1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngữ Liệu Dạy Học Tập Đọc Lớp 2 Theo Quan Điểm Phát Triển Năng Lực Đọc

154 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc”, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, hướng dẫn, giúp đỡ của các cá nhân và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Thảo

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ XUÂN YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Xuân Yến, các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng một số khái niệm, nhận xét, đánh giá của các tác giả có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Người viết

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 4

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan

điểm phát triển năng lực đọc”, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, hướng dẫn,

giúp đỡ của các cá nhân và tập thể cùng với ý thức cố gắng, sự nỗ lực của bản thân

để hoàn thành luận văn này

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Xuân Yến, giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Cô đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho chúng tôi nhiều kiến thức, kĩ năng quan trọng của một người giáo viên Cô đã tận tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến giúp tôi có điều kiện tốt nhất để hoàn thành luận văn

Tiếp đến, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô trong khoa Giáo dục Tiểu học của trường Đại học Sư phạm TP HCM, cùng toàn thể các thầy

cô là những người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng quý báu trong thời gian theo học vừa qua Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện để hoàn thành khóa học theo đúng thời gian quy định

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng quý thầy cô ở các trường tiểu học: Hiệp Hòa (Biên Hòa - Đồng Nai), Nguyễn Đình Chiểu (Biên Hòa - Đồng Nai)

và An Lạc 1 (quận Bình Tân - TP HCM) đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình khảo sát

Tôi rất mong nhận được những lời góp ý chân thành của quý thầy cô, các bạn đối với đề tài này

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGỮ LIỆU DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC 8

1.1 Dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc 8

1.1.1 Năng lực và cấu trúc của năng lực 8

1.1.2 Năng lực đọc 9

1.1.3 Dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 21

1.2 Ngữ liệu dạy học 26

1.2.1 Ngữ liệu dạy học tiếng Việt 26

1.2.2 Ngữ liệu dạy học Tập đọc 27

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NGỮ LIỆU DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC 39

2.1 Dạy học Tập đọc SGK Tiếng Việt 2 hiện hành 39

2.1.1 Mục đích, yêu cầu dạy học Tập đọc SGK Tiếng Việt 2 hiện hành 39

2.1.2 Vấn đề phát triển năng lực đọc trong dạy học Tập đọc lớp 2 hiện nay 40

2.1.3 Ngữ liệu dạy học Tập đọc trong SGK Tiếng Việt lớp 2 hiện hành 42

2.2 Những ý kiến của GV về ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 49

Tiểu kết chương 2 67

Trang 6

3.1 Căn cứ xây dựng ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát

triển năng lực đọc 68

3.1.1 Chương trình Tiếng Việt lớp 2 hiện hành 68

3.1.2 Chương trình GDPT môn Ngữ văn sau năm 2018 69

3.2 Tiêu chí xây dựng ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 71

3.2.1 Tiêu chí đối với bài đọc (VB đọc) 71

3.2.2 Tiêu chí đối với tranh ảnh minh họa 76

3.2.3 Tiêu chí đối với phần chú thích 77

3.2.4 Tiêu chí đối với hệ thống câu hỏi/Bài tập tìm hiểu bài 76

3.3 Mô tả quá trình tìm các ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 80

3.3.1 Xác định mục đích tìm kiếm ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 80

3.3.2 Tìm nguồn ngữ liệu 80

3.3.3 Chọn lọc ngữ liệu 82

3.3.4 Biên tập lại ngữ liệu 84

3.4 Các ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 92

3.4.1 Ngữ liệu sưu tầm 92

3.4.2 Ngữ liệu sưu tầm được biên tập 92

3.5 Kế hoạch dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc 94

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 7

GDPT : giáo dục phổ thông

GV : giáo viên

HS : học sinh

HK : học kì NLĐ : năng lực đọc Nxb : nhà xuất bản

PP : phương pháp SGK : sách giáo khoa

TH : tiểu học TLCH : trả lời câu hỏi

TV : Tiếng Việt

VB : văn bản

Trang 8

Bảng 2.1 Hiểu biết của GV về ngữ liệu dạy học Tập đọc 50

Bảng 2.2 Ý kiến của GV về vai trò của ngữ liệu trong dạy học Tập đọc 51

Bảng 2.3 Ý kiến của GV về bất cập của tranh ảnh minh họa dạy học Tập đọc trong SGK TV lớp 2 53

Bảng 2.4 Ý kiến của GV về bất cập của VB đọc trong SGK TV lớp 2 55

Bảng 2.5 Ý kiến của GV về phần chú thích trong SGK TV lớp 2 56

Bảng 2.6 Ý kiến của GV về hệ thống câu hỏi trong SGK TV lớp 2 57

Bảng 2.7 Hình thức GV tổ chức giúp HS tìm hiểu bài trong dạy học Tập đọc SGK TV lớp 2 58

Bảng 2.8 Mức độ sử dụng các nguồn ngữ liệu ngoài SGK để dạy học đọc cho HS 60

Bảng 2.9 Một số đề xuất của GV đối với tranh ảnh minh họa VB đọc để phát triển NLĐ 61

Bảng 2.10 Một số đề xuất của GV đối với VB đọc để phát triển NLĐ 62

Bảng 2.11 Một số đề xuất của GV đối với phần chú thích để phát triển NLĐ 62

Bảng 2.12 Một số đề xuất của GV đối với hệ thống câu hỏi trong phân môn TĐ để phát triển NLĐ 63

Trang 9

Biểu đồ 2.2 Ý kiến của GV về vai trò của ngữ liệu trong dạy học Tập đọc 52

Biểu đồ 2.3 Ý kiến của GV về bất cập của tranh ảnh minh họa dạy học Tập đọc trong SGK TV lớp 2 54

Biểu đồ 2.4 Ý kiến của GV về bất cập của VB đọc trong SGK TV lớp 2 55

Biểu đồ 2.5 Ý kiến của GV về phần chú thích trong SGK TV lớp 2 56

Biểu đồ 2.6 Ý kiến của GV về hệ thống câu hỏi trong SGK TV lớp 2 58

Biểu đồ 2.7 Hình thức GV tổ chức giúp HS tìm hiểu bài trong dạy học Tập đọc SGK TV lớp 2 59

Biểu đồ 2.8 Một số đề xuất của GV đối với tranh ảnh minh họa VB đọc để phát triển NLĐ 60

Biểu đồ 2.9 Một số đề xuất của GV đối với VB đọc để phát triển NLĐ 61

Biểu đồ 2.10 Một số đề xuất của GV đối với phần chú thích để phát triển NLĐ 64

Biểu đồ 2.11 Một số đề xuất của GV đối với hệ thống câu hỏi trong phân môn Tập đọc để phát triển NLĐ 65

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở nhà trường Tiểu học là hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và học tập cho học sinh Trong đó, giao tiếp là năng lực nền tảng và có tính công cụ Năng lực này là tổng hòa của nghe, nói, đọc và viết Vì vậy, để phát triển năng lực giao tiếp cũng như đạt được mục tiêu môn Tiếng Việt cần phải quan tâm cả nghe, nói, đọc, viết Trong đó, NLĐ cần được chú trọng hàng đầu

Đọc là nền tảng cho sự phát triển bản thân về mọi mặt Trong thời đại công nghệ số, thông tin đa dạng, phong phú Việc tìm kiếm thông tin có thể từ nhiều nguồn khác nhau Đọc là cách giúp con người thu nhận thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả Biết đọc sẽ có được phương tiện học tập, giao tiếp, ứng xử, tìm hiểu thế giới xung quanh, tạo ra hứng thú để tiếp nhận, tìm tòi tri thức, làm cho đời sống tình cảm, tinh thần lành mạnh

Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Tập đọc là một phân môn quan trọng giúp hình thành và phát triển năng lực đọc cho HS Để dạy và học Tập đọc hiệu quả, việc chọn lọc ngữ liệu để dạy học vô cùng quan trọng Ngữ liệu dạy học Tập đọc không chỉ đơn thuần là những văn bản giúp người học đọc to thành tiếng mà còn là đọc để hiểu nội dung được thể hiện trên mặt chữ viết đó, hiểu ý tưởng tác giả muốn nói Sau đó, người đọc liên hệ những gì được đọc với bản thân, phản hồi lại với văn bản Tiếp xúc với các ngữ liệu trong dạy học Tập đọc, HS có cơ hội sử dụng tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp khác nhau một cách chính xác, tinh tế hơn Các em tích góp thêm kinh nghiệm sống, bồi dưỡng tình cảm và hoàn thiện nhân cách con người

Ngữ liệu dạy học Tập đọc hiện nay bên cạnh những ưu điểm vẫn còn một số hạn chế về nội dung và hình thức Một số ngữ liệu chưa đảm bảo tính vừa sức đối với HS, nội dung quá dài hay còn khá xa lạ, chưa gần gũi với cuộc sống của các em gây khó khăn trong việc tiếp nhận Từ đó dẫn đến việc không phát huy năng lực đọc cho người đọc

Hiện nay, chương trình Tiểu học sau năm 2018 đang soạn thảo với chủ trương một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa nên việc tìm hiểu, xây dựng các ngữ liệu

Trang 11

nói chung và ngữ liệu dạy học Tập đọc nói riêng sẽ là nguồn tư liệu phong phú cho các tác giả biên soạn các bộ SGK, GV và HS tham khảo

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo

quan điểm phát triển năng lực đọc” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Năng lực đọc vừa là mục tiêu cần đạt trong dạy học, vừa là phương tiện phục

vụ cho học tập, cuộc sống hằng ngày Trong nhiều đề tài nghiên cứu, sáng kiến nâng cao dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng đã nói đến đọc và năng lực đọc cần có ở người học

Theo Lê Phương Nga (2001), trong cuốn “Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” có

viết năng lực đọc được tạo thành từ 4 kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được những nội dung đã đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm) Bốn kĩ năng này tác động và hỗ trợ cho nhau Chúng được hình thành qua hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc thầm Tuy nhiên, ở hình thức đọc nào thì mục đích cuối cùng cũng là hiểu văn bản đọc

Tác giả Trịnh Thị Thu Hương (2014) cũng có nói đến 4 kĩ năng bộ phận tạo nên năng lực đọc như tác giả Lê Phương Nga Trịnh Thị Thu Hương cho rằng muốn đọc tốt, đầu tiên phải biết giải mã chữ- âm một cách sơ bộ Sau đó, hiểu nghĩa từ, tìm được các từ “chìa khóa”, câu “chìa khóa” và biết phát hiện các yếu tố “văn” Từ

đó, người đọc mới tiếp nhận trọn vẹn văn bản để giao tiếp được với tác giả và người nghe

Khi nói về NLĐ cần hình thành và phát triển cho người học, hai tác giả trên đều có chung quan điểm về các kĩ năng tạo nên NLĐ Các kĩ năng bộ phân này có thể xem là các kĩ năng được rèn luyện trong quá trình HS đọc thành tiếng và tìm hiểu bài

Hoàng Thị Tuyết (2012) đưa ra các lí luận về đọc, NLĐ và mô hình cấu trúc NLĐ Tác giả nói đến kĩ năng giải mã kí tự trên VB, truy tìm ý nghĩa của những kí

tự này Ngoài ra, tác giả còn nhắc đế sự liên hệ, trao đổi của người đọc với VB, với người viết Trong tiến trình đọc, người học thực hiện các vai trò là người giải mã, người sử dụng VB, người phân tích VB, người tham dự vào VB dựa vào những

Trang 12

kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân để cảm nhận, xây dựng những ý nghĩa riêng đối với VB trong lúc đọc

Các nghiên cứu trên cho thấy rằng, đọc mới chỉ dừng lại ở phát triển kĩ năng đọc thành tiếng và đọc hiểu Một số tác giả nói đến việc liên hệ bản thân với những

gì đã đọc Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy có tác giả nói về sự vận dụng những điều được đọc vào thực tiễn Bởi lẽ, các đích của việc học là giúp người học cảm thấy thích thú với những gì mình được học, được đọc khi chúng hữu ích với thực tế cuộc sống của các em

Muốn hình thành và phát triển NLĐ cho người học, ngoài PP dạy học, cách thức tổ chức dạy học thích hợp, tích cực, cần có nguồn ngữ liệu dạy học hay Vì vậy, một trong những điều quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến NLĐ của HS đó là ngữ liệu Nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về ngữ liệu Họ đưa ra các nguyên tắc, căn cứ tìm kiếm, chọn lựa, biên tập và thiết kế ngữ liệu cho nhiều phân môn, môn học khác nhau

Hoàng thị Tuyết (2015) đã có cách nhìn nhận về ngữ liệu dạy học Tập đọc trong chương trình hiện hành là: “Ngữ liệu dạy đọc được chọn lọc cố định trong SGK sử dụng thống nhất toàn quốc Ngữ liệu dạy đọc bao gồm VB đọc, hình ảnh minh họa, câu hỏi tìm hiểu bài và phần giải nghĩa từ ngữ.”

Một số tác giả khác nghiên cứu về từng loại ngữ liệu dạy học, cách chọn lọc, biên tập ngữ liệu dựa vào các nguyên tắc, căn cứ phù hợp mục tiêu phân môn, môn học như:

Nguyễn Thị Hạnh (1998) với đề tài “Rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và

lớp 5” viết về văn bản (ngữ liệu) dùng để dạy học đọc hiểu ở lớp 4, 5 phải căn cứ vào

hai tiêu chuẩn: đa dạng về phong cách chức năng và phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tác giả cũng giải thích các yêu cầu đối với ngữ liệu được chọn để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho HS

Tác giả Nguyễn Ngọc Tứ (1999), trong nghiên cứu “Sử dụng ngữ liệu văn học

dân gian trong dạy học tiếng Việt” nói đến những nội dung cần khai thác, sự hình

thành, quy trình sử dụng ngữ liệu văn học dân gian trong thực tiễn dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

Trang 13

Lê Phương Nga (2001) nhắc nhở về việc sử dụng các tài liệu dạy học, trong đó gồm các ngữ liệu trong SGK, khi tìm hiểu ta không nên tiếp cận một cách thụ động

mà cần biết phân tích cơ sở của tài liệu đó, dụng ý của người biên soạn Đồng thời, biết chọn lọc, thấy được những hạn chế của tài liệu dạy học, từ đó có những biện pháp xử lí thích hợp để việc dạy học hiệu quả hơn

Phạm Phương Anh (2015) có bài viết về “Ngữ liệu dạy học trong sách giáo

khoa môn Tự Nhiên và Xã hội” Bài viết nói đến ngữ liệu trong tài liệu dạy học có

thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ cùng một lúc tùy theo mục tiêu, nội dung dạy học Vì vậy, các nhà giáo dục cần có khả năng nắm vững chương trình, mục tiêu bài học, trình độ HS, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng văn chương để xem xét, phân tích, lựa chọn

và biên soạn ngữ liệu phù hợp cả nội dung và hình thức

Nguyễn Thị Xuân Yến (2018), tác giả đã nhìn nhận ra nội hàm sâu rộng của

khái niệm Literacy là đa năng lực giao tiếp, gồm khả năng nghe, nói, xem, đọc, tạo

lập VB dưới nhiều hình thức khác nhau: hình ảnh, âm thanh, chữ viết,… và cả khả năng sử dụng, điều chỉnh ngôn ngữ trong những tình huống khác nhau Để phát triển phẩm chất và năng lực người học, trong đó có năng lực giao tiếp thì ngữ liệu dạy học Tiếng Việt không chỉ là VB được thể hiện bằng kênh chữ mà còn là VB đa phương thức (hình ảnh, âm thanh, kí hiệu,…), hình ảnh minh họa cho VB đó và cả câu hỏi, bài tập Vì vậy, việc lựa chọn ngữ liệu phải đa phong cách VB, đa phương

thức

Các công trình trên đã bàn luận đến ngữ liệu và việc sử dụng ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt cũng như đưa ra các căn cứ, nguyên tắc chọn lọc, xây dựng ngữ liệu Tuy nhiên, nghiên cứu ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc cho học sinh Tiểu học vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra các tiêu chí sưu tầm, chọn lựa, biên tập ngữ liệu theo quan điểm phát NLĐ cho HS Từ đó đề xuất, giới thiệu ngữ liệu để dạy học phân môn Tập đọc lớp

2 theo quan điểm phát triển NLĐ

Trang 14

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lí luận về đọc, năng lực đọc và ngữ liệu dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc cho HS

- Tìm hiểu ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc cho HS

- Xây dựng các tiêu chí để chọn lọc, biên tập ngữ liệu dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc

- Sưu tầm, chọn lọc, biên tập các ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển NLĐ

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Tập đọc ở lớp 2

Đối tượng nghiên cứu: Ngữ liệu trong dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 theo

quan điểm phát triển NLĐ

6 Giới hạn của đề tài

Giới hạn nội dung nghiên cứu: Ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan

điểm phát triển năng lực đọc

Phạm vi nghiên cứu: GV các trường Tiểu học Hiệp Hòa, xã Hiệp Hòa, Biên

Hòa- Đồng Nai; Tiểu học Nguyễn Đình Chiểu, Biên Hòa - Đồng Nai; Tiểu học An Lạc 1, quận Bình Tân, TP HCM

7 Giả thuyết khoa học

Nếu ngữ liệu của luận văn được xem xét và đưa vào làm ngữ liệu trong các bộ SGK, các tài liệu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học sau năm 2018 đóng góp cho việc dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc cho HS hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS lớp 2 nói riêng và HS TH nói chung

8 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng những PP nghiên cứu sau:

- PP phân tích, tổng hợp: Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Chúng tôi sẽ thu thập, chọn lọc và đọc các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: năng lực đọc, đặc điểm tâm sinh sinh lí, ngôn ngữ HS lớp 2, ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc và các tiêu chí để xây dựng hệ

Trang 15

thống ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

- PP điều tra, phỏng vấn: Tìm hiểu cơ sở thực tiễn

PP này được sử dụng để tìm hiểu ý kiến, sự đánh giá của GV về ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

Chúng tôi sẽ thu thập thông tin qua phiếu điều tra, bảng hỏi

- PP thống kê, phân tích, so sánh: Xử lí các thông tin, số liệu đã thu thập,

đưa ra những đánh giá, kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

9 Đóng góp của luận văn

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phần Phụ lục giống như những luận văn khác, cấu trúc luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về ngữ liệu dạy học Tập đọc ở lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

Trong chương 1, chúng tôi sẽ hệ thống những cơ sở lí luận về đọc, năng lực đọc, lí luận về các vấn đề liên quan đến ngữ liệu trong dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc

Chương 2 Cơ sở thực tiễn về ngữ liệu dạy học Tập đọc ở lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

Sau khi đã có những cơ sở lí luận làm nền tảng, chúng tôi tìm hiểu về ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc Chúng tôi sẽ khảo sát ý kiến, cách nhìn nhận của GV về ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan

Trang 16

điểm phát triển năng lực đọc để có những nhận xét, đánh giá khách quan và thực tế nhất

Chương 3 Ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

Ở chương 3, dựa vào những cơ sở lí luận và thực tiễn đã có, chúng tôi đưa ra các căn cứ xây dụng ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển NLĐ Luận văn cũng xác lập các tiêu chí cho từng loại ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển NLĐ Từ đó, chúng tôi tiến hành tìm kiếm, chọn

lọc, biên tập các ngữ liệu dạy học Tập đọc lớp 2

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGỮ LIỆU DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC

1.1 Dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển năng lực đọc

1.1.1 Năng lực và cấu trúc của năng lực

là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.”

Nói chung, các định nghĩa được đưa ra ở trên giúp chúng ta hiểu về năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện một hành động nào đó hiệu quả trong những tình huống, bối cảnh cụ thể Điều này phù hợp khi xếp năng lực vào phạm trù hoạt động trong tài liệu hội thảo chương trình GDPT tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo sau năm 2018: “ Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”

Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu, năng lực cũng bao gồm các yếu tố cá nhân sẵn

có kết hợp những điều được học, được rèn luyện bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái

Trang 18

độ để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập, đồng thời giải quyết các vấn đề có liên quan trong cuộc sống một cách hiệu quả Khi nói đến năng lực, người

ta sẽ quan tâm đến năng lực hành động, năng lực thực hiện một nhiệm vụ nào đó xác định dựa vào kiến thức, kĩ năng, thái độ Tuy nhiên, bản thân năng lực không phải là hành động mà kết quả của hành động sẽ là cơ sở đánh giá năng lực

1.1.1.2 Cấu trúc năng lực

Mô hình của các nhà sư phạm nghề Đức:

Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:

- Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các

nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách

độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là

năng lực, nội dung chuyên môn“, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với

những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung

và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả

năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức

- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong

những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự

phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thànhviên khác

- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá

được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan

điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi

Trang 19

Những năng lực trên kết hợp hài hòa, gằn bó chặt chẽ với nhau để tạo thành năng lực hành động- năng lực đầu ra được đánh giá, chú trọng sau quá trình học tập

và rèn luyện

Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau

Năng lực theo OCED (Oganization for Economic Cooperation and Development - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế):

Người ta phân chia năng lực thành hai nhóm chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn

Nhóm năng lực chung gồm những năng lực:

- Khả năng hoạt động độc lập thành công

- Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ

- Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất

NL chuyên môn liên quan đến từng môn học chuyên biệt

Trong lĩnh vực dạy và học:

Để đánh giá năng lực của người học có thể dựa vào cách phân chia cấu trúc năng lực mà Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016) đã chỉ ra hai cách tiếp cận cấu trúc năng lực là: Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành và tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận

- Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành: Năng lực là sự tích

hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động…

- Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận (đơn vị của năng lực):

Năng lực được cấu thành từ những yếu tố sau: các hợp phần của năng lực (là các lĩnh vực chuyên môn thể hiện khả năng tiềm ẩn của con người); các thành

tố của năng lực (là các kĩ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ hoạt động); tiêu chí thực hiện (là yêu

Trang 20

cầu cần thực hiện của mỗi thành tố, được gọi là các chỉ số hành vi); và mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó được gọi là “tiêu chí chất lượng”

Để đánh giá kết quả học tập chính xác thì phân chia cấu trúc năng lực theo

năng lực bộ phận sẽ bổ sung cho cách phân chia năng lực theo nguồn lực hợp

thành Bởi vì khi các năng lực bộ phận được thể hiện qua các hành vi biểu hiện

thì dễ dàng xác định được kiến thức, kĩ năng, thái độ,… (yếu tố đầu vào -

nguồn lực) tạo thành năng lực đó.”

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau:

- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;

- Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên

kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;

- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;

- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ

quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về

Trang 21

Dựa vào khái niệm năng lực của chương trình GDPT sau năm 2018 và cách phân chia cấu trúc năng lực của các tác giả trên, chúng tôi chọn cách phân chia cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận Bởi vì, năng lực càng được xác định thành các dấu hiệu cụ thể, được bộc lộ qua hành động thì việc đánh giá năng lực của người học càng dễ dàng, chính xác và thuận tiện hơn

1.1.2 Năng lực đọc

1.1.2.1 Quan niệm về đọc

Để sử dụng tiếng Việt thành thạo, người học cần được rèn luyện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Trong đó, đọc được xem một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học Đọc giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và trong cả đời sống

Hiện nay, có khá nhiều những quan niệm về đọc được các tác giả đưa ra: Theo Smith (1971), “Đọc là quá trình giải mã ý nghĩa của văn bản đọc chứ không phải là giải mã âm thanh Việc chuyển từ chữ viết sang âm thanh chỉ là một hoạt động có tính chất cầu nối trong tiến trình giải mã văn bản đọc” Ông đã khẳng định đích đến cuối cùng của đọc đó là truy tìm ý nghĩa, thông điệp của VB

Trong cuốn Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga (1988), Viện sỹ

M.R.Lơvôp đã định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)” Đây là một định nghĩa được cho rằng rất phù hợp với dạy học Tập đọc ở TH Định nghĩa cho biết đọc không chỉ

là giải mã chữ viết- âm thanh mà còn là thông hiểu những gì được đọc thể hiện trên mặt chữ viết đó

Ross Latham và Peter Sloan (1986) cho rằng “Đọc được xem như là một hoạt động xử lí thông tin của VB viết - dạng ngôn ngữ chứa thông tin mà chỉ có giá trị đối với những ai thông dịch (hiểu) được dạng ngôn ngữ đó” Tác giả cũng nói đến việc thông hiểu những gì được đọc qua bề mặt chữ viết mà để đạt được điều này, trước tiên người đọc cũng phải nhận ra được sự tương hợp giữa chữ viết và âm thanh

Trang 22

Quan điểm của Lê Phương Nga (2001) cho rằng “Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Thứ nhất, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-

âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ- nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu.”

Theo Trịnh Thị Vân Anh (2004), bản chất của hoạt động đọc là hoạt động nhận thức văn bản để trao đổi, giao tiếp, mở rộng hiểu biết và phát triển nhân cách

cá nhân vì đọc là để thông hiểu nội dung VB thông qua quá trình chuyển kí tự trên

VB thành ngôn ngữ dưới dạng thầm hay đọc thành tiếng; Đọc cũng là quá trình tra tìm ý nghĩa của văn bản, là tiến trình chuyển các ý tưởng từ người này sang người khác, là sự trao đổi chia sẻ ý tưởng, tình cảm giữa người đọc với tác giả

Tác giả Hoàng Hòa Bình (2012) cho rằng đọc không chỉ là giải mã chữ viết

mà hiểu những gì được đọc, những gì ẩn sau các dòng chữ Tác giả đã chú ý đến cả hai yếu tố quan trọng trong dạy học đọc, đó là âm- chữ và chữ- nghĩa Từ việc đọc đúng dẫn đến đọc thông thạo, trôi chảy để hiểu văn bản, hiểu ý trưởng, tình cảm của nhân vật hay của chính tác giả

Quan niệm về đọc của Hoàng Thị Tuyết (2012), “Đọc là hoạt động mà người đọc sử dụng những kiến thức về ngôn ngữ và hiểu biết liên quan đến giải mã kí tự của văn bản viết và truy tìm ý nghĩa của nó nhằm trao đổi, giao tiếp với người viết

để mở rộng vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cá nhân.” Quan niệm này không chỉ nhắc đến đọc thành tiếng, đọc hiểu mà còn nhấn mạnh đến việc đọc phản hồi, đọc sáng tạo thông qua việc giao tiếp với chính tác giả, tác phẩm

Các quan niệm trên đều nhắc đến kĩ năng giải mã đúng âm thanh - chữ viết, từ

đó hiểu VB đọc Dù là dưới hình thức đọc thầm hay đọc thành tiếng thì mục đích cuối cùng cũng là đọc để hiểu Bên cạnh đó, các tác giả như Trịnh Thị Vân Anh, Hoàng Hòa Bình và Hoàng Thị Tuyết còn chỉ ra sự liên hệ giữa người đọc với những gì được đọc Từ hiểu nội dung, ý nghĩa VB đọc, người đọc hiểu được tư

Trang 23

tưởng, tình cảm tác giả muốn gửi gắm, rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân

Trong đề tài này, định nghĩa đọc được hiểu là hoạt động giải mã âm thanh- chữ viết, giải mã chữ - nghĩa để thông hiểu những gì được đọc và từ những điều thông hiểu ấy, người đọc phản hồi lại VB, liên hệ VB với bản thân, áp dụng vào cuộc sống Đọc giúp người học mở mang kiến thức, tìm ra được những điều ý nghĩa cho bản thân Đó mới là đọc thật sự

1.1.2.2 Năng lực đọc và mô hình cấu trúc năng lực đọc

Dựa vào khái niệm năng lực, cấu trúc năng lực và các quan niệm về đọc có thể hiểu rằng NLĐ là sự vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ về ngôn ngữ, giải mã những kí tự trên VB, truy tìm ý nghĩ của nó để trao đổi, giao tiếp với tác phẩm, tác giả, với những người xung quanh NLĐ không chỉ được đánh giá thông qua kĩ năng giải mã, kĩ năng đọc hiểu mà còn là sự vận dụng những điều được đọc, được học vào thực tiễn như giao tiếp chuẩn mực, đọc các thể loại VB, nhận thức về con người, sự vật, sự việc nào đó

Whitehurst và Lonigan (1998) cho rằng năng lực đọc viết bao gồm hai tập hợp các kĩ năng và tiến trình có quan hệ nội tại với nhau Đó là tập hợp ngoài - trong (outside - in) và tập hợp trong - ngoài (inside - out)

- Kĩ năng ngoài - trong thể hiện việc trẻ hiểu ngữ cảnh trong đó nội dung văn bản đang diễn ra (ví dụ như kiến thức về thế giới, kiến thức ngữ nghĩa học, kiến thức về ngữ cảnh văn bản cụ thể trong đó có một câu văn cụ thể) Kĩ năng ngoài -trong phản ánh những kĩ năng chung như kiến thức chung và kiến thức ngôn ngữ hỗ trọ cho việc hiểu VB

- Kĩ năng trong - ngoài thể hiện hiểu biết về các quy tắc chuyển dịch bài viết các em đang đọc thành thành những âm thanh có nghĩa (ví dụ: kiến thức về chữ cái,

kĩ năng xủ lí ngữ âm và vốn từ vựng) Kĩ năng này phản ánh những thành tố liên quan đến việc giải mã- những kĩ năng chuyên biệt của hoạt động đọc

Whitehurst và Lonigan giả thuyết rằng kĩ năng trong - ngoài liên quan đến việc giải mã, quan trọng nhất trong tiến trình học đọc khi mà nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển các kĩ năng giải mã trôi chảy và chính xác, trong lúc đó kĩ năng

Trang 24

ngoài - trong sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn học đọc mà ở đó nhiệm vụ chuyển sang việc thông hiểu văn bản

Cấu trúc này chỉ dừng lại ở việc nói về các yếu tố tạo thành kĩ năng đọc Kĩ năng đọc gồm đọc thông và đọc hiểu, chúng tác động và phụ thuộc lẫn nhau Muốn đọc thông, trước hết cần có kĩ năng nhận diện từ, kĩ năng giải mã để đọc chính xác, sau đó phải hiểu đươc VB để thể hiện giọng đọc phù hợp Ngược lại, khi hiểu ngữ cảnh, nội dung VB sẽ góp phần đọc trôi chảy, lưu loát hơn

Theo Nguyễn Thu Hương (2015), cấu trúc NLĐ gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ:

Kiến thức bao gồm kiến thức về tự nhiên, xã hội, về từ và câu tiếng Việt, mà

trẻ được tích lũy

Kĩ năng gồm:

- Kĩ năng đọc thông: đọc chính xác từ, không bỏ sót từ trong câu; biết ngắt

nghỉ đúng chỗ; đọc với tốc độ đủ để người nghe và người đọc hiểu nội dung; đọc thể hiện ngữ điệu theo tính cách từng nhân vật, theo diễn biến các sự kiện

- Kĩ năng đọc hiểu:

+ Biết: Liệt kê các sự kiện chính, miêu tả các sự kiện quan trọng, giài nghĩa đen, nghĩa bóng của từ trong câu, câu trong đoạn

+ Hiểu: giải nghĩa từ khó dựa vào ngữ cảnh, nhận ra mối liên hệ giữa các chi

tiết quan trọng, so sánh, đối chiếu để nhận ra sự khác biệt và tương đồng; chúng minh, tổng hợp, tóm tắt, suy luận, khái quát, dự đoán các sự kiện chính

và nhận xét các sự kiện ấy

+ Vận dụng: liên hệ thực tế, sử dụng kiến thức đã học áp dụng ào tình huống

trải nghiệm; giải thích những điều được học theo quan điểm cá nhân; suy luận

nội dung theo hướng mới với tư cách là tác giả

Thái độ: chăm chỉ, tích cực, tự trọng, có trách nhiệm,…

Trang 25

Cấu trúc NLĐ này được tác giả phân chia theo các nguồn lực hợp thành nên năng lực Khi đọc các em không chỉ tập trung giải mã chữ để phát ra âm thanh chính xác mà còn có ý thức đọc để hiểu nội dung và đọc có tư duy HS cần có các kiến thức và kĩ năng tích góp trước đó như kiến thức về âm/vần, tiếng, từ, câu; kiến thức về tự nhiên, xã hội; Bên cạnh đó, để góp phần vào phát triển NLĐ phải nói đến thái độ đọc ở HS Thái độ này xuất phát từ động cơ, mục đích đọc Khi bài học

và HS có sự liên kết với nhau sẽ tạo ra tâm thế sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập HS đọc có ý thức, có trách nhiệm khi đọc một VB Lúc đó, đọc không phải chỉ thỏa mãn yêu cầu của GV mà đáp ứng chính yêu cầu của các em Nhờ các kiến thức, kĩ năng và các điều kiện tâm lí này mà HS có thể đọc đúng, đọc lưu loát, trôi chảy, đọc hiểu và có cả những liên tưởng bản thân với bài học NLĐ thật sự được hình thành và phát triển

Theo Lê Phương Nga (2001) và Trịnh Thị Thu Hương (2014) thì NLĐ được tạo thành từ 4 kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được những nội dung đã đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm) Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức là đọc thành tiếng và đọc thầm

- Đọc đúng: là sự thể hiện chính xác về mặt âm vị học các từ bằng cách sử dụng vốn từ nhận biết hoặc sử dụng biện pháp giải mã phù hợp như đánh vần các

từ Nó liên quan đến giải mã mối quan hệ giữa âm thanh và chữ viết, tức là nhìn mặt chữ các em biết cách phát âm Đọc đúng cũng là không đọc thừa, đọc sót tiếng, từ

và bao gồm cả việc ngắt nghỉ hơi chính xác Việc thực hiện ngắt nghỉ khi đọc cần dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ hoặc dấu câu

- Đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy): chỉ khả năng nhận diện từ một cách nhanh đến mức tự động, không ê a, ngắt ngứ, liên quan đến tốc độ đọc Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn Về sau, đọc nhanh thật sự có ích và hiệu quả khi đọc đi đôi với việc hiểu rõ những gì được đọc

- Đọc có ý thức (đọc hiểu): Dạy đọc không chỉ là đọc thành tiếng mà còn là thông hiểu những gì được đọc, tức là làm rõ nghĩa các ký tự, nội dung và đích thông báo của VB Hoàng Thị Tuyết (2012) cho rằng hệ thống kĩ năng đọc hiểu cho bậc

Trang 26

TH chia thành hai cấp độ: Sơ cấp và trung cấp Trình độ sơ cấp rèn luyện cho HS thao tác nắm bắt thông tin cụ thể phù hợp với mục đích, hiểu nghĩa hiển ngôn của

VB, phát triển tư duy phần tích, tổng hợp, phân loại và khái quát hóa Còn trình độ trung cấp yêu cầu cao hơn, đó là nắm bắt thông tin hiển ngôn của VB, suy nghĩ cao cấp hơn như suy luận, phán đoán, đánh giá, giả thuyết vấn đề…Quy trình đọc hiểu

1 VB gồm các trình tự sau: hiểu nghĩa cá từ, các nghĩa -> hiểu câu -> hiểu các khối đoạn (là tập hợp câu dùng để phát biểu một ý trọn vẹn) -> hiểu cả bài Chỉ khi HS hiểu được những gì được đọc, các em mới có khả năng lĩnh hội những tri thức, ý nghĩa, tình cảm trong bài, mới có thể đưa ra được những phản hồi đối với VB Dần dần, các em có khả năng đọc rộng, tự đọc để bồi dưỡng kiến thức

- Đọc diễn cảm (đọc hay) thể hiện NLĐ ở trình độ cao của đọc thành tiếng,

được thực hiện trên cơ sở đọc đúng, đọc nhanh Đọc diễn cảm nhằm truyền cảm xúc của VB mà người đọc đã tiếp nhận đến người khác Nó thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong VB và biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Vì vậy, đọc diễn cảm đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung từng câu, từng đoạn và cả nội dung

VB, phải đi sâu vào bản chất của nội dung và trên cơ sở đó truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả

Bốn kĩ năng bộ phận trong NLĐ được rèn luyện đồng thời tác động qua lại lẫn nhau Đọc đúng là tiền đề để đọc nhanh, thông hiểu văn bản và ngược lại nếu không hiểu những gì mình đọc thì khó có thể đọc nhanh, đọc điễn cảm

Hai tác giả trên nói đến những năng lực bộ phận trong NLĐ Những năng lực này được thể hiện qua các hành vi cụ thể, giúp việc đánh giá kết quả học tập chính xác hơn Vì vậy, cách tiếp cận cấu trúc NLĐ trên là cách tiếp cận cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận

Khi nghiên cứu cấu trúc năng lực, Hoàng Hòa Bình (2015) và Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016) đồng quan điểm cho rằng: Cách phân giải cấu trúc theo nguồn lực hợp thành và theo năng lực bộ phận có thể hỗ trợ nhau Để NLĐ được biểu hiện qua một hành vi nào đó hiệu quả cần có sự kết hợp của các nguồn lực tạo ra nó (kiến thức, kĩ năng, thái độ)

Trang 27

Dù phân chia cấu trúc NLĐ theo nguồn lực hợp thành hay theo các năng lực

bộ phận thì các tác giả trên đã nói đến những kĩ năng bộ phận cần có để hình thành NLĐ NLĐ được tổng hòa từ nhiều kiến thức, kĩ năng về ngôn ngữ, giải mã những

kí tự trên VB cũng như sự thông hiểu những gì được đọc Cao hơn kĩ năng đọc thì NLĐ còn yêu cầu người đọc vận dụng những điều được đọc vào thực tiễn, có nghĩa

là phải hiểu những gì được đọc, phân tích, đánh giá, cho phản hồi và liên hệ với chính bản thân, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Năng lực nói chung và NLĐ nói riêng được đánh giá bằng năng lực hành động khi người học áp dụng những kiến thức, kĩ năng và thái độ được rèn luyện vào những tình huống thực tế cuộc sống hữu hiệu

Trong đề tài này, các thành tố của NLĐ được thể hiện qua những chỉ số hành

- Ngắt nghỉ hơi đúng ở dấu câu, giữa các ý trong câu dài

- Đọc theo hình thức của VB (đối với VB thông tin)

Đọc nhanh

- Đọc trôi chảy, to rõ, không ê a, ngắt ngứ

- Tốc độ đọc hợp lí khi đọc thành tiếng và ngày càng nhanh khi đọc thầm

Đọc hiểu

- Hiểu nghĩa từ, cụm từ

- Nhận biết đúng về VB: thể loại, cấu trúc VB

- Nhận biết ý chính của từng đoạn

- Hiểu thông tin VB (thông tin hiển ngôn và hàm ngôn), trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến nội dung, ý nghĩa bài đọc

- Liên hệ kiến thức nền của bản thân để đánh giá, nhận xét, phản hồi những thông tin trong VB

Trang 28

Thành tố của NLĐ Các chỉ số hành vi

- Hiểu được mục đích của tác giả truyền tải trong VB

- Rút ra những ý nghĩa, tư tưởng cho bản thân từ VB

Các chỉ số hành vi càng rõ ràng, cụ thể càng giúp cho việc phát triển các thành

tố NLĐ dễ dàng hơn Cả GV và HS đều định hướng được các tiêu chí, mức độ chất lượng cần đạt cho các thành tố NLĐ trong quá trình dạy học Chúng cũng giúp cho việc đánh giá NLĐ của người học thuận lợi

1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đọc

Ngoài các năng lực bộ phận sẽ góp phần tạo nên NLĐ thì cũng có những yếu

tố khác ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển NLĐ trong dạy học Chúng là:

a) Kiến thức nền của HS

Kiến thức nền của HS bao gồm các kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng và thái độ được tích góp từ trong học tập và cuộc sống Các kiến thức về từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp giúp HS giải mã từ, nhận ra mặt tương thích giữa chữ viết và âm thanh để đọc đúng, trôi chảy, lưu loát Ví dụ, để thành thạo kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), người học cần có một số vốn từ nhận biết Từ khi trẻ vào lớp 1, các em đã có sẵn một lượng từ riêng do giao tiếp với mọi người, quan sát các sự vật, hiện tượng xung quanh Lượng từ này là những từ HS có thể nhận ra ngay nếu được nghe đọc chính xác nhiều lần Bên cạnh đó, vốn từ này cũng được tăng lên nhờ quá trình học tập Nhờ vào vốn từ nhận biết, HS có khả năng nhận diện

từ để giải mã VB Ngoài ra, kĩ năng giải mã còn được thực hiện dựa vào các kĩ năng

Trang 29

khác Các kĩ năng này được rèn luyện đặc biệt trong giai đoạn HS Học vần ở lớp 1

Nó sẽ là nền tảng cho người học học ở những năm học tiếp theo Theo Hoàng Thị Tuyết (2012), hệ thống kĩ năng giải mã gồm:

Kĩ năng xem xét, nhận diện các âm, vần tạo thành từ ngữ; Kĩ năng phân tách

một từ ngữ (tổ hợp chữ cái) thành các âm; Ý thức ngữ âm; Kĩ năng nhận diện

sự tương hợp giữa âm thanh và chữ viết; Kĩ năng đánh vần; Kiến thức về chữ cái, âm và vần tiếng Việt; Hiểu biết khái niệm thông thường về văn bản; Kĩ

năng đọc trơn; Kĩ năng nhận diện, phân tích cấu trúc ngữ pháp; Kĩ năng phân

tích ngữ cảnh; Kĩ năng nhận diện từ ngữ (liên kết mặt chữ viết của một từ hay

ngữ trong văn bản viết với nghĩa của nó)

Người đọc tận dụng cả kinh nghiệm, hiểu biết về cuộc sống và thái độ của mình giải mã các thông điệp mà tác giả gửi gắm trong VB, tạo nghĩa cho VB Trong

VB thường chứa đựng thông tin hàm ngôn và hiển ngôn Người đọc sử dụng kiến thức tiếng Việt, kiến thức về các lĩnh vực khác cùng cảm nhận riêng để tiếp nhận

VB một cách đầy đủ, sâu sắc nhất Theo Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016), đối với

VB văn chương, không có khái niệm hiểu hết, hiểu chính xác hoàn toàn VB VB được tạo nghĩa tùy theo kinh nghiệm, hiểu biết, những cảm nhận cá nhân đem đến những kiến tạo nghĩa khác nhau cho VB Tuy nhiên, đối với VB thông tin lại yêu cầu hiểu đúng những gì được thể hiện qua chữ viết hay hình ảnh trên VB đó Bởi vì,

VB thông tin có phong cách ngôn ngữ riêng, lối diễn đạt rõ ràng và trình bày theo hình thức nhất định

Kiến thức nền giúp HS đọc đúng, hiểu thông Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện cho người học liên hệ những gì được đọc với bản thân, áp dụng điều được đọc vào thực tiễn, tạo ra năng lực hành động cuối cùng Mỗi người có tính cách, suy nghĩ, tư duy cùng kiến thức, kĩ năng khác nhau Qua đó, cách vận dụng những điều này vào giải quyết các tình huống cũng sẽ khác nhau

Trang 30

b) Ngữ liệu dạy học

Ngữ liệu dạy học Tập đọc là một phương tiện hỗ trợ đắc lực giúp HS đạt được mục tiêu hình thành và phát triển NLĐ Ngữ liệu dạy học Tập đọc hay, phù hợp sẽ tạo hiệu quả dạy học tốt, gây hứng thú, kích thích học tập GV và HS đạt được những mục tiêu trong dạy học Tập đọc HS dễ dàng luyện đọc, tìm hiểu nội dung bài một cách tự nhiên, vì vậy mà NLĐ cũng được phát triển một cách tự nhiên Qua ngữ liệu dạy học, HS được làm quen với các mẫu VB để đọc, viết, tiếp xúc với ngôn ngữ chuẩn mực để giao tiếp hiệu quả, yêu thích tiếng Việt hơn, hiểu biết được

mở rộng và thấy thích thú với việc đọc sách

1.1.3 Dạy học Tập đọc lớp 2 theo quan điểm phát triển năng lực đọc

1.1.3.1 Đặc điểm tư duy và ngôn ngữ HS lớp 2 khi học Tập đọc

Tư duy HS lớp 2 mang màu sắc xúc cảm và dựa vào trực quan sinh động Các em thích thú với những tiết học có đồ vật, tranh ảnh minh họa, phim ảnh trình chiếu, Qua

đó, từ ngữ hay nội dung bài cũng dễ dàng được tiếp nhận

Tưởng tượng của các em dễ thay đổi nhưng khá phong phú Những bài học có yếu tố thần kì, hư cấu như truyện cổ tích, thần thoại luôn lôi cuốn các em đọc Nếu bài học quá dài, nội dung khó hiểu, xa lạ, HS lớp 2 không thể tập trung và

dễ bị phân tán trong quá trình theo dõi, tìm hiểu hiểu bài học

HS TH nói chung và HS lớp 2 nói riêng có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết dù chỉ ở mức độ đơn giản Cho nên, bên cạnh kiến thức

về tiếng Việt, văn học, bài học có thể tích hợp các kiến thức khác tạo cho HS niềm say mê học tập

Tuy nhiên, tư duy HS giai đoạn này cũng gây ra một số hạn chế khi học Tập đọc Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu Nội dung, ý nghĩa bài học được các em sao chép ý của GV, bạn bè một cách máy móc Các em cũng chỉ nhớ bài trong khoảng thời gian ngắn

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của các em phát triển

dễ dàng Sau giai đoạn lớp 1 (dạy đọc ở mức sơ bộ nhằm giúp HS sử dụng bộ mã

Trang 31

chữ -âm, đọc trơn âm tiết, yêu cầu đọc trơn các từ, ngữ đoạn, câu; thông hiểu VB ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang nghĩa (đọc thầm)) thì

HS lớp 2 bước sang giai đoạn phát triển thêm một bậc mới Nhiều HS lớp 2 có vốn

từ phong phú được tích lũy thông qua giao tiếp và học tập Điều này hỗ trợ cho việc đọc lưu loát, trôi chảy và tìm hiểu bài học của các em Mặc dù một số từ HS còn phát âm sai hay dùng từ, câu chưa đúng nghĩa, chưa đúng ngữ cảnh nhưng vốn ngôn ngữ của các em đã tăng lên rất nhiều, diễn đạt ý cũng đa dạng hơn Các em có thể dùng ngôn ngữ để trả lời câu hỏi đầy đủ, nguyên văn, nêu đánh giá, nhận xét của mình với những gì được đọc

1.1.3.2 Dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển NLĐ

a) Phát triển phẩm chất và năng lực người học

Với xu thế toàn cầu hóa, giáo dục có vai trò quan trọng giúp đất nước, xã hội ngày một đi lên Từ những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, giáo dục theo định hướng phát triển năng lực đã trở thành một xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục nước ta cũng đang trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện Vì vậy, trong chương trình giáo dục sau năm 2018 sẽ chuyển từ giáo dục theo định hướng nội dung sang giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất Chương trình giáo dục này nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện cho người học Chương trình gắn kết giữa lí thuyết với thực tiễn HS được phát triển kiến thức, rèn kĩ năng và hình thành thái độ đúng đắn Dạy học theo chương trình mới chú trọng khai thác phẩm chất, năng lực sẵn

có ở HS và phát huy chúng theo hướng tích cực Theo Hoàng Thị Tuyết (2012), trong dạy học, việc tận dụng kinh nghiệm của người học là điều vô cùng quan trọng Kinh nghiệm người học liên quan đến 3 phương diện là:

- Một là cách thức học và khả năng tham gia vào việc học của HS (Emmit &

Pollock, 1988)

- Hai là đặc tính cá nhân như nhu cầu, các mối quan tâm, niềm tin, thành kiến

và các yếu tố về văn hóa trong từng cá nhân (D.Hymes, J.1972; Gumper &

W.Lavbov, 1978)

Trang 32

- Ba là những tiến trình trong đó người học được tham gia, được tạo cơ hội sử

dụng ngôn ngữ và những điều người học rút ra được từ các tiến trình ấy (Wilkins,

1981)

Dựa vào những phương diện trên của người học, dạy học Tập đọc chọn nội dung, ngữ liệu, phương pháp, phương tiện dạy học khơi dậy tiềm năng, những thế mạnh mỗi HS Nội dung dạy học tạo ra những điều HS muốn học, sự liên quan giữa bài học và cuộc sống (sự phát triển cá nhân, nhu cầu, phù hợp với văn hóa, phong tục) cũng như những trường hợp giao tiếp để HS thấy được hình ảnh của chính mình HS thích thú, có nhu cầu xử lí, khám phá, tìm hiểu để học tập

Theo chương trình Ngữ Văn sau năm 2018, mục tiêu chương trình môn TV nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng ở TH đề ra những yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực rất cụ thể Những phẩm chất và năng lực này tạo nền tảng cho HS phát triển lâu dài Ví dụ như thông qua ngữ liệu dạy học, HS cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương, con người Việt Nam Các em thêm yêu quý thiên nhiên, đất nước, biết sống chan hòa với mọi người Năng lực ngôn ngữ, thẩm mĩ, sáng tạo, giải quyết vấn đề…của các em cũng được hình thành, tiến bộ hơn

b) Đánh giá NLĐ dựa vào “Năng lực hành động”

Dạy học truyền thống trước đây tập trung vào nội dung, truyền thụ kiến thức, nhấn mạnh tới kĩ năng Tuy nhiên, theo xu hướng giáo dục hiện đại, dạy học theo hướng phát triển năng lực chú trọng hình thành năng lực cho người học, quan tâm chất lượng đầu ra Dạy học Tập đọc theo hướng phát triển NLĐ góp phần tạo cho người học có những năng lực thiết thực phục vụ học tập và cuộc sống Dạy học theo hướng này, đánh giá kết quả học tập của HS không phải dựa vào việc HS có những kiến thức, kĩ năng gì mà theo “Năng lực hành động” - năng lực giải quyết các vấn

đề thực tiễn xảy ra liên quan đến những gì được học Năng lực hành động là cái đích cuối cùng hướng đến của việc dạy học Tập đọc

Việc dạy học đọc gắn liến với việc giúp HS chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (tiếng Việt) học tập và giao tiếp trong đời sống Có công cụ này, HS hình thành và rèn luyện các kiến thức, kĩ năng, thái độ Thông qua VB, những tư tưởng, tình cảm

Trang 33

tác động đến người đọc để hình thành một hành động nào đó Nhờ quá trình đọc, người học thay đổi nhận thức, quan điểm, tình cảm, hành vi của chính mình để hòa nhập vào cuộc sống Năng lực hành động được tạo ra nhờ vận dụng hợp lí những điều được học Năng lực hành động chính là dùng thông tin trong VB giải quyết các vấn đề tương tự như khi đọc Ví dụ, nhờ được học một thể loại VB nào đó trong giờ Tập đọc, HS có thể đọc và tìm hiểu với những VB cùng loại, biết cách thức, PP để đọc những VB đó; HS nhận ra sự tương quan giữa tình huống đã được tiếp cận với tình huống ngoài đời thực Qua đó, các em có cách ứng biến, xử lí phù hợp

GV tạo ra những tình huống hay chính HS đưa ra các vấn đề liên quan đến bài học để vận dụng những gì đã đọc vào giải quyết Sau khi dạy học, GV sẽ dựa vào hành động của người học để đánh giá mức độ tiếp thu bài về mặt kiến thức, kĩ năng

chất cao đẹp như: tình yêu đối với thiên nhiên, gia đình, quê hương; ý thức đối

với cội nguồn; lòng nhân ái; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành

mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; trung thực và có trách nhiệm

- Giúp học sinh bước đầu phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe ở mức độ căn bản thông qua những kiến thức phổ thông sơ

giản về tiếng Việt và văn học Kết thúc cấp tiểu học, học sinh biết cách đọc,

đọc hiểu được các văn bản văn học và văn bản thông tin có chủ đề thiết thực,

gần gũi với lứa tuổi; viết được các bài văn kể chuyện, miêu tả, biểu cảm, thuyết

minh đơn giản theo đúng các bước và đảm bảo yêu cầu về chữ viết, chính tả,

Trang 34

đặc điểm của kiểu loại văn bản; biết phát biểu ý kiến, kể lại câu chuyện; biết

lắng nghe để hiểu đúng ý kiến của người khác, biết trao đổi với người nói trong

quá trình nghe

- Góp phần phần phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh chủ yếu thông qua cảm thụ, thưởng thức văn học Những câu chuyện, bài thơ, bài văn, kịch bản

văn học được đọc, được nghe kể trong chương trình giúp học sinh có hiểu biết

về cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh Thông qua phát

triển kĩ năng nói nghe tương tác, học sinh biết tự làm chủ tình cảm, thái độ,

hành vi của mình Việc đọc hiểu những văn bản viết về cuộc sống và con người

nước ngoài sẽ giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về văn hóa, con người ở một

số quốc gia trên thế giới Qua việc đọc hiểu và tạo lập văn bản, học sinh biết

tiếp nhận có chọn lọc những thông tin, tạo ý tưởng mới, đồng thời biết liên hệ

và giải quyết các tình huống gần gũi, tương tự trong đời sống

So với mục tiêu môn Tiếng Việt ở chương trình sau năm 2000 chủ yếu là cung cấp những kiến thức, kĩ năng cho người học thì chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực có mục tiêu đào tạo những con người có tri thức, kĩ năng và phải có năng lực, phẩm chất tích cực Thông qua môn học TV, HS có được những kiến thức về ngôn ngữ, về tự nhiên và xã hội, hình thành được năng lực thẩm

mĩ, biết đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó và quan trọng hơn, các em biết kết hợp những gì bản thân mình có, mình được tiếp nhận, được học để thích nghi với cuộc sống

Ngay từ những năm học đầu tiên, các em đã được học đọc Đọc là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên năng lực giao tiếp cần thiết trong đời sống mỗi người Học đọc là một mục tiêu trong môn TV cần hình thành và phát triển nhưng đọc cũng chính là để học Đọc mang lại nhiều lợi ích khác nhau trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, hoàn thiện nhân cách Hiện nay, rất nhiều nguồn thông tin khác nhau, con người đọc để tiếp nhận, chọn lọc những thông tin đó, tiếp thu những điều

Trang 35

hay, điều tốt, những kinh nghiệm được lưu truyền để góp phần phát triển bản thân, xây dựng đất nước

Tập đọc có nhiệm vụ giáo dục, giúp HS có một cuộc sống trí tuệ đầy đủ, tư tưởng, đạo đức, tính cách, thị hiếu thẩm mĩ thông qua hình thành và rèn luyện NLĐ

Vì vậy, trong dạy học Tập đọc cho HS lớp 2 theo quan điểm phát triển NLĐ cần:

- Phát triển năng lực ngôn ngữ: củng cố, hoàn thiện và phát triển kĩ năng giải

mã, nhận diện từ để đọc đúng, đọc nhanh Việc đọc trở nên dễ dàng, hướng đến đọc hiểu hiệu quả

- Thông qua các nội dung bài đọc được chọn lọc theo các chủ điểm khác nhau,

HS tìm hiểu các vấn đề liên quan đến chủ điểm đó Các em được găp gỡ, tìm hiểu các nhân vật, những câu chuyện khác nhau và rút ra được nhiều bài học đơn giản

mà thiết thực, phân biệt cái tốt-cái xấu, nhìn nhận cuộc sống và chính bản thân các

em Từ đó, tâm hồn HS cũng được bồi dưỡng, vun đắp

- Ngữ liệu dạy học tạo ra các tình huống để người học vận dụng những điều đã học, tức là hình thành ở HS năng lực hành động, giải quyết vấn đề, sáng tạo Qua

đó, đào tạo những con người thích nghi với thực tiễn và sự phát triển của xã hội

- Ngoài ra, ngữ liệu dạy học trong Tập đọc là bài học khởi đầu mỗi tuần giúp

HS chiếm lĩnh tri thức, có công cụ (năng lực giao tiếp) để học tập những phân môn tiếp theo trong tuần hay trong những tuần sau, những năm học kế tiếp Dần dần, HS

có khả năng đọc rộng để tự đọc, tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống HS tạo ra nhiều mối liên hệ như: VB đọc với kinh nghiệm bản thân; Giữa VB này với

VB khác; Giữa VB với thế giới xung quanh để tiếp nhận, xử lí, truyền tải thông tin, giao tiếp tự tin hơn và ham thích đọc hơn

1.2 Ngữ liệu dạy học

1.2.1 Ngữ liệu dạy học tiếng Việt

1.2.1.1 Khái niệm ngữ liệu dạy học tiếng Việt

Theo Gopferich (2006), ngữ liệu là một hệ thống thống nhất về ngôn ngữ, hoàn chỉnh về nội dung, có chức năng định hướng, do con người tạo ra nhằm sử dụng cho một mục đích xác định Hay nói cách khác, ngữ liệu là một hình thức giao tiếp bằng lời, bằng VB, bằng hệ thống đồ họa để chuyển tải ý nghĩa đến người xem

Trang 36

Trong quyển Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2010), ngữ liệu là tư liệu ngôn ngữ dùng làm căn cứ để nghiên cứu ngôn ngữ Từ định nghĩa này, Lê Thị Ngọc Chi và Nguyễn Phước Bảo Khôi (2017) đưa ra cách hiểu về ngữ liệu là các tư liệu ngôn ngữ dùng để minh hoạ cho những kiến thức lí thuyết về ngôn ngữ hoặc dùng để nghiên cứu ngôn ngữ

Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng nét nghĩa “Ngữ liệu là một hình thức giao tiếp bằng lời, bằng VB, bằng hệ thống đồ họa để chuyển tải ý nghĩa đến người xem.”

1.2.1.2 Vai trò của ngữ liệu trong dạy học tiếng Việt

Trong dạy học tiếng Việt, ngữ liệu là những ví dụ minh họa và cũng là đối tượng nghiên cứu cho việc dạy học tiếng Việc lựa chọn ngữ liệu phù hợp mục tiêu, nội dung bài sẽ giúp người học chiếm lĩnh được các tri thức tiếng Việt

Ngữ liệu dạy học tiếng Việt là những áng văn chuẩn mực về cách hành văn, cấu trúc câu, cách sử dụng từ ngữ giúp HS tìm hiểu các tri thức về ngôn ngữ để sử dụng tiếng Việt có văn hóa Thông qua các VB thuộc các chủ đề khác nhau, HS có được hệ thống vốn từ, kiến thức được sử dụng trong môn tiếng Việt và cả những môn học, lĩnh vực khác trong cuộc sống Vì vậy, ngữ liệu dạy học tiếng Việt cũng

là nguồn nguyên liệu bổ sung kiến thức cho những môn học thuộc lĩnh vực khác Ví dụ: Ngữ liệu dạy học tiếng Việt là những bài văn miêu tả sẽ cung cấp cho HS nhiều

từ ngữ gợi tả, gợi hình, những kie1n thức về Địa lí, Lịch sử; VB thông tin là những mẫu chuẩn mực cho HS viết thư, giới thiệu bản thân (tự thuật);…

Tiếp xúc với nhiều kiểu, dạng ngữ liệu khác nhau, HS cảm thấy tự tin hơn khi học tập, có phương thức để tự học và học mở rộng Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết được dạy học tích hợp trong ngữ liệu Trẻ phát triển tư duy, năng lực thẩm mĩ, giao tiếp

1.2.2 Ngữ liệu dạy học Tập đọc

1.2.2.1 Ngữ liệu dạy học Tập đọc

Phạm Phương Anh (2015) nói rằng ngữ liệu là một phần của tư liệu dạy học đọc Ngữ liệu đảm nhận ba nhiệm vụ trong dạy học đọc, đó là: một đối tượng ngôn ngữ đơn thuần để GV và HS khai thác các yếu tố cơ bản như cấu trúc ngữ pháp, từ

Trang 37

vựng,… trong quá trình học ngôn ngữ; với khả năng đọc hiểu, phân tích, tổng hợp,

dự đoán của người đọc, ngữ liệu còn là một phương tiện cho việc truyền tải thông tin đến họ; đối tượng làm bàn đạp cho sự sáng tạo, phát triển tư duy phản biện và suy nghĩ độc lập ở HS

Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi, ngữ liệu dạy học Tập đọc với tư cách là một ngữ liệu cho một đơn vị bài dạy học đọc Nó đáp ứng các mục tiêu giáo dục trong quá trình dạy học đọc ở TH nói chung: phát triển NLĐ, giáo dục lòng ham đọc sách, thói quen tự học, làm giàu kiến thức, hoàn thiện nhân cách cho HS

Ngữ liệu dạy học Tập đọc theo quan điểm phát triển NLĐ chứa đựng những hiện tượng ngôn ngữ, sự vật, tình huống, câu chuyện,…vừa quen thuộc vừa mới mẻ

mà HS có thể khám phá Ngữ liệu hay, phù hợp, đa dạng thì người đọc sẽ thích thú đọc, tạo ra môi trường học tập tích cực, chủ động Các em thấy đọc có ý nghĩa với bản thân, với cuộc sống xung quanh mình Từ đó, các em đọc có ý thức, có tư duy

và tự tin, sẵn sàng vận dụng những hiểu biết của bản thân vào thực tiễn

Ngữ liệu dạy học Tập đọc theo hướng phát triển NLĐ không chỉ giúp HS rèn kiến thức, kĩ năng, thái độ như rèn đọc thành tiếng, đọc hiểu, hình thành nhân cách tốt mà còn tạo ra những tình huống giao tiếp để HS vận dụng, có hành động phù hợp

Ngữ liệu dạy học Tập đọc ở TH gồm văn bản đọc, tranh ảnh minh họa, phần giải nghĩa từ, câu hỏi hay bài tập tìm hiểu bài Trong đó, các VB đọc là yếu tố chính được khai thác để hướng đến phát triển NLĐ cho HS

Ngữ liệu dạy học Tập đọc SGK lớp 2 hiện hành gồm đủ các yếu tố trên Chúng được trình bày trên một hoặc hai trang sách với cách trình bày rõ ràng, riêng biệt cho các phần:

Ví dụ:

Trang 38

1.2.2.2 Các loại ngữ liệu dạy học Tập đọc

Tác giả cũng nói về tính chỉnh thể của VB ở hai phương diện:

- Nội dung nhất quán với chủ đề, có sự phát triển của nội dung và bộc lộ tính nhất quán, rõ rệt ở mục tiêu văn bản

- Hình thức: kết cấu mạch lạc, giữa các bộ phận trong văn bản có các hình thức liên kết và toàn VB có một tên gọi

VB mà tác giả Lê Phương Nga nói đến là những VB được thể hiện ở mặt chữ viết Còn The Program for International Student Assessment (PISA) cho rằng: VB được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến văn bản ngôn từ sử dụng các hình thức biểu tượng: viết tay, bản in và dạng điện tử Chúng bao gồm tất cả các sản phẩm thị giác như biểu đồ, tranh ảnh, bản đồ, bảng biểu, đồ thị và tranh hài hước, châm biếm kèm theo ngôn ngữ viết Theo PISA, VB không chỉ là VB được thể hiện bằng chữ viết

mà còn là VB đa phương thức Những VB này được sử dụng ở mức độ hỗ trợ cho quá

Trang 39

trình dạy học và cũng có thể là bài học cho HS khai thác Sự đa dạng về hình thức của

VB có thể tránh sự nhàm chán cho HS, tạo sự gần gũi, dễ tiếp nhận, khám phá vì chúng gần gũi, thiết thực, xuất hiện xung quanh cuộc sống của các em

Văn bản đọc có hai dạng: Văn bản liền mạch (continuous texts) và văn bản không liền mạch (non- contiuous texts)

- Văn bản liền mạch: được hiểu là một đoạn văn, một bài, một chương…hoàn chỉnh, liền mạch Loại văn bản này bao gồm các dạng văn bản sau: tự sự (Narration), giải thích (Exposition), miêu tả (Description), lập luận (Argumetation), giới thiệu (Instruction), tư liệu hoặc ghi chép (A document or record), siêu văn bản (Hypertext)

- Văn bản không liền mạch: văn bản kết hợp nhiều hình thức thề hiện, nhiều kí hiệu khác nhau…Không được kết cấu bằng những đoạn văn liền mạch Ví dụ: biểu

đồ, đồ thị, bảng biểu, hình dạng, quảng cáo, hóa đơn, văn bằng,…

Dạy đọc cũng là dạy cách làm việc với VB, dạy cách giao tiếp Làm việc với

VB là một quá trình làm việc hai chiều Nó giống như là sự giao lưu, tương tác giữa một bên là tác giả (người làm ra tác phẩm - VB) và bên còn lại là người đọc - bên tiếp nội dung và đích của VB Chính nội dung, ý nghĩa VB đọc sẽ tác động rất lớn đến lí trí, cảm xúc của người đọc VB dù đích là thông tin, giải trí, tạo lập quan hệ,… thì cuối cùng cũng là hướng đến đích hành động để giúp HS phát triển và hoàn thiện về mặt nhân cách

Trong dạy học Tập đọc, bài đọc (VB đọc) là nguồn ngữ liệu quan trọng Nó chính là phương tiện để HS được khai thác các yếu tố về từ vựng, ngữ pháp, được giao tiếp với môi trường xung quanh khi tìm hiểu nội dung bài Vì vậy, HS có khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, vận dụng những điều được học vào các tình huống khác nhau, rèn kĩ năng giao tiếp

Để đáp ứng nhu cầu của người học, VB được chọn lọc đa dạng về thể loại, có giá trị nội dung hay nghệ thuật nhất định, nội dung gần gũi, phù hợp mục tiêu chủ điểm, mục tiêu chương trình và đối tượng HS

Trong luận văn, chúng tôi sẽ đề cập đến hai loại VB, đó là VB văn chương và

VB thông tin

Trang 40

- VB văn chương: gồm các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện, thơ, kí, kịch,…

Ví dụ: Bài thơ Cô giáo lớp em của tác giả Nguyễn Xuân Sanh (TV 2, tập 1, tr 60)

- VB thông tin: gồm các VB không hư cấu về văn hóa, khoa học, hành chính

Ví dụ: VB Danh sách học sinh tổ 1 – lớp 2A (Năm học 2003 – 2004) (TV 2, tập 1, tr 25)

Mỗi loại VB đều mang lại cho người tiếp nhận những lợi ích khác nhau cả về

tư duy, trí tuệ, kĩ năng và xúc cảm trong quá trình đọc VB Những VB này thông thường có tác dụng phát triển kĩ năng phê phán, đánh giá, phát triển năng lực đọc hiểu cho HS và giúp HS đọc rộng hơn Thông qua hình thức, nội dung đặc trưng từng kiểu, thể loại VB, HS vừa học đọc trên những ngữ liệu này vừa có cơ hội học đọc đến đâu thì dùng đọc để học, để tích lũy kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn đến đó Điều này dẫn dắt HS nhận ra chức năng quan trọng của việc đọc trong cuộc sống Các em hứng thú, say mê với đọc hơn

b) Tranh ảnh minh họa

Theo Bùi Thanh Truyền (2010), tranh ảnh tức là hệ thống hình ảnh (có vẽ hay sang chụp) hỗ trợ, minh họa rõ hơn cho nội dung bài học Đây là một kênh hình

Ngày đăng: 20/12/2020, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w