Trong môi trường CICU thay đổi như vậy, điều quan trọng hơn là các bác sĩ tim mạch có thể quản lý các khía cạnh của chăm sóc quan trọng chung của bệnh nhân của họ, bao gồm thông khí áp l
Trang 1Thông khí áp lực dương trong hồi sức
tim mạch
Các đơn vị chăm sóc tích cực về tim hiện đại (CICU) cung cấp chế độ chăm
sóc cho một nhóm bệnh nhân già và ngày càng phức tạp Sự phức tạp
bệnh lý y khoa của dân số này một phần do sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân
bị suy hô hấp cần thở máy áp lực dương không xâm lấn hoặc xâm lấn
(PPV) PPV thường đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý
bệnh nhân bị phù phổi, sốc tim hoặc ngừng tim và những người trải qua
hỗ trợ tuần hoàn cơ học PPV không xâm lấn, khi nó được áp dụng phù
hợp cho bệnh nhân được chọn lọc, có thể làm giảm nhu cầu sử dụng PPV
cơ học xâm lấn và cải thiện khả năng sống còn PPV xâm lấn có thể là
một cứu cánh, nhưng có cả tương tác thuận lợi và bất lợi về sinh lý giữa
thất trái và phải và có nguy cơ xuất hiện biến chứng ảnh hưởng đến tỷ
lệ tử vong của CICU Triển khai PPV hiệu quả tại các đơn vị hồi sức tim
đòi hỏi sự hiểu biết về sinh lý bệnh tim và phổi tiềm ẩn Các bác sĩ tim
mạch thực hành trong CICU nên thành thạo thuần thục các chỉ định, lựa
chọn phù hợp, các cơ chế tương tác tim phổi tiềm năng và các biến chứng
của PPV, nếu không, sẽ làm cho bệnh nhân chết nhanh hơn
KEY WORDS: đơn vị chăm sóc mạch vành tích cực, suy tim, thở máy, thở
không xâm lấn, phù phổi, suy hô hấp
Đơn vị chăm sóc tim mạch tích cực (CICU) được phát triển từ một
đơn vị tập trung vào theo dõi rối loạn nhịp tim và can thiệp mạch vành
cấp đến một môi trường phức tạp chăm sóc bệnh nhân mắc các bệnh
tim mạch với rối loạn chức năng đa cơ quan và bệnh lý nặng đồng mắc
Trang 2không do bệnh tim (1,2) Những lý do phổ biến trước đây để nhập CICU,
bao gồm nhồi máu cơ tim cấp tính (MI), đã giảm dần trong tỷ lệ xuất
hiện trong hồi sức tim, trong khi các chẩn đoán chính không do tim, như
nhiễm trùng huyết, suy thận cấp và suy hô hấp, đã tăng (3) Một phân
tích dữ liệu của Medicare từ năm 2003 đến 2013 cho thấy một tỷ lệ đáng
kể bệnh nhân nhập CICU ở Hoa Kỳ có chẩn đoán chính không do tim,
chủ yếu do nhiễm trùng và bệnh hô hấp (4) Trong môi trường CICU thay
đổi như vậy, điều quan trọng hơn là các bác sĩ tim mạch có thể quản lý
các khía cạnh của chăm sóc quan trọng chung của bệnh nhân của họ,
bao gồm thông khí áp lực dương không xâm lấn (NI-PPV) và thở máy áp
lực dương xâm lấn (IM-PPV) (3-5) Điều trị bằng thông khí áp lực dương
(PPV) đã tăng lên gần 15% số nhập viện trong nhóm dân số Medicare
năm 2013 (4,5)
Các bác sĩ tim mạch chịu trách nhiệm chính cho bệnh nhân trong
CICU nên có kiến thức vững chắc về các ứng dụng dựa trên bằng chứng
của NI- và IM-PPV và các tương tác tim phổi của chúng, có thể điều chỉnh
các chiến lược thông khí cho từng bệnh nhân mắc bệnh tim mạch Hơn
nữa, bất kỳ bác sĩ tim mạch nào chăm sóc bệnh nhân trong CICU nên có
kiến thức thực hành về các can thiệp này Trong nửa đầu của tổng quan
này, chúng tôi đề cập đến các khái niệm cơ bản về cơ học phổi và PPV;
trong nửa sau, chúng tôi thảo luận về các ứng dụng lâm sàng cụ thể của
các khái niệm này trong CICU Trong mỗi phần, chúng tôi đã nhấn mạnh
các nguyên tắc chính có liên quan rộng rãi và xác định các yếu tố tập
trung vào lợi ích của chăm sóc nâng cao Khi có thể, chúng tôi đã nhắm
đến việc cung cấp một khung hoặc lời khuyên thực tế có thể hữu ích cho
bác sĩ lâm sàng dựa trên kinh nghiệm của nhóm viết và trên dữ liệu được
công bố Với các nghiên cứu chất lượng mạnh được thiết kế đặc biệt để
đánh giá PPV trong CICU, những điểm thực hành này không nhằm mục
đích hướng dẫn thực hành lâm sàng chính thức (chỉ hy vọng người đọc
làm CICU thay đổi quan điểm chút chút-ND)
Trang 3NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CƠ HỌC PHỔI VÀ SINH LÝ TIM-PHỔI
Hệ thống tim mạch và phổi hoạt động trong một mối quan hệ chặt
chẽ (khẩu quyết tâm pháp: "Một cái bơm hoạt động trong một cái
bơm"-ND) và những thay đổi trong một hệ thống thường ảnh hưởng
đến hệ thống khác (6,7) Do đó, những điều cơ bản của cơ học phổi
(không chỉ là kiến thức nền cho bác sĩ ICU, hô hấp mà của cả các bác sĩ
làm hay bị bắt làm CICU-ND) có liên quan đến tất cả các nhà lâm sàng
thực hành hồi sức tim mạch chăm sóc bệnh nhân trải qua PPV Các khái
niệm chính được liệt kê trong Bảng 1
ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC THÔNG SỐ CƠ HỌC PHỔI
Áp suất trong khoang màng phổi (Ppleural), còn được gọi là áp lực
trong lồng ngực, ảnh hưởng đến sinh lý tim mạch Khi nghỉ, dung tích
cặn chức năng được xác định bởi 2 lực đối lập: thành ngực có xu hướng
kéo màng phổi nhô ra ngoài và các đơn vị nhu mô phế nang có xu hướng
co rúm lại Ở trạng thái nghỉ, Ppleural hơi âm (Hình 1A) Trong kỳ hít vào
tự phát, sự co cơ của cơ hoành và cơ liên sườn làm cho Ppleural trở nên
âm hơn, gây ra các hiệu ứng huyết động sau đó (Hình 1B) Trong giai
đoạn suy hô hấp, các cơ hô hấp phụ trợ khác (ví dụ, cơ thang, ức đòn
chủm…) được huy động Thì thở ra thụ động xảy ra thông qua phế nang
và thành ngực xẹp lại, làm cho Ppleural bớt âm hơn (8) Ở những bệnh
nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn, thở ra cũng có thể cần một hoạt động
gắng sức, sử dụng cơ bụng và cơ liên sườn trong thì thở ra cần dùng lực
Bảng 1 Sinh lý phổi cơ bản và tương tác tim phổi
1 Pmàng phổi được xác định bởi sự cân bằng của xu hướng các đơn vị
phế nang xẹp xuống (độ co giãn đàn hồi) so với thành ngực
hướng ra ngoài và hoạt động của cơ hô hấp
2 Những thay đổi trong Pmàng phổi thường ảnh hưởng đến dòng chảy
vào RV và dòng chảy ra LV, trong khi những thay đổi về áp lực
Trang 4xuyên phổi (Pphế nang - Pmàng phổi) ảnh hưởng đến dòng chảy ra RV và
dòng chảy vào LV
3 Pmàng phổi âm: a) làm tăng hồi lưu tĩnh mạch và tiền tải; b) giảm
hậu tải RV; và c) tăng hậu tải LV
4 Thông khí áp lực dương làm tăng Pmàng phổi và a) giảm tiền tải; b)
tăng hậu tải RV; và c) giảm hậu tải LV
5 Những thay đổi lớn trong Pmàng phổi (ví dụ, suy hô hấp) có thể làm
tăng đáng kể hậu tải LV
PEEP ảnh hưởng lên huyết động của thất phải và trái
1 Tổng PEEP là tổng của PEEP ngoại sinh (được tạo ra bởi máy thở)
và PEEP nội tại hoặc tự động (do thở ra không hoàn toàn)
2 PEEP ngoại sinh thường được sử dụng trong CICU vì các tác dụng
có lợi của nó đối với quá trình oxy hóa, huy động phế nang, sự
thông thoáng của đường thở và tiền tải
3 PEEP: a) làm tăng sức cản mạch máu phổi; b) giảm tiền tải RV và
LV; c) giảm hậu tải LV; và d) làm giảm compliance LV thông qua
sự tương tác 2 thất
4 Ảnh hưởng của PEEP đến cung lượng tim thay đổi tùy theo sự
phụ thuộc tiền tải và sức co bóp và compliance LV
Ảnh hưởng của áp lực đường thở lên huyết động thông qua tác động
của nó nên áp suất phế nang và màng phổi
1 Áp lực đường thở được xác định bởi lưu lượng dòng khí, sức cản
đường thở, thể tích thông khí, compliance của thành ngực và nhu
mô phổi và tổng áp lực dương cuối thì thở ra
2 Thông khí áp lực dương phát huy tác dụng của nó đối với huyết
động học tim mạch chủ yếu thông qua tác động của nó đối với
áp suất phế nang và màng phổi
3 Trong phổi giảm compliance, những thay đổi về áp lực bên trong
lồng ngực sẽ có tác dụng rõ rệt hơn đối với huyết động học
Compliance hô hấp và kháng trở đường thở là các thành phần quan
trọng của cơ học phổi của nhịp thở tự nhiên và PPV Tổng complicane
Trang 5của hệ hô hấp bao gồm nhu mô phổi và thành ngực Compliance của
phổi được định nghĩa là sự thay đổi về thể tích so với sự thay đổi áp suất
(DV / DP) trong phế nang Compliance của thành ngực bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố ngoài phổi, bao gồm tình trạng béo phì, sự biến dạng lồng
ngực và áp lực trong ổ bụng, cũng như, hiếm khi, thuốc (ví dụ, co cứng
thành ngực do fentanyl gây ra) (9) Áp lực bình nguyên (Pplat), có liên
quan ở bệnh nhân thở PPV, hay gọi đúng hơn đó áp suất trong lòng phế
nang (Palv) ở cuối thì hít vào và là Palv tối đa trong chu kỳ hô hấp Ở
những bệnh nhân thở máy, Pplat được đo trong thời gian tạm ngưng
cuối thì thở vào (lưu lượng bằng 0) và có thể được sử dụng để ước tính
tổng compliance (thể tích / [Pplat - áp lực dương cuối thì thở ra]) Sức cản
của đường thở là sự thay đổi áp lực đối với dòng khí như được trình bày
trong định luật Ohm, (lực cản = DP / lưu lượng dòng) Sức cản đường thở
có liên quan đến đường kính của đường thở và có thể bị ảnh hưởng bởi
co thắt phế quản, bệnh lý khí quản hoặc đường hô hấp trên, các nút chất
nhầy đàm hoặc tái cấu trúc đường thở Tăng sức cản đường thở cũng sẽ
làm giảm compliance phổi động (Hình 2)
Các thông số PPV bổ sung ảnh hưởng đến tương tác tim phổi đòi
hỏi phải xác định Đầu tiên, áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP) là áp suất
trên áp suất khí quyển được duy trì trong suốt chu kỳ hô hấp để ngăn
chặn sự sụp đổ phế nang cuối thì thở ra Thứ hai, áp lực đường thở trung
bình là áp suất trung bình trong toàn bộ chu kỳ thông khí (Hình 2) Thứ
ba, áp lực đỉnh đường phản ánh áp lực cần thiết để vượt qua sức cản của
đường thở và tạo ra thể tích thông khí (Vt) Khi Vt và compliance không
đổi (ví dụ, trong quá trình thông khí kiểm soát thể tích), áp suất đỉnh
đường thở tương quan với sức cản đường thở Tuy nhiên, nếu
compliance của phổi bị giảm, áp lực đỉnh sẽ tăng lên
Đo Pplat bằng cách thực hiện tạm ngưng cuối thì thở ra có thể giúp
phân biệt giữa những yếu tố này góp phần vào sự hình thành áp lực
đường thở (Hình 2) Pplat sẽ cao hơn trong phổi giảm compliance Thông
Trang 6số thứ tư là áp lực xuyên phổi, được định nghĩa là sự khác biệt giữa Palv
và áp lực màng phổi (Palv - Ppleural), ảnh hưởng đến huyết động học ở
tâm thất trái (LV) và tâm thất phải (RV) Do PPV làm tăng cả Palv và
Ppleural, nên có thể khó ước tính chính xác áp lực xuyên phổi Đối với
các chăm sóc nâng cao, một bóng thực quản có thể được sử dụng để ước
tính Ppleural và để tính áp lực xuyên phổi nếu có chỉ định (10)
CƠ HỌC PHỔI TRONG PPV
PPV tạo ra độ chênh áp suất giữa máy thở và bệnh nhân để không
khí di chuyển vào và ra khỏi phổi như được mô tả bởi phương trình
chuyển động:
Paw - Pmuscle = F R + V / C + PEEPT
Trong đó Paw là áp lực đường thở, Pmuscle là áp lực do các cơ bệnh
nhân tạo ra, F là dòng chảy, R là sức cản, V là thể tích, C là compliance
và PEEPT là tổng áp lực dương cuối thì thở ra (11) PEEPT là tổng số PEEP
ngoại sinh (được tạo ra bởi máy thở) và PEEP nội tại hoặc tự động (do
thở ra không hoàn toàn) Phương trình này phản ánh một cách toán học
rằng áp suất cực đại (Ppeak) trong hệ thống là tổng áp lực dương cuối
thì thở ra (PEEPT), áp suất được tạo ra bởi sự biến đổi của phế nang trong
thì thở vào (V/C) và áp suất được tạo ra bởi sức cản trong đường thở (F
R) Áp lực trong phế nang (Palv) được phản ánh bởi V / C + PEEPT
PEEP ngoại sinh thường được sử dụng trong CICU do tác dụng có
lợi đối với quá trình oxy hóa (do mối quan hệ tuyến tính giữa PEEP và áp
suất riêng phần của oxy), huy động phế nang, thông thoáng đường thở
và tiền tải (12,13) Mức PEEP thấp ( < 5 cmH2O) thường được sử dụng ở
những bệnh nhân được đặt nội khí quản để duy trì sự thông thoáng
đường thở và tránh tình trạng xẹp phổi Mặc dù không có PEEP tối ưu
được thiết lập, một phạm vi với mức PEEP cao hơn có thể hữu ích cho
một số tình trạng, bao gồm suy tim (HF) và phù phổi không do tim mạch
Trang 7(13,14) PEEP thường an toàn khi được sử dụng và theo dõi đúng cách
cùng với Ppeak, Pplat và Vt (13)
Hình 1 Ảnh hưởng của áp lực màng phổi lên huyết động khi thở tự nhiên
A TRẠNG THÁI NGHỈ: các cơ liên sườn và cơ hoành thư giãn
P màng phổi
âm nhẹ
B HÍT VÀO TỰ NHIÊN: các cơ liên sườn và cơ hoành co
P màng phổi âm xung quanh thất trái giảm sâu hơn làm tăng hậu tải thất trái
Giảm hậu tải RV do giảm P màng phổi Giảm P xuyên phổi – giảm PVR
Cơ liên sườn co
Cơ hoành co P màng phổi âm hơn
Tăng chênh áp hồi lưu
TM RV-ngoài LN
Cơ liên
sườn co
Tóm tắt ảnh hưởng: Cơ hô hấp co → Pmàng phổi âm hơn → tăng hồi lưu
tĩnh mạch, giảm hậu tải thất phải, tăng hậu tải thất trái
Trang 8Hình 2 Đường cong áp lực theo thời gian trong thông khí kiểm soát thể tích
Áp lực đỉnh hít vào (Ppeak)
Plateau (giữ hít vào)
Áp lực đẩy
AUC/thời gian →
P trung bình đường thở
Áp lực trung bình thể hiện bằng :
Thở ra Hít vào
Thời gian
Thời gian
Cstat: compliane tĩnh; Cdyn: compliance động; Ppeak: áp lực đỉnh đường
thở; Pplat: áp lực bình nguyên cuối thì hít vào; PEEP: áp lực dương
đường thở cuối thì thở ra; TV: thể tích thông khí
Trang 9Hình 3 Ảnh hưởng của thông khí áp lực dương lên huyết động
A THÔNG KHÍ ÁP LỰC DƯƠNG: P đường thở, P màng phổi, P phế
nang trở nên dương
Áp lực dương
Máy thở
Giảm hậu tải LV do đáp ứng áp cảm thụ quan từ tăng P trong ĐMC ban đầu
P màng phổi dương hơn do P đường thở
và phế nang dương hơn
Tăng hậu tải RV
do đè xẹp mao
mạch phổi và
tăng PVR
P màng phổi dương đè ép
RV và LV
Tóm tắt tác động: Paw dương → Palv dương → P màng phổi dương → đè xẹp mạch máu
phổi và RV→ giảm hồi lưu tĩnh mạch, tăng hậu tải RV, giảm hậu tải LV qua phản xạ áp cảm
B ÁP LỰC XUYÊN PHỔI: P phế nang – P màng phổi
P xuyên phổi
Trang 10Trong PPV, thở ra là một quá trình thụ động, trong đó Palv trở
thành áp lực đẩy và giảm dần từ mức tối đa (Pplat) xuống áp suất cuối
kì thở ra (PEEPT), bởi các thành phần bên ngoài và bên trong được xác
định trong phần trước đó (Hình 2) Trong giai đoạn này, Palv > Paw, được
xác định bởi PEEP ngoại sinh do bác sĩ lâm sàng cài đặt Là một khái niệm
tiên tiến, lượng không khí bị giữ lại trong phổi khi kết thúc thở ra phụ
thuộc vào tốc độ không khí thoát ra khỏi phổi nhanh như thế nào, do
đó được xác định bởi thời gian thở ra vốn bị ảnh hưởng bởi sức đề kháng
Hình 3 (Tiếp tục)
C ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI ÁP SUẤT MÀNG PHỔI
Trong lúc thở tự nhiên
Giảm áp suất màng phổi
Áp suất trong buồng thất âm hơn so với
hệ thống
Tăng hậu tải
RV
Đè xẹp mạch phổi
Tăng PVR Tăng hậu tải RV
Tăng P màng phổi
Hoạt hóa áp cảm
Phản xạ dãn mạch – giảm SVR
Trang 11và compliance Bệnh nhân có kháng trở cao (ví dụ, bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính [COPD]) cần thời gian thở ra lâu hơn và dễ bị nội sinh hóa PEEP,
đặc biệt ở những người có thể tích phổi cao (ví dụ, khí phế thũng)
Khi xem xét việc quản lý PPV ở bệnh nhân tim, như được mô tả
trong các phần tiếp theo, một khái niệm cơ bản là đặc điểm đường thở
và phổi của bệnh nhân (sức đề kháng và sự compliance) xác định mối
quan hệ giữa các thông số của bác sĩ cài đặt và kết quả đạt được về thể
tích, áp lực và lưu lượng dòng khí
PPV VÀ SINH LÝ THẤT TRÁI
PPV phát huy tác dụng của nó đối với huyết động học tim mạch
chủ yếu thông qua tác dụng của nó đối với Palv và Ppleural Cả Ppeak và
áp lực dương cuối thì thở ra (được xác định bằng PEEP) đều ảnh hưởng
Tương tác hai thất
Thất Phải dãn Tim bình thường
Thay đổi hình thể RV do tăng RVEDP
(áp lực RV cuối tâm trương) như
thiếu máu cục bộ RV cấp, thuyên tắc
phổi
Giới hạn thành tự do
RV phình ra do TD màng tim, chèn ép tim, viêm co thắt…
Vách liên thất bị
đè dẹp do tăng áp lực hay thể tích RV
RV dãn
LV bị đè xẹp
Trang 12đến huyết động học (Hình 3) Áp lực xuyên phổi cũng ảnh hưởng đến RV
và LV Nói chung, những thay đổi áp lực trong khoang màng phổi ảnh
hưởng đến dòng chảy vào RV và chảy ra từ LV, trong khi đó thay đổi áp
lực xuyên phổi (Palv-Ppleural) ảnh hưởng dòng chảy ra RV và chảy vào
LV bằng cách ảnh hưởng đến mạch máu phổi Do đó, khi Ppleural giảm,
áp suất tâm thu LV trở nên âm hơn so với tuần hoàn hệ thống làm tăng
hậu tải LV (Hình 3) (15)
Các nghiên cứu thử nghiệm và in vivo đã chứng minh sự tương tác
giữa PPV và tiền tải và hậu tải của LV (Bảng 2) (6,7,16) Trong PPV, sức
căng thành LV không đổi do sự gia tăng tương đương của Ppleural, áp
lực động mạch chủ và áp lực LV, tạo ra độ chênh dòng chảy giữa ngực và
các cơ quan ngoại vi (hiệu ứng giống như bơm bóng động mạch chủ)
Khi Ppleural tăng, ban đầu áp lực động mạch chủ tăng lên, kích hoạt quá
trình tự động hóa bằng các baroreceptor ngoại biên làm giảm sức cản
mạch máu hệ thống và hậu tải LV (17), cải thiện cung lượng tim (CO)
(Hình 3) (14) Ngoài ra, ở những bệnh nhân có LV giãn và áp lực đổ đầy
cao, trong đó có trào ngược (hở) van hai lá chức năng (MR) làm suy yếu
CO, PEEP có thể cải thiện đường kính tâm thất và MR (18,19) Ngoài ra,
thông qua sự tương tác của hai thất lẫn nhau, ảnh hưởng của PPV trên
RV, cuối cùng có thể ảnh hưởng đến hiệu suất LV Một RV bị quá tải và
giãn nở có thể làm dịch chuyển vách liên thất về phía LV, làm giảm tiền
tải LV và thể tích nhát bóp (Hình 2) (20,21) Những ảnh hưởng của PEEP
đối với huyết động học LV và RV sẽ xác định ảnh hưởng liên hoàn đối với
CO
PPV VÀ ẢNH HƯỞNG SINH LÝ LÊN THẤT PHẢI
PPV có thể có tác dụng quan trọng đối với tiền tải, hậu tải RV và
tưới máu cơ tim Trong quá trình thở tự nhiên, Ppleural âm được tạo ra
trong khi hít vào làm tăng hồi lưu tĩnh mạch, tiền tải và làm đầy RV (22)
Do độ chênh áp lực giữa tuần hoàn tĩnh mạch và RV thường chỉ khoảng
4 đến 8 mm Hg (23), những thay đổi nhỏ trong Ppleural có thể tạo ra
Trang 13hiệu ứng tương đối lớn đối với hồi lưu tĩnh mạch và CO (22,23) Khi
Ppleural giảm, độ chênh tĩnh mạch - RV tăng và tiền tải tăng
Ngược lại, trong PPV, máy thở tạo ra áp lực dương, được truyền
vào Palv và Ppleural, dẫn đến áp lực xuyên phổi dương hơn
(Palv-Ppleural) Cả PEEP và Paw trung bình có ảnh hưởng trực tiếp đến các
điều kiện tải của tim (Minh họa trung tâm) Trong PPV xâm lấn và không
xâm lấn, tăng PEEP và Ppleural làm giảm hồi lưu tĩnh mạch và do đó
giảm tiền tải RV (Hình 3) (15) Đồng thời, PPV tăng hậu tải RV sau khi
tăng áp lực xuyên phổi gây xẹp vi mạch và tăng sức cản mạch máu phổi
(PVR) Tương tự, việc sử dụng PEEP có thể tăng hậu tải RV Thông qua
các tác động của nó lên thể tích phổi, PEEP có hiệu ứng hình chữ U trên
PVR Bằng cách làm giảm tình trạng xẹp phổi, PEEP có thể mở phế nang,
Thất phải Thất trái
Hậu tải (áp suất ĐMC) Hậu tải (P trung bình động mạch phổi
Tiền tải (áp suất nhĩ phải) Tiền tải (áp suất nhĩ trái)
Trang 14tăng cường thể tích phổi và thuận lợi cho các mạch máu, giảm PVR và
cải thiện lưu lượng máu (24) Tuy nhiên, PEEP cao có thể gây ra tình trạng
quá tải phế nang nén các mạch ngoài bên ngoài xung quanh, làm tăng
PVR và dẫn đến sự chuyển hướng lưu lượng máu đến các khu vực thông
khí kém, làm tăng sự không phù hợp của V / Q tạo tình trạng thiếu oxy
và tăng CO2 máu (Hình 4) (25)
Những thay đổi trong Ppleural phản ánh những thay đổi trong Palv
do PEEP phụ thuộc nhiều vào compliance phế nang Ví dụ, ở những bệnh
nhân bị phù phổi do tim (CPE), compliance phổi bị giảm do phù kẽ và
phế nang chứa đầy dịch Khi PEEP giảm tiền tải và đồng thời tạo ra áp
suất thủy tĩnh để đẩy chất lỏng ra khỏi phế nang, compliance và trao đổi
khí được cải thiện, và do đó tạo ra PVR Tuy nhiên, ở những bệnh nhân
phổi bị giảm compliance do các nguyên nhân khác (ví dụ, hội chứng suy
hô hấp cấp tính [ARDS]), tác dụng của PEEP đối với Ppleural và tiền tải
không rõ rệt Ở những bệnh nhân như vậy, ngay cả một lượng nhỏ PEEP
với những thay đổi nhỏ trong Palv có thể làm tăng hậu tải RV một cách
không cân xứng bằng cách làm xấu đi PVR và làm suy yếu lưu lượng máu
phổi (26) Bệnh nhân rối loạn chức năng RV đặc biệt nhạy cảm với tác
dụng phụ này trên PVR (Minh họa trung tâm)
Sự tưới máu cơ tim của RV phụ thuộc vào Ppleural, áp lực RV và áp
lực động mạch chủ, do đó bị ảnh hưởng bởi PPV Trong PPV ở bệnh nhân
bình thường, áp lực động mạch chủ vẫn cao hơn áp lực Ppleural và RV,
duy trì tưới máu cơ tim Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có áp lực động
mạch chủ thấp (ví dụ: sốc), tưới máu RV có thể bị tổn thương do tăng
Ppleural từ PEEP cao hoặc Paw cao (27) Khối lượng cơ tim hạn chế của
thành RV làm cho nó nhạy cảm hơn với những thay đổi về hậu tải so với
thay đổi trong tiền tải (17), trong khi điều ngược lại là đúng với LV (Hình
3) Do đó, cân nhắc từng tác dụng phụ tiềm ẩn này, PEEP nên được sử
dụng thận trọng ở những bệnh nhân bị suy RV (17) Hơn nữa, ở những
bệnh nhân bị rối loạn chức năng RV thứ phát sau bệnh phổi tắc nghẽn
Trang 15(ví dụ, COPD), việc theo dõi và ngăn ngừa PEEP nội sinh đặc biệt quan
trọng để tránh gây mất ổn định huyết động và để ngăn ngừa chấn
thương khí áp (Hình 4) (28)
BẢNG 2 Tác dụng có lợi của thông khí áp lực dương ở bệnh nhân rối
loạn chức năng thất phải và trái
Hiệu ứng trực
tiếp từ PEEP
Giảm hậu tải LV Giảm đường kính LV, dẫn đến giảm MR
Tăng áp lực xuyên thành Tăng Palv tại cuối thì thở
hoặc lên trao
đổi khí
Đảo ngược tình trạng co mạch do thiếu oxy
Giảm tiền tải Cải thiện tương hợp thông khí / tưới máu
Giảm hậu tải RV
Cải thiện sung huyết phổi
Cải thiện oxy hóa máu Tác dụng từ
Cải thiện hậu tải của thất phải
Tác động lên
hệ thống
Tối ưu hóa trao đổi khí, do
đó oxy hóa và tưới máu mô
Cải thiện nhu cầu trao đổi chất và tưới máu ngoại vi
PHƯƠNG THỨC VÀ ỨNG DỤNG OXI HÓA MÁU VÀ HỖ TRỢ THÔNG KHÍ
TẠI CICU
Trang 16THỞ OXI LƯU LƯỢNG CAO QUA CANNULA MŨI
Tác động sinh lý của PEEP lên chức năng thất và cung lượng tim
TĂNG DÃN RV → VÁCH LIÊN THẤT → TRÁI
TĂNG BÙ TRỪ TRONG TĂNG SVR
GIẢM CO MẠCH PHỔI DO GIẢM OXI MÁU
↓ hậu tải thất trái
↓ tiền tải và dãn thất trái
↓ nhu cầu oxi cơ tim
↑ chênh áp LN vs ngoại biên
↑ đẩy dịch ra khỏi phế nang
và tương tác 2 thất
CO/RV
cmH2O) có thể cải thiện CO
PEEP có thể có tác động thay đổi lên CO phụ thuộc và chức năng của thất trái và phải, tiền tải và áp lực đổ
đầy Chú ý là đối với phổi cứng do nguyên nhân ngoài phụ phổi huyết động, tác động của PEEP lên áp suất
màng phổi có thể không rõ ràng
Trang 17Thở qua cannula mũi tiêu chuẩn được giới hạn ở lưu lượng tối đa
6 l/phút, và có thể không đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân thiếu oxy
nghiêm trọng Khi so sánh, thở lưu lượng cao qua cannula mũi (HFNC)
cung cấp một dòng chảy nóng và ẩm lên đến 60 l/phút (29) Bằng cách
sử dụng tốc độ dòng chảy cao hơn nhu cầu hô hấp của bệnh nhân, HFNC
có thể cung cấp FiO2 hít vào đáng tin cậy (30) Cùng với quá trình oxy
hóa được cải thiện, với tốc độ dòng chảy cao, HFNC cung cấp tới gần
cmH20 PEEP (29) Mặc dù 1 thử nghiệm ngẫu nhiên đã cho thấy tỷ lệ tử
vong với HFNC thấp hơn so với NI-PPV (31), các thử nghiệm khác đã chỉ
ra kết quả tương tự (32) Không có thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng
HFNC đặc biệt ở trên bệnh nhân phù phổi cấp (33)
THÔNG KHÍ ÁP LỰC DƯƠNG KHÔNG XÂM LẤN
NI-PPV là một phương thức quan trọng để quản lý bệnh nhân trong
CICU NI-PPV bao gồm áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) và áp lực
đường thở dương hai mức (BiPAP) Trong khi CPAP cung cấp PPV liên
tục, BiPAP cung cấp riêng áp lực đường thở dương thì hít vào (IPAP) và
áp lực đường thở dương cuối thì thở ra (EPAP) (tương đương về chức
năng với PEEP trong IM-PPV) BiPAP có thể làm giảm công việc hô hấp,
tăng Vt nhiều hơn CPAP và cải thiện thông khí ở bệnh nhân tăng CO2
máu Lựa chọn bệnh nhân phù hợp là nguyên tắc không thể thiếu để sử
dụng thành công PPV (Bảng 3) (34)Có một số mask thở có sẵn cho
NI-PPV, bao gồm mặt nạ toàn mặt (che mũi, miệng và mắt), mặt nạ
mũi-miệng hoặc mặt, mặt nạ mũi và gối mũi Mặc dù tất cả các mặt nạ đều
có ưu điểm và nhược điểm (Bảng 1), mặt nạ che cả mũi và miệng được
ưu tiên để giảm thiểu rò rỉ (35)
Trang 18Cách cài đặt NI-PPV ban đầu trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có
đối chứng đã thay đổi CPAP và EPAP thường được điều chỉnh theo mức
oxy hóa và IPAP (chỉ BiPAP) được sử dụng để kiểm soát thông khí (PaC02)
Đối với CPAP, áp lực khởi động thường được chọn là 5 đến 10 cmH2O,
với điều chỉnh mỗi 2 cmH2O mỗi lần Nếu BiPAP được sử dụng, cài đặt
ban đầu thường là IPAP là 10 cmH2O và EPAP là 5 cmH2O Điều chỉnh
IPAP mỗi lần từ 2 đến 3 cmH2O có thể được thực hiện để cải thiện tình
trạng tăng CO2 máu, tránh IPAP > 20 cmH2O để ngăn chặn tình trạng
bơm khí vào dạ dày và giảm thiểu nguy cơ hít sặt (36) FiO2 có thể bắt
đầu ở mức cao và được điều chỉnh cho mục tiêu Sa02 (ví dụ: 94% đến
98%) trong khi tránh Sa02 > 98% Xu hướng đồng thuận trong việc tránh
Hình 4 Mối quan hệ giữa thể tích/áp suất phế nang và kháng trở mạch phổi
PEEP/Palv rất cao
sẽ đè xẹp mạch máu phổi và tăng PVR
Mở các phế nang với PEEP thích hợp sẽ làm mạch máu được “buộc” vừa phải
và cải thiện PVR
Thể tích phổi giảm gây xẹp phổi có thể tăng PVR
do xẹp các đơn vị mao mạch phế nang và co mạch do giảm oxi máu
Thể tích phổi (ml)
Căng dãn quá mức Xẹp phổi
PEEP: áp lực dương cuối kỳ thở ra
PVR: kháng trở mạch máu phổi
Mạch máu màu xanh thể hiện máu bị giảm oxy hóa
Trang 19tăng oxy máu bắt nguồn từ mối liên quan được quan sát giữa 02 liệu
pháp ở bệnh nhân không giảm oxi máu và tỷ lệ tử vong cao hơn (37),
bao gồm một số bệnh tim mạch, như hội chứng mạch vành cấp, suy tim,
đột quỵ và ngừng tim (38,39)
BẢNG 3 Chỉ định và chống chỉ định với thông khí áp lực dương không
xâm lấn Chỉ định NI-PPV Chống chỉ định NI-PPV Phù phổi do tim
Suy hô hấp có tăng CO2 máu
Đợt cấp bệnh COPD
Rút ống nội khí quản nguy cơ cao
Bệnh nhân suy giảm miễn dịch bị
Suy hô hấp sau phẫu thuật
Cần bảo vệ đường thở hiệu quả vì tình trạng tri giác thay đổi, bệnh nhân không hợp tác, ngưng thở, ngừng tim hoặc co giật
Biến dạng khuôn mặt vì bệnh lý, phẫu thuật gần đây hoặc chấn thương
Mất ổn định huyết động Nguy cơ hít sặc cao (ói, không có khả năng kiểm soát dịch tiết) Phẫu thuật gần đây đường thở hoặc đường tiêu hóa
Nếu NI-PPV thành công, bệnh nhân thường sẽ cho thấy sự cải thiện,
chẳng hạn như giảm nhịp hô hấp, cải thiện công hô hấp và trao đổi khí
được cải thiện, trong vòng1 đến 2 giờ
Ở những bệnh nhân được lựa chọn tốt, tác dụng phụ rất ít và chủ
yếu liên quan đến khả năng dung nạp của thiết bị / mặt nạ (40,41) Các
tác dụng phụ nghiêm trọng hơn có thể xảy ra, bao gồm hít sặc, tajonust
nhầy do đàm kẹo đặc hoặc hạ huyết áp (40) Bảng 2 trực tuyến mô tả các
yếu tố liên quan đến thất bại NI-PPV
PPV XÂM LẤN CƠ HỌC(IM-PPV)
Trang 20Các chỉ định cho IM-PPV bao gồm thiếu oxy hoặc tăng CO2 kháng
trị, công thở không bền vững và cần bảo vệ đường thở trong tình trạng
tri giác thay đổi, ngừng thở,tim, ngừng thở do huyết động / suy hô hấp,
nôn mửa hoặc chảy máu đường tiêu hóa Các chế độ của IM-PPV là các
thuật toán định sẵn đưa ra mô hình thở bắt buộc và tự phát được cung
cấp bởi máy thở và chuyển thành các tương tác máy thở của bệnh nhân
cụ thể Chế độ nên được điều chỉnh theo bệnh cảnh lâm sàng để mang
lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ biến chứng thấp nhất, đồng thời tối ưu
hóa sự thoải mái của bệnh nhân và dễ dàng giải phóng khỏi IM-PPV (42)
Hơn 300 tên độc quyền đại diện cho khoảng 50 chế độ thở Không
có dữ liệu thuyết phục để hỗ trợ tính ưu việt của bất kỳ chế độ cụ thể
nào đối với một bệnh nhất định ở nhóm người lớn Mặc dù không có sự
đồng thuận để phân loại các chế độ IM-PPV, một danh pháp đơn giản
hóa đã được đề xuất (42) dựa trên ba yếu tố: thông số kiểm soát (áp suất,
hoặc thể tích / lưu lượng), kiểu thở (thông khí bắt buộc liên tục, thông
khí bắt buộc gián đoạn, hoặc thông khí tự phát liên tục) và sơ đồ nhắm
mục tiêu (một mẫu máy thở cụ thể để đáp ứng với phản hồi của bệnh
nhân) (Hình 5 trực tuyến) Chi tiết về phân loại này được giải thích ở nơi
và lưu lượng
Thông số phụ thuộc là áp suất
Thông số độc lập là áp suất Các thông số phụ thuộc là thể tích
và lưu lượng
chính (kích hoạt, thông số kiểm soát thì hít vào, chy kỳ và PEEP trong
giai đoạn thở ra) cần được xem xét liên quan đến từng giai đoạn của hơi
Trang 21thở Các yếu tố này được trình bày trong Hình 5 và được giải thích chi
tiết cho người đọc quan tâm trong Bảng trực tuyến 3 Biến kiểm soát
được chọn lựa và cài đặt bởi bác sĩ lâm sàng và mô tả cách máy thở điều
chỉnh lượng thể tích hoặc áp suất để cung cấp trong mỗi nhịp thở bao
gồm cả thông khí kiểm soát áp suất hoặc thông khí kiểm soát thể tích
Một loại kiểm soát khác là thông khí nhắm mục tiêu thể tích, đó là chế
độ điều khiển kép với Vt mục tiêu đã cài đặt, cho phép máy thở tự động
điều chỉnh mức áp suất để đạt được mức Vt mục tiêu (ví dụ, có nghĩa là,
VC+, hay hoặc "autoflow")
Hiện tại, các chế độ IM-PPV được sử dụng phổ biến nhất có thể
được phân loại theo cách tiếp cận đơn giản hóa trong kiểm soát áp suất,
kiểm soát thể tích và hỗ trợ áp lực (Bảng 4 và 5) Các chế độ này có thể
được chia thành kiểm soát hỗ trợ, thông khí bắt buộc gián đoạn đồng
bộ (SIMV) và thông khí tự phát (Hình 5) Đặc điểm nổi bật của kiểm soát
hỗ trợ là nỗ lực tự phát của bệnh nhân dẫn đến việc cung cấp một nhịp
thở giống hệt như nhịp thở bắt buộc (cùng một Vt hoặc áp lực đẩy, cùng
một kiểu thời gian / kiểu dòng) (Hình 5) Ngược lại, trong SIMV, các cài
đặt do bác sĩ lâm sàng này chỉ áp dụng cho hơi thở bắt buộc, trong khi
hơi thở tự nhiên khác nhau bằng cách hoàn toàn được bắt đầu và chấm
dứt bởi nỗ lực tự phát của bệnh nhân với bất kỳ thể tích, áp lực hoặc lưu
lượng nào mà bệnh nhân có thể tác động mà không cần bất kỳ sự trợ
giúp nào của máy thở SIMV là một hình thức thông khí bắt buộc không
liên tục Ở chế độ thông khí tự phát, bác sĩ lâm sàng cài đặt FIO2, PEEP
và hỗ trợ thể tích hoặc áp lực, nhưng không cài đặt tần số thở, thời gian
hô hấp hoặc mô hình dòng khí (kiểu dòng), vì vậy bệnh nhân phải bắt
đầu nhịp thở Thêm một chế độ, thông khí giải phóng áp lực đường thở
(APRV), là chế độ thông khí kiểm soát áp suất được sử dụng ở những
bệnh nhân bị giảm oxi máu kháng trị APRV có pha hít vào kéo dài trong
thông khí có tỷ lệ đảo ngược, trong đó nhịp thở tự nhiên không hạn chế
có thể xảy ra bất cứ lúc nào (43)
Trang 22Không có chế độ máy thở nào là tối ưu cho tất cả bệnh nhân tim
Tuy nhiên, các chế độ cho phép thở hoàn toàn tự nhiên mà không cần
hỗ trợ máy thở (ví dụ: SIMV) có thể tăng mức tiêu thụ oxy và cơ tim khi
một số hơi thở tự nhiên không được hỗ trợ đầy đủ, có thể dẫn đến mất
đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở Các chế độ như vậy có thể không
tối ưu cho bệnh nhân tim bị sốc tim hoặc thiếu máu cơ tim (44 - 46) Tìm
mức hỗ trợ phù hợp giảm nhẹ mệt mỏi cơ hoành và tránh teo cơ hoành,
cả hai đều có thể làm tăng thời gian thở máy (47) Mặc dù không có
chiến lược nào đã được chứng minh để ngăn ngừa rối loạn chức năng cơ
hoành, sử dụng các cài đặt hỗ trợ tối thiểu cần thiết là hợp lý
Sau khi chọn chế độ máy thở, bác sĩ lâm sàng phải thiết lập các
thông số riêng lẻ (Hình 5, Bảng 4 trực tuyến) FiO2 và PEEP có tác dụng
vượt trội đối với quá trình oxy hóa và cần được điều chỉnh để đạt được
độ bão hòa oxy chấp nhận được (SaO2), với sự điều chỉnh giảm xuống
sớm của FiO2 để giảm thiểu nguy cơ nhiễm độc oxy PEEP thường được
đặt ở mức 5 cmH2O và có thể được điều chỉnh theo mức SaO2 mong muốn
trong khi xem xét ảnh hưởng của PEEP quá mức (ví dụ, giảm tiền tải,
chấn thương khí áp) và các PEEP rất thấp không phù hợp (ví dụ, chấn
thương do xẹp phổi) cũng như các hiệu ứng lên trên RV và LV
Tác động của Vt và tần số thở (thông khí phút) chủ yếu ảnh hưởng
đến PCO2 và pH Vt nên được cài đặt không vượt quá 6 - 10 ml / kg (6 đến
8 ml / kg trọng lượng cơ thể lý tưởng cho ARDS), trong khi giữ Pplat <
30 cmH2O để giảm thiểu nguy cơ căn dãn quá mức phế nang Mặc dù
thông khí với Vt thấp đã được nghiên cứu chủ yếu ở ARDS, nhưng tình
trạng quá liều từ thông khí Vt cao cũng có thể gây hại ở bệnh nhân tim
theo 1 nghiên cứu, cho thấy Vt > 9,3 ml / kg trọng lượng cơ thể lý tưởng
có liên quan đến kết quả bất lợi ở CICU (48 ) Vt cao không thích hợp có
thể gây ra tình trạng "chấn thương thể tích" từ việc căn dãn quá mức,
nhưng Vt thấp không phù hợp có thể gây ra tình trạng xẹp phổi, mất
đồng bộ máy thở của bệnh nhân và trao đổi khí dưới mức tối ưu
Trang 23TẦM SOÁT VÀ ĐIỀU TRỊ AUTO-PEEP
Tìm kiếm dấu hiệu gián tiếp AUTO-PEEP:
Trigger không hiệu quả
Dòng ra dai dẳng
Diện tích đường cong dòng theo thời gian không đều
Kéo dài thời gian thở ra
Giảm tần số thở thấp nhất có thể, xem xét điều chỉnh bằng an thần/ giảm đau
Giảm kháng trở đường thở với corticoid, hút đàm, dãn phế quản, và kháng sinh khi có
chỉ định
Trang 24Nhịp thở có thể được điều chỉnh để đạt được PCO2 và pH chấp nhận
được cho nhu cầu bệnh nhân (ví dụ, tăng CO2 cho phép đối với tình
trạng thiếu oxy kháng trị trong ARDS có thể phù hợp, trong khi hạn chế
nhiễm toan và tăng CO2 có lợi ở bệnh nhân rối loạn chức năng RV) Điều
quan trọng là nhấn mạnh rằng dữ liệu từ các nghiên cứu trong các hội
chứng phổi có thể không được ngoại suy cho tất cả các bệnh nhân tim,
nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu được thực hiện cụ thể trong các
hô hấp và làm suy yếu huyết động
AUTO-PEEP
trong VCV
Nếu tăng áp lực đường thở, phế nang quá mức, căng dãn phế nang xuất hiện
và gây suy yếu huyết động
Khi AUTO-PEEP xuất hiện, một hiệu ứng bù trừ xuất hiện trên dòng (F), thể tích (V),
áp lực đường thở và phế nang Nếu AUTO-PEEP không được nhận ra, suy yếu huyết
động xuất hiện do toan hô hấp (trong thông khí áp lực) hay căng dãn phế nang (thông
khí thể tích)
Trang 25Trigger P,F,t cài đặt F hay P cho mọi nhịp thở P,F và t cài đặt
Ppeak Cài đặt Phụ thuộc vào kháng trở compliance và nỗ lực của BN
Phụ thuộc vào kháng trởm compliance và nỗ lực của BN Giảm dần nếu
không có nỗ lực thỏe của BN
Cài đặt (vuông hay giảm dần)
RR, F, Vt do BN
nỗ lực
Vt thấp nhất Bệnh nhân sẽ điều chỉnh RR và F
Vt và thông khí phút thấp
RR cài thấp
Bn điều chỉnh F
Vt an toàn Thông khí phút thấp
Nguy cơ cao
yếu cơ hoành
Vt không an toàn
Pplat không an toàn
Cài đặt ngưỡng ngưng thở ra không tương thích BN Kiệt hô hấp nếu mất đồng
bộ
Vt cài đặt có thể cao hơn nhu cầu bệnh nhân Pplat không an toàn
Ngắt thở ra không tương thích BN Kiệt hô hấp khi không đồng bộ
BN thở nhanh gây
hỗ trợ dưới mức
Vt cài đặt có thể cao hơn nhu cầu bệnh nhân Pplat không an toàn
Thời gian hít vào không tương thích BN Kiệt hô hấp khi không tương thích
Yếu cơ hoành
F không điều chỉnh theo nhu cầu bệnh nhân
Pplat không
an toàn IT/F phải đúng theo nhu cầu Kiệt hô hấp khi không tương thích Yếu cơ hoành
Mục tiêu thể tích
Kiểm soát thể tích
AC hay SIMV
Trang 26Mỗi cài đặt máy thở có cả lợi ích như dự định và hậu quả bất lợi
tiềm ẩn; do đó, để đánh giá phản ứng của bệnh nhân với IM-PPV và nguy
cơ biến chứng, bác sĩ lâm sàng phải theo dõi huyết động, khí máu, Vt,
thông khí phút, Pplat, PEEP nội sinh và tương tác của bệnh nhân-máy
thở Bác sĩ lâm sàng cần phải tỉ mỉ trong việc tránh PEEP nội sinh bằng
cách cho phép thời gian thở ra đầy đủ hoặc bằng cách điều chỉnh đường
cong dòng chảy và vận tốc dòng thở PEEP nội sinh có thể dẫn đến bẫy
không khí lũy tiến và có thể ảnh hưởng đến tiền tải nếu không được
phát hiện và giải quyết (Hình 6)
BẢNG 5 Ưu điểm và nhược điểm của Chế độ PS
Thông khí hỗ trợ áp lực (PS)
Bệnh nhân có thể kiểm soát độ
sâu, thời gian và lưu lượng của
từng hơi thở
Cho phép linh hoạt trong hỗ trợ
máy thở
Cải thiện đồng bộ với máy thở và
công cơ hoành
Mức hỗ trợ quá mức có thể dẫn đến:
1 Nhiễm kiềm hô hấp
2 Tăng bơm khí quá mức
3 Kích hoạt không hiệu quả
4 Không nói được
Hỗ trợ dưới mức tối ưu có thể dẫn đến:
1 Mệt mỏi cơ hoành
2 Nhiễm toan hô hấp
ÁP DỤNG THÔNG KHÍ ÁP LỰC DƯƠNG Ở BỆNH NHÂN TIM MẠCH
NI-PPV TRONG PHÙ PHỔI DO TIM
Trong số các tình trạng tim nghiêm trọng, CPE biến chứng từ 15%
đến 40% nhập viện của HF Thông thường, chỉ oxy bổ sung là không đủ