Qua tra cứu các tài liệu, các trang web bằng nhiều cách khác nhau và tiến hành khảo sát đề tài “Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ giai đoạn metacercariae trên cá nuôi thịt ở thành p
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM CỬ THIỆN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3trong bất kì công trình nào
Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 9 năm 2018
Lê Nguyễn Phúc An
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô của Phòng Sau Đại học, Khoa Sinh học, phòng thí nghiệm bộ môn Sinh lí Người và Động vật - Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 9 năm 2018
Lê Nguyễn Phúc An
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt iiiiiiiii
Danh mục bảng iiv
Danh mục hình v
MỞ ĐẦU 1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc điểm của sán lá song chủ truyền qua cá 4
1.2 Lược sử nghiên cứu sán lá song chủ 12
1.2.1 Trên thế giới 12
1.2.2 Ở Việt Nam 13
1.3 Đặc điểm sơ lược của các loài cá thu mẫu 16
1.3.1 Cá Chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) 16
1.3.2 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) 16
1.3.3 Cá Trê lai Clarias sp 18
1.3.4 Cá Điêu hồng Oreochromis sp 19
1.3.5 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) 20
1.3.6 Cá Sặc điệp Trichopodus microlepis (Günther, 1861) 21
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Thời gian, địa điểm, tư liệu nghiên cứu 23
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.3 Tư liệu nghiên cứu 24
Trang 62.2.1 Ngoài thực địa 24
2.2.2 Trong phòng thí nghiệm 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá nuôi ở 4 huyện ngoại thành, tp Hồ Chí Minh 28
3.1.1 Loài cá khảo sát 28
3.1.2 Tỉ lệ nhiễm metacercariae 28
3.2 Thành phần loài Sán lá song chủ giai đoạn metacercariae trên cá nuôi 29
3.2.1 Sán lá Exorchis oviformis 29
3.2.2 Sán lá ruột nhỏ Centrocestus sp 30
3.2.3 Sán lá ruột nhỏ Procerovum sp 30
3.2.4 Sán lá ruột nhỏ Haplorchis pumilio 31
3.3 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự nhiễm sán lá song chủ trên cá nuôi và giải pháp kĩ thuật làm giảm nguy cơ nhiễm sán 32
3.3.1 Mối liên hệ giữa sự nhiễm sán với yếu tố mùa, loài cá và khu vực thu mẫu cá 32
3.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kĩ thuật nuôi đến sự nhiễm metacercariae 34
3.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro khác 37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh SLGN Sán lá gan nhỏ
SLRN Sán lá ruột nhỏ
Trang 8Bảng 2.1 Thời gian thu mẫu ở 4 huyện ngoại thành, tp HCM 23 Bảng 3.1 Loài cá thịt thu mẫu ở 4 huyện ngoại thành (Cần Giờ, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh), thành phố Hồ Chí Minh 28 Bảng 3.2 Tỉ lệ nhiễm metacercariae trên mẫu cá nuôi thịt 28 Bảng 3.3 Tỉ lệ nhiễm metacercariae trên ao nuôi cá thịt 28 Bảng 3.4 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên hệ giữa
sự nhiễm sán với yếu tố mùa, loài cá và khu vực thu mẫu cá thịt ở Cần Giờ, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh 32 Bảng 3.5 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến sự nhiễm sán trong ao nuôi cá thịt ở mùa mưa và mùa khô 34 Bảng 3.6 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên quan giữa các yếu tố rủi ro khác đến sự nhiễm sán lá trên cá 37
Trang 9Hình 1.1 Vòng đời của sán lá song chủ 4
Hình 1.2 Điểm mắt và túi bài tiết hình chữ V của Exorchis oviformis 7
Hình 1.3 Giác bụng của Haplorchis pumilio 8
Hình 1.4 Hạt bài tiết lớn của Procerovum sp 9
Hình 1.5 Răng ở giác miệng và tuyến bài tiết hình chữ X của Centrocestus armatus 10
Hình 1.6 Răng ở giác miệng và tuyến bài tiết hình chữ X của Centrocestus formosanus 11
Hình 1.7 Cá Chẽm Lates calcarifer 16
Hình 1.8 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus 17
Hình 1.9 Cá Trê lai Clarias sp 18
Hình 1.10 Cá Điêu hồng Oreochromis sp 19
Hình 1.11 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus 20
Hình 1.12 Cá Sặc điệp Trichopodus microlepis 21
Hình 2.1 Bản đồ khu vực thu mẫu ở thành phố Hồ Chí Minh 23
Hình 3.1 Nang sán Exorchis oviformis (x100) 29
Hình 3.2 Túi bài tiết hình chữ V của Exorchis oviformis (x40 và x100) 30
Hình 3.3 Ấu trùng metacercaria của Centrocestus sp bị phá nang (x100) 30
Hình 3.4 Tuyến bài tiết hình chữ X ở Centrocestus sp (x100) 30
Hình 3.5 Nang sán Procerovum sp (x40) 31
Hình 3.6 Giác bụng của Haplorchis pumilio (x100) 31
Hình 3.7 Nang sán Haplorchis pumilio (x100) 32
Hình 3.8 Đất lẫn trùng chỉ, ốc được sử dụng làm thức ăn cho cá Trê 35
Trang 10MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Con người và vật nuôi trên thế giới (đặc biệt ở khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam) là những đối tượng thường nhiễm sán lá song chủ qua ký chủ trung gian cá [1] Nhiễm sán lá đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng được cả thế giới quan tâm, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á [2]
Sán lá có nguồn gốc từ cá nhiễm trên hơn 50 triệu người trên thế giới [3] Ước tính trên thế giới có 750 triệu người có nguy cơ bị nhiễm sán từ thực phẩm, khoảng
35 triệu người bị nhiễm Sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis [4] Sán lá gan C sinensis cũng rất phổ biến ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam [5] Khoảng 10 triệu người ở khu vực Đông Nam Á cũng nhiễm Sán lá gan Opisthorchis viverrini [6] Tỉ lệ nhiễm Sán lá ruột nhỏ cũng rất được quan tâm Trên thế giới có hơn 50 loài
Sán lá ruột nhỏ và phần lớn thuộc khu vực châu Á [7] Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có nền nuôi trồng truyền thống lâu đời cùng với đặc điểm khí hậu thích hợp cho sự phát triển và lây truyền sán lá nên nhiễm sán lá trở thành vấn đề
dịch tễ quan trọng cần được quan tâm [1], [8]
Sán lá song chủ ở giai đoạn ấu trùng metacercariae kí sinh trên cá Vì vậy, khi
ăn cá sống hoặc cá chưa chín thì con người và một số động vật (chó, mèo,…) sẽ có nguy cơ bị lây nhiễm metacercariae [9] Sau khi xâm nhập, ấu trùng metacercariae phát triển thành sán lá trưởng thành Người bị nhiễm sán lá kéo dài sẽ bị các bệnh như viêm ruột, viêm phổi, tổn thương gan, lá lách, tụy, mật,… nguy hiểm nhất là ung thư gan [10] và ung thư ống mật [11], [12] Tuy nhiên, các triệu chứng bệnh nhiễm sán lá ở giai đoạn đầu thường không có hoặc có nhưng biểu hiện không rõ ràng, nên khi có các triệu chứng rõ ràng như tổn thương gan, mật thì người ta không nghĩ nguyên nhân do nhiễm sán lá, vì vậy cũng chưa có những biện pháp cụ thể để phòng chống nhiễm sán lá
Hiện nay, nghề đánh bắt cá đang được sử dụng hết công suất, sản lượng đánh bắt đạt đỉnh điểm 86,4 triệu tấn vào năm 1996, sau đó có xu hướng giảm và chỉ còn 80,9 triệu tấn năm 2013 [13] Nguồn thực phẩm từ cá tự nhiên dần không đủ
Trang 11cung cấp cho người dân dẫn đến việc nuôi trồng thủy sản đang dần được coi trọng và trở thành nguồn cung cấp thực phẩm giàu protein thay thế [14], [15] Số lượng cá trên thị trường phần lớn được cung cấp từ việc nuôi trồng thủy sản, làm giảm áp lực về nguồn cung cấp từ đánh bắt cá tự nhiên và ổn định giá cả [16] Cùng với sự gia tăng dân số ở Việt Nam, việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu protein từ cá càng được coi trọng Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi có nền kinh tế phát triển và dân cư đông, vì vậy nhu cầu về thực phẩm giàu protein như cá là rất lớn Bên cạnh
đó, thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong những nơi tiêu thụ sản lượng cá lớn của cả nước và để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá này thì nhiều hộ gia đình ở các huyện ngoại thành đã tiến hành nuôi cá với quy mô lớn Kinh tế của các hộ phụ thuộc vào lợi nhuận từ cá Tuy nhiên, cá nhiễm sán lá thì thường sinh trưởng kém, năng suất không cao do ấu trùng sán kí sinh khiến cá gầy, hô hấp khó khăn, tắc mạch máu, rối loạn hệ tuần hoàn - trao đổi chất và có thể gây chết [17] Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của các hộ nuôi cá, đồng thời khiến người tiêu dùng trong nước e ngại chất lượng cá nuôi và cũng có thể trở thành rào cản về xuất khẩu cá ra các nước phát triển Vì vậy, chất lượng cá nuôi cần được quan tâm để có thể đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu, vượt qua rào cản về chất lượng thủy sản được đặt ra Vì vậy cần có nhiều nghiên cứu về sán lá song chủ trên các loài cá nuôi ở Hồ Chí Minh
để đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội hiện nay
Qua tra cứu các tài liệu, các trang web bằng nhiều cách khác nhau và tiến hành khảo sát đề tài “Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên
cá nuôi thịt ở thành phố Hồ Chí Minh” tại Trung Tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP HCM cho thấy đến thời điểm hiện tại đề tài chưa được nghiên cứu Vì vậy,
có thể khẳng định đề tài này chưa được tác giả nào thực hiện, không bị trùng lặp và
có tính mới Ngoài việc xác định tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ trên cá, đề tài còn đề ra biện pháp hạn chế, phòng ngừa bệnh kí sinh trùng trên người có nguồn gốc từ thủy sản và xác định các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm sán lá
Trang 12II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định thành phần loài metacercariae trên mẫu cá nuôi thịt thu được
Đánh giá tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá nuôi thịt ở thành phố Hồ Chí Minh Xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm của sán lá song chủ trên
cá nuôi
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Ấu trùng sán lá song chủ (metacercariae) trên cá nuôi thịt thu được ở 4 huyện Cần Giờ, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Thu mẫu cá nuôi thịt vào mùa mưa và mùa khô
Phỏng vấn về một số kĩ thuật nuôi, chuẩn bị ao nuôi của các hộ thu mẫu Xác định tỉ lệ nhiễm sán lá trên mẫu cá nuôi thịt, đánh giá tình trạng nhiễm sán
lá ở cá ở thành phố Hồ Chí Minh
Định loại sán lá nhiễm trên cá dựa vào tiêu chuẩn hình thái
Xem xét các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm của sán lá trên cá nuôi thịt và đưa ra giải pháp về kĩ thuật để làm giảm tỉ lệ nhiễm sán lá
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hộ nuôi cá thịt ở 4 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh: Cần Giờ,
Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm của sán lá song chủ truyền qua cá
Sán lá gây bệnh cho người lây truyền qua động vật thủy sản (Fishborne Zoonotic Trematode – FZT) hay còn gọi sán lá lây truyền qua cá Sán lá song chủ truyền qua
cá bao gồm Sán lá gan nhỏ (SLGN) và Sán lá ruột nhỏ (SLRN) Kích thước cơ thể sán lá thường sai khác rất lớn, trong, không màu Giác hút miệng nhỏ ở phía trước cơ thể, giác hút bụng có thể lớn hơn giác hút miệng Sán lá song chủ đẻ trứng và giao phối trên cùng một cơ thể Trứng sán nhỏ và có số lượng nhiều [17]
Vòng đời của sán lá song chủ truyền qua cá
Sán lá song chủ truyền qua cá có vòng đời phức tạp và đa dạng [17] Từ trứng sán để phát triển thành sán trưởng thành, chúng truyền qua các vật chủ khác nhau; vật chủ trung gian thứ 1 (thường là ốc), mỗi một loài sán thường phát triển trong một số loại ốc đặc trưng; vật chủ trung gian thứ 2 (cá); vật chủ cuối cùng (người và động vật
ăn cá)
Hình 1.1 Vòng đời của sán lá song chủ [18]
Trang 14Hình 1.1 mô tả vòng đời chung của Sán lá song chủ truyền qua cá Sán trưởng thành kí sinh trong nội tạng của vật chủ (6), sản sinh ra trứng (1) thoát ra ngoài theo phân vào môi trường nước Ốc (2) – Vật chủ trung gian thứ 1, trong môi trường nước
đã thụ động hoặc chủ động nhiễm trứng sán trong quá trình tìm kiếm thức ăn Trong vật chủ ốc thích hợp, trứng phát triển qua một số giai đoạn (2a, 2b, 2c, 2d) thành ấu trùng cercariae (2d) Sau một thời gian thì ấu trùng cercariae thoát ra cơ thể ốc vào trong môi trường nước bơi lội tự do (3) Sau đó, ấu trùng cercariae xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ 2 – cá, mất đuôi và kết nang tạo thành ấu trùng metacercaria (4) Vật chủ cuối cùng - người hoặc động vật ăn cá sống hoặc cá nấu chưa chín có chứa
ấu trùng metacercariae dẫn đến bị nhiễm sán Trong cơ thể vật chủ thích hợp, sán non thoát khỏi nang (5) và phát triển thành sán trưởng thành (6) di chuyển tới một số cơ quan để kí sinh và lại bắt đầu một chu trình mới
Như vậy, quá trình phát triển của Sán lá song chủ khá phức tạp Kí chủ trung gian thứ nhất là ốc và một số động vật không xương sống, còn kí chủ trung gian thứ hai thường là cá và kí chủ cuối cùng thường là động vật có xương sống như: bò sát, chim, thú trong đó có con người Tỉ lệ nhiễm sán lá trên người phụ thuộc vào các yếu
tố như vật kí sinh, vật chủ trung gian, môi trường và thói quen ăn uống [1]
Hình dạng, cấu tạo của ấu trùng metacercariae
Ấu trùng metacercariae hầu hết có dạng elip hoặc hình cầu, tồn tại trong nang nên chỉ vận động nhẹ nhàng và có cấu tạo cơ thể phát triển gần với con trưởng thành [18] Metacercariae gồm các bộ phận sau:
Thành nang (Cyst wall): Bao quanh bên ngoài metacercariae, thành dày có 1
hoặc 2 lớp trong suốt như thủy tinh, một số ít có 3 lớp
Giác bám (Sucker): Thường có 2 giác bám, giác miệng ở đằng trước mở vào
bên trong, dẫn tới hệ tiêu hóa và giác bụng ở giữa cơ thể, được sử dụng để bám chắc
Hầu, thực quản và ruột (Pharynx, Esophagus, Ceca): Là đường dẫn thức ăn bắt
đầu từ hầu (cơ quan nghiền) đi vào thực quản rồi vào ruột Ở thực quản và ruột, thức
ăn được tiêu hóa và ngấm vào thành ruột
Trang 15Mầm sinh dục (Genital primosdium): Là cơ quan sinh dục đang phát triển (tinh
hoàn, buồng trứng) được thấy trong giai đoạn ấu trùng metacercariae nhưng nó thường ở trong trạng thái không xác định
Gonotyl: Là một phần cơ thể phát triển ra ngoài gần với lỗ sinh dục, thường ăn
sâu vào cơ thể bên trong khoang, túi sinh dục bụng mở tách biệt nhưng gần với giác miệng Chức năng của nó là giao phối và chuyển tinh dịch
Gai miệng (Oral spines): Là gai lớn xung quanh giác miệng, thường kèm theo
vòng da quanh giác miệng
Lỗ sinh dục và cơ quan tiếp nhận (Seminal vesicle and receptacle): Là phần
cuối của ống dẫn tinh, lỗ có thể ngụy trang với các răng nhỏ (gọi là gai xương hay móc)
Túi bài tiết (Excretory vesicle): Là một bong bóng hay phần túi sau của cơ thể
tập trung các chất bài tiết tập trung từ các ống bài tiết Có thể được dồn đầy các hạt đặc trưng hoặc các túi nhỏ mà thường có ích trong việc phân biệt các loài
Tế bào lửa (Flame cells): Là một hệ thống song song của các tế bào chứa lông
đặc biệt có chức năng để tập trung tế bào chất thải bài tiết hình thành qua cơ thể Làm thông ống mao mạch dẫn tới ống bài tiết Tế bào lửa có thể được thể hiện bằng một công thức, sử dụng trong phân loại
Noãn hoàng (Vitellaria): Là các tuyến bao quang buồng trứng mà tiết ra nguyên
liệu vỏ trứng
Trang 16 Sán lá song chủ trên cá nước ngọt ở Việt Nam
Sán lá lây truyền qua cá chủ yếu thuộc họ Opisthorchidae (SLGN), họ Heterophyidae và Echinostomatidae (SLRN) [18], [23], [48]
Sán lá Exorchis oviformis Kobayashi, 1915
Ấu trùng metacercaria của Exorchis oviformis có hình elip, kích cỡ 0,18 - 1,2 x
1,13 - 1,15 mm, thành rất mỏng và trong, có 2 điểm mắt ở hai bên hầu, giác bụng
nhỏ hơn giác miệng, tuyến bài tiết hình chữ V [18]
Quan sát hình 1.2, ấu trùng metacercariae của sán lá Exorchis oviformis có 2 điểm mắt ở hai bên hầu và có tuyến bài tiết hình chữ V, đây là hai đặc điểm nhận
dạng của loài sán này
Hình 1.2 Điểm mắt và túi bài tiết hình chữ V của Exorchis oviformis [18]
Trang 17 Sán lá Haplorchis pumilio (Looss, 1896)
Ấu trùng metacercaria của Haplorchis pumilio có hình elip dài, có kích thước
0,16 - 0,19 x 0,14 - 0,19 mm, thành nang dày Giác bụng biến đổi và không tương đồng với giác miệng, có 36 - 42 vòng răng nhỏ xếp thành 1 - 2 hàng quanh vòi sinh dục bụng hoàn chỉnh, không có gonotyl, có một tinh hoàn, tuyến bài tiết hình chữ O
và chiếm một phần lớn cơ thể phía sau [18]
Hình 1.3 Giác bụng của Haplorchis pumilio [18]
Trang 18Ấu trùng metacercariae của sán lá ruột nhỏ Procevorum sp có hình elip, có các
hạt sắc tố màu nâu vàng trong cơ thể ở khúc đường ruột và một túi bài tiết hình chữ
D với các hạt bài tiết [49]
Quan sát hình 1.4, ấu trùng metacercariae của sán lá ruột nhỏ Procevorum sp
có các hạt bài tiết lớn, đây là một trong đặc điểm đặc trưng của giống Procevorum
Hình 1.4 Hạt bài tiết lớn của Procerovum sp [18]
Trang 19Ấu trùng metacercariae của sán lá ruột nhỏ Centrocestus sp có đặc điểm chung
là có hình elip dài, răng xếp thành 2 hàng xung quanh giác miệng (khoảng 30 - 40
răng), tuyến bài tiết hình chữ X [18]
Quan sát hình 1.5, ấu trùng metacercariae của sán lá ruột nhỏ Centrocestus
armatus có các răng xếp thành 2 hàng xung quanh giác miệng (40 - 44 răng), tuyến
bài tiết hình chữ X, đây là đặc điểm đặc trưng cho các loài sán lá giống Centrocestus
Hình 1.5 Răng ở giác miệng và tuyến bài tiết hình chữ X
của Centrocestus armatus [18]
Trang 20Hình 1.6 Răng ở giác miệng và tuyến bài tiết hình chữ X
của Centrocestus formosanus [18]
Quan sát hình 1.6, ấu trùng metacercariae của sán lá ruột nhỏ Centrocestus
formosanus có hình elip dài, kích cỡ 0,15 - 0,20 x 0,1 - 0,12 mm, có khoảng 32 răng
xếp vòng tròn quanh giác miệng thành 2 hàng, tuyến bài tiết hình chữ X
Trang 211.2 Lược sử nghiên cứu sán lá song chủ
1.2.1 Trên thế giới
Sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini và hơn 50 loài Sán
lá ruột đóng vai trò quan trọng tác động đến sức khỏe của cộng đồng [19] Dựa trên những công trình nghiên cứu về sán lá nhiễm ở cá, Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự
đã tổng hợp và công bố có 12 loài Sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae và 47 loài Sán lá ruột nhỏ thuộc 3 họ Heterophyidae, Echinostomatidae, Nanophyetidae trên toàn thế giới [20]
Tính đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ người nhiễm sán lá trên thế giới
và ở châu Á Có 70 loài sán lây nhiễm sang người [8] Khoảng 40 triệu người trên thế giới nhiễm sán lá có nguồn gốc từ thực phẩm [21] Khoảng 601 và 79,8 triệu người
có nguy cơ nhiễm Sán lá gan nhỏ C sinensis và Opisthorchis spp Bên cạnh đó nhiễm
trùng Clonorchiasis ở Trung Quốc đã tăng gấp ba lần trong cùng thập kỷ, khoảng 15
triệu người bị nhiễm C sinensis trên thế giới thì có hơn 85% người thuộc khu vực
Trung Quốc [2], [22] Có khoảng 1,5 triệu người Triều Tiên, 6 triệu người Trung
Quốc và hơn 5 triệu người ở Thái Lan bị nhiễm Sán lá gan nhỏ C sinensis hoặc O
viverrini [23] Việc nhiễm bệnh Opisthorchiasis trở thành một vấn đề sức khỏe cộng
đồng ở vùng Đông Bắc và Bắc Thái Lan, có khoảng 5,5 triệu người bị nhiễm sán [21] Ước tính hơn 200 triệu người có nguy cơ nhiễm sán, 15 - 20 triệu người bị nhiễm và 1,5 - 2 triệu người có triệu chứng hoặc biến chứng khi nhiễm Sán lá gan ở Đông Nam
Á [24] Sán lá O viverrini cũng được phát hiện trên hơn 10 triệu người ở khu vực
Đông Nam Á [6]
Bên cạnh các nghiên cứu về tỉ lệ nhiễm sán lá ở người, đã có nhiều nghiên cứu
về tỉ lệ nhiễm sán trên cá, vật chủ trung gian truyền bệnh này Ấu trùng sán lá
giai đoạn metacercariae của loài Haplorchis pumilio đã được tìm thấy trên một số
loài cá ở Ấn độ, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Ai Cập, Palestine, Tunisia và Kenya [25] Nhiều loài cá nước ngọt và nước lợ có liên quan đến việc truyền bệnh nhiễm trùng Sán lá gan và nhiễm trùng Sán lá ruột ở người ở nhiều nước châu Á [5], [19] Ở Triều Tiên, có khoảng 50 loài cá thuộc 9 họ là ký chủ trung gian của Sán lá
Trang 22gan Clonorchis sinensis, trong đó phần lớn các loài cá bị nhiễm sán thuộc họ cá Chép [26] Sán lá Opisthorchis viverrini cũng được tìm thấy ở năm loài thuộc họ cá Chép
ở Thái Lan với tỉ lệ nhiễm 6,49 – 19,16% [27]
Đã có những nghiên cứu về phương pháp chế biến thực phẩm tránh lây nhiễm sán lá Đông lạnh cá ở -28oC, -35oC và -40oC sẽ cần 20 giờ, 8 giờ và 2 giờ tương ứng
để bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ Opisthorchis felineus [28] Muối có thể làm bất
hoạt ấu trùng sán trong điều kiện nước muối (3 mg muối/10 mg cá) ủ ở 26oC, ấu trùng
sống từ 5 - 15 ngày [29] Ấu trùng Opisthorchis sp trong cá sẽ chết sau 24 giờ ở nồng
độ muối 13,6% [30], ấu trùng bị bất hoạt sau 5 giờ ở độ muối 20% [31] Tuy nhiên,
ấu trùng Clonorchis sinensis ở cá nhiễm tự nhiên bất hoạt trong dung dịch nước muối
30% cần phải mất 8 ngày [29] Trong tài liệu của Murrell và cộng sự, một số phương pháp bất hoạt metacercariae khi chế biến thực phẩm để bảo vệ sức khỏe con người như: nấu chín, thanh trùng bằng phương pháp Pasteur, tiệt trùng bằng nhiệt độ 120oC trong nhiều giờ, đông lạnh ở nhiệt độ -20oC trong 7 ngày hay muối chua thực phẩm [18]
1.2.2 Ở Việt Nam
Những nghiên cứu ở Việt Nam về sự phân bố và tỉ lệ nhiễm sán ở cá gần đây cho thấy chúng có nhiều trong cá nuôi và cá tự nhiên, trong cơ thể người và vật nuôi [32], [33]
Việc kiểm soát tỉ lệ nhiễm sán lá trên người ở Việt Nam được quan tâm từ rất sớm Qua nhiều cuộc khảo sát, tổ chức Y tế thế giới ước tính 7 triệu người Việt Nam
có nguy cơ nhiễm sán lá, có khoảng 1 triệu người nhiễm Sán lá gan nhỏ Clonorchis
sinensis ở miền Bắc Việt Nam [1] Tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ ở người ở 2 xã thuộc
tỉnh Nam Định là 64,9% và loài sán nhiễm là sán lá gan nhỏ C sinensis và 4 loài sán
lá ruột nhỏ H pumilio, H taichui, H yokogawai và S falcatus Bên cạnh đó, tỉ lệ nhiễm C sinensis ở người từ 0,2% ở Thái Bình đến 26% ở Nam Định; tỉ lệ nhiễm
Opisthorchis viverrini ở người từ 0,3% ở Đà Nẵng đến hơn 10% ở Phú Yên [34] Tỉ
lệ nhiễm Opisthorchiasis ở một xã thuộc Bình Định là 11,4% do thói quen ăn cá sống
ở nơi này rất phổ biến [35]
Trang 23Ngoài đối tượng nhiễm sán là người, những đối tượng nhiễm sán khác cũng được nghiên cứu Tại Ninh Bình, chó, mèo và lợn được xác nhận là vật chủ chính của sán lá song chủ truyền qua cá bởi tỉ lệ nhiễm ở các loài này khá cao, tương ứng là
32,7%; 9,0%, và 6,0% Ấu trùng cercariae được phát hiện nhiễm trên ốc Melanoides
tuberculata ở Ninh Bình [36] Ngoài ra, ấu trùng cercariae cũng được phát hiện trên
các loài ốc thuộc họ Thiariidae tại Nam Định [37] Cercariae được phát hiện nhiễm
trên ốc Bithynidae (B fuchsiana và P striatus) và Thiaridae (M tuberculata,…) ở miền Bắc [38] Ốc Melanoides tuberculata là một trong những vật chủ trung gian
nhiễm sán lá ở Việt Nam
Tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tỉ lệ nhiễm sán lá
ở cá Sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis có tỉ lệ nhiễm rất cao từ 31,1 – 76,7% trên
các loài cá tự nhiên ở hồ chứa Thác Bà, tỉnh Yên Bái, Việt Nam [39] Tỉ lệ nhiễm sán
lá trên cá thương phẩm là 44,6% ở tỉnh Nghệ An [40] Việt Nam vẫn còn ít báo cáo
về Sán lá ruột, loài sán phổ biến ở Đông Nam Á [32] Những khảo sát đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện năm 2006 tại An Giang, Tiền Giang và Cần Thơ
Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ao chỉ nhiễm ấu trùng sán lá ruột, trong
đó cao nhất là nhiễm H pumilio 0,6% [41]
Trong 10 năm gần đây, các nghiên cứu tập trung vào loài Sán lá ruột như
Haplorchis pumilio [40]–[42] và các loài Sán lá ruột khác như Haplorchis taichui, Centrocestus formosanus [40], [42]–[44], H yokogawai, Procevorum sp [41], [42]
Sán lá gan và Sán lá ruột đều được phát hiện nhiễm trên cá tự nhiên và trên cá nuôi
[45] Ấu trùng các loài Sán lá ruột Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui và
Centrocestus formosanus được phát hiện nhiễm trên cá Chép, Trắm cỏ, Mè trắng và
Rô phi vằn nhưng tỉ lệ nhiễm thấp từ 2,0 - 6,2% [46]
Bốn loài sán Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui, Centrocestus formosanus
và Stellantchasmus falcatus phát hiện trong cá giống và cá nuôi thịt ở đồng bằng sông
Cửu Long; các loài cá bị nhiễm gồm có cá Tra, Trê lai, Tai tượng, Rô đồng, Chép ta,
cá Hường, Mè Vinh, Mè trắng, Trắm cỏ, Chép Ấn độ, Chim trắng, Rô phi, Điêu hồng
và Sặc rằn; tỉ lệ nhiễm cao nhất ở Rô đồng giống (29,7%) và Tai tượng giống (27,8%),
Trang 24thấp nhất ở Tra giống (1,2%) [43], [44] Có 14 loài cá giống ở đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm sán lá với tỉ lệ nhiễm cao nhất trên cá Rô đồng là 29,7% [44] Cá thịt
có tỉ lệ nhiễm thấp hơn cá giống, trong đó tỉ lệ nhiễm cao nhất là 6,6% trong mô hình
nuôi ghép các loài họ cá Chép [43]
Đã có những nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật làm giảm tỉ lệ nhiễm trên cá ở đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu ương cá Tra và Tai tượng nhằm giảm tỉ lệ nhiễm sán lá đã có những kết quả khả quan như tỉ lệ nhiễm sán lá trên cá Tai Tượng giống đã giảm đáng kể khi kết hợp với việc thực hiện điều trị sán lá trên người và vật nuôi, dọn sạch lớp bùn đáy và giảm mật độ ốc Số hộ ương cá Tai tượng bị nhiễm sán
lá đã giảm từ 17,9% xuống còn 1,8% và cá Tra giống giảm từ 8% xuống còn 0%, ao ương cá Tra đã không bị nhiễm sán lá [47]
Trang 251.3 Đặc điểm sơ lược của các loài cá thu mẫu
1.3.1 Cá Chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)
Đặc điểm sinh học
Cá Chẽm có cơ thể dài, miệng rộng không cân, hàm trên kéo đến tận mắt sau, vây đuôi tròn Vây lưng: 7 - 9; vây tia mềm lưng: 10 - 11; gai hậu môn: 3; vây tia mềm hậu môn: 7 - 8 Đây là loài cá dữ điển hình, sinh trưởng nhanh, thức ăn thường
là các loài cá tạp, tôm, không ăn thực vật và các loài giáp xác [50]–[52]
Hình 1.7 Cá Chẽm Lates calcarifer [50]
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Trước khi thả cá vào ao, tiến hành tháo cạn nước, nạo vét bùn đáy ao, bón lượng vôi tuỳ theo pH đất đáy ao, phơi đáy ao từ 7 – 10 ngày để diệt tạp Bón phân chuồn
đã ủ hoai hay phân hữu cơ gây màu nước sau đó nâng mức nước lên từ từ tạo phiêu sinh vật phát triển rồi cho cá vào Đối với ao nuôi ghép, liều lượng cho ăn bằng 1/2
so với ao nuôi đơn và điều chỉnh lượng thức ăn tùy theo lượng cá rô phi sinh sản trong
ao Do nguồn thức ăn cho cá (cá tạp) ở một số nơi khan hiếm đặc biệt vào mùa mưa bão, có thể dùng thêm bột cám gạo để giảm lượng cá tạp sử dụng với tỷ lệ cá tạp: 70%, cám gạo: 30% [53]
1.3.2 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)
Đặc điểm sinh học
Cá Rô phi vằn có vây lưng: 15 - 18; vây tia mềm lưng: 11-13; gai hậu môn: 3; vây tia mềm hậu môn: 9 - 11 [50] Cá có thân hình thoi, dẹt bên rõ rệt, miệng rộng
Trang 26hàm trên mỗi bên 2 răng nanh Chiều dài thân bằng 2,3 - 2,6 lần chiều cao [51] Vây đuôi có nhiều vằn đen [54] Toàn thân phủ vẩy, vẩy ở phần lưng có màu sáng vàng nhạt hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu vàng nhạt Trên thân có
từ 6 - 8 vạch sắc tố chạy từ lưng tới bụng Các vạch sắc tố ở các vây như vây đuôi,
vây lưng rõ ràng [55]
Hình 1.8 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus [50]
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Chuẩn bị ao nuôi bằng cách tát cạn nước, nạo vét bùn đáy ao, rồi tiến hành diệt tạp, bón vôi tuỳ theo pH đất đáy ao khoảng 8-10kg/100m2 Phơi đáy ao từ 3 - 5 ngày Sau đó tiến hành cấp nước vào ao và bón phân (phân hữu cơ hoặc phân vô cơ) gây màu nước tạo điều kiện cho phiêu sinh vật phát triển làm thức ăn cho cá Ngoài ra, người ta còn dùng các thức ăn tổng hợp như cám gạo, bột cá, rau băm nhỏ, bèo,…
làm thức ăn cho cá [56]
Theo Dương Nhật Long, đối với ao nuôi, trước khi thả cá, ao nuôi cũng phải được cải tạo, tẩy dọn ao Diện tích ao trung bình 0,2 – 1 ha/ao Mực nước trong ao dao động từ 1,2 – 1,5 m Trong quá trình nuôi, có thể dùng phân hữu cơ (phân heo, gà) đã ủ mục bón lót để tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá giống, tất nhiên sau đó không cần bón bổ sung, cá tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn cung cấp từ bên ngoài Có thể sử dụng nhiều loại thức ăn để nuôi cá Rô phi, nên sử dụng
nguồn thức ăn tại chỗ, rẻ tiền để nuôi cá [55]
Trang 271.3.3 Cá Trê lai Clarias sp
Đặc điểm sinh học
Cá Trê lai được lai giữa cá trê phi và cá trê vàng, có ngoại hình tương tự cá trê vàng, da trơn nhẵn, đầu dẹp, thân hình trụ, dẹp ở đuôi Thân có màu xám có những chấm nhỏ mờ, u lồi xương chẩm có hình gần giống chữ M với các góc tròn, trong khi
ở cá trê vàng là chữ U còn có trê phi là chữ M có các góc nhọn và rõ nét [57]
Hình 1.9 Cá Trê lai Clarias sp
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Theo Dương Nhật Long, kĩ thuật nuôi cá Trê ương trong bể xi măng, bể lót bạt nilon: Diện tích bể: 2 - 20 m2 Độ sâu mực nước 40 - 60 cm Mực nước cần duy trì
ổn định, mỗi ngày cần phải thay 1/3 lượng nước trong bể Sử dụng trùng chỉ hoặc thức ăn tổng hợp để thay thế, cho ăn mỗi ngày hai lần Đặc biệt với thức ăn chế biến cần điều chỉnh lượng thức ăn sao cho khoảng 1 - 2 giờ thì cá ăn hết là được Thức ăn chế biến có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến theo công thức sau: bột cá: 60%, bột đậu nành: 10 %, cám gạo: 25 %, bột mì: 5 %, vitamin và khoáng vi lượng Thức ăn dư thừa cần loại bỏ bằng cách thay nước nhằm hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước bể Thường xuyên cọ rửa vệ sinh bể và theo dõi tình hình hoạt động
của cá hằng ngày [55]
Kĩ thuật nuôi cá Trê trong ao đất: trước khi cho cá vào, tháo cạn, vét bùn và diệt
cá dữ kết hợp với bón vôi cho ao, thường 5 - 10 kg/100m2 Sau khi bón vôi xong phơi
Trang 28nắng đáy ao từ 2 - 3 ngày để diệt tạp Sau đó cho cá vào Cá trê khi có kích thước nhỏ
ăn thức ăn dạng bột như cám nhuyễn, bột cá rải trên mặt nước hoặc cám tổng hợp cho gia súc Lượng cho ăn bằng 20 - 30% trọng lượng cá Các loại thức ăn như cám gạo, phân hữu cơ hay viên tổng hợp có bán trên thị trường được dùng làm thức ăn tùy theo
gặp những cá thể có màu vàng, màu hồng xen lẫn những đám vẩy màu đen nhạt [55]
Hình 1.10 Cá Điêu hồng Oreochromis sp [58]
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Theo Dương Nhật Long, đối với ao nuôi, trước khi thả cá, ao nuôi cũng phải được cải tạo Diện tích ao nuôi trung bình 0,2 – 1 ha/ao Ao có cống cấp và thoát nước chủ động Mực nước trong ao dao động từ 1,2 – 1,5 m, trong quá trình nuôi, có thể dùng phân hữu cơ (phân heo, gà) đã ủ mục bón lót để tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá giống, tất nhiên sau đó không cần bón bổ sung, cá tăng trưởng chủ yếu
Trang 29dựa vào nguồn thức ăn cung cấp từ bên ngoài [55] Gây màu nước bằng phân chuồng hoặc phân vô cơ từ 5 - 6 ngày tạo lượng sinh vật phù du trong ao phát triển làm thức
ăn cho cá, sau đó thả cá vào nuôi Cá ăn tạp nên có thể cho cá ăn các loại thức ăn như rau muống, rau thái nhỏ, các loại động vật như tôm cá nhỏ, giun ốc đã xay nhỏ, ngoài
ra còn có thể cho ăn thêm thức ăn công nghiệp [58]
1.3.5 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
Đặc điểm sinh học
Cá Tra có đầu tương đối nhỏ, da trơn, thân dài Cơ thể có màu xám nhạt không sọc lưng xám đen, bụng hơi bạc Vây màu xám đen hoặc đen, vây lưng có 6 tia [50], [52] Cá có thân dài, bề ngang hẹp, bên trong răng cửa có độc tố Mắt khá to, miệng rộng, răng nhỏ, có hai đôi râu, trong đó râu hàm trên ngắn hơn ½ chiều dài đầu gọi là râu mép Râu hàm dưới ngắn hơn ¼ chiều dài đầu gọi là râu cằm Vây lưng và vây ngực của cá có ngạnh cứng, vây bụng tương đối dài Về màu sắc, khi còn nhỏ cá có màu xanh lục, khi lớn thân có màu xám tro, lưng màu xám xanh, đầu có màu đen hơi thẫm, bụng cá màu trắng bạc, gốc vây bụng và vây hậu môn có màu vàng nhạt, đuôi
có màu đỏ hung [59]
Hình 1.11 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus [50]
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Trang 30Ao nuôi cá Tra thường có diện tích từ 500 m2 trở lên, có độ sâu nước 1,5 - 2m Trước khi thả cá phải tháo cạn, dọn sạch đáy ao, vét bớt bùn lỏng đáy ao, chỉ để lại lớp bùn đáy dày 0,2 - 0,3m Dùng vôi bột rải khắp ao và phơi đáy Sử dụng nguyên liệu có sẵn địa phương như cám gạo, cá vụn, rau xanh cho cá ăn, có thể kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp [60] Ao có diện tích từ 500 - 1000 m2, độ sâu từ 1 - 1,5 m Cải tạo gồm bơm cạn ao, diệt tạp Vét bùn đáy ao, chỉ chừa lại một lớp bùn mỏng khoảng 5 cm Bón vôi bột với liều lượng từ 10 - 15 kg/100m2 ao Phơi ao từ 2 - 3 ngày.Lọc nước vào ao với mức nước 0,8 - 1m trước khi thả cá 4 ngày Có thể sử dụng bột đậu nành hay bột
cá bón từ 2 - 3 kg/100m2 ao để gây nuôi thức ăn tự nhiên [55]
1.3.6 Cá Sặc điệp Trichopodus microlepis (Günther, 1861)
Đặc điểm sinh học
Cá Sặc điệp có thân màu bạc hoặc xám [50] Mắt to, dầu nhỏ, phủ vẩy hoàn toàn Miệng nhỏ, ở đầu mõm Khoảng cách gian mắt rộng Thân phủ vảy tròn Thân hình bầu dục hơi dài, rất hẹp ngang Vây đuôi hơi lõm vào Tia thứ nhất vây bụng kéo thành sợi dài qua vây đuôi Vây ngực dài quá khởi điểm vây lưng [61] Cá có cơ quan thở nên sống được ở điều kiện nước thiếu hoặc không có oxy Cá cũng có khả năng chịu đựng được môi trường nước bẩn, hàm lượng hữu cơ cao cũng như môi trường có độ pH thấp (pH từ 4 - 4,5) Nhiệt độ thích hợp cho cá từ 24 - 30oC, có thể chịu đựng được nhiệt độ 11 - 39oC [55]
Hình 1.12 Cá Sặc điệp Trichopodus microlepis [50]
Yếu tố kĩ thuật nuôi
Trang 31Có thể áp dụng phương pháp nuôi đơn hoặc nuôi ghép với một số loài cá khác như cá Mè trắng, cá Hường, Rô phi, Chép Có thể thả ghép với mật độ 5 - 7 con/m2
Trong quá trình nuôi, nên thường xuyên theo dõi nước ao, nếu thấy dơ phải thay nước,
mỗi ngày thay 30% nước cho đến khi nước tốt thì ngưng [55]
Kĩ thuật chuẩn bị ao gồm tháo cạn nước, diệt hết cá tạp, mầm bệnh trong ao Vét bùn đáy ao, chỉ để lại 10 - 20cm bùn đáy Dùng vôi bón xung quanh bờ ao và đáy
ao, liều lượng từ 10 – 15 kg/100m2, sau đó phơi đáy ao 2 – 3 ngày Dùng phân hữu
cơ với lượng từ 15 - 20kg/100m2 để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá Sử dụng phân
vô cơ trong trường hợp không có hoặc có ít phân hữu cơ Khoảng 4 - 5 ngày nước có màu xanh thì bắt đầu thả cá Tùy vào điều kiện mà nguồn thức ăn bổ sung có thể là thức ăn công nghiệp (cám, gạo, thức ăn viên), cá tạp [62]
Trang 322.1 Thời gian, địa điểm, tư liệu nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài tiến hành thu mẫu ở 4 huyện (Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, Củ Chi) trong khoảng thời gian 9/2017 – 5/2018 Mỗi huyện thu mẫu 2 lần vào mùa mưa từ tháng 6 – 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau
Bảng 2.1 Thời gian thu mẫu ở 4 huyện ngoại thành, tp HCM
Cần Giờ Tháng 10/2017 Tháng 3/2018
Củ Chi Tháng 9-10/2017 Tháng 2-3/2018
Nhà Bè Tháng 6/2018 Tháng 4/2018
Bình Chánh Tháng 7/2018 Tháng 4-5/2018
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Theo thống kê của phòng Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh về sản lượng nuôi trồng thủy sản thì các huyện chủ yếu đóng góp số lượng nuôi cá thịt ở 4 huyện ngoại thành: Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè Vì vậy, nghiên cứu đã tiến hành thu
mẫu cá thịt ở 4 huyện này
Hình 2.1 Bản đồ khu vực thu mẫu ở thành phố Hồ Chí Minh [63]
Địa điểm thu mẫu cá: hộ nuôi cá ở 4 huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33thuộc khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
2.1.3 Tư liệu nghiên cứu
Phiếu điều tra, phỏng vấn hộ thu mẫu cá thịt (phụ lục 1)
Hình chụp ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm (phụ lục 4, phụ lục 5) Phân loại sán lá giai đoạn metacercariae dựa vào khóa phân loại (phụ lục 2, 3)
và theo tiêu chuẩn hình thái ấu trùng metacercariae của Murrell [18]
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp Cross - sectional study cho nghiên cứu tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá nuôi lấy thịt ở 4 huyện ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh) vào mùa mưa và mùa khô
2.2.1 Ngoài thực địa
Mẫu cá thịt được thu ở 4 huyện bằng phương pháp thu ngẫu nhiên (thả lưới, thả câu) Mỗi hộ thu 1 ao, mỗi ao thu ngẫu nhiên 10 con cá thịt Tiến hành thu mẫu cá ở
4 huyện trong mùa mưa và mùa khô
Số lượng hộ thu mẫu cá thịt được tính theo công thức của Toft và cộng sự [64]
n = N Z
2 1-α/2 p (1-p)
N L2 + Z21-α/2 p (1-p)
Trong đó
n: cỡ mẫu thu
N: tổng số hộ nuôi ở khu vực nghiên cứu
p: ước tính tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá trên cá
L: sai số cho phép
α: chỉ số tin tưởng
Do tỉ lệ nhiễm cercariae trên cá thịt thấp [46] Chọn p=0,05, số lượng hộ ở các huyện vào năm 2017 dao động từ 20 – 100 hộ (Cần Giờ có số hộ nuôi thấp nhất) để tính số hộ Dựa vào công thức và số hộ nuôi thực tế các loài ở 4 huyện ngoại thành tp.HCM, đề tài đã thu 15 hộ nuôi ở Cần Giờ (3 hộ cá Chẽm, 12 hộ cá Rô phi vằn), 20
hộ nuôi ở Củ Chi (17 hộ nuôi cá Trê lai, 2 hộ nuôi Rô phi vằn, 1 hộ cá Sặc điệp), 15