữ trong quá trình tồn tại Chúng có sức hấp dẫn nhất định đối với khách du lịch (và là yếu tố chính thu hút khách du lịch đến tham

quan), hiện đang được khai thác hoặc có thể được khai thác phục vụ mục đích du

lịch

Như vậy, những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo và lưu giữ

mới chỉ là tài nguyên nhân văn Chỉ số ít trong đó có sức hấp dẫn đối với khách du

lịch, được sử dụng (hoặc có thể được sử dụng) vào mục đích du lịch mới được gọi

Trang 30

là TNDLNV (xem Hình 1.1)

Nguồn: Tác giả

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại tài nguyên

- Giá trị du lịch của TNDLNV: là những hình thể, thông tin, công dụng của

nguồn TNDLNV đang được khai thác hoặc có thể được khai thác nhằm phục vụ mục đích du lịch Theo tác giả, các giá trị cụ thể gồm:

+ Giá trị lịch sử: là minh chứng cho một thời điểm hoặc tiến trình lịch sử, gắn

với tập thể, cá nhân tại nơi có TNDLNV

+ Giá trị kiến trúc nghệ thuật: là các thuộc tính liên quan đến hình dáng, cấu

trúc, tỉ lệ, màu sắc, họa tiết, chất liệu bề mặt,… của TNDLNV [43, tr.8]

+ Giá trị khoa học và giáo dục: là tri thức ẩn chứa bên trong nguồn

TNDLNV, đặc biệt là các tri thức phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục

+ Giá trị vui chơi, giải trí: là các hoạt động diễn ra tại nơi có nguồn TNDLNV

nhằm đáp ứng nhu cầu về vui chơi, giải trí của khách du lịch (hiện tại và tiềm năng)

+ Giá trị tâm linh: là sự bày tỏ niềm tin của một nhóm người vào các giá trị

nhất định trước đối tượng được thờ cúng

+ Giá trị sử dụng: “là sự hữu ích trong việc sử dụng chức năng vốn có hoặc chức năng đã được thích nghi.” [43, tr.8]

+ Giá trị kết nối: là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu cộng đồng, từ đó tăng

thêm sự hiểu biết lẫn nhau và tính kết nối giữa các cá nhân trong cộng đồng

+ Giá trị cảnh quan: là cảnh thiên nhiên (hoặc kết hợp với cảnh nhân tạo) với

những đặc điểm riêng về địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật,…

- Loại hình du lịch: là hình thức phân nhóm hoạt động du lịch theo một hoặc

Trang 31

một số tiêu chí nhất định, làm cơ sở xây dựng các SPDL tương ứng nhằm phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

Có nhiều tiêu chí phân chia loại hình du lịch (xem [108] và [69]) Trong đó, cách phân chia theo môi trường tài nguyên (tự nhiên và nhân văn) và theo mục đích chuyến đi phản ánh rõ hướng khai thác TNDLNV phục vụ mục đích du lịch hơn cả Một số loại hình du lịch phổ biến, gắn với khai thác TNDLNV gồm: du lịch tham quan, du lịch học tập và nghiên cứu, du lịch khám phá, du lịch tâm linh, du lịch mua sắm, du lịch vui chơi - giải trí, du lịch công vụ,…

- Sản phẩm du lịch: Theo Quốc hội Việt Nam (2017), “Sản phẩm du lịch là

tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.” [47] Với khái niệm này, nguồn TNDL được xem là tiền đề

cho việc hình thành SPDL

Sự khác nhau giữa loại hình du lịch và SPDL ở chỗ, loại hình du lịch đơn thuần là hình thức phân loại để khai thác các TNDL theo một số tiêu chí nhất định Ngược lại, SPDL là sự khai thác các TNDL với sự hỗ trợ hoặc kết hợp cùng các dịch vụ và phương tiện vật chất cần thiết khác Dưới đây là một số SPDL tương ứng với các loại hình du lịch và các loại TNDLNV (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa một số loại TNDLNV

với các loại hình và SPDL Stt Loại TNDLNV Loại hình du lịch Sản phẩm du lịch (*)

1 Di sản, DTLSVH Tham quan; Học tập, nghiên

cứu; Tâm linh;…

Du lịch văn hóa; Du lịch giáo dục; Du lịch thăm chiến trường xưa; Du lịch về nguồn

2 Công trình nhân tạo

3 Lễ hội Tham quan; Học tập, nghiên

cứu; Tâm linh; Công vụ; Vui chơi, giải trí

Du lịch văn hóa; Du lịch giáo dục; Du lịch lễ hội, tâm linh

4 Sự kiện đặc biệt Tham quan; Học tập, nghiên

cứu; Công vụ; Vui chơi, giải trí

Du lịch văn hóa; Du lịch giáo dục; Du lịch lễ hội, tâm linh;

Trang 32

Ghi chú: (*) Tên gọi theo Bộ VHTT&DL (2012) [5] Nguồn: Tác giả

- Điểm tài nguyên du lịch nhân văn: Là nơi có TNDLNV hấp dẫn, đang

được khai thác hoặc chưa được khai thác phục vụ mục đích du lịch

- Điểm du lịch: Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “Điểm du lịch là nơi

có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.” [45,

tr.7]

- Điểm du lịch văn hóa (còn gọi điểm du lịch nhân văn, điểm TNDLNV đang

khai thác): Là nơi có TNDLNV hấp dẫn, đang được khai thác (toàn bộ hoặc một

phần giá trị) phục vụ mục đích du lịch

- Tuyến du lịch

Theo Điểm 9, Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, tuyến

du lịch được định nghĩa “là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở

cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không” [45, tr.7]

1.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn

1.1.2.1 Quan điểm phân loại

Để việc phân loại TNDL phù hợp với thực tiễn khai thác tại mỗi địa phương, cần lưu ý một số nội dung sau: (1) Đảm bảo tính hệ thống và tính đồng cấp trong quá trình phân loại; (2) Đảm bảo tính thuận tiện cho việc quản lý, đánh giá và khai thác nguồn tài nguyên; (3) Phản ánh tốt quá trình vận động (đang được khai thác và chưa được khai thác) của nguồn tài nguyên; (4) Đảm bảo tính tương đồng giữa các loại tài nguyên với loại hình du lịch

1.1.2.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn

Có nhiều cách phân loại TNDLNV Điều này tùy thuộc vào mục đích phân loại và quan điểm tiếp cận của người nghiên cứu

Trang 33

Một số tác giả phân loại “các đối tượng gắn với dân tộc học” hoặc “phong tục

tập quán” đồng cấp với “lễ hội truyền thống”, “làng nghề truyền thống”, “ẩm thực truyền thống”, [9], [78] Theo cách tiếp cận văn hóa dân gian, P Saintyves (1936)

chia văn hóa cộng đồng thành 03 bộ phận: (1) Đời sống vật chất (món ăn dân tộc, trang phục, nhà ở, giao thông, các dạng khác nhau của lao động sản xuất); (2) Đời sống trí tuệ (gồm nghệ thuật và văn học dân gian); (3) Đời sống xã hội (quan hệ gia đình, các tổ chức xã hội) (P Saintyves, 1936, trích bởi Chu Xuân Diên, 2008, tr.39)

Như vậy, nếu xem “các đối tượng dân tộc học” hoặc “Phong tục tập quán, văn hóa”

là một trong những loại TNDLNV thì sẽ bao gồm loại TNDLNV như “lễ hội truyền

thống”, “làng nghề truyền thống”, “ẩm thực truyền thống” (tức thiếu đồng nhất về

phân chia khái niệm)

Nhằm khai thác giá trị du lịch của TNDLNV để PTDL, tác giả luận án dựa theo cách phân loại của Bộ VHTT&DL (2012) [5] Trong đó, có điều chỉnh thuật

ngữ “sự kiện đặc biệt” theo Swarbrooke (1996) [106] và sắp xếp lại thứ tự các loại TNDLNV cho phù hợp với quan điểm phân loại TNDLNV Như vậy, TNDLNV

được chia thành 07 loại (xem Hình 1.2) Ngoài ra, nhằm phục vụ đánh giá thực trạng khai thác TNDLNV, tác giả kết hợp cách phân loại được nêu ở Hình 1.2 với cách phân loại theo quá trình khai thác nguồn tài nguyên nêu trong Luật Du lịch

Việt Nam năm 2005 [45, tr.15] Theo đó, TNDLNV được phân thành TNDLNV

đang được khai thác và TNDLNV chưa được khai thác

Nguồn: Bộ VHTT&DL (2012) [5] và Swarbrooke (1996) [106]

Hình 1.2 Sơ đồ phân loại TNDLNV

Trang 34

Để quản lý và khai thác TNDL có hiệu quả, các loại TNDLNV theo sơ đồ trên được tiếp tục phân loại chi tiết hơn, cụ thể như sau:

- Di sản, di tích lịch sử - văn hóa

Ở nước ta, Luật Di sản văn hóa năm 2001 nêu rõ: “Di tích lịch sử - văn hóa là

những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [46, tr.33] Với khái

niệm này, các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được xem như một bộ phận của các DTLSVH Tuy nhiên, theo Điều 2, Nghị định quy định chi tiết Luật Di sản, các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được tách thành nhóm riêng, độc lập với nhóm DTLSVH [12]

Như vậy, có thể hiểu DTLSVH là công trình, địa điểm có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học và kiến trúc nghệ thuật Trong đó, các DTLS thiên về giá trị lịch sử; các di tích văn hóa thiên về giá trị văn hóa, khoa học và kiến trúc nghệ thuật DTLSVH được phân thành: (1) di tích khảo cổ; (2) DTLS; (3) di tích kiến trúc nghệ thuật; (4) danh lam thắng cảnh [12]

- Công trình nhân tạo (ngoài di sản, DTLSVH): là những công trình kiến trúc

có tính chất đặc sắc hoặc “công trình xây dựng có quy mô hoành tráng” [6, tr.61]

Chúng có sức hấp dẫn nhất định đối với khách du lịch Điển hình cho loại tài nguyên này là các bảo tàng, TTTM, một số CVVH, trung tâm tổ chức sự kiện,…

- Lễ hội

Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2011) cho rằng lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại [78] Để nhấn mạnh tính truyền thống của lễ hội, tác giả luận án cho rằng lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người, được truyền từ đời này sang đời khác nhằm tưởng nhớ, tôn vinh những giá

trị văn hóa được cộng đồng đó cho là tốt đẹp

Có thể phân thành 02 loại: (1) lễ hội truyền thống; (2) lễ hội hiện đại

- Sự kiện đặc biệt

Tác giả cho rằng sự kiện đặc biệt là hoạt động nhận thức mang tính thời sự (hoặc diễn ra trong những năm gần đây) của cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng

Trang 35

người, với sự quảng bá mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông Sự kiện có thể không lặp lại định kỳ về thời gian như lễ hội Một số sự kiện thường thấy như hội chợ, triển lãm, liên hoan phim, các giải thi đấu thể dục thể thao,…

Masterman, G (2004) căn cứ vào quy mô tổ chức đã chia sự kiện đặc biệt làm

hai loại: sự kiện nhỏ và sự kiện lớn Trong đó, có giá trị đối với du lịch là loại sự

kiện lớn [102] Việc xác định quy mô của sự kiện khá phức tạp, vì phải xác định phạm vi tổ chức, số người tham dự Mặt khác, cách phân loại này chưa phản ánh rõ chủ đề của các sự kiện trong hoạt động du lịch Do vậy, có thể phân các sự kiện đặc

biệt thành ba loại: (1) Sự kiện kinh tế - chính trị - xã hội: hội chợ thương mại, diễn đàn hợp tác kinh tế, triển lãm thành tựu KT-XH, lễ kỷ niệm,…; (2) Sự kiện văn hóa

- giáo dục - khoa học - kỹ thuật: các cuộc triển lãm nghệ thuật, giao lưu văn hóa,

hội nghị hội thảo, triển lãm khoa học - kỹ thuật,…; (3) Sự kiện thể thao - giải trí -

du lịch: các giải thi đấu thể dục thể thao mang tầm quốc gia, khu vực và châu lục;

liên hoan phim; liên hoan âm nhạc; ngày hội du lịch; liên hoan ẩm thực;…

- Làng nghề, phố nghề và sản phẩm nghề truyền thống

+ Về khái niệm làng nghề truyền thống: Thông tư hướng dẫn thực hiện một

số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành

nghề nông thôn giải thích rằng: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề

truyền thống được hình thành từ lâu đời” (xem thêm giải thích thuật ngữ về “nghề truyền thống” và “làng nghề” tại thông tư vừa nêu) [11] Một làng nghề được gọi là làng nghề du lịch khi có sự kết hợp giữa hoạt động sản xuất của làng nghề với hoạt

động du lịch

+ Về khái niệm phố nghề truyền thống: Tác giả cho rằng đó là khu vực địa lý

gắn với môi trường đô thị Trong đó, có hoạt động sản xuất và kinh doanh tồn tại lâu đời, các sản phẩm được sản xuất chủ yếu thủ công

+ Về sản phẩm nghề truyền thống: Có thể hiểu đây là những sản phẩm thủ

công hoặc bán thủ công, được tạo ra từ các làng nghề, phố nghề truyền thống

Trong luận án này, tác giả sử dụng cách phân loại ngành nghề theo nghị định

số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2006a), với 07 nhóm ngành nghề: (1) Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản; (2) Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan,

Trang 36

gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ; (3) Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; (4) Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; (5) Gây trồng

và kinh doanh sinh vật cảnh; (6) Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn; (7) Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn [10]

Trong các ngành nghề truyền thống theo cách phân loại trên, có giá trị nhất đối

với hoạt động du lịch là các ngành nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Vì các

sản phẩm được tạo ra thường có giá trị thẩm mỹ cao, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa dân tộc và thích hợp để khách du lịch có thể mua về sử dụng hoặc làm quà tặng

- Ẩm thực truyền thống

Tác giả nhìn nhận ẩm thực truyền thống là món ăn, đồ uống với cách thức chế biến tương đối ổn định theo thời gian, được truyền từ đời này sang đời khác gắn với

sự phát triển của cộng đồng người

Trong hoạt động du lịch, ẩm thực truyền thống cần được chú trọng khai thác vì ngoài phục vụ nhu cầu thiết yếu của khách du lịch, ẩm thực truyền thống còn phản ánh đặc trưng văn hóa của địa phương Theo Lê Thị Vân và cộng sự (2008), có hai khía cạnh cần quan tâm khi nghiên cứu về văn hóa ẩm thực, gồm [86]:

+ Tập quán ăn uống: liên quan đến nguyên liệu chế biến, gia vị, dụng cụ và

phương pháp chế biến, cơ cấu bữa ăn, cách ăn, vị trí và nghi lễ,…

+ Khẩu vị ăn uống: đi sâu vào nghiên cứu khẩu vị món ăn theo các vùng miền

và các xu thế biển đổi trong khẩu vị ăn uống

Trong hoạt động du lịch ở nước ta, cách phân loại theo vùng miền thích hợp hơn cả Vì cách phân loại này phản ánh sự khác biệt tương đối về văn hóa ẩm thực giữa các khu vực địa lý - yếu tố tạo sự hấp dẫn đối với khách du lịch Theo cách phân loại này, ẩm thực truyền thống được phân thành: (1) ẩm thực miền Bắc; (2) ẩm thực miền Trung; (3) ẩm thực miền Nam Tuy nhiên, cũng cần kết hợp cách phân loại này với văn hóa của các tộc người (với tư cách là chủ thể sáng tạo)

- Các đối tượng nhận thức khác

Bao gồm những loại TNDLNV phi vật thể không nằm trong các nhóm trên

Trang 37

Chúng không có giá trị nổi bật trong hoạt động du lịch nên không phân thành nhóm lớn (như nghệ thuật truyền thống, các phát minh, sáng kiến khoa học,…) Trong nhóm này, cần lưu ý giá trị du lịch của nghệ thuật truyền thống

Bùi Quang Thắng (2005) chia nghệ thuật truyền thống thành: văn học dân gian; âm nhạc dân gian; và diễn xướng dân gian [68] Cách phân loại này phù hợp với công tác bảo tồn hơn là hoạt động khai thác TNDLNV phục vụ du lịch Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách phân loại của Lê Thị Vân và cộng sự

[86] Theo đó, các loại hình nghệ thuật truyền thống được chia thành ba loại: (1) Âm

nhạc truyền thống: hát giao duyên, dân ca, quan họ, ca trù, đờn ca tài tử,…; (2) Nghệ thuật sân khấu truyền thống: kịch truyền thống, nghệ thuật chèo, nghệ thuật

tuồng, cải lương,…; (3) Mỹ thuật truyền thống: tiêu biểu là tranh dân gian

Cách phân loại trên chỉ mang tính tương đối Việc quyết định xếp chúng vào nhóm nào dựa vào mục đích phân loại và đánh giá Một số trường hợp dựa vào

“tính trội” về giá trị của loại tài nguyên đó trong hoạt động du lịch Đôi khi, cách phân loại cũng mang tính chủ quan của người nghiên cứu

Để xác định giá trị của TNDL trong hoạt động du lịch, nên kết hợp cách phân loại TNDLNV nêu trên với cách phân loại nguồn tài nguyên theo cấp xếp hạng theo hai nhóm danh hiệu [25, tr.33]:

Danh hiệu thế giới (tương ứng cấp xếp hạng quốc tế), gồm: (1) Tài nguyên

được công nhận là di sản thế giới (di sản văn hóa và di sản hỗn hợp); và (2) Tài nguyên nhận các danh hiệu khác (di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại,

di sản tư liệu thế giới)

Danh hiệu trong nước, gồm các cấp xếp hạng: (1) Cấp quốc gia đặc biệt; (2)

Cấp quốc gia, (3) Cấp tỉnh/thành phố

Trang 38

1.1.3 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn

TNDLNV có những đặc điểm chung của nguồn TNDL như tính đa dạng, tính không bị suy giảm trong quá trình khai thác (nếu được bảo vệ tốt), mang giá trị hữu hình và vô hình, tính biến đổi và có thể tái tạo, Bên cạnh đó, TNDLNV có những đặc điểm riêng Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Zhang, Y [130], Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự [78] [79], Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long [89] và Nguyễn Hà Quỳnh Giao [25], tác giả luận án cho rằng TNDLNV có các đặc điểm tiêu biểu sau:

- Tập trung ở các điểm quần cư: Vốn do con người tạo ra nên các loại

TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư Cũng nhờ vậy, nguồn TNDLNV thường mang tính tập trung cao độ và dễ tiếp cận (đặc biệt là ở các điểm quần cư thành thị) Việc khai thác nguồn tài nguyên này cũng thuận lợi hơn do tận dụng được những lợi thế sẵn có về CSHT và CSVC-KT phục vụ du lịch

- Mang tính nhận thức nhiều hơn tính giải trí và nghỉ dưỡng: TNDLNV ẩn

chứa nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc - nghệ thuật, khoa học - giáo dục, tâm linh, Do vậy, chúng mang tính nhận thức nhiều hơn tính giải trí Thời gian diễn ra hoạt động tham quan thường tương đối ngắn song khách du lịch có thể tìm hiểu được nhiều giá trị khác nhau Khách du lịch đến tham quan các điểm du lịch văn hóa cũng thường có trình độ nhận thức và yêu cầu cao hơn khách du lịch thuần túy

- Dễ hư hại và thay đổi theo thời gian song có thể nhanh chóng tái tạo, phục hồi: Các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt khiến nguồn TNDLNV vật thể (như các

đình, chùa) bị hư hỏng, xuống cấp một cách nhanh chóng Với tư cách là chủ thể sáng tạo, sự thay đổi trong đời sống - văn hóa của con người cũng dễ dẫn đến sự thay đổi TNDLNV Không ít các lễ hội truyền thống và các làng nghề truyền thống thay đổi do quá trình đô thị hóa đã minh chứng cho điều này Đối với một số loại hình nghệ thuật hoặc nghề truyền thống, những nghệ nhân lớn tuổi không có người

để truyền lại nghề cũng đe dọa sự tồn tại của nguồn TNDLNV này Bên cạnh đó, xu thế hội nhập quốc tế đã góp phần hình thành các yếu tố mới trong TNDLNV Ví như sự du nhập một số lễ hội và sự kiện đương đại vào nước ta trong những thập niên gần đây

- Ít chịu tác động của tính mùa vụ: Việc khai thác TNDLNV ít chịu tác động

Trang 39

của các yếu tố tự nhiên theo mùa Do vậy, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan thường xuyên của khách du lịch và hạn chế lãng phí về các nguồn lực trong quá trình khai thác Đây là lợi thế nổi trội so với nguồn TNDLTN Tuy nhiên, việc khai thác thường xuyên và sự quá tải về khách du lịch sẽ khiến nhiều điểm du lịch văn hóa không có điều kiện để phục hồi, ảnh hưởng đến khả năng khai thác lâu dài Đây cũng là điểm cần lưu ý trong quá trình khai thác

Cùng với các đặc điểm chung nêu trên, trong từng loại TNDLNV có những trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn, đa số TNDLNV phân bố gần các điểm dân cư, song một số danh lam thắng cảnh phân bố ở những nơi hẻo lánh Một số loại TNDLNV ít chịu tác động của yếu tố mùa vụ trên phương diện tự nhiên song tính mùa vụ do con người định ra khá sâu sắc (như các lễ hội)

Như vậy, các đặc điểm nêu trên ảnh hưởng đến khai thác TNDLNV để PTDL ở các khía cạnh: tính độc đáo và hấp dẫn của nội dung tham quan; thời gian khai thác; tính liên kết giữa các điểm tài nguyên trong quá trình khai thác; tính bền vững trong quá trình khai thác;…

1.1.4 Nguyên tắc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn

Dưới đây là một số nguyên tắc cần quan tâm trong khai thác nguồn TNDLNV phục vụ PTDL:

- Nguyên tắc hiệu quả tổng hợp Việc khai thác nguồn TNDLNV cần lưu ý đến hiệu quả trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường; Tận dụng tối đa sự kết hợp khai thác giá trị của nhiều loại TNDLNV trong cùng một điểm du lịch

- Nguyên tắc gắn khai thác với bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên

- Nguyên tắc ưu tiên Cần ưu tiên khai thác các TNDLNV có giá trị cao, có lợi thế so sánh với lãnh thổ khác, gần nơi lưu trú của khách và các điều kiện hỗ trợ khai thác khác

- Nguyên tắc khai thác theo từng giai đoạn Do nguồn lực của mỗi địa phương có hạn nên cần ưu tiên khai thác nguồn tài nguyên theo các giai đoạn phát triển khác nhau của lãnh thổ

- Gắn với lợi ích của cộng đồng cũng như các lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức và cá nhân kinh doanh du lịch trong quá trình khai thác

Trang 40

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên du lịch nhân văn

1.1.5.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và khai thác nguồn TNDLNV

- Về mặt tự nhiên, vị trí địa lý ảnh hưởng đến các thành phần của tự nhiên Từ

đó, nó chi phối sự hình thành và liên kết trong khai thác giữa các điểm TNDLTN với các điểm TNDLNV

- Về mặt KT-XH, lãnh thổ có vị trí là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa và giáo dục của một quốc gia thường là nơi hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa Điều này góp phần tạo nên sự đa dạng về các loại TNDLNV cũng như đa dạng về các giá trị du lịch Nơi có vị trí là đầu mối giao thông của vùng và quốc gia rất thuận lợi để khách du lịch tiếp cận các điểm du lịch văn hóa

1.1.5.2 Đặc điểm tự nhiên

Các đặc điểm về địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ động - thực vật, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến đời sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại, cách thức sản xuất) và đời sống tinh thần (tổ chức xã hội, tục lệ, văn học, nghệ thuật, giải trí,…) của dân cư Đây là tiền đề hình thành TNDLNV và là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn TNDLNV phục vụ mục đích du lịch

Sự đa dạng về địa hình tạo nên sự phân hoá của cảnh quan, góp phần tạo nên tính hấp dẫn trong khai thác các điểm du lịch Tuy nhiên, đó cũng có thể là trở ngại trong việc tiếp cận của khách du lịch

Sự phân mùa trong khí hậu góp phần tạo nên tính mùa trong hoạt động du lịch

Từ đó, nó ảnh hưởng đến quá trình khai thác nguồn TNDLNV Ngoài ra, những hiện tượng thời tiết cực đoan cũng gây trở ngại cho hoạt động du lịch

Hệ thống thủy văn góp phần làm tăng tính hấp dẫn về cảnh quan tại các điểm TNDLNV Tuy nhiên, nó cũng gây trở ngại cho việc tiếp cận điểm du lịch khi mạng lưới sông ngòi chằng chịt nhưng thiếu bến thuyền

Sự đa dạng và phong phú của hệ động - thực vật góp phần làm tăng giá trị cảnh quan tại các điểm TNDLNV

Như vậy, đặc điểm tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự đa

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w