BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Đỗ Thị Thúy THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘ CHUẨN TRONG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Thúy
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘ CHUẨN
TRONG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Thúy
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘ CHUẨN
TRONG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số : 8140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các thông tin, số liệu trong công trình nghiên cứu khoa học
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong đề tài này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Đỗ Thị Thúy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy Cô Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ phụ trách những chuyên đề của lớp Cao học Giáo dục mầm non khoá 27 (2016 – 2018)
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Bùi Thị Việt là người hướng dẫn trực tiếp, tận tình dìu dắt, giúp đỡ, động viên tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ Phòng giáo dục & đào tạo,
tổ Mầm non phòng Giáo dục & Đào tạo quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh Ban Giám hiệu, Giáo viên các trường mầm non: Bông Sen, Hoa Anh Đào, Nhiêu Lộc, Thiên Lý, Rạng Đông của quận Tân Phú và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình cung cấp thông tin tư liệu quý báu có liên quan đến đề tài luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế, chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, chưa đầy đủ trong luận văn tốt nghiệp này Kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý Thầy Cô trong Hội đồng bảo vệ cùng các bạn đồng nghiệp để luận văn này hoàn thiện hơn
Tân Phú, tháng 02 năm 2019
Đỗ Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THEO BỘ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM NĂM TUỔI 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Tại Việt Nam 10
1.2 Sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 12
1.2.1 Khái niệm sự phát triển trẻ em 12
1.2.2 Sự phát triển thể chất trẻ 5 – 6 tuổi 12
1.2.3 Đặc điểm phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 13
1.3 Những vấn đề chung về đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mầm non 16
1.3.1 Khái niệm đánh giá sự phát triển của trẻ 16
1.3.2 Chức năng đánh giá trong giáo dục mầm non 17
1.3.3 Phân loại đánh giá 17
1.3.4 Phương pháp đánh giá trẻ 20
1.4 Sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 28
1.4.1 Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Việt Nam 28
1.4.2 Bộ công cụ đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ năm tuổi 32
1.4.3 Bộ công cụ đánh giá sự phát triển trẻ em 5 tuổi do Sở GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh triển khai 40
Trang 6Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘ CHUẨN TRONG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN TÂN PHÚ, TP.HCM 44
2.1 Tổ chức điều tra thực trạng 44
2.1.1 Khái quát về tình hình giáo dục mầm non của Quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh 44
2.1.2 Vài nét về đối tượng và cách thức khảo sát 50
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 55
2.2.1 Kết quả khảo sát nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú 55
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú 59
2.2.3 Nhận định về kết quả khảo sát thực trạng sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú 68
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non quận Tân Phú 69
2.3.1 Các yếu tố chủ quan 70
2.3.2 Các yếu tố khách quan 70
2.4 Đánh giá thực trạng 72
2.5 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú, TP.HCM 76
2.5.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 76
Trang 72.5.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non
quận Tân Phú, TP HCM 78
2.5.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 86
Tiểu kết chương 2 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
09 BC PTTENT Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lớp, số học sinh lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi quận Tân
Phú các năm học từ 2016 đến 2018 45
Bảng 2.2 Số liệu cán bộ quản lý, giáo viên 5 trường khảo sát 52
Bảng 2.3 Tổng quan về đối tượng khảo sát 52
Bảng 2.4 Đánh giá của GV về mức độ cần thiết của việc sử dụng bộ chuẩn
trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ MG 5-6 tuổi tại trường mầm non 55
Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL về mức độ cần thiết của việc sử dụng bộ
chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ MG 5-6 tuổi tại trường mầm non 56
Bảng 2.6 Ý nghĩa việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể
chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non (N=94) 57
Bảng 2.7 Mục đích tiến hành sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát
triển thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (N= 94) 58
Bảng 2.8 Các căn cứ để giáo viên xây dựng kế hoạch đánh giá sự phát
triển thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (N= 74) 59
Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các phương pháp đánh giá sự phát triển thể chất
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo bộ chuẩn PTTENT Việt Nam ở trường mầm non 62
Bảng 2.10 Mức độ khả thi của các phương pháp đánh giá sự phát triển thể
chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo bộ chuẩn PTTENT Việt Nam ở trường mầm non 63
Bảng 2.11 Mức độ sử dụng các thời điểm để sử dụng bộ chuẩn trong
đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 65
Bảng 2.12 Hình thức/quy mô sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển
thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 67
Bảng 2.13 Tần suất sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất
trẻ MG 5-6 tuổi ở trường mầm non 68
Trang 10Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá
sự phát triển thể chất trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 71
Bảng 2.15 Những yếu tố thuận lợi cho việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh
giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh 72
Bảng 2.16 Bảng xếp hạng các khó khăn GV gặp phải khi triển khai thực
hiện việc sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 74
Bảng 2.17 Ý kiến của cán bộ quản lý về tính cần thiết và khả thi của các
biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá
sự phát triển thể chất trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh 86
Bảng 2.18 Ý kiến của giáo viên về tính cần thiết và khả thi của các biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh 90
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn cán bộ quản lý, giáo viên mầm non,
giáo viên lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi, giáo viên lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi trường mầm non công lập quận Tân Phú, thành phố
Hồ Chí Minh 47
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng cho các bậc học tiếp theo và còn là thời kỳ vàng để phát triển nhân cách và trí tuệ cho trẻ Đây là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kiến thức, kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập
và thành công sau này của trẻ Do vậy, phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi quốc gia
Trong đó yếu tố sức khỏe được xác định là yếu tố quan trọng đối với tất cả con người và đặc biệt đối với trẻ, điều đó chứng tỏ việc phát triển thể chất là điều kiện tiên quyết nên nội dung này được đề cập đến đầu tiên trong chương trình Chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non Vì phát triển thể chất không chỉ có mối quan hệ mật thiết với phát triển nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và thẩm mỹ mà còn là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ phát triển toàn diện các mặt còn lại, góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào những cấp học cao hơn cũng như học tập suốt đời
Quyết định 149/2006/QĐ-TTg về Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 – 2015 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt xác định rõ quan điểm chỉ
đạo là “Từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc đảm bảo đồng bộ, phù hợp, tiên tiến, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục” Đặc biệt Quyết định số 239/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ
ngày 9/2/2010 phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đã nhấn
mạnh “Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non nhằm chuẩn bị tốt cho trẻ em vào lớp 1 đối với tất cả các vùng miền trong cả nước”
Trang 13Ngày 23 tháng 7 năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư
số 23/2010/TT-BGDĐT quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (BCPTTENT) BCPTTENT giúp làm rõ những mong đợi của cha mẹ, nhà giáo dục, cộng đồng, xã hội, tạo sự đồng thuận trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, thiết lập
cơ sở cho việc theo dõi, đo lường Trên cơ sở đó có những tác động phù hợp đối với trẻ, tạo tiền đề những bước tiếp theo cho việc chuẩn bị đến trường của trẻ 5 tuổi BCPTTENT là cơ sở để xây dựng BCC theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn số 481/BGDĐT – GDMN ngày 29 tháng
01 năm 2011 để hướng dẫn triển khai thực hiện BCPTTENT, chỉ đạo Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố và Ban phụ nữ Quân đội tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong các cơ sở giáo dục mầm non và cộng đồng về mục đích, ý nghĩa, nội dung BCPTTENT Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện BCPTTENT theo từng năm học
Ngày 17 tháng 6 năm 2016 Thủ tướng chính phủ ký Quyết định TTg, quyết định phê duyệt đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, trong đó nêu rõ quan
1076/QĐ-điểm: “Giáo dục thể chất và thể thao trường học là bộ phận quan trọng, nền tảng của nền thể dục, thể thao nước nhà; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ em”
Từ những thông tin trên cho thấy ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng GDMN Các cơ quan giáo dục đã có nhiều quy định, quyết định, hướng dẫn tổ chức thực hiện và đánh giá trẻ thực hiện BCPTTENT Để đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi, giáo viên mầm non cần sử dụng BCPTTENT Dựa vào kết quả đánh giá trẻ theo BCPTTENT, giáo viên thiết kế và điểu chỉnh kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của trẻ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
Tại thành phố Hồ Chí Minh sau 7 năm thực hiện BCPTTENT, việc theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi mà đặc biệt là lĩnh vực phát triển thể chất của
Trang 14GVMN gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế Đội ngũ giáo viên của nhiều trường chưa đồng bộ, các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục còn thiếu nhất là về cơ sở vật chất, trang thiết bị phát triển thể chất cho trẻ Nhiều giáo viên vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của phương pháp đánh giá cũ Giáo viên thiếu khả năng quan sát và đánh giá trẻ theo yêu cầu của chương trình mới Trong những năm gần đây năng lực đánh giá trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non ngày càng được nâng lên, bước đầu đáp ứng yêu cầu đổi mới đánh giá trong giáo dục mầm non Tuy nhiên, trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, giáo dục mầm non nói riêng, công tác đánh giá trẻ chưa tương xứng Công tác đánh giá trẻ ở các trường không liên tục, thiếu những cơ sở lý luận vững chắc nên còn nhiều hạn chế
và khó khăn
Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh là một trong những quận thành lập sau, giáp danh vùng ven thành phố Tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, dân nhập cư đông, số trẻ nhiều từ đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của địa phương Không nằm ngoài thực trạng chung của cả hệ thống giáo dục quốc gia, địa phương cũng gặp nhiều bất cập trong bậc học giáo dục mầm non,
đó là tình trạng thiếu trường, thiếu lớp, thiếu giáo viên, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, chất lượng giáo viên chưa cao, năng lực chuyên môn nghiệp vụ chưa cao đặc biệt là năng lực đánh giá trẻ
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Thực trạng sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non quận Tân Phú, TP.HCM” để nghiên
Trang 153 Giới hạn đề tài
3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng giáo viên sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 5 trường mầm non quận Tân Phú Thành phố
Hồ Chí Minh gồm:
- Trường mầm non Bông Sen
- Trường mầm non Nhiêu Lộc
- Trường mầm non Hoa Anh Đào
- Trường mầm non Thiên Lý
- Trường mầm non Rạng Đông
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo Bộ
chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi
5 Giả thuyết nghiên cứu
Việc đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo BCPTTENT hiện nay chưa hiệu quả, còn mang tính hình thức, thiếu chính xác, khoa học; Giáo viên đánh giá theo cảm tính, nhiều giáo viên chưa nắm bắt được cách sử dụng BCPTTENT và phương pháp đánh giá trẻ
Nếu sử dụng hợp lý, linh hoạt, đúng mục đích các chuẩn thuộc lĩnh vực phát triển thế chất trong “Bộ Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi “ để đánh giá sự phát triển thể chất cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển toàn diện đặc biệt là lĩnh vực thể chất cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp Một
Trang 166 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:
6.1.Hệ thống hóa cơ sở lý luận
- Đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi
- Chuẩn phát triển thể chất trong Bộ CPTTENT
6.2 Nghiên cứu thực trạng
Thực trạng việc sử dụng “Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi” trong đánh giá sự phát triển thể chất cho trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi
6.3 Đề xuất một số biện pháp cho GVMN trong việc tổ chức đánh giá sự phát
triển thể chất cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu, tài liệu chuyên ngành, giáo trình, bài báo khoa học, văn bản quy định của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục
về cơ sở lý luận liên quan, từ đó hệ thống, khái quát hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề
và các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phiếu điều tra ý kiến 20 cán bộ quản lý và 74 giáo viên trực tiếp dạy trẻ 5 - 6 tuổi để tìm hiểu nhận thức về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức
Trang 17đánh giá, những thuận lợi, khó khăn, đề xuất của họ về việc sử dụng Bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 - 6 tuổi
7.2.3 Phương pháp phân tích hồ sơ
Phân tích hồ sơ giáo dục, kế hoạch của giáo viên, nghiên cứu thực trạng sử dụng “Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi” trong tổ chức đánh giá hoạt động phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (Các văn bản hướng dẫn thực hiện BCPTTENT, bộ công cụ đánh giá, các kế hoạch chỉ đạo đánh giá của trường, kế hoạch đánh giá trẻ của giáo viên, các phiếu đánh giá từng trẻ của giáo viên)
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về các nội dung liên quan: Các cán bộ phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu các trường và các nhà giáo có kinh nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các số liệu thông tin thu được bằng thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS và các phép thống kê phù hợp
8 Dự thảo nội dung nghiên cứu
Luận văn gồm có 3 phần chính:
Phần I: MỞ ĐẦU
Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 18Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THEO BỘ CHUẨN
PHÁT TRIỂN TRẺ EM NĂM TUỔI
Nhóm tác giả xây dựng trắc nghiệm Denver là William K.Pranken Burg, Josian B.Doss và Alma W.Fandal thuộc trung tâm Y học Denver (Colorado Hoa Kỳ) Tên đầy đủ của test Den ver là Denver Developmental Screening Test (viết tắt
là DDST) Trắc nghiệm Denver còn được gọi là rắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lí – vận động cho trẻ nhỏ Trắc nghiệm này được áp dụng lần đầu tiên vào năm
1967, được tiêu chuẩn hóa trên 20 quốc gia Trắc nghiệm Denver kiểm tra khả năng của trẻ trên 4 lĩnh vực cơ bản: cá nhân – xã hội, vận động tinh, ngôn ngữ và vận động thô Các chỉ số của các lĩnh vực theo trục hoành và đường tuổi biểu hiện theo trục tung Nếu trẻ không làm được các chỉ số bên trái đường tuổi của mình có nghĩa
là trẻ có dấu hiệu chậm phát triển (Nguyễn Thị Kim Anh, 2015)
Trắc nghiệm Bayley-III là một trong những công cụ đánh giá toàn diện nhất về
sự phát triển của trẻ 1-42 tháng tuổi ở Hoa kỳ hiện nay Trắc nghiệm bao gồm 5 thang đo, đánh giá sự phát triển của trẻ về 5 phương diện: Nhận thức, ngôn ngữ, vận
Trang 19động, cảm xúc-xã hội, và hành vi thích ứng Trắc nghiệm Bayley-III hiện được sử dụng với mục đích phát hiện sớm và hỗ trợ lập kế hoạch can thiệp đối với những trẻ chậm phát triển Bộ trắc nghiệm đã được dịch, chuẩn hóa và sử dụng ở nhiều quốc gia như Nga, Hà Lan, Czech, Malaysia (http:// ngocentre.org.vn/ pipermail/ disabilityvn/ attachments/ 20130619/98657422/ attachment.pdf, 2016).
Bộ chuẩn học tập và phát triển trẻ em của Mỹ được xem xét và ban hành vào năm 2005 Những chuẩn này thể hiện các mục tiêu cho sự phát triển của trẻ mà phản ánh cách nhìn nhận, đánh giá và được đề nghị thực hiện của phần lớn người dân, tổ chức và cộng đồng trong tiểu bang Washington Bộ chuẩn nhấn mạnh rằng việc học của trẻ nhỏ là đa chiều; đó là bởi vì trẻ lớn lên về cả về thể lực, tình cảm, kĩ năng xã hội, ngôn ngữ, nhận thức … cùng một lúc, tất cả các mặt của việc học rất quan trọng Nội dung của bộ chuẩn được chia thành năm lĩnh vực:
- Phát triển thể lực, sức khỏe và vận động: Lĩnh vực này đề cấp đến sức khỏe thể lực và khả năng tham gia các hoạt động hàng ngày của trẻ
- Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội
- Phương pháp tiếp cận việc học
- Nhận thức và kiến thức chung
- Ngôn ngữ, khả năng đọc viết và giao tiếp
Trong đó yếu tố về thể lực, sức khỏe và vận động phát triển được xem là yếu tố quyết định toàn bộ hoạt động học tập của trẻ và là nền tảng cho hoạt động sống và sức sống của con người Vì thể chất và vận động là yếu tố quan trọng chi phối việc phát triển trí tuệ của trẻ, có ảnh hưởng nhất định đến các mặt, các lĩnh vực phát triển khác.Với mục đích của các chuẩn học tập và phát triển của Mỹ, lĩnh vực thể chất sức khỏe và phát triển vận động có 4 phần: phát triển vận động, phát triển thể chất, sức khỏe và chăm sóc; an toàn bản thân
Phát triển vận động có 3 phần khác nhau: các kỹ năng vận động thô, kỹ năng vận động tinh và kỹ năng cảm giác vận động Kỹ năng vận động thô được thể hiện bởi những vận động của toàn bộ cơ thể hay phần lớn cơ thể và bao gồm các khả năng lộn vòng, đi, chạy, nhảy, bật, lò cò và leo trèo
Trang 20Các kỹ năng vận động tinh bao gồm các khả năng phối hợp các cơ nhỏ như cánh tay, bàn tay, các ngón tay và bao gồm việc cầm nắm, cắt với kéo, gài nút Các kỹ năng vận động tinh đòi hỏi khả năng sử dụng các giác quan (thị giác, thính giác, khướu giác, vị giác, xúc giác) để chỉ ra các vận động Một trong những mặt chính của phát triển vận động tinh là sự kết hợp tốt giữa tay và mắt Kết hợp chúng với nhau, những kỹ năng này cung cấp nền tảng và năng lực hành vi trong loạt những khả năng của trẻ mầm non
Tại Singapore, sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm sự phát triển và tăng trưởng về thể lực, cái mà có thể làm cho trẻ tăng sự khéo léo trong việc điều khiển
và kéo dài sự vận động, các hoạt động của cơ thể Từ tuổi ấu nhi, vốn dĩ trẻ đã ưa thích vận động, chơi và tiếp xúc với môi trường bên ngoài
Ngay khi các kĩ năng vận động thô phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các vận động tinh, trẻ phải được dạy để điều khiển được cơ thể mình trước khi chúng phát triển các kĩ năng vận động tinh Khi giáo viên có kế hoạch nâng cao các vận động tinh cho trẻ, trẻ sẽ trở nên tự tin hơn, giúp trẻ thích nghi trong việc học ở trường và trong cuộc sống sau này
Thường là có sự kết hợp 3 phần trong kế hoạch phát triển kĩ năng vận động cho trẻ: Các kĩ năng vận động cơ bản (có sự di chuyển vị trí, không có sự di chuyển vị trí, vận động tinh và sự khéo léo); Phát triển các giác quan vận động; Sức khỏe thể lực Sự hướng dẫn hoạt động các kĩ năng vận động trong những năm ở trường mầm non sẽ giúp trẻ trở nên tự tin và thích nghi về thể lực để có thể đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho chúng trong cuộc sống sau này
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại Singapore với 6 lĩnh vực: Biểu lộ thẩm
mỹ và sáng tạo; Nhận thức về môi trường; Ngôn ngữ và chữ viết; Phát triển kỹ năng vận động; Số học; Nhận thức về bản thân và xã hội
Thang đo kiểm tra phát triển Kyoto hiện nay đang được sử dụng phổ biến trên toàn nước Nhật để đánh giá sự phát triển của trẻ em Đây là thang đo được Nhật hóa dựa trên ý tưởng thang kiểm tra phát triển ban đầu của nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet – người phát minh đầu tiên ra test kiểm tra trí thông minh Kyoto đánh giá và kiểm tra sự phát triển của trẻ trên 3 lĩnh vực: tư thế
Trang 21- vận động (P-M), nhận thức – thích ứng (C-A), ngôn ngữ - xã hội (L-S) (http:// www.khoahocphothong.com.vn/ danh-gia-tre-em-co-roi-loan-phat-trien-bang-thang-kyoto-13296.html, 2016)
Các công trình nghiên cứu về công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ
em nói chung và sự phát triển thể chất của trẻ em nói riêng trên thế giới rất nhiều và tập trung vào các công cụ trắc nghiệm Do xu thế dổi mới trong giáo dục, yêu cầu cải cách giáo dục mầm non, nhu cầu đánh giá hiệu ích đầu tư cho giáo dục mầm non, nhu cầu nghiên cứu, so sánh các mô thức giáo dục mầm non và nhu cầu phát triển tối đa tiềm năng của trẻ mầm non mà trong những năm gần đây việc nghiên cứu công cụ theo dõi đánh giá trẻ em đang được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới
1.1.2 Tại Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về đánh giá sự phát triển trẻ em nói chung cũng như đánh
giásự phát triển thể chất của trẻ em ở Việt Nam được một số nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu với những nghiên cứu và ứng dụng một số trắc nghiệm tâm lý như công cụ hữu hiệu trong HĐ đánh giá sự phát triển trẻ em
Phân tích cụ thể, tại Việt Nam, Test Denver đã được áp dụng đầu tiên tại Khoa Thần kinh, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội từ năm 1997 (gọi là test Denver I) (Lê Đức Hinh, 1989) Từ năm 2000, khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp tục nghiên cứu và chuẩn hóa thành trắc nghiệm Denver II từ đó đến nay đã có nhiều đơn vị khác trong nước tiếp tục triển khai thực hiện (khoa Nhi, 2004) Trắc nghiệm Denver không phải là loại trắc nghiệm đánh giá phát triển trí tuệ (test IQ), vì các trắc nghiệm đánh giá về trí tuệ chỉ được áp dụng cho trẻ từ 7 tuổi trở lên Mục đích chính của trắc nghiệm Denver II là nhằm đánh giá mức độ phát triển tâm lí - vận động ở trẻ nhỏ từ sơ sinh đến 6 tuổi và giúp phát hiện sớm những tình trạng chậm phát triển ngay từ giai đoạn 6 năm đầu đời từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời Trắc nghiệm Denver còn được dùng để so sánh sự phát triển của trẻ ở các lĩnh vực trên với các trẻ khác ở cùng độ tuổi (Nguyễn Thị Kim Anh, 2014)
Trang 22Bảng kết quả đánh giá Tình hình phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 0-6 tuổi ở các tỉnh, Việt Nam theo test Denver do phòng tâm lý – Viện nghiên cứu trẻ
em trước tuổi đi học, thuộc Viện khoa học giáo dục thực hiện
Trong những năm 1972-1975, bác sĩ Vũ Thị Chín và các cộng sự ở phòng nghiên cứu Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương đã nghiên cứu thang Brunet-Lezin để đánh giá sự phát triển tâm vận động của trẻ từ 1 tháng đến 3 tuổi sau đó, bà và các cộng sự của Trung tâm N-T lại nghiên cứu sử dụng thang này với trẻ 2,5 tuổi – 5 tuổi trong những năm 1990
Năm 1995 tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga đã nghiên cứu thành công đề tài “Bộ trắc nghiệm đo lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1”
Năm 2002 tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài “Xây dựng trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lí của trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ (Test TBT)” Đây là trắc nghiệm đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng và kiểm chứng đúng quy trình của việc xây dựng trắc nghiệm Trắc nghiệm này tỏ ra có hiệu quả để đánh giá mức độ phát triển của trẻ ở độ tuổi chuyển tiếp từ nhà trẻ lên mẫu giáo
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ 1999 “Xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm” của các tác giả Tạ Ngọc Thanh, Phan Lan Anh, Mai Ngọc Liên, Trần Thu Hồng thuộc Viên khoa học giáo dục Đề tài đã nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm trong và ngoài nước, xây dựng
bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục mầm non ở Việt Nam Bộ công cụ là hệ thống các bài tập, các phiếu điều tra, các tiêu chuẩn đánh giá và những hướng dẫn cần thiết để điều tra, đánh giá chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm
Năm 2010 Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành thông tư số BGDĐT, kèm theo Quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Trong Thông tư quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục đích ban hành, cấu trúc nội dung của Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Trang 2323/2010/TT-Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là một công trình nghiên cứu khoa học có ứng dụng thực tiễn cao, được xây dựng theo một quy trình khoa học, công phu, nghiêm túc với đầy tâm huyết và mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho thế hệ mầm non của đất nước (Nguyễn Thị Kim Anh, 2015)
Ngày nay, số lượng khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các công trình nghiên cứu khoa học các cấp về phát triển thể chất cho trẻ và đánh giá sự phát triển thể chất cho trẻ ngày càng tăng: Thực trạng sử dụng Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trong tổ chức HĐ phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (2014) của tác giả Cao Thị Thùy Oanh, …
Đề tài cấp sở KHCN TP HCM “Xây dựng bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi dựa trên Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2014) có giá trị thực tiễn rất cao
1.2 Sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.1 Khái niệm sự phát triển trẻ em
Phát triển thể chất được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Phát triển thể chất là chất lượng phát triển của cơ thể, hay nói cách khác là mức độ phát triển của các tố chất thể lực: phản xạ nhanh hay chậm của cơ thể, mức độ linh hoạt, thích nghi với điều kiện sống mới, sự mềm dẻo và sức mạnh của toàn thân
Theo nghĩa hẹp: Phát triển thể chất là mức độ phát triển của cơ thể, được biểu hiện bằng các chỉ số: chiều cao, cân nặng, chu vi vòng ngực, vòng đầu, vòng tay
Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh di truyền và những quy luật khách quan của tự nhiên: quy luật thống nhất giữa cơ thể và môí trường; quy luật tác động qua lại giữa sự thay đổi cấu trúc và chức năng của cơ thể; quy luật lượng – chất (lượng đổi dẫn đến chất đổi trong cơ thể )
1.2.2 Sự phát triển thể chất trẻ 5 – 6 tuổi
Phát triển thể chất là sự phát triển về chất lượng của cơ thể tức là việc trẻ phát triển về kích thước, chức năng các bộ phận trong cơ thể mà chúng ta có thể
Trang 24quan sát và đo lường cụ thể thông qua chiều cao, cân nặng, chu vi vòng đầu, vòng tay, chiều dài chân
Sự phát triển thể chất là sự phát triển về cơ thể, sức khoẻ giúp bé có khả năng thực hiện được tốt các hành vi vật lý trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, việc bé thực hiện được các hành vi đó tốt hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào tâm thần vận động của bé Đặc trưng của quá trình phát triển thể chất có thể khái quát gồm 3 hiện tượng:
Hiện tượng thích nghi: Chủ yếu ở thời kì sơ sinh, là hiện tượng thay đổi hoạt động chức năng của cơ thể để phù hợp với môi trường sống mới – chuyển từ môi trường trong bụng mẹ sang thế giới bên ngoài Hiện tượng này diễn ra trong 6 tháng đầu đời của bé
Hiện tượng tăng trưởng: Các cơ quan, bộ phận phát triển vầ kích thước và chức năng Có một số cơ quan cơ thể mà các đơn vị cấu tạo chính không còn tăng thêm về lượng hoặc kích thước sau sinh như thận, não nhưng tế bào vẫn phát triển
về chất Tăng trưởng là hiện tượng đặc thù của cơ thể bé sau 6 tháng tuổi
Hiện tượng trưởng thành: Là sự hoàn thiện tới mức cao nhất thường xảy ra vào thời kì dậy thì Các nội tiết tố hoạt động mạnh làm các tế bào sinh dục biến đổi cấu trúc và chức năng, các cơ quan cũng tăng trưởng để trưởng thành Việc theo dõi sự phát triển thể chất thường xuyên và định kỳ ở bé sẽ giúp mẹ xác định được tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng của con, từ đó có những phương pháp hỗ trợ thích hợp (dinh dưỡng, điều chỉnh lối sống ) để giúp bé phát triển tối đa tiềm năng cơ thể của mình, đạt được chiều cao cân nặng tối ưu, sức khoẻ tốt khi trưởng thành (Trần Lan Hương, Trần Thị Nga và Nguyễn Thị Thư, 2010)
1.2.3 Đặc điểm phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.3.1 Đặc điểm phát triển cơ thể của trẻ 5 – 6 tuổi
a) Hệ thần kinh: Sự phát triển của hệ thần kinh ở trẻ mẫu giáo phát triển nhanh nhưng các chức năng chưa hoàn thiện Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc Tuy nhiên, quá trình hưng phấn và ức chế của trẻ chưa cân bằng,
sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, tránh để trẻ phải thực hiện một khối
Trang 25lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Trẻ
em từ 4 đến 6 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển Trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kĩ năng, kỉ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh
Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể, vì vậy
HĐ vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức
cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể có thể cải thiện tính không cân bằng của quá trình thần kinh ở trẻ Tuy nhiên, cần chú ý đến sự luân phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ (Hoàng Thị Bưởi, 2001)
b) Hệ vận động bao gồm hệ xương và hệ cơ
Nhiệm vụ chính của hệ xương là cùng hệ cơ thực hiện chức năng vận động
- Xương ở cơ thể của trẻ em có tỉ lệ chất hữu cơ cao hơn vô cơ, nên có tính đàn hồi cao hơn xương người lớn, xương trẻ dễ bị cong
- Hệ cơ của trẻ nhỏ phát triển yếu Cơ bắp, gân và mô liên kết của khớp xương còn rất yếu, tỉ lệ nước chiếm nhiều Vì thế, cho trẻ tập quá sức có thể dẫn đến việc làm tổn thương các khớp xương và ảnh hưởng đến sự phát triển vận động của trẻ Trong thời gian luyện tập phải có xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi một cách hợp
lí
c) Hệ tuần hoàn
Tim của trẻ nhỏ, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất ít nhưng mạch đạp nhanh hơn người lớn Mạch của trẻ em rất dễ thay đổi khi gắng sức, hay nói cách khác, tim trẻ dễ hưng phấn và chóng mệt mỏi Nhưng khi thay đổi
HĐ tim rất nhanh hồi tĩnh Cho nên, cần chú ý không cho trẻ vận động quá lâu; nên chuyển dần trạng thái động sang trạng thái tĩnh một cách hợp lí để không gây tổn hại cho tim; điều hòa vận động cho trẻ sẽ dần dần hoàn thiện được chức năng của
bộ máy tuần hoàn, đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của cơ thể
d) Hệ hô hấp
Trang 26Hệ hô hấp được cấu thành bời đường hô hấp gồm: mũi, mồm, khí quản, nhánh phế quản và phổi Đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Khí quản của trẻ còn nhỏ nên không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí của phổi kém do đó, nên tiến hành thể dục ngoài trời, nơi không khí thoáng mát Bộ máy hô hấp của trẻ nhỏ không chịu nổi những vận động quá sức kéo dài liên tục sẽ làm cho các cơ đang vận động thiếu oxy Ngoài ra việc thở đúng và sâu của trẻ khi tập luyện cũng rất quan trọng
e) Hệ trao đổi chất
Khi trẻ HĐ nhiều, ngay cả lúc dinh dưỡng đầy đủ, thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Điều này gây cảm giác mệt mỏi cho trẻ và ảnh hưởng không tốt đến cường độ HĐ của cơ bắp và hệ thần kinh Sự mệt mỏi của các nhóm cơ riêng lẻ xuất hiện nếu kéo dài HĐ liên tục của từng nhóm cơ Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các nhóm cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ
Các hệ cơ quan của cơ thể mặc dù đảm nhận những nhiệm vụ và có các chức năng khác nhau, nhưng chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau làm thành một thể thống nhất (Hoàng Thị Bưởi, 2001)
1.2.3.2 Đặc điểm phát triển vận động trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Ở lứa tuổi này, các vận động dần dần đi đến hoàn thiện cho nên sự vận động của trẻ phải được người lớn theo dõi, kiểm tra Các quá rình tâm lý của trẻ được hoàn thiện, khả năng chú ý tăng, có thể khái quát hóa một số hiện tượng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình, có thể nhanh nhẹn nhận thấy những yêu cầu chính trong lúc thực hiện vận động Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp HĐ của mình với tập thể Trẻ có thể thực hiện những động tác quen thuộc bằng nhiều cách, trong thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh, động tác mẫu của cô, ghi nhớ để thực hiện chúng Cụ thể:
Trang 27- Vận động đi ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và thân Bàn chân rời khỏi mặt đất và chạm đất nhẹ nhàng, mềm mại
- Vận động nhảy được hoàn thiện, nhảy nhẹ nhàng, biết chạm đất bằng hai đầu bàn chân
- Vận động chạy, bò, ném của trẻ được hoàn thiện rõ nhất, thể hiện sự chính xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, có sự khéo léo khi phối hợp vận động (Đặng Hồng Phương, 2008)
Trên cơ sở đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ, giáo viên có thể lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vận động phù hợp với trẻ nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập cho chúng
Khi đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mầm non thì các tiêu chí đánh giá chất lượng về tố chất vận động của cá nhân trẻ là: sức bền, tốc độ, sức mạnh, sự linh hoạt
và nhanh nhẹn đóng vai trò quan trọng Giáo viên thường sử dụng các bài tập dưới hình thức các trò chơi để kiểm tra các tố chất vận động của trẻ mầm non (Nguyễn Thị Kim Anh, 2015)
1.3 Những vấn đề chung về đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ mầm non 1.3.1 Khái niệm đánh giá sự phát triển của trẻ
Đánh giá là quá trình đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng từ các phép đo Đánh giá cũng là quá trình thu thập thông tin về năng lực và phẩm chất của một cá nhân và sử dụng những thông tin đó đưa ra quyết định về mỗi cá nhân và dạy học trong tương lai
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của quá trình giáo dục: phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm cải thiện thực trạng và điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục trẻ (Nguyễn Thị Kim Anh, 2014)
Đánh giá sự phát triển của trẻ trong giáo dục mầm non là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương
Trang 28trình giáo dục mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc- giáo dục trẻ (Bùi Thị Việt, 2016)
1.3.2 Chức năng đánh giá trong giáo dục mầm non
Thứ nhất, chức năng định hướng: đánh giá trong giáo dục có nhiệm vụ chỉ ra được bức tranh thực trạng của giáo dục và sự phát triển của cá nhân trong nề giáo dục đó Chức năng định hướng của đánh giá tồn tại khách quan, không bị ý chí cá nhân của con người chi phối Đánh giá trong giáo dục được tiến hành trên cơ sở của mục tiêu giáo dục
Thứ hai, chức năng kích thích, tạo động lực: việc đánh giá có kèm theo hình thức củng cố luôn có ý nghĩa kích thích hành vi, tạo động lực cho sự phát triển tiếp theo
Thứ ba, chức năng sàng lọc, lựa chọn: đánh giá để biết trẻ đạt mốc của sự phát triển cho độ tuổi của mình hay chậm phát triển ở mặt nào đó Đánh giá cần phải dựa vào những mục tiêu của nhà giáo dục và các chuẩn đánh giá phải được xác định một cách khoa học, khi đó đánh giá mới thực hiện tốt chức năng sang lọc và lựa chọn Thứ tư, chức năng cải tiến, dự báo: kết quả đánh giá trong giáo dục từ nhiều góc độ và trong nhiều giai đoạn khác nhau có thể cung cấp những dự báo về xu thế phát triển của giáo dục Nhờ đánh giá mới phát hiện được những vấn đề tồn tại trong giáo dục, từ đó lựa chọn và triển khai các biện pháp thích hợp để bù đắp những thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có (Nguyễn Thị Kim Anh, 2014)
1.3.3 Phân loại đánh giá
Đánh giá quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non được thực hiện qua các hình thức sau:
- Đánh giá trẻ trong/sau các hoạt động hằng ngày
- Đánh giá trẻ sau chủ đề giáo dục
-………
1.3.3.1 Đánh giá trẻ trong các hoạt động hằng ngày
Mục đích đánh giá: Xác định nhu cầu, hứng thú, khả năng của từng trẻ để giáo
Trang 29viên có thể lựa chọn những tác động giáo dục phù hợp Đồng thời, giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với trẻ (Kỷ yếu hội thảo Nxb ĐHSP Tp HCM, 2013)
Nội dung đánh giá: giáo viên có thể đánh giá trẻ thông qua các HĐ hằng ngày của trẻ ở trường mầm non như: HĐ vui chơi trong lớp, ngoài trời, HĐ sinh hoạt, HĐ
có chủ đích, HĐ lễ hội, tham quan Trong quá trình đánh giá giáo viên cần thường xuyên theo dõi, quan sát trẻ khi trẻ tham gia các HĐ này
Các nội dung mà giáo viên cần đánh giá trong HĐ hằng ngày bao gồm:
- Những biểu hiện về tình trạng sức khỏe của trẻ
- Thái độ và hành vi của trẻ trong các HĐ
- Mức độ lĩnh hội kiến thức và kĩ năng của trẻ so với mục đích, yêu cầu đặt ra,
so sánh kết quả trẻ đạt được với mục đích yêu cầu đề ra trong các hoạt động
- Những sản phẩm trẻ tạo ra trong quá trình HĐ
- Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức HĐ giáo dục tiếp theo
Để đánh giá trẻ trong các HĐ hằng ngày, giáo viên chủ yếu dùng các phương pháp đánh giá đơn giản không phải mất nhiều thời gian để chuẩn bị như quan sát, trò chuyện, giao tiếp với trẻ, sử dụng các bài tập đánh giá do giáo viên tự thiết kế, phân tích các sản phẩm họat động hoặc có thể trao đổi với phụ huynh để tìm hiểu nguyên nhân và tìm cách phối hợp giáo dục trẻ
Việc đánh giá trẻ trong các HĐ hằng ngày cần được tiến hành thường xuyên vì đây là một HĐ quan trọng để thực hiện mục đích cơ bản của đổi mới: dạy học hướng vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm và thực hiện cá biệt hóa trong quá trình giáo dục
1.3.3.2 Đánh giá trẻ sau chủ đề
Mục đích đánh giá: Xem xét sự tiến bộ của trẻ, khả năng nắm bắt các vấn đề trẻ được học, từ đó làm căn cứ để giáo viên điều chỉnh kế hoạch giáo dục tiếp theo
và đưa ra biện pháp giáo dục thích hợp trong gia đoạn sau
Nội dung đánh giá: Hiện nay chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ được thiết
Trang 30kế theo chủ đề/chủ điểm Mỗi chủ đề/chủ điểm được tiến hành trong khoảng thời gian từ 3-8 tuần với những kiến thức và kĩ năng mới, được cung cấp cho trẻ một cách có hệ thống từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp Những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất của mỗi chủ đề được trình bày trong các bảng kiểm kê tương ứng với chủ đề đó Giáo viên sử dụng những bảng kiểm kê này để đánh giá xem mức độ lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng của trẻ đến đâu, những trẻ nào cần hướng dẫn và bổ trợ thêm Từ đó, giáo viên có thể xây dựng kế hoạch theo chủ đề hay tổ chức các hoạt động phù hợp với sự phát triển chung của nhóm, lớp vừa thích hợp với sự phát triển riêng của từng trẻ
Trong quá trình thực hiện chủ đề, giáo viên cần đối chiếu mục tiêu đặt ra với kết quả thực hiện chủ đề, nhận xét đánh giá trẻ và một số vấn đề cần lưu ý như phương tiện, đồ dùng, đồ chơi, giáo cụ dạy-học, và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục để rút kinh nghiệm thực hiện chủ đề sau tốt hơn (Bùi Thị Việt, 2016)
Để tổng hợp thông tin đánh giá thời gian thực hiện chủ đề, phân tích sản phẩm của trẻ và trao đổi với phụ huynh giáo viên có thể sử dụng các phương pháp thu thập thông tin như: quan sát, trò chuyện, giao tiếp với trẻ, thiết kế bài tập, sử dụng bảng kiểm kê…
Trong quá trình đánh giá giáo viên có thể so sánh, phân tích, đánh giá kết quả của chủ đề so với mục tiêu đề ra hoặc có thể so sánh kết quả của chủ đề này với chủ
đề trước Giáo viên có thể tiến hành đánh giá trẻ cùng một lúc hoặc đánh giá dần dần, mỗi hôm một vài trẻ Có thể đánh giá trong khi trẻ đang hoạt động, đánh giá sán phẩm hoặc thiết kế bài tập để đánh giá
Đối với mỗi trẻ, giáo viên cũng có thể đánh giá lần lượt tất cả các chỉ số trong bảng kiểm kê cùng một lần hoặc cũng có thể đánh giá một số chỉ số trước và một số chỉ số đánh giá vào những lúc thích hợp trong thời gian diễn ra chủ đề hoặc trong giai đoạn giáo dục đó Nếu như việc đánh giá trẻ trong các hoạt động hằng ngày chủ yếu nhắm vào những điều bất thường, những trẻ có biểu hiện cá biệt (xuất sắc hay yếu kém) để giáo viên có những biện pháp giúp đỡ, hướng dẫn riêng cho các trẻ đó, thì việc đánh giá trẻ sau mỗi chủ đề lại chủ yếu để tìm hiểu tình hình nắm vững
Trang 31những vấn đề đã được dạy của cả nhóm trẻ, từ đó giáo viên đưa ra những kế hoạch
và biện pháp giáo dục thích hợp trong giai đoạn sau (Bùi Thị Việt , 2016 & Nguyễn Thị Kim Anh, 2015, 2014)
Cả hai hình thức đánh giá trẻ trong các hoạt động hằng ngày và đánh giá trẻ sau chủ đề đều cần thiết và hỗ trợ cho nhau để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục và thực hiện cá biệt hóa trong giáo dục (Tạ Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thư, 2007)
Mục tiêu của quan sát trẻ em trong đánh giá giáo dục mầm non là xác định sự phát triển về thể chất, tình cảm, xã hội và trí tuệ hiện tại của trẻ và sự tiến bộ của trẻ trong giai đoạn kế tiếp; thu thập thông tin đưa vào hồ sơ của trẻ và sử dụng để định hướng sự phát triển của trẻ Sử dụng kết quả quan sát để thông báo cho phụ huynh hoặc chuyên gia về sức khỏe, sự phát triển ngôn ngữ, tâm lí của trẻ để sắp xếp môi trường học tập tạo ảnh hưởng tốt đến hành vi của trẻ
Quan sát trẻ giúp nhận ra những hành vi điển hình của trẻ ở các lứa tuổi khác nhau Quan sát giúp xác định sự phát triển của từng cá nhân trẻ, lĩnh vực mạnh yếu cần củng cố và phát triển ở trẻ
Quan sát trẻ cũng có thể giúp ta tìm hiểu về cách làm việc với trẻ em thông qua việc giáo viên và những người chăm sóc tương tác với trẻ em, có thể thấy những nội dung, phương pháp chăm sóc giáo dục cần thiết và có hiệu quả nhất Quan sát còn giúp giáo viên điều chỉnh HĐ, phương pháp tác động lên trẻ Qua quan sát giáo viên có thể đánh giá hiệu quả những nổ lực của bản thân trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ
Trang 32Quan sát là một công cụ quan trọng trong sự theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ em nói chung và trẻ mầm non nói riêng
Giáo viên cần quan sát toàn diện trẻ theo các lĩnh vực sau:
- Thể chất: các biểu hiện bên ngoài, tình trạng sức khỏe, các kĩ năng vận động tinh và vận động thô của trẻ (Nguyễn Thị Kim anh, 2014) Kết quả quan sát sự phát triển thể chất được sử dụng để trả lời cho các câu hỏi sau: Trẻ đã lĩnh hội được những kĩ năng vận động nào? Những loại kĩ năng vận động tinh và vận động thô nào trẻ nhỏ thường sử dụng khi chơi trên sân? Cách trẻ thực hiện vận động đi, chạy, leo trèo, ném, bắt bóng… như thế nào? Quan sát và ghi chép sự khác biệt khi trẻ hoạt động cùng với các trẻ lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn? Trẻ chơi với thiết bị đồ dùng, dụng cụ luyện tập như thế nào? Những loại vận động tinh nào trẻ thường sử dụng ở các góc hoạt động trong lớp?; Sự khác nhau trong sự phát triển kĩ năng vận động tinh và sự khéo tay của trẻ, của một nhóm nhỏ trẻ đang tham gia vào hoạt động tạo hình Các biểu hiện bên ngoài, tình trạng sức khỏe của trẻ như thế nào… (Bùi Thị Việt, 2016)
Phương pháp quan sát được sử dụng trong nhiều lĩnh vực phát triển của trẻ chứ không chỉ lĩnh vực phát triển thể chất Trong các lĩnh vực: Nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – quan hệ xã hội, thẩm mĩ phương pháp này cũng được sử dụng nhiều
để đánh giá trẻ Cụ thể:
- Nhận thức: biểu hiện qua câu hỏi, câu trả lời và các phản ứng thể hiện khả năng tìm hiểu nguyên nhân, giải quyết vấn đề và trí nhớ của trẻ Quan sát trẻ thực hiện các hoạt động, các yêu cầu sẽ giúp đánh giá khả năng hiểu – nhận thức của trẻ
về vấn đề đạt mức độ nào
- Ngôn ngữ: khả năng bắt đầu cuộc nói chuyện, các kĩ năng biểu đạt và tiếp thu ngôn ngữ Người đánh giá quan sát trẻ giao tiếp với xung quanh sẽ giúp cho việc đánh giá khả năng ngôn ngữ, khả năng phát triển trí tuệ và cách thể hiện những hiểu biết ra bên ngoài bằng ngôn ngữ của trẻ
- Sự sáng tạo: các biểu hiện sáng tạo của trẻ trong các HĐ tạo hình, âm nhạc, các trò chơi sáng tạo như trò chơi giả bộ, xây dựng, đóng kịch và kĩ năng trình bày
Trang 33- Tình cảm – xã hội: biểu hiện của nét mặt, cử chỉ, các phản ứng và các hành
vi nói chung Các mối tương tác, các hoàn cảnh chơi, sự hợp tác, chia sẻ và sự nhường nhịn
Theo chúng tôi, phương pháp quan sát được sử dụng nhiều, có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ Bởi vì có những chỉ số chỉ cần sử dụng phương pháp quan sát đã cho kể quả chính xác Riêng với lĩnh vực phát triển thể chất chúng tôi gợi ý lựa chọn phương pháp này như là phương pháp chính để đánh giá một số các chỉ số sau:
Chuẩn 1 Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ lớn
Chỉ số 1 Bật xa tối thiểu 50cm;
Chỉ số 2 Nhảy xuống từ độ cao 40 cm;
Chỉ số 3 Ném và bắt bóng bằng hai tay từ khoảng cách xa 4 m;
Chỉ số 4 Trèo lên, xuống thang ở độ cao 1,5 m so với mặt đất
Chuẩn 2 Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ nhỏ
Chỉ số 5 Tự mặc, cởi được áo quần;
Chuẩn 3 Trẻ có thể phối hợp các giác quan và giữ thăng bằng khi vận động
Chỉ số 9 Nhảy lò cò được ít nhất 5 bước liên tục, đổi chân theo yêu cầu; Chỉ số 10 Đập và bắt được bóng bằng 2 tay;
Chỉ số 11 Đi thăng bằng được trên ghế thể dục (2m x 0,25m x 0,35m)
Chuẩn 4 Trẻ thể hiện sức mạnh, sự nhanh nhẹn và dẻo dai của cơ thể
Chỉ số 14 Tham gia hoạt động học tập liên tục và không có biểu hiện mệt mỏi trong khoảng 30 phút
Chuẩn 5 Trẻ có hiểu biết, thực hành vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng
Chỉ số 17 Che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp;
Chỉ số 18 Giữ đầu tóc, quần áo gọn gàng;
1.3.4.2 Phương pháp trò chuyện
Phương pháp trò chuyện: Là phương pháp sử dụng một hệ thống câu hỏi có mục đích nhằm thu thập các thông tin và tìm hiểu lý do, nguyên nhân của các sự kiện xảy ra ở trẻ (Nguyễn Thị Kim Anh, 2015)
Trang 34Trò chuyện là cách tiếp cận trực tiếp với trẻ thông qua giao tiếp bằng lời nói Trong trò chuyện giáo viên có thể đưa ra câu hỏi, gợi mở kéo dài cuộc trò chuyện,
để có thể thu thập các thông tin theo mục đích đã định giúp cho việc đánh giá trẻ chính xác hơn
Khi trò chuyện với trẻ giáo viên cần xác định mục đích, nội dung phù hợp Chuẩn bị phương tiện đồ dùng, đồ chơi, cần thiết để tạo ra sự gần gũi quen thuộc Gợi ý để trẻ dùng động tác, cử chỉ biểu đạt, nếu trẻ chưa nói bằng lời Dùng lời nói ngắn gọn, đơn giản; ân cần trò chuyện với trẻ, động viên khuyến khích trẻ hướng vào trò chuyện Khi đưa ra câu hỏi cần cho trẻ thời gian suy nghĩ trả lời, có thể gợi ý Trò chuyện khi trẻ thoải mái, vui vẻ, tự nguyện
Phương pháp này thường được sử dụng để đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và cảm xúc thẩm mỹ ở trẻ
Phương pháp trò chuyện theo chúng tôi là phương pháp để đánh giá phổ biến,
dễ xử dụng thứ hai sau phương pháp quan sát Đối với trẻ em, trò chuyện với trẻ sẽ cho các nhà giáo dục những thông tin chính xác, đầy đủ và trọn vẹn khi áp dụng cùng các phương pháp khác Với lĩnh vực phát triển thể chất trong bộ chuẩn chúng tôi gợi ý lựa chọn phương pháp trò chuyện khi đánh giá các chỉ số sau:
Chuẩn 5 Trẻ có hiểu biết, thực hành vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng
Chỉ số 19 Kể được tên một số thức ăn cần có trong bữa ăn hàng ngày;
Chỉ số 20 Biết và không ăn, uống một số thứ có hại cho sức khỏe
Chuẩn 6 Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân
Chỉ số 21 Nhận ra và không chơi một số đồ vật có thể gây nguy hiểm;
Chỉ số 22 Biết và không làm một số việc có thể gây nguy hiểm;
Chỉ số 23 Không chơi ở những nơi mất vệ sinh, nguy hiểm;
Chỉ số 24 Không đi theo, không nhận quà của người lạ khi chưa được người thân cho phép;
e) Chỉ số 26 Biết hút thuốc lá là có hại và không lại gần người đang hút thuốc
1.3.4.3 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ
Sản phẩm hoạt động của trẻ là sản phẩm của hoạt động cá nhân hay một nhóm
Trang 35trẻ dược thu thập từ các hoạt động hằng ngày, đặc biệt là trong HĐ tạo hình, HĐ vui chơi của trẻ như tranh vẽ, tranh xé dán, tô màu, nặn, thủ công, công trình xây dựng, câu chuyện của trẻ, lời bài hát… trong đó có hoạt động giáo dục thể chất, phát triển vận động (quay video để phân tích…) Căn cứ vào các sản phẩm này, giáo viên có thể phân tích mức độ hình thành các kĩ năng, năng khiếu, triệu chứng bệnh tật hay lệch lạc nào đó trong sự phát triển của trẻ Mỗi loại sản phẩm có một giá trị riêng để đánh giá sự phát triển của trẻ Sản phẩm HĐ chỉ cung cấp những thông tin đủ tin cậy trong trường hợp việc đánh giá các sản phẩm được kết hợp chặt chẽ với việc quan sát quá trình trẻ tạo ra sản phẩm đó (Bùi Thị Việt, 2016)
Thông qua đánh giá sản phẩm HĐ của trẻ, giáo viên biết được mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, thái độ của trẻ, khả năng ghi nhớ, tư duy, tình cảm, ngôn ngữ… cũng như quá trình HĐ của trẻ Từ đó, giáo viên xem xét lại kết quả HĐ sư phạm của mình để bổ sung cho các HĐ giáo dục tiếp theo Có thể kết hợp quan sát quá trình tạo ra sản phẩn HĐ để có đầy đủ thông tin đánh giá
Theo chúng tôi, phương pháp này sử dụng có hiệu quả để đánh giá sự phát triển của trẻ đặc biệt là các nội dung thuộc lĩnh vực tình cảm – quan hệ xã hội, thẩm
mĩ Thông qua sản phẩm của trẻ giúp các nhà giáo dục đánh giá được các kỹ năng
bé có, khả năng thẩm mĩ phối kết hợp các chi tiết, đối tượng, nguyên vật liệu để tạo
ra sản phẩm của mình Đông thời sản phẩm với màu sắc, hình ảnh cũng thể hiện được tình cảm của trẻ với đối tượng trẻ phản ánh, miêu tả hoặc tạo ra Tuy nhiên, phương pháp này không phổ biến như phương pháp quan sát và trò chuyện Với lĩnh vực phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi chúng tôi gợi ý phương pháp này sẽ sử
dụng kết hợp cùng phương pháp quan sát để đánh giá 3 chỉ số 6, 7, 8 trong chuẩn 2: Chuẩn 2 Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ nhỏ
Chỉ số 6 Tô màu kín, không chờm ra ngoài đường viền các hình vẽ;
Chỉ số 7 Cắt theo đường viền thẳng và cong của các hình đơn giản;
Chỉ số 8 Dán các hình vào đúng vị trí cho trước, không bị nhăn
1.3.4.4 Phương pháp thiết kế bài tập đánh giá
Giáo viên mầm non có thể tự thiết kế ra những bài tập cho cá nhân hoặc nhóm
Trang 36trẻ phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục để đánh giá trẻ nhằm tìm hiểu thông tin cần thiết về kiến thức, thái độ kĩ năng của trẻ trong các lĩnh vực khác nhau: thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội…
Những bài tập do giáo viên tư thiết kế có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau Trước khi dạy một vấn đề mới, giáo viên có thể thiết kế bài tập để kiểm tra khả năng của trẻ, mức độ hiểu biết, mức độ thực hiện các HĐ, các bài tập vận động…, xác định điểm mạnh, điểm yếu của từng trẻ, nhóm trẻ Từ đó, giáo viên có thể xếp trẻ vào những nhóm giáo dục thích hợp tương đương trình độ, khả năng, hoặc quyết định những kiến thức cần dạy, cần bổ sung hay những kĩ năng cần rèn luyện cho trẻ trong thời gian tới…đồng thời giáo viên có thể chủ động lựa chọn, xác định các phương pháp, biện pháp giáo dục thích hợp cho mỗi trẻ/nhóm trẻ nhằm mang lại hiệu quả cao
Ngoài ra, sau khi học xong một nội dung, một chủ đề, giáo viên có thể thiết kế các bài tập đánh giá để nắm rõ thông tin kiến thức, kĩ năng mà trẻ đã biết đã nắm vững, thuần thục, kĩ năng, kiến thức hoặc vấn đề nào cần được bổ sung và hướng dẫn thêm để có biện pháp thiết kế nội dung phù hợp thực tế và bổ sung vào mục tiêu giáo dục tiếp theo
Thiết kế bài tập cần được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình giáo dục để xác định mức độ tiến bộ và lập kế hoạch giáo dục tiếp theo sao cho phù hợp với mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng của trẻ Bài tập đánh giá thường đơn giản, có khi là những trò chơi, câu đố… giáo viên dự vào mục tiêu, nội dung chương trình,
Bộ chuẩn PTTENT để thiết kế bài tập (Bùi Thị Việt, 2016)
Việc thiết kế bài tập mang tính linh hoạt giáo viên có thể sử dụng các phương tiện, đồ dùng, đồ chơi sẵn có để xây dựng các bài tập đánh giá trẻ Giáo viên có thể căn cứ vào điều kiện dạy và khả năng thực tế của trẻ để xác định bài tập cũng như mức độ, lượng kiến thức, kĩ năng…phù hợp để đánh giá Không phải tất cả mọi vấn
đề của từng trẻ, từng nhóm trẻ đều có sẵn các phương pháp và bài tập để đánh giá, không phải giáo viên nào cũng có thể thiết kế các bài tập đánh giá trẻ phù hợp và
Trang 37chuẩn xác Vì thế, việc tập huấn trang bị kiến thức kiểm ta đánh giá trẻ cho giáo viên là điều cần thiết (Tạ Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thư, 2007)
Có thể thiết kế các loại bài tập để đánh giá trẻ như sau:
- Bài tập thực hiện bằng lời: Giao nhiệm vụ bằng lời cho trẻ, trẻ thực hiện bằng lời
- Bài tập thực hiện bằng thao tác: Phân loại đồ vật, xếp thứ tự, sắp xếp trình tự thời gian của sự việc, hiện tượng; phân biệt, phân loại, giải thích cho sự lựa chọn đó bằng cách sử dụng tranh lô tô, tranh ảnh, đồ chơi…
- Các bài tập trắc nghiệm chưa chuẩn hóa (Bùi Thị Việt, 2016)
Chúng tôi cho rằng với trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng Đặc biệt là với trẻ 5 – 6 tuổi, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo Phương pháp thiết kế bài tập và tổ chức theo hình thức trò chơi là một trong các phương pháp có hiệu quả cao để đánh giá trẻ Thông qua các bài tập, trò chơi nhà giáo dục sẽ đánh giá được kiến thức, kỹ năng, thái độ của trẻ Phương pháp này sử dụng hiệu quả nhất ở lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ Với lĩnh vực phát triển thể chất cũng có thể sử dụng phương pháp này để đánh giá cho những chỉ số:
Chuẩn 4 Trẻ thể hiện sức mạnh, sự nhanh nhẹn và dẻo dai của cơ thể
Chỉ số 12 Chạy 18m trong khoảng thời gian 5-7 giây;
Chỉ số 13 Chạy liên tục 150m không hạn chế thời gian;
Chuẩn 5 Trẻ có hiểu biết, thực hành vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng
Chỉ số 15 Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn;
Chỉ số 16 Tự rửa mặt, chải răng hàng ngày;
Chuẩn 6 Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân
Chỉ số 25 Biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy hiểm;
1.3.4.5 Phương pháp sử dụng bảng kiểm kê
Bảng kiểm kê bao gồm bảng liệt kê và thang đo
- Bảng liệt kê là tập hợp các chỉ số về những vấn đề chính của chương trình hay các nhân tố chính của sự phát triển của trẻ được sắp xếp theo hệ thống và đảm
Trang 38bảo mối quan hệ giữa chúng với nhau Các chỉ số trong bảng liệt kê được trình bày
rõ rang, phù hợp với chương trình và độ tuổi của trẻ nên nó được dùng để đánh giá trẻ và giúp giáo viên định hướng vào những vấn đề chính trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ
- Thang đo cũng tương tự như bảng liệt kê, tuy nhiên trong bảng liệt kê chỉ xác định một hành vi, một kĩ năng… là đã xuất hiện hay chưa, còn trong thang đo lại xác định mức độ chất lượng của hành vi, kĩ năng … đó khi nó xuất hiện Trong thực
tế đánh giá trẻ thường sử dụng phối hợp bảng liệt kê và thang đo để đánh giá mức
độ lịnh hội kiến thức, kĩ năng của trẻ (Bùi Thị Việt, 2016)
Giáo viên sử dụng bảng kiểm kê nhằm rà soát mức độ đạt mục tiêu giáo dục trong/sau một giai đoạn, một chủ đề; đề xuất biện pháp giáo dục, hướng dẫn, đánh giá sự phát triển của trẻ, qua đó phát triển chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ Dựa vào nội dung được xác định trong bảng kiểm kê, giáo viên có thể quyết định trình tự nội dung dạy học phù hợp và đề ra kế hoạch giáo dục phù hợp cho từng trẻ/nhóm trẻ
Với phương pháp này đòi hỏi người đánh giá phải có kiến thức về đánh giá và xây dựng bảng liệt kê và thang đo Với giáo dục mầm non tại Việt Nam, GV là người trực tiếp đánh giá trẻ nhưng hiểu biết vể phương pháp này chưa cao Vì vậy, phương pháp này ít được sử dụng và khá xa lạ với GV trong đánh giá sự phát triển của trẻ nói chung, sự phát triển thể chất trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng
Tóm lại, trong đánh giá trẻ mầm non cần phối hợp các phương pháp một cách hợp lí, linh hoạt mới cho kết quả chính xác và có ý nghĩa Người đánh giá không thể
sử dụng một phương pháp riêng cho một chỉ số nào mà phải có sự phối hợp Trong đánh giá lĩnh vực thể chất trẻ 5 – 6 tuổi chúng tôi có gợi ý các phương pháp chính: Quan sát, trò chuyện, phân tích sản phẩm và thiết kế bài tập đánh giá Đây là các phương pháp phổ biến, dễ xử dụng, phù hợp với GVMN và có tính khả thi cao
Trang 391.4 Sử dụng bộ chuẩn trong đánh giá sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.4.1 Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Việt Nam
1.4.1.1 Khái niệm “Chuẩn, chuẩn phát triển trẻ em”
Khái niệm chuẩn: “Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Trong giáo dục, chuẩn là thuật ngữ dùng để chỉ khối lượng hay mức độ kiến thức được tích lũy và các kĩ năng có được của người học, thể hiện những gì người học cần biết và có thể làm được, làm căn cứ cho chất lượng giáo dục Chuẩn được
sử dụng làm cơ sở so sánh để đánh giá về năng lực của một người nào đó hay số lượng, chất lượng, giá trị, mức độ của một số vấn đề, lĩnh vực hoạt động nào đó (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Khái niệm chuẩn phát triển trẻ em: “Là những mong đợi về những gì trẻ nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Theo từ điển Việt Nam trên soha.net thì sử dụng là động từ, có nghĩa là: lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó (Soha.net, 2018)
Như vậy, có thể hiểu sử dụng bộ chuẩn đánh giá sự phát triển thể chất trẻ em là: Lấy, dùng bộ chuẩn PTTENT Việt Nam làm phương tiện để đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ 5 – 6 tuổi
1.4.1.2 Mục đích ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Thứ nhất, hỗ trợ thực hiện Chương trình giáo dục mầm non nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp Một Trong đó, Bộ chuẩn PTTENT là cơ sở để cụ thể hóa mục tiêu, nội dung chăm sóc, giáo dục, lựa chọn và điều chỉnh hoạt động chăm sóc, giáo dục cho phù hợp với trẻ mẫu giáo 5 tuổi; là cơ sở để xây dựng bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Thứ hai, Bộ chuẩn PTTENT là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyển, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
Trang 40em 5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em Trên cơ sở dó tạo
sự thống nhất trong chăm sóc, giáo dục trẻ giữa nhà trường, gia đình và xã hội (Nguyễn Thị Kim Anh, 2015)
1.4.1.3 Vai trò, ý nghĩa của Bộ chuẩn PTENT
- Bộ chuẩn PTENT giúp xác định những điều mong đợi, những gì trẻ 5 tuổi cần biết và có thể làm được để đáp ứng nhu cầu của sự tăng trưởng và phát triển của
cá nhân trẻ
- Bộ chuẩn PTTENT làm căn cứ quan trọng để xác định mục tiêu, kế hoạch và phát triển chương trình giáo dục phù hợp với nhu cầu, đặc điểm phát triển của trẻ 5 tuổi Bộ chuẩn PTTENT làm cơ sở cung cấp các thông tin phản hồi về sự phát triển
cá nhân mỗi trẻ, giúp giáo viên và phụ huynh lựa chọn nội dung giáo dục, lập kế hoạch giáo dục và xây dựng chương trình chi tiết, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ 5 tuổi
1.4.1.4 Những lưu ý khi sử dụng Bộ chuẩn PTTENT
Khi sử dụng Bộ chuẩn PTTNT phải tránh không để một trẻ nào cảm thấy mình
bị thất bại, yếu kém hơn trẻ khác Tất cả trẻ em đều có tiềm năng và khả năng phát triển Mỗi trẻ là một con người độc lập, phát triển theo các quy luật đặc trưng cho
độ tuổi, có tốc độ và trình độ phát triển riêng mang tính cá nhân Trẻ sẽ bộc lộ đa dạng khả năng và kĩ năng ở các lĩnh vực phát triển Trẻ phát triển và học bằng trải nghiệm, khám phá tích cực môi trường xung quanh qua các HĐ do trẻ tự khởi xướng dưới sự hướng dẫn của người lớn
Bộ chuẩn PTTENT đa lĩnh vực có tính độc lập tương đối đồng thời tác động qua lại lẫn nhau Bộ chuẩn cần được sử dụng đúng đắn, hợp lí theo các mục đích sử dụng đề ra Bộ chuẩn được xây dựng với mục đích chủ yếu là để các nhà giáo dục trẻ và gia đình sử dụng
Sự tham gia của gia đình là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện Bộ chuẩn PTTENT Những thành viên trong gia đình là những người tiếp xúc với trẻ thường xuyên, dạy dỗ, chăm sóc và có những quyết định đầu tiên trong cuộc sống của trẻ