1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Trạng Giáo Viên Sử Dụng Phương Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Tự Bảo Vệ Cho Trẻ Mẫu Giáo 3 - 4 Tuổi

176 85 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi của giáo viên mầm non .... Trong kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN của Bộ Giáo dục và Đào t

Trang 1

Nguyễn Thị Hồng

THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

Nguyễn Thị Hồng

THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục mầm non)

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Trang 4

Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, phòng Sau Đại học, phòng Đào tạo, Khoa Giáo dục mầm non, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã dành rất nhiều thời gian tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Thị Quốc Minh đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn Ban Giám Hiệu và tập thể giáo viên, nhân viên các lớp

3-4 tuổi của một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và hợp tác nhiệt tình trong suốt quá trình tôi nghiên cứu tại trường

Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Hồng

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ EM 8

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ em 8

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Cơ sở lý luận về phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 17

1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ 17

1.2.2 Giáo dục kỹ năng sống- Giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 23

1.2.3 Phương pháp- Phương pháp giáo dục- Phương pháp giáo dục kỹ năng sống- Phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 25

1.2.4 Hình thức giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 37

1.2.5 Khái niệm biện pháp 37

1.2.6 Một số đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi liên quan đến việc giáo dục KNTBV cho trẻ 38

1.2.7 Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 42

Tiểu kết chương 1 50

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI 52

Trang 6

2.1.2 Nhiệm vụ khảo sát 52

2.1.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 52

2.1.4 Khái quát về cơ sở khảo sát 55

2.2 Tiêu chí và thang đo đánh giá 56

2.2.1 Tiêu chí đánh giá 56

2.2.2 Thang đo và cách đánh giá thực trạng biểu hiện kỹ năng tự bảo vệ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 57

2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng biểu hiện KNTBV của trẻ 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM 58

2.4 Thực trạng giáo viên mầm non sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 68

2.4.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM 68

2.4.2 Thực trạng tổ chức giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi của giáo viên mầm non 70

2.4.3 Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi của giáo viên mầm non 77

2.4.4 Các điều kiện cần đảm bảo khi sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi; Những nguyên nhân gây khó khăn cho giáo viên khi sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 95 Tiểu kết chương 2 100

Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP GIÁO VIÊN SỬ DỤNG TỐT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI 102

3.1 Những định hướng xác lập biện pháp giúp GV sử dụng tốt phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 102

Trang 7

3.2 Một số biện pháp giúp giáo viên sử dụng tốt phương pháp giáo dục KNTBV

cho trẻ 3-4 tuổi 103

3.3 Khảo nghiệm một số nhóm biện pháp giúp giáo viên sử dụng tốt phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM 115

3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 115

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 115

3.3.3 Mô tả cách thức tiến hành 115

3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 116

Tiểu kết chương 3 122

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128 PHỤ LỤC

Trang 8

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

Bảng 2.1 Khái quát thông tin về đối tượng khảo sát 55

Bảng 2.2 Tiêu chí và thang đo đánh giá biểu hiện KNTBV của trẻ 3-4 tuổi 57 Bảng 2.3 Biểu hiện kỹ năng: Nhận ra và không chơi với một số đồ vật nguy hiểm đến tính mạng 58

Bảng 2.4 Biểu hiện kỹ năng: Biết và không làm một số việc, hành động có thể gây nguy hiểm đến tính mạng 59

Bảng 2.5 Biểu hiện kỹ năng: Biết và không chơi ở những nơi mất vệ sinh, nguy hiểm, không an toàn đến tính mạng 60

Bảng 2.6 Biểu hiện kỹ năng: Không đi theo, không nhận quà của người lạ khi chưa được người thân cho phép 61

Bảng 2.7 Biểu hiện kỹ năng: Nhận biết, phòng tránh một số trường hợp khẩn cấp, biết kêu cứu gọi người giúp đỡ và chạy ra khỏi nơi nguy hiểm 63

Bảng 2.8 Mức độ biểu hiện KNTBV của trẻ 3-4 tuổi 64

Bảng 2.9 So sánh biểu hiện KNTBV của trẻ 3-4 tuổi ở nhóm trường MN Công lập và MN ngoài Công lập 66

Bảng 2.10 Nhận thức của giáo viên mầm non về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 68

Bảng 2.11 Mức độ thường xuyên giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 71

Bảng 2.12 Hình thức giáo viên giáo dục KNTBV 74

Bảng 2.13 Cách cho điểm ở mỗi mức độ 78

Bảng 2.14 Thang đánh giá mức độ khảo sát 78

Bảng 2.15 Nội dung các phương pháp GV sử dụng để giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 78

Bảng 2.16 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục KNTBV 79

Trang 10

Bảng 2.18 Kết quả khảo sát mức độ hiệu quả của các phương pháp giáo dục

KNTBV 86 Bảng 2.19 Kết quả khảo sát mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục với mục

tiêu và nội dung giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 89 Bảng 2.20 Kết quả khảo sát mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục với đặc

điểm tâm lí trẻ 3-4 tuổi 90 Bảng 2.21 Kết quả khảo sát mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục với điều

kiện sống tại TP.HCM 92 Bảng 2.22 Kết quả khảo sát mức độ phù hợp của phương pháp giáo dục với điều

kiện cơ sở vật chất của trường, lớp 93 Bảng 2.23 Các điều kiện cần đảm bảo khi sử dụng phương pháp giáo dục

KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 95 Bảng 2.24 Nguyên nhân gây khó khăn khi GV sử dụng phương pháp giáo dục

KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 96 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 116 Bảng 3.3 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp 119

Trang 11

Biểu đồ 2.1 Điểm trung bình mức độ biểu hiện KNTBV theo từng tiêu chí 65 Biểu đồ 2.2 Đánh giá chung mức độ biểu hiện KNTBV của trẻ 3-4 tuổi 66 Biểu đồ 2.3 Hình thức giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi 76 Biểu đồ 2.4 Mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục KNTBV 80 Biểu đồ 2.5 So sánh mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục KNTBV giữa 2

nhóm trường Công lập và ngoài Công lập 84 Biểu đồ 2.6 Mức độ hiệu quả các phương pháp giáo dục KNTBV 88

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em cần được lớn lên trong sự an toàn và hạnh phúc Trẻ em cần lắm sự yêu thương từ những người xung quanh Thế nhưng, những người xung quanh không hẳn lúc nào cũng có thể ở bên cạnh để bảo vệ và che chở cho trẻ có được sự an toàn tuyệt đối Trẻ em ở độ tuổi đang lớn rất hiếu động, đặc biệt ở độ tuổi lên ba, thường có tâm

lí tự mình khám phá thế giới xung quanh và mong muốn khẳng định bản thân Các em vốn ngây thơ hồn nhiên, chưa có khả năng lường trước những điều không hay sẽ xảy đến với mình nên rất dễ bị đối mặt hoặc tự mình tiếp cận với nhiều tình huống nguy hiểm khó lường Nếu thiếu kỹ năng nhận biết và tránh xa những tình huống bất lợi, những hoàn cảnh thiếu an toàn thì rất nguy hiểm An toàn là điều kiện sống cơ bản, mỗi bạn nhỏ nếu như hiểu được việc yêu quý bản thân sẽ học được cách tự bảo vệ chính mình Thực tế đã chứng minh, trẻ càng được giáo dục sớm kỹ năng tự bảo vệ để tránh nguy hiểm, bị rủi ro thì sẽ vững vàng vượt qua những thử thách của cuộc sống

Vì vậy, cách bảo vệ trẻ tốt nhất chính là dạy cho chúng biết cách tự bảo vệ chính mình (Huỳnh Văn Sơn et al., 2017)

Việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng tự bảo vệ nói riêng ngày càng được xã hội quan tâm Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) là tổ chức có nhiều công trình nghiên cứu sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân đã phân loại kỹ năng sống thành ba nhóm cơ bản Trong đó, kỹ năng tự bảo vệ

là một trong những kỹ năng quan trọng thuộc nhóm một- nhóm kỹ năng tự nhận thức

và sống với chính mình Vì vậy, nếu xét dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân thì kỹ năng tự bảo vệ là kỹ năng rất cần thiết và quan trọng đối với mỗi người (UNICEF, 2009)

Thuyết nhu cầu của Maslow đã chỉ ra nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhóm nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhóm nhu cầu bậc cao (meta needs) Ông nghiên cứu cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, thứ tự từ tầng 1 đến tầng

5 lần lượt là: nhu cầu sinh học; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu tự trọng và nhu cầu tự khẳng định Từ đó cho chúng ta thấy nhu cầu an toàn là nhu cầu rất quan trọng (Maslow, 1943; Maslow & Lewis, 1987)

Trang 13

Giai đoạn tuổi lên ba ở trẻ xuất hiện mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang được phát triển mạnh, muốn tự mình làm tất cả mọi việc như người lớn, và một bên là khả năng còn quá non yếu của trẻ Tình trạng trẻ em luôn luôn đòi hỏi “để con làm lấy!” Trong trường hợp này, người lớn không thể dùng biện pháp cấm đoán, vì như vậy là ngăn chặn bước đường phát triển của trẻ mà người lớn phải cung cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho bản thân (Nguyễn Ánh Tuyết et al., 2002)

Trong giai đoạn trẻ 3-4 tuổi, nhân cách của trẻ bắt đầu hình thành Dấu hiệu đầu tiên là sự xuất hiện tự ý thức, còn gọi là ý thức bản ngã, tức là tự nhận thức về bản thân mình Trẻ bắt đầu ý thức được rằng mình là một con người riêng biệt, khác với những người xung quanh, có những ý muốn riêng biệt Trẻ bắt đầu nhận ra mình, biết tên của mình, hiểu cơ thể của mình và biết những đặc điểm về giới tính của mình Nhu cầu tự khẳng định và nguyện vọng được độc lập thể hiện rất rõ ở giai đoạn này Người lớn nên tôn trọng tính độc lập của trẻ và biết cách hướng dẫn cho trẻ một số việc trẻ có thể

tự làm được thì trẻ sẽ thỏa mãn được tính độc lập tự chủ, tạo tiền đề cho sự hình thành nhân cách của trẻ (Nguyễn Ánh Tuyết, 2007)

Theo thông tư 28 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non năm 2017, trong lĩnh vực giáo dục phát triển thể chất của lứa tuổi 3-4 tuổi

có nội dung giữ gìn an toàn Trong đó bao gồm một số nội dung như nhận biết và phòng tránh những hành động nguy hiểm; những nơi không an toàn; những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng; nhận biết một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2017a)

Năm học 2017-2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo Phòng Giáo dục hướng dẫn các trường xây dựng kế hoạch năm học 2017-2018 trong trường mầm non phải duy trì việc đảm bảo chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe và an toàn

tuyệt đối cho trẻ Đặc biệt phải chú trọng dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ an toàn cho bản

thân theo yêu cầu của chương trình (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2017b)

Năm 2010 Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam đã ban hành Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Trong đó, chuẩn 6 đã đưa ra chỉ số đánh giá “Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân” Để trẻ có thể đạt được chuẩn này khi ra khỏi trường mầm non, chuẩn bị hành trang cho việc lên lớp Một, bắt buộc giáo viên mầm non (GVMN) phải

Trang 14

giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ Để làm được điều đó, đòi hỏi GVMN phải sử dụng tốt các phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2010)

Trong kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả Lê Bích Ngọc với Module MN 39 “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo” đề cập đến các nhóm phương pháp giáo dục kỹ năng sống nói chung và giáo dục

kỹ năng tự bảo vệ nói riêng bao gồm nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp dùng lời và nhóm phương pháp thực hành Để giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ một cách có hiệu quả, ngoài việc xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung người giáo viên phải biết sử dụng hiệu quả các phương pháp giáo dục vì mỗi phương pháp có đặc điểm và yêu cầu sư phạm khác nhau Các phương pháp này phải phù hợp với mục tiêu

và nội dung giáo dục mầm non; đặc điểm tâm lí trẻ; văn hóa, điều kiện sống và điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp (Lê Bích Ngọc, 2013)

Thế giới bên ngoài luôn ẩn chứa rất nhiều cạm bẫy, rình rập các bạn nhỏ mỗi khi các em rời xa vòng tay của những người thân yêu Trên thực tế hiện nay tình trạng trẻ em thụ động, không có kiến thức tự bảo vệ mình, không biết ứng phó trong những tình huống khẩn cấp, nguy hiểm, không biết tìm kiếm sự giúp đỡ… đã gây ra những hậu quả vô cùng thương tâm Thực tế này khiến cho toàn xã hội, đặc biệt là các nhà giáo dục phải trăn trở và suy nghĩ

Trong khi đó, các đề tài nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo

vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi rất ít, chủ yếu là nghiên cứu dành cho các lứa tuổi lớn hơn Riêng nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 3-4 tuổi gần như không có

Thấy được vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, tôi chọn đề tài “Thực trạng giáo viên

sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM Từ đó đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp giúp giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho

Trang 15

trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong trường mầm non được tốt hơn

3 Giới hạn đề tài nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp giáo viên đã sử dụng để giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Địa bàn khảo sát

Khảo sát thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở 08 trường MN trong địa bàn TP.HCM: trường MN Thành Phố (quận 3), trường MN Măng Non 1 (quận 10), trường MN Tuổi Xanh (quận Tân Bình), trường MN 20/10 (quận 1), trường MN Chuồn Chuồn Kim (quận 1), trường MN Sân

Lá Cọ (quận 1), trường MN Bông Hồng (quận Tân Bình), trường MN Hương Hồng (quận Tân Bình)

- Giáo viên mầm non dạy lớp 3-4 tuổi: 80 người

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm

non

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

5 Giả thuyết nghiên cứu

Việc giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi ở một

số trường mầm non tại TP.HCM còn nhiều hạn chế Nếu làm rõ thực trạng giáo viên

sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ và nguyên nhân của những hạn chế thì sẽ đề xuất được những biện pháp giúp giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi tốt hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài (kỹ năng, kỹ năng sống, KNTBV, giáo dục KNTBV, phương pháp giáo dục KNTBV )

Trang 16

- Nghiên cứu về thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM

- Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp giúp giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ tốt hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến

+ Đối tượng: Hoạt động của giáo viên và trẻ, biểu hiện KNTBV của trẻ

+ Nội dung: Thực trạng biểu hiện KNTBV của trẻ, thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV của GV

+ Công cụ: Phiếu biên bản quan sát hoạt động giáo viên và trẻ

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

+ Mục đích: điều tra giáo viên bằng phiếu hỏi để thấy được thực trạng nhận thức và thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, các nguyên nhân của hạn chế việc sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ

+ Đối tượng: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi đối với giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố HCM

Trang 17

 Mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục KNTBV

 Mức độ hiệu quả các phương pháp giáo dục KNTBV

 Mức độ phù hợp của các phương pháp giáo dục KNTBV (với mục tiêu và nội dung giáo dục KNTBV, đặc điểm tâm lí trẻ 3-4 tuổi, điều kiện sống tại TP.HCM và điều kiện cơ sở vật chất trường, lớp)

+ Công cụ: Sử dụng mẫu phiếu hỏi dành cho giáo viên tại một số trường mầm non ở TP.HCM

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

+ Mục đích: Nghiên cứu sản phẩm trong kế hoạch giáo dục (năm, tháng, tuần, giáo án) của giáo viên mầm non ở một số trường mầm non tại TP.HCM

+ Đối tượng: Hồ sơ giáo dục của GV

+ Nội dung: Nghiên cứu hồ sơ của GV để thấy thực trạng GV sử dụng phương pháp để giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi

+ Công cụ: Phiếu biên bản ghi chép kết quả nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn

+ Mục đích: Phỏng vấn CBQL và GVMN để biết thực trạng nhận thức và thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi

+ Đối tượng: CBQL và GVMN

+ Nội dung: Nhận thức của CBQL và GV về KNTBV và thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV của GV

+ Công cụ: Máy ghi âm, biên bản ghi chép

- Phương pháp khảo nghiệm

+ Mục đích: Lấy ý kiến CBQL và GVMN về những biện pháp mà tác giả đề xuất + Đối tượng: CBQL và GVMN

+ Nội dung: Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tác giả đề xuất

+ Công cụ: Phiếu khảo sát tính cần thiết và tính khả thi các biện pháp

7.3 Phương pháp xử lý số liệu thống kê

Trang 18

+ Mục đích: tìm ra kết quả của quá trình khảo sát thực trạng, khảo sát biện pháp khảo nghiệm

+ Đối tượng: dữ liệu, thông tin

+ Nội dung: xử lí, phân tích thông tin thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra, ghi chép, …

+ Công cụ: dùng phần mềm Excel

8 Đóng góp của đề tài

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi Khái quát được thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường MN tại TP.HCM Đề tài chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế trong việc sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV của GV

Đề xuất một số biện pháp giúp GV sử dụng tốt phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi

Trang 19

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ EM

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ em

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Có rất nhiều tổ chức cũng như cá nhân trên thế giới đã nghiên cứu về kỹ năng sống nói chung và kỹ năng tự bảo vệ của trẻ nói riêng như Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em khẳng định: “Vì chưa đạt đến sự trưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, trước cũng như sau chào đời Các bậc cha mẹ

là người chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi nấng và giáo dục con cái của mình”

“Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ con cái của mình tránh mọi nguy cơ xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau Không một ai, kể cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, anh

em, họ hàng, thầy cô, hàng xóm hay những người xa lạ có thể lạm dụng và xâm hại trẻ

em Lạm dụng tình dục trẻ em là một tội ác Nếu cha mẹ hay những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhận thấy những điều đó mà không báo cho các nhà chức trách thì bị coi là kẻ đồng phạm” “Không ai được phép làm tổn hại đến trẻ em Nghĩa

vụ của chúng ta là tôn trọng và bảo vệ các em Không ai được ngược đãi trẻ em trai và gái về mặt thể chất, bằng ngôn ngữ hoặc tình cảm, kể cả cha mẹ, thầy cô giáo hay những người chăm sóc trẻ” (UNICEF, 2006)

Một nghiên cứu của nhóm các tác giả Wurtele, Kast, Miller-Perrin, and Kondrick trong “Comparison of programs for teaching personal safety skills to preschoolers” (So sánh các chương trình giảng dạy kỹ năng an toàn cá nhân cho trẻ mẫu giáo) Các tác giả đã so sánh hiệu quả của hai chương trình giáo dục để giảng dạy

kỹ năng an toàn cá nhân với 100 trẻ mầm non Chương trình đào tạo kỹ năng hành vi

đã được so sánh với chương trình dựa trên cảm xúc, hướng dẫn trẻ em tin tưởng cảm xúc khi đưa ra quyết định an toàn Một tháng sau khi tham gia chương trình, cha mẹ

và giáo viên được khảo sát về phản ứng của trẻ Kết quả thu được, cả hai chương trình đều có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng giữ an toàn cá nhân cho trẻ

Trang 20

em mà không làm cho trẻ sợ hãi Tuy nhiên, số trẻ trong chương trình dựa trên cảm xúc đã gặp khó khăn khi nhận ra sự phù hợp của một số yêu cầu liên lạc Cách tiếp cận này có thể có một số hạn chế với trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo (Wurtele, Kast, Miller-Perrin, & Kondrick, 1989)

Tác giả Sandy K Wurtele với đề tài “Teaching personal safety skills to year-old children: A behavioral approach” (Dạy kỹ năng an toàn cá nhân cho trẻ bốn tuổi: Cách tiếp cận hành vi) Mục đích của nghiên cứu này là xác định hiệu quả của cách tiếp cận hành vi để dạy trẻ bốn tuổi kỹ năng an toàn cá nhân Đề tài nghiên cứu trên 24 trẻ mầm non đã được kiểm tra trước và tham gia vào chương trình huấn luyện

four-kỹ năng hành vi hoặc chương trình kiểm soát Trẻ em đã được hướng dẫn về four-kỹ năng

và tri thức Kết quả nghiên cứu cho thấy, trẻ tham gia chương trình đào tạo đã có nhiều kiến thức về các kỹ năng an toàn cá nhân tốt hơn, kiến thức về lạm dụng tình dục cũng được nâng cao Hiệu quả này được duy trì ở tháng tiếp theo Tác giả kết luận, các chương trình dạy kỹ năng an toàn cá nhân theo cách tiếp cận hành vi có thể được thực hiện hiệu quả và an toàn với trẻ em bốn tuổi (Wurtele, 1990)

Các tác giả Boyd, Herring and Briers trong đề tài “Developing life skills in youth” (Phát triển kỹ năng sống trong giới trẻ) năm 1992 đã nghiên cứu một số kỹ năng sống cần thiết cho thanh thiếu niên, trong đó có các kỹ năng tự bảo vệ như kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ, kỹ năng tự ứng phó khi gặp nguy hiểm (Boyd, Herring,

Trong cuốn “Raising kids who can protect themself” (Nuôi dạy những đứa trẻ

có thể tự bảo vệ mình) của tác giả Debbie and Mike Gardnert thuộc bản quyền của công ty McGraw Hill, Mỹ Các tác giả đã chia sẻ phương pháp dạy trẻ biết cách xác

Trang 21

định và thoát khỏi những tình huống nguy hiểm, những nơi nguy hiểm như cách nhận dạng những đặc điểm vị trí thoát hiểm cụ thể từ sân chơi đến những nơi mua sắm, cách hướng dẫn cho trẻ làm thế nào để có được những quyết định thông minh về sự bảo vệ

an toàn cho bản thân khi không có người lớn bên cạnh (Debbie & Mike Gardnert, 2004)

Dự án “A parent training program for the road safety education of preschool children” (Hướng dẫn phụ huynh giáo dục an toàn đường bộ cho trẻ mẫu giáo) Mục tiêu chính của dự án nghiên cứu này là đánh giá chương trình đào tạo an toàn đường

bộ cho trẻ em mầm non trên cơ sở lý thuyết học tập hành vi và kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương trình đào tạo này đã được thử nghiệm trong bốn nghiên cứu thí điểm với 233 trẻ em và cuối cùng được đánh giá với 658 trẻ em, tuổi từ 3-6 Với chương trình này, phụ huynh của trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 6 học cách dạy con các hành vi

an toàn cho người đi bộ Chương trình đào tạo là một gói truyền thông bao gồm một

bộ phim trình bày các mục tiêu học tập và các phương pháp đào tạo và một cuốn sách nhỏ đưa ra các hướng dẫn cụ thể về quá trình đào tạo Cả phim và tập sách nhỏ đều

mô tả các bài tập mà cha mẹ nên thực hành với con cái của họ trực tiếp trong các tình huống giao thông thực tế (Limbourg & Gerber, 1981)

Tác giả Gavin De Becker với “Protecting the gift: Keeping children and teenagers safe (and parents sane)” (Giúp trẻ em và thiếu niên an toàn) thuộc bản quyền của nhà xuất bản Dell, New York Tác giả đã đưa ra những phương pháp hướng dẫn cha mẹ có thể dạy trẻ xác định các tình huống nguy hiểm và cách thoát khỏi những tình huống nguy hiểm khi trẻ phải đối mặt Cụ thể như làm thế nào nếu con mình bị lạc, làm thế nào để nhận biết con mình bị lạm dụng tình dục (De Becker, 2013)

Yoon Yeo Hong với “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình” cho rằng trẻ em cần phải rèn luyện sự nhạy bén đối với các vấn đề an toàn trong cuộc sống Các em cần phải có cái nhìn đầy đủ về những tai họa tiềm ẩn liên quan đến sự an toàn trong môi trường sống hiện đại ngày nay, để từ đó đưa ra được cách giải quyết hợp lí và hiệu quả trong từng trường hợp khác nhau Quyển sách gồm 9 chương, nội dung các chương rất gần gũi và thiết thực như: Nguy hiểm không phân biệt bạn và tôi; Cần sự phản ứng nhanh trí; An toàn không thể lơ là, hãy tự vẽ cho mình một bản đồ an toàn; Lúc này nên làm

Trang 22

thế nào; Lúc này thực sự rất sợ hãi, phải làm thế nào đây; Tuy rằng đã đến cửa nhà mình thì vẫn phải chú ý an toàn đấy; Tội phạm lợi dụng điện thoại di động và internet; Thứ quý giá nhất trên thế giới chính là bản thân mình và năm việc mà cha mẹ nên biết Trong từng chương tác giả đã đưa ra 5 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình phù hợp nội dung từng chương, rất cụ thể, có thể áp dụng được cho tất cả các bạn nhỏ (Yoon, 2011)

Tác giả Jayneen Sanders and Anna Hancock có bộ sách gối đầu giường dành cho trẻ 3+ với tên gọi “An toàn cho con yêu” Trong bộ sách có cuốn “Tớ biết bảo vệ

cơ thể mình” Tác phẩm gồm các nội dung: Trao quyền cho trẻ; Dạy trẻ về an toàn thân thể; Nhận diện sự an toàn và không an toàn; Thiết lập mạng lưới vệ sĩ an toàn; Tránh đụng chạm cơ thể; Phân biệt điều bất ngờ thú vị khác với bí mật xấu xa; Hiểu

về các bộ phận riêng tư Các tác giả đã đưa ra 5 quy tắc để giúp trẻ bảo vệ bản thân mình gồm: Cơ thể của bạn do bạn quyết định; Mạng lưới vệ sĩ an toàn; Dự cảm bất an; Vùng riêng tư và không giữ bí mật Cuốn sách có nhiều hình ảnh đẹp, gần gũi, phù hợp lứa tuổi trẻ nhỏ Trong từng nội dung, tác giả khuyến khích trẻ nói lên suy nghĩ của mình và biết chia sẻ cảm xúc với những người lớn đáng tin cậy (Jayneen & Anna, 2017a)

Cuốn sách bài tập “Con học cách tự vệ” cũng nằm trong bộ sách “An toàn cho con yêu” Cuốn sách tổng hợp nhiều bài tập đủ các lĩnh vực: nhận biết cảm xúc, cảm giác an toàn, dự cảm bất an, mạng lưới vệ sĩ an toàn, vùng cơ thể riêng tư, bong bóng

an toàn…Nội dung sách đa dạng các bài tập giúp trẻ thực hành tập luyện như: trẻ có thể nói lên suy nghĩ của mình, hoặc trẻ có thể vẽ, tô màu, dán hình, chọn đáp án đúng, khuyến khích trẻ thực hành các tình huống với cha mẹ Tác giả còn hướng dẫn trẻ thiết lập mạng lưới vệ sĩ an toàn cho mình bằng cách viết (vẽ) tên 5 vệ sĩ an toàn của mình lên 5 ngón tay Những “vệ sĩ” mà các con hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng chia

sẻ mọi chuyện (Jayneen & Anna, 2017b)

Nhìn chung, các tác phẩm nghiên cứu về phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo

vệ cho trẻ mầm non ở nước ngoài còn ít, chủ yếu là các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, trong đó đa số là nghiên cứu cho trẻ tiểu học và trẻ vị thành niên

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây việc giáo dục kỹ năng sống nói chung

Trang 23

và kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ nói riêng được các nhà tâm lí và giáo dục học quan tâm Cụm từ “Tự bảo vệ” được nhắc đến nhiều trên các trang mạng truyền thông và thông tin đại chúng Với ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ em trong độ tuổi mầm non nên kỹ năng tự bảo vệ được cả xã hội, đặc biệt là ngành giáo dục rất quan tâm

Nội dung thực hiện kế hoạch năm học 2017-2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo Phòng Giáo dục triển khai xuống cho các trường mầm non thực hiện có nội dung chú trọng giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ nói riêng Nội dung này được đưa thành một mục riêng biệt nhắc nhở các nhà quản lý và giáo viên mầm non cần phải lưu ý, quan tâm để có phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ phù hợp và hiệu quả

Trong cuốn sách “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ quản lí và giáo viên mầm non năm học 2017-2018” có nội dung “Đảm bảo an toàn- Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” để bồi dưỡng cho giáo viên mầm non Qua nội dung này, giáo viên được bồi dưỡng kiến thức về cách nhận biết và phát hiện những tai nạn thương tích thường xảy ra cho trẻ trong trường mầm non và nguyên nhân gây ra những tai nạn thương tích Qua đó giúp giáo viên có thái độ tích cực trong công tác đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, để từ đó giúp GV có kỹ năng xử trí ban đầu một số tai nạn thương tích và có phương pháp hướng dẫn trẻ một số kỹ năng tự bảo vệ bản thân được an toàn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017b)

Tài liệu “Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non” của nhóm tác giả Hoàng Thị Dinh, Nguyễn Thị Thanh Giang, Bùi Thị Kim Tuyến, Lương Thị Bình, Nguyễn Thị Quyên, Bùi Thị Lâm và Hoàng Thị Thu Hương với tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong

tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo Nội dung này gồm 8 tiêu chí và 30 chỉ số, trong

đó chỉ số 9 với nội dung chọn địa điểm an toàn, phù hợp để tổ chức hoạt động và và chỉ

số 10 với nội dung chọn đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn, an toàn cho trẻ (Hoàng Thị Dinh et al., 2017)

Chương trình “Phòng tránh tai nạn thương tích” do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc

Trang 24

trẻ em phối hợp với Tổ chức UNICEF triển khai Mục đích của chương trình giúp giảm thiểu tỉ lệ trẻ em bị chết và tàn tật do tai nạn thương tích ở Việt Nam

Trong cuốn sách “Những kỹ năng sư phạm mầm non- Thiết lập môi trường học tập cho trẻ em mầm non” (tập 1) của nhóm các tác giả Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang,

Hồ Lai Châu và Hoàng Mai nghiên cứu về việc duy trì một lớp học an toàn bằng việc giám sát trẻ và làm mẫu về các hành động an toàn Các tác giả cho rằng giáo viên cần phải giám sát khu vực lớp học, đoán trước các hành vi không an toàn, làm đổi hướng các hành vi không an toàn, làm mẫu các hành vi an toàn, để trẻ tham gia vào các quy tắc an toàn Trẻ cần được học về các quy tắc an toàn và sự thận trọng đối với các bậc thềm, lối ra, phòng vệ sinh, buổi học ngoài trời, trò chơi đóng vai và các hoạt động khác Cần biết rõ các bước thực hiện trong trường hợp gặp thời tiết xấu hoặc sơ tán khẩn cấp Trẻ cần được thực tập các tình huống thực tế để có hướng xử lý đúng khi nó thực sự xảy ra (Lê Xuân Hồng et al., 2000)

Nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Nguyễn Thị Kim Anh, Mai Hiền Lê

và Nguyễn Thị Xuân Phương với bộ sách “Rèn luyện kỹ năng sống dành cho trẻ mầm non từ 3-6 tuổi” Với mục đích mong muốn trẻ được cung cấp thêm nhiều kỹ năng tự bảo vệ như: Kỹ năng phòng tránh tai nạn thường gặp; Kỹ năng ứng phó khi bị đi lạc;

Kỹ năng xử lý mối nguy hiểm từ con vật; Kỹ năng tham gia giao thông an toàn; Kỹ năng nhận biết hành vi có nguy cơ tổn hại đến cơ thể; Kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại đến cơ thể… Sách có nhiều hình ảnh đẹp, nội dung dễ hiểu phù hợp cho lứa tuổi mầm non Trẻ được thực hành qua các trò chơi, bài tập giúp trẻ hứng thú và tiếp thu kiến thức nhanh hơn Cuối mỗi nội dung giáo dục kỹ năng còn có những lời khuyên nên và không nên dành cho trẻ, người lớn có thể giúp trẻ tổng kết lại kiến thức để giúp trẻ ghi nhớ lâu hơn (Huỳnh Văn Sơn et al., 2017)

Tác giả Huỳnh Văn Sơn và các tác giả Mai Mỹ Hạnh, Giang Thiên Vũ, Nguyễn

Lê Bảo Hoàng và Nguyễn Thanh Huân trong cuốn sách “Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ mầm non” nhận định trẻ em cần nhận diện đâu là hành vi không an toàn trong giao tiếp với người khác, trẻ em cần biết đâu là vùng an toàn trên cơ thể, đâu là vùng cấm kị hay riêng tư khi tiếp xúc với người khác Đó là kỹ năng cần có để bảo vệ bản thân và phát triển Nội dung cuốn sách đơn giản, dễ hiểu đối với trẻ như: Cơ thể

Trang 25

của em; Quyền bảo vệ bản thân; Quy tắc bảo vệ bản thân; Ứng xử để bảo vệ bản thân Cuốn sách hướng dẫn cho bé một số quy tắc bảo vệ bản thân như: ôm hôn dùng với người thân ruột thịt: ông bà, cha mẹ, anh chị em; nắm tay với bạn bè, thầy cô, họ hàng; Hướng dẫn bé ghi nhớ và thực hiện một số “báo động”: “báo động nhìn” khi người lạ nhìn vào vùng riêng tư của bé; “báo động nghe” khi người lạ nói với bé các từ ngữ liên quan đến “vùng đồ lót”; “báo động sờ” khi người lạ đến gần và ôm bé; Hướng dẫn cho bé quy tắc 5 ngón tay bao gồm: ngón cái- ôm hôn cha mẹ; ngón trỏ- nắm tay bạn bè; ngón giữa- bắt tay người quen; ngón áp út- vẫy tay người lạ; ngón út- xua tay người đáng nghi Mỗi nội dung tác giả đưa ra từng bài tập cho trẻ tìm hiểu kiến thức và thực hành như: Em khám phá; Em trải nghiệm; Em luyện tập và Em ứng dụng (Huỳnh Văn Sơn

et al., 2017)

Kể từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào chương trình giáo dục thì tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các trung tâm giáo dục kỹ năng sống như trung tâm Rồng Việt, trung tâm Tôi Khác Biệt, trung tâm Tâm Việt, trung tâm Hoàn Năng Trong các nội dung giáo dục kỹ năng sống, tất cả các trung tâm đều chú trọng nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ vì đa số đều cho rằng kỹ năng tự bảo vệ là kỹ năng rất cần thiết và quan trọng với con người, đặc biệt với trẻ em, liên quan đến sự sống còn của trẻ em

Tác giả Vũ Thị Ngọc Minh và Nguyễn Thị Nga trong cuốn sách “Giúp bé có

kỹ năng nhận biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn” xuất bản năm 2012,

đã đưa ra 9 tình huống trẻ thường hay gặp trong cuộc sống, dễ gây nguy hiểm đối với trẻ Qua đó, tác giả đưa ra những biện pháp giúp các bậc phụ huynh và giáo viên giáo dục cho trẻ để giúp trẻ có kỹ năng tự bảo vệ cho bản thân, giữ cho bản thân được an toàn (Vũ Thị Ngọc Minh và Nguyễn Thị Nga, 2012)

Trong bộ sách: “Tủ sách trường học an toàn” của nhóm tác giả Nam Hồng, Dương Phong và Lê Ngọc Lan của nhà xuất bản Đại học Sư phạm Bộ sách gồm 4 cuốn: Ngôi nhà an toàn cho trẻ; An toàn cho trẻ trên đường phố và nơi thiên nhiên; An toàn cho trẻ trong cộng đồng xã hội; Sơ cấp cứu các loại tổn thương do tai nạn ở trẻ

em Bộ sách giúp trẻ đối mặt có hiệu quả trước những nguy hiểm có thể xảy ra khi tự mình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên và bên ngoài xã hội cũng như giúp trẻ biết

Trang 26

rõ nguyên nhân của các tai nạn có thể xảy ra đối với trẻ ở nơi công cộng (Nam Hồng

et al., 2012)

Tác giả Mai Hiền Lê trong tập san Thông tin Khoa học và Giáo dục số

07/04-2013 của Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương TP.HCM có nội dung “Kỹ năng tự

vệ của bé” Tác giả đưa ra nội dung của 10 tình huống, mục đích và cách tiến hành của từng tình huống Nội dung các tình huống bao gồm: Người lạ đón bé ở trường; Bé tự

đi về nhà bằng taxi; Khi người lạ cho đồ chơi, quà bánh, nước uống; Người lạ yêu cầu

bé đưa chia khóa nhà, mở cửa; Khi bé bị bắt nạt, trấn lột; Khi bé có biệt danh mới; Khi

bé bị bạn bè, người khác đánh; Khi bé bị người lạ bám đuôi; Khi bé bị người khác lợi dụng sự ngây thơ, dễ bảo để dụ dỗ và xâm hại; Khi người khác dùng phim ảnh khiêu dâm, kích động để xâm hại tình dục trẻ Trong cách tiến hành và xử lí tình huống, phương pháp dùng lời, cụ thể là trò chuyện và giảng giải ngắn được tác giả thường xuyên sử dụng (Thông tin Khoa học Giáo dục, 2013, tr 11)

Cũng cùng tập san Thông tin Khoa học và Giáo dục số 07/04-2013- Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương TP.HCM, tác giả Mai Hiền Lê với nội dung “Giáo dục kỹ năng an toàn cho trẻ trong mùa hè” Bài viết cho rằng mùa hè là khoảng thời gian thú vị, trẻ được hoạt động và vui chơi nhiều nên tác giả đã đưa ra 10 tình huống để cha mẹ có thể giáo dục kỹ năng an toàn cho trẻ Nội dung các tình huống bao gồm: Bé gặp dây điện bị đứt; Khi bé bị bỏng; Khi thức ăn trên bếp bị cháy; Khi trẻ chơi với thú cưng; Khi trẻ ở ban công; Khi trẻ ở chỗ đông người; Khi trẻ chơi ở những nơi vắng vẻ; Khi trẻ đi chơi mà không xin phép ba mẹ; Khi trẻ tắm ở ao hồ mà không có người lớn Trong bài báo này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp dùng lời để giáo dục kỹ năng an toàn cho trẻ (Thông tin Khoa học Giáo dục, 2013, tr 17)

Cũng tác giả Mai Hiền Lê trong tập san Thông tin Khoa học và Giáo dục số 07/04-2013- Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương TP.HCM, với nội dung “Kỹ năng tự vệ cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh” cho thấy mức độ hình thành kỹ năng tự vệ của trẻ còn thấp Tác giả đã đề xuất một số giải pháp được đánh giá cao trong việc hình thành kỹ năng tự vệ cho trẻ là: Xây dựng và đưa nội dung giáo dục kỹ năng tự vệ cho trẻ một cách toàn diện theo hướng tích hợp với các hoạt động dạy, hoạt động vui chơi và các hoạt động khác; Tạo tình huống hấp

Trang 27

dẫn mang tính có vấn đề và tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm; Nhà trường và gia đình phải phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục kỹ năng tự vệ cho trẻ (Thông tin Khoa học Giáo dục, 2013, tr 71-73)

Tác giả Phan Tú Anh với đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non” đã khái quát được thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non Tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ như tạo tình huống; sử dụng trò chơi; tạo môi trường hoạt động tích cực; tạo cơ hội cho trẻ được tương tác, trải nghiệm.Trong các biện pháp giáo dục KNTBV được tác giả đề xuất thì biện pháp tạo tình huống đạt hiệu quả cao nhất (Phan Tú Anh, 2013)

Chương trình Việc tử tế trên VTV 1 phát sóng ngày 21 tháng 8 năm 2017 với nội dung “Lớp học dạy kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục” của nhóm KID+ Với chương trình tự biên soạn, nhóm KID+ đã tổ chức tiết học ngoại khóa về phòng chống xâm hại tình dục ở trẻ cho các em học sinh tiểu học Hữu Bằng, Thạch Thất Qua tiết học, các em sẽ được trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng để có thể tự bảo vệ bản thân và tương lai của mình trước những hành vi xâm hại (KID+, 2017)

Tác giả Đào Diễm Hiền với đề tài “Sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” Đề tài đã khái quát được thực trạng giáo viên sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-

6 tuổi ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Qua khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng sống, tác giả nghiên cứu được nhóm phương pháp dùng lời được giáo viên sử dụng nhiều nhất Nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ chưa được giáo viên chú trọng Từ đó, tác giả cũng đã đề xuất được một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (Đào Diễm Hiền, 2018)

Gần đây nhất là luận văn của tác giả Nguyễn Hoàng Phương Thảo với đề tài

“Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” Qua điều tra thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân (KN TBVBT) của trẻ 5-6 tuổi, tác giả nhận thấy mức độ biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5-6 tuổi chỉ đạt mức trung bình Giáo viên chưa kịp thời khơi gợi vốn KN TBVBT

Trang 28

riêng biệt của từng trẻ Từ đó, tác giả đã nghiên cứu và đề xuất được 5 biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ

đề Trong các biện pháp tác giả đưa ra thì biện pháp 1, biện pháp 2 và biện pháp 3 đều đạt tỉ lệ cao về tính cần thiết và tính khả thi và có thể đáp ứng nhu cầu về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ Nội dung cụ thể của từng biện pháp:

BP 1 “Thiết kế, tổ chức quy trình nhằm giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ”; BP 2 “Xây dựng tình huống chơi hấp dẫn nhằm cuốn hút nhiều trẻ tham gia rèn luyện KN TBVBT”, BP 3 “Thiết lập môi trường tương tác để trẻ cùng chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi nhằm rèn luyện và phát triển KN TBVBT” (Nguyễn Hoàng Phương Thảo, 2018)

Tại Việt Nam, những tài liệu biên soạn và công trình nghiên cứu khoa học về phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi còn rất ít, chưa có tài liệu nghiên cứu về phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ 3-4 tuổi vì vậy chưa đánh giá được thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNTBV của GV Do đó đề tài

“Thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” phần nào có cái nhìn tổng quát về việc sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ của giáo viên mầm non hiện nay

1.2 Cơ sở lý luận về phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng

Có rất nhiều tác giả đã đưa ra các quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng Song nhìn chung, có thể khái quát lại thành ba cách đặt vấn đề khác nhau của các tác giả:

• Quan niệm thứ nhất xem kỹ năng như là kĩ thuật thao tác của hành động

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách thức hành động tức là hành động có kỹ năng” (Nguyễn Thị Huệ, 2012)

A.G.Kovaliov thì nhấn mạnh: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” (Nguyễn Thị Huệ, 2012)

Trang 29

Theo các tác giả nhận định kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững, người

có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động

Như vậy, theo quan niệm thứ nhất có thể nhận thấy kỹ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động Họ coi trọng cách thức thực hiện hành động hơn kết quả của hành động đó

• Quan niệm thứ hai xem kỹ năng như là khả năng của con người trong hoạt

động

N.D.Levitov cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào

đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010)

Tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong khoảng thời gian tương ứng” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010)

Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” (Vũ Dũng, 2000)

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người”(Huỳnh Văn Sơn, 2009)

Như vậy, cách xem xét kỹ năng nghiêng về khả năng của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm kỹ năng là kĩ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả công việc đạt chất lượng

• Quan niệm thứ ba xem kỹ năng là hành vi giao tiếp ứng xử

Gần đây, một số nhà khoa học đã tiếp cận kỹ năng dưới một góc nhìn mới:

Trang 30

Tác giả Chu Liên Anh đã quan niệm về kỹ năng dưới góc độ là hành vi giáo tiếp ứng xử trong các mối quan hệ xung quanh (quan hệ với tự nhiên và quan hệ với

xã hội) (Nguyễn Hữu Long et al., 2016)

Tác giả J.N Richard xem “Kỹ năng là hành vi thể hiện ra hành động được bộc

lộ ra bên ngoài và chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm nhận và suy nghĩ” (Nguyễn Hữu Long et al., 2016)

Theo quan điểm này, các tác giả có khuynh hướng xem kỹ năng không chỉ là kĩ thuật thực hiện thao tác, mà kỹ năng gắn với nhận thức, giá trị, niềm tin của mỗi cá nhân (Nguyễn Hữu Long et al., 2016)

Từ ba cách đặt vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy, một người được coi là có

kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó phải là người:

- Nắm được mục đích hành động, có tri thức về hành động, nắm được cách thức thực hiện và các điều kiện thực hiện hành động

- Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của hành động

- Đạt được kết quả hành động do mục đích đề ra

- Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi với cảm xúc cá nhân phù hợp

Từ các quan điểm trên có thể rút ra kết luận: Kỹ năng là việc thực hiện có kết

quả hành động trên cơ sở áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm với những cảm xúc

cá nhân phù hợp (Nguyễn Hữu Long et al., 2016)

1.2.1.2 Khái niệm kỹ năng sống

Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp của kỹ năng sống thì sống có nghĩa là tồn tại cho nên những kỹ năng sống được phân tích ở đây là những kỹ năng giúp cho con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lí (Huỳnh Văn Sơn, 2009)

Như vậy, khái niệm “kỹ năng sống” ở đây được chọn lọc để hướng đến những

kỹ năng cần thiết mà con người, đặc biệt là thế hệ trẻ có thể tồn tại một cách đúng nghĩa trong cuộc sống xã hội

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi

Trang 31

thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

Theo Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng

về khả năng tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”

Kỹ năng sống còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó

Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng

mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để

xử lý những vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người

Theo Lê Bích Ngọc định nghĩa, kỹ năng sống có thể xem là hành động tích cực,

có liên quan đến kiến thức và thái độ, trực tiếp hướng vào hoạt động của cá nhân, hoặc tác động vào người khác, hoặc hướng vào những hoạt động làm thay đổi môi trường xung quanh, giúp mỗi cá nhân ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày (Lê Bích Ngọc, 2013)

Tác giả Trương Thị Hoa Bích Dung lại cho rằng, kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh cho phép con người đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày (Trương Thị Hoa Bích Dung, 2012)

Như vậy, có khá nhiều khái niệm rất rõ về kỹ năng sống, nhưng có thể nêu lên

một cách ngắn gọn: Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả

năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

* Phân loại kỹ năng sống:

Tùy theo những quan niệm khác nhau mà sẽ có nhiều cách phân loại kỹ năng sống khác nhau Có thể khái quát lại như sau:

• Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống gồm ba nhóm kỹ năng: + Nhóm một: Nhóm kỹ năng nhận thức gồm các kỹ năng cơ bản: tự nhận thức

Trang 32

bản thân, tự đặt mục tiêu và xác định mục tiêu, kỹ năng tư duy, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc gồm các kỹ năng: kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc, kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc

+ Nhóm ba: Nhóm kỹ năng xã hội gồm các kỹ năng: kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia sẻ, hợp tác, kỹ năng gây thiện cảm, kỹ năng giao tiếp truyền thông

• Theo Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO),

kỹ năng sống được phân chia thành những nhóm như sau:

+ Nhóm một: Nhóm kỹ năng chung gồm các kỹ năng cơ bản mà mỗi người đều phải có để có thể thích ứng với cuộc sống chung như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng chuyên biệt gồm một số kỹ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, đến môi trường cộng đồng…

• Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) là tổ chức có những nghiên cứu sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân Họ phân chia thành ba nhóm kỹ năng cơ bản dưới đây:

+ Nhóm một: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình gồm một số

kỹ năng như: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống,

kỹ năng tự bảo vệ bản thân, …

+ Nhóm hai: Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác gồm các kỹ năng như: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,…

+ Nhóm ba: Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả gồm một số kỹ năng như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn

đề, …

Ở mỗi góc độ khác nhau, cách phân loại kỹ năng sống có thể khác nhau, tuy nhiên, dù có phân loại trên góc nhìn nào đi nữa thì kỹ năng sống phải là những khả

Trang 33

năng thuộc về năng lực cá nhân, giúp bản thân tồn tại và làm chủ cuộc sống của mình cũng như đạt được những mục tiêu sống một cách hiệu quả (Huỳnh Văn Sơn, 2009)

Như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng, nếu xét dưới góc độ tồn tại và phát triển của

cá nhân theo cách phân loại kỹ năng sống của UNICEF thì kỹ năng tự bảo vệ là một trong những kỹ năng cần thiết cho trẻ em nói riêng và con người nói chung Trong sự phát triển của cá nhân, mỗi người đều có nhu cầu được đảm bảo về mặt an toàn, cũng như mỗi người sẽ gặp nhiều thử thách, tình huống khó khăn và nguy hiểm… Việc quan tâm giáo dục, rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em và mọi người sẽ đảm bảo sự an toàn cho cá nhân, giúp họ vượt qua được những “chướng ngại vật” trong cuộc đời, để

có thể tồn tại và phát triển trong gia đình và cộng đồng xã hội

1.2.1.3 Khái niệm kỹ năng tự bảo vệ

Khi nói đến thuật ngữ “tự bảo vệ” thông thường người ta thường liên tưởng đến việc một cá nhân nào đó có thể đang gặp nguy hiểm đe dọa đến sự an toàn, sinh mạng

và họ phải nghĩ đến việc dùng cách thức nào đó chẳng hạn như: kêu cứu, võ thuật,…

để chống trả, ứng phó với những tình huống khó khăn đó Nói cách khác, “tự bảo vệ” nghĩa là chủ thể hay cá nhân nào đó cần có những kiến thức, những cách ứng xử phù hợp nhất trong những hoàn cảnh nhất định để tự bảo vệ lấy bản thân

Theo từ điển Tiếng Việt “tự bảo vệ” có nghĩa là: Tự che chở, tự bảo vệ lấy mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác (Trung tâm ngôn ngữ

và văn hóa Việt Nam, 2009)

Ngoài những thuật ngữ nêu trên, đôi khi chúng ta còn được nghe đến thuật ngữ

“giữ an toàn” Theo tác giả Yayne Dendhire, trong bộ sách Healthy Habits của nhà xuất bản giáo dục Macmillan, Úc đã đưa ra khái niệm về giữ an toàn (safety) như sau:

“Giữ an toàn là tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiểm như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần” (Yayne Dendhire, 2010)

Như vậy, “giữ an toàn” và “tự bảo vệ” đều cùng mục đích là đem lại sự an toàn

cho cá nhân nào đó Vì vậy, chúng tôi cho rằng: “Kỹ năng tự bảo vệ là khả năng con

người vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm để nhận diện đồng thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất lợi, những hoàn cảnh nguy hiểm có thể xảy đến để bản thân được an toàn”

Trang 34

Vậy: “Kỹ năng tự bảo vệ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi là khả năng trẻ 3-4 tuổi vận

dụng những kiến thức, kinh nghiệm của mình để nhận diện đồng thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất lợi, những hoàn cảnh nguy hiểm xảy đến để bản thân được an toàn”

• Các giai đoạn hình thành KNTBV của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi dựa vào cách phân loại các giai đoạn hình thành kỹ năng của tác giả Hoàng Thị Oanh, để hình thành kỹ năng nói chung

và KNTBV nói riêng cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi Để hình thành KNTBV, trẻ cần trải qua 4 giai đoạn:

* Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành KNTBV

Giai đoạn này rất quan trọng vì để hành động có hiệu quả con người phải thực hiện và nắm được những điều kiện cần thiết của hành động đó Ở giai đoạn này, người lớn hoặc GVMN hướng dẫn trẻ nắm được lý thuyết hành động, nhận thức đầy đủ mục đích, cách thức, điều kiện hành động chứ chưa hành động thực sự

* Giai đoạn làm thử: là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động Lúc này, trẻ hoàn toàn

có thể làm theo mẫu trên cơ sở nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động hoặc trẻ có thể hành động theo hiểu biết của mình Ở giai đoạn này, hành động của trẻ vẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạt ở mức độ thấp hoặc không đạt kết quả

* Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: là giai đoạn trẻ đã có thể hành động

độc lập, ít sai sót, các hành động tự bảo vệ thực hiện thuần thục hơn, hành động đạt kết quả trong những điều kiện quen thuộc

* Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: là giai đoạn trẻ thực hiện hành động tự

bảo vệ có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những hoàn cảnh mới, các thao tác thuần thục, các hành động đã có sự sáng tạo (Hoàng Thị Oanh, 1996)

1.2.2 Giáo dục kỹ năng sống- Giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được

tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những

Trang 35

kinh nghiệm xã hội của loài người (Bùi Thanh Huyền, 2012)

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng);

là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách xã hội chủ nghĩa, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong

xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động, học tập, thẩm mỹ,

vệ sinh …(Bùi Thanh Huyền, 2012)

Giáo dục là một quá trình tác động có mục đích, được tổ chức một cách có kế hoạch, có phương pháp nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với những yêu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển của nó (Đặng Vũ Hoạt, 1987)

Theo Bùi Thanh Huyền, giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt; là hoạt động của thế hệ trước truyền lại những kinh nghiệm xã hội cho thế hệ sau và hoạt động của thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội đó, để tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác (Bùi Thanh Huyền, 2012)

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết lại cho rằng theo nghĩa rộng: nói đến giáo dục là nói đến sự tác động tới con người của toàn xã hội và của thực tiễn xung quanh Đối với trẻ thơ, giai đoạn đầu tiên của đời người( từ lọt lòng đến 6 tuổi) giáo dục nhằm phát triển các chức năng tâm lý, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi (Nguyễn Ánh Tuyết

et al., 2002)

Giáo dục không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa người với người như những hiện tượng xã hội khác, mà mối quan hệ ở đây là việc truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm giữa các thế hệ trước và thế hệ sau

Tóm lại, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Bản chất của hiện tượng giáo dục là truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của thế

hệ đi trước và thế hệ đi sau

Trong mối quan hệ với khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nêu trên, tác giả Nguyễn Thị Diệu Hà trong đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vui chơi” đã trình bày, giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích phù hợp với tâm lý đối tượng nhằm bồi

Trang 36

dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng (Nguyễn Thị Diệu Hà, 2011)

Giáo dục kỹ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại,

là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp (Nguyễn Thanh Bình, 2011)

Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan với kiến thức và thái độ, giúp cá nhân ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày, thông qua những mối quan hệ liên nhân cách trong điều kiện sống cụ thể

Giáo dục kỹ năng sống nói chung và giáo dục KNTBV nói riêng có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của trẻ từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội (Nguyễn Thanh Bình, 2011)

Có thể thấy rằng, quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói riêng là một quá trình giáo dục gồm nhiều thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức Các thành tố có quan hệ mật thiết và có tính biện chứng với nhau, đặc biệt là với phương pháp giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục, mục đích của quá trình sư phạm

Và như vậy, theo chúng tôi: “Quá trình giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4

tuổi là quá trình dưới sự tổ chức, lãnh đạo có mục đích của giáo viên, trẻ 3-4 tuổi được trang bị những kiến thức giữ an toàn và học cách nhận biết, thực hành các hành động đúng và kịp thời để bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm”

1.2.3 Phương pháp- Phương pháp giáo dục- Phương pháp giáo dục kỹ năng sống- Phương pháp giáo dục KNTBV cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

1.2.3.1 Phương pháp- Phương pháp giáo dục

Như đã trình bày ở trên, giáo dục là một quá trình tác động lẫn nhau giữa người

Trang 37

giáo dục và người được giáo dục một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành nhân cách con người, thực hiện những mục tiêu giáo dục bằng con đường dạy học và các hoạt động đa dạng khác của nhà trường sư phạm (Đào Thanh Âm, 2008)

Những công trình nghiên cứu sư phạm và tâm lý học thu được những dữ kiện chứng tỏ việc trẻ (người được giáo dục) nắm được những nội dung tri thức khác nhau

là kết quả hoạt động tư duy của chúng do giáo viên tổ chức một cách phù hợp với những đặc điểm của tài liệu được tiếp thu Và một trong những thành tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục đó chính là phương pháp giáo dục

Có rất nhiều tác giả bàn về khái niệm phương pháp giáo dục, tác giả Phan Thanh Long cho rằng phương pháp giáo dục là một thành tố rất quan trọng của quá trình giáo dục nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ giáo dục do xã hội đặt ra Phương pháp giáo dục là hệ thống những cách thức tác động của nhà giáo dục đến sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ nhằm làm cho nhân cách các em phát triển tối đa những gì mình có thể có theo hướng mô hình nhân cách xã hội mong muốn Nói cụ thể hơn, phương pháp giáo dục nhằm giúp thế hệ trẻ nắm vững và thực hiện đúng các chuẩn mực xã hội, biến nó thành các phẩm chất, các thuộc tính của nhân cách, để từ đó các em có thể tham gia vào cuộc sống xã hội một cách tự nhiên và hiệu quả (Phan Thanh Long et al., 2010)

Phương pháp giáo dục là những tác động cụ thể và trực tiếp của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục Do đó tất cả những người làm công tác giáo dục cần phải hiểu

rõ bản chất, chức năng của phương pháp giáo dục trong nhà trường cũng như các yêu cầu sư phạm khi sử dụng các phương pháp giáo dục cụ thể

Tác giả Đào Thanh Âm cho rằng phương pháp giáo dục là những cách thức làm việc của giáo viên, trẻ em được giáo viên hướng dẫn những tri thức, kỹ năng và thói quen mới hình thành thế giới quan và phát triển năng lực (Đào Thanh Âm, 2008)

Tác giả Phan Thanh Long thì cho rằng phương pháp giáo dục là phương thức hoạt động chung, gắn bó giữa nhà giáo dục với đối tượng giáo dục, giữa tập thể và cá nhân học sinh nhằm hình thành những thuộc tính, những phẩm chất nhân cách xã hội chủ nghĩa cho các em (Phan Thanh Long et al., 2010)

Theo tác giả Bùi Thanh Huyền định nghĩa phương pháp giáo dục là các con

Trang 38

đường, các cách thức, các biện pháp hoạt động gắn bó lẫn nhau giữa thầy và trò để chiếm lĩnh nội dung giáo dục, để thực hiện mục đích giáo dục (Bùi Thanh Huyền, 2012)

Phương pháp giáo dục là thành tố phụ thuộc vào mục đích giáo dục Mục đích giáo dục khác nhau sẽ có phương pháp giáo dục khác nhau Nói cách khác, mỗi mục đích giáo dục sẽ có một hệ thống phương pháp tương ứng, khi mục đích giáo dục thay đổi thì phương pháp giáo dục cũng phải thay đổi theo Ngược lại, phương pháp giáo dục là điều kiện, là cách thức để thực hiện mục đích giáo dục của xã hội đã đề ra

Phương pháp giáo dục phụ thuộc vào nội dung giáo dục Nội dung giáo dục khác nhau sẽ phải sử dụng phương pháp giáo dục khác nhau Mỗi nội dung giáo dục phải có phương pháp chuyển tải riêng mới có hiệu quả cao Các nhà giáo dục phải căn cứ vào nội dung giáo dục cụ thể để lựa chọn phương pháp giáo dục cho phù hợp

Chúng ta biết rằng, quá trình giáo dục được diễn ra theo ba khâu từ nhận thức đến thái độ, niềm tin đến hành vi và thói quen Phương pháp giáo dục nhằm tác động vào từng khâu hoặc tất cả các khâu của quá trình giáo dục Mỗi khâu của quá trình giáo dục đòi hỏi phải có phương pháp riêng Khâu hình thành nhận thức phải sử dụng phương pháp khác với khâu hình thành hành vi và thói quen Hình thành tri thức về các chuẩn mực xã hội, nhằm xây dựng ý thức cá nhân chủ yếu sử dụng các phương pháp thuyết phục như giảng giải, đàm thoại, nêu gương… Còn hình thành hành vi và thói quen chủ yếu sử dụng các phương pháp luyện tập, rèn luyện…(Phan Thanh Long

et al., 2010)

Phương pháp giáo dục phụ thuộc vào trình độ, năng lực, uy tín, vị thế, vào kinh nghiệm, sở trường, sở đoản của nhà giáo dục Đứng trước đối tượng giáo dục như nhau, trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau nhưng các nhà giáo dục khác nhau

sẽ lựa chọn phương pháp giáo dục khác nhau Thậm chí hai nhà giáo dục cùng sử dụng một biện pháp nhưng hiệu quả giáo dục cũng khác nhau Nói như vậy, tức là phương pháp giáo dục phụ thuộc vào trình độ và năng lực của nhà giáo dục kể cả việc lựa chọn

và hiệu quả sử dụng Chính vì vậy, trong quá trình tiến hành giáo dục, các nhà giáo dục phải xác định được khả năng, vị thế và uy tín của mình để lựa chọn phương pháp giáo dục cho phù hợp

Trang 39

Phương pháp giáo dục còn phụ thuộc vào đối tượng giáo dục Với mỗi đối tượng giáo dục, nhà giáo dục phải biết sử dụng các phương pháp giáo dục khác nhau mới có hiệu quả Chúng ta biết rằng, mỗi con người là một thế giới riêng với những nét độc đáo về các đặc điểm tâm sinh lí, về điều kiện hoàn cảnh sống, về kinh nghiệm cá nhân

Vì thế phương pháp giáo dục phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể, mỗi đối tượng giáo dục có một cách giáo dục riêng, không có phương pháp giáo dục chung hữu hiệu cho mọi đối tượng

Phương pháp giáo dục liên quan chặt chẽ với phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể của quá trình giáo dục.Trong những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống khác nhau cũng phải lựa chọn phương pháp giáo dục khác nhau, không thể tiến hành giáo dục có hiệu quả nếu không biết lựa chọn phương pháp giáo dục sao cho phù hợp với từng tình huống và các điều kiện hoàn cảnh cụ thể Nhà giáo dục phải căn cứ vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, đặc điểm tôn giáo của từng vùng miền, vào khoảng thời gian cho phép, vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tiến hành giáo dục

Như vậy, phương pháp giáo dục phụ thuộc vào phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Khi những điều kiện này thay đổi thì nhà giáo dục cũng phải điều chỉnh, thay đổi phương pháp giáo dục thì mới nâng cao được hiệu quả giáo dục

Phương pháp giáo dục còn liên quan chặt chẽ với hình thức tổ chức giáo dục Thực tế giáo dục cho thấy, phương pháp giáo dục không thể tách rời hình thức tổ chức giáo dục, nhiều khi chúng hòa quyện vào nhau Mỗi hình thức giáo dục phải lựa chọn một phương pháp giáo dục thích ứng

Nói tóm lại, phương pháp giáo dục hết sức đa dạng, phong phú và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác của quá trình giáo dục Nhà giáo dục phải biết vận dụng linh hoạt, lựa chọn các phương pháp giáo dục sao cho phù hợp với mục đích, với nội dung giáo dục, với trình độ, năng lực của bản thân, với đối tượng giáo dục cũng như các điều kiện hoàn cảnh cụ thể (Phan Thanh Long et al., 2010)

Từ những khái niệm và đặc điểm trên, chúng ta có thể định nghĩa “Phương

pháp giáo dục là phương thức tác động của nhà giáo dục và tập thể học sinh đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách theo yêu cầu của một xã hội cụ thể” (Phan Thanh Long et al., 2010)

Trang 40

Theo Phan Thanh Long, chúng ta có thể phân chia phương pháp giáo dục thành

3 nhóm cơ bản sau đây:

- Nhóm các phương pháp thuyết phục nhằm hình thành ý thức cá nhân: gồm phương pháp khuyên giải, phương pháp tranh luận và phương pháp nêu gương

- Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen: gồm phương pháp luyện tập, phương pháp rèn luyện

- Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi: gồm phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt và phương pháp thi đua (Phan Thanh Long et al., 2010)

* Phối hợp các phương pháp giáo dục

Như trên chúng ta đã nói, mỗi nhóm phương pháp đều có chức năng riêng, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định, không có phương pháp nào là vạn năng Mỗi phương pháp chỉ phát huy hết sức mạnh khi chúng được phối hợp với các phương pháp khác

Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm hạn chế nhược điểm của từng phương pháp riêng lẻ và phát huy, tăng cường sức mạnh cho chúng Sức mạnh của phương pháp được biểu hiện ở tính hệ thống Các phương pháp giáo dục phải được kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau mới thực hiện quá trình giáo dục đầy đủ, trọn vẹn Các phương pháp không nên tách biệt nhau, độc lập với nhau mà trong quá trình giáo dục chúng hòa quyện vào nhau, bổ sung cho nhau tạo nên sức mạnh nhiều chiều tác động đến đối tượng Quá trình tác động này nhằm đảo bảo cho đối tượng thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa ý thức và hành động, giữa suy nghĩ bên trong với biểu hiện hành vi ra bên ngoài…(Phan Thanh Long et al., 2010)

Trong quá trình phối hợp các phương pháp giáo dục cần đảm bảo sự thống nhất giữa các lực lượng giáo dục, giữa vai trò tổ chức điều khiển của nhà giáo dục với vai trò tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của đối tượng giáo dục

Nói tóm lại, việc lựa chọn và phối hợp các phương pháp giáo dục là biểu hiện của nghệ thuật giáo dục, tạo ra bản sắc riêng của từng nhà giáo dục Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trình độ và kinh nghiệm của mỗi nhà giáo dục

1.2.3.2 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống- Phương pháp giáo dục KNTBV

Ngày đăng: 20/12/2020, 12:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w