Điều đặc biệt đáng lo ngại chính là quan niệm chưa thực sự cảm thông về vấn đề giới tính của người phương Đông, ngay chính từ trong gia đình cha mẹ vẫn còn những e ngại trong cách chia s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Anh Thư
NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ GIỚI TÍNH CỦA HỌC SINH LỚP 9, TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Anh Thư
NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ GIỚI TÍNH CỦA HỌC SINH LỚP 9, TỈNH BẠC LIÊU
Chuyên ngành : Tâm lí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khác nào
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, chân thành gửi lời cảm ơn đến:
• Phòng sau Đại học, khoa Tâm lý học, Hội đồng Khoa học thuộc trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Quý thầy, cô tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
• PGS.TS Trần Thị Thu Mai đã tận tình hướng dẫn cho tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này
• Quý thầy, cô và các em học sinh lớp 9 của bốn trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là:
- Trường Trung học cơ sở Giá Rai B
- Trường Trung học phổ thông Hiệp Thành
- Trường Trung học cơ sở Phong Phú
- Trường Trung học cơ sở Võ Nguyên Giáp
Giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài
• Gia đình, bạn bè và cơ quan công tác đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn
• Do khả năng và thời gian còn hạn chế, luận văn còn nhiều khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô để luận văn hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Thư
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ GIỚI TÍNH 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính 8
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính ngoài nước 8
1.1.2 Lược sử nghiên cứu trong nước 11
1.2 Lí luận về nhận thức và thái độ 16
1.2.1 Nhận thức 16
1.2.2 Thái độ 27
1.2.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ 31
1.3 Lý luận về vấn đề giới tính 33
1.3.1 Khái niệm Giới tính 33
1.3.2 Nguồn gốc giới tính 35
1.3.3 Sự khác biệt giới tính 37
1.4 Đặc điểm tâm lý tuổi thiếu niên 39
1.4.1 Khái niệm tuổi thiếu niên 39
1.4.2 Những đặc trưng của tuổi thiếu niên 41
1.4.3 Những thay đổi thể chất của tuổi thiếu niên 43
1.4.4 Giao tiếp của thiếu niên với bạn bè 45
1.4.5 Đặc điểm hoạt động nhận thức của thiếu niên 46
1.5 Lý luận nhận thức và thái độ về giới tính của học sinh lớp 9 48
1.5.1 Định nghĩa nhận thức và thái độ về giới tính 48
Trang 61.5.2 Các mặt nhận thức về giới tính 48
1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ về giới tính 52
1.5.4 Những vấn đề giới tính cần chú ý của học sinh lớp 9 53
Tiểu kết chương 1 57
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ GIỚI TÍNH CỦA HỌC SINH LỚP 9 58
2.1 Cách soạn thang đo 58
2.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 60
2.2.1 Tổng quan khách thể theo giới tính 60
2.2.2 Tổng quan khách thể nghiên cứu theo trường 61
2.2.3 Tổng quan hạnh kiểm của khách thể nghiên cứu 61
2.2.4 Tổng quan về khách thể nghiên cứu theo học lực 62
2.3 Kết quả khảo sát nhận thức và thái độ về giáo dục giới tính của học sinh 62
2.3.1 Mức độ quan tâm đến các vấn đề về giới tính của học sinh 62
2.3.2 Những kênh tìm hiểu về giới tính của học sinh lớp 9 64
2.3.3 Nhận thức của học sinh về giới tính 65
2.3.4 Nhận thức của học sinh lớp 9 về tình bạn khác giới: 66
2.3.5 Nhận thức của học sinh lớp 9 về tình yêu tuổi học trò 67
2.3.6 Nhận thức của học sinh về giá trị của trinh tiết 68
2.3.7 Nhận thức của học sinh lớp 9 về các vấn đề giới tính 68
2.3.8 Thái độ của học sinh trước những biến đổi cơ thể tuổi dậy thì 70
2.3.9 Thái độ của học sinh lớp 9 về bạn khác giới 72
2.4 Nhận thức và thái độ của học sinh trên phương diện giới tính 73
Tiểu kết chương 2 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THCS : trung học cơ sở
ĐLC : độ lệch tiêu chuẩn
ĐTB : trung bình cộng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cách quy điểm các câu hỏi có ba mức độ lựa chọn 59
Bảng 2.2 Cách quy điểm trung bình các câu hỏi có ba mức độ lựa chọn 60
Bảng 2.3 Tổng quan khách thể theo giới tính 60
Bảng 2.4 Tổng quan khách thể nghiên cứu theo trường 61
Bảng 2.5 Tổng quan khách thể nghiên cứu theo hạnh kiểm 61
Bảng 2.6 Tổng quan về khách thể theo học lực 62
Bảng 2.7 Mức độ quan tâm đến các vấn đề về giới tính của học sinh 63
Bảng 2.8 Những kênh tìm hiểu về giới tính của học sinh lớp 9 64
Bảng 2.9 Nhận thức của học sinh về giới tính 65
Bảng 2.10 Nhận thức của học sinh lớp 9 về tình bạn khác giới 66
Bảng 2.11 Nhận thức của học sinh lớp 9 về tình yêu tuổi học trò 67
Bảng 2.12 Nhận thức của học sinh về giá trị của trinh tiết 68
Bảng 2.13 Nhận thức của học sinh lớp 9 về các vấn đề giới tính 68
Bảng 2.14 Thái độ của học sinh nữ trước những biến đổi cơ thể tuổi dậy thì 70
Bảng 2.15 Thái độ của học sinh nam trước những biến đổi cơ thể tuổi dậy thì 71
Bảng 2.16 Thái độ của học sinh lớp 9 về bạn khác giới 72
Bảng 2.17 Nhận thức và thái độ trên phương diện giới tính 73
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của học sinh lớp 9 về tình yêu tuổi học trò 67 Biểu đồ 2.2 Nhận thức và thái độ trên phương diện giới tính 73
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tuổi thiếu niên (từ 11 đến 15 tuổi) là giai đoạn chiếm một vị trí đặc biệt và quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em Đây là giai đoạn phát triển rất quan trọng của cuộc đời Chưa là người lớn song cũng không còn là trẻ con nên các em vẫn bỡ ngỡ trước các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, tò mò và ham muốn khám phá Ở lứa tuổi này, các em thực hiện bước nhảy vọt cả về mặt thể chất lẫn mặt tinh thần, các em bắt đầu bước vào giai đoạn tuổi dậy thì và phát dục Trong thời gian gần đây giáo dục giới tính trẻ vị thành niên đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của cả xã hội, nhiều ý kiến cho rằng nhà trường phải là nơi đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong việc cung cấp kiến thức giới tính cho các em Ở giai đoạn chuyển dần sang lứa tuổi vị thành niên này cái “tôi” trong các em phát triển rất mạnh mẽ, bên cạnh những nhu cầu về học tập ở trường lớp, vui chơi giải trí các em còn có những nguyện vọng về tình bạn, những nhu cầu về khám phá bản thân, đặc biệt là vấn đề giới tính và nổi trội lên là tình bạn khác giới Chính vì sự phát triển đặc biệt này, nếu học sinh không được trang bị kiến thức kịp thời các em dễ dàng rơi vào trạng thái băn khoăn, trăn trở và dễ dàng mất phương hướng trong cuộc sống, ảnh hưỡng đến nhân cách, lối sống Tuổi vị thành niên nói chung, tuổi học sinh trung học cơ sở nói riêng rất cần có nhận thức đúng đắn về giới tính, cần trang bị kịp thời những kiến thức để phù hợp với sự phát triển của bản thân Trong những kiến thức cần trang bị đó, kiến thức về giới tính vẫn là một mảng kiến thức thiết yếu
Trên thực tế, các vấn đề về giới tính chưa bao giờ làm chúng ta hết những trăn trở Điều đặc biệt đáng lo ngại chính là quan niệm chưa thực sự cảm thông về vấn đề giới tính của người phương Đông, ngay chính từ trong gia đình cha mẹ vẫn còn những e ngại trong cách chia sẻ kiến thức về giáo dục giới tính với con cái Ở Việt Nam, quan niệm về giới tính, tình dục, tình yêu còn rất hạn chế, có đôi phần khắt khe Các bậc cha mẹ thường ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nhạy cảm
vì sợ làm hư con cái, là vẽ đường cho hươu chạy, với đa phần suy nghĩ khi nào các
em lớn sẽ tự biết Ở giai đoạn lứa tuổi thiếu niên, giai đoạn không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn Các em luôn có xu hướng thích hành động,
Trang 11thích những thử thách mới lạ Tự ý thức đã phát triển khiến các em dễ dàng nhận thức được những đặc điểm về mặt giới tính của mình Các em đã biết quan tâm hơn đến những thay đổi trên cơ thể của chính mình, nhất là các em gái Các em cũng bắt đầu có sự quan tâm lẫn nhau về hình thức bên ngoài Tình bạn khác giới của các em vừa hồn nhiên vừa mang tính “e dè”, “ngại ngùng”
Ngày nay, với sự phát triển cả về điều kiện sinh hoạt lẫn điều kiện xã hội, các
em dễ dàng phát triển sớm hơn về mặt sinh lý, và có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa phẩm khác nhau Những thông tin về tình yêu, tình dục qua các phương tiện nghe nhìn hiện đại, nhất là từ mạng xã hội đang được phổ biến rộng rãi Trên thực tế, chúng ta dễ nhận thấy rằng trẻ con được tiếp xúc với những chiếc điện thoại thông minh khá sớm, cha mẹ khó kiểm soát hoặc thường ít quan tâm được con mình đã làm gì với chiếc điện thoại đó Ở giai đoạn dậy thì các em thường có xu hướng bắt chước, học đòi Thông qua đó, các em vô tư thể hiện những tình cảm, cử chỉ thân mật ở chốn công cộng, những hành vi thái quá thậm chí là suồng sã không phù hợp với lứa tuổi vốn rất hồn nhiên của tuổi mới lớn Điều đặc biệt, ở giai đoạn này chính là sự thích tìm tòi khám phá các vấn đề về tình yêu tình dục bởi các em đang có sự phát triển mạnh mẽ về mặt sinh lý – giai đoạn chuyển giao từ trẻ em sang người lớn
Lứa tuổi lớp 9 là một lứa tuổi hết sức đặc biệt, giai đoạn này các em rơi vào trạng thái mất cân đối về phát triển thể chất và tâm lý, thỉnh thoảng ở các em xuất hiện tính lười biếng trong hoạt động hàng ngày Tính độc lập ở các em phát triển mạnh mẽ, luôn muốn tách mình khỏi sự kiểm soát của gia đình Nhu cầu giao tiếp với bạn bè phát triển mạnh, và mối quan hệ được mở rộng hơn Các em dần dần có
xu hướng xã hội, giao tiếp với mọi người Bạn bè với các em trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Tình bạn khác giới xuất hiện ở giai đoạn này là một điều rất đáng
lo lắng cho các bậc phụ huynh, các em bắt đầu chú ý đến người bạn khác giới của mình và dễ dàng nhầm lẫn giữa tình bạn với tình yêu Được bạn bè yêu quý, đặc biệt là bạn khác giới các em sẽ tự tin hơn về bản thân, giao tiếp với bạn bè thoải mái hơn Là con trai sẽ khẳng định được sự nam tính, mạnh mẽ; là con gái sẽ thể hiện được sự đáng yêu, nữ tính hơn Tâm trạng các em rất dễ dàng thay đổi theo kiểu
Trang 12“sớm nắng chiều mưa” Chính vì tính độc lập phát triển mạnh, nên các em luôn muốn được thỏa mãn ngay những nhu cầu của bản thân và hành động bất chấp hậu quả như thế nào Tình bạn nam nữ học sinh lớp 9 nẩy sinh thường xuyên, sự gắn bó hai bên rất thân thiết và nó giữ một vị trí lớn trong cuộc sống của các em Tất nhiên quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể lệch lạc, bởi các em thường muốn tìm hiểu về khả năng hoạt động tình dục của mình Quan hệ về bạn khác giới không đúng mực, đưa đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏ việc học tập và những công việc khác
Vì vậy cần trang bị cho các em những hành trang vững chắc để bước vào đời, tránh những hậu quả khôn lường do sự thiếu hiểu biết Hiện nay đã có chương trình lồng ghép nội dung giáo dục giới tính, song chưa được mở rộng và gần như mới dừng lại
ở mức thử nghiệm Điều này dẫn đến nhận thức về các vấn đề này ở các em tại các trường học không sâu sắc, và đặc biệt sẽ là thiệt thòi cho các em ở một số trường chưa áp dụng chương trình giáo dục giới tính Vì thế, công tác giáo dục phải thấy được điều đó, để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ thật lành mạnh, trong sáng giúp nhau trong học tập, trong tu dưỡng và đó là động lực để phát triển một nhân cách tốt đẹp
Trên cơ sở đó thực hiện đề tài: “Nhận thức và thái độ về giới tính của học
sinh lớp 9, tỉnh Bạc Liêu”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhận thức và thái độ về giới tính của học sinh lớp 9 một
số trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Từ đó, đề xuất một số biện pháp định hướng giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và thái độ của học sinh lớp 9 về giới tính
Trang 134 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Tập trung vào thực trạng nhận thức và thái độ về giới tính tại một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
4.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu học sinh tại 4 trường THCS trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu (năm học 2017 – 2018):
Trường THCS Phong Phú
Trường THCS Giá Rai B
Trường THCS Võ Nguyên Giáp
Trường THCS Hiệp Thành
5 Giả thuyết khoa học
5.1 Học sinh lớp 9 tại một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu còn những hạn chế trong nhận thức và thái độ về giới tính Qua tìm hiểu ban đầu nguyên nhân chính là do tại các trường THCS hiện nay chưa có chương trình giáo dục giới tính riêng cho học sinh, nguồn cung cấp kiến thức chủ yếu cho học sinh đó là sách giáo khoa bộ môn Sinh học
5.2 Nhận thức về giới tính của các em học sinh hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường xã hội, gia đình, bạn bè
5.3 Nhận thức ảnh hưởng đến thái độ của học sinh khi tìm hiểu về các vấn đề giới tính
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống những tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau có liên quan đến vấn đề giới tính, tình cảm tuổi dậy thì
6.2 Khảo sát về thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh lớp 9 về mặt giới tính
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Cơ sở quan điểm Mác xít: chúng ta phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, môi trường cụ thể khi sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển để nhận thức
Trang 14đúng đắn hơn về sự vật Vì vậy, khi nghiên cứu nhận thức về giới tính của các em học sinh lớp 9 chúng ta cần phải đặt vấn đề nghiên cứu trong sự phát triển, thay đổi liên tục của xã hội, những khía cạnh khác nhau của văn hóa có ảnh hưởng đến nhận thức của các em
Cơ sở quan điểm thực tiễn: khi nghiên cứu nhận thức về giới tính ở lứa tuổi
lớp 9 chúng ta phải đặt vấn đề nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn của cuộc sống, phải mang ý nghĩa thực tiễn và hiển nhiên phải giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra
Thuyết nhu cầu của Maslow: nhu cầu tự nhiên của con người được chia
thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh phản ánh mức độ cơ ản của nó với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một thực thể xã hội
Nguồn: http://anastar.vn/ban-tinh-than-chat-xam.html
Đề tài sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét nhu cầu của học sinh lớp 9, trong đó nhu cầu về vấn đề giới tính được xếp ở đáy tháp Chính vì vậy, học sinh lớp 9 có
Trang 15nhu cầu tìm hiểu và rất cần được trang bị kiến thức về những vấn đề giới tính để phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi.
Thuyết cấu trúc - chức năng theo Parsons (1902 - 1979): khái niệm cấu trúc
nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu, định hình hệ thống một cách tương đối
ổn định Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là được định hình vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh Thuyết cấu trúc – chức năng nhấn mạnh mối quan hệ chức năng giữa các thành phần với cả tổng thể Xã hội là một kiểu hay loại
hệ thống xã hội đáp ứng được tất cả các đòi hỏi chức năng cơ bản của một sự tồn tại lâu bền từ các nguồn lực bên trong của nó Vận dụng quan điểm này có thể xem xét nhà trường, gia đình, xã hội là những tiểu hệ thống và hoạt động cung cấp tri thức
xã hội, cũng như tri thức về giới tính cho học sinh là những tiểu hệ thống nhỏ hơn Nếu thiếu đi một tiểu hệ thống nhỏ nào thì học sinh sẽ không thể phát triển tốt
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Thu thập những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, và
dựa vào đó sẽ xây dựng nên cơ sở lý luận của đề tài
Cách tiến hành: đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu trước đó có
liên quan đến đề tài nghiên cứu: Nhận thức, thái độ, tình yêu, giáo dục giới tính, sự phát triển nhận thức của học sinh trung học cơ sở Dựa vào đó sẽ tiến hành phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa nguồn tài liệu để xây dựng nên khung lý thuyết cũng như nội dung nghiên cứu cho đề tài
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò
Mục đích: Bảng hỏi dành cho học sinh lớp 9 nhằm tìm hiểu nhận thức và thái
độ về giới tính của các em
Cách tiến hành:
- Giai đoạn 1: Xây dựng bảng hỏi mở để làm nguồn cơ sở thăm dò ý kiến của học sinh
Trang 16- Giai đoạn 2: Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và những ý kiến từ nguồn bảng hỏi mở sẽ tiến hành xây dựng bảng hỏi làm công cụ nghiên cứu nhận thức về giới tính ở lứa tuổi trung học cơ sở
- Giai đoạn 3: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với học sinh lớp 9 tại một số trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu để thu thập dữ liệu nghiên cứu
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: thực hiện phỏng vấn để tìm hiểu những nguyện vọng cũng như
trăn trở của các em về giới tính tuổi dậy thì Bên cạnh đó, tiến hành bặp gỡ trò chuyện với ban giám hiệu nhà trường, giáo viên về các vấn đề liên quan đến nhận thức và thái độ về giới tính của các em học sinh lớp 9 nhằm làm rõ những nhu cầu
về giáo dục giới tính
Cách tiến hành: Phỏng vấn sâu một vài trường hợp học sinh và giáo viên,
ghi chép, phân tích và hệ thống lại các ý kiến về vấn đề nghiên cứu
7.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Mục đích: Tiến hành xử lý, phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu
Cách thức thực hiện: Số liệu thu được sẽ được xử lý thông qua phương pháp toán thống kê - Phương pháp chủ yếu để xử lý, phân tích thông tin thu được từ phiếu điều tra dựa trên việc ứng dụng phần mềm SPSS for window
8 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận Nhận thức và thái độ về giới tính
Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ về giới tính của học sinh lớp 9
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ
VỀ GIỚI TÍNH 1.1 Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính ngoài nước
Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ
và mang màu sắc cảm tính, mê tín Từ thời kỳ xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các kho khảo luận
về tình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius,
“Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “Bữa tiệc” của Platon… Trong đó các tác giả “không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học tình dục” IU.I.Kusniruk, Tính dục học phổ thông, Nxb Văn học, 1988 – tr 10 – 11
Thời kỳ Phục Hưng, bộ môn Giải phẫu và sinh học đã chạm tới khía cạnh của tính dục, phương diện giáo dục và đạo đức được các nhà nghiên cứu đặt lên hàng đầu
Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài nghiên cứu về giới tính được mở rộng hơn…sự phát triển quan hệ tính dục không những gắn với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá Tiêu biểu cho giai đoạn này là các nhà khoa học J Bachocen (Thuy sĩ), E Westennach (Phần Lan), Ch Letoumeau và A Espinas (Pháp), X.M Kovalevxki (Nga)…
Đầu thế kỉ XX, sự tham gia của các quan điểm tâm lí học chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết Sigmund Freud kết hợp với quan điểm sinh học về vấn đề giới tính
S Freud cho rằng, bất kì dạng tình dục bất thuờng nào cũng đều là sự định hình những giai đoạn phát triển nhất định của tâm lí tính dục của con người Tuy nhiên ông quá đề cao yếu tố sinh học; yếu tố tính dục trong đời sống con người
Giáo dục giới tính được nâng lên một tầm cao mới là quan tâm đến giáo dục giới tính cho con người và hơn hết khi đó được coi là một nội dung quan trọng cần giáo dục cho học sinh Vấn đề được đưa ra bởi nhiều nhà lãnh đạo hoạt động xã hội,
Trang 18hoạt động chính trị nổi tiếng của Liên Xô (V.I Lê nin, Marxim Gorki, Maiacovxki, Secnưsevxki; đặc biệt là A.X Makarenko và V.A Sukhomlinxki)
Trong các bài giảng về giới tính, A.X Makarenko cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình” […,tr.21] Vào những năm 60 ở nước Anh lần đầu tiên khái niệm về giới được xuất hiện Chính sự ra đời của khái niệm này, đã làm rõ được sự khác biệt của nam và nữ ở cả khía cạnh sinh học lẫn khía cạnh xã hội Đối với nước Anh, các chương trình về giáo dục giới tính là bắt buộc đối với học sinh Họ cung cấp các kiến thức chung về giới tính như tại các nước châu Âu khác nhưng lại tập trung vào khía cạnh làm thế nào để có quan hệ tình dục an toàn Tỷ lệ trẻ em mang thai ở Anh cao nhất châu Âu
và cũng là đề tài gây đau đầu các nhà quản lí và hệ thống truyền thông nhất Nghiên cứu năm 2000 của trường đại học Brighton cho thấy, phần lớn học sinh từ 14 - 15 tuổi cảm thấy chán nản với các bài học giới tính trên lớp, thất vọng với những câu hỏi của thầy cô về chủ đề này
Ở Đức vào những năm 70 những vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính được phổ biến một cách rộng rãi Chương trình giáo dục giới tính được áp dụng ngay trong trường học đi từ các vấn đề liên quan đến tuổi dậy thì, cho đến sự thay đổi về mặt tâm sinh lý của lứa tuổi bị thành niên, những hoạt động về tình dục an toàn như phòng tránh thai, phòng tránh bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và thế nào là hiện tượng lạm dụng tình dục Truyền thông được xem là một phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc giáo dục giới tính, tình yêu, tình bạn cho các em học sinh
Tại Mỹ, Virginia Johnson - nhà tâm lý và tình dục học người Mỹ đầu tiên đã dám mạnh dạn đứa ra nghiên cứu về tình dục ở con người Giúp công chúng phá vỡ những bức tường cấm kỵ và thiếu hiểu biết khi đề cập đến các vấn đề xung quanh hành vi tình dục của con người Vấn đề lớn ở Mỹ chính là hầu hết học sinh đều được tiếp xúc với giáo dục giới tính, nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh về tình dục ở trẻ vị thành niên được xem là một hiện tượng đáng báo động
Trang 19Ở Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, và là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình Nội dung này cũng đã được mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội ủng hộ
Ở Ai Cập, các giáo viên giảng dạy cho học sinh (từ 12 - 14 tuổi) những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục Đồng thời, Bộ trưởng Y tế và Giáo dục của nước này đã làm việc cùng với những người đứng đầu của tổ chức UNICEFF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) tìm cách đưa giáo dục giới tính về những miền quê xa xôi nhằm ngăn chặn hủ tục lạc hậu và nguy hiểm là cắt bỏ âm vật của các bé gái
Tại các nước châu Á đang có sự tiến bộ rõ rệt như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sirilanka là những nước đã thực hiện chính sách riêng về giáo dục giới tính trong trường học Ấn Độ thì có chương trình đặc biệt dành riêng cho học sinh từ 9 -
16 tuổi, các chủ đề giới tính được giáo viên và học sinh đưa ra để trao đổi với nhau Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính và từ đó xem tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân với xã hội
Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ tiểu học đến trung học
Năm 1973, Tại Pháp đã có các chương trình giáo dục giới tính trong nhà trường Có khoảng 30 - 40 giờ học giới tính dành cho học sinh lớp 8 và lớp 9, cuối khóa học các em được làm quen và học cách sử dụng bao cao su Tháng 2/2000, Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình và sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả
Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục và y tế Năm
Trang 201983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thụy Điển được thành lập Trong những năm
1984 – 1986, Hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục ở các nước Châu Á Thái Bình Dương Đồng thời, đã biên soạn nội dung chương trình và tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình cho gia đình thực nghiệm (1988 – 1991) Tùy theo phong tục tập quán và sự định hướng giá trị mà mỗi quốc gia áp dụng khác nhau chương trình thực nghiệm này, tuy nhiên muc tiêu chung vẫn là hướng đến vấn đề giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ Năm 1986, Hội nghị tư vấn của UNESCO về giáo dục dân số khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đưa thêm 4 chủ điểm trong đó có giáo dục giới tính
Nhìn chung, dù cho có sự khác nhau trong cách tiếp cận hay hướng phát triển, nhưng hầu hết các nước trên thế giới nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục giới tính
1.1.2 Lược sử nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, ở những thập kỉ trước đây giáo dục giới tính còn là một vấn đề hết sức xa lạ, còn có rất nhiều hạn chế Ảnh hưởng bởi phong tục tập quán, người ta cho rằng giới tính là những chuyện khó nói và được xem như điều “cấm kỵ” Nên những nhà nghiên cứu ở thời điểm đó có xu hướng né tránh vấn đề
Khoảng vài chục năm gần đây, giáo dục giới tính là vấn đề đang được tập trung nghiên cứu ở nước ta và thu hút được sự quan tâm của xã hội Các nội dung giáo dục giới tính được đề cập và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau ở những năm 80 của thế kỉ XX như: báo cáo khoa học, chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những người tham dự có khá đông các em học sinh…dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng vấn đề giáo dục giới tính bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa học Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và
Trang 21nuôi dạy con cái” Bộ giáo dục đã đưa ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc Oánh, đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam Trong thời gian này, Trung ương hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục: "Ba triệu bà mẹ nuôi con khoẻ, dạy con ngoan” trong đó nội dung giáo dục giới tính được đề cập nhiều nhất đến việc giáo dục cho con cái ở lứa tuổi dậy thì Các tỉnh hội phụ nữ, thành hội phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến nội dung giáo dục giới tính, tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ dừng lại tính chất phong trào vì những khó khăn nhất định
Vào cùng năm 1985, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp phối hợp với công đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo và giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ tuyên huấn…ở các trường đại học và trung học chuyên nghiệp phía nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính nhằm hỗ trợ cho việc đưa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh một cách chính xác, khoa học và hiệu quả
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính cho học sinh có ký hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là
đề án P09) đã được hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo
sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành thận trọng và khoa học, nghiên cứu nhiều vấn đề sâu rộng như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh Ở nhiều nơi
Trang 22trong cả nước đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam dã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều
đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh (Bùi Ngọc Oánh, Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính, Nxb Giáo dục)
Bên cạnh đó còn có một số đề tài nghiên cứu, bài báo, tạp chí, kỷ yếu khoa học đề cập đến vấn đề giới tính như:
- “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận GDGT của thanh niên học sinh” của tác giả Bùi Ngọc Oánh – Luận án phó tiến sĩ khoa học, 1991 Với đề tài trên, đã khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông trung học, phân tích một số yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của các
em, nhưng biểu hiện trong đời sống giới tính của lứa tuổi cũng như bước đầu vạch
ra một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận giáo dục giới tính của học sinh PTTH
- Năm 1996, Nguyễn Văn Phương đã nghiên cứu “Tìm hiểu nhận thức và sự quan tâm của học sinh phổ thông Trung học Thành phố Hồ Chí Minh về giáo dục giới tính”
- Năm 1998, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu “nhận thức của sinh viên về tình yêu và giới tính” đã công bố ở tạp chí Tâm lý học số 3/1998, đã có những kết luận khá thú vị về sự quan tâm và nhận thức của sinh viên về tình yêu, những đặc điểm đặc trưng của người yêu
- Năm 1999, Huỳnh Văn Sơn đã nghiên cứu “Thực trạng nhận thức và thái
độ của học sinh trung học phổ thông ở một số trường nội thành thành phố Hồ Chí Minh đối với nội dung giáo dục giới tính”
- Năm 1999, Võ Tường Vy đã nghiên cứu “nhận thức về các vấn đề giới tính của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 23- Năm 1999, Nguyễn Bích Điểm đã nghiên cứu “Một số suy nghĩ về quan niệm tình dục của vị thành niên hiện nay đối với vấn đề tình dục”
- Năm 2002, Đào Việt Cường đã nghiên cứu “Thực trạng và các biện pháp quản lý giáo dục giới tính cho học sinh trong một số trường Trung học phổ thông ở quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh”
- Ngày 5 tháng 11 năm 2004, tại Hà Nội, khoa Thông tin Ứng dụng trường
ĐH RMIT đã ký kết bản ghi nhớ giữa khoa và viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) về việc tiến hành khảo sát đối với các du học sinh VN và làm việc với những nhà thiết kế web trẻ để thực hiện những trang web về sức khoẻ giới tính và HIV dành cho thanh thiếu niên Chương trình được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu từ Ðại học Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) và Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) tại Hà Nội Cùng năm đó Lê Ngọc Bích với luận văn thạc sĩ
"Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THPT Hà Nội với giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, những giải pháp trong thời gian tới"
- Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Tư vấn tâm lý giáo dục, lí luận, thực tiễn và định hướng phát triển”, Hội khoa học Tâm lý – giáo dục Việt Nam, (2006)
- Năm 2006, Đỗ Duy Hưng đã nghiên cứu “Thái độ của thiếu niên lứa tuổi
14 – 16 đối với những vấn đề liên quan đến giới tính” Nghiên cứu đã góp phần làm
rõ hiện trạng nhận thức và thái độ của lứa tuổi thiếu niên về giới tính, trước những biến đổi tâm sinh lý bản thân
- Năm 2007 Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu về những hiểu biết của giới trẻ về giới tính, sức khoẻ sinh sản Kết quả
đã cho thấy đa số thanh niên VN đều biết ít nhất một biện pháp tránh thai, nhưng có tới 80% số thanh niên lại không biết sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Cứ 5 thanh niên Việt Nam thì có 1 người quan hệ tình dục trước hôn nhân
- Năm 2007, Đỗ Hà Thế Bình đã nghiên cứu “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp”
- Năm 2007, Đỗ Duy Hưng với nghiên cứu “Nhận thức về giới tính và nguyện vọng của thiếu niên lứa tuổi 14 – 16 tại Hà Nội” đã đưa ra kết luận giáo dục
Trang 24giới tính cho thiếu niên là rất cần thiết bởi đáp ứng được nhu cầu có các kiến thức
về giới tính cho các em, nâng cao nhận thức của các em, khắc phục tình trạng nhận thức sai dẫn đến thái độ chưa thật đúng đắn về giới tính
- Năm 2012, Nguyễn Xuân Huệ với nghiên cứu “Nhận thức của học sinh lớp
9 về giáo dục giới tính tại một số trường Trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh” Đã kết luận, giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở là quan trọng và cần thiết ở lứa tuổi này Nếu các em được trang bị những kiến thức giới tính, giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp các em nhận thức đúng đắn về những hành vi, biết cách cư xử phù hợp về giới và có những định hướng đúng cho bản thân
- Năm 2015 với công trình nghiên cứu “Nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên”, một lần nữa lại chứng minh được giáo dục giới tính là cần thiết cho lứa tuổi vị thành niên
- Năm 2017, Lê Thị Dịu với nghiên cứu “Nhận thức và thái độ của cha mẹ về giáo dục giới tính cho con em trong độ tuổi THCS”, đã chỉ ra thực trạng và các yếu
tố ảnh hưởng tới nhận thức và thái độ của cha mẹ về giáo dục giới tính cho con em trong độ tuổi THCS
Như vậy có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính với các góc độ khác nhau: nhận thức, thái độ, thực trạng Với đa dạng đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vấn đề về giới tính rất cần thiết trong công cuộc bồi dưỡng kiến thức và vốn sống cho học sinh Tuy nhiên trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường đã đưa VN nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới Song mặt trái của nó đã tác động rất lớn đến thế hệ trẻ VN Thông qua mạng thông tin toàn cầu Internet và các loại sách báo, văn hoá phẩm độc hại… giới trẻ Việt Nam đã tiếp cận những “tri thức” ngoài luồng dẫn đến sự tò mò muốn tìm hiểu, khám phá bản thân và bạn khác giới dẫn đến những hậu quả không lường Vì thế vấn đề giới tính và giáo dục giới tính càng trở nên cấp bách không chỉ cho riêng các bậc phụ huynh mà còn là vấn đề của ngành giáo dục và toàn xã hội
Với đề tài nghiên cứu: “Nhận thức và thái độ về giới tính của học sinh lớp 9, tỉnh Bạc Liêu”, tác giả tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến mặt nhận thức và thái
Trang 25độ về giới tính của học sinh, và từ đó kiến nghị một số biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục giới tính cho học sinh nói riêng và giáo dục nhân cách học sinh nói chung một cách hiệu quả
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhận thức, trong chương trình tâm lý học đại cương của nhiều tác giả, khái niệm nhận thức đã được đề cập rất cụ thể với nhiều phương diện khác nhau
Vậy nhận thức được hiểu như thế nào?
Theo từ điển Tiếng việt (1999), Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh
và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó Có nhận thức đúng và cũng có những nhận thức sai lầm Nhận thức có nghĩa là nhận ra và biết được, hiểu được Nhận thức được vấn đề tức là biết được vấn đề đó là gì và hiểu được nó như thế nào, nguồn gốc của vấn đề ra sao…
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (2008), nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó
Trang 26Theo từ điển Giáo dục học, nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thức vào trong tư duy của con người Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)
Theo Giáo trình tâm lý học đại cương của tác giả Trần Tuấn Lộ (2003), nhận
thức (congnition) là hoạt động tâm lý nhằm mục đích biết được một sự vật hay một hiện tượng nào đó là gì, là như thế nào bằng các giác quan (để có những cảm giác
và tri giác hoặc tư duy tưởng tượng)”
Tác giả Stephen Worchel - Wayne Shebilsue trong tác phẩm Tâm lý học - Nguyên lý và ứng dụng thì cho rằng: “Nhận thức là quá trình diễn dịch thông tin mà chúng ta thu nhận được từ môi trường thông qua quá trình cảm giác Quá trình cảm giác và nhận thức đan xen lẫn nhau” Theo chúng tôi với cách đặt vấn đề như trên thì khái niệm nhận thức dừng lại ở mức độ hiểu biết rõ ràng hơn về sự vật, hiện tượng
Theo từ điển tâm lý năm 2011 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên, nhận thức (tiếng Pháp: Connaisance) là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết là hiểu biết thế giới khách quan Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:
- Kinh nghiệm hàng này về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống
- Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống với
ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai
Trong quá trình nhận thức này, những cái sai sẽ dần dần được loại bỏ để con người có nhận thức đúng đắn về thế giới khách quan
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Nhận thức là một hoạt động chủ thể hướng vào đối tượng nhằm mục đích biết và hiểu đối tượng cũng như biết và hiểu
chính mình” (tự nhận thức) Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động) nó là tiền đề của hai mặt kia
và đồng thời có quan hệ chặt chẽ với nhau và với các hiện tượng tâm lý khác Nhận
Trang 27thức (perception) tức là tiến trình chọn lọc, diễn dịch, phân tích và hợp nhất các
kích thích gây ra phản ứng ở các giác quan của chúng ta
Theo Roberts Feldman, nhận thức là tiến trình nhờ đó cảm giác được phân tích, diễn dịch và hợp nhất với các thông tin cảm giác khác
Theo V.I Lênin, nhận thức là một quá trình phản ảnh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan (Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia)
Nhận thức chỉ có ở con người, bao gồm 5 tính chất: tính năng động, tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo và tính cơ sở thực tiễn
Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm; Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính, và chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích
và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội
Những quan điểm trên đều có những điểm tương đồng khi định nghĩa về nhận thức Cụ thể đều xem nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan thông qua sự nhận biết và các bước của tư duy Sản phẩm của quá trình nhận thức có thể là nhận thức đúng đắn và sai lầm nhưng thông qua sự tích cực và tự giác con người sẽ dần dần loại bỏ cái sai và có nhận thức đúng đắn để cải thiện hiện thực khách quan làm cho nó ngày càng phục vụ cuộc sống con người ngày một tốt hơn
Ngày nay, đa số cho rằng nhận thức là một quá trình tiếp cận và tiến gần đến chân lý nhưng không ngừng ở mức độ nào, vì còn nhiều điều mà chúng ta chưa hiểu hết được, phải dần loại bỏ cái sai, không khớp với hiện thực và liên tục đi từ bước này sang bước khác để hoàn thiện hơn
Có thể nói nhận thức là hoạt động tích cực của chủ thể phản ánh hiện thực khách quan để thích ứng với nó hoặc cải tạo nó Hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ thuộc tính bề ngoài: cảm tính, trực quan, riêng lẽ đến đối tượng trọn vẹn, ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của nó, sau đến các thuộc tính bên trong,
có tính quy luật ngày càng đi sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiện tượng và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lí như cảm
Trang 28giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ Ở những giai đoạn phát triển nhất định thì học tập là hoạt động nhận thức chủ yếu
Qua các định nghĩa đã được nêu ra, chúng tôi đồng ý với định nghĩa nhận thức sau đây:
“Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó”
1.2.1.2 Các mức độ của nhận thức:
Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con người phải nhận thức và thể hiện thái độ của mình với những sự vật hiện tượng xung quanh mình Trong quá trình hoạt động của con người phải nhận thức cái bên ngoài và cái bên trong, cái cụ thể, khái quát, quy luật, … của sự vật hiện tượng Như vậy, nhận thức là một hoạt động tâm lý hết sức phức tạp, đa dạng và được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Những quan niệm phổ biến và được dùng rộng rãi nhất là các quan niệm sau:
* Quan niệm thứ nhất:
Nhận thức được chia làm hai mức độ là nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình (cảm giác và tri giác), nhận thức lý tính bao gồm (tư duy và tưởng tượng) Hai quá trình này phân tích, đánh giá, so
sánh, … những gì đã nhận được trong quá trình cảm giác, tri giác và đang được lưu giữ trong trí nhớ nhằm mục đích tìm ra những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng thông qua những tính chất bên ngoài
- Nhận thức cảm tính: là giai đoạn thấp nhất của hoạt động nhận thức, nó tương đối đơn giản, mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức Ơ mức độ nhận thức cảm tính chúng ta chỉ biết được những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi chúng ta trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác của chúng ta Mỗi quá trình nhận thức giúp con người nhận thức được một mặt, một khía cạnh của thế giới khách quan
+ Cảm giác giúp con người nhận biết được từng thuộc tính riêng lẻ và bề ngoài của sự vật Tri giác đem lại cho con người những tư liệu, kiến thức đầu tiên
Trang 29về sự vật hiện tượng khách quan, những tính chất bề ngoài khác nhau của chúng và tạo ra một hình ảnh về sự vật hiện tượng đó
Là mức độ nhận thức đầu tiên của con người, cảm giác có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức nói riêng và trong toàn bộ đời sống con người nói chung Cảm giác là mối quan hệ trực tiếp giữa cơ thể với môi trường xung quanh Lenin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Do có mối quan hệ
đó mà con người có khả năng thích nghi và định hướng với môi trường Cảm giác giúp chúng ta thu nhận tư liệu trực quan sinh động, cung cấp tài liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn
+ Tri giác: là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn những thuộc ttinhs cúa ự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan Tri giác là sự tổng hợp các cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn Theo Robert J.Sternberg (1999) thì tri giác xảy ra khi sự vật ở thế giới bên ngoài mang lại cấu trúc của thông tin về sự vật ấy tác động vào các giacs quan của ta, cho ta hình ảnh sự vật
Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng
có tính trực quan của sự vật Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người Do vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn
- Nhận thức lý tính: là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát và thực tại khách quan Là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan
+ Tư duy là một quá trình nhận thức xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề và diễn ra theo nhiều giai đoạn khác nhau, nhằm làm biến đổi những dữ liệu để tìm ra những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng Tư duy là quá trình nhận thức ở mức độ cao, nhờ nó con người mới phản ánh được những cái mà nhận thức cảm giác không thể phản ánh được
Trang 30+ Tưởng tượng: là một quá trình nhận thức phản ánh hiện tượng ở dạng đặc biệt, dạng những hình ảnh, khái niệm, tư tưởng mới, chủ quan hay khách quan, xây dựng trên cơ sở những hình ảnh của tri giác, trí nhớ cũng như những kiến thức nhận
được Theo Huỳnh Văn Sơn – Lê Thị Hân (chủ biên), Giáo trình Tâm lý học đại
cương, Nxb Đại học Sư phạm TP.HCM
* Quan niệm thứ hai:
Nhận thức được phân chia thành 3 mức độ như sau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng
+ Mức độ nhận biết: tức là có thể nhận lại, thậm chí nhắc lại các tài liệu, các tri thức theo trình tự nhất định đã được tiếp nhận Ở mức độ này con người hiểu được hình thức của tài liệu chứ chưa hiểu được nội dung tài liệu hoặc hiểu một cách hời hợt Mức nhận biết giúp con người phân biệt được sự vật, hiện tượng trên cơ sở những dấu hiệu bề ngoài
+ Mức độ thông hiểu: Ở mức độ này tức là nắm được nội dung tài liệu, cóthể trình bày được nội dung của tài liệu nhưng chưa vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể
+ Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng tài liệu đã tiếp thu vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể Để đạt được mức độ này mỗi người cần phải: Say mê với công việc mình đang làm, có trình độ và kiến thức văn hóa nhất định; có lòng thương yêu đối với con người
* Quan niệm thứ ba:
Bloom chia lĩnh vực nhận thức thành 6 mức độ hoạt động tri thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó Phân loại tư duy của Bloom được tạo ra vào năm
1956 dưới sự lãnh đạo của nhà tâm lý học giáo dục, Tiến sĩ Benjamin Bloom Đã từ lâu Thang cấp độ tư duy được xem là công cụ nền tảng để xây dựng mục tiêu và hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với người học Thang cấp độ tư duy của Bloom, sau khi được điều chỉnh gọi là Thang Bloom tu chính (Bloom’s Revised Taxonomy) gồm: Nhớ/Biết; Hiểu; Vận dụng; Phân tích; Đánh giá; Sáng tạo
Trang 31Thang đo Bloom
Thang đo Bloom cải tiến
Trang 32Các cấp độ tư duy theo Bloom được định nghĩa như sau:
- Nhớ/Biết (Knowledge):
+ Là khả năng ghi nhớ và nhận lại các thông tin đã được thu nhận Biết là mức độ nhận thức ở mức độ chỉ cần con người vận dụng trí nhớ mà chưa cần phải giải thích điều gì
+ Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ liệu, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm,… Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
+ Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: trình bày, nhắc lại, mô tả, liệt kê, hãy định nghĩa, cái nào, em biết những gì về…
- Hiểu (Comprehension):
+ Bao gồm cả biết nhưng ở mức độ cao hơn là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn
giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả và ảnh hưởng) Mức độ hiểu
đòi hỏi chủ thể phải biết được ý nghĩa của tri thức, biết liên hệ với những điều đã có trong kinh nghiệm của họ Hiểu là mức độ chủ thể nhận được thông tin nào đó thì
có thể biến đổi thông tin đó sang một hình thức khác tương đương có ý nghĩa nhiều hơn với chính mình, có thể mở rộng sự hiểu biết vượt ra ngoài những gì được cung cấp trong thông tin đó Có ba cách thể hiện mức độ hiểu:
Chuyển dịch, là cách thức truyền đạt lại thông tin thu nhận được bằng một hình thức khác, thuật ngữ khác
Giải thích, là cách thức sắp xếp lại thông tin theo một dạng mới, suy nghĩ về mối liên hệ giữa các vấn đề trong thông tin Sự giải thích thường được thể hiện qua cách suy diễn khái quát hóa hay tóm tắt lại
Ngoại suy, là cách đánh giá, dự đoán dựa trên sự hiểu biết về những gì có liên qua đến thông tin bao gồm cả việc suy diễn ẩn dụ, các hệ quả…
+ Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
+ Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
Trang 33+ Từ khóa đánh giá: Giải thích, phân biệt, khái quát hóa, cho ví dụ, so sánh, liên hệ…
- Vận dụng (Application):
+ Là mức độ phải dựa trên sự thông hiểu nhưng ở mức cao hơn Đó là khả năng chủ thể căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng các tri thức đã biết để giải quyết một vấn đề nào đó Vận dụng là khả năng sử dụng thông
tin và kiến thức từ một sự việc này sang sự việc khác (sử dụng những hiểu biết
trong hoàn cảnh mới)
+ Mục tiêu của loại câu hỏi là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới
+ Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm… có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết, vận dụng các phương án vào thực tiễn Khi đặt câu hỏi cần tạo ra những tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học
+ Các cụm từ để hỏi thường là: Làm thế nào, hãy tính sự chênh lệch giữa, em
có thể giải thích khó khăn về … như thế nào
+ Từ khóa: Tại sao lại đi đến kết luận như vậy, em có nhận xét gì về, hãy chứng minh…
- Đánh giá (Evaluating)
+ Người học có khả năng đưa ra nhận định, phán quyết của bản thân đối với một vấn đề dựa trên các chuẩn mực, các tiêu chí đã có
Trang 34+ Mục tiêu của loại câu hỏi này là kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
+ Từ khóa: Lý do của vấn đề trên là gì, trên cơ sở của những tiêu chuẩn… đánh giá giá trị của…
Theo một cách tương đối, 6 cấp độ nhận thức tương ứng với các mục tiêu về Kiến thức, Kỹ năng và Thái độ của người học
- Mức nhớ và hiểu: Mục tiêu về Kiến thức
- Mức vận dụng và phân tích: Mục tiêu về Kỹ năng
Có nhiều quan điểm về các mức độ của quá trình nhận thức, ở nghiên cứu này chúng tôi chọn theo quan điểm của Bloom tu chính (Bloom’s Revised Taxonomy) Chúng tôi chọn khảo sát nhận thức về giới tính của học sinh ở mức độ Nhớ/Biết (Knowledge) và Hiểu (Comprehension)
1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức
- Bẩm sinh di truyền:
Những đặc điểm cấu tạo cơ thể như hệ thần kinh, giác quan, cấu tạo của võ não,… ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của con người biểu hiện cụ thể ở khả năng nhận thức nhanh hay chậm
- Môi trường sống:
Trang 35Mỗi một con người đều sống trong một môi trường tự nhiên và môi trường tâm lý nhất định Điều đó ảnh hưởng đến việc hình thành hệ thống định hướng giá trị ở mỗi cá nhân Chính định hướng giá trị đó khiến các cá nhân sống trong những môi trường khác nhau có hiểu, nhìn nhận, đánh giá khác nhau
- Giới tính:
Ngay từ khi đứa trẻ chưa ý thức được giới tính của mình, thông qua cách cư
xử, cách dạy dỗ của người lớn, vấn đề “bản sắc giới” đã tác động nhiều đến nhận thức của trẻ nói riêng và cuộc sống trẻ nói chung Trong quá trình phát triển và hoàn thiện về mặt nhân cách, vấn đề “bản sắc giới” đã tạo nên những khác biệt về suy nghĩ, đánh giá của nam và nữ trong nhiều vấn đề
- Lứa tuổi:
Tương ứng với mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau nhận thức của con người cũng có nhiều điểm khác nhau Chính sự khác biệt đó tạo nên “khoảng cách giữa khác thế hệ” Những kinh nghiệm sống trước đó của người lớn tuổi ảnh hưởng đến suy nghĩ của họ về một vấn đề trong cuộc sống Trong khi đó, những người trẻ tuổi hơn lại nhìn nhận vấn đề đó theo một chiều hướng khác thậm chí trái ngược
* Kết luận lại:
Hoạt động nhận thức sẽ giúp con người hiểu biết hiện thực xung quanh, và hiểu biết về chính mình Sự hiểu biết có thể ở nhiều mức độ: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Nhận thức của mỗi người đều có quá trình cơ bản như nhau, đều thực hiện theo quy luật giống nhau Nhưng kết quả đạt được của mỗi người lại khác nhau tức là hiện thực được phản ánh đúng hoặc sai đều khác nhau Yếu tố quyết định ở đây là do phẩm chất trí tuệ riêng biệt của mỗi cá nhân Quá trình nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp Để đánh giá nhận thức của con người chúng ta có thể đánh giá theo các mức độ của nhận thức hoặc theo hai xu hướng đơn giản đó là nhận thức đúng đắn hoặc nhận thức sai lệch (nhận thức chưa đúng đắn)
Trong đề tài này do điều kiện và có những hạn chế nhất định, nhận thức của học sinh lớp 9 đối với vấn đề giới tính được chúng tôi chọn lọc và khảo sát ở mức
độ thấp là mức độ nhận biết và hiểu Cụ thể ở đây, các em biết hay chưa biết, biết
Trang 36đúng hay biết sai về một kiến thức cụ thể về vấn đề giới tính, đó chính là vốn biết, hiểu của các em về những nội dung kiến thức nhất định
1.2.2 Thái độ
1.2.2.1 Định nghĩa
Thái độ là một trong những phạm trù được sử dụng rộng rãi không chỉ trong khoa học tâm lý mà cả trong các ngành khoa học khác Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ, thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm
lý học về thái độ Mỗi định nghĩa lại bàn tới một khía cạnh của thái độ, góp phần làm phong phú thêm cách hiểu về phạm trù này
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về thái độ, chúng tôi chỉ xin đưa ra một số quan điểm tiêu biểu về thái độ:
- Trong từ điển Tiếng Việt (1999), thái độ là tổng thể nói chung những biểu
hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm
với ai hoặc đối với sự việc nào đó Thái độ hống hách Có thái độ niềm nở Tỏ thái
độ không bằng lòng Giữ thái độ im lặng
- Theo từ điển Tiếng Việt (2000), thái độ là cử chỉ, cách thức tỏ ra đối với việc gì
- Trong từ điển Anh - Việt, “thái độ” được viết là “Attitude” và được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
- Trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1996 thì lại cho rằng: "Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”
- Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng (2008), thái độ là trạng thái sẵn sàng
về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điêu chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả
Trang 37các khách thể và tình huống mà nó (phản ứng) có mối liên hệ (Allport) Nhìn chung người ta cho rằng thái độ có ba thành tố là nhận thức, cảm xúc và hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập Một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ thể đối với một khách thể có liên quan Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị
- Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (1991):
+ Trước một số đối tượng nhất định, như hàng hoá nào đó, hoặc một ý tưởng
nào đó (chính trị, tôn giáo, triết lý, …), nhiều người có những phản ứng tức thì, tiếp
nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn sàng có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tượng, cũng như tri thức bị chi phối, về vận động thì thái độ gắn liền với tưởng tượng thế
+ Thái độ liên quan với động cơ và các dục vọng bản năng, nhưng khác với dục vọng, là khi đã tỏ thái độ rồi, vị tất nó đã dịu đi, như khi thoả mãn dục vọng
(ghét ai, có xỉ vả rồi nhiều khi vẫn giữ thái độ như trước) Thái độ thay đổi trong
quá trình hoạt động
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “cách ứng
xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội” Nó được cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau
- Khi nói tới định nghĩa về thái độ từ trước tới nay, chúng ta không quên nhắc lại khái niệm thái độ đã được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918 của hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki Hai nhà tâm lý học này cho rằng: “thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp nhận” Hai ông cũng cho rằng : “thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị” Như vậy, W.I.Thomas và F.Znaniecki đã đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân
Trang 38- Gần đây James.W Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” Nhà tâm lý học John Traven cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó”
- Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình Xây dựng thái độ lao động mới Thái độ học tập đúng đắn Thái độ hoài nghi, thiếu tin tưởng, xác định thái độ
- Theo Tâm lý học xã hội, thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân
- Theo Lênin định nghĩa, thái độ là một bộ phận của lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của cá nhân đối với hiện thực Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên cũng phản ánh tồn tại xã hội, chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xã hội, của dư luận và tập đoàn xã hội Nó thường không phải là những đáp ứng được biểu lộ một cách rõ ràng hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển hoá thành hành động
- Thái độ là sự đánh giá đối tượng, bày tỏ cảm xúc và thể hiện tâm thế sẵn sàng hành động
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam Đó là quan niệm cho rằng “thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “thái độ, về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi”
Nhìn chung người ta cho rằng thái độ có 3 thành tố: nhận thức, cảm xúc và hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập Thái
độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị
Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ Người nghiên cứu lựa chọn định nghĩa của Tâm lý học xã hội làm cơ sở để xây dựng thang đánh
Trang 39giá: “Thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân”
Tác giả chọn định nghĩa thái độ như sau:
“Thái độ là trạng thái tinh thần có tính đặc trưng của con người, đó là
sự sẵn sàng phản ứng với một đối tượng nào đó có liên quan đến chủ thể và nó được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sự hiểu biết của con người Thái độ có tác dụng điều chỉnh, ảnh hưởng hoặc tác động tới hành vi hoặc tình huống mà khách thể nó tham gia Sự đánh giá thái độ là sự đánh giá theo hướng cụ thể là thái độ tiêu cực hoặc tích cực, không có thái độ một cách chung chung không
+ Thái độ được hình thành bởi các thông tin:
Tất cả các thông tin trên báo, tạp chí, truyền hình, radio, trong đời sống hàng ngày, … có những hình ảnh đáng kể đến việc hình thành thái độ của con người, bất
cứ thông tin nào tác động vào chúng ta thì chúng ta cũng có những thái độ đối với những thông tin đó Hệ thống thông tin được các chủ thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, thông tin làm chủ thể nhận rõ thêm bản chất của vấn đề và sau đó chủ thể sẽ dễ dàng bày tỏ thái độ một cách rõ ràng
+ Thái độ được hình thành trong quá trình thoả mãn nhu cầu:
Con người thường hình thành thái độ tích cực với những gì có lợi, và hình thành thái độ tiêu cực với khách thể có hại trong tiến trình thoả mãn nhu cầu của mình Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nổ lực bản thân, tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể
+ Thái độ được hình thành qua giao tiếp nhóm:
Trang 40Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau, thái độ của một người thường phản ánh giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ là thành viên Thái
độ của các nhóm khác nhau là do mục đích, tiêu chuẩn của các nhóm khác nhau Chẳng hạn, nhóm hài sẽ khác nhóm kịch
Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ có ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành viên trong nhóm đó Chuẩn mực đó không chỉ xác định hành vi nào là đúng hành vi nào là sai, hành vi nào là tốt và hành vi nào là xấu mà còn xác định xem thái độ nào là đúng và thái độ nào là sai Thông qua việc thưởng – phạt và áp lực nhóm, ép cá nhân phải tuân theo Các nhóm thường đưa ra quy chế thưởng – phạt, để làm động cơ cho các thành viên, ai có thái độ và hành vi tốt, đúng thì sẽ được thưởng hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn ai có hành vi thái độ không đúng thì
sẽ bị phạt Thưởng - phạt tuỳ theo mức độ đề ra của các nhóm Trong tâm lý học xã hội đề cao vai trò của nhóm, nhất là các nhóm như: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,
… có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức cá nhân Tuy nhiên cá nhân tiếp nhận các thái độ trong nhóm một cách có lựa chọn, không tiếp nhận một cách
bị động và tiếp nhận dựa vào nhu cầu của mình Mức độ và cách thức tiếp nhận của mỗi thành viên trong nhóm là khác nhau
+ Thái độ được hình thành qua kinh nghiệm sống:
Kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ hình thành nên thái độ Người có nhiều kinh nghiệm sẽ có thái độ khác với người ít kinh nghiệm, mặc dù họ gặp cùng một vấn
đề giống nhau
- Nhân cách cá nhân và sự hình thành thái độ:
Cá nhân có xu hướng tiếp nhận các thái độ phù hợp với nhân cách của mình, nhưng nhân cách của con người thì chưa hẳn là một hệ thống hoàn toàn thống nhất Chính vì thế chúng ta có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn nhau, bởi sự giáo dục khác nhau
1.2.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ
Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan cơ bản nhất của xã hội và mang tính chủ thể sâu sắc Mặc dù là thế nhưng hai quá trình này vẫn có những nét riêng của nó như là: nhận thức thì phản ánh những thuộc tính và các mối